Ống Ngầm Dưới Biển

Lượt đọc: 11 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
By L. Taylor Hansen

❊ ❊ ❊

Nếu người bạn kỹ sư của tôi không nói với tôi rằng Đường ống ngầm rất nguy hiểm, thì tôi đã chẳng mua vé vào chuyến đi định mệnh ấy, và thế giới này đã chẳng bao giờ biết đến câu chuyện về Hang động Vàng và Thành phố của Người chết.

Do đó, theo đúng tục lệ chung, sau khi đã hoàn thành việc nộp báo cáo với tư cách là người sống sót duy nhất trong thảm họa Đường ống ngầm từng gây xôn xao dư luận cho Ủy ban Quốc tế về Điều tra Thảm họa, giờ đây tôi đã sẵn sàng phác lại câu chuyện đó cho thế giới.

Dĩ nhiên tôi thừa hưởng sự hiểu biết về vô số câu chuyện hoang đường và tin đồn đã lan truyền kể từ sau tai nạn, nhưng tôi phải xin độc giả kiên nhẫn lắng nghe khi tôi cố gắng phác thảo sơ lược, không chỉ những khó khăn vô vàn mà các kỹ sư phải vượt qua, mà cả lý thuyết đẩy bằng sức gió đã được tận dụng trong công trình này; bởi vì chỉ bằng cách thấu hiểu phần nào hai khía cạnh trong các bài toán kỹ thuật của Đường ống ấy, người ta mới có thể hiểu được tai nạn cùng những bí mật phơi bày sau đó.

Những ai không để cho góc nhìn về lịch sử hiện đại của mình trở nên quá mơ hồ sẽ nhớ rằng, buổi hoàng hôn của thế kỷ 20 chứng kiến một giấc mơ của giới kỹ sư cuối cùng cũng thành hiện thực — sự hoàn thành của tuyến đường sắt ngầm dưới đáy biển từng được loan báo từ lâu. Người ta cũng sẽ nhớ rằng các kỹ sư chịu trách nhiệm cho công trình vĩ đại này đã vô cùng phấn khích trước thành công rực rỡ của đường ống đầu tiên chạy dưới Eo biển Anh, nối liền Anh và Pháp bằng đường sắt. Tuy nhiên, chính từ đường ống thứ hai bắc qua Eo biển và đường ống nối Montreal với New York, cũng như tuyến nối New York và Chicago, họ đã thu nhận được một số ý tưởng mang tính cách mạng vào thời điểm đó về việc sử dụng sức gió làm lực đẩy. Do đó, trước khi Đường ống ngầm được hoàn thành, các kỹ sư phụ trách đã quyết định ứng dụng phương pháp mới này vào đường hầm dài nhất thế giới, và ngay sau quyết định đó, công việc vẽ bản thiết kế cho những cỗ máy bơm khí khổng lồ mọc lên ở hai đầu — Liverpool và New York — đã được khởi động. Dù vậy, tôi sẽ đề cập đến lý thuyết đẩy bằng sức gió sau, theo cách thức mà nó đã được giải thích cho tôi.

Người ta sẽ nhớ rằng sau những nghi thức long trọng, Đường ống đã được khởi công đồng thời ở hai thành phố đầu mút và tiến xuyên qua những lớp đá rắn chắc — đủ sâu dưới đáy đại dương để vượt qua áp lực khủng khiếp của khối nước bên trên, nhưng lại đủ gần với mặt biển để khắc phục cường độ sức nóng ngầm dưới lòng đất. Khỏi phải nói, đó là một công trình cực kỳ nguy hiểm, bất chấp những cuộc khảo sát vô cùng cẩn trọng đã được thực hiện, bởi vì các nhóm công nhân nhỏ bé không bao giờ có thể biết trước khi nào họ sẽ chạm phải một vết nứt hoặc kẽ hở bất ngờ thả ập xuống đầu họ dòng nước Đại Tây Dương với sức cuồn cuộn khủng hoảng. Nhưng hiểm nguy chính là phiêu lưu, và khi hai nhóm lao động nhỏ bé đào về phía nhau, ánh mắt của giới truyền thông dõi theo họ với sự quan tâm dai dẳng hơn bất kỳ công việc hằng ngày nào của bất kỳ cá nhân hay nhóm người nào, dù là trước hay sau đó.

Đã có lần thế giới phải giật mình trước tiếng "extree-ee—" thông báo rằng nhóm công nhân Anh đã đọt phá vào một ngọn núi lửa đã tắt, mà phần chóp của nó dường như đã bị bịt kín từ hàng thời đại trước, bởi vì bên trong không có nước mà chỉ có không khí — có lẽ ngột ngạt và nghẹt thở một cách kỳ lạ, nhưng ít ra đó không phải là cơn hồng thủy nước rẫy chết chóc. Và rồi khám phá vĩ đại đã xuất hiện. Không ai sống qua thời kỳ đó lại có thể quên được niềm rung cảm làm rộn ràng nhịp đập của nhân loại khi nhóm công nhân Mỹ, trong lúc đào xuyên qua một lớp vữa dung nham cũ dưới thứ mà các nhà khoa học gọi là "sườn núi cổ", đã đột nhập vào một hang động bị niêm phong ngời sáng dưới những tia chớp thăm dò của đèn pin chẳng khác gì muôn vàn mặt kim cương lấp lánh. Nhưng khi họ tìm thấy cỗ quan tài bằng đá quý, qua lớp kính trên nắp mà họ tò mò nhìn xuống thân thể trắng ngần của một người phụ nữ tuyệt đẹp, một phần được che phủ bởi những lọn tóc đỏ dày buông xõa, thế giới đã phải há hốc mồm và kinh ngạc. Như mọi đứa trẻ đi học đều biết, cỗ quan tài đã bị mở ra bởi những nhà khoa học tò mò, những kẻ đổ xô vào đường ống từ khắp nơi trên thế giới, nhưng ngay khi vừa tiếp xúc với không khí, chất lỏng kỳ lạ đã bảo vệ thi thể liền tan biến, để lại trong quan tài không phải là dáng hình trắng trẻo, mà chỉ là một đống tro xám đang vụn bở. Thế nhưng những câu hỏi mà việc phát hiện ra hang động đặt ra vẫn ở lại mà không có lời giải đáp.

Người phụ nữ này là ai? Làm thế nào bà ta lọt được vào hang động bị niêm phong ấy? Nếu bà ta từng là sủng phi của vương quốc thần thoại đó, nay đã chìm sâu dưới những ngọn sóng, và bị thủ tiêu trong những âm mưu chốn cung đình, thì tại sao những kẻ sát nhân lại chôn cất bà trong một cỗ quan tài như thế? Bà đã bị giết bằng cách nào? Một chất độc vô danh chăng? Có lẽ bà từng là một nữ nô lệ được quốc vương yêu quý. Quan điểm này thu hút được rất nhiều người ủng hộ trong giới khảo cổ học, những người lập luận rằng từ tất cả những bằng chứng chúng ta đang có sẵn, chủng tộc mang nền văn hóa Iberia hoặc Tiền Ai Cập, từ lâu vẫn được cho là những người tị nạn thực sự từ lục địa Atlantis chìm đắm, vốn là một chủng tộc mảnh khảnh với mái tóc sẫm màu. Do đó, người phụ nữ này chắc hẳn là một tù binh. Các nhà địa chất học, khi phân tích dung nham, đã tuyên bố rằng nó đã cứng lại trong không khí chứ không phải trong nước, trong khi các nhà nhân chủng học xếp loại hộp sọ của người phụ nữ này hiện đại hơn hẳn so với cả hai loại người Neanderthal hay Cro-Magnon. Thế nhưng các kỹ sư, đang ngấm ngầm bực bội vì sự chậm trễ, cuối cùng đã xoay sở lấp kín hang động và tiếp tục thúc đẩy máy khoan tiến lên.

Rồi tiếp nối những cuộc tranh cãi vẫn đang sôi sục trên mặt báo, một mẩu tin nhỏ xíu xuất hiện và mang theo thông điệp đầu tiên gieo rắc mối lo âu vào trái tim của các kỹ sư. Biển đã bắt đầu rỉ nước qua một vết nứt nhỏ. Có lẽ chỉ vì khe nứt nằm ở phía thuộc về nước Anh của "sườn núi cổ" nổi tiếng giờ đây nên mẩu tin mới gây được sự chú ý nào đó. Nhưng đối với các kỹ sư, điều đó có là lời cảnh báo đầu tiên về một thảm họa có thể xảy ra ở hồi kết. Họ không thể trám kín vết nứt, và các máy bơm đã được đưa vào hoạt động. Tuy nhiên, khi một tháng trôi qua, vết nứt dường như không mở rộng ra đến mức đáng kể nào và tiếng kêu cứu hiểm họa của một vài kẻ bi quan đã rơi vào quên lãng.

Cuối cùng, người ta sẽ nhớ rằng những thiết bị dò âm thanh áp vào vách đá đã nghe thấy tiếng máy khoan của nhóm công nhân bên kia, và rồi với sự nhiệt tình cuồng nhiệt, công việc đã được thúc đẩy cho đến khi hoàn thành. Đường ống dài đã được đào xong. Giờ đây chỉ còn lại việc mở rộng các bức thành ở điểm giao nhau và bọc chúng bằng gang đúc, trong khi công việc lắp đặt những cỗ máy vĩ đại được thiết kế để đẩy các đoàn tàu hình trụ lao qua cũng được đẩy nhanh cho đến mục tiêu cuối cùng. Con người đã thử sức với kỳ tích kỹ sư vĩ đại nhất từng được thực hiện trong lịch sử hành tinh, và đã chiến thắng. Một khoảng thời gian ăn mừng cuồng nhiệt chào đón những con người đầu tiên băng qua theo mỗi chiều dưới đáy biển.

Lượng nước được bơm ra khỏi Đường ống hằng ngày và thải ra từ hai trạm có tăng lên không? Nếu có, sự việc đó đã bị báo chí phớt lờ. Thay vào đó, việc một số kẻ "lắm chuyện" cứ khăng khăng gọi món đồ chơi mới nhất của con người là không an toàn lại càng thu hút thêm nhiều người đi lại hơn. Đường ống ngầm đã hoạt động theo lịch trình đều đặn suốt ba năm trời, trở thành phương thức di chuyển qua đại dương thông thường.

Mọi chuyện đang ở tình trạng đó thì vào ngày mùng 4 tháng 3 vừa qua, công ty dệt may của chúng tôi ra lệnh cho tôi sang Pháp để giải quyết một số đơn hàng với chi nhánh ở Pháp, tình hình lúc đó khiến họ ưu tiên việc cử người đi. Tại sao họ không dùng điện thoại hình vô tuyến thì tôi không muốn nêu rõ, vì đó là chuyện kinh doanh của công ty tôi.

Do đó, khi bước chân vào căn hộ của mình, tôi đang giữa lúc thu xếp hành lý thì điện thoại truyền hình reo lên. Gương mặt bệ vệ của "Dutch" Higgins, cậu bạn cùng phòng đại học thuở trước của tôi và giờ đây là một trong những kỹ sư bị vu oan giáng họa của Đường ống ngầm, đang mỉm cười nhìn tôi từ màn hình.

"Cậu đang ở đâu thế? Tớ cứ tưởng chúng ta có hẹn ăn tối ở căn hộ của tớ chứ, Bob."

"Ôi trời tớ quên mất, Dutch. Tớ sẽ qua ngay đây — trước khi đồ ăn nguội ngắt."

Rồi ngay lập tức tôi xoay núm điều chỉnh đến bãi đỗ xe bay của Thành phố, gọi xe của mình, tiện tay vội lấy chiếc mũ rồi lao nhanh lên mái nhà. Đương nhiên, đến lúc đúng hẹn, tôi đã tung ra bất ngờ lớn nhất của buổi tối, nói thêm rằng:

"Và tất nhiên, tớ sẽ đi bằng Đường ống, tớ cảm thấy có chút gắn bó như đồng sở hữu vậy vì cậu là một trong những nhà thiết kế mà."

Một vẻ mặt kỳ lạ nửa đau đớn thoáng qua trên gương mặt cậu ấy. Chúng tôi đã dùng xong bữa, và đang ngồi hút thuốc với những chiếc ghế đẩy lùi ra sau. Cậu ấy châm đầy thuốc vào tẩu, rồi cau mày.

"Thế nào? Sao cậu không nói gì đi? Tớ cứ tưởng cậu sẽ... chà, thấy thích thú đôi chút chứ."

Cậu ấy bật chiếc bật lửa tự động và rít một hơi thuốc dài trước khi trả lời.

"Tớ ước gì cậu đi bằng con đường khác, Bob."

"Đi con đường khác á?"

"Ừ. Nếu cậu muốn nghe sự thật phũ phàng, Đường ống không an toàn đâu."

"Cậu đang đùa đấy à."

Nhưng khi nhìn sâu vào đôi mắt xanh lạnh lùng, đầy suy tư của cậu ấy, tôi biết rằng chưa bao giờ cậu ấy nghiêm túc đến thế.

"Tớ ước gì cậu đi bằng Hàng không Chuyên tuyến Xuyên Đại Tây Dương. Chúng cũng nhanh chẳng kém."

"Nhưng cậu từng rất nhiệt tình với Đường ống cơ mà, Dutch! Sao tớ nhớ có dạo khi nó đang được đào, cậu toàn gọi cho tớ vào đủ mọi giờ khắc điên rồ để kể cho tớ nghe những mẩu tin tức mới nhất cơ mà."

Cậu ấy chậm rãi gật đầu.

"Ừ, đó là những ngày trước khi vết nứt xuất hiện."

"Nhưng cậu vốn dự tính sẽ xử lý những chỗ rò rỉ có thể xảy ra cơ mà," tôi vặn lại.

"Nhưng vết nứt này mở ra sau khi đường hầm đã được đào qua khỏi nó, và dạo gần đây nó ngày càng mở rộng hơn."

Các kỹ sư khác có hoảng hốt không?

"Không. Chúng ta vẫn đang dễ dàng xử lý lượng nước thừa và một lần nữa miệng vết nứt lại có vẻ giữ nguyên bề rộng cố định như trong suốt ba năm qua. Nhưng chúng ta không thể trám kín nó được."

"Cậu có định công bố những quan điểm này không?"

"Không. Tớ đã làm một bản báo cáo thiểu số. Tớ chẳng thể làm gì hơn."

"Dutch, cậu đang trở nên quá ư cẩn trọng đấy. Dấu hiệu đầu tiên của tuổi già rồi."

"Có lẽ thế," kèm theo nụ cười cũ kỹ.

"Nhưng rốt cuộc thì đã hơn ba năm trôi qua từ lần cuối chúng ta trò chuyện về Đường ống. Sau khi nó bắt đầu hoạt động suôn sẻ như Tốc hành Hàng không, cậu đâm ra mất hứng thú với nó."

"Và thế giới cũng vậy."

"Chắc chắn rồi — nhưng công chúng xưa nay vẫn là một kẻ bề tôi dễ thay lòng đổi dạ. Ai đã nói câu đó trước tớ nhỉ?"

Cậu ấy bật cười và thả một làn khói dài.

"Ai cũng nói thế, Bob."

"Nhưng còn về Đường ống, nếu tớ băng qua dưới lòng biển, tớ muốn nắm rõ về con đường đó tường tận như ba năm trước. Trong khi đó, cậu thì đã bỏ bê việc theo dõi đường hầm dài, còn tớ thì lại trở nên say mê với ngành dệt may — kết quả là tớ đã quên sạch những gì mình từng biết — so với sự hiểu biết của cậu về các chi tiết thì vốn dĩ cũng chẳng đáng là bao."

Nhưng gương mặt cậu ấy chẳng hề phảng phất chút nhiệt huyết xưa cũ nào về chủ đề này. Tôi thầm nghĩ, quả là một con người khác hẳn so với gã sinh viên kỹ sư nhiệt tình thuở nào mà tôi hay bắt gặp đang mải mê mơ mộng bên những bản vẽ thiết kế. Thời đó, cậu ta bị coi là "hơi điên rồ" mỗi khi tỏ ra say sưa hết mình vì tuyến đường sắt ngầm của mình, nhưng gương mặt tràn đầy sinh khí lúc ấy lại bừng sáng vẻ cảm hứng. Giờ đây ánh sáng đó đã vụt tắt.

"Thế nào, Dutch, ý cậu sao? Cậu không định vẽ cho tớ một bản phác thảo ngắn gọn về sơ đồ dọc và mặt cắt của Đường ống nữa à? Tớ nhớ bản phác thảo của cậu hồi học đại học, và nó cứ làm tớ bối rối trước những thay đổi thực tế vốn trở nên bắt buộc khi phương pháp đẩy bằng sức gió được áp dụng."

"Được thôi, anh bạn già. Cậu còn nhớ Đường ống đã được mở rộng ở hai bên để chúng ta có thể làm hai ống hình tròn song song — mỗi ống đi một chiều chứ?"

"Tớ quên mất là chúng có hình tròn đấy."

"Đó là vì áp lực. Hình tròn chịu lực tốt nhất," vừa nói cậu ấy vừa nhặt một chiếc phong bì lạ lùng trong túi ra, vẽ nhanh bản phác thảo sau đây rồi đưa cho tôi.

Tôi gật đầu khi nhận ra phần mặt cắt.

"Bây giờ sơ đồ nguyên lý của nó là thế này," cậu nói thêm, cất chiếc tẩu đi và kéo một tờ giấy từ góc bàn ra.

Nhanh chóng, với tất cả sự chính xác ngày nào, cậu phác thảo sơ đồ chính và chồm người về phía trước khi trao nó cho tôi.

"Cậu thấy đấy," cậu giải thích, cầm lại chiếc tẩu lên, "cả hai máy bơm đều hoạt động cùng một lúc — thực ra, phải nói là cả bốn, bởi vì sơ đồ này được nhân đôi ở phía Anh. Ở cả hai đầu, một đoàn tàu được một đầu máy điện nhẹ nhàng đẩy vào. Từng toa một đi qua cổng để có một đệm không khí nằm giữa mỗi toa. Điều tương tự cũng diễn ra ở Liverpool. Giờ đây, khi đoàn tàu đến hạn đi ra từ ống hút khí, nó tiếp tục đi qua cổng, nhưng luồng không khí phía sau nó cứ thế vòng qua và tràn vào phía sau đoàn tàu đang rời đi."

"Nhưng làm sao cậu chắc chắn rằng nó sẽ không bị chết máy ở đâu đó chứ?"

"Nó khó mà chết máy được với các máy bơm áp suất đẩy phía sau và máy bơm hút kéo từ phía trước. Chúng ta luôn có thể tăng thêm công suất nếu cần thiết. Cho đến nay con đường vẫn hoạt động hoàn hảo."

"Cậu cần bao nhiêu công suất để đẩy nó đi qua, trong điều kiện bình thường?"

"Các đoàn tàu của chúng ta nặng trung bình khoảng năm mươi tấn, và với trọng lượng đó, chúng tớ thấy áp lực một cân Anh là hoàn toàn đủ. Giờ đây, lấy chiều dài đường hầm là bốn nghìn dặm (dĩ nhiên nó không dài đến thế, nhưng số tròn trịa là tiện nhất) và chiều rộng ống là mười một thước Anh một phần tư mỗi ống, tính toán ra chúng ta có 3.020.000 foot khối không khí tự do mỗi phút hoặc 2.904.000 foot khối không khí nén, sẽ tiêu tốn khoảng 70.000 mã lực đối với máy nén khí."

"Nhưng tốc độ có vẻ hơi chóng mặt phải không?"

"Không chóng mặt hơn đâu, Bob, so với những cỗ máy chuyển tiền kiểu cũ mà các cửa hàng bách hóa từng dùng — ý tớ là khi so sánh về tỷ lệ kích thước. Tốc độ trung bình khoảng 360 foot một giây. Tất nhiên, đoàn tàu được phép giảm tốc độ khi gần đến cuối hành trình, thậm chí trước cả khi nó chạm vào hệ thống phanh ngoài cổng."

"Nhưng cậu bảo áp lực đặt lên mặt sau của màng chắn là bao nhiêu — tớ nhớ là mỗi toa có một đĩa phẳng ở phía sau vừa vặn khá khít với đường ống..."

"Áp lực ở mặt sau chưa đầy bảy tấn. Tuy nhiên, chiếc đĩa không khít chặt đâu. Có một vài chỗ rò rỉ. Chẳng hạn, như cậu biết đấy, các đoàn tàu chạy theo nguyên tắc đường ray một bên với một thanh ray dẫn hướng ở mỗi bên. Các rãnh cho thanh ray cùng ba con lăn của chúng nằm trong mỗi toa. Có một chút không khí rò rỉ ở đây."

"Cậu đã dùng loại quạt gió tuabin phải không?"

"Bắt buộc phải dùng vì tiếng ồn. Chúng tớ đã lắp một số thiết bị giảm thanh vào đó mà vẫn không thể triệt tiêu hết tiếng ầm ầm. Tuy nhiên, một phát minh mới vừa ra đời mà chúng ta sẽ sớm đưa vào sử dụng bây giờ."

"Nhưng tớ không thể hiểu nổi, Dutch, tại sao cậu có vẻ khó chịu đến thế khi tớ tuyên bố ý định đến châu Âu qua Đường ống. Chà, tớ còn nhớ cái ngày mà điều đó sẽ làm cậu sướng phát điên lên cơ mà."

"Cậu có theo dõi quá trình đào Đường ống không?"

"Có chứ, đương nhiên rồi."

"Cậu nhớ ngọn núi lửa và các vỉa dung nham chứ?"

"Có."

"Ừm, tớ không tin rằng vết nứt đó là một khe nứt áp lực. Nếu đúng là vậy, chúng ta đã ở đủ sâu bên dưới đáy đại dương để có thể phần nào giảm bớt tình hình bằng cách xây dựng Đường ống vô cùng kiên cố. Lớp vỏ bọc khủng khiếp của loại kim loại mới được tôi cứng đặc biệt này—"

"Và lớp bê tông giàu xi măng được dùng làm vật liệu lấp! Đó là một công việc không một ai lơ là cả. Tớ nhớ cách cậu giám sát nó—"

"Thế nhưng vết nứt vẫn cứ mở rộng ra, Bob ạ, kể từ khi Đường ống hoàn thành."

"Làm sao cậu có thể chắc chắn được chứ?"

"Dựa vào lượng nước chảy qua các đường ống thoát nước."

"Nhưng cậu bảo rằng nó đã đứng yên một lần nữa cơ mà."

"Đúng thế, và chính điều đó mới chứng minh, tớ tin là vậy, bản chất của vết nứt."

"Tớ không theo kịp cậu rồi."

"Sao cơ, đó hoàn toàn không phải là một vết nứt, Bob. Đó là một đứt gãy địa chất động đất."

"Chúa thánh thần ơi, ý cậu không phải là—"

"Đúng thế đấy. Tớ muốn nói là lần tới khi mặt đất dịch chuyển, chiếc ống nhỏ bé của chúng ta sẽ bị vặn xoắn như một sợi dây thừng, hoặc bị nghiền nát như vỏ trứng. Nơi đó xưa nay vốn là một mảnh đất đá gập ghềnh. Dù vậy, tớ đã tưởng rằng khi đi xa về phía bắc như thế, chúng ta đã tránh được đường đứt gãy chính; ý tớ là những chấn động từng quét sạch cả một quốc gia, nếu các nhà khoa học của cậu đúng."

"Vậy ý cậu là đó chỉ là vấn đề thời gian thôi sao?"

"Ừ, và tớ đã được một chuyên gia thông báo rằng hoạt động núi lửa cũ cũng chưa hề chết đi đâu."

"Vậy đó là thứ đã đánh cắp nụ cười của cậu sao?"

"Chà, tớ là một trong những kỹ sư — và họ sẽ không cho tạm ngừng dịch vụ đâu."

"Định mệnh đã chơi một vố ác độc với cậu, Dutch, lại thông qua chính những giấc mơ của cậu nữa chứ. Dù sao đi nữa, cậu đã làm tớ quyết định đi bằng Đường ống rồi đấy."

Cậu ấy rút tẩu ra khỏi miệng và trân trân nhìn tôi.

"Không sớm thì muộn Đường ống cũng tiêu đời, và tớ chưa từng đi qua lần nào. Không liều lĩnh — cuộc đời sẽ tẻ nhạt lắm. Cuộc đời tớ đã quá ư tẻ nhạt rồi. Bây giờ tớ chắc chắn sẽ đi bằng Đường ống."

Một chút lửa nhiệt huyết ngày xưa ánh lên trong đôi mắt cậu.

"Vẫn là cái tay Bob ngày nào," cậu lầm bầm khi tôi đứng dậy, rồi nắm chặt tay tôi với một nụ cười toe toét.

"Chúc cậu may mắn nhé, anh bạn, trên chuyến hành trình của mình, và mong rằng lão thần Vulcan đang đi nghỉ mát khi cậu đi ngang qua cửa nhà lão."

Chúng tôi đã nói lời chia tay như thế. Lúc đó tôi đâu biết rằng mình sẽ không bao giờ gặp lại cậu ấy nữa — rằng đêm hôm ấy cậu ấy cũng lên chuyến tàu đó để đưa ra lời thỉnh cầu cuối cùng trước Ủy ban Quốc tế, và cứ thế hy sinh mạng sống cùng những hành khách mà cậu ấy từng lên tiếng biện hộ.

Tuy nhiên, mang theo bao suy nghĩ bộn bề mâu thuẫn, tôi vội vã tiến về Ga lớn vào đêm định mệnh ấy, nơi sau khi được cấp vé, chụp ảnh và lập hồ sơ bởi một đội ngũ nhân viên mẫn cán, chẳng mấy chốc tôi thấy mình được dẫn vào toa tàu của mình.

Để dành cho những ai chưa từng đi trên chuyến "Tốc hành" nổi tiếng, tôi không thể mô tả các toa tàu nào hay hơn là nói rằng khi bước đến gần chúng vào ban đêm như tôi lúc đó, chúng trông giống như một con sâu khổng lồ, sáng bóng, có hình thù kỳ lạ, qua những ô cửa sổ tròn nhỏ bằng thủy tinh dày bên ở hai bên thân, phần nội tạng phát sáng của nó đang rực lên leo lét.

Tôi được dẫn một cách hống hách vào toa đầu tàu, trông rất giống một viên đạn pháo khổng lồ — y như tất cả các khúc đốt khác của con sâu phát sáng vĩ đại này.

Sau khi cho người hầu phòng tiền boa cùng sự hoài nghi rằng việc tôi có toa đầu tàu là do sắp xếp của người bạn vốn sẵn lòng cho tôi đáng đồng tiền bát gạo cảm giác mạnh, và rằng người hầu phòng cũng nhận thức được điều này, tôi cất hành lý gọn gàng rồi bắt đầu chuẩn bị đi ngủ. Tôi vừa cởi áo khoác thì cửa mở ra và một lão già với mái tóc bạc phơ ló đầu vào nhìn tôi.

"Xin lỗi ông, nhưng tôi được biết là ông đã bao trọn toa này phải không?"

"Vâng."

"Đêm nay tôi không thể tìm được chỗ nào khác. Ông có một giường thừa ở đây và tôi phải đến Paris vào ngày mai. Tôi sẽ trả ông hậu hĩnh—"

Tôi mỉm cười.

"Cứ tự nhiên đi. Đằng nào thì tôi cũng bắt đầu thấy cô đơn rồi."

Ông cụ cúi đầu trang nghiêm và ra lệnh cho người hầu phòng mang đồ đạc vào. Tôi thầm đoán ông ta là một nhạc sĩ. Chỉ có nghệ sĩ mới chuộng kiểu tóc đáng yêu nhường ấy. Nhưng ông ta cẩn thận cởi đồ trong sự im lặng trang nghiêm, không thèm liếc thêm dù chỉ một cái về phía tôi, trong khi về phần mình, tôi cũng quên bẵng sự hiện diện của ông ta khi nhìn qua ô cửa sổ tròn và nhận ra đoàn tàu đã bắt đầu chuyển động. Chẳng mấy chốc, tiếng vo ve của những cỗ máy đẩy đã bắt đầu lọt vào tai. Rồi đoàn tàu bắt đầu lao xuống dốc và những vách thép ở lối vào trở nên quá cao khiến tôi không thể nhìn qua mép được nữa. Người bạn tóc bạc của tôi đã tắt đèn từ trước, và giờ đây qua bóng tối, tôi biết rằng chúng tôi đã bước vào Đường ống. Một lúc lâu tôi vẫn thức trằn trọc nghĩ về "Dutch" cùng sự sụp đổ cay đắng của giấc mơ đời cậu ấy, như những gì cậu đã phác thảo cho tôi nghe, rồi tôi chìm vào một giấc ngủ sâu, không mộng mị.

Tôi bừng tỉnh bởi một cú sốc kinh hoàng hất văng tôi đập mạnh vào thành khoang tàu. Một thứ ánh sáng đỏ đục xuyên qua ô cửa sổ tròn, thắp sáng không gian nội thất bằng một phản chiếu kỳ dị, đẫm máu. Tôi lê người đầy đau đớn đến bên ô cửa sổ tròn và nhìn ra ngoài. Cảnh tượng kỳ lạ nhất mà con người từng chứng kiến đập vào mắt tôi. Vách tường đã bị thổi tung thành một hang động khổng lồ, và cùng với đó, phần còn lại của các toa tàu đã lăn nhào xuống bờ vực thành một khối thép rối rắm, xoắn xuýt. Toa tàu của tôi suýt vượt qua, và giờ đây nó vẫn mắc kẹt trong đường ống, dẫu cho ô cửa sổ tròn cuối cùng mà tôi đang nhìn ra dường như đang lơ lửng giữa không trung. Nhưng không phải những toa tàu đổ nát đang cất lên những tiếng kêu tuyệt vọng và đau đớn thấu trời xanh ấy thu hút sự chú ý của tôi, mà chính là hang động kia. Vì thực ra đó không phải là một cái hang, mà là một thành phố ngầm rộng lớn với những con đường lát cẩm thạch thênh thang chạy dài đến tận một địa ngục lửa và dung nham. Dưới thứ ánh sáng khủng khiếp đó, một cung điện trắng vĩ đại với những đường cuộn chạm trổ chóp vàng đang được soi sáng, và gần tôi hơn nữa, ngôi đền vàng của Thần Mặt Trời, với những tầng bậc thềm vàng óng ánh — những bậc thềm đã bị mòn gót bởi bước chân của bao thế hệ.

Vươn cao trên những bậc thềm là bức tượng lớn hình một người đàn ông cưỡi ngựa. Ông mặc một dạng áo chùng tunic, và trong cánh tay giơ cao, ông cầm một cuộn giấy như thể để cho người dân đọc. Gương mặt ông quay về hướng tôi, và ngay cả trong khoảnh khắc cuồng loạn đó, tôi vẫn phải kinh ngạc vì nhà điêu khắc vô danh lại có thể bắt trọn được biểu cảm cầu khẩn đến vậy. Tôi có thể nhìn thấy vầng trán cao mang trí tuệ ấy như thể nó đang ở ngay trước mắt tôi lúc này — đôi mắt điềm tĩnh, đầy đồng cảm và chiếc cằm cương nghị.

Rồi một vật chuyển động lọt vào tầm mắt tôi, và tôi dám thề rằng mình nhìn thấy một đứa trẻ — một đứa trẻ bằng xương bằng thịt đang bước ra từ thành phố đang cháy — chạy như điên cuồng, thở không ra hơi trước một làn sóng dung nham rực cháy đang đe dọa nuốt chửng nó bất cứ lúc nào. Bất chấp mọi lời chế nhạo đã trút xuống đầu tôi, tôi vẫn khẳng định rằng đứa trẻ đó không bước ra từ đống đổ nát và nó mặc chiếc áo chùng tunic giống bức tượng chứ không phải mảnh vải rách của một chiếc áo ngủ hay tấm vải ga giường.

Nó ở cách tôi một khoảng khá xa, nhưng tôi vẫn có thể nhìn rõ biểu cảm hoảng loạn tột độ của nó khi nó bắt đầu trèo lên những bậc thềm ngời sáng ấy. Kỳ lạ thay, chiếc cầu thang bằng vàng đã mòn ấy lại tỏa sáng lung linh trong thứ ánh sáng kỳ dị — vàng, thứ kim loại cổ xưa của Mặt Trời. Với sự chậm chạp của một kẻ sắp ngất lịm, nó lê cơ thể lên, trong khi hơi thở như bị xé toạc ra từ lăng họng trong những tiếng rên rỉ đau đớn. Phía sau nó, dòng chất lỏng rực cháy bắn tung tóe vào các bậc thang và thứ kim loại vàng của Mặt Trời bắt đầu tan chảy nhỏ giọt vào cái vạc lửa rực hồng của nó.

Đứa trẻ đã với tới chân con ngựa và bám chặt lấy đó.

... Rồi đột nhiên toàn bộ khung cảnh bắt đầu rung chuyển như thể tôi đang ngắm nhìn một ảo ảnh, trong khi ngay phía sau toa tàu của mình, tôi thoáng thấy trong thứ ánh sáng lập lòe ấy một trận hồng thủy màu xanh ngọc lục bảo đang bùng nổ ập vào như một bầu trời tối sầm làm bằng nước đặc quánh, và trong tích tắc trước khi một cú đánh trời giáng vào lưng tôi, xuyên qua cả đống chăn màn rối rắm, đánh ngất tôi đi, tôi dường như lại nghe thấy âm thanh tuyệt vọng trong giọng nói của người bạn mình khi anh ấy nói:

"—một đứt gãy địa chất động đất."

Sau quãng thời gian dài đối với tôi tựa như cả mấy thời đại với những tiếng vo ve kỳ lạ cùng thứ ánh sáng khác thường, cuối cùng tôi cũng nhận diện được những vật xung quanh mình là của một bệnh viện. Những người đàn ông với gương mặt nghiêm nghị đang dõi theo tôi. Kể từ đó, tôi được kể lại rằng tôi đã nói nhảm không rõ thành lời về việc "cứu lấy đứa nhỏ" và những lời lầm bầm khó hiểu không kém khác. Từ họ, tôi biết rằng đoàn tàu chạy hướng ngược lại đã bị nước cuốn trôi, một đống đổ nát hỗn độn y hệt như toa tàu của tôi, cả hai trạm đầu mút bị phá hủy hoàn toàn, và không một ai sống sót được tìm thấy ngoài tôi. Cho nên, dẫu cho tôi có phải trở thành một kẻ tàn phế vô vọng đi nữa, thì tôi vẫn không hề hối tiếc vì sự tài năng cùng lòng kiên nhẫn bền bỉ của vị bác sĩ phẫu thuật người Anh vĩ đại, Tiến sĩ Thompson, đã xoay sở nhen nhóm lại ngọn lửa sự sống yếu ớt của tôi qua suốt ngững tuần lễ mà tôi lơ lửng bên ranh giới cõi chết; bởi vì nếu ông ấy không làm vậy, thế giới sẽ chẳng bao giờ hay biết.

Cứ đà này, tôi tự hỏi về những sự kiện đêm hôm ấy cứ như thể nó chưa từng là một trải nghiệm — mà chỉ là một giấc mơ kỳ quái, điên rồ. Ngay cả người quý ông với mái tóc bạc phơ cũng là một bí ẩn, bởi vì ông ta chưa bao giờ được nhận dạng, thế nhưng tận sâu trong góc khuất tâm trí, tôi vẫn có thể nghe thấy giọng nói tao nhã của ông khi hỏi về chiếc giường thừa, và nhắc đến sứ mệnh cấp bách của mình tới Paris. Và bằng cách nào đó, ông mang lại nét chấm phá cuối cùng đầy kỳ lạ cho các sự kiện của đêm định mệnh ấy, để rồi trong tâm trí tôi, ông trở thành một phần của nó chẳng kém gì đứa trẻ trên những bậc thềm, địa ngục lửa đang rực cháy soi rọi phía hậu cảnh, và bức tượng vĩ đại của người anh hùng vô danh đã giơ cao cuộn giấy của mình trong khoảnh khắc dưới thứ ánh sáng lập lòe ấy, tựa như một biểu tượng từ Thành phố của Người chết đã chìm sâu.

HẾT

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.