(The Evening Gift, 1947, Ấn Độ)
Cái nghề anh ta làm rất kỳ quặc. Sau bao nhiêu vất vả long đong mà vẫn thất bại, anh đành mang lòng mặc cảm, hăm hở nhận làm cái “nghề” ấy. Mỗi tháng người ta trả công anh ta ba chục ru pi. Anh sống bằng mười lăm ru pi, thuê một nhà trọ tồi tàn. Anh kê một chiếc giường trên tầng thượng, cứ ngẩng đầu là đã cộc vào xà nhà. Mười lăm ru pi còn lại, anh gửi về quê để gia đình trang trải món nợ còn đọng sau ngày cưới xin cho cô em gái. Trên hành lang nhà dây thép, anh thường vớ được những bà con mù chữ ở làng quê ra: anh giúp họ viết phiếu gửi tiên, viết bưu thiếp, kiếm thêm một hai ru pi. Song, nghề chính của anh lại rất kỳ quặc. Đó là nghề “đánh bạn” với một gã bợm rượu nhà giàu. Gã phú ông ấy cần một người, cứ sau chín giờ tối phải ngăn không cho gã uống rượu và đưa gã về nhà. Sức vóc của Sankar rất thuận lợi đối với cái việc anh làm. Ông chủ đã có lần bảo anh: “Này! Khi cần, anh có thể cứ dùng võ lực với tôi, đừng do dự” Có điều việc đó chưa từng xảy ra. Sankar chỉ lựa lời khuyên ngăn. Cũng vì vậy, cảnh hai người cãi vã nhau ở quán cà phê Phương Đông là chuyện thường tình. Chỉ cần năm phút, anh đã có thể kéo ngài nọ rời khỏi cốc rượu, đẩy vào trong xe hơi. Sớm hôm sau, ông chủ thường hỏi: “Tối qua mấy giờ về đến nhà?”
“Thưa ngài, chín giờ mười lăm!”
“Hẳn anh chật vật lắm?”
“Dạ, thường thôi!”
“Chín giờ mười lăm! Tốt, rất tốt! Tôi rất hài lòng. Muốn sao, anh cũng không được để tôi uống tới quá chín giờ, dù có bạn bè thù tạc!”
“Dạ, thưa vâng!”
“Giờ anh có thể về, chiều tối phải đến đúng giờ.”
Đó, công việc buổi sớm của anh chỉ có vậy. Rồi trở về căn gác thượng, anh ngủ một giấc; sau đó, anh đi dạo ở nhà dây thép, ở viện tư pháp… sáu giờ chiều lại “đi làm”.
“Nhanh lên.” Ông chủ đang chờ anh trên dãy hành lang. Thế là Sankar ngồi ở ghế trước xe hơi. Chiếc xe lao đến quán cà phê Phương Đông.
Hôm nay, lòng rầu rĩ, anh thấy ngán ngẩm cái nghề hiện làm – “đánh bạn” với gã bợm rượu luôn mồm phải lừa dỗ, dọa dẫm. Hầu như anh đã dứt khoát sẽ bỏ nghề, về quê. Lòng nhớ gia đình nhớ người thân day dứt trong anh. “Thế nào cũng phải về nhà thôi! Sẽ tìm chút nghề gì đó, kiếm đủ số tiền lương cỡ này!” Nhưng rồi, một bức thư ở quê gửi ra, đã xua tan ý nghĩ đó: “Tiền vay làm nhà đã đến hạn cuối cùng phải trả. Gửi về ngay một trăm ru pi, nếu không, sẽ không có nhà ở!” Anh lặng người! Kiếm đâu ra tiền? Liệu có cách gì đây? So với thường ngày, anh càng nguyền rủa thậm tệ cái số phận mình. “Chao! Cái nhà đáng yêu của ta! Ví bằng có thể bỏ được, ta bỏ quách nó đi cho rồi!” Nhưng, nó lại là tài sản cuối cùng trên cõi đời này! Nếu để mất đi, mẹ anh, em trai, em gái anh ăn ở vào đâu? Họ sẽ phải sống lang thang! Song, kiếm đâu ra một trăm ru pi? Sao đến phút chót họ mới báo tin cho anh, vậy là thế nào? Anh nguyền rủa cái thân phận phải làm con cả trong một gia đình bất hạnh.
Anh vẫn làm cái việc hàng ngày của mình. Lúc ông chủ đã vào lọt căn phòng riêng ở quán cà phê, anh buông rèm xuống rồi bấm chuông. Một tháng, ba mươi ngày anh đều lặp lại việc đó. Tính tới nay, anh đã làm được mười hai tháng, đã sắp trở thành cái máy.
Người hầu bàn đến. Sankar chỉ gật đầu, không cần nói. Người hầu bàn đi ra, vài phút sau, trở lại với một chiếc chai dẹt chưa mở nút, một chai xô đa và một cốc thủy tinh to. Anh ta đặt tất cả lên bàn, rồi lui ra.
“Lấy cho ông này một chai nước chanh!” Gã thượng lưu kia bảo anh hầu bàn nọ.
“Dạ thôi! Thưa ngài!” Sankar đáp. Cái “nghi thức” ấy cứ mỗi ngày lại diễn ra một lần.
Bây giờ, việc của anh ta là rót rượu vào cốc thủy tinh, đẩy cốc về phía ông chủ, đặt chai xô đa gần đó, rồi đút chiếc chai dẹt vào túi, lui ra ngoài hành lang xem báo, chờ ở đấy đến chín giờ kém mười, rót hết giọt rượu cuối cùng trong chai, lúc đó Sankar mới rời hành lang, vào ngồi trước mặt ông chủ. Cử chỉ đó của anh ví như một tiếng chuông báo hiệu.
“Anh ngồi ở đây làm gì? Ra ngoài hành lang!”
“Tôi thích ngồi chỗ này và tôi phải ngồi ở đây, thưa ngài!”
“Chưa đến lúc anh phải vào.”
“Cũng chỉ kém có mười phút, thưa ngài…”
“Bậy nào! Mới có bảy giờ!”
“Vâng, đó là cách đây chừng hai tiếng!”
“Ồ! Bọn các anh như cố tình vặn kim đồng hồ chạy nhanh lên, đưa chai xem còn bao nhiêu rượu?”
“Nhẵn rồi!” Sankar chìa chiếc chai. “Đã rót đến giọt cuối cùng!” Lúc anh giơ chai lên, gã nọ nhìn thấy mà nổi nóng. “Tôi nghĩ,” gã nói, giọng đầy ngờ vực, “lại có mưu mẹo gì đây. Tôi không hiểu được anh đã làm cái quái quỷ gì với chai rượu này ngoài hành lang?” Sankar biết không cần cãi lại lời trách đó. Đợi chuông đồng hồ điểm chín tiếng, anh bèn vỗ vai gã: “Uống hết rượu đi, rồi đứng dậy, thưa ngài!” “Vậy là sao! Tôi không đứng! Anh là ai mà đòi chỉ huy tôi?” Sankar đành phải làm căng đôi chút.
“Kia đừng có giả ngây, tưởng tôi say hử! Tôi rất tỉnh, không phải cai quản gì tôi cả…”
Sankar vẫn không chịu.
“Ngày hôm nay cho anh thôi việc, ta không mướn anh nữa. Ta không ưa đánh bạn với một thằng ngốc, không biết nghe lời. Anh cút đi!” Cứ như thường ngày, Sankar chỉ lẳng lặng ngồi, chẳng đáp chẳng rằng, chờ gã uống cạn rượu, anh mới nhẹ kéo đứng dậy, dẫn ra ngoài xe hơi. Gã sẽ đi theo anh, nhìn anh với cặp mắt ngầu máu, lèm bèm chửi mắng anh. Nhưng hôm nay, khi nghe ông chủ bảo: “Tôi cho anh thôi việc, anh cút ngay…” Sankar lại hỏi: “Sao bỗng dưng ông lại cho tôi thôi việc, để tôi chết đói ư?”
“Không, nếu anh xéo ngay đi, ta sẽ trả anh cả bốn tháng lương.” Sankar phân vân suy nghĩ về việc này.
“Đừng có ngồi đây nữa. Dứt khoát đi.” Ông chủ giục. Một trăm hai mươi ru pi! So với món tiền anh cần còn dư ra hai mươi ru pi. Anh có thể về quê, giao tận tay cho mẹ số tiền đó, còn như rồi sau sẽ ra sao, anh phó mặc số mệnh. Nhưng, anh xua ngay những ảo ảnh đó, lắc đầu: “Không, thưa ngài. Ngài phải đứng lên!” “Tôi không mướn anh nữa!” Ông chủ quát lên, bấm chuông điện, gào người hầu bàn: “Mang thêm nữa ra đây…” Sankar tỏ ý ngăn cản người hầu bàn. “Xéo ngay!” Ông chủ quát tháo. “Anh tưởng, tưởng ta say nói nhảm hử? Ta không cần anh, ta biết tự lo liệu lấy. Nếu như anh không rời ta, ta sẽ bảo anh hầu bàn lôi cổ anh ra…” Sankar ngập ngừng vẫn đứng đó. “Này, anh bạn trẻ!” Gã rút chiếc ví da: “Lương mỗi tháng anh?”
“Dạ, ba mươi ru pi!”
“Đây là bốn tháng công của anh. Cầm lấy đi đi. Tôi ở đây còn có công việc cần bàn, khi nào thích, tôi sẽ về, có xe hơi mà!” Gã rút một trăm ru pi và hai tờ mười ru pi. Tiền nhà đến hạn cuối cùng phải trả. Nhưng sao ta lại cầm được số tiền này! Sankar tự đấu tranh dữ dội. Và cuối cùng, anh đã nhận số tiền đó. “Kính xin đa tạ ngài!”
“Hừ, khách sáo gì!”
‘Thưa, ngài tốt bụng quá chừng ạ.”
“Bất quá tỏ chút tình đó thôi. Châm ngôn của tôi là ‘muốn người tốt với mình, mình phải tốt với người’, đó là châm ngôn của tôi… Sớm mai anh không phải đến nữa nhá. Tôi không cần anh nữa. Tôi mượn anh chỉ là tạm bợ… Nếu có ông bạn nào cần một người đại loại như thư ký, văn phòng gì đó, tôi sẽ nói giúp…”
“Xin chào ngài!”
“Ừ, chào!” Sankar đi rồi. Gã thượng lưu hể hả nhìn theo bóng anh đi, lẩm bẩm! “Ờ, châm ngôn của ta là… với người…”
Sớm hôm sau, Sankar lên phố mua sắm. Anh mua cho em gái mấy vuông lụa, cho mẹ chiếc kính lão, cho các cháu dăm chiếc đồ chơi bằng thiếc sơn màu. Trở về nhà trọ, anh xem sổ nợ và trả hết các khoản nợ nần trong tháng. “Hôm nay, ta lên đường,” anh tự nhủ. “Ta sẽ về quê…” Lòng anh rạng rỡ niềm vui. Anh cho người dọn buồng một ru pi. Thu xếp gọn chiếc va li, gấp chăn màn, anh đảo nhìn căn gác thượng lần cuối cùng. Trước lúc phải xa rời căn “nhà chòi” quen thuộc, ám khói, anh không khỏi bùi ngùi. Gần mười một giờ sáng, Sankar ra đến bến xe hơi. Xe sắp nổ máy. Anh đã ngồi yên vị trên đệm xe. Chỉ sáu giờ chiều, là anh sẽ về đến nhà. Chao! Mẹ anh sẽ ngạc nhiên xiết bao! Anh sẽ chuyện trò thâu đêm với mọi người, kể cho họ nghe về gã bợm rượu…
Anh bừng tỉnh khỏi những ý nghĩ miên man. Một thầy đội xếp đứng trên bậc xe nhẹ đập vào vai anh, hỏi:
“Anh là Sankar!”
“Vâng!”
“Xuống xe, đi theo tôi!”
“Tôi phải về quê…”
“Nhưng, anh chưa thể đi được.”
Viên đội xếp đặt chiếc va li và gói chăn màn của anh lên đầu một người phu. Họ đi về phía Sở cẩm. Ở đó, Sankar bị họ dồn hỏi rất nhiều, bị lục lọi khám xét, họ thu tất cả số tiền anh có. Viên chánh tổng ngắm nghía tờ giấy một trăm ru pi. “Ờ, cùng một loạt số. Lấy ở đâu ra? Khai thật đi…”
Rồi viên chánh cẩm lập tức đứng lên, nói: “Theo ta đi ngay đến nhà ông ấy…” Sankar nhìn thấy ông chủ của anh ngồi trên chiếc ghế dựa ngoài hành lang, nét mặt rất mệt mỏi. Gã mời viên chánh cẩm ngồi, rồi với giọng rầu rĩ, nói với Sankar: “Sankar, bấy nay tôi không ngờ, anh lại là con người như vậy. Nhân lúc tôi say không biết gì, anh đã cướp của tôi. Thật ra, chỉ cần anh hỏi một tiếng, anh cần bao nhiêu tiền, tôi sẽ cho anh. Việc gì anh cứ phải trói tôi lại, đánh tôi ngất đi cho cam?” Gã đưa vết thương ở cánh tay lên cho Sankar xem, tiếp: “Anh, anh cướp của tôi còn chưa đủ sao?”
Sankar sợ quá, đứng chết lặng, run rẩy không nói được nên lời. Anh kể hết lại mọi việc đã xảy ra chiều tối qua. Ông chủ và viên chánh cẩm âm thầm lặng lẽ ngồi nghe, rõ ràng tỏ ra ngờ vực. Ông chủ nói với viên chánh cẩm: “Ngài có thể tin lời anh ta lấy mảy may không?”
“Dạ, không thưa ngài. – viên chánh cẩm trả lời.”
“Tôi cũng không tin. Anh chàng đáng thương này hết cách đâm ra nói láo lếu…” Gã trầm ngâm đôi lát. “Tôi không biết… ờ, tôi nghĩ… ngài đã tìm thấy được số tiền ấy… thế ngài khám ở người anh ta có bao nhiêu?”
“Dạ, chừng một trăm mười ru pi và ít tiền lẻ…” Viên chánh cẩm trả lời.
“Số còn lại?” Gã quay sang hỏi Sankar. “Anh tiêu rồi ư?”
“Vâng, tôi mua quần áo và ít đồ chơi.”
“Thôi được, được!” Gã nọ xua tay. “Thôi đủ rồi anh chàng đáng thương! Tôi lấy làm khổ tâm cho anh. Anh hoàn toàn có thể xin tiền tôi, cần gì phải dùng đến võ lực để ăn cướp của tôi? Anh có biết người ta tìm thấy tôi ở đâu không? Gã vừa hỏi vừa chìa cánh tay bị thương. Anh có biết gần sớm hôm sau họ mới đưa tôi về nhà không? Anh đã quẳng tôi ở đó trong cơn hôn mê. Nhưng dù sao, tôi cũng sẽ rút đơn kiện anh. Điều tin của tôi là: ‘Muốn người tốt với ta, ta hãy tốt với người trước’. Trong những tháng qua, anh đối với tôi rất trung thưc. Có điều, anh đừng lảng vảng trước mắt tôi nữa, anh là một thằng lưu manh. Giờ thì anh cút đi…”
“Ngài chánh cẩm, sau khi làm xong thủ tục, ngày mai ngài có thể mang số tiền đã thu về đến cho tôi. Đa tạ ngài…”
Sankar phải nhịn đói hai hôm, sống lang thang vất vưởng trên phố, không có lấy một chỗ đặt chiếc va li và tấm thân mình. Rồi một hôm, anh đi quanh quẩn ở gần nhà dây thép, viết giúp được mấy tờ phiếu gửi tiền, mấy tấm bưu thiếp, kiếm được một ru pi. Với một ru pi đó, anh ăn một bữa cơm, mua một vé xe hơi về quê. Anh lại trở về sống với gia đình, sống trong muôn ngàn điều bất hạnh triền miên như cũ…
Lê Sơn Hinh dịch