Sự sụp đổ của dòng họ Usher

Sự Sụp Đổ Của Dòng Họ Usher

Lượt đọc: 18 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1

❊ ❊ ❊

Son cœur est un luth suspendu;

Sitôt qu’on le touche il résonne.

De Béranger.

Suốt một ngày mùa thu ảm đạm, tối tăm và tĩnh mịch, khi những đám mây sà xuống nặng nề bầu trời, tôi một mình cưỡi ngựa băng qua một vùng quê hoang vắng đến kỳ lạ; và cuối cùng, khi bóng chiều chạng vạng buông xuống, tôi đã nhìn thấy ngôi nhà Usher u sầu trước mặt. Tôi chẳng rõ vì sao — nhưng ngay cái nhìn đầu tiên về tòa nhà ấy, một cảm giác ê chề tột độ đã bao trùm lấy tâm can tôi. Tôi nói là ê chề tột độ; bởi nỗi buồn ấy chẳng hề được xoa dịu bởi chút cảm giác lãng mạn nửa vời nào, vốn thường khiến tâm trí ta dễ dàng đón nhận cả những khung cảnh tự nhiên khắc nghiệt nhất của sự tiêu điều hay kinh hãi. Tôi nhìn cảnh vật trước mắt — nhìn ngôi nhà trơ trọi, nhìn phong cảnh đơn sơ của điền trang, nhìn những bức tường xám ngắt, nhìn những khung cửa trống hoác như hốc mắt, nhìn dăm khóm sậy còi cọc, cùng vài thân cây mục trắng phau — với một sự suy sụp tinh thần sâu sắc mà tôi chẳng thể ví với bất kỳ cảm giác trần tục nào chuẩn xác hơn là dư âm trong giấc mơ của kẻ nghiện á phiện sau cơn say — sự tỉnh ngộ cay đắng đối phó với cuộc sống đời thường — chiếc khăn tang che mặt đột ngột rơi xuống một cách gớm ghiếc. Có một cảm giác giá băng, chìm lấp, lợm giọng trong tim — một nỗi u sàu tuyệt vọng đến độ dẫu trí tưởng tượng có cố gắng thúc ép thế nào cũng chẳng thể bóp méo nó thành chút vẻ đẹp siêu việt nào được. Đó là gì — tôi dừng lại suy ngẫm — cái gì đã khiến tôi suy sụp đến thế khi ngắm nhìn ngôi nhà Usher? Đó là một bí ẩn hoàn toàn không thể giải đáp; tôi cũng chẳng thể nào nắm bắt nổi những ảo ảnh mờ ảo đang ùn ùn kéo đến trong tâm trí khi tôi trầm ngâm. Tôi buộc phải quay về với kết luận đầy chán nản rằng: dẫu chắc chắn có những sự kết hợp của các sự vật tự nhiên rất đỗi bình thường có khả năng tác động đến ta như vậy, thì việc phân tích nguồn sức mạnh ấy lại nằm ngoài tầm với của chúng ta. Tôi tự nhủ, rất có thể chỉ cần sắp xếp lại một cách khác đi các yếu tố của khung cảnh, các chi tiết của bức tranh thôi, cũng đủ để làm thay đổi, hoặc có lẽ xóa bỏ hoàn toàn khả năng khơi gợi nỗi buồn của nó; và hành động theo ý nghĩ ấy, tôi giật cương ngựa tiến đến bờ dựng đứng của một cái hồ nước đen ngòm, tối tăm đang lặng lờ phẳng lặng nằm bên cạnh căn nhà, rồi đẩu đăm nhìn xuống — nhưng với một nỗi kinh hoàng còn thắt thẻo hơn trước — những hình ảnh đảo ngược và biến dạng của khóm sậy xám, những thân cây ma quái, cùng những ô cửa trống hoác như hốc mắt.

Dẫu vậy, tôi vẫn tự định sẽ lưu lại vài tuần trong dinh thự ảm đạm này. Chủ nhân của nó, Roderick Usher, từng là một trong những người bạn tri kỷ của tôi thời niên thiếu; nhưng đã bao năm trôi qua kể từ lần gặp gỡ cuối cùng của chúng tôi. Tuy nhiên, gần đây tôi đã nhận được một lá thư ở một vùng quê xa xôi — bức thư từ cậu ấy — với giọng điệu khẩn khoản đến cuồng nhiệt, không tài nào đáp lại bằng cách nào khác ngoài việc đến gặp trực tiếp. Bản thảo toát lên vẻ chấn động thần kinh. Người viết kể về căn bệnh thể xác trầm trọng — về một chứng rối loạn tinh thần đang đè nặng lấy cậu ấy — và về một khao khát tha thiết được gặp tôi, người bạn thân thiết nhất và quả thực là người bạn tri kỷ duy nhất của cậu, với hy vọng rằng sự hiện diện vui vẻ của tôi có thể xoa dịu phần nào căn bệnh của cậu ấy. Chính cách thức mà tất cả những điều này, cùng rất nhiều điều khác nữa, được bày tỏ — chính tấm chân tình hiển hiện đằng sau thỉnh cầu ấy — đã không cho tôi bất kỳ lý do gì để chần chừ; và do đó, tôi đã lập tức tuân theo điều mà tôi vẫn coi là một lời triệu hồi vô cùng kỳ lạ.

Mặc dù thuở nhỏ chúng tôi từng là những người bạn vô cùng thân thiết, nhưng thực ra tôi hiểu rất ít về người bạn của mình. Sự kín đáo của cậu ấy luôn luôn quá mức và đã thành thói quen. Tuy nhiên, tôi biết rõ rằng dòng dõi vô cùng cổ xưa của cậu ấy từ xưa đến nay vẫn nổi tiếng bởi sự nhạy cảm kỳ lạ trong tính khí, biểu hiện qua nhiều thế kỷ qua trong nhiều tác phẩm nghệ thuật cao siêu, và gần đây được thể hiện qua những hành động bác ái hào phóng nhưng kín đáo, cũng như niềm đam mê mãnh liệt đối với sự thâm sâu, có lẽ còn hơn cả những nét đẹp chính thống và dễ nhận biết của khoa học âm nhạc. Tôi cũng đã biết được một sự thật vô cùng đáng chú ý rằng, gốc rễ của dòng họ Usher, dẫu đáng kính đến đâu đi nữa, chưa từng đâm chồi nảy lộc ra bất kỳ nhánh phụ lâu dài nào; nói cách khác, toàn bộ gia tộc đều nằm trên một đường huyết thống trực hệ, và từ trước đến nay vẫn luôn như vậy, với rất ít và rất ngắn ngủi những sự biến đổi không đáng kể. Tôi cho rằng chính sự thiếu hụt này — khi tôi ngẫm nghĩ về sự tương đồng hoàn hảo giữa tính cách của dinh thự với tính cách đã được công nhận của gia tộc, và khi tôi suy đoán về ảnh hưởng tiềm tàng mà cái này, qua sự kéo dài của hàng thế kỷ, có thể đã tác động lên cái kia — chính sự thiếu hụt các nhánh bên này, cùng với việc truyền lại không chệch hướng từ đời cha sang đời con khối tài sản đi kèm với gia danh, cuối cùng đã khiến hai yếu tố hòa quyện làm một, đến mức cái tên nguyên thủy của điền trang đã lu mờ trước cái tên kỳ lạ và lập lờ là “Nhà Usher” — một cái tên dường như bao gồm cả gia đình lẫn dinh thự trong tâm trí những người nông dân thường hay sử dụng nó.

Tôi đã nói rằng hiệu ứng duy nhất từ cuộc thử nghiệm có phần trẻ con của tôi — đó là nhìn xuống lòng hồ — chỉ làm sâu sắc thêm ấn tượng kỳ lạ ban đầu. Không còn nghi ngờ gì nữa, ý thức về sự gia tăng nhanh chóng của sự mê tín trong tôi — sao tôi lại không gọi nó là thế chứ? — đã góp phần chủ yếu thúc đẩy chính sự gia tăng đó. Từ lâu tôi đã biết rằng đó là quy luật nghịch lý của mọi thứ tình cảm có cõi gốc là sự kinh hãi. Và có lẽ chỉ vì lý do này mà khi tôi ngước mắt nhìn lại ngôi nhà từ hình ảnh phản chiếu của nó dưới mặt nước, một ảo tưởng kỳ lạ đã nảy sinh trong tâm trí tôi — một ảo tưởng thực sự nực cười đến mức tôi chỉ nhắc đến nó để cho thấy sức mạnh sống động của những cảm giác đang đè nặng lấy mình. Tôi đã tự ám thị trí tưởng tượng của bản thân đến mức thực sự tin rằng bao trùm lên toàn bộ dinh thự và điền trang là một bầu không khí mang nét đặc trưng riêng biệt của chính chúng và vùng đất cận kề — một bầu không khí chẳng hề có sự tương đồng với bầu trời cao xanh, mà bốc lên từ những thân cây mục rữa, bức tường xám ngắt và hồ nước tĩnh lặng — một thứ hơi độc và huyền bí, u ám, ì ạch, mờ nhạt và mang sắc chì.

Gạt bỏ khỏi tâm trí thứ mà hẳn là một giấc ngủ mơ màng, tôi săm soi kỹ hơn diện mạo thực sự của tòa nhà. Đặc điểm chính của nó dường như là vẻ cổ kính tột bậc. Dấu vết thời gian phai màu đã in hằn sâu sắc. Những chùm nấm nhỏ ti ti phủ kín toàn bộ mặt ngoài, rủ xuống từ mái hiên như một tấm mạng nhện tinh vi bị vướng víu. Thế nhưng tất cả những điều đó lại nằm ngoài sự xuống cấp trầm trọng bất thường nào. Không có phần nào của tường gạch bị sụp đổ; và dường như có một sự mâu thuẫn kỳ quặc giữa việc các bộ phận vẫn ăn khớp hoàn hảo với nhau và tình trạng mục nát của từng viên đá riêng lẻ. Trong điều kiện này, có rất nhiều thứ gợi cho tôi nhớ đến vẻ bề ngoài toàn vẹn nhưng giả tạo của những món đồ gỗ cổ đã mục nát qua nhiều năm dài trong một căn hầm bị bỏ quên, chẳng hề bị xáo trộn bởi hơi thở của bầu không khí bên ngoài. Tuy nhiên, vượt ra ngoài dấu hiệu suy tàn rộng lớn ấy, cấu trúc của tòa nhà lại hé lộ rất ít dấu hiệu của sự không vững chãi. Có lẽ đôi mắt của một người quan sát tinh tường có thể phát hiện ra một vết nứt nhỏ đến mức khó nhận ra, kéo dài từ mái phía trước tòa nhà, chạy ngoằn ngoèo xuống bức tường, cho đến khi chìm hẳn vào làn nước u ám của hồ.

Nhận thức được những điều đó, tôi cưỡi ngựa qua một con đường đắp ngắn để đến ngôi nhà. Một tên gia nhân đang đứng đợi đã nhận lấy con ngựa của tôi, và tôi bước vào vòm cổng theo kiến trúc Gothic của sảnh lớn. Một gã hầu phòng với những bước chân rón rén sau đó lặng lẽ dẫn tôi qua những hành lang tối tăm và rích rắc để đến phòng làm việc của chủ nhân hắn. Rất nhiều thứ tôi bắt gặp dọc đường đã góp phần, chẳng hiểu sao, làm gia tăng những cảm xúc mơ hồ mà tôi vừa nhắc đến. Trong khi những đồ vật xung quanh tôi — những hình chạm trổ trên trần nhà, những tấm thảm ảm đạm trên tường, sắc đen như gỗ mun của sàn nhà, và những chiến tích gia huy mang tính huyễn ảnh kêu lách cách mỗi khi tôi sải bước — vốn chỉ là những thứ mà tôi hoặc những thứ tương tự đã quen thuộc từ thời thơ ấu — trong khi tôi không ngần ngại thừa nhận mọi thứ quen thuộc đến nhường nào — tôi vẫn không khỏi kinh ngạc khi nhận ra những ảo ảnh mà những hình ảnh bình thường ấy khơi dậy lại lạ lẫm đến thế. Trên một bậc thang, tôi gặp vị bác sĩ của gia đình. Nét mặt ông ta, tôi nghĩ, mang một vẻ pha trộn giữa sự gian xảo thấp hèn và sự bối rối. Ông ta chào tôi với vẻ phảng phất sự sợ hãi rồi bước đi. Tên gia nhân bấy giờ đẩy tung cánh cửa và dẫn tôi vào diện kiến chủ nhân của hắn.

Căn phòng tôi bước vào rất rộng và cao. Các ô cửa sổ dài, hẹp và nhọn, nằm ở độ cao quá lớn so với mặt sàn gỗ sồi đen đến mức hoàn toàn không thể với tới từ bên trong. Những tia sáng yếu ớt nhuốm màu đỏ thẫm lọt qua các ô cửa kính mắt cáo, đủ để làm rõ phần nào những vật dụng nổi bật xung quanh; tuy nhiên, đôi mắt vẫn vô vọng khi cố với tới những góc khuất xa xôi của căn phòng, hay những hốc của phần trần nhà có vòm khum được chạm trổ tinh xảo. Những tấm rèm tối màu treo trên tường. Đồ đạc nói chung rất nhiều, lạnh lẽo, cổ kính và rách rưới. Rất nhiều sách vở và nhạc cụ vứt bừa bãi, nhưng chẳng thể mang lại chút sức sống nào cho khung cảnh. Tôi cảm thấy mình đang hít thở bầu không khí của nỗi buồn. Một bầu u sầu khắc nghiệt, sâu sắc và không thể cứu vãn bao trùm và thấm đẫm mọi thứ.

Vừa bước vào, Usher liền đứng dậy khỏi chiếc ghế sô-bông mà cậu ta đang nằm dài, và chào đón tôi với một sự nồng nhiệt sôi nổi ban đầu khiến tôi nghĩ là có phần hơi quá đà — sự cố gắng gượng gạo của một kẻ từng trải đã chán ngấy sự đời. Tuy nhiên, chỉ một cái liếc nhìn khuôn mặt cậu ta cũng đủ khiến tôi tin vào sự chân thành tuyệt đối của cậu ấy. Chúng tôi ngồi xuống; và trong giây lát, khi cậu ta không nói gì, tôi đăm đăm nhìn cậu với cảm giác nửa thương hại, nửa kính sợ. Quả thực, chưa từng có con người nào lại thay đổi một cách kinh khủng đến thế chỉ trong một khoảng thời gian ngắn như Roderick Usher! Tôi thật khó lòng ép mình thừa nhận sự đồng nhất giữa con người đang ngồi trước mặt với người bạn thuở nhỏ của tôi. Thế nhưng nét mặt cậu ta vốn dĩ luôn có những điểm rất nổi bật. Nước da tái nhợt như xác chết; đôi mắt to, long lanh và sáng rực một cách vô song; đôi môi hơi mỏng và cực kỳ nhợt nhái, nhưng có đường cong đẹp tuyệt trần; chiếc mũi mang dáng dấp tinh tế của người Do Thái nhưng độ rộng cánh mũi lại không bình thường so với những cấu trúc tương tự; chiếc cằm được tạo hình thanh tú, qua việc thiếu đi độ nhô ra, lại bộc lộ sự thiếu hụt về nghị lực đạo đức; mái tóc mềm mại và mảnh mai hơn cả tơ nhện; — những nét ấy, cùng với sự phồng lên quá mức ở vùng trên thái dương, đã tạo nên một khuôn mặt không dễ gì quên được. Và giờ đây, chỉ qua sự phóng đại những nét đặc trưng vốn có của các bộ phận ấy cùng biểu cảm mà chúng thường mang lại, sự thay đổi lớn đến mức tôi phải nghi ngờ không biết mình đang nói chuyện với ai. Vẻ nhợt nhái như xác chết của làn da, và trên hết là ánh sáng kỳ diệu của đôi mắt, đã khiến tôi giật mình và thậm chí kinh hãi. Mái tóc mượt mà cũng được để mọc buông thả không thèm chăm chút, và khi nó bay lơ lửng thay vì rủ xuống quanh khuôn mặt với kết cấu mỏng manh hoang dã như tơ nhện, tôi dẫu có cố gắng thế nào cũng không thể liên tưởng biểu cảm mang phong cách Ả Rập ấy với bất kỳ ý niệm nào về một con người bình thường.

Ở tác phong của bạn tôi, tôi lập tức bị ấn tượng bởi sự rời rạc — sự mâu thuẫn; và tôi sớm nhận ra điều này xuất phát từ một loạt những nỗ lực yếu ớt và vô vọng nhằm vượt qua sự hoảng sợ đã thành thói quen — một sự kích động thần kinh quá mức. Về điều gì đó tương tự thế, tôi thực sự đã được chuẩn bị tinh thần, không chỉ qua bức thư của cậu ấy, mà còn qua ký ức về những nét tính cách thuở nhỏ, và qua những kết luận rút ra từ cấu trúc thể chất cùng tâm tính kỳ lạ của cậu ta. Hành động của cậu lúc thì sôi nổi lúc lại ủ rũ. Giọng nói của cậu thay đổi nhanh chóng từ sự ngập ngừng run rẩy (khi tinh thần sinh lực dường như hoàn toàn chùng xuống) sang thứ âm điệu cô đọng đầy năng lượng — kiểu phát âm đột ngột, nặng nề, thong thả và vang vọng từ lồng ngực — thứ âm thanh khàn đục phát ra từ cổ họng mang nặng tính tự cân bằng và được điều tiết hoàn hảo, điều mà người ta có thể quan sát thấy ở kẻ nát rượu lâu năm, hoặc kẻ nghiện á phiện không thể cứu vãn, trong những khoảng thời gian phấn khích tột độ của họ.

Chính bằng cách đó, cậu ta đã nói về mục đích chuyến thăm của tôi, về nỗi khao khát tha thiết được gặp tôi, và về sự khuây khỏa mà cậu mong đợi tôi mang lại. Cậu ta đi sâu vào điều mà cậu cho là bản chất căn bệnh của mình. Đó, cậu nói, là một căn bệnh bẩm sinh và mang tính gia đình, và là thứ mà cậu tuyệt vọng trong việc tìm kiếm phương thuốc cứu chữa — thực chất chỉ là một chứng bệnh thần kinh, cậu nói thêm ngay sau đó, mà chắc chắn sẽ sớm qua đi. Nó biểu hiện qua một loạt những cảm giác phi tự nhiên. Một vài trong số đó, khi cậu kể chi tiết, đã khiến tôi vừa tò mò vừa hoang mang; mặc dù có lẽ, các thuật ngữ và phong cách kể chuyện chung của cậu cũng phần nào tác động. Cậu chịu đựng rất nhiều từ một chứng nhạy cảm bệnh hoạn của các giác quan; chỉ những món ăn nhạt nhẽo nhất mới có thể chịu đựng nổi; cậu chỉ có thể mặc trang phục làm từ chất liệu nhất định; mùi hương của tất cả các loài hoa đều khiến cậu ngột ngạt; đôi mắt bị tra tấn bởi ngay cả một thứ ánh sáng mờ nhạt; và chỉ có một vài âm thanh đặc biệt, phát ra từ các nhạc cụ dây, là không truyền cho cậu nỗi kinh hoàng.

Tôi nhận ra cậu ta là nô lệ bị xiềng xích bởi một dạng sợ hãi kỳ dị. “Tôi sẽ diệt vong,” cậu ta nói, “tôi buộc phải diệt vong trong sự u mê đáng thương này. Cứ thế, cứ thế, chứ không cách nào khác, tôi sẽ bị hủy hoại. Tôi sợ hãi những sự kiện trong tương lai, không phải tự thân chúng, mà vì kết quả của chúng. Tôi run rẩy khi nghĩ đến bất kỳ biến cố nào, dù là nhỏ nhặt nhất, có thể tác động đến sự kích động tâm hồn không thể dung thứ này. Thật vậy, tôi chẳng hề ghê tởm hiểm nguy, ngoại trừ tác động tuyệt đối của nó — chính là sự kinh hãi. Trong tình trạng kiệt quệ và đáng thương này, tôi cảm thấy sớm muộn gì cũng sẽ đến lúc tôi phải từ bỏ cả cuộc sống lẫn lý trí, trong một cuộc đấu tranh với bóng ma nghiệt ngã mang tên NỖI SỢ.”

Hơn nữa, tôi còn biết thêm, qua những khoảng ngắt quãng và những lời bóng gió rời rạc, mơ hồ, một đặc điểm kỳ lạ khác trong tình trạng tinh thần của cậu ta. Cậu ta bị xiềng xích bởi những ấn tượng mê tín nhất định liên quan đến ngôi nhà mình đang ở, nơi mà trong suốt nhiều năm qua, cậu chưa từng mạo hiểm bước chân ra ngoài — liên quan đến một thứ ảnh hưởng mà lực lượng giả định của nó được truyền tải bằng những từ ngữ quá mơ hồ để có thể kể lại ở đây — một ảnh hưởng mà những đặc thù trong chính hình dáng và cấu trúc dinh thự gia tộc đã, nhờ sự chịu đựng lâu dài, tạo được lên tâm hồn cậu, theo lời cậu nói — một tác động mà thể chất của những bức tường xám và các tháp canh, cùng hồ nước mờ ảo mà chúng cùng nhìn xuống, cuối cùng đã gây ra đối với tinh thần tồn tại của cậu ta.

Tuy nhiên, cậu ta thừa nhận, dù có phần do dự, rằng phần lớn nỗi u sầu kỳ lạ đang giày vò mình có thể bắt nguồn từ một cội nguồn tự nhiên hơn và rõ ràng hơn rất nhiều — đó là căn bệnh trầm trọng và kéo dài — thực ra là sự suy kiệt rõ rệt sắp đến — của người em gái được thương yêu trìu mến, người bạn đồng hành duy nhất của cậu suốt nhiều năm dài, người thân thích cuối cùng và duy nhất trên cõi đời. “Cái chết của cô ấy,” cậu ta nói với một nỗi cay đắng mà tôi không bao giờ có thể quên, “sẽ biến cậu (một kẻ vô vọng và yếu mềm) thành người cuối cùng của dòng họ Usher cổ kính.” Trong lúc cậu ta nói, tiểu thư Madeline (cô ấy được gọi như vậy) chậm rãi bước qua một góc khuất của căn phòng, và mà không hề nhận ra sự hiện diện của tôi, cô liền biến mất. Tôi ngẩn ngơ nhìn theo với sự kinh ngạc tột cùng lẫn lộn với nỗi sợ hãi; thế nhưng tôi thấy thật bất khả thi khi lý giải những cảm xúc ấy. Một cảm giác tê dại đè nặng lấy tôi khi đôi mắt dõi theo những bước chân đang khuất dần của cô. Cuối cùng, khi cánh cửa khép lại sau lưng cô, ánh mắt tôi theo bản năng tha thiết tìm kiếm gương mặt của người anh; nhưng cậu ta đã vùi mặt vào hai bàn tay, và tôi chỉ có thể nhận ra một sắc xanh xao vượt xa mức bình thường đang phủ lên những ngón tay gầy guộc, nơi những giọt nước mắt đầy cảm xúc đang rỉ ra.

Căn bệnh của tiểu thư Madeline từ lâu đã đánh gục tài nghệ của các y bác sĩ. Sự lãnh đạm kéo dài, cơ thể suy kiệt dần, và những cơn phát bệnh thường xuyên nhưng thoáng qua mang tính chất bán kích động cơ thể là những chẩn đoán bất thường. Cho đến nay, cô vẫn kiên cường chống lại áp lực của căn bệnh và chưa từng phải nằm liệt giường; nhưng vào lúc chạng vạng tối ngày tôi đến ngôi nhà, cô đã gục ngã (như người anh trai đã kể cho tôi nghe vào ban đêm với nỗi xúc động không tả xiết) trước sức mạnh quật ngã của tử thần; và tôi biết rằng hình ảnh thoáng qua mà tôi vừa thu nhận được về cô ấy có lẽ sẽ là lần cuối cùng tôi được thấy — rằng nữ tiểu thư, ít nhất là khi còn sống, sẽ không bao giờ xuất hiện trước mắt tôi nữa.

Trong suốt vài ngày tiếp theo, cái tên ấy không hề được nhắc đến bởi cả Usher lẫn tôi; và trong khoảng thời gian này, tôi bận rộn với những nỗ lực chân thành nhằm làm dịu bớt nỗi u sầu của bạn mình. Chúng tôi cùng nhau vẽ tranh và đọc sách, hoặc tôi lắng nghe, như trong mơ, những khúc ứng tấu hoang dã từ cây đàn ghita của cậu. Và cứ thế, khi sự thân mật ngày càng gắn kết đưa tôi đến gần hơn những ngóc ngách sâu kín trong tâm hồn cậu, tôi lại càng cảm nhận sâu sắc hơn sự vô ích của mọi nỗ lực cổ vũ một tâm trí mà từ đó bóng tối, tựa như một đặc tính tích cực vốn có, tuôn trào lên mọi đối tượng của vũ trụ đạo đức và vật chất trong một bức xạ u buồn không dứt.

Tôi sẽ mãi mang theo ký ức về những giờ phút trang nghiêm mà tôi từng trải qua một mình với vị chủ nhân của Ngôi nhà Usher. Thế nhưng tôi sẽ thất bại trong bất kỳ nỗ lực nào nhằm truyền tải ý niệm về bản chất chính xác của những công trình nghiên cứu, hay những bận rộn mà cậu ta đã lôi kéo hoặc dẫn dắt tôi tham gia vào. Một trạng thái lý tưởng phấn khích và vô cùng loạn trí đã phủ lên mọi thứ một ánh sáng lưu huỳnh. Những khúc điệu sầu dài dường như được ứng tấu ngẫu hứng của cậu sẽ vang vọng mãi mãi trong tai tôi. Trong số những thứ khác, tôi vẫn ghi nhớ đầy đau đớn một sự biến chất và phóng đại kỳ lạ nào đó đối với giai điệu hoang dã của bản waltz cuối cùng do Von Weber sáng tác. Từ những bức tranh mà trí tưởng tượng kỳ công của cậu đắm chìm vào, và chúng lớn dần lên, qua từng nét cọ, thành sự mơ hồ khiến tôi càng rùng mình thấu xương hơn vì tôi rùng mình mà chẳng hiểu vì sao — từ những bức tranh đó (dù hình ảnh của chúng hiện giờ vẫn sống động trước mắt tôi), tôi sẽ vô ích khi cố gắng rút ra nhiều hơn một phần nhỏ nằm trong phạm vi của những từ ngữ viết đơn thuần. Bằng sự tinh khiết tột cùng, bằng sự trần trụi trong các thiết kế của cậu, cậu đã thu hút và làm chấn động mọi sự chú ý. Nếu có người phàm nào từng vẽ nên một ý tưởng, thì người phàm ấy chính là Roderick Usher. Ít nhất là đối với tôi, trong những hoàn cảnh bao quanh lúc bấy giờ, từ những cõi trừu tượng thuần túy mà kẻ u sầu đã xoay xở phác họa lên tấm vải canvas của mình, đã trỗi dậy một cường độ kinh hoàng ngột ngạt, thứ mà tôi chưa từng cảm nhận được dù chỉ là một cái bóng khi chiêm ngưỡng những giấc mơ chắc chắn là rực rỡ nhưng lại quá đỗi cụ thể của Fuseli.

Một trong những ý niệm mang tính huyễn ảnh của bạn tôi, không quá cứng nhắc mang tinh thần trừu tượng, có thể được phác họa phần nào qua lời văn. Một bức tranh nhỏ thể hiện phần bên trong của một căn hầm hoặc đường hầm vô cùng dài và có hình chữ nhật, với những bức tường thấp, nhẵn, trắng phau và không có bất kỳ họa tiết hay vật trang trí nào gián đoạn. Một số điểm phụ trợ của thiết kế đã góp phần truyền tải rất rõ ý niệm rằng công trình khai đào này nằm ở một độ sâu cực kỳ lớn dưới bề mặt Trái Đất. Không có lối ra nào được quan sát thấy ở bất kỳ phần nào trong không gian bao la của nó, và không có ngọn đuốc hay nguồn sáng nhân tạo nào có thể nhìn thấy được; thế nhưng một dòng suối chứa đầy những tia sáng cường độ mạnh cuồn cuộn lan tỏa khắp nơi, bao trùm toàn bộ trong một vẻ lộng lẫy kỳ quái và lạc điệu.

Tôi vừa nhắc đến trạng thái bệnh hoạn của dây thần kinh thính giác, thứ khiến mọi thứ âm nhạc trở nên không thể dung thứ đối với người bệnh, ngoại trừ một số hiệu ứng nhất định từ các nhạc cụ dây. Có lẽ chính giới hạn chật hẹp mà cậu ta tự giam hãm mình đối với cây đàn ghita đã phần lớn sinh ra tính chất kỳ dị trong các buổi biểu diễn của cậu. Nhưng sự lưu loát đầy nhiệt huyết trong các khúc ứng tấu của cậu thì không thể giải thích bằng cách đó. Chúng chắc chắn đã phải là, và thực sự là, trong cả nốt nhạc lẫn lời ca của những bản hợp tấu hoang dã ấy (vì cậu không ít lần tự đệm đàn bằng những lời ca ứng tấu có vẫn), kết quả của trạng thái tập trung và thu gom tinh thần mãnh liệt mà tôi đã đề cập trước đó là chỉ có thể quan sát thấy ở những khoảnh khắc đặc biệt của sự kích thích nhân tạo cao độ. Lời của một trong những bài hợp tấu ấy đã được tôi ghi nhớ một cách dễ dàng. Có lẽ tôi càng bị ấn tượng mạnh mẽ hơn bởi nó khi cậu cất lời, bởi vì trong dòng ý nghĩa ngầm hoặc mang tính huyền bí của nó, tôi tưởng churong như mình đã nhận thức được, và là lần đầu tiên, sự ý thức trọn vẹn từ phía Usher về việc lý trí cao cả của cậu đang lảo đảo trên ngai vàng của nó. Những vần thơ, mang tựa đề “Cung Điện Bị Ám”, diễn ra gần như, nếu không muốn nói là hoàn toàn chính xác, như sau:—

I.

Nơi thung lũng xanh tươi nhất,

Được muôn vàn thiên sứ ngự trì,

Thuở xưa một tòa cung điện tuyệt vời, đường bệ —

Cung điện rực rỡ — vươn cao chiếc đỉnh oai nghiêm.

Dưới vương quyền của vị vua Tư Tưởng —

Nó đứng sừng sững nơi đó!

Chưa từng có vị seraphim nào vỗ cánh

Bay qua một công trình nào nửa phần diễm lệ đến thế.

II.

Những lá cờ vàng rực, vinh quang, rực rỡ,

Bay phấp phới trên mái nhà của nó;

({Điều này — tất cả điều này — thuộc về thời cổ đại

Thuở xa xưa lắm rồi});

Và từng làn gió nhẹ mơn man,

Trong ngày tháng ngọt ngào ấy,

Dọc theo những chiến lũy mang giáp trụ và tái nhợt,

Một luồng hương thơm có cánh đã bay đi.

III.

Những kẻ lữ hành trong thung lũng hạnh phúc ấy

Qua hai khung cửa sổ rực sáng đã nhìn thấy

Những linh hồn chuyển động theo nhịp điệu âm nhạc

Theo quy luật hòa âm chuẩn mực của cây đàn lute;

Xung quanh một ngai vàng, nơi ngự trị

({Kẻ mang dòng máu hoàng tộc!})

Trong vẻ uy nghi xứng tầm vinh quang của ngài,

Vị quân vương của vương quốc hiện ra.

IV.

Và rực rỡ ngọc trai cùng hồng bảo

Là cánh cửa cung điện nguy nga,

Nơi dòng người tuôn chảy, tuôn chảy, tuôn chảy

Và lấp lánh mãi không nguôi,

Một đoàn Tiếng Vọng với nhiệm vụ ngọt ngào

Chỉ là để hát ca,

Bằng những giọng nói đẹp tuyệt trần,

Sự thông minh và trí tuệ của vị vua họ.

V.

Nhưng những thế lực tà ác, khoác y phục tang thương,

Đã tấn công vương quyền cao quý của nhà vua;

({Ôi, hãy cùng than khóc, vì chẳng bao giờ có ngày mai

Sẽ ló dạng chiếu rọi ngài, kẻ đang bơ vơ hoang tàn!})

Và quanh ngôi nhà của ngài, vinh quang

Từng ửng hồng và nở rộ

Giờ chỉ còn là một câu chuyện mờ nhạt được ghi nhớ

Của thời đại cũ đã chôn vùi.

VI.

Và những lữ khách giờ đây trong thung lũng ấy,

Qua những khung cửa sổ nhuốm màu đỏ rực nhìn thấy

Những hình thù to lớn chuyển động kỳ quái

Theo một giai điệu lạc điệu bất hòa;

Trong lúc, tựa như một dòng sông ma quái cuồn cuộn,

Qua cánh cửa tái nhợt,

Một đám đông gớm ghiếc tuôn ra mãi mãi,

Và cười vang — nhưng chẳng bao giờ mỉm cười nữa.

Tôi nhớ rất rõ rằng những gợi ý xuất phát từ bài thơ này đã dẫn dắt chúng tôi vào một mạch suy nghĩ, trong đó bộc lộ rõ một quan điểm của Usher mà tôi nhắc đến không phải vì tính mới mẻ của nó (vì những người khác* cũng từng suy nghĩ như vậy), mà vì sự ngoan cố mà cậu ta duy trì nó. Quan điểm này, dưới hình thức chung của nó, chính là ý niệm về sự có tri giác của tất cả các loài thực vật. Nhưng trong tâm trí đầy rối loạn của cậu, ý niệm này đã mang một tính cách táo bạo hơn, và lấn chiếm, dưới những điều kiện nhất định, vương quốc của những vật vô tri. Tôi thiếu từ ngữ để diễn tả mức độ trọn vẹn, hay sự buông thả tha thiết trong niềm tin của cậu. Tuy nhiên, niềm tin ấy lại gắn liền (như tôi đã hé lộ trước đó) với những viên đá xám xịt của ngôi nhà tổ tiên cậu. Các điều kiện của sự có tri giác, cậu tưởng tượng, đã được hoàn thiện ở đây thông qua phương thức sắp xếp những viên đá này — theo thứ tự bố trí của chúng, cũng như của rất nhiều loại nấm mọc tràn lan trên đó, và của những thân cây mục rữa đứng xung quanh — trên hết là sự tồn tại không bị quấy rầy trong thời gian dài của sự sắp xếp này, và sự phản chiếu nhân đôi của nó trong làn nước phẳng lặng của hồ nước. Bằng chứng của nó — bằng chứng về sự có tri giác — có thể được nhìn thấy, cậu nói (và tôi giật mình thốt lên khi cậu nói), trong sự ngưng tụ dần dần nhưng chắc chắn của một bầu không khí mang bản sắc riêng của chúng xung quanh mặt nước và những bức tường. Kết quả có thể được phát hiện, cậu nói thêm, trong thứ ảnh hưởng thầm lặng nhưng khẩn khoản và khủng khiếp đã nhào nặn nên số phận gia tộc cậu trong suốt nhiều thế kỷ, và đã biến cậu thành con người mà tôi đang nhìn thấy lúc này — con người mà cậu đang là. Những quan điểm như vậy chẳng cần phải bình luận gì thêm, và tôi sẽ không bình luận gì cả.

Những cuốn sách của chúng tôi — những cuốn sách mà trong nhiều năm qua đã chiếm một phần không nhỏ trong đời sống tinh thần của người bệnh — như có thể đoán trước, hoàn toàn phù hợp với bản chất huyễn hoặc này. Chúng tôi cùng nhau ngấu nghiến những tác phẩm như “Ververt et Chartreuse” của Gresset; cuốn “Belphegor” của Machiavelli; “Thiên Đàng và Địa Ngục” của Swedenborg; “Chuyến Du Hành Dưới Lòng Đất của Nicholas Klimm” do Holberg viết; “Thuật Xem Chỉ Tay” của Robert Flud, của Jean D’Indaginé, và của De la Chambre; “Hành Trình Vào Cõi Xanh Thẳm” của Tieck; và “Thành Phố Mặt Trời” của Campanella. Một tập sách ưa thích là ấn bản bìa cứng khổ nhỏ của cuốn “Directorium Inquisitorium,” do tu sĩ dòng Đa Minh Eymeric de Gironne biên soạn; và có những đoạn trong tác phẩm của Pomponius Mela, viết về những tên Satyr và Egipan cổ đại ở châu Phi, mà Usher có thể ngồi mơ mộng suốt hàng giờ liền. Tuy nhiên, niềm vui lớn nhất của cậu lại nằm ở việc nghiền ngẫm một cuốn sách bìa da khổ lớn theo lối Gothic cực kỳ hiếm và kỳ lạ — cuốn sổ tay của một giáo hội đã lãng quên — Vigiliæ Mortuorum Secundum Chorum Ecclesiæ Maguntinæ.

Tôi không khỏi nghĩ đến nghi thức hoang dã của tác phẩm này, và ảnh hưởng có thể xảy ra của nó đối với người đàn ông u sầu, khi vào một buổi tối nọ, sau khi thông báo đột ngột với tôi rằng tiểu thư Madeline đã qua đời, cậu bày tỏ ý định bảo quản thi thể cô trong suốt hai tuần (trước khi đem đi chôn cất lần cuối), tại một trong số vô số hầm mộ nằm bên trong các bức tường chính của tòa nhà. Tuy nhiên, lý do trần thế được đưa ra cho hành động kỳ lạ này là điều mà tôi cảm thấy mình không có quyền tranh cãi. Người anh trai đã đi đến quyết định ấy (như cậu kể với tôi) do cân nhắc đến tính chất bất thường trong căn bệnh của người đã khuất, do một số câu hỏi gặng hỏi có phần tọc mạch và sốt sắng từ các y bác sĩ của cô, và do vị trí hẻo lánh lại lộ thiên của nghĩa trang gia tộc. Tôi sẽ không phủ nhận rằng khi nhớ lại gương mặt đầy vẻ nham hiểm của kẻ mà tôi đã gặp trên cầu thang vào ngày tôi đến ngôi nhà, tôi chẳng có chút mong muốn nào để phản đối điều mà tôi xem xét tốt nhất chỉ là một sự phòng ngừa vô hại, và hoàn toàn không có gì là không tự nhiên.

Theo thỉnh cầu của Usher, tôi đã trực tiếp giúp cậu ta trong các bước chuẩn bị cho việc an táng tạm thời. Sau khi thi thể được đặt vào quan tài, hai chúng tôi là những người duy nhất khiêng cô về nơi an nghỉ. Căn hầm mà chúng tôi đặt cô vào (nơi đã bị bỏ hoang lâu đến nỗi những ngọn đuốc của chúng tôi, gần như bị bóp nghẹt trong bầu không khí ngột ngạt của nó, chẳng cho chúng tôi cơ hội nào để khám phá) rất nhỏ, ẩm ướt và hoàn toàn không có lối cho ánh sáng lọt vào; nằm ở một độ sâu lớn, ngay bên dưới phần dinh thự có phòng ngủ của chính tôi. Nó dường như từng được sử dụng, trong thời kỳ phong kiến xa xưa, cho những mục đích tồi tệ nhất của một ngục tối kiên cố, và vào những ngày sau đó, làm nơi chứa thuốc súng, hoặc một số chất dễ cháy cao khác, vì một phần sàn nhà, và toàn bộ phần bên trong của một lối đi vòm dài mà chúng tôi qua để đến đó, đều được bọc đồng cẩn thận. Cánh cửa làm bằng sắt nguyên khối cũng được bảo vệ tương tự. Trọng lượng khổng lồ của nó tạo ra một âm thanh sắc bén, rít lên bất thường khi chuyển động trên các bản lề.

Sau khi đặt gánh nặng tang tóc của mình lên những chiếc giá đỡ trong vùng đất kinh hoàng này, chúng tôi hé mở phần nắp quan tài chưa được bắt vít và nhìn vào khuôn mặt của người nằm bên trong. Một sự tương đồng đến kinh ngạc giữa hai anh em lần đầu tiên thu hút sự chú ý của tôi; và Usher, có lẽ đã đoán được suy nghĩ của tôi, lầm bầm vài từ qua đó tôi biết được người quá cố và cậu ta là cặp sinh đôi, và giữa họ vẫn luôn tồn tại những sự đồng cảm mang bản chất khó mà lý giải nổi. Tuy nhiên, ánh mắt chúng tôi không dừng lại lâu trên người người đã khuất — bởi vì chúng tôi không thể nhìn cô mà không thấy sợ hãi. Căn bệnh đã chôn vùi tiểu thư khi tuổi xuân đang độ viên mãn, vẫn giữ lại, như thường lệ trong tất cả các chứng bệnh mang tính chất kích động cơ thể nghiêm trọng, vẻ mỉa mai của một gợn hồng thoảng qua trên ngực và khuôn mặt, cùng nụ cười vương vấn đầy nghi ngờ trên khóe môi, thứ vốn vô cùng khủng khiếp khi đối diện với cái chết. Chúng tôi đậy nắp lại, vặn chặt các ốc vít, và sau khi khóa chặt cánh cửa sắt, chúng tôi vất vả tìm đường trở lại những căn phòng ít ảm đạm hơn ở phần trên của ngôi nhà.

Và giờ đây, sau khi vài ngày đau thương cay đắng trôi qua, một sự thay đổi rõ rệt đã bao trùm lên các đặc điểm trong chứng rối loạn tinh thần của bạn tôi. Tác phong thường ngày của cậu đã biến mất. Những công việc thường nhật bị bỏ bê hoặc lãng quên. Cậu lang thang từ căn phòng này sang căn phòng khác với những bước chân vội vã, không đều và vô mục đích. Sắc xanh xao trên khuôn mặt cậu dường như đã chuyển sang một gam màu còn ghê rợn hơn — thế nhưng sự sáng rực trong đôi mắt cậu thì đã tắt ngấm hoàn toàn. Giọng nói khàn đợt từng lúc xuất hiện trước kia giờ không còn nghe thấy nữa; và một âm điệu run rẩy, tựa như đang đối mặt với nỗi kinh hoàng tột độ, đã trở thành đặc điểm thường trực trong cách phát âm của cậu. Quả thực, có những lúc tôi nghĩ tâm trí lúc nào cũng bấn loạn của cậu đang mang nặng một bí mật nào đó, để vạch trần nó, cậu phải chật vật tìm kiếm sự dũng cảm cần thiết. Lại có những lúc, tôi buộc phải quy mọi thứ về những sự thất thường không thể giải thích của cơn điên, bởi vì tôi nhìn thấy cậu đăm đăm nhìn vào khoảng không suốt hàng giờ liền, trong tư thế tập trung cao độ nhất, như thể đang lắng nghe một thứ âm thanh tưởng tượng nào đó. Không có gì lạ khi tình trạng của cậu khiến tôi khiếp sợ — khi nó lây nhiễm sang tôi. Tôi cảm thấy lan tỏa trong mình, qua từng bước chậm chạp nhưng chắc chắn, những ảnh hưởng hoang dã từ chính sự mê tín kỳ quái nhưng đầy ấn tượng của cậu.

Đặc biệt là khi lui về phòng ngủ vào đêm muộn của ngày thứ bảy hoặc thứ tám sau khi tiểu thư Madeline được đặt vào căn hầm ngục, tôi mới trải nghiệm trọn vẹn sức mạnh của những cảm xúc ấy. Giấc ngủ chẳng thèm bén mảng đến chiếc giường của tôi — trong khi thời gian cứ thế trôi qua, trôi qua. Tôi vật lộn để dùng lý trí xua đi cơn hoảng loạn đang thống trị lấy mình. Tôi cố gắng tin rằng phần lớn, nếu không muốn nói là tất cả những gì tôi cảm thấy, là do ảnh hưởng làm cho mu muội của món đồ nội thất ảm đạm trong phòng — từ những tấm rèm tối màu và rách rưới, bị xé gió xào xạc thổi cho chuyển động, lúc lắc chập chờn trên các bức tường, và sột soạt đầy bất an xung quanh các vật dụng trang trí trên giường. Nhưng những nỗ lực của tôi đều vô ích. Một cơn run rẩy không thể kìm nén dần lan khắp cơ thể tôi; và cuối cùng, ngự trị ngay trên trái tim tôi là một con quỷ ám của nỗi sợ hãi hoàn toàn vô cớ. Gạt bỏ nó bằng một tiếng thở hổn hển và một nỗ lực vùng vẫy, tôi nhổm dậy tựa vào gối, và căng mắt nhìn thật kỹ vào bóng tối mịt mùng của căn phòng, lắng nghe — tôi chẳng biết vì sao, chỉ là một tinh thần bản năng đã thôi thúc tôi — một vài âm thanh nhỏ và không xác định, vang lên qua những khoảng lặng của cơn bão, cách nhau những khoảng thời gian dài, từ đâu tôi chẳng rõ. Bị áp đảo bởi một cảm giác kinh hoàng mãnh liệt, không thể giải thích nổi nhưng cũng chẳng tài nào chịu đựng thêm được, tôi vội vã mặc quần áo (vì tôi cảm thấy mình sẽ chẳng thể chợp mắt suốt đêm nay), và cố gắng vực dậy bản thân khỏi tình trạng đáng thương đang rơi vào bằng cách bước đi thật nhanh qua lại trong căn phòng.

Tôi mới đi được vài vòng như vậy thì một tiếng bước chân nhẹ nhàng ở cầu thang bên cạnh đã thu hút sự chú ý của tôi. Ngay lập tức tôi nhận ra đó là bước chân của Usher. Ngay khoảnh khắc sau, cậu gõ nhẹ lên cửa phòng tôi, và bước vào, tay cầm theo một ngọn đèn. Khuôn mặt cậu, như mọi khi, tái nhợt như xác chết — nhưng hơn thế nữa, có một thứ sự vui vẻ điên cuồng trong đôi mắt cậu — một trạng thái cuồng phong bị kìm nén rõ rệt trong toàn bộ dáng vẻ của cậu. Bộ dạng của cậu khiến tôi kinh hoàng — nhưng bất cứ thứ gì vẫn còn tốt chán so với sự cô đơn mà tôi phải chịu đựng suốt bấy lâu, và tôi thậm chí còn chào đón sự hiện diện của cậu như một sự giải thoát.

“Và anh vẫn chưa nhìn thấy nó sao?” cậu nói một cách đột ngột, sau khi ngẩn ngơ nhìn xung quanh vài phút trong im lặng — “vậy là anh vẫn chưa nhìn thấy nó ư?—nhưng, chờ đã! anh sẽ thấy.” Nói đoạn, và sau khi cẩn thận che bớt ngọn đèn, cậu vội vã chạy đến một ô cửa sổ và đẩy tung nó ra mặc cho cơn bão táp ùa vào.

Cơn cuồng phong mãnh liệt ùa vào suýt chút nữa nhấc bổng cả hai chúng tôi khỏi mặt đất. Quả thực, đó là một đêm giông bão nhưng đẹp đẽ một cách lạnh lùng, một đêm kỳ lạ đến hoang dại trong sự kinh hoàng và vẻ đẹp của nó. Dường như một cơn lốc xoáy đã tụ lực ngay vùng lân cận chúng tôi; bởi vì có những sự thay đổi dữ dội và liên tục về hướng gió; và mật độ dày đặc của những đám mây (treo thấp đến mức đè nặng lên các tháp canh của ngôi nhà) vẫn không ngăn được việc chúng tôi nhận ra tốc độ sống động khi chúng bay cuồn cuộn từ mọi hướng va vào nhau, mà không hề bay đi mất vào cõi xa xăm. Tôi nói rằng ngay cả mật độ dày đặc của chúng cũng không ngăn được chúng tôi nhận ra điều đó — thế nhưng chúng tôi chẳng hề thấy chút bóng dáng nào của mặt trăng hay các vì sao, cũng chẳng có những tia chớp lóe lên. Tuy nhiên, bề mặt bên dưới của những khối hơi nước khổng lồ đang cuồn cuộn động đậy, cũng như tất cả các vật thể trần thế ngay xung quanh chúng tôi, đều đang rực lên thứ ánh sáng phi tự nhiên của một làn khói khí phát sáng mờ ảo và có thể nhìn thấy rõ ràng, đang bao quanh và bao trùm lấy dinh thự.

“Anh không được phép — anh không được phép nhìn thấy điều này!” tôi rùng mình nói với Usher, khi kéo cậu, với một lực nhẹ nhàng, rời khỏi cửa sổ để ngồi xuống ghế. “Những hiện tượng này, thứ đang làm anh bối rối, chỉ là các hiện tượng điện năng không có gì lạ — hoặc có lẽ chúng có nguồn gốc rùng rợn từ thứ khí độc hại nồng nặc của hồ nước. Hãy khép ô cửa này lại; — không khí lạnh giá và nguy hiểm cho cơ thể anh. Đây là một trong những cuốn tiểu thuyết yêu thích của anh. Tôi sẽ đọc, và anh sẽ lắng nghe: — và chúng ta sẽ cùng nhau trải qua đêm khủng khiếp này.”

Cuốn sách cổ mà tôi cầm lên là “Mad Trist” của ngài Launcelot Canning; nhưng tôi gọi đó là cuốn sách yêu thích của Usher mang tính chất đùa cợt buồn bã nhiều hơn là nghiêm túc; bởi vì, thực sự mà nói, chẳng có mấy thứ trong văn phong dài dòng, kỳ quặc và thiếu trí tưởng tượng của nó có thể thu hút được tâm hồn cao cả và mang tính tâm linh của bạn tôi. Tuy nhiên, đó là cuốn sách duy nhất ở ngay trong tầm tay; và tôi nuôi một niềm hy vọng mơ hồ rằng sự khích động đang giày vò người đàn ông u sầu kia có thể tìm được sự khuây khỏa (vì lịch sử của các chứng rối loạn tinh thần chứa đầy những sự bất thường tương tự) ngay trong chính sự cùng cực của trò hề mà tôi sắp đọc. Quả thực, nếu tôi có thể đánh giá qua vẻ phấn khích đầy gượng gạo và hoang dã khi cậu lắng nghe, hoặc ra điều lắng nghe, những lời của câu chuyện, tôi hoàn toàn có thể tự chúc mừng bản thân vì sự thành công trong kế hoạch của mình.

Tôi đã đến được phần nổi tiếng trong câu chuyện, nơi Ethelred, người hùng của bản trường ca, sau khi tìm kiếm trong vô vọng sự cho phép được bước vào một cách hòa bình trong ngôi nhà của vị ẩn sĩ, bèn tiến hành mở đường vào bằng vũ lực. Đến đây, người ta sẽ nhớ lại, những lời của câu chuyện diễn ra như thế này:

“Và Ethelred, vốn có bản tính gan dạ, và giờ đây lại càng sung sức hơn nhờ sức mạnh của ly rượu vang mà hắn đã nốc cạn, chẳng buồn đứng đôi co lâu với tên ẩn sĩ, kẻ thực ra có tính tình ngoan cố và đầy ác ý, nhưng cảm thấy những giọt mưa đang rơi trên vai mình, và lo sợ cơn bão đang dâng lên, liền giơ cao chiếc chùy của mình, và bằng những cú đánh, nhanh chóng đập phá các ván gỗ của cánh cửa để mở đường cho bàn tay mang găng sắt của mình; và giờ đây tì vào đó mà giật mạnh, hắn làm nứt toác, xé toạc, và bứt tung tất cả ra từng mảnh, đến nỗi tiếng động của thứ gỗ khô phát ra âm thanh rỗng tuếch đã làm náo động và vang vọng khắp khu rừng.”

Ngay khi câu này dứt, tôi giật mình và khựng lại trong giây lát; bởi vì dường như với tôi (mặc dù tôi lập tức kết luận rằng trí tưởng tượng đang phấn khích của mình đã đánh lừa tôi) — dường như với tôi rằng, từ một góc nào đó rất xa xôi của dinh thự, có một âm thanh vang vọng mờ ảo lọt vào tai tôi, thứ mà nếu xét về sự tương đồng chính xác đến từng chi tiết, có thể là tiếng vang (chắc chắn là một tiếng vang bị bóp nghẹt và đục ngầu) của chính tiếng nứt và tiếng xé mà ngài Launcelot vừa miêu tả cực kỳ chi tiết. Không còn nghi ngờ gì nữa, chính sự trùng hợp ngẫu nhiên ấy đã thu hút sự chú ý của tôi; bởi vì giữa tiếng lách cách của những khung cửa sổ và những âm thanh hỗn độn thông thường của cơn bão đang ngày càng mạnh lên, bản thân âm thanh ấy, chắc chắn chẳng có gì đáng để tôi phải quan tâm hay bận tâm cả. Tôi tiếp tục câu chuyện:

“Nhưng vị dũng sĩ dũng cảm Ethelred, lúc này đã bước qua cánh cửa, vô cùng tức giận và ngạc nhiên khi chẳng thấy bóng dáng tín hiệu nào của tên ẩn sĩ ác ý; thay vào đó là một con rồng có vẻ ngoài vảy lởm chởm và kỳ dị, với một chiếc lưỡi phừng phừng lửa, đang ngồi canh gác trước một cung điện bằng vàng, với sàn nhà bằng bạc; và trên bức tường có treo một chiếc khiên bằng đồng sáng loáng với dòng chữ được khắc lên —

Kẻ nào bước vào đây, kẻ chinh phục sẽ thành;

Kẻ nào giết được rồng, khiên vàng sẽ thuộc danh.

Và Ethelred giơ cao cây chùy, giáng một cú lên đầu con rồng, nó ngã quỵ trước mặt hắn, và trút hơi thở độc hại, với một tiếng thét vừa kinh hãi vừa chói tai, và hơn thế nữa lại cực kỳ sắc nhọn, đến nỗi Ethelred suýt phải lấy tay bịt tai lại để chống lại tiếng ồn khủng khiếp của nó, thứ âm thanh chưa từng có ai nghe thấy trước đó.”

Đến đây tôi lại khựng lại đột ngột, và lần này mang theo một cảm giác kinh ngạc đến điên cuồng — bởi vì không còn bất kỳ nghi ngờ gì nữa rằng, trong trường hợp này, tôi thực sự đã nghe thấy (dù nó phát ra từ hướng nào thì tôi hoàn toàn không thể xác định) một âm thanh thét hoặc rít thấp, có vẻ ở xa, nhưng gay gắt, kéo dài và vô cùng bất thường — bản sao chính xác của những gì trí tưởng tượng của tôi đã vẽ ra cho tiếng thét phi tự nhiên của con rồng như được miêu tả bởi nhà văn.

Bị áp đảo, quả thực là như vậy, khi sự trùng hợp thứ hai và vô cùng kỳ lạ này xảy ra, bởi hàng ngàn cảm xúc mâu thuẫn, trong đó sự kinh ngạc và nỗi sợ hãi tột cùng chiếm ưu thế, tôi vẫn giữ lại đủ sự tỉnh táo để tránh làm kích động, thông qua bất kỳ nhận xét nào, chứng thần kinh nhạy cảm của bạn mình. Tôi hoàn toàn không chắc chắn rằng cậu ta có nhận thấy những âm thanh đang được nhắc tới hay không; mặc dù chắc chắn, một sự thay đổi kỳ lạ đã diễn ra trong tác phong của cậu trong vài phút qua. Từ vị trí đối diện với tôi, cậu dần xoay chiếc ghế của mình lại, sao cho ngồi đối mặt với cửa phòng; và do đó tôi chỉ có thể nhìn thấy một phần các nét mặt của cậu, mặc dù tôi thấy đôi môi cậu run rẩy như đang lầm bầm không thành tiếng. Đầu cậu cúi gục xuống ngực — thế nhưng tôi biết cậu không hề ngủ, từ việc đôi mắt mở to và cứng đờ khi tôi bắt gặp một cái nhìn lướt qua ở góc nghiêng của cậu. Chuyển động cơ thể của cậu cũng mâu thuẫn với ý niệm đó — vì cậu đu đưa từ bên này sang bên kia với một nhịp điệu nhẹ nhàng nhưng liên tục và đều đặn. Nhanh chóng nhận thức tất cả những điều này, tôi tiếp tục câu chuyện của ngài Launcelot, đoạn được tiếp nối như sau:

“Và giờ đây, vị dũng sĩ, sau khi thoát khỏi sự cuồng nộ khủng khiếp của con rồng, nhớ đến chiếc khiên bằng đồng, và việc phá giải lời nguyền đang yểm trên đó, liền dịch chuyển cái xác sang một bên cản đường trước mặt, và dũng cảm bước qua lớp nền bạc của lâu đài để đến nơi treo chiếc khiên trên tường; thứ mà thực ra chẳng chần chừ đợi hắn đến sát, mà đã rơi xuống ngay dưới chân hắn trên sàn bạc, với một âm thanh vang rền vô cùng lớn và khủng khiếp.”

Ngay khi những âm tiết ấy vừa thốt ra khỏi đôi môi tôi — cứ như thể một chiếcếc khiên bằng đồng thực sự vừa lúc đó rơi nặng nề xuống sàn bạc — tôi nhận thức được một âm thanh vang vọng rõ rệt, rỗng tuếch, bằng kim loại và leng keng, nhưng dường như lại bị bóp nghẹt. Hoàn toàn mất hết tinh thần, tôi vùng dậy đứng phắt dậy; nhưng chuyển động đu đưa đều đặn của Usher vẫn không hề bị xáo trộn. Tôi lao đến chiếc ghế nơi cậu đang ngồi. Đôi mắt cậu nhìn đăm đăm về phía trước, và bao trùm lên toàn bộ khuôn mặt cậu là một vẻ cứng đờ như đá. Thế nhưng, khi tôi đặt tay lên vai cậu, một cơn run rẩy dữ dội chạy dọc khắp cơ thể cậu; một nụ cười bệnh hoạn co giật quanh đôi môi cậu; và tôi thấy cậu đang lầm bầm bằng một giọng nói thấp, vội vã và lắp bắp, như thể không hề ý thức được sự hiện diện của tôi. Cúi người thật sát vào cậu, cuối cùng tôi cũng thấm thía ý nghĩa gớm ghiếc từ những lời nói của cậu.

“Không nghe thấy ư? — đúng thế, ta nghe thấy, và đã nghe thấy. Lâu — lâu — lâu — rất nhiều phút, rất nhiều giờ, rất nhiều ngày, ta đã nghe thấy nó — thế nhưng ta không dám — ôi, hãy thương xót cho ta, một kẻ khốn nạn tột cùng! — ta không dám — ta không dám lên tiếng! Chúng ta đã chôn sống cô ấy trong hầm mộ! Ta đã chẳng nói là các giác quan của ta rất nhạy bén sao? Giờ ta bảo với ngươi rằng ta đã nghe thấy những cử động yếu ớt đầu tiên của cô ấy trong chiếc quan tài rỗng tuếch. Ta đã nghe thấy chúng — từ rất, rất nhiều ngày trước — thế nhưng ta không dám — ta không dám lên tiếng! Và giờ đây — đêm nay — Ethelred — ha! ha! — việc phá vỡ cánh cửa của tên ẩn sĩ, và tiếng thét tử thần của con rồng, và tiếng leng keng của chiếc khiên! — phải nói chính xác hơn là, tiếng xé toạc chiếc quan tài của cô ấy, và tiếng rít của những bản lề sắt từ nhà tù của cô, cùng những quằn quại của cô bên trong lối đi vòm được bọc đồng của căn hầm! Ôi! ta phải trốn đi đâu? Chẳng phải cô ấy sẽ ở đây ngay bây giờ sao? Chẳng phải cô ấy đang vội vã đến để trách mắng sự vội vàng của ta sao? Chẳng phải ta đã nghe thấy tiếng bước chân của cô ấy trên cầu thang rồi sao? Chẳng phải ta đang nhận ra tiếng đập nặng nề và kinh khủng từ trái tim cô ấy đó sao? Đồ điên!” — đến đây cậu vùng dậy một cách cuồng loạn và thét lên những âm tiết ấy, như thể trong nỗ lực đó cậu đang buông bỏ cả linh hồn mình — “Đồ điên! Ta nói cho ngươi biết giờ đây cô ấy đang đứng ngay ngoài cánh cửa!”

Cứ như thể trong năng lượng siêu phàm của lời nói ấy ẩn chứa sức mạnh của một câu thần chú, những tấm ván cổ kính khổng lồ mà người nói đang hướng tay vào đã từ từ bật mở ngay lập tức, hé lộ những phần hàm đen sì và nặng nề. Đó là tác dụng của cơn cuồng phong đang lao tới — thế nhưng đứng ngay bên ngoài những cánh cửa kia thực sự là bóng dáng cao lớn và quấn khăn tang của tiểu thư Madeline nhà Usher. Có máu trên tấm áo trắng của cô, và dấu vết của một cuộc đấu tranh cay đắng hiện hữu trên mọi phần của cơ thể gầy guộc. Trong khoảnh khắc, cô đứng đó run rẩy và loạng choạng tiến lùi trên ngưỡng cửa — rồi, với một tiếng rên rỉ nhỏ, ngã nặng nề vào người anh trai, và trong cơn quằn quại hấp hối dữ dội và giờ đây là cuối cùng, đã kéo ngã cậu xuống sàn nhà như một cái xác chết, trở thành nạn nhân của những nỗi kinh hoàng mà cậu từng dự đoán.

Từ căn phòng đó, và từ dinh thự đó, tôi hoảng hốt bỏ chạy. Cơn bão vẫn đang hoành hành với tất cả sự thịnh nộ của nó khi tôi thấy mình đang băng qua con đường đắp cũ. Đột nhiên một thứ ánh sáng hoang dã lóe lên dọc theo lối đi, và tôi quay lại để xem thứ ánh sáng bất thường ấy phát ra từ đâu; bởi vì tòa nhà khổng lồ cùng những cái bóng của nó là những thứ duy nhất ở phía sau tôi. Ánh hào quang đó là của vầng trăng tròn, đang lặn và đỏ như máu, giờ đây chiếu rọi sống động xuyên qua vết nứt từng mờ ảo mà tôi đã nhắc đến trước đó, kéo dài từ mái nhà theo đường ngoằn ngoèo xuống tận móng. Trong lúc tôi đăm đăm nhìn, vết nứt ấy nhanh chóng mở rộng — một hơi thở dữ dội của cơn lốc xoáy ập đến — toàn bộ thể tròn của vệ tinh bùng nổ ngay trước mắt tôi — đầu óc tôi quay cuồng khi nhìn thấy những bức tường vĩ đại đang lao vào xé toạc nhau — một âm thanh gầm rú hỗn loạn kéo dài tựa như tiếng của ngàn dòng suối — và hồ nước sâu thẳm lạnh lẽo dưới chân tôi lặng lẽ và u ám khép lại trên những mảnh vỡ của “Ngôi nhà Usher.”

* Watson, Tiến sĩ Percival, Spallanzani, và đặc biệt là Giám mục vùng Landaff. — Xem “Chemical Essays,” tập v.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.