Tiếng gọi nơi vực thẳm

Tiếng gọi nơi vực thẳm

Lượt đọc: 5 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
By H.P. LOVECRAFT

❊ ❊ ❊

Bởi H.P. LOVECRAFT

“Về những quyền năng hay sinh thể vĩ đại ấy, tưởng chừng như vẫn còn sót lại đâu đây một vài dấu vết... sự tồn đọng từ một thời kỳ xa xôi vô tận thuở mà... ý thức đôi khi được biểu hiện qua những hình thù và thể dạng từ lâu đã lùi bước trước dòng triều nhân loại đang tiến lên... những thể dạng mà thơ ca và huyền thoại chỉ kịp bắt lấy một thoáng ký ức bay qua và gọi chúng là các vị thần, quái vật, cùng đủ loại sinh vật huyền thoại khác....”

— Algernon Blackwood.

“Vòng tròn của những kẻ sùng bái chuyển động trong điệu cuồng vũ bacchanale bất tận giữa vòng vây của những xác người và vòng vây của lửa.”

1. Nỗi Kinh Hoàng trong Đất Sét

Tôi nghĩ rằng điều nhân từ nhất trên thế giới này chính là sự bất lực của tâm trí con người trong việc liên kết toàn bộ các dữ liệu của nó. Chúng ta đang sống trên một hòn đảo bình yên của sự dốt nát giữa đại dương vô tận đen tối, và định mệnh vốn không chuẩn bị cho chúng ta những hải trình xa xôi. Các ngành khoa học, mỗi ngành đều dò dẫm hướng đi riêng, cho đến nay vẫn chưa gây hại cho chúng ta là bao; nhưng sẽ có ngày việc chắp nối những mảnh tri thức rời rạc lại với nhau sẽ mở ra những viễn cảnh đáng sợ khôn cùng về thực tại và về vị trí đầy hiểm hoạ của chúng ta trong đó, khiến chúng ta hoặc sẽ phát điên trước sự khải thị ấy, hoặc phải trốn chạy khỏi ánh sáng tử thần để tìm đến sự bình yên và an toàn trong một thời kỳ tăm tối mới.

Các nhà thông thái học đã từng phỏng đoán về sự vĩ đại đầy kinh ngạc của chu kỳ vũ trụ, nơi thế giới và loài người chúng ta chỉ là những biến cố thoáng qua. Họ từng hé lộ về những sự tồn tại kỳ lạ bằng thứ ngôn ngữ có thể làm đông đặc dòng máu nếu không được che đậy bởi một lớp lạc quan ôn hòa. Nhưng chính không phải từ họ mà xuất hiện tia sáng duy nhất về những kỷ nguyên cấm kỵ—tia sáng khiến tôi lạnh sống lưng mỗi khi nghĩ đến và phát điên mỗi khi mơ về nó. Tia sáng ấy, giống như mọi tia sáng đáng sợ của chân sự, đã bùng lên từ một sự chắp nối tình cờ giữa những mảnh rời rác—trong trường hợp này là một mẩu tin báo cũ và những ghi chép của một vị giáo sư đã qua đời. Tôi hy vọng sẽ không có ai khác hoàn thành việc chắp vá này; chắc chắn rằng, nếu còn sống, tôi sẽ không bao giờ cố ý cung cấp thêm một mắt xích nào cho chuỗi dây gớm ghiếc đến thế. Tôi nghĩ rằng vị giáo sư cũng có ý định giữ im lặng về phần hiểu biết của mình, và ông đã tiêu hủy các ghi chép ấy nếu như cái chết bất ngờ không giáng xuống.

Hiểu biết của tôi về sự việc này bắt đầu vào mùa đông năm 1926-27 với cái chết của ông bác họ tôi, George Gammell Angell, Giáo sư Danh dự về Ngôn ngữ Xê-mít tại Đại học Brown, thành phố Providence, bang Rhode Island. Giáo sư Angell vốn nổi tiếng rộng rãi như một bậc thầy về các văn khắc cổ, và thường được các giám đốc của các viện bảo tàng lớn tìm đến thỉnh thị; thế nên sự ra đi ở tuổi chín mươi hai của ông chắc hẳn nhiều người còn nhớ. Tại địa phương, sự quan tâm càng được đẩy lên cao bởi nguyên nhân cái chết vốn mờ ám của ông. Vị giáo sư đã bị đột quỵ khi đang trên đường trở về từ chuyến phà Newport; ngã gục đột ngột, theo lời các nhân chứng kể lại, sau khi bị va quệt bởi một tên da đen có dáng vẻ giống thủy thủ bước ra từ một trong những con hẻm tối tăm kỳ dị trên sườn đồi dốc đứng—con hẻm vốn là lối đi tắt từ bến cảng về nhà người quá cố trên phố Williams. Các bác sĩ không tìm thấy bất kỳ dấu hiệu tổn thương rõ ràng nào, nhưng sau một hồi tranh luận bối rối, họ kết luận rằng một tổn thương mờ ám nào đó ở tim, do việc leo một con dốc quá đứng bởi một người quá cao tuổi, chính là nguyên nhân gây ra cái chết. Vào thời điểm đó, tôi không thấy có lý do gì để phản bác phán quyết này, nhưng dạo gần đây tôi lại đâm ra ngờ vực—thậm chí còn hơn cả sự ngờ vực.

Với tư cách là người thừa kế kiêm chủ tài sản của ông bác quá cố—vì ông qua đời khi là một người góa vợ không con—tôi được kỳ vọng sẽ xem xét kỹ lưỡng các giấy tờ của ông; và vì mục đích đó, tôi đã chuyển toàn bộ hệ thống hồ sơ và hộp tài liệu của ông về chỗ ở của mình ở Boston. Phần lớn tài liệu mà tôi đã chắp nối sẽ sớm được Hội Khảo cổ học Hoa Kỳ cho xuất bản, nhưng có một chiếc hộp khiến tôi vô cùng bối rối, và tôi cảm thấy cực kỳ e ngại không muốn để những ánh mắt khác nhìn thấy nó. Nó đã bị khóa, và tôi chỉ tìm được chìa khóa khi sực nhớ ra chiếc nhẫn cá nhân mà vị giáo sư luôn mang theo trong túi. Quả thực, khi ấy tôi đã mở được nó, nhưng nào ngờ việc làm đó lại đẩy tôi đối mặt với một bức tường chắn kiên cố và bí hiểm hơn nhiều. Bởi vì sao lại có thể tồn tại những thứ kỳ quái như bức phù điêu bằng đất sét cùng những dòng ghi chép rời rạc, luyên thuyên và các mẩu báo cắt vụn mà tôi tìm thấy được? Phải chăng trong những năm cuối đời, ông bác của tôi đã trở nên cả tin trước những trò bịp bợm nông cạn nhất? Tôi tự quyết định phải truy tìm cho ra gã nhà điêu khắc kỳ quặc chịu trách nhiệm cho sự xáo trộn tâm hồn dường như vốn dĩ bình yên của một ông già này.

Bức phù điêu là một khối chữ nhật thô ráp dày chưa đầy một inch và có diện tích khoảng năm trên sáu inch; rõ ràng có nguồn gốc hiện đại. Tuy nhiên, các họa tiết trên đó lại mang bầu không khí và sự gợi mở xa lạ với thời hiện đại; bởi vì, dù cho những biến thể của trường phái lập thể và vị lai có muôn hình vạn trạng và cuồng dã đến đâu, chúng cũng hiếm khi tái tạo lại cái vẻ đều đặn huyền bí ẩn giấu trong những văn tự tiền sử. Và phần lớn những họa tiết này trông chắc chắn là một dạng văn tự nào đó; dù rằng trí nhớ của tôi, dẫu đã quá quen thuộc với các tài liệu và bộ sưu tập của ông bác, vẫn hoàn toàn thất bại trong việc nhận diện loài ký tự đặc biệt này, hay thậm chí gợi nhắc đến bất kỳ mối liên hệ xa xôi nào của nó.

Phía trên những ký hiệu tượng hình có vẻ ngoài rõ ràng ấy là một hình thù mang dụng ý minh họa, dẫu cho cách thể hiện theo trường phái ấn tượng khiến người ta khó lòng hình dung rõ ràng về bản chất của nó. Nó dường như là một dạng quái vật, hoặc một biểu tượng đại diện cho một con quái vật, mang một hình hài mà chỉ có trí tưởng tượng bệnh hoạn mới có thể nghìn ra nổi. Nếu tôi nói rằng trí tưởng tượng hơi quá đà của mình đã đồng thời mường tượng ra hình ảnh của một con bạch tuộc, một con rồng và một bức biếm họa hình người, thì tôi không hề đi ngược lại với tinh thần cốt lõi của vật thể ấy. Một cái đầu nhũn nhược, tua tủa tu-va nằm trên một thân hình kỳ dị, có vảy với những đôi cánh thoạt kỳ đư; nhưng chính đường nét tổng thể của toàn bộ sinh thể mới là thứ khiến nó trở nên kinh hoàng đến rợn gáy. Phía sau hình thù ấy là một chút gợi ý mơ hồ về một khung cảnh kiến trúc mang phong cách Cyclops.

Phần văn bản đi kèm với vật thể kỳ lạ này, ngoại trừ một chồng các mẩu tin báo cắt ra, đều được viết bằng nét chữ gần đây nhất của Giáo sư Angell; và hoàn toàn không ra vẻ mang phong cách văn chương gì cả. Thứ trông có vẻ là tài liệu chính được đề tiêu đề “GIÁO PHÁI CTHULHU” bằng những ký tự được in cẩn thận nhằm tránh đọc nhầm một từ vốn dĩ chưa từng nghe bao giờ. Bản thảo này được chia thành hai phần, phần đầu mang tiêu đề “1925—Giấc mơ và công việc mộng mị của H. A. Wilcox, số 7 đường Thomas, Providence, R. I.”, và phần thứ hai là “Lời kể của Thanh tra John R. Legrasse, số 121 đường Bienville, New Orleans, La., tại Hội nghị A. A. S. năm 1908 — Những ghi chú về sự việc, cùng Bản tường thuật của Giáo sư Webb”. Các tài liệu bản thảo còn lại toàn là những ghi chép ngắn, một số là tường thuật về những giấc mơ kỳ quái của nhiều người khác nhau, một số là trích dẫn từ các sách báo thông thái học (đặc biệt là cuốn Atlantis và xứ Lemuria Đã Mất của W. Scott-Eliott), và phần còn lại là những lời bình luận về các hội kín trường tồn lâu đời cùng các giáo phái ẩn giấu, kèm theo các dẫn chiếu đến những đoạn trong các sách nguồn thần thoại và nhân học như cuốn Cành Vàng (Golden Bough) của Frazer và cuốn Tôn Giáo Phù Thủy ở Tây Âu (Witch-Cult in Western Europe) của Cô Murray. Các mẩu tin cắt ra phần lớn đề cập đến những căn bệnh tâm thần kỳ quái và các đợt bùng phát cơn cuồng loạn hoặc sự rồ dại tập thể vào mùa xuân năm 1925.

Nửa đầu của bản thảo chính kể lại một câu chuyện vô cùng kỳ lạ. Dường như vào ngày 1 tháng 3 năm 1925, một thanh niên gầy gò, da ngăm đen với vẻ ngoài hay lo âu và kích động đã đến thăm Giáo sư Angell mang theo bức phù điêu bằng đất sét kỳ lạ, lúc bấy giờ vẫn còn vô cùng ẩm ướt và tươi mới. Tấm danh thiếp của anh ta đề tên Henry Anthony Wilcox, và ông bác của tôi đã nhận ra anh ta là con trai út trong một gia đình gia giáo mà ông hơi quen biết, người gần đây đang theo học điêu khắc tại Trường Thiết kế Rhode Island và sống một mình tại Tòa nhà Fleur-de-Lys gần trường học đó. Wilcox là một thanh niên sớm nở tối tàn, nổi tiếng có thiên tài nhưng vô cùng kỳ cục, và từ nhỏ đã gây chú ý qua những câu chuyện kỳ lạ cùng những giấc mơ quái dị mà cậu ta hay kể lể. Cậu ta tự nhận mình là “người nhạy cảm về mặt tâm linh”, nhưng những con người điềm đạm của thành phố thương mại cổ kính này chỉ gạt đi và coi cậu ta đơn giản là “lắm trò”. Vốn không giao du nhiều với những người xung quanh, cậu ta dần chìm khuất khỏi tầm mắt xã hội, và giờ đây chỉ được biết đến bởi một nhóm nhỏ những kẻ theo chủ nghĩa mỹ học đến từ các thị trấn khác. Ngay cả Câu lạc bộ Nghệ thuật Providence, vốn luôn lo gìn giữ nét bảo thủ của mình, cũng thấy cậu ta là một trường hợp hoàn toàn vô vọng.

Vào dịp ghé thăm đó, theo bản thảo của vị giáo sư ghi lại, nhà điêu khắc đột ngột xin được cậy nhờ kiến thức khảo cổ học của chủ nhà để nhận dạng các ký tự tượng hình trên bức phù điêu. Cậu ta nói bằng một giọng điệu mơ màng, cứng nhắc mang vẻ làm hàng và khiến người ta khó lòng đồng cảm; và ông bác của tôi đã tỏ ra có phần gay gắt khi đáp lại, bởi vì độ tươi mới thấy rõ của tấm bảng cho thấy nó chẳng có chút họ hàng nào với khảo cổ học cả. Lời đáp của chàng thanh niên Wilcox—điều gây ấn tượng đủ mạnh với ông bác để ông phải nhớ lại và ghi chép nguyên văn—mang một nét thơ ca hoang đường vốn phải là đặc trưng cho toàn bộ cách trò chuyện của cậu ta, và mà sau này tôi nhận ra là rất tiêu biểu cho con người cậu. Cậu ta nói: “Nó mới thật đấy chứ, vì tôi đã làm ra nó tối qua trong một giấc mơ về những thành phố lạ lùng; và những giấc mơ thì cổ xưa hơn cả thành Tyre trầm mặc, hay bức tượng Nhân Sư đang trầm tư, hay thành Babylon được những khu vườn ôm trọn.”

Chính lúc đó cậu ta bắt đầu câu chuyện luyên thuyên đã vô tình chạm đến một ký ức đang ngủ quên và khơi dậy sự quan tâm đầy sốt sắng của ông bác tôi. Đêm hôm trước đã xảy ra một trận động đất nhẹ, trận lớn nhất được cảm nhận ở New England trong nhiều năm qua; và trí tưởng tượng của Wilcox đã bị tác động sâu sắc. Khi đi ngủ, cậu đã có một giấc mơ chưa từng thấy về những thành phố Cyclops vĩ đại xây bằng những khối đá Titan và những cột đá chọc trời, tất cả đều nhỏ giọt chất nhờn xanh lè và đầy vẻ kinh hoàng tiềm ẩn. Các ký tự tượng hình phủ đầy những bức tường và trụ đá, và từ một điểm nào đó không xác định bên dưới vang lên một thứ âm thanh vốn chẳng phải là giọng nói; một thứ cảm giác hỗn độn mà chỉ trí tưởng tượng mới có thể chuyển hóa thành âm thanh, nhưng cậu đã cố gắng diễn tả nó bằng cụm từ lộn xộn gần như không tài nào phát âm nổi: “Cthulhu fhtagn”.

Cụm từ lộn xộn ấy chính là chiếc chìa khóa đánh thức ký ức từng khiến Giáo sư Angell vô cùng kích động và bối rối. Ông gặng hỏi nhà điêu khắc với sự tỉ mỉ mang tính khoa học; và nghiên cứu với sự tập trung gần như cuồng nhiệt bức phù điêu mà chàng thanh niên phát hiện ra mình đang nhào nặn trong lúc tỉnh giấc bàng hoàng, khi cơ thể chỉ mặc chiếc áo ngủ và đang lạnh cóng. Wilcox sau đó có kể lại rằng ông bác đã tự trách tuổi già của mình vì sự chậm chạp trong việc nhận ra cả chữ tượng hình lẫn hình họa. Nhiều câu hỏi của ông có vẻ cực kỳ lạc lõng đối với người đến thăm, đặc biệt là những câu cố gắng gắn kết chàng thanh niên với các giáo phái hoặc hội nhóm kỳ lạ; và Wilcox không thể hiểu nổi những lời hứa hẹn giữ kín chuyện được lặp đi lặp lại nhằm đổi lấy việc cậu thừa nhận có tham gia vào một hội nhóm huyền bí hay tôn giáo ngoại giáo nào đó có mạng lưới rộng khắp. Khi Giáo sư Angell bị thuyết phục rằng nhà điêu khắc quả thực không hay biết gì về bất kỳ giáo phái hay hệ thống tri thức bí ẩn nào, ông liền vây hãm vị khách của mình bằng những yêu cầu phải báo cáo lại những giấc mơ trong tương lai. Điều này đã mang lại kết quả đều đặn, bởi vì sau buổi gặp đầu tiên, các trang bản thảo ghi lại những chuyến ghé thăm hằng ngày của chàng thanh niên, trong đó cậu kể lại những mảnh ghép đáng sợ về những hình ảnh ban đêm mà chủ đề luôn là một viễn cảnh Cyclops khủng khiếp nào đó với những bức tường đá tối tăm rỉ nước, kèm theo một giọng nói hoặc thực thể ngầm dưới đất đang gào thét đơn điệu bằng những luồng ý nghĩa khó hiểu không thể ghi lại nổi ngoại trừ dưới dạng những lời bập bõm vô nghĩa. Hai âm thanh được lặp đi lặp lại nhiều nhất là những từ được phiên âm thành “Cthulhu” và “R'lyeh”.

Vào ngày 23 tháng 3, bản thảo tiếp tục, Wilcox đã không xuất hiện; và những câu hỏi thăm tại nơi ở của cậu hé lộ rằng cậu đã bị trúng một loại sốt mờ ám nào đó và được đưa về nhà gia đình trên phố Waterman. Cậu đã hét lên trong đêm, làm thức giấc một số nghệ sĩ khác trong tòa nhà, và từ đó trở đi chỉ biểu hiện sự đan xen giữa trạng thái bất tỉnh và mê sảng. Ông bác tôi ngay lập tức gọi điện cho gia đình, và từ thời điểm đó trở đi đã theo dõi sát sao vụ việc; thường xuyên ghé qua văn phòng trên phố Thayer của Tiến sĩ Tobey, người mà ông biết là đang phụ trách điều trị. Tâm trí đang lên cơn sốt của chàng thanh niên rõ ràng đang bị ám ảnh bởi những điều kỳ lạ; và vị bác sĩ đôi khi phải rùng mình mỗi khi nhắc đến chúng. Chúng không chỉ bao gồm việc lặp lại những gì cậu từng mơ thấy trước đây, mà còn chạm một cách điên cuồng đến một sinh thể khổng lồ “cao hàng dặm” đang đi lại hoặc lê lết xung quanh. Cậu chưa bao giờ miêu tả đầy đủ vật thể này, nhưng những lời nói hoảng loạn thỉnh thoảng thốt ra, được Tiến sĩ Tobey thuật lại, đã thuyết phục vị giáo sư rằng nó chắc chắn đồng nhất với con quái vật không tên mà cậu từng cố gắng phác họa trong tác phẩm điêu khắc trong giấc mơ của mình. Việc nhắc đến sinh thể này, vị bác sĩ cho biết thêm, luôn là khúc dạo đầu dẫn đến việc chàng thanh niên chìm vào trạng thái li bì. Thật kỳ lạ, thân nhiệt của cậu không cao hơn bình thường là bao; nhưng toàn bộ tình trạng cơ thể lại cho thấy đây là một cơn sốt thực sự chứ không phải là rối loạn tâm thần.

Vào ngày 2 tháng 4, vào khoảng 3 giờ chiều, mọi dấu hiệu bệnh tật của Wilcox đột nhiên biến mất. Cậu ngồi bật dậy trên giường, kinh ngạc khi thấy mình đang ở nhà và hoàn toàn không biết gì về những gì đã xảy ra trong giấc mơ hay thực tế kể từ đêm 22 tháng 3. Được bác sĩ tuyên bố là đã bình phục, cậu trở lại nơi ở của mình sau ba ngày; nhưng đối với Giáo sư Angell, cậu không còn mang lại sự giúp đỡ nào nữa. Mọi dấu hiệu về những giấc mơ kỳ lạ đã biến mất cùng với sự hồi phục của cậu, và ông bác tôi không còn lưu giữ ghi chép nào về những mộng tưởng ban đêm của cậu sau một tuần thu thập những câu chuyện vô nghĩa và lạc đề về những viễn cảnh hoàn toàn bình thường.

Đến đây là phần kết của nửa đầu bản thảo, nhưng những tham chiếu đến một số ghi chép rải rác đã mang lại cho tôi rất nhiều chất liệu để suy ngẫm—thậm chí nhiều đến mức, chỉ có sự hoài nghi đã cắm rễ sâu vào triết lý của tôi lúc bấy giờ mới có thể giải thích cho sự hoài nghi dai dẳng của tôi đối với người họa sĩ. Những ghi chép đang nói đến chính là những phần mô tả về giấc mơ của nhiều người khác nhau trong cùng khoảng thời gian mà chàng thanh niên Wilcox có những chuyến viếng thăm kỳ lạ. Dường như ông bác tôi đã nhanh chóng tiến hành một cuộc điều tra quy mô rộng lớn đến kinh ngạc trong số hầu hết những người bạn mà ông có thể gặng hỏi mà không mang tiếng là vô lễ, yêu cầu họ báo cáo lại giấc mơ mỗi đêm, cùng ngày tháng của bất kỳ viễn cảnh đáng chú ý nào trong suốt thời gian qua. Sự tiếp nhận yêu cầu của ông có vẻ đa dạng; nhưng ít nhất, ông hẳn phải nhận được nhiều phản hồi hơn mức mà một người bình thường có thể xử lý nếu không có thư ký. Tập thư từ ban đầu này đã không được bảo tồn, nhưng các ghi chú của ông đã tạo thành một bản tổng hợp đầy đủ và thực sự có ý nghĩa. Những người bình thường trong xã hội và thương giới—những “muối của đất” truyền thống của New England—đã đưa ra kết quả gần như hoàn toàn tiêu cực, mặc dù có rải rác một vài trường hợp xuất hiện những ấn tượng ban đêm bất an nhưng không rõ hình thù ở chỗ này hay chỗ khác, luôn luôn trong khoảng thời gian từ ngày 23 tháng 3 đến ngày 2 tháng 4—khoảng thời gian Wilcox mê sảng. Những người làm khoa học cũng không bị ảnh hưởng hơn là bao, dù có bốn trường hợp mô tả mơ hồ gợi ý về những cái nhìn lướt qua thoáng qua về những vùng đất kỳ lạ, và trong một trường hợp có đề cập đến nỗi sợ hãi về một điều gì đó bất thường.

Chính từ những nghệ sĩ và nhà thơ là những câu trả lời thích hợp đã xuất hiện, và tôi biết rằng sự hoảng loạn đã có thể bùng nổ nếu họ có thể đối chiếu các ghi chép với nhau. Căn cứ vào thực tế là thiếu đi những lá thư gốc, tôi đâm ra hoài nghi một nửa rằng người tổng hợp đã đặt ra những câu hỏi định hướng, hoặc đã biên tập lại thư từ để củng cố cho điều mà ông đã ngấm ngầm quyết tâm nhìn thấy. Đó là lý do tại sao tôi vẫn tiếp tục cảm thấy rằng Wilcox, bằng cách nào đó nắm được những dữ liệu cũ mà ông bác tôi đang sở hữu, đã và đang bịp bợm vị khoa học gia già cỗi. Những phản hồi từ giới nghệ sĩ này kể lại một câu chuyện đầy bất an. Từ ngày 28 tháng 2 đến ngày 2 tháng 4, phần lớn bọn họ đã mơ thấy những điều vô cùng kỳ quái, với cường độ của những giấc mơ mạnh hơn không thể đo đếm được trong khoảng thời gian chàng nhà điêu khắc mê sảng. Hơn một phần tư số người báo cáo có mơ thấy gì đó đã thuật lại những khung cảnh và âm thanh đứt quãng không khác gì những gì Wilcox đã miêu tả; và một số người mơ thậm chí thú nhận đã trải qua nỗi sợ hãi tột độ trước sinh thể khổng lồ không tên xuất hiện vào giai đoạn cuối. Có một trường hợp, được ghi chép lại với thái độ nhấn mạnh đầy vẻ nghiêm trọng, rất đáng buồn. Chủ thể, một kiến trúc sư nổi tiếng rộng rãi có xu hướng ngả theo thuyết thông thái và huyền bí, đã phát điên dữ dội vào đúng ngày chàng thanh niên Wilcox khởi phát cơn bệnh, và qua đời vài tháng sau đó sau những tiếng thét không ngừng nghỉ cầu xin được cứu thoát khỏi một cư dân trốn trại nào đó của địa ngục. Giá như ông bác tôi nhắc đến các trường hợp này bằng tên thay vì chỉ bằng số hiệu, tôi đã thử tiến hành một số công tác xác minh và điều tra cá nhân; nhưng ngặt nỗi, tôi chỉ có thể lần theo dấu vết của một vài người trong số đó. Tuy nhiên, tất cả những người này đều xác thực hoàn toàn các ghi chép. Tôi thường tự hỏi liệu tất cả những đối tượng bị vị giáo sư gặng hỏi có cảm thấy bối rối y như phần nhỏ này hay không. Thật may là sẽ chẳng có lời giải thích nào chạm đến được họ.

Các mẩu tin báo cắt ra, như tôi đã bóng gió nhắc đến, đề cập đến các trường hợp hoảng loạn, cuồng loạn và lệch lạc trong khoảng thời gian được nhắc tới. Giáo sư Angell hẳn phải thuê một dịch vụ cắt lọc tin tức, bởi vì số lượng các bài báo trích xuất là vô cùng lớn, và các nguồn tin thì rải rác khắp toàn cầu. Ở đây là một vụ tự sát ban đêm ở Luân Đôn, nơi một người ngủ một mình đã nhảy khỏi cửa sổ sau một tiếng thét kinh hoàng. Tương tự ở đây là một bức thư lan man gửi cho tòa soạn báo ở Nam Mỹ, nơi một kẻ cuồng tín suy diễn ra một tương lai ảm đạm từ những thị kiến mà hắn nhìn thấy. Một bản tin từ California miêu tả một cộng đồng thông thái học đồng loạt mặc áo choàng trắng để đón chờ một “sự viên mãn huy hoàng” nào đó không bao giờ đến, trong khi các mẩu tin từ Ấn Độ dè dặt bàn tán về tình trạng bất ổn nghiêm trọng của người bản xứ vào cuối tháng. Các buổi hoan ca Voodoo gia tăng ở Haiti, và các tiền đồn ở Phi Châu báo cáo những tiếng lẩm bẩm đầy điềm gở. Các sĩ quan Mỹ ở Philippines thấy một số bộ tộc gây phiền toái vào khoảng thời gian này, và cảnh sát New York bị tấn công bởi những kẻ Levant cuồng loạn vào đêm 22-23 tháng 3. Miền tây Ireland cũng ngập tràn những lời đồn thổi và truyền thuyết hoang dã, và một họa sĩ kỳ quái tên là Ardois-Bonnot đã treo một bức tranh Phong Cảnh Giấc Mơ đầy tính báng bổ tại triển lãm mùa xuân ở Paris năm 1926. Và số lượng các rắc rối được ghi nhận trong các nhà thương điên nhiều đến mức chỉ có phép màu mới ngăn được giới y khoa nhận ra những sự tương đồng kỳ lạ và rút ra những kết luận đầy huyền bí. Nói chung đó là một chồng các mẩu tin kỳ quái; và vào thời điểm này, tôi khó lòng tưởng tượng nổi thái độ lý tính vô cảm mà tôi đã dùng để gạt chúng sang một bên. Nhưng khi ấy tôi vẫn đinh ninh rằng chàng thanh niên Wilcox đã biết về những sự việc cũ hơn được vị giáo sư đề cập.

2. Câu Chuyện của Thanh tra Legrasse

Những sự việc cũ hơn từng khiến giấc mơ và bức phù điêu của nhà điêu khắc trở nên vô cùng ý nghĩa đối với ông bác tôi đã tạo thành chủ đề của nửa thứ hai trong bản thảo dài của ông. Dường như đã có một lần trước đó, Giáo sư Angell từng nhìn thấy những đường nét địa ngục của con quái vật không tên, từng bối rối trước các ký tự tượng hình chưa từng biết đến, và từng nghe thấy những âm tiết đầy điềm gở mà người ta chỉ có thể phiên âm là “Cthulhu”; và tất cả những điều này diễn ra trong một bối cảnh chấn động và kinh hoàng đến mức chẳng có gì lạ khi ông cứ bám lấy Wilcox với hàng loạt câu hỏi và đòi hỏi cung cấp dữ liệu.

Trải nghiệm trước đó này đã diễn ra vào năm 1908, tức là mười bảy năm trước, khi Hội Khảo cổ học Hoa Kỳ tổ chức hội nghị thường niên tại St. Louis. Giáo sư Angell, đúng với tư cách là một bậc thầy có thẩm quyền và học hàm cao, đã giữ một vai trò nổi bật trong tất cả các cuộc thảo luận; và là một trong những người đầu tiên được tiếp cận bởi một số người ngoài tranh thủ lợi dụng dịp hội họp này để đặt câu hỏi nhằm tìm kiếm câu trả lời chính xác và đưa ra các bài toán nhờ chuyên gia giải quyết.

Nhân vật chính trong số những người ngoài ấy, và chẳng mấy chốc trở thành tâm điểm chú ý của toàn bộ hội nghị, là một người đàn ông trung niên có vẻ ngoài bình thường đã lặn lội đường sá xa xôi từ New Orleans đến đây để tìm kiếm một số thông tin đặc biệt không thể kiếm được từ bất kỳ nguồn địa phương nào. Tên ông là John Raymond Legrasse, và nghề nghiệp của ông là một thanh tra cảnh sát. Mang theo bên mình là đối tượng của chuyến thăm, một bức tượng nhỏ bằng đá kỳ dị, gớm ghiếc và bề ngoài có vẻ vô cùng cổ xưa mà ông đang loay hoay không tài nào xác định được nguồn gốc.

Đừng vội tưởng tượng rằng Thanh tra Legrasse có mảy may sự quan tâm nào đến khảo cổ học. Ngược lại, mong muốn tìm kiếm ánh sáng chân lý của ông hoàn toàn xuất phát từ những cân nhắc thuần túy mang tính nghề nghiệp. Bức tượng nhỏ, thần tượng, bùa hộ mệnh hay bất cứ thứ gì gọi là nó, đã được tịch thu vài tháng trước đó trong những vùng đầm lầy ngập rừng phía nam New Orleans trong một cuộc đột kích vào một buổi họp mặt voodoo giả định; và các nghi lễ gắn liền với nó kỳ lạ cùng gớm ghiếc đến mức cảnh sát không thể không nhận ra rằng họ đã vô tình vướng phải một giáo phái tăm tối hoàn toàn xa lạ đối với họ, và vô cùng ma quái hơn cả những vòng tròn voodoo đen tối nhất của châu Phi. Về nguồn gốc của nó, ngoại trừ những câu chuyện thất thường và khó tin được ép cung từ những thành viên bị bắt, tuyệt đối chẳng thể tìm ra manh mối nào; do đó cảnh sát mới sốt sắng tìm kiếm bất kỳ tri thức cổ vật nào có thể giúp họ định vị được biểu tượng đáng sợ này, và thông qua đó lần ra tận gốc rễ của giáo phái.

Thanh tra Legrasse hầu như không chuẩn bị tâm lý cho sự chấn động mà món đồ của ông tạo ra. Chỉ một cái nhìn vào vật ấy cũng đủ đẩy các nhà khoa học tập hợp ở đó vào trạng thái kích thích căng thẳng, và họ không chần chừ xúm lại xung quanh ông để ngắm nghía bức tượng nhỏ có vẻ xa lạ hoàn toàn cùng bầu không khí cổ xưa từ tận vực thẳm sâu thẳm mang lại những gợi ý đầy sức nặng về những viễn cảnh chưa từng được khai mở và mang đậm dấu ấn thời tiền sử. Không một trường phái điêu khắc được công nhận nào đã thổi hồn vào vật thể khủng khiếp này, thế mà hàng thế kỷ hay thậm chí hàng ngàn năm dường như đang được khắc ghi trên bề mặt mờ ảo và ngả màu xanh lục của một loại đá không thể xác định được nguồn gốc.

Bức tượng, cuối cùng được truyền tay chậm rãi từ người này sang người khác để nghiên cứu thật gần và cẩn thận, cao khoảng bảy đến tám inch, và có tay nghề chế tác tinh xảo tuyệt mỹ. Nó mô tả một con quái vật có hình dáng phảng phất nét con người, nhưng với cái đầu giống bạch tuộc mà khuôn mặt là một khối tu-va tua tủa, một thân hình có vảy, trông như cao su, những chiếc vuốt khổng lồ ở cả chân sau lẫn chân trước, và đôi cánh dài, hẹp ở phía sau. Sinh thể này, dường như mang đầy sự ác độc đáng sợ và trái tự nhiên, có một thân hình hơi phì nhiêu, đang ngồi xổm một cách quỷ quái trên một khối đá hình chữ nhật hoặc bệ đỡ được bao phủ bởi những ký tự không thể giải mã. Chạm vào mép sau của bệ đỡ là phần chóp của đôi cánh, phần mông chiếm vị trí chính giữa, trong khi những chiếc vuốt dài, cong của đôi chân sau co quắp, ngồi xổm đang bám chặt vào mép trước và kéo dài xuống một phần tư hướng về phía đáy bệ đỡ. Cái đầu dạng chân đầu cúi gập về phía trước, sao cho các đầu tua tủa trên mặt quét qua phần lưng của đôi chân trước to lớn đang ôm lấy hai đầu gối nhô cao của sinh thể đang ngồi xổm. Diện mạo tổng thể mang nét sống động một cách bất thường, và càng trở nên đáng sợ một cách tinh vi hơn bởi nguồn gốc của nó hoàn toàn không thể tài nào biết được. Độ tuổi bao la, đáng kinh ngạc và khôn lường của nó là điều không thể bàn cãi; thế nhưng nó không hề thể hiện một mắt xích nào với bất kỳ loại hình nghệ thuật đã biết nào thuộc về tuổi trẻ của nền văn minh—hoặc thậm chí của bất kỳ thời kỳ nào khác.

Tách biệt hoàn toàn và độc lập, ngay cả chất liệu của nó cũng là một bí ẩn; bởi vì loại đá xà phòng, đen ánh xanh lục với những đốm và vệt vàng hoặc óng ánh màu xà cừ chẳng giống với bất kỳ thứ quen thuộc nào trong địa chất hay khoáng vật học. Các ký tự dọc theo phần bệ cũng gây bối rối không kém; và không một thành viên nào có mặt ở đó, bất chấp sự góp mặt của một nửa giới học thuật chuyên gia trên thế giới trong lĩnh vực này, có thể hình dung dù chỉ là mảy may về mối quan hệ ngôn ngữ xa xôi nhất của chúng. Chúng, cũng giống như chủ đề và chất liệu, thuộc về một thứ gì đó vô cùng xa xôi và tách biệt khỏi nhân loại như chúng ta vẫn biết; một thứ gì đó gợi ý một cách đáng sợ về những chu kỳ sống cổ xưa và bất kính mà trong đó thế giới và những khái niệm của chúng ta hoàn toàn không có chỗ đứng.

Thế nhưng, khi các thành viên lần lượt lắc đầu và thừa nhận sự thất bại trước bài toán của vị thanh tra, có một người trong buổi tụ họp đó đã nghi ngờ có một chút quen thuộc kỳ lạ trong hình thù và văn tự quái dị ấy, và người này ngay sau đó đã kể lại với một chút rụt rè về món tiểu tiết kỳ lạ mà ông biết. Nhân vật này chính là cố William Channing Webb, giáo sư nhân học tại Đại học Princeton, và là một nhà thám hiểm có tiếng tăm không nhỏ.

Bốn mươi tám năm trước, Giáo sư Webb từng tham gia một chuyến du khảo đến Greenland và Iceland để tìm kiếm một số văn khắc Runic nhưng không tìm đâu ra; và khi ở tít trên cao của bờ biển phía Tây Greenland, ông đã bắt gặp một bộ tộc hoặc giáo phái kỳ lạ gồm những người Eskimo đã thoái hóa mà tôn giáo của họ—một hình thức tôn giáo thờ quỷ kỳ lạ—đã làm ông lạnh sống lưng với bản tính khát máu và sự gớm ghiếc đầy chủ ý. Đó là một thứ đức tin mà những người Eskimo khác ít khi biết đến, và họ chỉ nhắc đến nó với những cái rùng mình, nói rằng nó đã truyền lại từ những kỷ nguyên cổ xưa khủng khiếp từ trước khi thế giới được tạo ra. Bên cạnh những nghi lễ vô danh và các vật hiến tế là con người, còn có một số nghi thức di truyền kỳ lạ hướng đến một vị đại ma vương tối cao hay còn gọi là tornasuk; và về điều này, Giáo sư Webb đã ghi chép lại một cách cẩn thận theo dạng phiên âm từ một angekok hoặc thầy pháp-phù thủy lớn tuổi, thể hiện các âm thanh bằng các chữ cái La-ma tùy theo khả năng tốt nhất của ông. Nhưng ngay lúc này, thứ có ý nghĩa hàng đầu chính là bức tượng nhỏ bùa hộ mệnh mà giáo phái này vẫn luôn trân trọng, và xung quanh nó họ đã nhảy múa khi ánh sáng cực quang nhảy múa trên những vách đá băng. Vị giáo sư tuyên bố rằng, đó là một bức phù điêu bằng đá rất thô sơ, bao gồm một hình ảnh gớm ghiếc và một số văn tự bí ẩn. Và theo như ông có thể nhận định, đó là một bản sao chép thô sơ mang tất cả các đặc điểm cốt lõi của sinh thể mang lốt thú đang nằm trước mặt hội nghị.

Những dữ liệu này, được đón nhận với tâm trạng hồi hộp và kinh ngạc bởi các thành viên hội họp, đã chứng tỏ sự kích thích gấp đôi đối với Thanh tra Legrasse; và ông ngay lập tức bắt đầu dồn dập chất vấn người cung cấp thông tin. Đã ghi chép và sao chép lại một nghi lễ truyền miệng trong số những kẻ sùng bái giáo phái ở đầm lầy mà thuộc hạ của ông đã bắt giữ, ông khẩn khoản nài nỉ vị giáo sư cố gắng nhớ lại các âm tiết đã ghi chép được từ những kẻ Eskimo theo tà giáo. Sau đó là một cuộc so sánh chi tiết đến tận cùng, và một khoảnh khắc im lặng thực sự đầy kính sợ khi cả thám tử lẫn nhà khoa học đều đồng thuận về sự đồng nhất tuyệt đối của cụm từ chung cho hai nghi thức địa ngục cách nhau quá nhiều thế giới. Về cơ bản, những gì mà cả các pháp sư Eskimo lẫn các thầy tu đầm lầy Louisiana đã tụng niệm trước các thần tượng đồng loại của họ đều rất giống thế này—với các ranh giới từ ngữ được phỏng đoán dựa trên những khoảng ngắt quãng truyền thống trong cụm từ khi được cất tiếng tụng đọc:

“Ph'nglui mglw'nafh Cthulhu R'lyeh wgah'nagl fhtagn.”

Legrasse có một điểm tiến bộ hơn Giáo sư Webb, bởi vì một số tù nhân mang dòng máu pha tạp của ông đã kể lại cho ông nghe những gì những tín đồ hành lễ lớn tuổi hơn đã nói với họ về ý nghĩa của những từ đó. Đoạn văn bản này, theo như được cung cấp, đại khái là thế này:

“Trong ngôi nhà của hắn tại R'lyeh, Cthulhu đã chết đang đợi chờ trong giấc mơ.”

Và giờ đây, đáp lại lời thỉnh cầu khẩn thiết chung, Thanh tra Legrasse đã thuật lại một cách đầy đủ nhất có thể trải nghiệm của ông với những kẻ sùng bái ở đầm lầy; kể lại một câu chuyện mà tôi có thể thấy ông bác tôi đã gán cho nó một ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Nó mang hơi hướng của những giấc mơ hoang dã nhất từ các nhà sáng tạo huyền thoại và các nhà thông thái học, đồng thời hé lộ một mức độ tưởng tượng vũ trụ đáng kinh ngạc ở những kẻ lai căng và những kẻ bị xã hội ruồng bỏ vốn là những đối tượng ít được mong đợi nhất lại sở hữu nó.

Vào ngày 1 tháng 11 năm 1907, cảnh sát New Orleans đã nhận được một cuộc gọi cầu cứu hớt hải từ vùng đầm lầy và phá nước ở phía nam. Những kẻ định cư bất hợp pháp ở đó, phần lớn là hậu duệ nguyên thủy nhưng tốt bụng của đội quân thuộc về Lafitte, đang nằm trong sự kìm kẹp của nỗi kinh hoàng tột độ trước một sinh thể vô danh đã lẻn đến bên họ trong đêm. Dường như đó là tà thuật voodoo, nhưng là voodoo thuộc loại khủng khiếp hơn bất cứ thứ gì họ từng biết trước đây; và một số phụ nữ cùng trẻ em của họ đã biến mất kể từ khi chiếc trống tom-tom ác độc bắt đầu gõ những nhịp không ngừng nghỉ tít sâu trong khu rừng đen tối đầy ma quái nơi không một cư dân nào dám bén mảng đến. Có những tiếng gào thét điên dại và những tiếng thét xé lòng, những khúc tụng ca làm lạnh gáy và những ngọn lửa quỷ múa may; và vị sứ giả hoảng sợ nói thêm rằng, người dân ở đó không thể chịu đựng thêm được nữa.

Thế là một lực lượng gồm hai mươi cảnh sát, chất đầy trên hai cỗ xe ngựa và một chiếc ô tô, đã khởi hành vào chiều muộn cùng với kẻ định cư đang run lẩy bẩy làm hướng đạo viên. Ở cuối con đường đi được, họ xuống xe, và lội bì bõm suốt nhiều dặm trong im lặng xuyên qua khu rừng trắc bá kinh hoàng nơi ánh sáng mặt trời không bao giờ chiếu tới. Những bộ rễ xù xì và những chiếc thòng lọng đáng sợ rủ xuống từ rêu Tây Ban Nha vây quanh họ, và thỉnh thoảng một đống đá ẩm ướt hoặc những mảnh tường mục nát lại làm gia tăng, qua gợi ý về một nơi ở bệnh hoạn của chúng, cảm giác u uất mà mọi thân cây dị hình và mọi hòn đảo nấm mốc kết hợp lại để tạo nên. Cuối cùng, khu định cư của những kẻ định cư, một cụm lều nương náu thảm hại, cũng xuất hiện trong tầm mắt; và những cư dân hoảng loạn chạy ùa ra để quây quần xung quanh nhóm đèn lồng đang đung đưa. Tiếng trống tom-tom dồn dập giờ đây đã văng vẳng nghe thấy từ tít đằng xa, đằng xa phía trước; và một tiếng thét làm đông đặc máu xuất hiện ở những khoảng thời gian thưa thớt khi gió đổi chiều. Ánh sáng đỏ rực, dường như cũng lọc qua lớp cây bụi nhợt nhạt phía bên kia những đại lộ vô tận của màn đêm rừng rậm. Ngay cả việc miễn cưỡng bị bỏ lại một mình một lần nữa, từng kẻ định cư đang sợ hãi đều từ chối phăng phắc không chịu tiến thêm một inch nào nữa về phía hiện trường của buổi lễ sùng bái báng bổ, thế nên Thanh tra Legrasse cùng mười chín đồng nghiệp của ông đã xông thẳng mà không có người dẫn đường vào những cõi vòm tối tăm đầy kinh hoàng mà chưa từng có ai trong số họ đặt chân tới trước đó.

Vùng đất mà lực lượng cảnh sát vừa bước vào là một nơi nổi tiếng từ lâu với tiếng tăm độc ác, về cơ bản là chưa ai biết đến và chưa từng được người da trắng đặt chân qua. Có những truyền thuyết về một hồ nước ẩn giấu không bị che khuất bởi tầm mắt phàm trần, nơi trú ngụ của một sinh thể dạng khối polyp trắng khổng lồ không hình thù với đôi mắt phát sáng; và những kẻ định cư thì thầm rằng những con quỷ mang cánh dơi bay vút lên từ những hang động trong lòng trái đất để sùng bái nó vào lúc nửa đêm. Họ nói nó đã ở đó trước cả D'Iberville, trước La Salle, trước cả người da đỏ, và thậm chí trước cả những loài thú vật và chim chóc lành mạnh trong rừng. Nó chính là ác mộng bằng xương bằng thịt, và nhìn thấy nó đồng nghĩa với cái chết. Nhưng nó khiến con người ta mơ mộng, và vì thế họ đủ khôn ngoan để tránh xa. Buổi hoan ca voodoo hiện tại thực chất nằm ở rìa ngoài cùng của vùng đất bị căm ghét này, nhưng vị trí đó đã đủ tồi tệ rồi; do đó có lẽ chính địa điểm diễn ra buổi sùng bái mới là thứ khiến những kẻ định cư sợ hãi hơn cả những âm thanh và sự kiện gây sốc.

Chỉ có thơ ca hoặc sự điên rồ mới làm thỏa đáng những âm thanh mà toán người của Legrasse nghe được khi họ rẽ lối qua vũng lầy đen tối hướng về ánh sáng đỏ và những tiếng trống tom-tom dồn dập. Có những phẩm chất phát âm đặc trưng của con người, và những phẩm chất phát âm đặc trưng của loài thú; và thật kinh khủng khi nghe thấy tiếng của loài này trong khi nguồn phát ra lại phải tạo ra tiếng của loài kia. Cơn thịnh nộ của loài thú và sự phóng túng hoan lạc ở đây tự đẩy mình lên những cao độ ma quái bằng những tiếng tru và những tiếng kêu chói tai xé rách và vọng lại qua khu rừng chìm trong màn đêm ấy giống như những cơn bão mang mầm mệnh từ những vực sâu của địa ngục. Thỉnh thoảng, những tiếng hú vô tổ chức kia sẽ ngưng lại, và từ thứ có vẻ như là một dàn hợp xướng được huấn luyện bài bản gồm những giọng khàn đục sẽ vang lên theo nhịp điệu bài ca câu khẩu hiệu hoặc nghi thức ghê rợn ấy:

“Ph'nglui mglw'nafh Cthulhu R'lyeh wgah'nagl fhtagn.”

Rồi toán người, sau khi đến được một nơi mà cây cối thưa thớt hơn, đã đột ngột nhìn thấy tận mắt cảnh tượng đó. Bốn người trong số họ lảo đảo, một người ngất xỉu, và hai người bị chấn động đến mức phát ra một tiếng thét hoảng loạn mà may mắn là thứ âm thanh hỗn độn điên dại của buổi hoan ca đã làm lu mờ đi. Legrasse hắt nước đầm lầy lên mặt người đang ngất xỉu, và tất cả đều đứng run rẩy gần như bị thôi miên trong nỗi kinh hoàng.

Trong một khoảng trống tự nhiên của đầm lầy tọa lạc một hòn đảo cỏ rộng khoảng một mẫu Anh, không có cây cối và tương đối khô ráo. Trên đó giờ đây đang nhảy múa và oằn mình một lũ quái thai mang hình hài dị dạng của con người còn khó tả hơn bất kỳ thứ gì mà một Sime hay một Angarola có thể vẽ nổi. Hoàn toàn không mặc quần áo, lũ sinh vật lai căng này đang ré lên, rống lên và quằn quại xung quanh một đống lửa trại hình tròn quái dị; ở chính giữa đống lửa, lộ ra qua những khoảng trống thỉnh thoảng xuất hiện trong bức màn lửa, đứng sừng sững một khối đá nguyên khối bằng granit cao khoảng tám feet; trên đỉnh khối đá, lạc lõng vì kích thước quá đỗi bé nhỏ của nó, chính là bức tượng nhỏ chạm khắc đầy độc hại. Từ một vòng tròn rộng gồm mười cái giá treo cổ được dựng lên ở những khoảng thời gian đều đặn với khối đá nguyên khối vây quanh bởi ngọn lửa làm tâm điểm đang treo ngược đầu xuống dưới những xác chết bị tàn phá kỳ dị của những kẻ định cư bất lực đã biến mất. Chính bên trong vòng tròn này là nơi vòng tròn những kẻ sùng bái nhảy nhót và gầm thét, với hướng chuyển động tổng thể của đám đông là từ trái sang phải trong một điệu cuồng vũ bacchanale bất tận giữa vòng vây của những xác chết và vòng vây của lửa.

Đó có thể chỉ là trí tưởng tượng và cũng có thể chỉ là những tiếng vọng đã xúi giục một người trong nhóm, một gã người Tây Ban Nha dễ bị kích động, tưởng tượng rằng hắn nghe thấy những tiếng đáp lại nghi thức từ một nơi xa xôi và tối tăm nào đó sâu hơn bên trong khu rừng của truyền thuyết cổ xưa và kinh hoàng. Người đàn ông này, Joseph D. Galvez, sau này tôi đã gặp và gặng hỏi; và hắn tỏ ra là một kẻ có trí tưởng tượng gây phiền toái. Hắn thậm chí còn đi xa đến mức bóng gió về tiếng đập cánh rầm rộ thoang thoảng, và về một cái nhìn lướt qua đôi mắt sáng rực cùng một khối lượng màu trắng to lớn vượt qua cả những tán cây xa xôi nhất—nhưng tôi đoán hắn đã nghe quá nhiều chuyện mê tín dị đoan của người bản xứ rồi.

Trên thực tế, khoảng dừng vì kinh hoàng của nhóm người chỉ diễn ra trong thời gian tương đối ngắn. Nhiệm vụ phải được đặt lên hàng đầu; và mặc dù có lẽ có tới gần một trăm tín đồ lai tạp trong đám đông, cảnh sát vẫn dựa vào hỏa lực của họ và quyết tâm lao thẳng vào đám đông tởm lợm đó. Trong vòng năm phút, tiếng động hỗn loạn và sự hỗn độn tạo ra nằm ngoài sức miêu tả. Những cú đánh trời giáng được tung ra, những phát súng vang lên, và những cuộc tẩu thoát diễn ra; nhưng cuối cùng Legrasse đã có thể đếm được khoảng bốn mươi bảy tên tù nhân mặt mày ủ rũ, những kẻ mà ông buộc phải mặc quần áo vội vã và xếp thành hàng giữa hai hàng cảnh sát. Năm tên tín đồ nằm chết, và hai tên bị thương nặng được mang đi trên những chiếc cáng tự chế bởi những bạn tù của chúng. Bức tượng trên khối đá nguyên khối, tất nhiên, đã được tháo xuống cẩn thận và mang về bởi Legrasse.

Được kiểm tra tại tổng hành dinh sau một chuyến đi đầy căng thẳng và mệt mỏi tột cùng, tất cả các tù nhân đều chứng minh được bản thân là những kẻ thuộc tầng lớp rất thấp kém, máu huyết pha tạp và có sự lệch lạc về mặt tâm thần. Hầu hết là thủy thủ, và một số ít người da đen và người lai màu, chủ yếu là người Tây Ấn Độ hoặc người Bồ Đào Nha từ quần đảo Cape Verde, đã tô điểm thêm màu sắc voodoo cho giáo phái đa tạp này. Nhưng trước khi có nhiều câu hỏi được đặt ra, người ta thấy rõ rằng có một thứ gì đó sâu sắc và cổ xưa hơn nhiều so với tín ngưỡng thờ vật linh của người da đen đang ẩn giấu bên trong. Dù đồi bại và dốt nát đến đâu, đám sinh vật ấy vẫn bám giữ một cách kiên trì đáng kinh ngạc vào ý tưởng cốt lõi trong tín ngưỡng gớm ghiếc của chúng.

Chúng tôn sùng, theo như chúng nói, các Cổ Thần Vĩ Đại (Great Old Ones), những đấng từng sống từ bao đời trước khi có bất kỳ con người nào xuất hiện, và những kẻ đã đến thế giới non trẻ này từ bầu trời. Những Cổ Thần ấy giờ đây đã đi vắng, nằm sâu trong lòng đất và dưới đáy biển; nhưng những thể xác đã chết của họ đã thì thầm những bí mật của họ trong những giấc mơ cho con người đầu tiên, kẻ đã lập nên một giáo phái chưa bao giờ tàn lụi. Đây chính là giáo phái đó, và các tù nhân nói rằng nó luôn luôn tồn tại và sẽ luôn luôn tồn tại, ẩn giấu trong những vùng hoang mạc xa xôi và những nơi tăm tối trên khắp thế giới cho đến thời điểm khi vị đại tư tế Cthulhu, từ ngôi nhà tăm tối của mình tại thành phố vĩ đại R'lyeh dưới đáy đại dương, trỗi dậy và đưa trái đất trở lại dưới quyền thống trị của hắn. Sẽ có ngày hắn cất tiếng gọi, khi các vì sao đã sẵn sàng, và giáo phái bí mật sẽ luôn chờ đợi để giải thoát cho hắn.

Trong khi đó, không được phép tiết lộ thêm điều gì nữa. Có một bí mật mà ngay cả tra tấn cũng không thể cắn rứt lấy ra được. Nhân loại hoàn toàn không cô độc giữa những sinh thể có tri thức trên trái đất, bởi vì những hình hài bước ra từ bóng tối để viếng thăm một số ít tín đồ trung thành. Nhưng đây không phải là những Cổ Thần Vĩ Đại. Chưa từng có ai nhìn thấy các Cổ Thần. Bức tượng được chạm khắc chính là đại tư tế Cthulhu vĩ đại, nhưng không ai có thể khẳng định liệu những kẻ khác có chính xác giống hắn hay không. Không ai có thể đọc được thứ văn tự cũ kỹ ấy nữa, nhưng mọi thứ đều được truyền miệng lại. Nghi thức được tụng niệm không phải là bí mật—điều đó chưa bao giờ được thốt lên thành tiếng, mà chỉ được thì thầm. Khúc tụng niệm chỉ mang ý nghĩa sau đây: “Trong ngôi nhà của hắn tại R'lyeh, Cthulhu đã chết đang đợi chờ trong giấc mơ.”

Chỉ có hai tên tù nhân được tìm thấy là đủ tỉnh táo để đem đi treo cổ, và số còn lại được tống vào các trại tâm thần khác nhau. Tất cả đều phủ nhận việc tham gia vào các vụ giết người mang tính nghi lễ, và quả quyết rằng hành động giết chóc đã được thực hiện bởi những Kẻ Mang Cánh Đen đã đến với họ từ nơi hội họp cổ xưa của chúng trong khu rừng ma quái. Nhưng về những đồng minh huyền bí ấy, không thể thu thập được bất kỳ lời kể rành mạch nào. Những gì cảnh sát thực sự moi ra được chủ yếu đến từ một lão người lai vô cùng già nua tên là Castro, kẻ tuyên bố đã từng giương buồm đến những vùng đất kỳ lạ và trò chuyện với những thủ lĩnh bất tử của giáo phái trong những ngọn núi của Trung Hoa.

Lão Castro nhớ lại những mảnh truyền thuyết gớm ghiếc làm lu mờ cả những phỏng đoán của giới thông thái học và khiến con người cùng thế giới thực sự trở nên vô cùng nhỏ bé và thoáng qua. Đã có những kỷ nguyên khi những Thực Thể khác thống trị trên trái đất, và Bọn Họ đã có những thành phố vĩ đại. Tàn tích của Bọn Họ, lão nói những người Trung Hoa bất tử đã kể với lão, vẫn có thể được tìm thấy như những khối đá kiểu Cyclops trên các hòn đảo ở Thái Bình Dương. Tất cả bọn họ đã chết từ rất lâu trước khi con người xuất hiện, nhưng có những nghệ thuật có thể hồi sinh Bọn Họ khi các vì sao quay trở lại đúng vị trí trong chu kỳ của sự vĩnh hằng. Quả thực, Bọn Họ đã tự mình đến từ các vì sao, và mang theo hình tượng của Bọn Họ bên mình.

Những Cổ Thần Vĩ Đại này, Castro tiếp tục, không được cấu tạo hoàn toàn bằng da thịt và máu. Bọn Họ có hình hài—chẳng phải bức tượng được tạo tác theo các vì sao này đã chứng minh điều đó sao?—nhưng hình hài đó không được làm bằng vật chất. Khi các vì sao ở đúng vị trí, Bọn Họ có thể lao từ thế giới này sang thế giới khác xuyên qua bầu trời; nhưng khi các vì sao sai lệch, Bọn Họ không thể sống được. Tuy nhiên, mặc dù Bọn Họ không còn sống nữa, Bọn Họ sẽ không bao giờ thực sự chết. Tất cả bọn họ đều nằm trong những ngôi nhà bằng đá tại thành phố vĩ đại R'lyeh của Bọn Họ, được bảo tồn bởi các phép thuật của Cthulhu vĩ đại để chờ đợi một sự phục sinh huy hoàng khi các vì sao và trái đất một lần nữa sẵn sàng cho Bọn Họ. Nhưng vào thời điểm đó, một lực lượng từ bên ngoài phải đóng vai trò giải thoát cho thể xác của Bọn Họ. Những phép thuật bảo tồn Bọn Họ nguyên vẹn cũng đồng thời ngăn cản Bọn Họ thực hiện bước di chuyển đầu tiên, và Bọn Họ chỉ có thể nằm thao thức trong bóng tối và suy ngẫm trong khi hàng triệu năm vô tận trôi qua. Bọn Họ biết mọi thứ đang diễn ra trong vũ trụ, bởi vì phương thức giao tiếp của Bọn Họ là tư duy được truyền tải. Ngay cả lúc này Bọn Họ vẫn đang trò chuyện trong những lăng mộ của mình. Khi, sau sự hỗn mang vô tận, những con người đầu tiên xuất hiện, các Cổ Thần Vĩ Đại đã nói chuyện với những kẻ nhạy cảm trong số họ bằng cách nhào nặn những giấc mơ của họ; bởi vì chỉ bằng cách đó ngôn ngữ của Bọn Họ mới có thể chạm đến tâm trí mang xác thịt của loài thú có vú.

Rồi, Castro thì thầm, những con người đầu tiên đó đã lập nên giáo phái xung quanh những bức tượng nhỏ mà các Cổ Thần đã cho họ thấy; những bức tượng được mang đến từ những kỷ nguyên mờ mịt từ các vì sao tăm tối. Giáo phái đó sẽ không bao giờ tàn lụi cho đến khi các vì sao quay trở lại đúng vị trí, và các tư tế bí mật sẽ đưa Cthulhu vĩ đại ra khỏi ngôi mộ của hắn để hồi sinh các thần dân của hắn và khôi phục lại quyền thống trị của hắn trên trái đất. Thời điểm đó sẽ rất dễ nhận biết, bởi vì khi ấy nhân loại sẽ trở nên giống như các Cổ Thần Vĩ Đại; tự do, hoang dã và vượt ra ngoài thiện ác, với luật lệ và đạo đức bị vứt bỏ sang một bên cùng tất cả mọi người la hét, chém giết và hoan ca trong niềm vui sướng. Khi đó, các Cổ Thần được giải thoát sẽ dạy cho họ những cách thức mới để la hét, chém giết, hoan ca và tận hưởng bản thân, và toàn bộ trái đất sẽ bùng cháy trong một cuộc tàn sát đẫm máu của sự ngất ngây và tự do. Trong khi đó, giáo phái, thông qua các nghi thức thích hợp, phải duy trì ký ức về những cách thức cổ xưa ấy và phác họa trước lời tiên tri về sự trở lại của họ.

Trong thời đại cổ xưa, những con người được chọn đã trò chuyện với các Cổ Thần đang bị chôn vùi trong những giấc mơ, nhưng rồi điều gì đó đã xảy ra. Thành phố bằng đá vĩ đại R'lyeh, với những khối đá nguyên khối và các ngôi mộ của nó, đã chìm xuống dưới những con sóng; và dòng nước sâu thẳm, tràn ngập một bí ẩn nguyên thủy duy nhất mà ngay cả tư duy cũng không thể vượt qua, đã cắt đứt mối giao tiếp ma quái ấy. Nhưng ký ức chưa bao giờ tàn lụi, và các đại tư tế nói rằng thành phố sẽ trỗi dậy một lần nữa khi các vì sao ở đúng vị trí. Sau đó, từ lòng đất trỗi dậy những linh hồn đen tối của mặt đất, mốc meo và mờ ảo, tràn ngập những lời đồn thổi mờ mịt thu lượm được trong các hang động bên dưới đáy biển đã bị lãng quên. Nhưng về những kẻ đó, lão Castro không dám nói nhiều. Lão vội vàng ngắt lời chính mình, và không một lượng thuyết phục hay sự tinh tế nào có thể khai thác thêm được gì theo hướng này. Kích thước của các Cổ Thần, lão cũng kỳ lạ từ chối nhắc đến. Về phần giáo phái, lão nói rằng lão nghĩ trung tâm của nó nằm giữa những hoang mạc vô định lối của bán đảo Ả Rập, nơi Irem, Thành phố của những Trụ Cột, đang ngủ say trong sự ẩn giấu và không bị chạm tới. Nó không đồng minh với giáo phái phù thủy châu Âu, và trên thực tế là hoàn toàn vô danh bên ngoài các thành viên của nó. Chưa từng có cuốn sách nào thực sự bóng gió về nó, mặc dù những người Trung Hoa bất tử nói rằng có những tầng nghĩa kép trong cuốn Necronomicon của gã người Ả Rập điên Abdul Alhazred mà những kẻ nhập tâm có thể đọc tùy theo ý muốn của họ, đặc biệt là cặp câu thơ được bàn tán nhiều:

“Kẻ nào nằm bất động nghìn thu chẳng phải là đã chết,

Và qua những kỷ nguyên kỳ lạ, ngay cả cái chết cũng có thể lụi tàn.”

Legrasse, vô cùng ấn tượng và không khỏi bối rối, đã dò hỏi vô ích về các mối liên hệ lịch sử của giáo phái. Castro, có vẻ như, đã nói sự thật khi hắn khẳng định rằng nó hoàn toàn bí mật. Các nhà chức trách tại Đại học Tulane không thể làm sáng tỏ bất kỳ điều gì về cả giáo phái lẫn bức tượng nhỏ, và giờ đây vị thám tử đã đến gặp các nhà chức trách cao nhất trong nước và chỉ nhận được câu chuyện về Greenland của Giáo sư Webb.

Sự quan tâm sôi sục được khơi dậy tại cuộc họp bởi câu chuyện của Legrasse, được củng cố bởi bức tượng nhỏ, được vang vọng trong thư từ sau đó của những người tham dự, mặc dù chỉ có rất ít nhắc đến trong ấn phẩm chính thức của hội. Sự cẩn trọng là mối quan tâm hàng đầu của những người quen đối phó với nạn bịp bợm và giả mạo thỉnh thoảng xảy ra. Legrasse trong một thời gian đã cho Giáo sư Webb mượn bức tượng, nhưng sau cái chết của vị giáo sư, nó đã được trả lại cho ông và vẫn nằm trong sự sở hữu của ông, nơi tôi đã ngắm nhìn nó cách đây không lâu. Đó thực sự là một vật thể khủng khiếp, và không thể nhầm lẫn vào đâu được khi nó có họ hàng với tác phẩm điêu khắc trong giấc mơ của chàng thanh niên Wilcox.

Việc ông bác tôi bị kích động bởi câu chuyện của nhà điêu khắc là điều khiến tôi không hề ngạc nhiên, bởi vì những suy nghĩ nào phải trỗi dậy khi nghe được, sau khi đã biết những gì Legrasse tìm hiểu được về giáo phái, về một chàng thanh niên nhạy cảm không chỉ mơ thấy hình dáng và các ký tự tượng hình chính xác của bức tượng nhỏ tìm thấy ở đầm lầy cùng tấm bảng quỷ ở Greenland, mà còn vô tình bắt gặp trong những giấc mơ của mình ít nhất ba từ chính xác trong công thức được thốt lên giống hệt nhau bởi những kẻ tà giáo Eskimo và những kẻ lai căng ở Louisiana chứ? Việc Giáo sư Angell lập tức bắt tay vào một cuộc điều tra kỹ lưỡng đến cùng cực là điều hoàn toàn tự nhiên; mặc dù trong thâm tâm tôi nghi ngờ chàng thanh niên Wilcox đã nghe về giáo phái theo một cách gián tiếp nào đó, và đã bịa ra một chuỗi những giấc mơ để làm gia tăng và kéo dài bí ẩn bằng chi phí của ông bác tôi. Những câu chuyện về giấc mơ và các mẩu tin cắt ra được thu thập bởi vị giáo sư, tất nhiên, là những bằng chứng củng cố mạnh mẽ; nhưng tư duy lý tính của tôi và sự hoang đường của toàn bộ chủ đề đã dẫn dắt tôi đi đến kết luận mà tôi cho là hợp lý nhất. Thế nên, sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng lại bản thảo một lần nữa và đối chiếu các ghi chép thông thái học và nhân học với câu chuyện giáo phái của Legrasse, tôi đã thực hiện một chuyến đi đến Providence để gặp nhà điêu khắc và đưa ra cho cậu ta lời khiển trách mà tôi cho là thích hợp cho việc dám giả mạo một cách trơ trẽn đối với một học giả lớn tuổi và uyên bác.

Wilcox vẫn sống một mình trong Tòa nhà Fleur-de-Lys trên đường Thomas, một sự bắt chước kiến trúc Breton thế kỷ 17 theo phong cách Victoria gớm ghiếc, hiên ngang trưng bày mặt tiền trát vữa của mình giữa những ngôi nhà thuộc địa đáng yêu trên ngọn đồi cổ kính, và dưới cái bóng của tòa tháp chuông kiểu Gruzia đẹp nhất ở Mỹ. Tôi tìm thấy cậu ta đang làm việc trong phòng của mình, và ngay lập tức thừa nhận từ những mẫu vật rải rác xung quanh rằng thiên tài của cậu thực sự uyên bác và chân thực. Tôi tin rằng, sẽ có lúc người ta nghe nhắc đến cậu như một trong những đại diện lớn của trường phái suy đồi; bởi vì cậu đã kết tinh bằng đất sét và một ngày nào đó sẽ tái hiện trong cẩm thạch những cơn ác mộng và ảo ảnh mà Arthur Machen gợi lên bằng văn xuôi, và Clark Ashton Smith làm cho hiện hữu qua thơ ca và hội họa.

Tối tăm, mảnh khảnh và có vẻ ngoài hơi lôi thôi, cậu ta quay người một cách uể oải trước tiếng gõ cửa của tôi và hỏi mục đích chuyến ghé thăm mà không thèm đứng dậy. Khi tôi nói cho cậu biết tôi là ai, cậu ta tỏ ra có đôi chút hứng thú; bởi vì ông bác tôi đã khơi dậy sự tò mò của cậu khi dò hỏi về những giấc mơ kỳ lạ của cậu, nhưng chưa bao giờ giải thích lý do cho việc nghiên cứu đó. Tôi không mở rộng hiểu biết của cậu về mặt này, mà tìm cách gặng hỏi cậu ta một cách tinh tế.

Chẳng bao lâu sau, tôi bị thuyết phục về sự chân thành tuyệt đối của cậu, bởi vì cậu nói về những giấc mơ theo cách không ai có thể nhầm lẫn được. Chúng và phần dư thừa tiềm thức của chúng đã tác động sâu sắc đến nghệ thuật của cậu, và cậu cho tôi xem một bức tượng mang mלך bệnh hoạn mà các đường nét gần như khiến tôi rung rẩy bởi sức mạnh của gợi ý đen tối từ nó. Cậu không thể nhớ lại đã từng nhìn thấy nguyên bản của vật này ngoại trừ trong bức phù điêu giấc mơ của chính mình, nhưng các đường nét đã tự hình thành một cách vô thức dưới đôi bàn tay cậu. Đó, không nghi ngờ gì nữa, là hình thù khổng lồ mà cậu từng gào thét trong cơn mê sảng. Rằng cậu thực sự không biết gì về giáo phái ẩn giấu, ngoại trừ từ những gì mà cuộc tra vấn không khoan nhượng của ông bác tôi vô tình làm lộ ra, cậu đã sớm làm cho rõ ràng; và một lần nữa tôi lại cố gắng suy nghĩ về một cách thức nào đó mà cậu có thể đã tiếp nhận những ấn tượng kỳ dị đó.

Cậu nói về những giấc mơ của mình theo một cách mang đậm chất thơ kỳ lạ; khiến tôi nhìn thấy với độ sống động khủng khiếp thành phố Cyclops ẩm ướt bằng đá xanh nhớt nháp—mà hình học của nó, cậu nói một cách kỳ lạ, hoàn toàn sai lầm—và nghe thấy với sự chờ đợi đầy sợ hãi tiếng gọi nửa vô thức không ngừng nghỉ từ dưới lòng đất: “Cthulhu fhtagn,” “Cthulhu fhtagn.”

Những từ này đã tạo thành một phần của nghi thức đáng sợ kể về giấc thức canh chừng của Cthulhu đã chết trong lăng mộ đá của hắn tại R'lyeh, và tôi cảm thấy vô cùng xúc động bất chấp những niềm tin lý tính của mình. Wilcox, tôi chắc chắn, đã nghe về giáo phái theo một cách ngẫu nhiên nào đó, và đã sớm quên nó đi giữa hàng đống những tài liệu đọc và tưởng tượng kỳ dị không kém của mình. Sau đó, nhờ vào sức ảnh hưởng tuyệt đối của nó, nó đã tìm được sự biểu hiện trong tiềm thức qua những giấc mơ, qua bức phù điêu, và qua bức tượng khủng khiếp mà tôi đang ngắm nhìn; thế nên trò lừa bịp của cậu đối với ông bác tôi thực ra là một trò vô hại. Chàng thanh niên thuộc tuýp người vừa có vẻ hơi ra vẻ lại vừa hơi thiếu lịch sự mà tôi không bao giờ có thể ưa nổi; nhưng tôi lúc này đã hoàn toàn sẵn sàng thừa nhận cả thiên tài lẫn sự trung thực của cậu. Tôi từ giã cậu trong hòa khí, và chúc cậu mọi sự thành công mà tài năng của cậu hứa hẹn.

Vấn đề về giáo phái vẫn tiếp tục cuốn hút tôi, và đôi khi tôi có những ảo tưởng về danh tiếng cá nhân từ những cuộc nghiên cứu về nguồn gốc và các mối liên hệ của nó. Tôi đã đến New Orleans, trò chuyện với Legrasse và những người khác trong nhóm đột kích thời xưa ấy, tận mắt nhìn thấy bức tượng gớm ghiếc, và thậm chí gặng hỏi những tên tù nhân lai tạp vẫn còn sống sót. Lão Castro, rất tiếc, đã qua đời được vài năm. Những gì tôi nghe được một cách sống động trực tiếp lúc này, mặc dù thực ra không hơn gì một sự xác nhận chi tiết về những gì ông bác tôi đã viết, đã kích thích tôi một lần nữa; bởi vì tôi cảm thấy chắc chắn rằng mình đang ở trên dấu vết của một tôn giáo thực sự rất rõ ràng, rất bí mật và vô cùng cổ xưa mà việc khám phá ra nó sẽ biến tôi thành một nhà nhân học nổi tiếng. Thái độ của tôi vẫn là một thái độ duy vật tuyệt đối, điều mà tôi ước gì nó vẫn thế, và tôi đã phớt lờ với sự ngoan cố hầu như không thể giải thích nổi sự trùng hợp của các ghi chép giấc mơ và các mẩu tin cắt kỳ lạ được thu thập bởi Giáo sư Angell.

Một điều mà tôi bắt đầu nghi ngờ, và điều mà giờ đây tôi sợ rằng mình đã biết, đó là cái chết của ông bác tôi hoàn toàn không phải là một cái chết tự nhiên. Ông ngã xuống trên một con phố dốc hẹp dẫn lên từ một vùng bến cảng cổ kính đầy rẫy những kẻ lai căng ngoại quốc, sau một cú đẩy bất cẩn từ một tên thủy thủ da đen. Tôi đã không quên dòng máu pha tạp và những công việc liên quan đến biển của các thành viên giáo phái ở Louisiana, và sẽ không ngạc nhiên khi biết về các phương pháp bí mật và những chiếc kim tẩm độc tàn nhẫn và cổ xưa như chính những nghi thức và tín ngưỡng bí ẩn kia. Legrasse và đám thuộc hạ của ông ta, đúng là đã được để yên; nhưng ở Na Uy, một tên thủy thủ nào đó nhìn thấy mọi thứ đã chết. Liệu những cuộc điều tra sâu hơn của ông bác tôi sau khi chạm trán với dữ liệu của nhà điêu khắc có lọt vào những đôi tai mang mưu đồ bất chính hay không? Tôi nghĩ Giáo sư Angell đã chết bởi vì ông biết quá nhiều, hoặc bởi vì ông có khả năng tìm hiểu quá nhiều. Liệu tôi có đi theo con đường như ông ấy hay không thì hãy còn phải chờ xem, bởi vì giờ đây tôi đã biết quá nhiều rồi.

3. Sự Điên Rồ Từ Đại Dương

Nếu thiên đàng bao giờ muốn ban cho tôi một ân huệ, thì đó sẽ là sự xóa bỏ hoàn toàn kết quả của một sự tình cờ thuần túy đã níu giữ ánh mắt tôi vào một mảnh giấy bọc kệ sách lạc loài nào đó. Đó không phải là thứ mà tôi có thể vô tình vấp phải trong quá trình sinh hoạt hằng ngày của mình, bởi vì nó là một số báo cũ của một tờ tạp chí Úc, tờ Sydney Bulletin phát hành ngày 18 tháng 4 năm 1925. Nó thậm chí đã trốn thoát khỏi cả cơ quan cắt lọc tin tức từng vào thời điểm phát hành đã say sưa thu thập tài liệu cho cuộc nghiên cứu của ông bác tôi.

Tôi đã phần lớn từ bỏ những cuộc điều tra về thứ mà Giáo sư Angell gọi là “Giáo phái Cthulhu,” và lúc đó đang đi thăm một người bạn học thức ở Paterson, New Jersey, là giám đốc của một bảo tàng địa phương và là một nhà khoáng vật học nổi tiếng. Khi đang kiểm tra một ngày nọ các mẫu vật dự trữ được bày biện một cách sơ sài trên các kệ lưu trữ ở căn phòng phía sau của bảo tàng, ánh mắt tôi bị thu hút bởi một bức hình kỳ lạ được lót dưới những viên đá trong một tờ báo cũ. Đó chính là tờ Sydney Bulletin mà tôi đã nhắc đến, bởi vì người bạn của tôi có các mối quan hệ rộng rãi ở tất cả mọi nơi có thể tưởng tượng được trên thế giới; và bức hình là một bản khắc bán tông (half-tone cut) của một bức tượng đá gớm ghiếc gần như y hệt với bức tượng mà Legrasse đã tìm thấy trong đầm lầy.

Háo hức dọn sạch tờ báo khỏi đống nội dung quý giá đè lên nó, tôi đã quét qua mẩu tin một cách chi tiết; và cảm thấy thất vọng khi thấy nó chỉ có độ dài vừa phải. Tuy nhiên, những gì nó gợi ý lại mang ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với cuộc hành trình đang chùng xuống của tôi; và tôi cẩn thận xé nó ra để hành động ngay lập tức. Nội dung của nó như sau:

PHÁT HIỆN TÀU BỎ HOANG BÍ ÂN TRÊN BIỂN

Tàu Vigilant Cập Cảng Cùng Du Thuyền Hơi Nước Vũ Trang Bất Lực Của New Zealand Được Lai Dắt Theo. Một Sống Sót Và Một Người Chết Được Tìm Thấy Trên Tàu. Câu Chuyện Về Cuộc Chiến Đấu Tuyệt Vọng Và Những Cái Chết Trên Biển. Thủy Thủ Được Cứu Từ Chối Cung Cấp Chi Tiết Về Trải Nghiệm Kỳ Lạ. Bức Tượng Nhỏ Kỳ Lạ Được Tìm Thấy Trong Sở Hữu Của Anh Ta. Cuộc Điều Tra Sẽ Được Tiến Hành.

Tàu chở hàng Vigilant của Công ty Morrison, khởi hành từ Valparaiso, đã đến bến cảng của nó tại Darling Harbour sáng nay, kéo theo chiếc du thuyền hơi nước Alert của Dunedin, N. Z., vốn đã bị đánh tả tơi và hư hỏng nặng nhưng được vũ trang hạng nặng, được phát hiện vào ngày 12 tháng 4 tại Vĩ độ Nam 34° 21', Kinh độ Tây 152° 17', với một người còn sống và một người đã chết trên tàu.

Tàu Vigilant rời Valparaiso ngày 25 tháng 3, và vào ngày 2 tháng 4 đã bị đánh lệch hướng đáng kể so với hải trình bởi những cơn bão đặc biệt dữ dội và những con sóng khổng lồ. Ngày 12 tháng 4, chiếc tàu bỏ hoang được phát hiện; và mặc dù bề ngoài có vẻ đã bị bỏ hoang, khi lên tàu, người ta phát hiện nó chứa một người sống sót trong trạng thái nửa mê sảng và một người rõ ràng đã chết hơn một tuần.

Người còn sống đang ôm chặt một bức tượng đá gớm ghiếc có nguồn gốc không xác định, cao khoảng một foot, về bản chất của nó các nhà chức trách tại Đại học Sydney, Hội Hoàng gia, và Bảo tàng ở Phố College đều tuyên bố hoàn toàn bối rối, và mà người sống sót nói rằng anh ta tìm thấy nó trong cabin của du thuyền, bên trong một ngôi đền nhỏ được chạm khắc theo mẫu thông thường.

Người này, sau khi hồi tỉnh, đã kể một câu chuyện vô cùng kỳ lạ về nạn cướp biển và tàn sát. Anh ta là Gustaf Johansen, một người Na Uy có học thức nhất định, từng là phó thuyền trưởng của chiếc thuyền buồm hai cột mast Emma ở Auckland, ra khơi đi Callao ngày 20 tháng 2, với thủy thủ đoàn gồm mười một người.

Tàu Emma, anh ta nói, đã bị trì hoãn và đánh dạt rộng ra khỏi hải trình bởi cơn bão lớn ngày 1 tháng 3, và vào ngày 22 tháng 3, tại Vĩ độ Nam 49° 51', Kinh độ Tây 128° 34', đã chạm trán với tàu Alert, được vận hành bởi một thủy thủ đoàn kỳ lạ và có vẻ ngoài tà ác gồm những người Kanaka và người lai. Bị ra lệnh dứt khoát phải quay lại, Thuyền trưởng Collins từ chối; ngay lập tức thủy thủ đoàn lạ mặt bắt đầu nã pháo dữ dội và không cần cảnh báo vào chiếc tàu buồm bằng một cỗ pháo bằng đồng đặc biệt nặng vốn là một phần trang thiết bị của du thuyền.

Thủy thủ đoàn của tàu Emma đã chống trả, người sống sót kể lại, và mặc dù con tàu bắt đầu chìm do những phát đạn bên dưới mực nước, họ vẫno xoay sở áp sát kẻ thù và leo lên tàu, vật lộn với thủy thủ đoàn man rợ trên boong du thuyền, và buộc phải tiêu tổng cộng tất cả bọn chúng, số lượng có nhỉnh hơn một chút, vì phương thức chiến đấu đặc biệt gớm ghiếc và tuyệt vọng mặc dù có phần vụng về của chúng.

Ba thành viên thủy thủ đoàn của Emma, bao gồm Thuyền trưởng Collins và Đại phó Green, đã thiệt mạng; và tám người còn lại dưới sự chỉ huy của Phó thuyền trưởng Johansen đã tiến hành điều hướng chiếc du thuyền bị cướp được, tiếp tục đi theo hướng ban đầu của họ để xem liệu có lý do nào cho lệnh quay đầu của họ hay không.

Ngày hôm sau, dường như họ đã trông thấy và đổ bộ lên một hòn đảo nhỏ, mặc dù không có hòn đảo nào được biết là tồn tại ở vùng đại dương đó; và sáu người trong số họ bằng cách nào đó đã chết trên đảo, mặc dù Johansen giữ một cách kỳ lạ sự kín tiếng về phần này trong câu chuyện của mình và chỉ nói về việc họ rơi xuống một khe nứt đá.

Sau đó, dường như anh ta và một người đồng hành đã lên du thuyền và cố gắng điều khiển nó, nhưng đã bị bão đánh tơi bời vào ngày 2 tháng 4.

Từ thời điểm đó cho đến khi được cứu vào ngày 12, người đàn ông nhớ rất ít, và anh ta thậm chí không nhớ William Briden, người đồng hành của mình, đã chết khi nào. Cái chết của Briden không cho thấy nguyên nhân rõ ràng nào, và có lẽ là do sự kích động hoặc kiệt sức.

Các bức điện tín từ Dunedin báo cáo rằng tàu Alert rất nổi tiếng ở đó như một con tàu buôn đảo, và mang tiếng xấu dọc theo vùng ven bờ. Nó thuộc về một nhóm kỳ lạ gồm những người lai có các cuộc họp thường xuyên và những chuyến đi ban đêm vào rừng thu hút không ít sự tò mò; và nó đã nhổ neo trong sự vội vã tột độ ngay sau cơn bão và các trận động đất ngày 1 tháng 3.

Phóng viên Auckland của chúng tôi dành cho tàu Emma và thủy thủ đoàn của nó một tiếng tăm xuất sắc, và Johansen được mô tả là một người điềm đạm và đáng kính.

Bộ tư lệnh hải quân sẽ tiến hành một cuộc điều tra về toàn bộ sự việc bắt đầu từ ngày mai, trong đó mọi nỗ lực sẽ được thực hiện để thuyết phục Johansen nói năng tự do hơn những gì anh ta đã làm cho đến nay.

Đó là tất cả, cùng với bức hình chụp bức tượng địa ngục; nhưng nó đã khởi xướng một chuỗi ý tưởng trong tâm trí tôi biết bao! Ở đây là những kho báu dữ liệu mới về Giáo phái Cthulhu, và bằng chứng cho thấy nó có những mối quan tâm kỳ lạ trên biển cũng như trên đất liền. Động cơ nào đã thúc đẩy thủy thủ đoàn lai tạp ra lệnh quay đầu tàu Emma khi họ di chuyển xung quanh với bức tượng gớm ghiếc của mình? Hòn đảo vô danh nơi sáu thành viên thủy thủ đoàn của Emma đã chết là gì, và về nó mà viên phó thuyền trưởng Johansen lại giữ kín đáo đến thế? Cuộc điều tra của phó đô đốc đã mang lại những gì, và người ta biết gì về giáo phái độc hại ở Dunedin? Và tuyệt vời nhất trong số đó, sự liên kết ngày tháng sâu sắc và vượt tự nhiên nào đã mang lại một ý nghĩa đầy tà ác và giờ đây không thể chối cãi cho các ngã rẽ sự kiện khác nhau được ghi chép cẩn thận bởi ông bác tôi?

Ngày 1 tháng 3—ngày 28 tháng 2 của chúng ta tính theo Đường Chuyển Ngày Quốc Tế—trận động đất và cơn bão đã ập đến. Từ Dunedin, tàu Alert và thủy thủ đoàn gớm ghiếc của nó đã lao vút đi một cách hăng hái như thể nhận được lệnh triệu tập mang tính mệnh lệnh, và ở phía bên kia trái đất, các nhà thơ và nghệ sĩ đã bắt đầu mơ về một thành phố Cyclops ẩm ướt, kỳ lạ trong khi một nhà điêu khắc trẻ tuổi đã nhào nặn trong giấc ngủ hình hài của Cthulhu đáng sợ. Ngày 23 tháng 3, thủy thủ đoàn của tàu Emma đã đổ bộ lên một hòn đảo vô danh và để lại sáu người chết; và vào ngày đó, những giấc mơ của những con người nhạy cảm đã mang lại một độ sống động tăng cao và trở nên tối tăm bởi nỗi sợ hãi trước cuộc săn đuổi đầy tà ác của một con quái vật khổng lồ, trong khi một kiến trúc sư đã phát điên và một nhà điêu khắc đã đột ngột rơi vào cơn mê sảng! Và còn cơn bão ngày 2 tháng 4 này thì sao—ngày mà mọi giấc mơ về thành phố ẩm ướt chấm dứt, và Wilcox bước ra an toàn khỏi xiềng xích của cơn sốt kỳ lạ? Tất cả những điều này thì sao—và cả những lời bóng gió của lão Castro về những Cổ Thần chìm sâu sinh ra từ các vì sao và triều đại sắp tới của họ; giáo phái trung thành của họ và sự làm chủ những giấc mơ của họ? Phải chăng tôi đang lảo đảo trên bờ vực của những nỗi kinh hoàng vũ trụ vượt quá sức chịu đựng của con người? Nếu vậy, chúng phải là những nỗi kinh hoàng của riêng tâm trí, bởi vì bằng cách nào đó ngày 2 tháng 4 đã đặt dấu chấm hết cho bất kỳ mối đe dọa quái monstrous nào đã bắt đầu cuộc vây hãm linh hồn nhân loại.

Buổi tối hôm đó, sau một ngày gửi điện tín và sắp xếp vội vã, tôi chào tạm biệt chủ nhà và bắt tàu đi San Francisco. Chưa đầy một tháng sau, tôi đã có mặt ở Dunedin; nơi, tuy nhiên, tôi phát hiện ra rằng người ta biết rất ít về những thành viên giáo phái kỳ lạ từng lai vãng trong các quán rượu ven biển cũ kỹ. Cặn bã ven cảng là thứ quá phổ biến để có thể được nhắc đến đặc biệt; mặc dù có những lời đồn thổi mơ hồ về một chuyến đi vào nội địa mà đám người lai này từng thực hiện, trong đó người ta nhận thấy tiếng trống văng vẳng và ngọn lửa đỏ trên những ngọn đồi xa xôi.

Ở Auckland, tôi được biết rằng Johansen đã trở lại với mái tóc vàng chuyển sang màu trắng sau một cuộc thẩm vấn hời hợt và không có kết quả tại Sydney, và sau đó đã bán ngôi nhà của mình trên phố West rồi cùng vợ lên tàu trở về ngôi nhà cũ ở Oslo. Về trải nghiệm đầy kích động của mình, anh ta không kể với bạn bè nhiều hơn những gì anh ta đã kể với các quan chức hải quân, và tất cả những gì họ có thể làm là cung cấp cho tôi địa chỉ ở Oslo của anh ta.

Sau đó, tôi đi Sydney và trò chuyện vô ích với các thủy thủ và các thành viên của tòa án phó đô đốc. Tôi đã nhìn thấy tàu Alert, giờ đã được bán và sử dụng vào mục đích thương mại, tại Circular Quay ở Sydney Cove, nhưng chẳng thu được gì từ thể trạng câm lặng của nó. Bức tượng đang ngồi xổm với cái đầu bạch tuộc, thân rồng, cánh có vảy và chiếc bệ có ký tự tượng hình, được bảo tồn trong Bảo tàng ở Hyde Park; và tôi đã nghiên cứu nó lâu và kỹ lưỡng, nhận thấy nó là một vật thể có tay nghề chế tác tinh xảo đến mức độc ác, và mang cùng một sự bí ẩn tuyệt đối, độ cổ xưa khủng khiếp và sự xa lạ phi nhân gian về chất liệu mà tôi từng nhận thấy ở mẫu vật nhỏ hơn của Legrasse. Các nhà địa chất, người quản bảo tàng nói với tôi, đã tìm thấy nó như một câu đố quái monstrous; bởi vì họ thề rằng thế giới không chứa bất kỳ loại đá nào giống như thế. Khi đó, tôi rùng mình nghĩ đến những gì lão Castro từng kể với Legrasse về các Cổ Thần nguyên thủy: “Bọn Họ đã đến từ các vì sao, và đã mang theo hình tượng của Bọn Họ bên mình.”

Bị chấn động bởi một cuộc cách mạng tinh thần chưa từng có trước đó trong đời, tôi lúc bấy giờ quyết định đến thăm Mate Johansen ở Oslo. Lên tàu đi London, tôi lập tức tái khởi hành đến thủ đô Na Uy; và vào một ngày mùa thu đặt chân lên những bến cảng ngăn nắp nằm dưới cái bóng của Egeberg.

Địa chỉ của Johansen, tôi phát hiện ra, nằm ở Phố Cổ của Vua Harold Haardrada, nơi vẫn gìn giữ tên tuổi của Oslo trong suốt những thế kỷ mà thành phố lớn hơn giả dạng thành "Christiania." Tôi thực hiện chuyến đi ngắn bằng xe taxi, và gõ cửa với trái tim đập rộn ràng của một tòa nhà gọn gàng và cổ kính với mặt tiền được trát vữa. Một người phụ nữ mang nét mặt u buồn mặc đồ đen ra mở cửa theo tiếng gọi của tôi, và tôi bị đâm thủng bởi sự thất vọng khi cô ấy nói với tôi bằng thứ tiếng Anh ngập ngừng rằng Gustaf Johansen không còn nữa.

Anh ấy không sống sót lâu sau khi trở về, vợ anh ấy nói, bởi vì những sự việc trên biển năm 2025 đã đánh gục anh ấy. Anh ấy không kể với cô ấy nhiều hơn những gì anh ta đã kể với công chúng, nhưng đã để lại một bản thảo dài—về “các vấn đề kỹ thuật” như anh ấy nói—được viết bằng tiếng Anh, rõ ràng nhằm bảo vệ cô ấy khỏi nguy cơ bị đọc lướt qua tình cờ. Trong một lần đi dạo qua một con hẻm hẹp gần bến cảng Gothenburg, một bó giấy rơi từ cửa sổ gác mái đã đánh ngã anh ấy. Hai tên thủy thủ người Lascar ngay lập tức giúp anh ấy đứng lên, nhưng trước khi xe cứu thương có thể đến nơi thì anh ấy đã qua đời. Các bác sĩ không tìm thấy nguyên nhân thích đáng nào cho cái chết, và quy nó cho bệnh tim cùng thể trạng suy yếu.

Lúc này tôi cảm thấy gặm nhấm trong tâm can nỗi kinh hoàng tăm tối sẽ không bao giờ rời bỏ tôi cho đến khi chính tôi cũng được nghỉ ngơi; dù là “do tai nạn” hay cách khác. Thuyết phục góa phụ rằng mối liên hệ của tôi với “các vấn đề kỹ thuật” của chồng cô ấy là đủ để trao cho tôi quyền sở hữu bản thảo của anh ấy, tôi mang tài liệu đi và bắt đầu đọc nó trên chuyến tàu đi London.

Đó là một tài liệu đơn giản, lan man—nỗ lực ngây thơ của một người thủy thủ đối với một cuốn nhật ký viết sau sự kiện—và cố gắng hồi tưởng lại ngày qua ngày chuyến hải hành khủng khiếp cuối cùng đó. Tôi không thể cố gắng chép lại nó nguyên văn trong toàn bộ sự mơ hồ và dư thừa của nó, nhưng tôi sẽ kể lại phần cốt lõi của nó đủ để cho thấy lý do tại sao tiếng nước vỗ vào mạn tàu lại trở nên không thể chịu nổi đối với tôi đến mức tôi phải nhét bông gòn vào tai. Johansen, tạ ơn Chúa, không biết hoàn toàn tất cả, ngay cả khi anh ta nhìn thấy thành phố và Sinh Thể đó, nhưng tôi sẽ không bao giờ có thể ngủ yên giấc trở lại khi nghĩ về những nỗi kinh hoàng ẩn giấu không ngừng nghỉ đằng sau cuộc sống trong thời gian và không gian, và về những lời báng bổ bất kính từ những vì sao cổ xưa đang mơ màng dưới đáy biển, được biết đến và ưu ái bởi một giáo phái ác mộng luôn sẵn sàng và khao khát thả lỏng chúng ra thế giới bất cứ khi nào một trận động đất khác nhấc bổng thành phố bằng đá quái monstrous của chúng trở lại với ánh mặt trời và không khí.

Hành trình của Johansen bắt đầu đúng như những gì anh ta kể với tòa án phó đô đốc. Tàu Emma, chạy không tải, đã rời Auckland ngày 20 tháng 2, và đã cảm nhận toàn bộ sức mạnh của cơn bão sinh ra từ trận động đất vốn hẳn đã hất tung từ đáy biển những nỗi kinh hoàng lấp đầy những giấc mơ của con người. Một lần nữa lấy lại quyền kiểm soát, con tàu đang tiến triển tốt đẹp khi bị chặn lại bởi tàu Alert vào ngày 22 tháng 3, và tôi có thể cảm nhận được sự tiếc nuối của viên phó thuyền trưởng khi anh ta viết về cuộc pháo kích và việc con tàu chìm xuống. Về những tên ác ma giáo phái da ngăm đen trên tàu Alert, anh ta nhắc đến với sự kinh hoàng mang ý nghĩa sâu sắc. Có một phẩm chất đặc biệt tởm lợm nào đó ở chúng khiến việc tiêu diệt chúng dường như gần như là một nghĩa vụ, và Johansen bày tỏ sự ngạc nhiên ngây thơ trước cáo buộc tàn nhẫn được đưa ra chống lại nhóm của anh ta trong các thủ tục của tòa án điều tra. Sau đó, bị thúc đẩy bởi sự tò mò trên chiếc du thuyền bị cướp dưới quyền chỉ huy của Johansen, toán người nhìn thấy một khối trụ đá lớn nhô lên khỏi mặt biển, và tại Vĩ độ Nam 47° 9', Kinh độ Tây 126° 43' bắt gặp một đường bờ biển pha trộn giữa bùn, chất nhờn và kiến trúc kiểu Cyclops mọc đầy cỏ dại vốn không gì khác hơn là thực thể hữu hình của nỗi kinh hoàng tối cao của trái đất—thành phố-thây-ma ác mộng R'lyeh, được xây dựng từ những kỷ nguyên vô lượng trước lịch sử bởi những thể xác khổng lồ, tởm lợm rỉ ra từ các vì sao tối tăm. Nơi đó nằm Cthulhu vĩ đại và lũ lượt thuộc hạ của hắn, ẩn giấu trong những hầm mộ xanh ngắt nhớt nháp và cuối cùng phát ra, sau những chu kỳ khôn lường, những suy nghĩ gieo rắc nỗi sợ hãi vào những giấc mơ của những kẻ nhạy cảm và ra lệnh một cách mệnh lệnh cho các tín đồ đến trong một cuộc hành hương giải thoát và phục hồi. Tất cả những điều này Johansen không hề ngờ tới, nhưng Chúa mới biết chẳng mấy chốc anh ta đã nhìn thấy đủ!

Tôi đoán rằng chỉ có một đỉnh núi đơn độc, thành lũy được vương miện bởi những khối đá nguyên khối gớm ghiếc nơi Cthulhu vĩ đại được chôn cất, thực sự nhô lên khỏi mặt nước. Khi tôi nghĩ về quy mô của tất cả những gì có thể đang lẩn khuất ở dưới đó, tôi suýt muốn tự sát ngay lập tức. Johansen và toán người của anh ta đã bị choáng ngợp bởi sự vĩ đại mang tính vũ trụ của Babylon rỉ nước này của các ác thần cổ đại, và hẳn đã phỏng đoán mà không cần hướng dẫn rằng nó chẳng thuộc về thế giới này hay bất kỳ hành tinh lành mạnh nào. Sự kinh ngạc trước kích thước khó tin của các khối đá xanh lục, trước độ cao chóng mặt của khối đá nguyên khối được chạm khắc lớn, và trước sự đồng nhất đến ngây người của các bức tượng khổng lồ và phù điêu với bức tượng kỳ lạ được tìm thấy trong ngôi đền trên tàu Alert, được thể hiện một cách nhói lòng trong từng dòng miêu tả đầy sợ hãi của viên phó thuyền trưởng.

Mà không cần biết chủ nghĩa vị lai là gì, Johansen đã đạt được thứ gì đó rất gần với nó khi anh ta nói về thành phố; bởi vì thay vì miêu tả bất kỳ cấu trúc hay tòa án cụ thể nào, anh ta chỉ xoáy sâu vào những ấn tượng rộng lớn về các góc cạnh vĩ đại và bề mặt đá—những bề mặt quá lớn để có thể thuộc về bất kỳ thứ gì đúng đắn hay thích hợp cho trái đất này, và bất kính với những hình ảnh và ký tự tượng hình gớm ghiếc. Tôi nhắc đến bài phát biểu của anh ta về các góc cạnh bởi vì nó gợi ý về một điều gì đó mà Wilcox từng kể với tôi về những giấc mơ tồi tệ của cậu ấy. Cậu ấy đã nói rằng hình học của nơi chốn trong giấc mơ mà cậu thấy là bất thường, phi Euclid, và mang mùi vị gớm ghiếc của các hình cầu và chiều không gian tách biệt với chúng ta. Giờ đây, một người thủy thủ mù chữ cũng cảm thấy điều tương tự trong lúc ngắm nhìn thực tại khủng khiếp.

Johansen và toán người của anh ta đã đổ bộ lên một bãi bùn dốc trên Acropolis quái monstrous này, và trèo một cách trơn trượt lên những khối đá titan nhớt nháp vốn không thể là cầu thang của người phàm. Ngay cả ánh mặt trời trên thiên đường dường như cũng bị bóp méo khi nhìn qua lớp sương mù phân cực trào ra từ sự biến thái ngấm đẫm nước biển này, và mối đe dọa xoắn ốc cùng sự hồi hộp lẩn khuất một cách đầy khiêu khích trong những góc cạnh méo mó đến điên rồ của tảng đá chạm khắc nơi cái nhìn thứ hai cho thấy sự lõm sau cái nhìn đầu tiên cho thấy sự lồi.

Thứ gì đó rất giống sự sợ hãi đã bao trùm lên tất cả những nhà thám hiểm trước khi bất kỳ thứ gì cụ thể hơn đá, chất nhờn và cỏ dại được nhìn thấy. Mỗi người trong số họ đã bỏ chạy nếu không vì sợ sự chế giễu của những người khác, và họ chỉ miễn cưỡng tìm kiếm—một cách vô ích, như kết quả đã chứng minh—một món quà lưu niệm có thể mang theo.

Chính Rodriguez người Bồ Đào Nha đã leo lên chân của khối đá nguyên khối và la lên về những gì anh ta tìm thấy. Những người còn lại đi theo anh ta, và nhìn một cách tò mò vào cánh cửa chạm khắc khổng lồ với phù điêu mực-rồng quen thuộc lúc bấy giờ. Nó, Johansen nói, giống như một cánh cửa nhà kho lớn; và tất cả bọn họ đều cảm thấy rằng đó là một cánh cửa vì phần lanh tô, bệ cửa và khung cửa trang trí công phu xung quanh nó, mặc dù họ không thể quyết định liệu nó nằm phẳng như cửa sập hay nghiêng như cửa hầm rượu bên ngoài. Như Wilcox hẳn sẽ nói, hình học của nơi đó hoàn toàn sai lầm. Người ta không thể chắc chắn rằng mặt biển và mặt đất là nằm ngang, do đó vị trí tương đối của mọi thứ khác dường như thay đổi một cách ảo ảnh.

Briden đẩy vào khối đá ở vài nơi mà không có kết quả. Sau đó Donovan sờ soạng nó một cách tinh tế xung quanh mép, nhấn từng điểm một khi anh ta đi dọc theo. Anh ta leo lên vô tận dọc theo đường gờ đá kỳ dị—đó là, người ta sẽ gọi đó là leo trèo nếu vật thể ấy rốt cuộc không nằm ngang—và toán người tự hỏi làm thế nào bất kỳ cánh cửa nào trong vũ trụ lại có thể lớn đến thế. Rồi, rất mềm mại và chậm rãi, tấm bảng rộng bằng một mẫu Anh bắt đầu nhường chỗ hướng vào trong ở phía trên; và họ nhìn thấy rằng nó được cân bằng.

Donovan trượt hoặc bằng cách nào đó đẩy bản thân xuống hoặc dọc theo khung cửa và tái hợp với những người đồng đội của mình, và tất cả mọi người theo dõi sự thụt lùi kỳ lạ của cánh cổng được chạm khắc một cách quái monstrous. Trong ảo ảnh méo mó lăng kính này, nó di chuyển một cách bất thường theo đường chéo, sao cho tất cả các quy tắc về vật chất và phối cảnh dường như bị đảo lộn.

Khe hở đen kịt với một bóng tối gần như mang tính vật chất. Sự u tối đó quả thực là một phẩm chất tích cực; bởi vì nó che khuất các phần của bức tường bên trong vốn dĩ phải được tiết lộ, và thực sự bùng nổ như khói từ sự giam cầm kéo dài hàng kỷ nguyên của nó, làm tối đi rõ ràng ánh mặt trời khi nó trốn chạy vào bầu trời co rút và khuyết tật trên đôi cánh màng đang vỗ. Mùi hôi thối bốc ra từ những vực sâu mới mở là không thể chịu đựng được, và cuối cùng Hawkins với đôi tai thính nghĩ rằng anh ta nghe thấy một âm thanh lầy lội, nhóp nhép khó chịu ở dưới đó. Tất cả mọi người đều lắng nghe, và tất cả mọi người vẫn đang lắng nghe khi Nó lê lết bước ra trong tầm mắt và mò mẫm ép cái khối lượng khổng lồ xanh lục dạng thạch của Nó qua ô cửa đen kịt để ra ngoài không khí bên ngoài bị ô nhiễm của thành phố độc hại của sự điên rồ ấy.

Chữ viết tay của tội nghiệp Johansen suýt cạn kiệt khi anh ta viết về điều này. Trong số sáu người đàn ông không bao giờ quay lại tàu, anh ta nghĩ rằng hai người đã chết vì nỗi sợ hãi thuần túy trong khoảnh khắc đáng nguyền rủa đó. Sinh Thể đó không thể được miêu tả—không có ngôn ngữ nào dành cho những vực thẳm của sự gào thét và sự điên rồ từ thời nguyên thủy, những sự mâu thuẫn kỳ quái như vậy của mọi vật chất, lực lượng và trật tự vũ trụ. Một ngọn núi đang đi bộ hoặc vấp ngã. Chúa ơi! Có gì ngạc nhiên khi khắp trái đất một kiến trúc sư vĩ đại đã phát điên, và tội nghiệp Wilcox đã cuồng loạn vì sốt trong khoảnh khắc truyền tâm linh đó? Sinh Thể của những bức tượng, trứng nước xanh lục, dính nhớt của các vì sao, đã thức tỉnh để đòi lại thuộc về hắn. Các vì sao đã đúng một lần nữa, và điều mà một giáo phái cổ xưa từ lâu đã thất bại trong việc thực hiện bằng mưu tính, một nhóm thủy thủ vô tội đã thực hiện bằng sự tình cờ. Sau hàng vạn triệu năm, Cthulhu vĩ đại lại được thả lỏng, và đang thèm khát sự vui sướng.

Ba người đàn ông bị quét lên bởi những chiếc vuốt nhũn nhược trước khi bất kỳ ai quay người lại. Chúa hãy ban sự nghỉ ngơi cho họ, nếu có bất kỳ sự nghỉ ngơi nào trong vũ trụ. Họ là Donovan, Guerrera và Angstrom. Parker trượt chân khi ba người kia đang lao đi một cách cuồng loạn qua vô tận những khung cảnh đá phủ lớp xanh lục để đến chỗ thuyền, và Johansen thề rằng anh ta đã bị nuốt chửng bởi một góc kiến trúc không nên có ở đó; một góc nhọn, nhưng cư xử như thể nó là góc tù. Thế nên chỉ có Briden và Johansen đến được thuyền, và chèo một cách tuyệt vọng về phía tàu Alert khi con quái vật khổng lồ trượt dài xuống những hòn đá nhớt nháp và ngập ngừng vùng vẫy ở mép nước.

Hơi nước đã không bị để cho cạn kiệt hoàn toàn, bất chấp sự khởi hành của tất cả tay chân lên bờ; và đó chỉ là công việc của vài khoảnh khắc chạy vội vã qua lại giữa các bánh xe và động cơ để đưa tàu Alert hoạt động trở lại. Chậm rãi, giữa những nỗi kinh hoàng bị bóp méo của cảnh tượng không thể tả đó, nó bắt đầu khuấy động vùng nước gây chết người; trong khi trên kiến trúc của bờ biển tử thi đó vốn không thuộc về trái đất, Sinh Thể titan đến từ các vì sao đang nhỏ dãi và bập bõm như Polypheme nguyền rủa con tàu trốn chạy của Odysseus. Rồi, táo bạo hơn cả Cyclops trong truyền thuyết, Cthulhu vĩ đại trượt một cách nhớt nháp xuống nước và bắt đầu đuổi theo với những cú đánh tạo sóng vĩ đại mang sức mạnh vũ trụ. Briden nhìn lại và phát điên, cười lảnh lót khi anh ta tiếp tục cười ở các khoảng thời gian cho đến khi cái chết tìm thấy anh ta một đêm trong cabin trong khi Johansen đang đi lang thang trong cơn mê sảng.

Nhưng Johansen vẫn chưa bỏ cuộc. Biết rằng Sinh Thể đó chắc chắn có thể bắt kịp tàu Alert cho đến khi hơi nước được đun sôi hoàn toàn, anh ta quyết định nắm lấy một cơ hội tuyệt vọng; và, cài đặt động cơ chạy hết tốc lực, chạy như chớp lên boong tàu và đảo ngược bánh lái. Có một sự xoáy nước và sủi bọt mạnh mẽ trong dòng nước mặn tởm lợm, và khi hơi nước bốc lên ngày càng cao, người dũng sĩ Na Uy đã lái con tàu của mình đâm thẳng vào khối thạch đuổi theo đang nhô lên trên lớp bọt bẩn thỉu như đuôi của một chiếc thuyền chiến của ác quỷ. Cái đầu mực khủng khiếp với những tua tủa uốn éo gần như vươn tới cột buồm của chiếc du thuyền cứng cáp, nhưng Johansen vẫn lái tiến lên một cách không khoan nhượng.

Có một tiếng nổ như một chiếc bóng bay phát nổ, một sự nhầy nhụa lầy lội như một con cá mặt trăng bị chẻ đôi, một mùi hôi thối như của ngàn ngôi mộ bị mở toang, và một âm thanh mà người viết sử không muốn đưa lên giấy tờ. Trong một khoảnh khắc, con tàu bị làm bẩn bởi một đám mây xanh lục cay nồng và làm mù mắt, và sau đó chỉ còn lại một sự sủi bọt độc hại ở phía sau; nơi—Chúa ở trên trời!—tính dẻo tản mác của sinh thể không tên từ bầu trời đó đang mờ mịt tái kết hợp trong hình thù ban đầu đầy căm ghét của nó, trong khi khoảng cách của nó nới rộng ra từng giây khi tàu Alert thu được đà từ áp suất hơi nước đang tăng lên.

Đó là tất cả. Sau đó Johansen chỉ trầm ngâm về bức tượng nhỏ trong cabin và chăm sóc một vài vấn đề thức ăn cho bản thân và kẻ cuồng loạn đang cười khúc khích ở bên cạnh anh ta. Anh ta không cố gắng điều hướng sau chuyến bay táo bạo đầu tiên, bởi vì phản ứng đã lấy đi thứ gì đó khỏi tâm hồn anh ta. Rồi cơn bão ngày 2 tháng 4 đến, và sự tụ tập của những đám mây xung quanh ý thức của anh ta. Có một cảm giác xoay vòng ma quái xuyên qua những vực thẳm lỏng lẻo của sự vô tận, những chuyến đi chóng mặt xuyên qua các vũ trụ đang quay cuồng trên cái đuôi của sao chổi, và những cú lao cuồng loạn từ vực thẳm đến mặt trăng và từ mặt trăng quay trở lại vực thẳm, tất cả được làm sinh động bởi một dàn hợp xướng cười khúc khích của các vị thần cổ đại bị bóp méo, vui nhộn và những con tiểu yêu nhạo báng có cánh dơi màu xanh lục của Tartarus.

Ra khỏi giấc mơ đó là sự cứu rỗi—tàu Vigilant, tòa án phó đô đốc, những con đường của Dunedin, và chuyến hải hành dài trở về nhà đến ngôi nhà cũ bên cạnh Egeberg. Anh ta không thể kể—họ sẽ nghĩ anh ta điên. Anh ta sẽ viết về những gì anh ta biết trước khi cái chết đến, nhưng vợ anh ta không được đoán ra. Cái chết sẽ là một ân huệ nếu chỉ vì nó có thể xóa sạch những ký ức.

Đó là tài liệu tôi đã đọc, và giờ đây tôi đã đặt nó vào chiếc hộp thiếc bên cạnh bức phù điêu và các tài liệu của Giáo sư Angell. Đi cùng với nó sẽ là bản ghi chép này của tôi—bài kiểm tra sự sane của chính tôi, trong đó chắp nối lại những gì tôi hy vọng sẽ không bao giờ được chắp nối lại một lần nữa. Tôi đã nhìn vào tất cả những gì vũ trụ có chứa đựng sự kinh hoàng, và ngay cả những bầu trời mùa xuân và những bông hoa mùa hè cũng sẽ mãi mãi sau đó trở thành chất độc đối với tôi. Nhưng tôi không nghĩ cuộc sống của mình sẽ kéo dài. Giống như ông bác tôi đã đi, giống như tội nghiệp Johansen đã đi, tôi cũng sẽ đi. Tôi biết quá nhiều, và giáo phái vẫn còn sống.

Cthulhu vẫn còn sống, tôi đoán vậy, một lần nữa trong khe núi đá đã che chở hắn kể từ khi mặt trời còn trẻ. Thành phố bị nguyền rủa của hắn lại chìm một lần nữa, bởi vì tàu Vigilant đã đi qua địa điểm đó sau cơn bão tháng Tư; nhưng các bộ trưởng của hắn trên trái đất vẫn gầm thét và nhảy múa và tàn sát xung quanh những khối đá nguyên khối được đội vương miện tượng nhỏ ở những nơi vắng vẻ. Hắn hẳn đã bị bẫy bởi sự chìm xuống trong khi ở bên trong vực thẳm đen tối của mình, hoặc nếu không thế giới bây giờ đã la hét trong sự sợ hãi và cuồng loạn. Ai biết được cái điều kết thúc? Kẻ đã trỗi dậy có thể chìm xuống, và kẻ đã chìm xuống có thể trỗi dậy. Sự tởm lợm đang chờ đợi và mơ màng trong sâu thẳm, và sự mục rữa lan rộng trên những thành phố đang lung lay của con người. Sẽ có lúc — nhưng tôi không được phép và không thể suy nghĩ! Hãy để tôi cầu nguyện rằng, nếu tôi không sống sót qua bản thảo này, những người thực hiện di chúc của tôi có thể đặt sự cẩn trọng lên trước sự táo bạo và đảm bảo rằng nó không gặp phải ánh mắt nào khác.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.