"Đừng phỏng theo bề ngoài mà xét đoán." — Phúc âm Gio-an, VII: 24.
– Này Tutt, – ông Tutt vừa nói vừa bước vào văn phòng của hãng luật Tutt & Tutt, tiện tay treo chiếc mũ chóp cao cổ lỗ sĩ lên giá treo góc phòng, – Tôi đọc trên báo buổi sáng thấy Payson Clifford đã qua đời rồi.
– Anh không nói đùa đấy chứ? – Tutt em vừa ngẩng lên từ lá thư đang viết, vừa đáp.
– Phía nào cơ, Payson cha hay Payson con?
– Payson cha, – ông Tutt đáp, đồng thời cắt phăng đầu một điếu xì-gà rẻ tiền bằng chiếc kéo cắt móng tay vẫn thường mang trong túi áo ghi-lê.
– Nếu vậy thì thật đáng tiếc, – Tutt lên tiếng với vẻ nuối tiếc.
– Sao lại "nếu vậy"? – đối tác của ông thắc mắc.
– Ồ, thằng con trai chẳng ra cái tích sự gì! – Tutt em đáp. – Tôi cũng chẳng bảo người cha là to tát gì cho cam. Payson Clifford là một người tốt – dù ông ấy không phải là Công dân Danh dự của chúng ta – hay có khả năng trở thành ứng viên cho vị trí đó ở thế giới bên kia. Nhưng còn thằng bé ấy cơ...
– Suỵt! – ông Tutt trách móc, chậm rãi lắc đầu sao cho làn khói từ điếu xì-gà đuôi chuột uốn lượn thành một dải xám mờ trong không khí trước mặt. – Hãy nhớ rằng có một điều tồi tệ hơn cả việc nói xấu người chết, đó là nói xấu thân chủ!
Ông Payson Clifford, thân chủ đang được nhắc đến, vốn là một thanh niên tầm thường đã được chuẩn bị kỹ càng để đối mặt với những thăng trầm của cõi đời ô trọc này: trước tiên là tại một trường bán ngày ở đại lộ Fifth Avenue, thành phố New York; sau đó là một trường nội trú chọn lọc giữa những ngọn đồi đá cứng của bang Granite; và cuối cùng là tại Cambridge, Massachusetts, trong bầu không khí đậm chất học thuật của Đại học Harvard – nơi mà trong quá khứ mờ ảo, gần như đã bị lãng quên, người ta vẫn thích tin rằng những bậc hiền tài và vĩ nhân từng trầm ngâm bước đi thời trẻ đẹp của họ. Anh ta bước ra đời với một sự chán ghét có lẽ gần như ra vẻ đạo đức giả đối với những gì xấu xí, thô tục và dơ bẩn – cùng với những ảo tưởng rõ rệt về sự vĩ đại của bản thân. Anh ta vẫn đang chìm đắp trong trạng thái mà câu thành ngữ cổ miêu tả rất chuẩn xác: "Anh lúc nào cũng có thể nhận ra một cớ nhân Harvard – nhưng chẳng thể bảo ban gì được anh ta đâu."
Mẹ anh ta mất khi anh ta còn nhỏ, và anh ta gìn giữ ký ức về bà như báu vật linh thiêng nhất trong góc khuất tâm hồn. Anh ta chỉ còn láng mang nhớ về bà như một bóng hình dịu dàng và đoan trang, đặt lên bàn cân với người cha vạm vỡ, lớn tiếng luôn tỏ ra thô kệch và tầm thường của mình. Và mặc dù chính người cha đó – suốt ngần ấy năm anh ta còn nhớ được – đã chu cấp cho anh ta những tấm séc hậu hĩnh vào ngày mùng một hàng tháng, qua đó giúp anh ta đạt được cái trạng thái thượng đẳng về trí tuệ và tinh thần như thực tế, thế nhưng, nói một cách thẳng thừng theo ngôn ngữ bình dân, Payson vẫn có phần coi thường ông cụ, người rõ ràng chịu thiệt thòi vì thiếu đi những điều kiện mà chính ông đã cung cấp cho con trai mình.
Payson cha chưa bao giờ bận tâm quá mức để thay đổi cách nhìn của con trai về bản thân ông. Nhìn chung, ông tự hào về cậu ta hơn là phàn nàn, nhận thức được rằng dù cậu ta rõ ràng mắc chứng bệnh quá đề cao cái tôi và quá mức kỹ tính trong cung cách ăn mặc, thì sâu thẳm bên trong, cậu ta vẫn ổn và là một người tử tế. Dẫu vậy, ông đành phải thú nhận rằng giữa họ chẳng có mấy điểm chung. Con trai ông cũng bày tỏ ý tương tự khi lấy làm tiếc vì cha mình "không nói chung ngôn ngữ với nó."
Thế nên, vào kỳ nghỉ đông khi Payson cha, kiệt sức sau một ngày dài làm việc tại văn phòng, tìm đến các chương trình tạp kỹ "Frolics" hay "Folies", thì Payson con lại có mặt ở một buổi hòa tấu đàn harpsichord và vi-ô-lông, hoặc trong một buổi tối thưởng thức âm nhạc Palestrina hay những bài Thánh ca Gregorian cổ. Giả sử cậu ta bớt kiêu kỳ về điều đó thì câu chuyện này đã chẳng bao giờ được viết ra – và chắc chắn cũng chẳng phải tổn thất gì lớn lao. Nhưng kiêu ngạo tàn nhẫn trong việc phán xét người già vốn là đặc quyền của tuổi trẻ. Từ điển rực rỡ của tuổi trẻ không hề có phán quyết "có tình tiết giảm nhẹ". Tuổi trẻ công bằng khi nó đúng; nó tàn nhẫn khi nó sai; và trong bất kỳ trường hợp nào nó cũng vô tình. Nếu chúng ta có phải ra hầu tòa vì những tội lỗi của mình, hãy để những bồi thẩm đoàn gồm các cụ già râu tóc bạc phơ, những người thích thuốc lá, thịt cua, rượu vang nhẹ và nhạc kịch, xét xử chúng ta.
Tất cả những điều đó dẫn đến sự thật đáng buồn rằng Payson con là một kẻ đạo đức giả. Và ngay giữa lúc tính cách đạo đức giả của con trai đang độ nở rộ, Payson cha liền cõi trần vắt chân chữ ngũ ra đi, để rồi Tutt và ông Tutt được mời đến để quản lý di sản của ông.
Đâu đó trên thế gian này có lẽ vẫn ẩn giấu một vài con người hiếm hoi có thể nhìn lại cách đối xử của mình với cha mẹ bằng sự thỏa mãn thật lòng. Tôi chưa từng gặp ai như thế cả. Định mệnh của những kẻ đưa người khác đến với thế giới này là bị quở trách vì cung cách, bị nhiếc móc vì những lầm lỗi, và bị bêu riếu vì những khuyết điểm. Khoảng cách hai mươi năm tuổi tác biến biết bao sự tao nhã thành thứ dã man; biết bao nhân đức thành thói hư tật xấu. Tôi không bao giờ biểu diễn cái tách đựng râu ria trước mặt con cái vào bữa sáng để chúng noi theo, nhưng tôi lại nhai cả hột dâu tây, thứ mà chúng cho là còn tồi tệ hơn. Ông bà nội hay ngoại ngày xưa từng rót cà phê từ tách ra đĩa để uống mà họ vẫn – dẫu vậy – được xếp hạng AA1 trong cuốn Sách Xanh vùng Back Bay của Boston. Và giờ đây, mấy đứa con gái của tôi, những đứa chuyên hút thuốc lá, lại lớn tiếng phản đối làn khói tẩu của tôi! Thời gian thay đổi, thói đời đổi thay. Và chẳng có người anh hùng nào vĩ đại trong mắt con cái mình. Cơ hội thành công của anh ta với gã gia nhân còn cao hơn nhiều – nếu thời buổi này anh ta còn đủ sức thuê một kẻ hầu.
Cái chết của người cha là một cú sốc đối với Payson con, bởi vì cậu ta chưa từng cho rằng những con người bận rộn với thương trường như thế lại có thể chết đi – họ chỉ "về hưu" thôi, rồi sau một khoảng thời gian ẩn dật kín đáo sẽ từ từ tan rã theo các giai đoạn thích hợp. Thế nhưng Payson cha lại đột ngột qua đời ngay giữa bộn bề công việc – chẳng có lấy một cơ hội để đạt được sự thấu hiểu về mặt tâm linh – từ "hòa giải" sẽ không chính xác lắm – với con trai mình. Thế là Payson con, mang theo sự bất mãn, đã sắm sửa bằng một nửa tiền mặt và một nửa tín dụng cả một bộ trang phục mà cậu ta cay đắng miêu tả là "bộ giáp man rợ của cõi chết", rồi tự biến mình thành cái mà cậu ta cũng gọi là "cỗ quan tài di động", bước theo Payson cha ra mộ phần.
Có lẽ, suy cho cùng, chúng ta đã hơi khắt khe với Payson con. Về bản chất, như người cha từng nhận định, cậu ta là một chất liệu tốt và muốn làm điều đúng đắn. Nhưng thế nào mới là điều đúng đắn? Thật ra làm người tốt chẳng khó bằng việc biết cách làm thế nào để tốt.
Khi cậu mồ côi Payson, ngồi cô độc trong một chiếc xe tang chạy với tốc độ nước kiệu dọc theo đại lộ Broadway hướng về văn phòng của Tutt & Tutt, cậu ta tự an ủi nỗi mất mát của mình bằng suy nghĩ rằng đây có lẽ là lần cuối cùng cậu ta phải giáp mặt với bất kỳ người họ hàng nào của mình. Chưa bao giờ trong cuộc đời ngắn ngủi của mình, cậu ta lại phải đối mặt với một tập hợp những con người kém thu hút đến thế. Cậu ta chưa từng tưởng tượng những người như vậy lại có thể tồn tại. Lẽ ra họ không nên tồn tại. Trái đất đáng lẽ phải là một nơi chốn đáng yêu, nơi đất đai chỉ thuộc về những con người tao nhã và đáng yêu. Những cân nhắc về mặt thẩm mỹ ấy đã nhắc nhở cậu ta với một nỗi bàng hoàng rằng, cũng giống như cậu ta hoàn toàn xa lạ với họ, cậu ta cũng xa lạ với chính cha mình – người cha góa vợ nghèo khổ của cậu ta. Cậu ta thực sự biết gì về ông? – chẳng lấy một điều! Và cậu ta chưa từng cố gắng tìm hiểu bất cứ điều gì về ông – về bạn bè, suy nghĩ, lối sống của ông – mà chỉ thỏa mãn với việc lãnh tiền từ các tờ séc của ông, mang một mặc định ngây thơ rằng người ký ra chúng cũng phải cảm thấy vô cùng thỏa mãn khi được làm cha của một thiếu niên như chính cậu ta. Nhưng đám họ hàng quê mùa kia chứ! Chắc chắn đó là họ hàng bên bố rồi! Hàng họ bên mẹ cậu ta chắc chắn không thể thế này được – và cậu ta hoàn toàn tự tin mình thừa hưởng nét đẹp từ mẹ. Dẫu vậy, đám họ hàng đó vẫn khiến cậu ta lo lắng! Trên Đại học Harvard, cậu ta từng kiêu hãnh đứng trên cái tên của mình – "Payson Clifford, Jr." – chẳng cần ai hỏi han gì về "Senior" hay bất kỳ ai khác. Giờ đây, cậu ta nhận ra mình sắp bị ném vào thế giới thực tại, nơi thân thế và gốc gác của người cha có thể tạo ra sự khác biệt lớn lao. Cậu ta đầy lo âu hy vọng rằng cụ thân sinh hóa ra lại là một người đàng hoàng; và sẽ để lại một khối tài sản đủ lớn để cậu ta vẫn có thể tiếp tục lãnh tiền séc vào ngày mùng một hàng tháng!
Một trong những quy luật bất thành văn tại văn phòng Tutt & Tutt là ông Tutt không bao giờ được phép bị làm phiền bởi những chi tiết vụn vặt của một vụ việc phân chia di sản, và người ta còn hoài nghi hơn nữa việc liệu ông có thể lập đúng bản kiểm kê tài sản để nộp cho Tòa án Phân định Di sản hay không, ngay cả khi ông có cố gắng đi chăng nữa. Bởi phải biết rằng, trong khi thành viên lớn tuổi của hãng luật rất thâm sâu về triết lý luật pháp và những điều tế nhị của các điều khoản "hạn chế chuyển nhượng", "quyền hạn", "quyền thụ hưởng vĩnh viễn" cùng những bí ẩn của "khối di sản kế tiếp", thì ông lại tỏ ra thiếu kiên nhẫn một cách đường hoàng đối với việc cộng trừ. Thế nên, trong khi ông Tutt soạn thảo di chúc cho thân chủ, thì Tutt mới là người đứng ra làm thủ tục khai nhận và thi hành di chúc ấy. Sau đó, nếu chẳng may có rắc rối nào xảy ra, hoặc có người họ hàng vô ơn nào đó cho rằng mình nhận chưa đủ, chính ông Tutt sẽ miễn cưỡng vứt đi điếu xì-gà, thong thả đi bộ đến tòa và bào chữa cho bản di chúc do chính tay ông soạn thảo – và hầu như lần nào cũng thắng kiện.
Thế nên chính Tutt em là người đã siết chặt tay Payson Clifford và mời cậu ta ngồi vào chiếc ghế bọc da bên cửa sổ.
– Và giờ là về bản di chúc! – Tutt lanh lảnh nói, sau khi dành những lời tán dương đầy vất vả cho các đức tính của cố phụ Payson Clifford, anh ta tiện tay châm một điếu thuốc lá trước khi bắt đầu đọc văn kiện nằm trong chiếc phong bì nâu trên bàn làm việc trước mặt. – Và giờ là về bản di chúc! Chắc anh đã biết rằng cha mình đã chỉ định anh làm người thi hành di chúc và, sau một vài khoản di tặng nhỏ lẻ, là người thừa kế toàn bộ phần di sản còn lại chứ?
Payson lặng lẽ lắc đầu. Cậu ta cảm thấy dưới hoàn cảnh này, việc ra vẻ không biết gì về những chuyện đó sẽ thích hợp hơn.
– Vâng, – Tutt vui vẻ tiếp lời, cầm chiếc phong bì lên, – Chính ông Tutt đã soạn thảo di chúc này – gần mười lăm năm trước – và cha anh chưa bao giờ thấy cần phải thay đổi nó. Nó nằm ngay trong 'Hộp đựng di chúc' của chúng tôi mà chưa từng bị xáo trộn quá một lần – và đó là vào bảy hay tám năm trước khi ông ấy ghé qua một ngày và xin được xem lại nó – tôi nghĩ ông ấy đã bỏ một cái phong bì đựng thư vào cùng với nó. Tôi vừa tìm thấy một bức trong đó hôm nọ.
Payson thờ thẫn cầm lấy bản di chúc trên tay.
– Ông để lại di sản lớn đến mức nào? – cậu ta hỏi.
– Theo như tôi tính toán thì khoảng bảy mươi nghìn đô-la, – Tutt đáp. – Nhưng thuế chuyển nhượng sẽ không lớn đâu, và các khoản di tặng tổng cộng không quá mười nghìn.
Văn bản này khá ngắn gọn – được soạn thảo với toàn bộ khả năng cô đọng của ông Tutt – và chỉ chiếm đúng một trang giấy. Cha của Payson đã để lại bảy nghìn sáu trăm đô-la cho ba người họ hàng và con cái của họ, còn lại tất cả đều thuộc về con trai cậu. Payson nhanh chóng tính toán rằng sau khi thanh toán các hóa đơn nợ nần của di sản, bao gồm cả hóa đơn của Tutt & Tutt, cậu ta có lẽ sẽ thu về ít nhất sáu mươi nghìn. Với mức chi tiêu hiện tại, cậu ta sẽ tiếp tục sống khá thoải mái – thậm chí còn thoải mái hơn trước đây. Dẫu vậy, số tiền đó vẫn ít hơn so với dự tính của cậu ta. Có lẽ cha cậu ta có những thói quen tốn kém.
– Đây là bức thư, – Tutt tiếp lời, đưa nó cho Payson. Cậu ta rút dao dọc giấy ra để mở phong bì cho gọn gàng hơn. – Chắc là một gợi ý về việc định đoạt tư trang cá nhân – kỷ vật hay đại loại thế. Người ta hay làm vậy lắm.
Chiếc phong bì là loại rẻ tiền, góc trên bên trái được trang trí bằng một bức tranh khắc gỗ hình một nữ thần vạm vỡ mặc váy ngủ – rõ ràng ám chỉ Proserpina – đang trút dòng thác ngũ cốc từ chiếc sừng trù phú xuống một vùng đất nông nghiệp chất đầy táo, ngô và bí ngô, được chiếu sáng bởi những tia nắng mặt trời buổi sớm có gương mặt hẳn hoi. Phía dưới là dòng chữ:
"Nếu không giao được trong năm ngày, xin trả lại cho:
Clifford, Cobb & Weng,
Đại lý Ngũ cốc và Nông sản,
Số 597 Phố Water,
Thành phố N.Y.,
N.Y."
Ngay khi ánh mắt vừa chạm vào đó, Payson đã nhận thức được sự thô tục đến gai người của nó. Và cả chữ "Weng"! Ai lại đi đặt cái tên như thế cơ chứ? Chắc chắn là cậu ta chưa từng nghe thấy – thậm chí còn chẳng biết rằng cha mình lại có một đối tác mang cái họ vô lý đến thế! "—& Weng!" Có cái gì đó vô cùng bình dân toát ra từ đó. Cũng giống như cái mong muốn rõ ràng về sự đối xứng đã dẫn đến việc thêm vào chữ "N.Y." thừa thãi bên dưới cụm từ "Thành phố N.Y." vốn dĩ đã hoàn toàn đầy đủ. Nhưng, dĩ nhiên, cậu ta sẽ sẵn lòng làm bất cứ điều gì mà cha mình yêu cầu trong thư.
Cậu ta ấn mạnh mũi dao xuyên qua thớ giấy dai của chiếc phong bì, rút tờ giấy bên trong ra và mở nó ra. Giữa phần đầu trang là một bản sao của bức tranh khắc gỗ ở mặt ngoài, chỉ bỏ đi dòng chữ "Nếu không giao được trong năm ngày, xin trả lại cho". Sau đó, Payson đọc được những dòng chữ đơn giản viết bằng nét chữ nguệch ngoạc quen thuộc của cha mình, thứ định mệnh sẽ ám ảnh cậu ta trong cả giấc ngủ lẫn thức giấc suốt nhiều tháng trời:
"Trong trường hợp tôi qua đời đột ngột, tôi muốn người thi hành di chúc của tôi trao hai mươi lăm nghìn đô-la cho người bạn rất thân của tôi, cô Sadie Burch, ở Hoboken, N.J.
"PAYSON CLIFFORD."
Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi – rất ngắn ngủi – một làn sương mờ phủ lên bức thư trên tay người con trai. "Người bạn rất thân của tôi Sadie Burch!" Cậu ta nén lại tiếng kêu ngạc nhiên chực trào lên môi và cố gắng kìm nén mọi biểu cảm trên khuôn mặt để che giấu cảm xúc bên trong. "Hai mươi lăm nghìn!" Sau đó, cậu ta chìa bức thư ra cho Tutt với vẻ dửng dưng chừng mực.
– Chà chà! – vị luật sư khẽ huýt sáo, liếc nhanh qua vành mắt kính.
– Ồ, không phải vì tiền đâu! – Payson lên tiếng bằng giọng điệu ủ rột – mặc dù dĩ nhiên là cậu ta đang nói dối. Chính vì tiền đấy chứ.
Ý nghĩ phải dâng gần một nửa gia tài của cha mình cho một kẻ xa lạ khiến cậu ta choáng váng; thế nhưng, công bằng mà nói, ngay trong khoảnh khắc hoảng loạn tột độ đó, chưa từng có ý nghĩ phớt lờ mong muốn của cha xuất hiện trong đầu cậu ta. Đó là một cú giáng trời giáng, nhưng cậu ta buộc phải gánh chịu.
– Ôi dào, có gì đâu! – Tutt nhận xét. – Nó có giá trị pháp lý đâu. Anh chẳng cần phải bận tâm đến nó làm gì.
– Ý anh thực sự là tờ giấy đó chẳng có chút giá trị pháp lý nào sao? – cậu thanh niên thốt lên với sự nhẹ nhõm đến mức trong chốc lát khía cạnh đạo đức của vụ việc hoàn toàn bị lu mờ trước khía cạnh pháp lý.
– Hoàn toàn không có! – Tutt dứt khoát đáp.
– Nhưng nó là một phần của di chúc mà! – Payson phản đối. – Nó được viết bằng chính tay cha tôi cơ mà.
– Điều đó chẳng thay đổi được gì cả, – vị luật sư tuyên bố. – Không được làm chứng theo đúng trình tự pháp luật yêu cầu thì nó chẳng có chút ý nghĩa nào sất.
– Ngay cả khi nó được đặt ngay bên trong tờ di chúc sao?
– Một chút cũng không.
– Nhưng tôi từng nghe nói về những bức thư được để chung với di chúc cơ mà.
– Chắc chắn rồi. Nhưng tôi dám cá là anh chưa từng nghe về việc bất kỳ bức nào trong số đó được đem ra khai nhận di sản cả.
Thực tế là kinh nghiệm pháp lý của Payson chưa vươn tới điểm kỹ thuật này.
– Này nhé! – cậu ta bướng bỉnh đáp lại. – Có chết tôi cũng chẳng hiểu nổi. Anh bảo tờ giấy này không có giá trị pháp lý, thế nhưng nó lại do chính tay cha tôi viết và gần như được đính kèm vào di chúc của ông. Giờ đây, gác lại mọi vấn đề đạo đức đi, chính xác thì tại sao bức thư này lại không có tính ràng buộc với tôi?
Tutt mỉm cười ôn hòa.
– Làm điếu thuốc nhé? – anh ta hỏi, và khi Payson nhận lấy một điếu, anh ta vừa châm diêm vừa nói với giọng đồng cảm: – Thái độ của anh, thưa anh bạn trẻ, rất đáng khen ngợi. Thật hoàn toàn đúng đắn và tự nhiên khi bản năng anh muốn tôn trọng điều thoạt nhìn có vẻ là ước nguyện của cha mình. Nhưng dù sao đi nữa, bức thư đó cũng chẳng đáng giá bằng tờ giấy viết lên nó – xét về mặt luật pháp.
– Nhưng tại sao lại không? – Payson gặng hỏi. – Tòa án còn có thể mong đợi bằng chứng nào tốt hơn về ước nguyện của người lập di chúc ngoài một bức thư như thế?
– Lý do rất đơn giản! – Tutt đáp, thoải mái ngả người ra sau. – Trước mắt pháp luật, không có tài sản nào là không có chủ sở hữu. Nó luôn thuộc về ai đó, mặc dù quyền sở hữu có thể đang tranh chấp. Khi một người qua đời, bất động sản của ông ta lập tức thuộc về những người thừa kế, còn động sản được chuyển giao theo luật phân chia di sản tại địa phương, hoặc nếu không có luật đó, thì thuộc về họ hàng gần nhất của ông ta; nhưng nếu ông ta để lại di chúc, thì trong phạm vi mà di chúc đó có hiệu lực, nó sẽ chuyển hướng tài sản đi chéo khỏi đích đến pháp lý tự nhiên của nó. Do đó, về thực chất, mục đích thực sự của một di chúc là ngăn chặn các điều luật chi phối khối tài sản của một người sau khi chết. Nếu cha anh qua đời mà không để lại di chúc, theo nhãn quan pháp luật, anh sẽ ngay lập tức trở thành chủ sở hữu toàn bộ tài sản của ông ấy. Bản di chúc của ông ấy – bản di chúc hợp pháp – đã tước đi một phần nhỏ tài sản đó của anh để trao cho người khác. Nhưng luật pháp cực kỳ thận trọng trong việc công nhận ý định đó của người lập di chúc nhằm ngăn chặn việc áp dụng các điều luật, và yêu cầu ông ta phải chứng minh sự chân thành cùng tính kiên định của ý định ấy thông qua việc trải qua các thủ tục chính thức đã được thiết lập sẵn, chẳng hạn như đưa ý định đó vào một hình thức văn bản thích hợp mà ông ta phải ký tên và tuyên bố đó là di chúc cuối cùng của mình trước một số lượng nhân chứng có năng lực nhất định, những người mà ông ta yêu cầu ký tên với tư cách nhân chứng và thực sự ký tên trước mặt ông rõ ràng đã không làm bất kỳ điều nào trong số này khi ông đặt bức thư này vào cùng di chúc.
– Thế nhưng chẳng lẽ một bức thư không bao giờ là đủ – trong bất kỳ hoàn cảnh nào sao? – Payson hỏi.
– Ồ, – Tutt nói. – Đúng là trong một số trường hợp ngoại lệ, một người có thể lập ra thứ được gọi là di chúc miệng.
– Di chúc miệng... là cái gì thế? – thân chủ của anh ta hỏi.
– Về mặt kỹ thuật, đó là một di chúc bằng lời nói, chỉ áp dụng đối với động sản, được lập trong tình huống nguy kịch – nghĩa là, thực sự sợ hãi cái chết – và theo luật của chúng ta thì giới hạn cho các binh sĩ đang tại ngũ hoặc thủy thủ trên biển. Theo thông luật cũ, nó có hiệu lực chuyển nhượng động sản hiệu quả chẳng kém gì văn bản.
– Nhưng cha tôi không phải là binh sĩ cũng chẳng phải thủy thủ, – Payson nhận xét, – và dù sao đi nữa, một bức thư không phải là di chúc miệng; nếu nó là bất cứ thứ gì đi nữa, thì đó phải là di chúc bằng văn bản chứ nhỉ?
– Đó chính là quan điểm của pháp luật, – Tutt gật đầu. – Tất nhiên, người ta có thể biện luận rằng chẳng có gì khác biệt giữa việc một người bày tỏ mong muốn bằng lời trước mặt nhân chứng hay viết thành văn bản rồi ký tên, nhưng luật pháp rất khắt khe trong những vấn đề như vậy và người ta đã phán quyết rằng một bản di chúc được viết ra và ký bởi người lập di chúc, hoặc một bản ghi nhớ hướng dẫn lập di chúc, không thể được coi là di chúc miệng; cũng như một bản di chúc bằng văn bản do luật sư soạn thảo nhưng chưa được ký do người lập di chúc bị bệnh thì không được coi là di chúc miệng; tuy nhiên, sau khi có đủ bằng chứng – trong một trường hợp phù hợp – một văn bản chưa hoàn thiện như di chúc viết tay vẫn có thể được công nhận là di chúc miệng khi việc hoàn thành nó bị ngăn trở bởi thiên tai, hoặc bất kỳ nguyên nhân nào khác ngoài ý định từ bỏ hoặc hoãn lại việc thực hiện nó. Sự mặc định của luật pháp là chống lại tính hợp lực của một văn bản di chúc chưa hoàn chỉnh. Người lập di chúc bắt buộc phải có ý chí lập di chúc, đôi khi được suy ra từ các tình huống trong những trường hợp và tại những nơi mà di chúc miệng được công nhận. Giờ đây, cha anh như anh đã chỉ ra, không phải là binh sĩ cũng chẳng phải thủy thủ, nên không thể lập di chúc miệng dưới bất kỳ hình thức nào, ngay cả khi một bức thư có thể được pháp luật coi là một di chúc như vậy thay vì là một nỗ lực vô hiệu nhằm lập di chúc viết – điểm này tôi xin thú nhận là mình không rành. Do đó – và anh ta vứt mẩu tẩu thuốc đi với vẻ dứt khoát – bức thư để lại hai mươi lăm nghìn đô-la cho Sadie Burch này – dù cô ta là ai và ra sao – hoặc là một nỗ lực lập di chúc hoặc bổ di chúc không được pháp luật công nhận, hoặc là một nỗ lực nhằm bổ sung, thay đổi hoặc làm khác đi một di chúc đã được lập và làm chứng hợp thức bằng cách tự ý đính kèm hoặc đặt vào trong đó một văn bản ngoại lai nào khác.
Payson nhận xét: – Ồ, tôi hiểu những gì anh vừa nói về di chúc mư... miệng rồi, ý tôi là, tôi nghĩ mình đã hiểu. Nhưng gạt chúng sang một bên thì tôi vẫn không hiểu tại sao bức thư này lại không thể được coi là một phần của bản di chúc gốc.
– Lý do là vì khi cha anh thực hiện văn bản gốc, ông đã trải qua mọi hình thức mà pháp luật yêu cầu để lập di chúc. Nếu ông ấy không làm thế, nó đã chẳng phải là di chúc. Nếu tờ giấy này, vốn chưa từng được làm chứng bởi bất kỳ ai, có thể được coi là phần bổ sung hoặc thêm thắt vào di chúc, thì việc yêu cầu di chúc gốc phải có nhân chứng hóa ra lại thành vô nghĩa rồi.
– Điều đó có vẻ hợp logic, – Payson đồng tình. – Nhưng chẳng phải việc kết hợp các tài liệu khác bằng cách viện dẫn chúng trong di chúc là điều thường thấy hay sao?
– Đôi khi người ta vẫn làm vậy, và thường thì chẳng dẫn đến kết quả gì ngoài kiện tụng. Anh tự thấy rồi đấy, thật vô lý làm sao khi coi một văn bản được soạn thảo hoặc thực hiện sau khi di chúc đã thành hình là một phần của nó, vì điều đó sẽ làm cho các yêu cầu của luật pháp trở thành vô nghĩa.
Payson ngập ngừng: – Nhưng giả sử bức thư đó đã tồn tại sẵn hoặc được viết cùng lúc với bản di chúc thì sao – điều đó không làm thay đổi vấn đề à?
– Một chút cũng không! Một chút cũng không! – Tutt lanh lảnh đáp. – Pháp luật đã quy định rõ ràng rằng một văn bản như vậy chỉ có thể phát huy hiệu lực dưới một số điều kiện vô cùng đặc biệt và chỉ ở mức độ hạn chế. Dù sao thì câu hỏi đó không đặt ra ở đây.
– Sao lại không? – người thừa kế phần di sản còn lại thắc mắc. – Sao anh biết bức thư này không được viết và đặt vào trong di chúc ngay khi nó được lập? – Và rằng cha tôi đinh ninh là đương nhiên nó sẽ có hiệu lực?
– Trong trường hợp đó, tại sao ông ấy không đưa khoản di tặng đó trực tiếp vào di chúc? – Tutt sắc sảo vặn lại.
Payson cúi gằm mắt, lẩm bẩm: – Có thể... ừm... ông ấy không muốn ông Tutt biết chuyện đó.
– Ôi – khó lắm! – Tutt phản đối. – Chúng ta có thể chắc chắn về mặt đạo đức rằng bức thư này đã được viết và đặt cùng với bản di chúc vào lần cha anh ghé qua đây và xin được xem lại nó, cách đây hơn bảy năm lẻ. Ông Tutt đã nhận ra ngay nếu cha anh đặt nó vào di chúc ngay từ đầu và sẽ cảnh báo ông ấy rằng không có chuyện thứ tương tự có thể phát huy hiệu lực.
Payson nài nỉ: – Nhưng, cứ giả định vì mục đích tranh luận rằng bức thư này thực sự được viết vào thời điểm bản di chúc gốc được lập đi, thì lý do gì mà pháp luật lại không công nhận nó là một khoản di tặng hợp pháp?
Tutt mỉm cười và lục lọi trong một chiếc hộp mở để tìm một điếu thuốc khác.
– Thưa anh, – anh ta đáp, – không một văn bản nào có thể được coi là một phần của di chúc – ngay cả khi nó tồn tại vào thời điểm di chúc được lập – trừ khi được viện dẫn rõ ràng trong chính bản di chúc đó. Tóm lại, phải có một ý định rõ ràng và không thể nhầm lẫn từ phía người lập di chúc về việc cố gắng kết hợp văn bản ngoại lai đó thông qua viện dẫn. Thế nhưng ở đây, chẳng có sự viện dẫn nào tới văn bản này trong di chúc cả.
Payson thừa nhận: – Điều đó đúng! Nhưng—
– Nhưng ngay cả khi có, – Tutt hăng hái tiếp lời, – luật pháp đã quy định rõ ở bang này rằng khi một người lập di chúc – do bất cẩn hoặc muốn tiết kiệm không gian hoặc công sức – đã viện dẫn trong di chúc của mình các văn bản hoặc ghi nhớ ngoại lai, dùng để xác định tên của những người thụ hưởng các khoản di tặng hoặc thừa kế cụ thể, hoặc để xác định số tiền hoặc cách thức xác định số tiền của những khoản di tặng hoặc thừa kế đó, thì văn bản đó tuyệt đối không được chứa bất kỳ sự định đoạt tài sản nào mang tính di chúc. Nói tóm lại, người lập di chúc khi đã để lại một thứ gì đó có thể nhận diện nó thông qua một văn bản ngoại lai nếu được chỉ định đúng cách, nhưng ông ta không thể đem tài sản cho đi bằng một văn bản ngoại lai dù được viện dẫn thế nào đi nữa. Ví dụ, nếu A để lại cho B 'tất cả số cổ phiếu được bảo đảm bởi thỏa thuận ngày 1 tháng 5 của tôi với X' thì đó chỉ là mô tả và nhận diện thứ được để lại – và điều đó hoàn toàn ổn. Pháp luật sẽ thi hành thỏa thuận nhận diện đó, mặc dù nó tách biệt với di chúc và không có chữ ký làm chứng. Nhưng, nếu di chúc của A viết rằng 'và tôi trao thêm các khoản di tặng xuất hiện trong một văn bản được nộp kèm theo đây' và văn bản đó chứa một khoản di tặng cho B là 'tất cả số cổ phiếu được bảo đảm bởi thỏa thuận ngày 1 tháng 5 của tôi với X' thì đó sẽ là một nỗ lực để lại di sản nằm ngoài di chúc và do đó không có hiệu lực pháp lý.
– Cảm ơn, – Payson nói. – Tôi hiểu rồi. Vậy là trong bất kỳ hoàn cảnh nào bức thư này cũng không thể có bất kỳ hiệu lực pháp lý nào sao?
– Tuyệt đối không có bất kỳ hiệu lực nào! – Anh hoàn toàn an toàn rồi! Và Tutt ngả người ra sau với một nụ cười thoải mái.
Nhưng Payson không cười đáp lễ. Cậu ta cũng chẳng thoải mái chút nào. Phải công nhận cho cậu ta rằng, dù có ngốc nghếch cỡ nào đi nữa, thì trong khi khoảnh khắc nhẹ nhõm vì biết mình không có nghĩa vụ pháp lý phải thực hiện di nguyện của cha đối với Sadie Burch vừa qua đi, lương tâm cậu ta hoàn toàn không hề yên ổn và cậu ta không hề thích chút nào cái giọng điệu mà gã luật sư béo ú đã dùng khi thốt lên cụm từ "anh hoàn toàn an toàn rồi".
Cậu ta khá lạnh lùng hỏi: – Ý anh thế nào là "hoàn toàn an toàn"?
– Ý tôi là Sadie Burch không bao giờ có thể bắt anh phải trả khoản di tặng đó cho cô ta – bởi vì đó không phải là một khoản di tặng hợp pháp. Anh hoàn toàn có quyền giữ lại nó một cách an toàn. Nó là của anh, về cả mặt pháp lý lẫn đạo đức.
Payson chậm rãi hỏi: – Ồ, vậy sao? Về mặt đạo đức, chẳng lẽ tôi có trách nhiệm phải trao số tiền đó đi, bất kể cô ta là ai sao?
Tutt, người nãy giờ đang ngả người ra sau trên chiếc ghế xoay, đập cả hai chân xuống sàn cái rầm.
– Dĩ nhiên là không rồi! – anh ta kêu lên. – Anh điên rồi mới đi để ý đến thứ nguệch ngoạc mơ hồ và vô căn cứ đó. Nghe này, chàng trai trẻ! Trước hết, anh chẳng hề biết cha mình viết tờ giấy đó khi nào – ngoại trừ việc nó cách đây ít nhất bảy năm. Ông ấy có thể đã thay đổi ý định hàng tá lần kể từ lúc viết nó. Đó có thể chỉ là một thứ chợt lóe lên hay hứng thú nhất thời, làm trong một phút yếu lòng, xúc động hoặc mất trí tạm thời. Thậm chí, nó có thể được lập dưới sự ép buộc. Chẳng ai ngoài một vị luật sư có sự thấu hiểu sâu sắc nhất về đời sống thường ngày và công việc của thân chủ mới có mảy may nghi ngờ về... Ồ, thôi, chúng ta không bàn sâu về chuyện đó! Nhưng, vấn đề đầu tiên là trong bất kỳ trường hợp nào, anh cũng không thể khẳng định yêu cầu trong bức thư đó là mong muốn thực sự của cha anh vào thời điểm ông qua đời. Tất cả những gì anh có thể nói là vào lúc nào đó trong quá khứ, nó có lẽ từng là mong muốn của ông ấy.
– Tôi hiểu! – Payson đồng tình. – Vậy còn điểm nào khác nữa không?
– Thứ hai, – Tutt tiếp tục, – phải mặc định rằng nếu cha anh đã nhọc công thuê luật sư để soạn thảo và thực thi di chúc của mình một cách đàng hoàng, thì trước hết ông phải biết rõ rằng làm thế là cần thiết để các mong muốn của mình được thực hiện, và thứ hai, không một mong muốn nào không được lồng ghép đúng đắn vào chính bản di chúc có thể mang lại hiệu lực pháp lý. Nói cách khác, suy luận ra thì ông ấy biết tờ giấy này không có trọng lượng, và do đó phải mặc định rằng nếu ông ấy làm nó theo cách đó thì ông ấy có ý định để nó không có hiệu lực pháp lý và không có ý định bắt nó phải được thực hiện. Hiểu ý tôi chứ?
– Ồ, vâng, tôi nghĩ mình hiểu. Lập luận của anh là nếu một người biết luật mà làm một việc sao cho nó không có hiệu lực pháp lý thì phải được coi là có ý định khiến nó không có hiệu lực pháp lý.
– Chính xác, – Tutt hài lòng gật đầu. – Luật pháp rất khôn ngoan, được đúc kết từ nhiều thế hệ kinh nghiệm. Nó nhận ra sự bất định, thất thường và thay đổi của tâm trí con người – cũng như những cơ hội mà những kẻ mưu mô có thể tận dụng để lợi dụng những phút giây yếu lòng của người khác – và do đó để ngăn ngừa gian lận và đảm bảo rằng chỉ những mong muốn cuối cùng thực sự của một người mới được thực hiện, nó đòi hỏi những mong muốn đó phải được thể hiện theo một cách thức cụ thể, rõ ràng và trang trọng – bằng văn bản, có chữ ký và được tuyên bố trước các nhân chứng.
– Anh giải thích rõ ràng thật đấy! – Payson thừa nhận. – Thường thì những người thi hành di chúc sẽ làm gì trong hoàn cảnh như thế này?
– Nếu họ có đầu óc, họ sẽ để mặc mọi chuyện ở đó và để pháp luật tự lo liệu, – Tutt quả quyết đáp. – Tôi đã chứng kiến không biết bao nhiêu rắc rối...! Ngay tại văn phòng này cũng có mấy trường hợp. Một góa phụ tìm thấy một tờ giấy để cùng di chúc của chồng bày tỏ mong muốn rằng một số tiền nhất định nên được trao cho một phụ nữ đã có gia đình sống tận Duluth. Chẳng có gì chỉ ra tờ giấy được viết khi nào, mặc dù di chúc chỉ được thực hiện đúng một tháng trước khi ông ấy qua đời. Rõ ràng người quá cố đã không gặp lại người phụ nữ đó trong nhiều năm. Tôi bảo cô ấy hãy quên nó đi, nhưng cô ấy khăng khăng đòi gửi cho người phụ nữ đó một lệnh chuyển tiền với toàn bộ số tiền – mười nghìn đô-la. Cô ta giữ lại số tiền đó, đúng thế đấy! Chà, sau đó người góa phụ mới phát hiện ra rằng chồng cô đã viết tờ giấy đó từ ba mươi năm trước vào thời điểm ông ta đính hôn với người phụ nữ ấy, rằng họ đã đổi ý và mỗi người đều kết hôn hạnh phúc và tờ giấy đó cùng một vài bức thư tình cũ, như thường lệ, đã bị lẫn lộn vào di chúc thay vì phải bị tiêu hủy như lẽ ra phải thế. Anh biết đấy, thật đáng kinh ngạc, những thứ rác rưởi mà người ta giữ trong hộp ký gửi an toàn! Tôi dám cá là chín mươi chín trên một trăm chiếc hộp bán đầy những thứ vô giá trị và vô tích sự, như đồng hồ cũ, khuy măng-sét bằng đá jet của ông nội, những bức thư bác William viết từ Đất Thánh, hợp đồng bảo hiểm hỏa hoạn đã hết hạn và thư từ chẳng ai thèm đọc – mọi thứ cứ lẫn lộn cả lên – thế nhưng bất kỳ tờ giấy nào một người để lại sau khi chết cũng đều là một nguồn gây nhầm lẫn hoặc rắc rối tiềm ẩn. Và người ta không thể biết tại sao hay bằng cách nào một người vào một thời điểm cụ thể lại đi bày tỏ một mong muốn bằng văn bản. Sẽ cực kỳ nguy hiểm nếu để tâm đến nó. Giả sử nó không phải bằng văn bản. Về mặt đạo đức, một mong muốn cũng có giá trị ràng buộc tương đương khi được nói ra bằng lời so với khi được đưa vào một bức thư. Anh có lãng phí thời gian nào cho Sadie Burch nếu cô ta bước vào đây và nói rằng cha anh từng bày tỏ mong muốn cô ta được nhận hai mươi nghìn đô-la không? Chắc là không rồi!
– Tôi đoán là vậy! – Payson thừa nhận.
– Một điều nữa! – Tutt nói. – Hãy nhớ điều này, luật pháp sẽ không cho phép anh với tư cách là người thi hành di chúc của cha mình được trao số tiền này, nếu có ai khác ngoài anh là người thừa kế phần di sản còn lại. Anh không có quyền rút hai mươi nghìn đô-la khỏi khối di sản và giao nó cho cô Burch để làm tổn hại đến lợi ích của bất kỳ ai khác!
– Vậy anh nói pháp luật sẽ không cho phép tôi trả số tiền này cho Sadie Burch dù tôi có muốn hay không? – Payson hỏi.
– Không phải với tư cách là người thi hành di chúc. Với tư cách đó, anh hoàn toàn buộc phải thực hiện các điều khoản của di chúc và phớt lờ mọi thứ khác. Anh phải bảo toàn nguyên vẹn khối di sản và bàn giao nó không sứt mẻ cho người thừa kế phần di sản còn lại! – Tutt lặp lại.
– Nhưng tôi chính là người thừa kế phần di sản còn lại mà! – Payson nói.
– Với tư cách là người thi hành di chúc, anh phải trao toàn bộ nó cho chính mình với tư cách là người thừa kế phần di sản còn lại! – Tutt bướng bỉnh lặp lại, né tránh vấn đề.
– Vậy rốt cuộc tôi ở vị trí nào đây? – thân chủ của anh ta hỏi.
– Nó giúp anh thoát khỏi rắc rối còn gì? – Tutt hỏi. – Đừng tự chuốc lấy rắc rối! Đừng có – nếu anh cho phép tôi nói thế – cư xử như một kẻ ngốc!
Im lặng kéo dài vài phút, cuối cùng bị phá vỡ bởi vị luật sư, người lại quay trở lại vấn đề với sinh khí mới.
– Ôi, chuyện thế này xảy ra suốt. Lấy trường hợp thế này làm ví dụ nhé. Luật pháp chỉ cho phép một người để lại một tỷ lệ tài sản nhất định cho từ thiện – bảo rằng anh ta không nên làm thế, nếu anh ta để lại gia đình. Giờ giả sử cha anh đã cho toàn bộ tài sản của mình làm từ thiện, anh có cảm thấy buộc phải làm nghèo chính mình vì lợi ích của một Viện dưỡng lão Hải quân không?
Payson đang bối rối đáp: – Thật sự... tôi không biết. Nhưng dù sao tôi cũng thỏa mãn vì thấy anh hoàn toàn đúng và tôi vô cùng biết điều đó. Tuy nhiên, – cậu ta ngẫm nghĩ nói thêm, – tôi khá tò mò muốn biết Sadie Burch này là ai!
– Nếu tôi là anh, chàng trai trẻ, – vị luật sư khôn ngoan khuyên nhủ, – tôi sẽ không cố tìm hiểu làm gì!
Payson Clifford rời khỏi văn phòng của Tutt & Tutt với thái độ chống đối định mệnh và bực bội với gia đình hơn cả lúc bước vào. Cậu ta thấy mình được chu cấp ít thoải mái hơn nhiều so với dự tính, và ấn tượng khó chịu do đám họ hàng bên nội tưởng tượng ra tại đám tang của cha mình càng bị khoét sâu thêm bởi bức thư liên quan đến Sadie Burch. Có điều gì đó thậm chí còn mang tính bình dân một cách xúc phạm hơn cả cái tên Weng thô tục kia. Giá như cậu ta chỉ phải cân nhắc tính hợp lý của việc chi một khoản tiền lớn cho một quý cô mang một cái tên tao nhã hoặc ít nhất là phong nhã như Claire Desmond hay Lillian Lamar thì đã đành – đằng này lại là Sadie! Lại còn Burch! Hỡi các vị thần linh! Thật đê tiện, thật tầm thường. Thật là một phát hiện hay ho về chính cha mình!
Khi cậu ta thong thả đi dọc đại lộ Fifth Avenue về khách sạn của mình, phải thú nhận rằng những suy nghĩ của cậu ta về ký ức về người cha chẳng có chút hiếu thảo nào. Cậu ta tự nhủ rằng mình luôn nghi ngờ có điều gì đó lén lút ở ông cụ, người chắc hẳn đã mang ơn một cách kỳ lạ và phi thường đối với một người phụ nữ mà ông muốn con trai mình giao lại hai mươi lăm nghìn đô-la. Đó suýt soát là một nửa toàn bộ gia tài của ông! Sẽ làm giảm thu nhập của cậu ta từ khoảng bốn nghìn xuống còn gần hai nghìn! Càng ngẫm nghĩ về vấn đề này, những lập luận của vị luật sư càng tỏ ra hoàn toàn thuyết phục. Dù sao thì luật sư cũng biết nhiều hơn người khác về những chuyện như thế. Bạn trả tiền cho họ để nhận lời khuyên, và chắc chắn cậu ta sẽ phải trả tiền cho Tutt về chính chủ đề này, nghe có vẻ là một lý do khá hay để làm theo. Không, cậu ta sẽ gạt Sadie Burch và bức thư đó ra khỏi tâm trí vĩnh viễn. Rất có thể cô ta đã chết rồi, bất kể cô ta là ai. Bốn nghìn một năm! Không phải là một mức thu nhập tồi cho một kẻ độc thân!
Và trong lúc chàng Lancelot trẻ tuổi ngây thơ của chúng ta lê bước về khu phố uptown, cõi lòng trở nên chai sạn trước Sadie Burch, thì tình cờ thay, người phụ nữ ấy lại xuất hiện trong một cuộc trò chuyện ngắn ngủi nhưng đầy sức nặng giữa ông Ephraim Tutt và cô Minerva Wiggin ngay ngưỡng cửa căn phòng mà cậu vừa rời đi.
Cô Wiggin không bao giờ tin tưởng ai ngoài chính mình khi khóa cửa văn phòng, kể cả ông Tutt, và vào buổi tối đặc biệt này, cô đã lấy đó làm cái cớ để nán lại sau khi những người khác đã về nhà và chặn đường ông. Những cuộc chạm trán như vậy không hề hiếm và thường có liên quan đến khía cạnh đạo đức của một số thủ tục pháp lý dự kiến nào đó của hãng luật.
Cô Minerva coi Samuel Tutt về mặt đạo đức là một kẻ đồi bại và vô phương cứu chữa. Còn ông Ephraim Tutt, cô đem lòng yêu mến với một sự tận tụy hiếm thấy ở một giới mà sự tận tụy vốn dĩ là một đặc tính phổ biến, nhưng ẩn trong tình cảm đó là một phẩm chất mẫu tử xuất phát từ thực tế rằng mặc dù ông Tutt quả thực đã lớn tuổi, nhưng đôi khi ông lại có một sự bướng bỉnh tinh quái, giống như yêu tinh Puck, vô cùng trẻ con, và những lúc như vậy cô cảm thấy bản thân có trách nhiệm phải chấn chỉnh lại ông vì lòng tự trọng của chính mình. Do đó, bất cứ khi nào Tutt có vẻ đang ấp ủ một mưu đồ lách luật nào đó có vẻ tinh vi và xuôi tai hơn bình thường, cô đều làm cho ra lẽ để thu hút sự chú ý của ông Tutt. Ngoài ra, bất cứ khi nào, giống như trong trường hợp hiện tại, cô cảm thấy rằng bằng cách làm theo lời khuyên của thành viên trẻ tuổi trong hãng, một thân chủ sắp bước vào một doanh nghiệp mờ ám hoặc cách hành xử đáng ngờ nào đó, cô đều cố gắng vô hiệu hóa ảnh hưởng của anh ta bằng cách kêu gọi người đứng đầu hãng luật.
Trong cuộc trao đổi giữa Tutt và Payson Clifford, cánh cửa đã mở và cô đã nghe thấy toàn bộ; hơn nữa, sau khi Payson rời đi, Tutt đã gọi cô vào và bàn thảo lại tình hình. Và cô coi lời khuyên của Tutt dành cho thân chủ của mình – không phải khía cạnh thuần túy pháp lý của nó, mà là phần cá nhân và mang tính thuyết phục của nó – là một sự can thiệp vào quyền tự do lương tâm của chàng thanh niên đó.
– Ôi chao! – Người chủ nhân thốt lên khi cô đối mặt với ông ở văn phòng ngoài. – Tôi không biết cô vẫn còn ở đây đấy, Minerva! Có chuyện gì đang làm cô lo lắng à?
– Không đến mức nguy hiểm! – cô mỉm cười đáp. – Và có lẽ đó chẳng phải việc của tôi—
– Việc của cô chính là việc của tôi, em yêu! – ông đáp. – Không có cô thì Tutt & Tutt sẽ không còn là Tutt & Tutt. Đối tác trẻ tuổi của tôi có thể là đôi mắt và đôi chân của hãng luật này và tôi có thể là một bộ phận giải phẫu nào đó khác, nhưng cô chính là trái tim và lương tâm của nó. Nói đi! Âm mưu bất chính nào sắp xảy ra? Con chim báo điềm gở nào đang lượn lờ trên văn phòng của Tutt & Tutt đây? Xin hãy tha cho một ông già đang oằn mình dưới những nỗi buồn của thế giới này! Phải chăng người cộng sự ranh ma của tôi đã xúi giục việc cướp ngân hàng hay bắt cóc đứa con mồ côi của một góa phụ?
– Chẳng có gì tồi tệ đến thế đâu! – cô đáp trả. – Chỉ là chiều nay ông Samuel Tutt đã dùng sức ảnh hưởng của mình để cố gắng thuyết phục một chàng trai trẻ không thực hiện mong muốn của cha anh ta – được thể hiện bằng một cách thức không có hiệu lực pháp lý – và tôi nghĩ anh ấy đã thành công – mặc dù tôi không chắc lắm.
– Chắc đó là Payson Clifford rồi, – ông Tutt đáp. – Mong muốn của người cha là gì thế?
– Ông Tutt tìm thấy một bức thư trong bản di chúc, trong đó người cha yêu cầu con trai trao hai mươi lăm nghìn đô-la cho một cô Sadie Burch.
– Cô Sadie Burch! – ông Tutt lặp lại. – Và cô ta là ai?
– Chẳng ai biết cả, – cô Wiggin nói. – Nhưng dù cô ta là ai, trách nhiệm của chúng ta dừng lại ở việc thông báo cho ông Payson Clifford biết rằng bức thư không có hiệu lực pháp lý. Ông Tutt đã đi xa hơn thế và cố gắng xúi giục ông Clifford không tôn trọng yêu cầu có trong đó. Việc đó, theo tôi thấy, là đi quá xa rồi. Anh không nghĩ vậy sao?
– Cô chắc chắn là mình chưa từng nghe về cô Burch này chứ? – ông Tutt đột nhiên hỏi, nheo mắt nhìn cô sắc sảo từ dưới hàng chân mày rậm.
– Chưa từng, – cô đáp.
– Hừm! – ông Tutt thốt lên. – Lại có bóng hồng vướng vào chuyện này!
– Payson Clifford này là loại thanh niên thế nào? – cô Wiggin hỏi sau một thoáng.
– Ồ, cũng chẳng ra cái tích sự gì! – ông Tutt dí dỏm đáp.
– Thế còn người cha thì sao? – cô tiếp tục với sự tò mò của phụ nữ.
– Rõ ràng là ông ấy cũng chẳng có gì to tát, – ông Tutt đáp.
Trước đây chúng ta đã có dịp bàn luận về việc không có thân chủ nào, dù nam hay nữ, tham khảo ý kiến luật sư về những việc họ nên làm. Phụ nữ, thường sau khi đã quyết định làm những việc không nên làm, lại cố gắng tìm kiếm sự chấp thuận của luật sư đối với tội lỗi sắp tiến hành; nhưng trong khi luật sư đôi khi được gọi để củng cố một lương tâm tội lỗi, hiếm khi họ được thành tâm mời gọi làm cố vấn tâm linh. Hầu hết đàn ông tồi tệ hơn luật sư của họ, nên họ thích không để cho luật sư nhìn thấu mình. Nếu họ đã quyết định làm một việc đê tiện, họ không muốn mạo hiểm để luật sư khiến họ cảm thấy xấu hổ mà từ bỏ. Đó là việc riêng của họ. Và đúng là nên thế! Luật pháp đã đưa ra đủ những vấn đề nan giải cho luật sư rồi, hà cớ gì họ phải tự chuốc lấy rắc rối trong những sự phức tạp mập mờ từ đạo đức của thân chủ! Dù sao đi nữa, đó là cách nhìn nhận thông thường của một luật sư và đó là cách để giữ chân thân chủ. Cứ làm những gì được chỉ đạo – miễn là đừng quá lộ liễu! Hãy đặt câu hỏi về tính đúng đắn trong hành động của họ và dù thân chủ có thể nghe theo lời khuyên của bạn trong trường hợp cụ thể này, có lẽ họ sẽ không bao giờ quay lại nữa.
Khía cạnh nghịch lý trong vấn đề của ông Tutt là trong khi ông nổi tiếng là một luật sư hình sự, bất cứ khi nào được hỏi ý kiến, ông đều quan tâm đến nghĩa vụ đạo đức của thân chủ nhiều không kém gì nghĩa vụ pháp lý của họ. Lý do khá tinh tế cho điều này có lẽ nằm ở chỗ vì ông thấy luật pháp quá dễ lách, ông thích phớt lờ nó hoàn toàn như một tiêu chuẩn trừng phạt hành vi và chỉ tự hỏi bản thân: "Giờ thì đây có phải là điều mà một tay chơi thể thao và một quý ông sẽ làm không?" Việc một người là tội phạm kỹ thuật chẳng có ý nghĩa gì với ông cả; điều ông quan tâm là người đó có phải là một kẻ "hèn hạ" hay không. Nếu có, mặc kệ hắn! Tóm lại, ông áp dụng vào bất kỳ tình huống nào luật pháp như lẽ ra phải thế chứ không phải luật pháp như nó đang tồn tại. Một tiêu chuẩn thật dễ dãi và linh hoạt! các bạn mỉm cười châm biếm nói vậy. Các bạn thực sự nghĩ thế sao? Có thể có bốn mươi bộ luật khác nhau về cùng một chủ đề ở ngần ấy tiểu bang khác nhau trong liên minh chính trị của chúng ta, nhưng bạn sẽ tìm thấy bao nhiêu quan điểm khác biệt về một vấn đề đạo đức duy nhất trong số ngần ấy công dân? Bộ quy tắc đạo đức của những người đàng hoàng thực ra giống nhau trên toàn cầu, và về bản chất nó chưa hề thay đổi kể từ thời của Hammurabi. Ý tưởng của các quý ông và những người chơi thể thao về việc điều gì "nên làm" và điều gì "không nên làm" chưa hề thay đổi kể từ khi Fabius Tullius bắt chim nhép ở đầm lầy Pontine.
Ông Tutt là một kẻ gàn dở về chủ đề chung này và ông đẩy lòng nhiệt thành của mình đi xa đến mức luôn lao vào đâm chém như Don Quixote đối với bất kỳ cối xay gió tưởng tượng nào, kéo theo một Sancho Panza vô cùng bất đắc dĩ dưới hình dạng người đối tác miễn cưỡng của ông. Hơn nữa, ông dành một sự đồng cảm sâu sắc cho mọi loại kẻ cùng đinh, coi hầu hết họ là nạn nhân của tội lỗi do chính cha mẹ họ hoặc cha mẹ người khác gây ra. Thế nên khi hay tin từ cô Wiggin rằng Tutt đã cả gan can thiệp vào triển vọng tài chính của cô Sadie Burch vô danh, ông tỏ ra vô cùng bất bình, tất nhiên là ít vì cô ta hơn mà vì thân chủ của mình, người mà ông coi như nằm dưới sự bảo bọc của mình. Và, thật khéo làm sao, đối tượng gây ra nỗi bất bình của ông, vì quên mất thứ gì đó, vào khoảnh khắc ấy lại bất ngờ bước trở lại văn phòng để lấy lại.
– Ồ, chào ông Tutt! – cậu ta thốt lên. – Vẫn chưa về sao?
Đối tác lớn tuổi của cậu ta liếc nhìn sắc sảo, trong khi cô Wiggin vội vã lách người vào hành lang.
– Này Tutt! – ông Tutt nói. – Tôi không biết chính xác anh đã nói gì với cậu Clifford trẻ tuổi, hay anh đã nhúng tay vào chuyện riêng tư của người ta thế nào, nhưng nếu anh đã thuyết phục cậu ta phớt lờ bất kỳ mong muốn nào của cha mình được thể hiện rõ ràng bằng chính chữ ký của ông và được lồng ghép vào di chúc, thì anh đã đi quá xa so với quyền hạn của mình rồi.
– Nhưng, – Tutt phản biện, – anh biết việc nhúng tay vào những chuyện thế này nguy hiểm thế nào mà. Kinh nghiệm của chúng ta chắc chắn cho thấy việc để pháp luật giải quyết mọi vấn đề còn hơn là cố đoán xem ý định lập di chúc cuối cùng của một người đã khuất thực sự là gì. Anh không nhớ vụ Dodworth sao? Một lương tâm quá nhạy cảm đã khiến thân chủ góa phụ của chúng ta mất mười nghìn đô-la! Tôi bảo rồi, hãy để mọi chuyện yên ổn đi.
– 'Yên ổn'! 'Yên ổn'! – ông Tutt gầm gừ. – Anh định tự phong mình làm thẩm phán cho điều gì là yên ổn với tâm hồn của một chàng trai trẻ à? Tôi cảnh báo trước cho anh đấy, Tutt: cậu ta đã nghe phía của anh rồi, nhưng trước khi kết thúc, cậu ta sẽ được nghe cả phía của tôi nữa!
Samuel Tutt chuyển sang màu hồng nhạt ở vùng cổ áo.
– Ồ, tất nhiên rồi, thưa ông Tutt! – cậu ta lắp bắp. – Cứ làm thế đi, bằng mọi giá!
– Cậu nói chuẩn không cần chỉnh! – ông Tutt đáp, đội sụp chiếc mũ chóp cao lên.
Tuy nhiên, vài ngày trôi qua mà chủ đề này không được nhắc lại thêm lần nào, trong khi các thủ tục thích hợp để khai nhận di sản vẫn được tiến hành như thường lệ. Tình thế tiến lưỡng nan của Payson Clifford không gây ra phản ứng pháp lý nào. Cậu ta đã hạ quyết tâm và sẽ giữ vững lập điểm đó. Cậu ta đã tham vấn ý kiến luật sư và hoàn toàn hài lòng với những gì mình đã làm. Dù sao thì cũng chẳng ai biết chuyện này đâu. Khi thời điểm thích hợp đến, cậu ta sẽ đốt bức thư của Sadie Burch và quên quách đi Sadie Burch. Nghĩa là, cậu ta nghĩ mình sẽ làm vậy và có thể làm vậy. Nhưng – như Plautus đã nói: "Nihil est miserius quam animus hominis conscius."
Bạn thấy đấy, Payson Clifford, sau khi được gửi đến một ngôi trường tử tế và một trường đại học tử tế, bất kể cha cậu ta có là một gã tồi hay không, cũng đã ngấm ngầm một ý thức về danh dự. Dù cậu ta có đấu tranh chống lại nó thế nào đi nữa, bóng ma của Sadie Burch vẫn cứ len lỏi vào tâm trí cậu ta. Có rất nhiều khả năng! Giả sử cô ta đang lâm vào cảnh cùng cực thì sao? Chẳng lẽ cậu ta không nên tìm hiểu về cô ta hay sao? Không, tuyệt đối cậu ta không muốn biết bất cứ điều gì về cô ta! Giả sử cô ta thực sự đã dịch vụ nào đó cho cha mình mà cô ta xứng đáng được đền đáp như ông đã từng cố gắng đền đáp cô ta thì sao? Những suy nghĩ này cứ xâm chiếm tâm trí Payson vào lúc cậu ta ít mong muốn nhất, nhưng chúng không làm cậu ta thay đổi ý định vơ vét toàn bộ khối di sản còn lại của cha mình và giữ lại cho mình. Như bạn thấy đấy, cậu ta có lương tâm, nhưng nó không thể chống lại hai mươi lăm nghìn đô-la được củng cố bởi những lập luận pháp lý hoàn hảo.
Không, cậu ta có một cái cớ chính đáng để không trở thành một quý ông và một tay chơi thể thao, và cậu ta không có ý định tìm kiếm bất kỳ lý do nào để hành động khác đi. Rồi bất ngờ cậu ta được mời đến ăn tối bởi ông Ephraim Tutt trong một ngôi nhà cũ kỹ xiêu vẹo kỳ lạ trên phố Tây Hai mươi ba với những lan can hiên bằng sắt trang trí phủ đầy những thân cây héo khô của những giàn hoa tử đằng đã chết từ lâu, và điều gì đó đã xảy ra với cậu ta. "Bữa tối Hai mươi lăm nghìn đô-la của Payson Clifford". Cậu ta hoàn toàn không ngờ tới những gì sắp đến với mình khi đến đó – đến chỉ vì ông Tutt là một trong số rất ít bạn bè của cha mình mà cậu ta biết. Và cậu ta đối với vị luật sư già vẫn giữ cái thái độ bề trên tương tự như khi đối với ông cụ. Đó sẽ có lẽ là một bữa tối tồi tệ tiếp theo là một buổi tối nhàm chán đến phát ngấy với một lão hóa thạch hít thuốc lá lẩm cẩm, kẻ sẽ kể cho cậu ta nghe những câu chuyện dài dòng, lan man về New York trông như thế nào khi có những con dê hoang dã ở Công viên Trung tâm.
Tuy nhiên, lão hóa thạch hít thuốc lá kia hoàn toàn không đả động gì đến New York xưa hay dê hoang dã – thứ gần nhất với nó chính là thói ăn chơi trác táng. Thay vào đó, ông bắt đầu buổi tối ảm đạm bằng cách mở một chiếc tủ trên tường thư viện và lộ ra ba chai rượu dài, từ đó ông rót đầy một phần chiếc bình bạc sáng loáng chứa đầy đá đập nhỏ. Ông lắc chiếc bình này với kỹ năng và sự mạnh mẽ đến kinh ngạc, đồng thời phát ra những tiếng kêu lớn "Miranda! Lên lấy bạc hà!" Sau đó, một người phụ nữ da màu đẫy đà mặc áo vải calico – với nụ cười làm nên thương hiệu của Dì Sallie – xuất hiện, thở hồng hộc với hai chiếc ly lớn và một bó rau xanh trên chiếc khay bạc, vị hóa thạch già liền rót ra một thứ dung dịch đang sủi bọt – mà chỉ còn lại ký ức – thực hiện một nghi thức trên mỗi chiếc ly bằng chỗ rau xanh thơm phức, mỉm cười trìu mến với thành quả của đôi tay mình và cất lời chào hiếu khách: – Nào, con trai! Rất vui được gặp con! – Nâng ly nào!
Gần như ngay lập tức, một thứ từ tính động vật lành tính lan tỏa trong lồng ngực của Payson Clifford, và từ lồng ngực lan tỏa qua các động mạch và tĩnh mạch, các tiểu động mạch và tiểu tĩnh mạch, đến tận cùng con người cậu ta. Cậu ta nhận ra ngay lập tức rằng ông Tutt không phải là một người bình thường và ngôi nhà của ông không phải là một ngôi nhà bình thường; và ấn tượng này càng được củng cố khi, ngồi bên chiếc bàn gỗ gụ sáng bóng của người chủ nhà với những món đồ thủy tinh cắt dày và đồ bạc cổ kỳ lạ, cậu ta phát hiện ra Miranda không phải là một đầu bếp bình thường. Cậu ta bắt đầu cảm thấy tự hào vì đã khám phá ra ông Tutt này, người đã ép cậu ta ăn những con hàu mọng nước và món hầm rùa, kèm theo một chai rượu Krug '98 đang sủi bọt. Cậu ta thấy mình sở hữu một sự thèm ăn kinh ngạc và một cơn khát vô bờ bến. Những ngọn đèn gas trên chiếc chùm đèn bằng đồng cổ chói lọi như một dải ngân hà gồm những mặt trời rực rỡ trên đầu cậu ta và sưởi ấm cậu ta từ trong ra ngoài. Và sau món rùa, Miranda mang lên một con gà tây rừng đang bốc khói với hai con chim cút nướng nhét bên trong, được dọn kèm mứt nam việt quất, bánh gạo và khoai lang chiên trong đường tan chảy. Sau đó, tựa như trong mơ, cậu ta nghe thấy một tiếng nổ làm thỏa mãn tâm hồn và Miranda đặt một chiếc ly cao màu hổ phách bên cổ tay cậu ta và rót đầy loại rượu vang đỏ hồng sủi tăm của vùng Burgundy cổ kính. Cậu ta nghe thấy chính mình đang kể cho ông Tutt nghe mọi điều về bản thân – những bí mật thầm kín nhất trong tim – và thấy ông Tutt đang chăm chú lắng nghe, gần như đầy vẻ tôn kính. Cậu ta nhận ra mình đang tạo ra một ấn tượng kinh ngạc cho ông Tutt, người rõ ràng nghĩ cậu ta là một nhân vật vĩ đại; và sau khi để ông ta hoài nghi hợp lý một lúc, cậu ta khiêm tốn thừa nhận với ông Tutt rằng đúng là như thế. Sau đó cậu ta uống thêm vài ly rượu Burgundy và ăn một đống bánh quế khổng lồ phủ si-rô phong. "Ta đang ở thị trấn đấy, cưng ơi!" Ông Tutt lúc này đã lớn lên vài cỡ – cả căn phòng ngập tràn hình bóng ông. Cuối cùng cậu ta uống cà phê đen và một ít rượu port. Đó là một dịp, cậu ta khẳng định – ừm – lúc nào thời tiết cũng đẹp – hoặc đại loại thế – khi những người bạn tốt tụ tập lại với nhau! Cậu ta tuyên bố với một sự nhấn mạnh hoàn toàn không cần thiết, nhưng dù sao cũng chẳng làm cậu ta bận tâm, rằng có quá ít người đàn ông như họ trên thế giới này – những người có lợi thế về giáo dục – những người có lý tưởng. Cậu ta nói với ông Tutt rằng cậu ta yêu ông. Cậu ta không còn cha nữa, và rõ ràng dựa dẫm vào những cuộc tiếp đãi tương tự trong tương lai, cậu ta muốn ông Tutt nhận làm cha đỡ đầu. Ông Tutt rộng lượng đồng ý đảm nhận vai trò đó và bước đầu tiên là hỗ trợ vị khách của mình đi lên lầu vào thư viện nơi ông mở cửa sổ ra vài inch.
Chẳng mấy chốc, Payson không biết chính xác bằng cách nào, họ bắt đầu bàn luận về cuộc sống – và ông Tutt trầm ngâm nói rằng suy cho cùng những điều duy nhất thực sự có giá trị là lòng trung thành, lòng dũng cảm và sự tử tế – và rằng một chút sự đồng cảm của con người vươn ra ngay cả trong những thứ thoạt nhìn có khi sai hướng thường mang lại nhiều điều tốt đẹp hơn – tạo nên nhiều hạnh phúc thực sự hơn – so với cả những tổ chức từ thiện hiệu quả nhất. Ông nói về sự cô đơn của tuổi già – sự cô đơn tất yếu của tâm hồn con người – cơn khát tình cảm mỗi ngày. Và rồi họ chuyển sang chuyện đại học, và ông Tutt tiện miệng hỏi xem Payson có gặp nhiều người cha của mình không, người mà ông nhân cơ hội nhận xét là một hình mẫu tốt về một con người làm ăn ngay thẳng, trung thực và chăm chỉ.
Payson, đang hút điếu xì-gà thứ ba và thỉnh thoảng nhấp một ngụm cognac, bắt đầu có cái nhìn tốt đẹp hơn về ông bố già của mình. Cậu ta thực sự đã chưa dành sự quan tâm đúng mức cho ông. Cậu ta thừa nhận điều đó với ông Tutt – với những giọt nước mắt thực sự đầu tiên trong mắt kể từ khi rời Cambridge; – có lẽ, nếu cậu ta ở bên ông nhiều hơn thì... Nhưng ông Tutt lại bẻ hướng khác – lần này là về giáo dục đại học; chức năng vô giá của trường đại học, theo ông, là bảo tồn nguyên vẹn và không tỳ vết trong một thời đại vật chất những lý tưởng tinh thần được thừa kế từ quá khứ.
Payson nhiệt tình đồng ý với quan điểm có phần tầm thường này. Cậu ta tiếp tục đồng tình với một sự nhiệt tình tương đương khi người chủ nhà đưa ra học thuyết rằng suy cho cùng việc giữ cho danh dự của mình không tỳ vết mới là điều duy nhất thực sự quan trọng. Tuyệt đối đúng! Payson tuyên bố, trong khi để ông Tutt ép mình uống thêm một ly rượu port.
Payson, bất chấp những giọt mồ hôi lấm tấm trên trán và lớp sương mờ quanh những ngọn đèn gas, bắt đầu cảm thấy mình rất ra dáng một người từng trải – có lẽ không phải là "tay uống sáu chai" nhưng – và cậu ta mỉm cười tự mãn – là một "tay uống hai chai". Nếu cậu ta sống trở lại những ngày tháng thể thao tốt đẹp ngày xưa rất có thể cậu ta còn làm tốt hơn. Nhưng cậu ta đã xử lý xong hai chai đầy rồi còn gì? Ông Tutt đáp rằng cậu ta đã xử lý chúng cực kỳ tốt là đằng khác. Và với màn dạo đầu này, vị luật sư già lao vào chủ đề ưa thích của mình – rằng trên thế giới này chỉ có hai loại đàn ông – quý ông, và những kẻ không phải quý ông. Điều làm nên một quý ông là sự hào hiệp và lòng trung thành – sự sẵn sàng hy sinh mọi thứ – thậm chí cả mạng sống – cho một lý tưởng. Người anh hùng là kẻ không bao giờ tính toán cái giá phải trả cho bản thân. Đó là lý do tại sao mọi người tôn sùng các vị thánh, ca tụng các hiệp sĩ, và ngưỡng mộ những tay cờ bạc hào phóng sẵn sàng đặt cược cả gia tài vào một ván bài. Thậm chí còn có, ông khẳng định, một yếu tố tâm linh trong sự vô tâm đối với tiền bạc của tay cờ bạc.
Lý thuyết này thu hút sự quan tâm lớn của Payson, kẻ vẫn luôn có một sự say mê ngầm, lén lút dành cho những tay cờ bạc. Dựa vào đó, cậu ta nhắc đến Charles James Fox – đó mới là một quý ông và một tay chơi thể thao thực thụ dành cho anh! Không phải kẻ yếu đuối – mà là một gã sáu chai ầm ĩ – với một bộ óc lớn và một ý thức danh dự vô cùng khắt khe. Đúng thế, thưa ngài! Charley Fox mới là mẫu người đúng đắn! Cậu ta khéo léo ngầm ám chỉ rằng Charley và cậu ta cùng chung một giống loài. Tại điểm này, ông Tutt, sau khi đã cẩn thận trói buộc vị khách của mình vào một tiêu chuẩn đạo đức xa rời tư lợi nhất có thể, liền mở cửa sổ rộng thêm vài inch, thong thả đi về phía lò sưởi, châm một điếu xì-gà mới và dang rộng đôi chân dài trước ngọn lửa than biển giống như một bức tượng Colossus xứ Rhodes kéo dài. Ông bắt đầu chiến dịch phản công ngầm vô cùng đê tiện đối với lời khuyên của người đối tác bằng cách ca ngợi Payson là một người mà lời nói, phong thái và diện mạo đã tuyên bố với thế giới rằng anh ta là một tay chơi thể thao thực thụ và một kẻ đàng hoàng chính hiệu. Từ màn dạo đầu nịnh hót đó, ông tự nhiên chuyển sang triển vọng và mục tiêu sống của kẻ đàng hoàng chính hiệu đó. Ông tin rằng Payson Clifford Senior đã để lại một khối tài sản đủ lớn để Payson Junior hoàn thành việc học của mình tại Harvard chứ? – Ông quên mất, và thú thực là không nhớ rõ phần di sản còn lại trị giá bao nhiêu. Sau đó ông quay người lại phía lò sưởi, đá nhẹ vào nó, gạt tàn thuốc ở đầu điếu xì-gà và chờ đợi – để cho vị khách có cơ hội lấy lại bình tĩnh – bởi vì ông Payson Clifford bỗng nhiên chuyển sang một màu da kỳ lạ, do thực tế là cậu ta bất ngờ phải đối mặt với nhu cầu phải quyết định dứt khoát ngay tại chỗ đó xem mình sẽ đứng về phía những kẻ đàng hoàng hay bọn hạng hai, tầng lớp quý ông hay lũ đê tiện, dòng dõi C.J. Fox hay Benedict Arnold của nhân loại. Cậu ta không hoàn toàn là hàng thật, một gã nhóc tự mãn rỗng tuếch nếu bạn thích thế, nhưng mặt khác cậu ta hoàn toàn không phải là một kẻ tồi. Nói tóm lại, cậu ta cũng giống như tất cả chúng ta mà thôi. Và cậu ta chưa sẵn sàng ký vào bản cam kết ngay lúc này. Cậu ta nhận ra mình đã tự đặt bản thân vào thế bất lợi, nhưng cậu ta sẽ không nhúng tay cam kết bất cứ điều gì cho đến khi có cơ hội tốt để suy nghĩ mọi chuyện thật thấu đáo. Trong vòng ba mươi giây, cậu ta tỉnh táo như một vị thẩm phán – và là một vị thẩm phán cực kỳ tỉnh táo.
– Ông Tutt, – cậu ta nói bằng một giọng điệu hoàn toàn khác. – Tôi đoán là mình vừa nói phét hơi quá đà – vượt quá thực lực của tôi rồi. Thực tế là tôi đang gặp phải một vấn đề của riêng mình đang làm tôi bận tâm rất nhiều.
Ông Tutt hiểu ý gật đầu.
– Ý cậu là Sadie Burch.
– Vâng.
– Chà, vấn đề là gì nào? Cha cậu muốn cậu đưa tiền cho cô ấy cơ mà, phải không?
Payson ngập ngừng. Những gì cậu ta sắp nói nghe có vẻ quá giả dối, dù cho nó xuất phát từ Tutt & Tutt.
– Làm sao tôi thực sự biết được ông ấy muốn gì? Ông ấy có thể đã thay đổi ý định hàng chục lần kể từ lúc đặt nó vào di chúc.
– Nếu đã vậy thì ông ấy đã không để nó ở đó nữa, đúng không nào? – ông Tutt mỉm cười hỏi.
– Nhưng có lẽ ông ấy đã quên bén đi mất – không nhớ là nó nằm ở đó, – cậu thanh niên vẫn kiên quyết bám lấy Tutt em. – Và, nếu không thì ông ấy đã xé nó đi rồi.
– Điều đó cũng có thể đúng tương tự đối với các điều khoản trong di chúc của ông ấy, phải không nhỉ? – vị luật sư vặn lại.
– Nhưng, – Payson cựa quậy, cố gắng nhớ lại các lập luận trước đó của Tutt vốn rất thuyết phục, – ông ấy biết di chúc phải được lập thế nào và vì ông ấy cố tình phớt lờ việc lập văn bản đó theo đúng thủ tục pháp lý, chẳng lẽ không công bằng khi phỏng đoán rằng ông ấy không có ý định bắt nó phải mang lại hiệu lực pháp lý sao?
– Đúng vậy, – ông Tutt điềm tĩnh đáp, – tôi đồng ý với cậu rằng thật công bằng khi phỏng đoán rằng ông ấy không có ý định bắt nó mang lại hiệu lực pháp lý.
– Vậy thì! – Payson hân hoan thốt lên.
– Nhưng, – vị luật sư tiếp tục, – điều đó không chứng minh rằng ông ấy không có ý định bắt nó mang lại hiệu lực đạo đức – và mong đợi cậu tôn trọng và tuân theo những ước nguyện của ông, giống như thể ông đã thì thầm chúng vào tai cậu với hơi thở cuối cùng.
Có một điều gì đó trong phong thái của ông, dẫu rất lịch sự nhưng phảng phất nét nghiêm nghị, khiến Payson cảm thấy bẽ mặt. Cậu ta nhận ra mình không thể để ông Tutt coi mình là một kẻ đê tiện – trong khi bản thân thực chất là một C.J. Fox. Và trong lúc vùng vẫy trong tâm trí, bộ não cậu ta đã chạm đến chiếc phao cứu sinh logic duy nhất trong toàn bộ cuộc tranh cãi.
– À! – cậu ta nói ra vẻ chân thành. – Trong trường hợp đó, tôi phải biết chắc chắn rằng đó thực sự là những mong muốn của cha tôi.
– Chính xác! – ông Tutt đáp. – Và cậu sẽ thực hiện chúng mà không mảy may do dự.
– Dĩ nhiên rồi! – Payson nhượng bộ.
– Thế thì toàn bộ vấn đề nằm ở chỗ liệu văn bản này có thực sự thể hiện mong muốn của ông ấy hay không. Vấn đề đó là một vấn đề thực sự, và chỉ một mình cậu mới có thể giải quyết nó – và, dĩ nhiên, cậu đang gặp bất lợi vì có lợi ích tài chính trong kết quả đó, điều này làm cho nó khó khăn gấp bội.
– Dù sao đi nữa, – cậu thanh niên vẫn khăng khăng, – tôi muốn công bằng với chính mình.
– —Và công bằng với ông ấy nữa, – ông Tutt trang trọng bổ sung. – Việc mong muốn này không được thể hiện theo cách có tính ràng buộc pháp lý lại càng làm cho nó mang tính ràng buộc cao hơn. Theo một cách nào đó, tôi đoán đó là sự xui xẻo của cậu. Cậu có thể, có lẽ thế, chống lại một điều khoản trong di chúc. Cậu không thể chống lại điều này – hay phớt lờ nó được đâu.
– Tôi hoàn toàn không hiểu tại sao cái này lại có tính ràng buộc cao hơn một điều khoản trong chính bản di chúc! – Payson phản đối.
Ông Tutt ném điếu xì-gà vào đống lửa và lục tìm một điếu khác trong chiếc hộp dài trên bàn thư viện.
– Có thể là không, – ông nhượng bộ, – nhưng tôi luôn thích giai thoại ngụy biện được gán cho Sheridan, kẻ đã trả các món nợ cờ bạc của mình và để gã thợ may phải chờ đợi. Cậu còn nhớ câu chuyện đó chứ? Khi gã thợ may đòi lý do cho việc này, Sheridan bảo hắn rằng món nợ cờ bạc là món nợ danh dự còn hóa đơn của thợ may thì không, vì đối thủ may mắn của hắn ta trên chiếu bạc chỉ có lời hứa trả tiền của hắn, trong khi gã thợ may sở hữu một vụ kiện đòi khoản tiền mà hắn có thể theo đuổi trước tòa.
– 'Trong trường hợp đó!' gã thợ may tuyên bố, 'Tôi sẽ xé hóa đơn của mình!' và hắn đã làm thế, và Sheridan ngay lập tức trả tiền cho hắn. Cậu có muốn làm thêm một ngụm brandy nữa không?
– Không, cảm ơn anh! – Payson đáp. – Trời cũng khuya rồi và tôi phải đi đây. Tôi... tôi đã có một khoảng thời gian hoàn toàn... ừm... tuyệt vời!
– Lần sau cậu phải ghé lại sớm nhé! – ông Tutt nồng nhiệt nói từ bậc thềm bên ngoài.
Khi Payson bước ra vỉa hè, cậu ta hơi ngượng ngùng ngoảnh lại và nói:
– Anh có nghĩ rằng Sadie Burch là loại người thế nào đi nữa thì cũng chẳng khác biệt gì không?
Trong ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn đường, chàng sinh viên đại học tưởng như khuôn mặt của ông lão trong khoảnh khắc phảng phất nét quen thuộc thoáng qua của cha mình.
– Một chút cũng không! Chúc cậu ngủ ngon, con trai!
Nhưng Payson Clifford chẳng có được một giấc ngủ ngon lành theo bất kỳ cách nào. Thay vì quay về khách sạn, cậu ta lang thang vô định và khổ sở dọc theo khu vực bờ sông. Cậu ta không còn chút hoài nghi nào về trách nhiệm của mình nữa. Ông Tutt đã đánh bại Tutt chỉ trong một hơi thở – và làm sáng tỏ toàn bộ vấn đề. Tutt đã cho, còn ông Tutt đã lấy lại. Tuy nhiên, cậu ta tự nhủ, câu chuyện chưa dừng lại ở đó; số tiền đó là của cậu ta về mặt pháp luật và không ai có thể tước đoạt nó. Sao không ngồi im và mặc kệ ông Tutt đi đến địa ngục đi? Cậu ta chẳng bao giờ cần phải gặp lại ông nữa! Và sẽ chẳng ai khác biết được chuyện này cả! Hai mươi lăm nghìn đô-la? Cậu ta sẽ phải mất nhiều năm trời mới kiếm nổi một khoản tiền khổng lồ đến thế! Hơn nữa, vấn đề có hai khía cạnh rõ ràng. Chẳng phải Tutt cũng là một luật sư giỏi giang như ông Tutt sao? Chẳng lẽ cậu ta không thể tự đưa ra quyết định có lợi cho mình khi tòa án chia rẽ ngang ngửa hay sao? Và Tutt đã khẳng định chắc nịch rằng mình sẽ là một kẻ ngốc nếu từ bỏ số tiền đó. Khi Payson Clifford lê bước qua những chiếc bóng của các bến tàu, cậu ta bị ám ảnh bởi một cảm giác kỳ lạ rằng Tutt và ông Tutt đều đang đứng đó trước mặt cậu ta; ông Tutt – một hình bóng cao lớn, nhân từ cầm trên tay ngọn đuốc hình một điếu xì-gà đen khổng lồ đang cháy bừng bừng vẫy gọi cậu tiến bước qua bóng tối; và sau lưng ông là Tutt – một gã tiểu quỷ béo ú da đỏ với sừng và đuôi – kẻ cứ kéo vạt áo cậu và lèo nhèo: "Đừng vứt đi hai mươi lăm nghìn đô-la! Cách tốt nhất là cứ để mọi thứ nguyên trạng và để pháp luật giải quyết tất cả. Khi đó cậu chẳng phải chịu rủi ro gì sất!"
Nhưng cuối cùng – vào khoảng sáu giờ bốn mươi lăm phút sáng – ông Tutt đã chiến thắng. Kiệt sức, nhưng hòa hợp với chính mình, Payson Clifford lết vào Câu lạc bộ Harvard trên Phố 44, gọi ba quả trứng ốp la một mặt, hai phần thịt xông khói và một bình cà phê, rồi viết một bức thư gửi gấp qua người đưa thư cho Tutt & Tutt.
Bức thư viết: "Thưa các ông, Xin vui lòng thực hiện ngay các bước để tìm cô Sarah Burch và trao cho cô ấy hai mươi lăm nghìn đô-la từ phần di sản còn lại của cha tôi. Tôi hoàn toàn hài lòng rằng đây là mong muốn của ông ấy. Tôi sẽ quay lại Cambridge ngày hôm nay. Nếu cần thiết, các ông có thể liên lạc với tôi ở đó.
"Trân trọng,
"PAYSON CLIFFORD."
Người ta có thể cho rằng việc tìm ra một người được thừa hưởng hai mươi lăm nghìn đô-la là một chuyện vô cùng dễ dàng; nhưng cô Sadie Burch lại tỏ ra là một nhân vật vô cùng khó nắm bắt. Không có bất kỳ ai họ Burch nào ở Hoboken – theo cả danh bạ điện thoại lẫn danh bạ kinh doanh – và những thông cáo quảng cáo nhiều lần của ông Tutt trên các tờ báo của thành phố đó không thu lại bất kỳ hồi âm nào. Ba tháng trôi qua và mọi thứ bắt đầu có vẻ như người phụ nữ đó hoặc đã qua đời hoặc đã rời đi vĩnh viễn – và Payson Clifford có thể giữ lại hai mươi lăm nghìn đô-la của mình với một lương tâm trong sạch. Rồi vào một ngày tháng Năm, một bức thư từ một thị trấn nhỏ ở vùng trung tâm New Jersey được gửi đến từ Sadie Burch. Cô cho biết, cô chỉ mới vô tình biết được rằng mình đang là đối tượng được hãng luật Tutt & Tutt quan tâm. Thật không may, cô không tiện đến thành phố New York, nhưng nếu cô có thể giúp ích gì cho họ, cô rất sẵn lòng, v.v.
– Tôi nghĩ mình sẽ đến gặp quý cô này một chuyến! – ông Tutt vừa nói vừa nhìn qua vùng vịnh lấp lánh về phía những ngọn đồi mờ ảo của New Jersey. – Hôm nay là một ngày tuyệt vời, và ở đây cũng chẳng có việc gì nhiều lắm...
– Sadie Burch ư? Sadie Burch ư? Chắc chắn, tôi biết cô ấy chứ! – gã đàn ông gầy gò lái chiếc máy kéo phì phò gần đó trả lời, khi gã săm soi chiếc xe hơi chở ông Tutt. – Cô ấy sống ở ngôi nhà thứ hai sau cây du lớn – và rồi gã lại tiếp tục cày bừa với tiếng động cơ kêu inh ỏi.
Con đường trải nhựa trắng lóa dưới cái nắng muộn của buổi chiều. Hai bên đường là những dặm ruộng được cày xới cẩn thận, vùng quê chìm trong giấc ngủ trưa, không khí oi bức nhưng ngát hương hoa mộc lan, hoa tử đinh hương và hoa táo. Rõ ràng cô Burch đã quyết định rằng khi rời xa thế giới loài người, cô sẽ làm một vố triệt để và không để bản thân sa vào bất kỳ cám dỗ nào muốn quay trở lại – cách ga tàu gần nhất tám dặm. Ngay sau hàng cây du, họ giảm tốc độ dừng lại dọc theo một hàng rào chấn song trắng bao quanh một khu vườn kiểu cũ, nơi phát ra tiếng vo ve bận rộn của loài ong gởi đến ông Tutt. Sau đó họ đến một cánh cổng mở ra con lối đi lát gạch đỏ, viền cây hoàng dương, phủ đầy rêu phong, dẫn đến một ngôi nhà trắng nhỏ với mái hiên sọc xanh trắng. Một con thằn lằn màu xanh vàng thò đầu ra khỏi hàng rào và nhìn ông Tutt với vẻ tò mò nhiều hơn là thù địch.
– Cô Sadie Burch có sống ở đây không? – ông Tutt hỏi con thằn lằn.
– Có chứ! – một giọng phụ nữ vui vẻ cất lên từ hiên nhà. – Anh có muốn bước lên hiên không?
Giọng nói đó không phải kiểu giọng mà ông Tutt từng tưởng tượng thuộc về Sadie Burch. Nhưng người phụ nữ trên hiên nhà cũng chẳng phải kiểu phụ nữ đó. Trong bóng râm của mái hiên, trên chiếc ghế bập bênh thoải mái, là một người phụ nữ tóc trắng, gương mặt nhân hậu, đang đan một chiếc áo khoác sơ-sinh. Bà ngước nhìn ông với một nụ cười thân thiện.
– Tôi là cô Burch đây, – bà nói. – Chắc anh là vị luật sư mà tôi đã viết thư cho phải không? Anh có muốn lên đây ngồi xuống không?
– Cảm ơn cô, – ông đáp, bước lại gần hơn với nụ cười đáp lễ. – Tôi chỉ ở lại được một lát và tôi đã ngồi trên xe hơi gần như suốt cả ngày. Tôi có lẽ nên đi thẳng vào vấn đề luôn. Chắc cô đã nghe tin về sự ra đi của ông Payson Clifford Senior rồi chứ?
Cô Burch đặt chiếc áo khoác sơ-sinh xuống và môi cô run rẩy. Sau đó, những giọt nước mắt trào ra trong đôi mắt xanh đã phai màu và cô vội vã lục tìm chiếc khăn tay trong ngực áo.
– Xin anh thứ lỗi! – cô nói bằng giọng nghẹn ngào. – Vâng, tôi đã đọc được tin đó. Ông ấy là người bạn tốt nhất của tôi trên đời này – ngoại trừ người anh trai John của tôi. Người bạn tốt bụng và chân thành nhất từng tồn tại!
Cô nhìn ra khu vườn nhỏ và lại lau nước mắt.
Ông Tutt ngồi xuống bậc cửa phủ rêu ngay bên cạnh cô.
– Tôi vẫn luôn nghĩ ông ấy là một người tốt, – ông điềm tĩnh đáp. – Ông ấy là một thân chủ lâu năm của tôi – mặc dù tôi không biết rõ về ông ấy lắm.
– Tôi mang ơn ông ấy ngôi nhà này, – cô Burch ân cần tiếp lời. – Nếu không có ông Clifford, tôi không biết số phận mình sẽ trôi dạt về đâu. Giờ đây khi John đã qua đời và tôi chỉ có một mình trên cõi đời này, thì chốn nhỏ bé này – với những bông hoa và bầy ong – là tất cả những gì tôi có.
Họ chìm trong im lặng suốt vài phút. Sau đó ông Tutt nói:
– Không, đó chưa phải là tất cả. Ông Clifford đã để lại một bức thư kèm theo di chúc, trong đó ông hướng dẫn con trai mình trao cho cô hai mươi lăm nghìn đô-la. Tôi ở đây để mang nó đến cho cô.
Một vẻ mặt bối rối xuất hiện trên khuôn mặt cô, rồi cô lại mỉm cười và lắc đầu.
– Đúng là phong cách của ông ấy rồi! – cô nhận xét. – Nhưng tất cả chỉ là hiểu lầm thôi. Ông ấy đã trả lại cho tôi số tiền đó từ năm năm trước rồi. Anh thấy đấy, ông ấy đã thuyết phục John tham gia vào một kế hoạch kinh doanh nào đó cùng ông ấy và họ đã mất toàn bộ số tiền đầu tư vào đó – mỗi người hai mươi lăm nghìn. Đó là tất cả những gì chúng tôi có. Không phải lỗi của ông ấy, nhưng sau khi John qua đời, ông Clifford đã bắt tôi – bằng mọi giá bắt tôi – phải nhận lại khoản tiền đó. Chắc hẳn ông ấy đã viết bức thư trước thời điểm đó và quên bén đi mất rồi!