[TIÊU_ĐỀ GỐC]: by Daniel Defoe
Khoảng đầu tháng Chín năm 1664, tôi cùng những người láng giềng nghe bàn tán thông thường rằng bệnh dịch hạch lại bùng phát ở Hà Lan; bởi căn bệnh này từng hoành hành dữ dội ở đó, nhất là tại Amsterdam và Rotterdam vào năm 1663, và người ta đồn rằng bệnh được mang về, kẻ thì bảo từ Ý, người lại bảo từ vùng Levant, lẫn trong số hàng hóa do hạm đội Thổ Nhĩ Kỳ của họ chở về; có người bảo xuất phát từ Candia, kẻ khác lại cho là từ Síp. Nguồn gốc từ đâu không thực sự quan trọng; nhưng tất cả đều đồng lòng rằng dịch hạch đã trở lại Hà Lan.
Thời đó chúng tôi không có những tờ báo in để lan truyền tin đồn và các bản tường thuật, rồi thêu dệt chúng theo trí tưởng tượng của con người như tôi đã chứng kiến trong những năm tháng sau này. Những chuyện như vậy chỉ được góp nhặt từ thư từ của các thương gia và những người có kiều giao ở nước ngoài, rồi cứ thế truyền tai nhau bằng miệng; thế nên tin tức không lan đi khắp cả nước ngay lập tức như bây giờ. Nhưng có vẻ như Chính phủ đã nắm được thông tin chính xác và đã tổ chức nhiều phiên họp bàn về các biện pháp ngăn chặn dịch bệnh xâm nhập; tuy nhiên mọi việc đều được giữ kín mít. Chính vì thế mà lời đồn dần lắng xuống, và mọi người bắt đầu quên nó đi như một chuyện chẳng liên quan gì đến mình, một điều mà chúng tôi hằng mong không phải sự thật; cho đến tận cuối tháng Mười hoặc đầu tháng Mười hai năm 1664, khi hai người đàn ông được cho là người Pháp đã chết vì dịch hạch ở Long Acre, hay nói đúng hơn là ở phía trên đầu đường Drury Lane.
Gia đình nơi họ ở đã tìm mọi cách che giấu sự việc, nhưng vì tin tức đã lọt ra ngoài qua những lời bàn tán trong xóm giang, các Bộ trưởng Ngoại giao liền hay biết; và để xác minh cho chắc chắn, họ đã ra lệnh cho hai y sĩ và một bác sĩ phẫu thuật đến tận ngôi nhà đó để kiểm tra. Họ đã làm như vậy; và sau khi tìm thấy những dấu hiệu rõ rệt của căn bệnh trên cả hai cái xác, họ công khai tuyên bố rằng hai người này đã chết vì dịch hạch. Ngay lập tức, sự việc được trình báo lên viên thư ký giáo xứ, và ông ta cũng báo cáo lại cho Tòa thị chính; rồi tin ấy được in trên bản thống kê tử vong hàng tuần theo cách thông thường như sau —
Người dân tỏ ra vô cùng lo lắng và bắt đầu hoang mang trên toàn thành phố, càng hoang mang hơn khi vào tuần cuối cùng của tháng Mười hai năm 1664, lại có thêm một người đàn ông nữa chết tại chính ngôi nhà đó và cũng vì căn bệnh ấy. Rồi chúng tôi lại được yên tâm trong khoảng sáu tuần, chẳng có ai chết với bất kỳ dấu hiệu nhiễm bệnh nào, người ta bảo rằng căn bệnh đã qua đi; nhưng sau đó, tôi nhớ là khoảng ngày 12 tháng Hai, một người nữa lại chết ở một ngôi nhà khác, nhưng vẫn trong cùng giáo xứ và với triệu chứng y như vậy.
Điều này hướng sự chú ý của người dân khá nhiều về phía đầu đó của thành phố, và các bản thống kê hàng tuần cho thấy số ca chôn cất ở giáo xứ St Giles nhiều hơn mức bình thường, khiến người ta bắt đầu nghi ngờ rằng dịch hạch đang hoành hành giữa những cư dân ở khu vực đó, và rằng rất nhiều người đã chết vì căn bệnh này, dù họ đã cẩn trọng che giấu tối đa trước công chúng. Chuyện này ám ảnh tâm trí người dân sâu sắc, và chẳng mấy ai dám đi qua Drury Lane hay những con đường bị nghi ngờ khác, trừ khi có việc công trọng đại buộc họ phải đi.
Sự gia tăng trong các bản thống kê được ghi nhận như sau: số lượng các ca chôn cất thông thường trong một tuần tại các giáo xứ St Giles-in-the-Fields và St Andrew’s, Holborn thường dao động từ mười hai đến mười bảy hoặc mười chín ca mỗi nơi, rất ít khi chênh lệch hơn kém; nhưng kể từ khi dịch hạch bắt đầu xuất hiện ở giáo xứ St Giles, người ta nhận thấy số ca chôn cất thông thường đã tăng lên đáng kể. Ví dụ như:—
Từ ngày 27 tháng Mười hai đến ngày 3 tháng Giêng { St Giles: 16
” { St Andrew: 17
” Ngày 3 tháng Giêng đến ” ” 10 { St Giles: 12
” { St Andrew: 25
” Ngày 10 tháng Giêng đến ” ” 17 { St Giles: 18
” { St Andrew: 28
” Ngày 17 tháng Giêng đến ” ” 24 { St Giles: 23
” { St Andrew: 16
” Ngày 24 tháng Giêng đến ” ” 31 { St Giles: 24
” { St Andrew: 15
” Ngày 30 tháng Giêng đến ngày 7 tháng Hai { St Giles: 21
” { St Andrew: 23
” Ngày 7 tháng Hai đến ” ” 14 { St Giles: 24
Sự gia tăng tương tự trong các bản thống kê cũng được ghi nhận tại các giáo xứ St Bride’s, nằm liền kề một bên giáo xứ Holborn, và giáo xứ St James, Clerkenwell, nằm liền kề bên kia; ở cả hai giáo xứ này, số lượng người chết hàng tuần thường từ bốn đến sáu hoặc tám người, nhưng vào thời điểm đó đã tăng lên như sau:—
Từ ngày 20 tháng Mười hai đến ngày 27 tháng Mười hai { St Bride’s: 0
” { St James’s: 8
” Ngày 27 tháng Mười hai đến ngày 3 tháng Giêng { St Bride’s: 6
” { St James’s: 9
” Ngày 3 tháng Giêng đến ” ” 10 { St Bride’s: 11
” { St James’s: 7
” Ngày 10 tháng Giêng đến ” ” 17 { St Bride’s: 12
” { St James’s: 9
” Ngày 17 tháng Giêng đến ” ” 24 { St Bride’s: 9
” { St James’s: 15
” Ngày 24 tháng Giêng đến ” ” 31 { St Bride’s: 8
” { St James’s: 12
” Ngày 31 tháng Giêng đến ngày 7 tháng Hai { St Bride’s: 13
” { St James’s: 5
” Ngày 7 tháng Hai đến ” ” 14 { St Bride’s: 12
” { St James’s: 6
Bên cạnh đó, người dân hết sức bất an khi nhận thấy các bản thống kê tử vong tuần nói chung tăng vọt trong những tuần này, dẫu đây là khoảng thời gian trong năm mà số lượng ca tử vong thường ở mức rất ôn hòa.
Số lượng các ca chôn cất trong phạm vi thống kê tử vong mỗi tuần thường từ khoảng 240 đến 300 người. Con số sau được coi là khá cao; nhưng sau đó, chúng tôi thấy các bản thống kê tiếp tục tăng dần như sau:—
Số lượng chôn cất. Số lượng tăng thêm.
Từ ngày 20 tháng Mười hai đến ngày 27: 291 ...
” ” 27 ” 3 tháng Giêng: 349: 58
Ngày 3 tháng Giêng ” 10 ” : 394: 45
” ” 10 ” 17 ” : 415: 21
” ” 17 ” 24 ” : 474: 59
Bản thống kê cuối cùng này thực sự đáng sợ, là con số cao nhất từng được ghi nhận về số người chôn cất trong một tuần kể từ đợt dịch trước đó vào năm 1656.
Tuy nhiên, mọi chuyện rồi cũng lắng xuống, thời tiết trở lạnh, và đợt sương giá bắt đầu từ tháng Mười hai vẫn tiếp tục kéo dài khắc nghiệt cho đến tận gần cuối tháng Hai, kèm theo những cơn gió buốt giá dù ở mức độ vừa phải, khiến các bản thống kê giảm xuống, thành phố trở nên khỏe mạnh trở lại, và mọi người bắt đầu xem mối nguy hiểm coi như đã qua; chỉ có điều số ca chôn cất ở St Giles vẫn tiếp tục ở mức cao. Đặc biệt từ đầu tháng Tư, con số này duy trì ở mức 25 người mỗi tuần, cho đến tuần từ ngày 18 đến 25, khi có ba mươi người được chôn cất tại giáo xứ St Giles, trong đó có hai người chết vì dịch hạch và tám người chết vì sốt ban đỏ — căn bệnh được coi là một; tương tự, tổng số người chết vì sốt ban đỏ cũng tăng lên, với tám người của tuần trước và mười hai người trong tuần kể trên.
Điều này lại làm chúng tôi hoảng sợ một lần nữa, và sự lo lắng tột cùng bao trùm lấy người dân, nhất là khi thời tiết lúc này đã thay đổi, trở nên ấm áp và mùa hè đang đến gần. Tuy nhiên, tuần tiếp theo dường như lại thắp lên chút hy vọng; các bản thống kê ở mức thấp, tổng số người chết chỉ là 388, không có ca nào chết vì dịch hạch, và chỉ có bốn ca chết vì sốt ban đỏ.
Nhưng vào tuần kế tiếp, căn bệnh lại quay trở lại và lây lan sang hai hoặc ba giáo xứ khác, đó là St Andrew’s, Holborn; St Clement Danes; và, điều gây đau buồn lớn cho thành phố, có một người đã chết ngay trong nội thành, thuộc giáo xứ St Mary Woolchurch — nghĩa là ở phố Bearbinder, gần khu chợ Stocks Market; tổng cộng có chín người chết vì dịch hạch và sáu người vì sốt ban đỏ. Tuy nhiên, qua điều tra, người ta phát hiện ra rằng người đàn ông Pháp chết ở phố Bearbinder này chính là kẻ từng sống ở Long Acre, gần những ngôi nhà có mầm bệnh, đã bỏ trốn vì sợ dịch bệnh mà không hề biết bản thân đã nhiễm bệnh từ trước.
Đó là vào đầu tháng Năm, dẫu vậy thời tiết vẫn ôn hòa, thất thường và khá mát mẻ, người điều khiến mọi người vẫn còn giữ chút hy vọng. Điều khích lệ họ là thành phố vẫn khỏe mạnh: toàn bộ chín mươi bảy giáo xứ chỉ có năm mươi tư người chết, và chúng tôi bắt đầu hy vọng rằng, vì bệnh chủ yếu tập trung ở nhóm người phía đầu đó của thành phố, nó sẽ không lan đi xa hơn; nhất là khi vào tuần tiếp theo, từ ngày 9 đến ngày 16 tháng Năm, chỉ có ba người chết, trong đó không có một ai ở trong khu vực nội thành hoặc các vùng ngoại ấp; và giáo xứ St Andrew’s chỉ có mười lăm người chết, một con số rất thấp. Quả thực giáo xứ St Giles có ba mươi hai người chết, nhưng vì chỉ có một ca dịch hạch, người ta bắt đầu thấy nhẹ nhõm. Tổng số ca tử vong trong tuần cũng rất thấp, tuần trước đó chỉ là 347 ca và tuần kể trên là 343 ca. Chúng tôi tiếp tục sống trong niềm hy vọng ấy dẫu chỉ được vài ngày, bởi người ta không thể mãi bị lừa dối như thế; họ lục soát các ngôi nhà và phát hiện ra rằng dịch hạch thực sự đã lan rộng ra mọi hướng, và rất nhiều người chết vì nó mỗi ngày. Thế là mọi sự ngụy biện của chúng tôi tiêu tan, và không thể che giấu được nữa; hơn thế nữa, nhanh chóng rõ mười mươi là căn bệnh truyền nhiễm đã lan rộng vượt ngoài mọi hy vọng có thể thuyên giảm. Rằng ở giáo xứ St Giles, nó đã lọt vào nhiều con đường, và nhiều gia đình đổ bệnh nằm liệt giường cùng nhau; và theo đó, trong bản thống kê tuần tiếp theo, sự thật bắt đầu phơi bày. Quả thực chỉ có mười bốn ca được ghi nhận là chết vì dịch hạch, nhưng đây toàn là sự gian dối và thông đồng, bởi riêng tại giáo xứ St Giles, họ đã chôn cất tổng cộng bốn mươi người, trong đó chắc chắn phần lớn chết vì dịch hạch dù được ghi nhận là do các căn bệnh khác; và dẫu tổng số ca chôn cất không tăng quá ba mươi hai, tổng số ca cả nước chỉ là 385, nhưng đã có mười bốn ca chết vì sốt ban đỏ cũng như mười bốn ca chết vì dịch hạch; và chúng tôi mặc nhiên đinh ninh rằng tuần đó có đến năm mươi người chết vì dịch hạch.
Bản thống kê tiếp theo tính từ ngày 23 đến 30 tháng Năm, khi số ca chết vì dịch hạch là mười bảy. Nhưng số ca chôn cất ở St Giles là năm mươi ba — một con số đáng sợ! — trong đó họ chỉ ghi nhận chín người chết vì dịch hạch; nhưng qua cuộc điều tra nghiêm ngặt hơn của các thẩm phán hòa bình theo yêu cầu của Thị trưởng Luân Đôn, người ta phát hiện ra có thêm hai mươi người nữa thực sự đã chết vì dịch hạch tại giáo xứ đó, nhưng lại được ghi là chết vì sốt ban đỏ hoặc các căn bệnh khác, chưa kể những trường hợp được che giấu.
Nhưng những điều đó chỉ là chuyện nhỏ so với những gì diễn ra ngay sau đó; bởi lúc này thời tiết bắt đầu oi bức, và từ tuần đầu tiên của tháng Sáu, dịch bệnh lây lan một cách khủng khiếp, các con số trong bản thống kê tăng vót; các mục về sốt, sốt ban đỏ và mọc răng bắt đầu phình to; vì bất cứ ai có thể che giấu bệnh tình đều làm thế, để tránh việc láng giềng xa lánh, từ chối qua lại, đồng thời cũng để tránh việc nhà chức trách niêm phong nhà cửa của họ; dẫu việc này chưa được áp dụng nhưng đã bị đe dọa, và người ta vô cùng kinh hãi khi nghĩ đến điều đó.
Tuần thứ hai của tháng Sáu, giáo xứ St Giles — nơi dịch bệnh vẫn đang hoành hành nặng nề nhất — có 120 người được chôn cất, trong đó dù bản thống kê chỉ ghi sáu mươi tám người chết vì dịch hạch, ai nấy đều quả quyết phải có ít nhất 100 người, tính dựa trên số lượng tang lễ thông thường tại giáo xứ đó như đã nêu trên.
Cho đến tuần này, khu vực nội thành vẫn được an toàn, chưa từng có ai chết trong toàn bộ chín mươi bảy giáo xứ, ngoại trừ người đàn ông Pháp mà tôi đã nhắc đến trước đó. Giờ đây đã có bốn người chết trong nội thành, một ở phố Wood, một ở phố Fenchurch, và hai ở phố Crooked. Vùng Southwark hoàn toàn an toàn, chưa có lấy một người nào chết ở bên kia bờ sông.
Tôi sống ở khu vực ngoài cổng Aldgate, khoảng giữa nhà thờ Aldgate và các thanh chắn Whitechappel, ở phía bên trái hay phía bắc của con đường; và vì dịch bệnh chưa lan đến phía đó của thành phố, vùng láng giềng của chúng tôi vẫn rất yên bình. Nhưng ở đầu bên kia của thị trấn, sự hoảng sợ vô cùng lớn; và tầng lớp người giàu có, đặc biệt là giới quý tộc và điền chủ từ phía tây thành phố, đã đổ xô rời khỏi thị trấn cùng gia đình và người hầu theo một cách bất thường; điều này thể hiện rõ nhất tại Whitechappel; nghĩa là đoạn Phố Rộng nơi tôi sinh sống; quả thực, chẳng thấy gì ngoài những cỗ xe ngựa và xe kéo chở hàng hóa, phụ nữ, người hầu, trẻ em, vân vân; những cỗ xe lôi đầy ắp người thuộc tầng lớp khá giả và những kỵ sĩ hộ tống họ, tất cả đều vội vã tháo chạy; rồi những chiếc xe ngựa, xe kéo trống không xuất hiện trở lại cùng những con ngựa dắt theo người hầu, mà ai cũng thấy rõ là đang quay về hoặc được phái từ vùng quê sang để đón thêm người; bên cạnh đó là vô số đàn ông cưỡi ngựa, người đi một mình, kẻ đi cùng người hầu, và nhìn chung tất cả đều lỉnh kỉnh hành lý và trang bị sẵn sàng cho những chuyến đi xa, ai nhìn qua cũng có thể nhận ra.
Đó là một cảnh tượng vô cùng kinh hoàng và ảm đạm, và vì tôi không thể không ngắm nhìn nó từ sáng đến tối (bởi chẳng còn việc gì quan trọng khác để xem), nó đã lấp đầy tâm trí tôi bằng những suy nghĩ sâu sắc về thảm họa sắp giáng xuống thành phố, và hoàn cảnh bất hạnh của những kẻ sẽ bị bỏ lại nơi đây.
Sự hỗn loạn tháo chạy của người dân dữ dội đến mức trong vài tuần liền, việc đặt chân tới ngưỡng cửa nhà Thị trưởng là điều vô cùng khó khăn; người ta chen lấn, xô đẩy ở đó để xin giấy thông hành và giấy chứng nhận sức khỏe cho những ai đi xa, bởi nếu không có những thứ này, họ sẽ không được phép đi qua các thị trấn dọc đường hay trọ lại ở bất kỳ quán trọ nào. Lúc bấy giờ, vì chưa có ai ở trong nội thành tử vong trong suốt thời gian đó, Ngài Thị trưởng đã cấp giấy chứng nhận sức khỏe không mấy khó khăn cho tất cả những cư dân sống trong chín mươi bảy giáo xứ, và cho cả những người ở trong vùng ngoại ấp trong một thời gian.
Sự hỗn loạn đó, tôi xin nhắc lại, kéo dài trong vài tuần, nghĩa là suốt cả tháng Năm và tháng Sáu, càng trầm trọng hơn vì có tin đồn rằng Chính phủ sắp ban hành lệnh thiết lập các trạm thu phí và rào chắn trên đường để ngăn người dân di chuyển, và rằng các thị trấn dọc đường sẽ không cho phép người từ Luân Đôn đi qua vì sợ mang mầm bệnh theo, dẫu cả hai tin đồn này chẳng có cơ sở nào ngoài trí tưởng tượng, đặc biệt là lúc ban đầu.
Lúc này tôi bắt đầu suy nghĩ nghiêm túc về hoàn cảnh của chính mình, và việc tôi nên định đoạt ra sao; nghĩa là, liệu tôi nên quyết định ở lại Luân Đôn hay đóng cửa nhà rồi tháo chạy như phần lớn láng giềng của tôi đã làm. Tôi ghi chép lại câu chuyện riêng này thật đầy đủ vì biết đâu nó sẽ mang lại ý nghĩa cho những thế hệ mai sau, nếu họ rơi vào cảnh khốnốn cùng cực tương tự và phải đối mặt với cách đưa ra lựa chọn giống như vậy; và do đó, tôi mong mỏi bản tường thuật này được họ xem như một chỉ dẫn để hành động hơn là một cuốn lịch sử về những việc tôi đã làm, bởi vì việc ghi chép lại số phận của tôi chẳng có lấy một xu giá trị đối với họ.
Tôi đứng trước hai vấn đề quan trọng: một là duy trì việc kinh doanh và cửa hàng của mình — vốn là một cơ nghiệp đáng kể và là nơi tôi dồn toàn bộ tài sản trên đời vào đó; và hai là bảo toàn sinh mạng giữa một thảm họa tồi tệ mà tôi thấy rõ ràng sắp giáng xuống toàn bộ thành phố, một thảm họa mà dù lớn đến đâu, nỗi sợ hãi của tôi cũng như của mọi người có lẽ đã phóng đại lên lớn hơn nhiều so với thực tế.
Cân nhắc đầu tiên có ý nghĩa vô cùng lớn đối với tôi; tôi làm nghề đóng yên cương, và vì việc làm ăn của tôi chủ yếu không dựa trên một cửa hàng bán lẻ hay khách vãng lai, mà giao dịch với các thương gia buôn bán với các thuộc địa của Anh ở châu Mỹ, nên tài sản của tôi nằm phần lớn trong tay những đối tượng đó. Quả thực tôi là một người độc thân, nhưng tôi có một gia đình gồm những người hầu mà tôi giữ lại để làm việc; tôi có một nhà cửa, cửa hàng và các nhà kho chứa đầy hàng hóa; tóm lại, việc bỏ mặc tất cả những thứ đó như hoàn cảnh buộc phải bỏ (nghĩa là không có người giám sát hay một ai đáng tin cậy để trao phó), chẳng khác nào đánh liều mất mát không chỉ việc kinh doanh, hàng hóa, mà thực sự là cả những gì tôi có trên đời.
Vào thời điểm đó tôi có một người anh trai ở Luân Đôn, người mới từ Bồ Đào Nha sang cách đó không lâu lắm; và khi tôi tham khảo ý kiến, câu trả lời của ông chỉ vỏn vẹn trong ba từ, giống hệt câu trả lời được đưa ra trong một hoàn cảnh hoàn toàn khác, đó là: ‘Bạn ơi, hãy tự cứu lấy mình.’ Tóm lại, ông ủng hộ việc tôi rút về vùng quê, như chính ông đã quyết định cùng gia đình mình; ông kể cho tôi nghe những điều hình như ông đã nghe ngóng được ở bên ngoài, rằng sự chuẩn bị tốt nhất để đối phó với dịch hạch là chạy trốn khỏi nó. Còn về lý lẽ của tôi về việc sẽ mất đi mối làm ăn, hàng hóa hay các khoản nợ, ông đã bác bỏ hoàn toàn. Ông bảo tôi rằng chính điều mà tôi dùng làm lý lẽ để ở lại — tức là việc tôi sẽ phó thác sự an toàn và sức khỏe của mình cho Chúa — lại chính là lời phản bác đanh thép nhất đối với cái cớ sợ mất việc kinh doanh và hàng hóa của tôi; ‘vì’, ông nói, ‘chẳng phải việc bạn phó thác cho Chúa rủi ro mất mát công việc kinh doanh cũng hợp lý như việc bạn ở lại giữa chốn nguy hiểm tột cùng này và phó thác tính mạng của mình cho Ngài sao?’
Tôi không thể biện hộ rằng mình gặp bất kỳ khó khăn nào về một nơi chốn để đi, bởi tôi có một số bạn bè và họ hàng ở Northamptonshire, quê gốc của gia đình chúng tôi; và cụ thể hơn, tôi có một người em gái duy nhất ở Lincolnshire, rất sẵn lòng đón tiếp và cưu mang tôi.
Anh tôi — người đã gửi vợ và hai con về Bedfordshire và quyết định đi theo họ — giục giũ tôi lên đường rất khẩn thiết; và đã có lúc tôi định làm theo ý anh, nhưng vào lúc đó tôi không thể kiếm đâu ra ngựa; vì dù đúng là không phải tất cả mọi người đều rời khỏi thành phố Luân Đôn, nhưng tôi dám chắc rằng hầu như toàn bộ ngựa đều đã đi hết; bởi trong suốt mấy tuần liền, hầu như chẳng tài nào mua hay thuê được một con ngựa nào trong cả thành phố. Đã có lúc tôi định đi bộ cùng một người hầu, và như rất nhiều người đã làm, không trọ lại bất kỳ quán trọ nào mà mang theo lều của lính để ngủ ngoài đồng, vì thời tiết lúc ấy rất ấm và chẳng sợ bị nhiễm lạnh. Tôi nói ‘như rất nhiều người đã làm’ là bởi cuối cùng một số người đã chọn cách đó, đặc biệt là những ai từng tham gia quân ngũ trong cuộc chiến tranh cách đó chưa lâu; và tôi phải thừa nhận rằng, xét theo nguyên nhân thứ yếu, giả sử phần lớn những người di chuyển đều làm như vậy, thì dịch hạch đã không bị mang đến nhiều thị trấn và ngôi nhà ở vùng quê như thực tế đã xảy ra, gây ra thiệt hại to lớn và thậm chí là sự tàn lụi cho vô số người.
Nhưng rồi người đầy tớ mà tôi định đưa đi cùng lại phản bội tôi; vì hoảng sợ trước sự gia tăng của dịch bệnh và không biết khi nào tôi mới khởi hành, hắn đã tính toán khác và bỏ rơi tôi, thế là chuyến đi của tôi lần đó đành hoãn lại; và hết lần này đến lần khác, tôi luôn thấy rằng cứ hễ định ngày rời đi là lại gặp phải tai nạn này hay trục trặc khác cản trở, khiến mọi dự định phải tiêu tan và hoãn lại; và điều này dẫn đến một câu chuyện mà nếu không kể thì có thể bị coi là một sự lạc đề thừa thãi, đó là việc những sự thất hứa, lỡ hẹn này thực ra đều xuất phát từ Thiên đàng.
Tôi cũng xin nhắc đến câu chuyện này như một phương pháp tốt nhất mà tôi có thể khuyên bất kỳ ai nên áp dụng trong một hoàn cảnh như thế, đặc biệt là những ai luôn coi trọng bổn phận và muốn được chỉ dẫn phải làm gì, đó là: hãy dõi theo những sự quan phòng cụ thể diễn ra vào thời điểm ấy, và nhìn nhận chúng một cách tổng hòa trong mối liên hệ với nhau cũng như với vấn đề đang đặt ra trước mắt; và khi đó, tôi nghĩ họ có thể yên tâm xem đó như những lời ám chỉ từ Thiên đàng về bổn phận tối cao mà họ phải làm trong hoàn cảnh ấy; ý tôi là việc nên rời đi hay ở lại nơi chúng ta đang sinh sống khi bị dịch bệnh hoành hành.
Vào một buổi sáng, khi tôi đang trầm ngâm suy nghĩ về vấn đề này, một ý nghĩ chợt bừng sáng trong tâm trí tôi: rằng một khi không có chuyện gì xảy ra với chúng ta mà lại nằm ngoài sự định đoạt hoặc cho phép của Quyền năng Thần thánh, thì những sự trắc trở, lỡ hẹn này chắc chắn phải ẩn chứa điều gì đó phi thường; và tôi nên xem xét xem liệu nó có đang vạch ra rõ ràng, hoặc ám chỉ cho tôi thấy rằng đó chính là ý muốn của Thiên đàng — rằng tôi không nên rời đi. Ngay sau đó, một suy nghĩ tiếp nối trong đầu tôi: rằng nếu thực sự là ý Chúa muốn tôi ở lại, thì Ngài hoàn toàn có đủ quyền năng để bảo vệ tôi một cách hiệu quả giữa muôn vàn chết chóc và hiểm nguy bủa vây; và rằng nếu tôi tìm cách tự bảo vệ mình bằng cách trốn chạy khỏi nơi ở và hành động trái ngược với những lời ám chỉ mà tôi tin là xuất phát từ Thiên đàng ấy, thì đó chẳng khác nào hành động trốn chạy khỏi Chúa, và Ngài hoàn toàn có thể khiến công lý của Ngài giáng xuống đầu tôi vào lúc nào và ở đâu mà Ngài thấy phù hợp.
Những suy nghĩ này đã xoay chuyển hoàn toàn quyết định của tôi, và khi tôi nói chuyện lại với anh trai mình, tôi bảo rằng tôi có xu hướng ở lại và chấp nhận số phận tại chốn mà Chúa đã đặt để tôi, và rằng điều đó dường như càng trở thành bổn phận của tôi hơn vì những lý do tôi vừa nêu.
Dẫu bản thân là một người vô cùng sùng đạo, anh tôi vẫn cười trừ trước mọi suy nghĩ của tôi về việc đó là một sự ám chỉ từ Thiên đàng, và kể cho tôi nghe một số câu chuyện về những kẻ liều lĩnh — như cách anh gọi họ — giống như tôi; rằng quả thực tôi nên coi đó là sự an bài của Thiên đàng nếu tôi bị tước đi khả năng đi lại bởi bệnh tật hay ốm đau, và trong trường hợp không thể đi được như thế, tôi phải bằng lòng tuân theo sự dẫn dắt của Đấng Tạo Hóa — Đấng có quyền tối thượng không ai chối cãi trong việc định đoạt số phận tôi — và khi ấy sẽ chẳng có chút khó khăn nào trong việc xác định đâu là tiếng gọi từ sự quan phòng của Ngài và đâu thì không; nhưng việc tôi coi việc không thể rời khỏi thành phố chỉ vì không thuê được ngựa hay vì tên đầy tớ định đi cùng đã bỏ trốn là một dấu hiệu từ Thiên đàng thì thật là nực cười, bởi vào thời điểm đó tôi hoàn toàn khỏe mạnh, chân tay linh hoạt, có những người đầy tớ khác và hoàn toàn có thể dễ dàng đi bộ một hoặc hai ngày, và nếu có trong tay giấy chứng nhận sức khỏe hoàn toàn tốt, tôi có thể thuê ngựa hoặc đi xe ngựa trạm dọc đường tùy ý.
Sau đó, anh tiếp tục kể cho tôi nghe về những hậu quả tai hại xuất phát từ sự ngạo mạn của người Thổ Nhĩ Kỳ và người theo đạo Hồi ở Châu Á cũng như những nơi khác mà anh từng đặt chân tới (bởi anh tôi là thương gia và, như tôi đã nói, vừa từ nước ngoài trở về cách đây vài năm, đến từ Lisbon); rằng dựa vào tư tưởng tiền định của họ rằng số mệnh của mỗi người đã được định đoạt và ấn định trước một cách bất di bất dịch, họ sẵn sàng thản nhiên bước vào những vùng có dịch bệnh và tiếp xúc với người bệnh, nhờ vậy mà họ chết với tốc độ mười đến mười lăm nghìn người mỗi tuần, trong khi người châu Âu hay các thương gia theo đạo Thiên Chúa — những người biết tự cách ly và giữ gìn — thường may mắn thoát khỏi sự lây lan.
Những lý lẽ ấy của anh trai lại làm thay đổi quyết định của tôi thêm lần nữa, và tôi bắt đầu ngả theo ý định ra đi, liền chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ; nói tóm lại, dịch bệnh quanh tôi ngày càng lan rộng, số ca tử vong đã vọt lên gần bảy trăm người một tuần, và anh tôi bảo anh không dám mạo hiểm ở lại thêm nữa. Tôi xin anh cho tôi thời gian suy nghĩ đến ngày hôm sau rồi sẽ đưa ra quyết định cuối cùng; và vì tôi đã chuẩn bị mọi thứ tốt nhất có thể về mặt công việc CỦA TÔI cũng như việc giao phó cơ nghiệp cho ai, tôi chẳng còn việc gì ngoài việc đưa ra quyết định.
Tối hôm đó, tôi trở về nhà với tâm trạng vô cùng trĩu nặng, lưỡng lự và không biết phải làm sao. Tôi đã dành trọn buổi tối để suy ngẫm nghiêm túc về chuyện này, một mình trong căn nhà trống; bởi vì từ lâu, người ta đã hình thành một thói quen chung là không bước chân ra đường sau khi mặt trời lặn; những lý do cụ thể tôi sẽ có dịp trình bày sau.
Trong sự tĩnh mịch của buổi tối hôm đó, tôi cố gắng tự giải quyết trước tiên: đâu là bổn phận mình phải làm; tôi đem những lý lẽ mà anh trai đã dùng để giục giũ tôi về quê đặt lên bàn cân, đối trọng lại với những ấn tượng mạnh mẽ thôi thúc tôi ở lại trong tâm trí; tiếng gọi hiển hiện mà tôi cảm nhận được từ hoàn cảnh đặc biệt của công việc, và trách nhiệm bảo tồn tài sản — thứ có thể xem như toàn bộ cơ nghiệp của tôi; cùng với những mặc khải mà tôi ngỡ mình nhận được từ Thiên đàng, đối với tôi mang ý nghĩa như một sự dẫn đường để liều lĩnh dấn thân; và tôi chợt nghĩ rằng nếu tôi có được cái gọi là sự chỉ dẫn để ở lại, tôi phải tin rằng trong đó hàm chứa cả lời hứa sẽ được bảo vệ nếu tôi vâng lời.
Điều này cứ bám lấy tôi, và tâm trí tôi ngày càng được khích lệ mạnh mẽ hơn bao giờ hết về việc ở lại, được nâng đỡ bởi một niềm thỏa mãn thầm kín rằng mình sẽ được gìn giữ. Thêm vào đó, khi tôi lật giở cuốn Kinh Thánh đặt trước mặt, trong lúc tâm tư đang vô cùng nghiêm túc trước câu hỏi này, tôi đã thốt lên rằng: ‘Lạy Chúa, con chẳng biết phải làm sao; xin Chúa hãy chỉ lối cho con!’ và đại loại như thế; và đúng vào thời điểm đó, ngón tay tôi dừng lại ở Thánh Vịnh thứ 91,
và khi hướng mắt nhìn vào câu thứ hai, tôi đọc tiếp cho đến trước câu thứ bảy, rồi sau đó đọc thêm câu thứ mười, nguyên văn như sau: ‘Tôi sẽ nói về Chúa Hằng Hữu rằng: Ngài là nơi nương náu tôi và là đồn lũy tôi; Ngài là Đức Chúa Trời của tôi, tôi sẽ tin cậy nơi Ngài. Chắc chắn Ngài sẽ giải cứu ngươi khỏi bẫy chim gài, và khỏi dịch lệ độc dữ. Ngài sẽ che chở ngươi dưới lông vũ Ngài, và ngươi sẽ được nương náu dưới cánh Ngài; sự chân thật của Ngài là cái khiên và cái thuẫn của ngươi. Ngươi sẽ chẳng sợ hoặc sự kinh hãi ban đêm, hoặc tên bay ban ngày; hoặc dịch lệ lây đi trong bóng tối, hoặc sự hủy phá tàn phá giữa ngọ. Sẽ có ngàn người ngã bên cạnh ngươi, và muôn ngàn người ngã bên hữu ngươi; nhưng tai họa ấy sẽ chẳng đến gần ngươi. Ngươi chỉ lấy mắt mình mà nhìn, và thấy sự báo trả cho kẻ ác. Vì ngươi đã được Chúa Hằng Hữu, là nơi nương náu của tôi, tức là Đấng Chí Cao, làm nơi ở mình; thì không có tai họa gì xảy đến cho ngươi, và không có ô uế nào đến gần trại ngươi,’ &c.
Hẳn tôi không cần phải nói với người đọc rằng kể từ khoảnh khắc đó, tôi đã quyết định ở lại thành phố; phó thác hoàn toàn bản thân vào lòng nhân từ và sự che chở của Đấng Toàn Năng, tôi sẽ không tìm kiếm bất kỳ nơi ẩn náu nào khác; và rằng, vì thời gian của tôi nằm trong tay Ngài, Ngài hoàn toàn có đủ khả năng bảo vệ tôi trong thời điểm dịch bệnh cũng như trong lúc khỏe mạnh; và nếu Ngài không thấy cần phải giải cứu tôi, thì tôi vẫn nằm trong tay Ngài, và việc Ngài xử lý tôi ra sao cho phải phép là điều hoàn toàn hợp nhẽ.
Với quyết định đó, tôi lên giường đi ngủ; và vào ngày hôm sau, tôi càng được củng cố thêm khi người phụ nữ mà tôi định giao phó nhà cửa và mọi công việc đột ngột đổ bệnh. Nhưng tôi lại nhận thêm một lời nhắc nhở mạnh mẽ nữa từ phía ấy, bởi ngay ngày hôm sau chính tôi cũng cảm thấy vô cùng khó chịu trong người, đến mức dù muốn rời đi tôi cũng chẳng thể đi nổi, và tôi tiếp tục ốm liệt giường ba bốn ngày trời, điều này hoàn toàn dập tắt ý định đi lại của tôi; thế là tôi từ biệt anh trai — người đã lên đường đi Dorking ở Surrey, rồi sau đó đi vòng sâu hơn vào Buckinghamshire hoặc Bedfordshire đến một nơi trú ẩn mà anh đã tìm sẵn cho gia đình ở đó.
Đó thực sự là một thời điểm tồi tệ để lâm bệnh, bởi nếu bất kỳ ai phàn an điều gì, người ta sẽ lập tức kết luận ngay là họ mắc dịch hạch; và dù thực ra tôi chẳng có triệu chứng nào của căn bệnh đó, nhưng vì đau đầu và đau dạ dày dữ dội, tôi không khỏi lo sợ rằng mình đã thực sự nhiễm bệnh; tuy nhiên, chỉ độ ba ngày sau thì tôi khá lên; đêm thứ ba tôi ngủ ngon, vã một ít mồ hôi và thấy khỏe khoắn hẳn ra. Nỗi sợ hãi bị nhiễm bệnh cũng tan biến hoàn toàn theo cơn bệnh, và tôi lại quay trở lại với công việc thường nhật như cũ.
Tuy nhiên, những chuyện này đã xóa sạch mọi suy nghĩ về việc về quê; và vì anh trai tôi cũng đã đi rồi, tôi không còn tranh cãi hay bận tâm gì thêm với anh hay với chính mình về vấn đề đó nữa.
Lúc này đã là giữa tháng Bảy, và căn bệnh dịch hạch — vốn trước đây hoành hành chủ yếu ở đầu bên kia thành phố, như tôi đã nói, là ở các giáo xứ St Giles, St Andrew’s, Holborn, và hướng về phía Westminster — bắt đầu lan dần về phía đông, tiến về khu vực tôi đang sống. Quả thực, có thể nhận thấy là nó không tiến thẳng một mạch về phía chúng tôi; bởi khu nội thành, nghĩa là trong vòng tường thành, vẫn tương đối khỏe mạnh; dịch bệnh cũng chưa lan qua bên kia sông sang Southwark nhiều lắm; vì dẫu tuần đó có tới 1.268 người chết vì mọi loại bệnh, trong đó ước tính hơn 600 người chết vì dịch hạch, thì trong toàn bộ nội thành bên trong tường thành chỉ có hai mươi tám người, và ở Southwark tính cả giáo xứ Lambeth cũng chỉ có mười chín người; trong khi chỉ riêng tại các giáo xứ St Giles và St Martin-in-the-Fields đã có tới 421 người chết.
Nhưng chúng tôi nhận thấy dịch bệnh chủ yếu vẫn bám trụ ở các giáo xứ vùng ven; vì những nơi này rất đông dân cư và lại tập trung nhiều người nghèo hơn, nên căn bệnh có nhiều đối tượng để hoành hành hơn trong thành phố, như tôi sẽ đề cập sau. Chúng tôi nhận thấy, tôi xin nhắc lại, căn bệnh đang dịch chuyển về phía chúng ta, cụ thể là qua các giáo xứ Clerkenwell, Cripplegate, Shoreditch và Bishopsgate; hai giáo xứ sau giáp với Aldgate, Whitechappel và Stepney, khiến cuối cùng dịch bệnh đã lan ra với sức mạnh và sự hung bạo tột cùng tại những khu vực đó, ngay cả khi nó bắt đầu suy giảm ở các giáo xứ phía tây nơi nó khởi phát.
Thật kỳ lạ khi quan sát thấy rằng trong tuần lễ đặc biệt này, từ ngày 4 đến 11 tháng Bảy, khi mà như tôi đã nhận xét, có gần 400 người chết vì dịch hạch chỉ riêng tại hai giáo xứ St Martin và St Giles-in-the-Fields, thì tại giáo xứ Aldgate chỉ có bốn người chết, ở giáo xứ Whitechappel có ba, và ở giáo xứ Stepney chỉ có một.
Tương tự như vậy, trong tuần tiếp theo, từ ngày 11 đến 18 tháng Bảy, dù tổng số ca tử vong trong tuần là 1.761, thì trên toàn bộ khu vực Southwark bên kia sông, số người chết vì dịch hạch cũng không quá mười sáu. Nhưng cục diện này nhanh chóng thay đổi, và dịch bệnh bắt đầu bùng phát dữ dội đặc biệt tại giáo xứ Cripplegate và Clerkenwell; để rồi đến tuần thứ hai của tháng Tám, riêng giáo xứ Cripplegate đã chôn cất tới 886 người, và Clerkenwell là 155 người. Trong số trường hợp ở nơi đầu tiên, có thể tính chắc chắn 850 người chết vì dịch hạch; và ở nơi thứ hai, bản thống kê tự ghi nhận 145 người là do dịch hạch.
Trong suốt tháng Bảy, và trong khi như tôi đã nhận xét, khu vực của chúng tôi dường như được dung tha so với vùng phía tây, tôi vẫn thường xuyên đi lại trên các con đường theo yêu cầu công việc, và cụ thể là thường đi mỗi ngày hoặc cách một ngày vào trong thành phố, đến nhà anh trai — nơi tôi được giao trông nom — để kiểm tra xem có an toàn không; và vì có chìa khóa trong túi, tôi thường bước vào nhà, đi qua hầu hết các phòng để xem xét mọi việc vẫn ổn thỏa; bởi dù nghe có vẻ hơi lạ lùng khi có những kẻ lại có trái tim chai sạn đến mức giữa một hoạn nạn như thế mà vẫn cướp bóc, trộm cắp, nhưng chắc chắn một điều là mọi thói hư tật xấu, thậm chí cả sự phù phiếm và trác táng vẫn diễn ra trong thị trấn công khai như mọi khi — tôi không dám nói là thường xuyên bằng, bởi số lượng người đã giảm đi theo nhiều cách.
Nhưng bản thân thành phố lúc này cũng bắt đầu bị ghé thăm, ý tôi là khu vực bên trong tường thành; tuy nhiên số lượng dân cư ở đó thực sự đã giảm đi cực kỳ nhiều do một đám đông khổng lồ đã bỏ về quê; và ngay trong suốt tháng Bảy này họ vẫn tiếp tục tháo chạy, dù không còn ồ ạt như trước. Quả thực sang đến tháng Tám, họ tháo chạy với quy mô lớn đến mức tôi bắt đầu nghĩ rằng rồi sẽ chẳng còn ai ngoài các quan chức và người hầu bị bỏ lại trong thành phố.
Cùng lúc người ta tháo chạy khỏi thành phố, tôi cũng nên ghi nhận rằng Triều đình đã rời đi từ sớm, nghĩa là vào tháng Sáu, và đến Oxford — nơi Đức Chúa Trời đã rủ lòng bảo vệ họ; và theo như tôi nghe ngóng được, dịch bệnh thậm chí còn chẳng chạm tới họ, dẫu tôi không thể nói rằng mình từng thấy họ tỏ ra biết ơn sâu sắc hay có bất kỳ sự cải thiện nào trong lối sống, dù họ không thiếu những lời cảnh báo rằng những tội lỗi tày trời của họ hoàn toàn có thể bị xem — mà không hề vi phạm lòng bác xe — là nguyên nhân chính mang thảm họa khủng điều này giáng xuống toàn bộ quốc gia.
Bộ mặt của Luân Đôn lúc bấy giờ quả thực đã đổi khác kỳ lạ: ý tôi là toàn bộ quần thể kiến trúc, thành phố, các đặc quyền, vùng ngoại ô, Westminster, Southwark và tất cả; bởi riêng khu vực gọi là thành phố, hay bên trong tường thành, thì vẫn chưa bị nhiễm bệnh nặng lắm. Nhưng nói chung, bộ mặt của vạn vật, tôi xin nhắc lại, đã thay đổi rất nhiều; nỗi buồn và sự ảm đạm hiện hữu trên mọi khuôn mặt; và dù một số nơi chưa bị nhấn chìm, tất cả đều trông vô cùng lo lắng; và khi thấy thảm họa đang tiến đến rõ mồn một, ai nấy đều xem bản thân và gia đình mình đang đứng trước hiểm nguy tột độ. Giả sử có thể tái hiện chính xác những thời kỳ đó cho những ai chưa từng chứng kiến, và mang lại cho người đọc những hình dung đúng đắn về sự kinh hoàng hiện hữu khắp mọi nơi, thì chắc chắn nó sẽ để lại những ấn tượng sâu sắc trong tâm trí họ và lấp đầy họ bằng sự kinh ngạc. Luân Đôn hoàn toàn có thể được ví như đang chìm trong nước mắt; quả thực những kẻ để tang không đi lại ngoài đường, bởi chẳng ai mặc đồ đen hay diện trang phục tang lễ hình thức cho những người bạn thân thiết nhất của mình; nhưng tiếng khóc than của những người tang chế thực sự vang vọng khắp các con đường. Tiếng thét của phụ nữ và trẻ em từ cửa sổ và cửa ra vào các ngôi nhà — nơi những người thân yêu nhất của họ có lẽ đang hấp hối hoặc vừa mới qua đời — thường xuyên vang lên khi chúng tôi đi qua các con đường, đủ sức bóp nát trái tim sắt đá nhất trên đời khi lắng nghe. Nước mắt và những lời than khóc xuất hiện ở hầu như mọi ngôi nhà, đặc biệt là trong giai đoạn đầu của đợt dịch; bởi về giai đoạn cuối, trái tim con người đã trở nên chai sạn, và cái chết luôn hiện hữu trước mắt đến nỗi họ không còn quá bận tâm đến sự mất mát của bạn bè nữa, vì dự đoán rằng chính họ cũng sẽ được gọi tên vào giờ phút tiếp theo.
Công việc đôi khi dẫn tôi đến đầu bên kia thành phố, ngay cả khi dịch bệnh hoành hành dữ dội nhất ở đó; và vì mọi thứ quá mới mẻ đối với tôi cũng như đối với tất cả mọi người, thật là một điều vô cùng ngạc nhiên khi chứng kiến những con đường vốn tấp nập nay trở nên hoang vắng, lèo tèo vài bóng người xuất hiện đến mức nếu tôi là một kẻ lữ khách lạc đường, đôi khi tôi có thể đi hết chiều dài của cả một con đường (ý tôi là các con hẻm nhỏ) mà chẳng thấy ai để hỏi đường ngoại trừ những gác canh được bố trí trước cửa những ngôi nhà bị niêm phong, mà tôi sẽ nhắc đến ngay sau đây.
Một hôm, khi đang ở khu vực đó vì có việc công đặc biệt, sự tò mò thúc đẩy tôi quan sát mọi thứ kỹ hơn thường lệ, và quả thực tôi đã đi bộ một quãng đường dài nơi tôi chẳng có việc gì ở đó. Tôi đi ngược lên Holborn, và ở đó con đường đông nghẹt người, nhưng họ lại đi ở giữa lòng đường lớn, không dịch sang bên này hay bên kia, vì theo tôi phỏng đoán, họ không muốn hòa lẫn với bất kỳ ai bước ra từ các ngôi nhà, hay ngửi phải mùi hôi thối phát ra từ những ngôi nhà có thể đã nhiễm bệnh.
Các khu Inns of Court đều đóng cửa; cũng chẳng thấy bóng dáng mấy vị luật sư nào ở Temple, Lincoln’s Inn hay Gray’s Inn. Mọi người đều được yên thân; chẳng có nhu cầu gì đến luật sư; hơn nữa, đang trong thời gian nghỉ hè nên họ thường đã về quê hết. Cả dãy nhà ở một số nơi đều bị đóng kín mít, cư dân tháo chạy sạch sẽ, chỉ chừa lại một hoặc hai gác canh.
Khi tôi nói những dãy nhà bị đóng kín, ý tôi không phải bị niêm phong bởi nhà chức trách, mà là rất nhiều người đã đi theo Triều đình vì nhu cầu công việc và các mối quan hệ khác; và khi những người khác rút lui vì thực sự hoảng sợ trước dịch bệnh, điều đó khiến một số con đường trở nên hoàn toàn hoang vắng. Nhưng sự hoảng sợ chưa đến nỗi quá lớn trong khu vực nội thành nói chung, đặc biệt là vì dù thoạt đầu họ vô cùng hoang mang không sao tả xiết, nhưng như tôi đã nhận xét, dịch bệnh ban đầu thường hay ngắt quãng, nên họ cứ hết hốt hoảng rồi lại bình tĩnh trở lại, và cứ thế vài lần cho đến khi họ bắt đầu quen với nó; và ngay cả khi nó xuất hiện dữ dội, nhưng thấy nó không lập tức lan vào nội thành hay các khu vực phía đông và phía nam, người ta bắt đầu lấy lại can đảm và, tôi có thể nói vậy, trở nên lỳ đòn hơn một chút. Quả thực, một số lượng lớn người dân đã tháo chạy như tôi đã quan sát, nhưng họ chủ yếu đến từ khu vực phía tây thành phố và từ nơi chúng ta gọi là trái tim của Luân Đôn: nghĩa là trong số những người giàu có nhất, và những ai không vướng bận công việc hay buôn bán. Còn lại phần lớn quần chúng vẫn ở lại và có vẻ chịu đựng tình thế tồi tệ nhất; thế nên tại những khu vực chúng ta gọi là Khu vực Đặc quyền (Liberties), vùng ngoại ô, Southwark và khu vực phía đông như Wapping, Ratcliff, Stepney, Rotherhithe và đại loại thế, người ta nhìn chung vẫn ở lại, ngoại trừ rải rác một vài gia đình giàu có không phụ thuộc vào việc làm ăn như đã nói ở trên.
Không thể quên ở đây một điều rằng thành phố và các vùng ngoại ô lúc bấy giờ cực kỳ đông đúc người vào thời điểm dịch bệnh bùng phát; ý tôi là lúc nó mới bắt đầu; bởi dù tôi đã sống để chứng kiến sự gia tăng hơn nữa và những đám đông khổng lồ đổ về định cư ở Luân Đôn đông đúc hơn bao giờ hết, chúng tôi vẫn luôn có quan niệm rằng số lượng dân cư — sau khi chiến tranh kết thúc, quân đội giải ngũ, hoàng gia cùng chế độ quân chủ được phục hồi — đã đổ xô về Luân Đôn để làm ăn buôn bán, hoặc trông cậy vào Triều đình để nhận phần thưởng phục vụ, thăng chức vân vân, lớn đến mức người ta ước tính thành phố có nhiều hơn một trăm nghìn người so với bất kỳ thời điểm nào trước đó; thậm chí một số người còn quả quyết con số đó phải gấp đôi, bởi toàn bộ các gia đình khánh kiệt thuộc phe hoàng gia đều đổ xô về đây. Tất cả cựu binh đều mở cửa hàng buôn bán ở đây, và vô số gia đình định cư tại đây. Hơn nữa, Triều đình mang theo một lượng lớn sự kiêu ngạo và những mốt thời trang mới. Mọi người trở nên ham vui và xa hoa, và niềm vui mừng về cuộc Phục hồi đã kéo theo vô số gia đình đến Luân Đôn.
Tôi thường nghĩ rằng, giống như Jerusalem từng bị người La Mã vây hãm khi người Do Thái tụ họp về đây để mừng Lễ Vượt Qua — qua đó một số lượng người không thể tin nổi đã bị kẹt lại nơi đáng lẽ họ phải ở các xứ khác — thì dịch hạch cũng đột nhập vào Luân Đôn khi sự gia tăng không thể tin nổi về số dân tình cờ xảy ra do những hoàn cảnh đặc biệt kể trên. Sự hội tụ của dòng người đổ về một Triều đình trẻ trung và náo nhiệt này đã tạo nên một nền thương mại lớn mạnh trong thành phố, đặc biệt là trong mọi thứ thuộc về thời trang và sự xa hoa, từ đó hệ quả là thu hút một lượng lớn thợ thủ công, nhà sản xuất, đại loại thế, hầu hết là người nghèo sống dựa vào sức lao động của họ. Và tôi nhớ cụ thể rằng, trong một bản tường trình gửi lên Ngài Thị trưởng về hoàn cảnh của người nghèo, người ta ước tính có không dưới một trăm nghìn thợ dệt ruy-băng trong và xung quanh thành phố, phần lớn số họ sinh sống tại các giáo xứ Shoreditch, Stepney, Whitechappel và Bishopsgate, cụ thể là quanh khu vực Spitalfields; nghĩa là Spitalfields vào thời điểm đó, vì nó chưa rộng lớn bằng một phần năm so với bây giờ.
Tuy nhiên, qua đó có thể phán đoán được tổng số lượng dân cư; và quả thực, tôi thường ngạc nhiên khi thấy rằng sau một số lượng khổng lồ những người đã tháo chạy lúc đầu, vẫn còn lại một đám đông đông đảo như thực tế đã chứng minh.
Nhưng tôi phải quay trở lại thời điểm khởi đầu của giai đoạn đầy kinh ngạc này. Khi nỗi sợ hãi của người dân hãy còn non trẻ, nó bỗng gia tăng một cách kỳ lạ bởi một số sự cố kỳ quặc mà nếu gom lại tất cả, thực là một điều kỳ diệu khi toàn bộ quần chúng không nổi dậy như một người rồi bỏ nhà cửa, để lại nơi đây như một mảnh đất được Thiên đàng định sẵn làm một bãi đất Akeldama, bị nguyền rủa phải bị xóa sổ khỏi mặt đất, và rằng bất cứ ai còn sót lại trong đó sẽ phải diệt vong cùng nó. Tôi sẽ chỉ kể tên một vài sự việc trong số đó; nhưng chắc chắn chúng nhiều đến nỗi, và có quá nhiều phù thủy cùng những kẻ mưu mẹo thổi phồng chúng lên, khiến tôi thường tự hỏi sao vẫn còn có người (đặc biệt là phụ nữ) chịu ở lại.
Trước hết, một ngôi sao chổi hoặc sao chổi xuất hiện trong vài tháng trước khi dịch hạch bùng phát, giống như một ngôi sao chổi khác xuất hiện vào năm sau, ngay trước trận hỏa hoạn. Các bà già và tầng lớp đàn ông có bản tính u sầu, lạnh lùng — những kẻ mà tôi suýt có thể gọi là các bà già nốt — nhận xét (đặc biệt là sau đó, dù không phải cho đến khi cả hai thảm họa đó qua đi) rằng hai ngôi sao chổi ấy bay sượt qua ngay bên trên thành phố, và sát những ngôi nhà đến mức rõ ràng chúng mang theo một điềm báo gì đó đặc biệt chỉ dành riêng cho thành phố này; rằng ngôi sao chổi trước đại dịch mang màu sắc mờ nhạt, đục ngầu, uể oải, và chuyển động của nó rất nặng nề, trang nghiêm và chậm chạp; nhưng ngôi sao chổi trước trận hỏa hoạn lại sáng rực rỡ và lấp lánh, hay như người ta nói là bốc lửa, với chuyển động chớp nhoáng và cuồng nộ; và theo đó, một điềm báo trước một phán quyết nặng nề nhưng chậm chạp và nghiêm khắc, kinh hoàng và đáng sợ, giống như bệnh dịch hạch; trong khi điềm kia báo trước một đòn giáng đột ngột, chớp nhoáng và rực lửa như trận đại hỏa hoạn. Thậm chí một số người còn cụ thể đến mức khi ngắm nhìn ngôi sao chổi báo hiệu trận hỏa hoạn, họ tưởng tượng không chỉ thấy nó bay vút qua đầy hung hãn và có thể nhận thức được chuyển động bằng mắt, mà thậm chí họ còn nghe thấy nó; rằng nó tạo ra một tiếng rít mạnh mẽ, dữ dội và kinh hoàng, dẫu ở một khoảng cách xa và chỉ vừa mới nhận ra được.
Tôi đã chứng kiến cả hai ngôi sao này, và phải thú nhận rằng, trong đầu tôi khi ấy vương vấn quá nhiều quan niệm thông thường về những sự việc như vậy, nên tôi dễ có xu hướng xem chúng như những kẻ dọn đường và cảnh báo cho các hình phạt của Chúa; và đặc biệt khi nhìn thấy một ngôi sao chổi khác tương tự xuất hiện sau khi dịch hạch nối gót ngôi sao đầu tiên, tôi không thể không thốt lên rằng Chúa vẫn chưa trừng phạt thành phố này đầy đủ.
Nhưng đồng thời tôi không thể đẩy những sự việc đó lên mức độ trầm trọng như những người khác, bởi tôi cũng biết rằng các nhà thiên học đã đưa ra những nguyên nhân tự nhiên cho những hiện tượng đó, và chuyển động cũng như chu kỳ của chúng đều có thể tính toán được, hoặc được cho là tính toán được, thế nên chúng không thể hoàn toàn bị gọi là những kẻ báo trước hay tiên tri, huống hồ là thủ phạm gây ra những sự kiện như dịch hạch, chiến tranh, hỏa hoạn và đại loại thế.
Nhưng dù suy nghĩ của tôi hay của các triết gia có ra sao đi nữa, những hiện tượng này vẫn có một sức ảnh hưởng vượt mức bình thường lên tâm trí của những người bình dân, và họ mang một nỗi sợ hãi u sầu gần như bao trùm toàn xã hội về một thảm họa và hình phạt khủng khiếp sắp giáng xuống thành phố; và điều này chủ yếu bắt nguồn từ việc tận mắt nhìn thấy ngôi sao chổi ấy, cùng với tiếng chuông cảnh báo nhỏ nhặt vào tháng Mười Hai bởi cái chết của hai người ở St Giles như đã nêu trên.
Sự hoảng sợ của người dân cũng gia tăng một cách kỳ lạ bởi những lệch lạc của thời đại; trong đó, tôi nghĩ người dân — không hiểu xuất phát từ nguyên lý nào — lại đâm ra mê tín dị đoan, cuồng các lời sấm truyền, bói toán chiêm tinh, chiêm bao và những chuyện hoang đường của các bà già hơn bất kỳ thời điểm nào trước hay sau đó. Không biết rằng cái tính khí bất hạnh này ban đầu có phải do sự ngớ ngẩn của một số kẻ kiếm tiền từ đó — nghĩa là bằng cách in ấn các lời tiên tri và dự báo — hay không; nhưng chắc chắn một điều là những cuốn sách đã làm họ hoảng sợ tột độ, chẳng hạn như Lịch của Lilly, Dự báo Chiêm tinh của Gadbury, Lịch của Poor Robin, v.v.; bên cạnh đó là một số cuốn sách trá hình tôn giáo, một cuốn mang tựa đề: Hãy rời khỏi dân ta, kẻo ngươi dự phần vào các tai vạ của nó; cuốn khác gọi là: Lời cảnh báo công bằng; cuốn khác nữa: Ký ức của nước Anh; và rất nhiều cuốn sách tương tự thế, tất cả hoặc phần lớn đều trực tiếp hay ẩn ý tiên tri về sự diệt vong của thành phố. Thậm chí một số kẻ còn tỏ ra liều lĩnh một cách cuồng tín khi chạy rông ngoài đường với những lời tiên sấm bằng miệng, giả vờ như được phái đến để rao giảng cho thành phố; và có một kẻ cụ thể, giống như Jonah đến Nineveh, đã gào thét trên phố rằng: ‘Còn bốn mươi ngày nữa, Luân Đôn sẽ bị tiêu diệt.’ Tôi không dám chắc liệu hắn nói còn bốn mươi ngày hay chỉ vài ngày nữa. Một kẻ khác thì chạy rông trong tình trạng trần truồng, ngoại trừ một chiếc quần lót buộc quanh eo, gào thét ngày đêm giống như nhân vật mà Josephus từng nhắc đến — kẻ từng hét lên: ‘Khốn cho Jerusalem!’ ngay trước thời điểm thành phố đó sụp đổ. Cứ thế, sinh vật tội nghiệp trần truồng ấy gào lên: ‘Ôi, Thiên đàng vĩ đại và đáng sợ!’, chẳng nói gì thêm ngoài việc lặp đi lặp lại những từ ấy không ngừng nghỉ, với một giọng điệu và nét mặt đầy vẻ kinh hoàng, rảo bước thật nhanh; và chẳng ai có thể bắt gặp hắn dừng lại, nghỉ ngơi hay ăn uống bất cứ thứ gì, ít nhất là theo những gì tôi từng nghe kể. Tôi đã chạm trán sinh vật tội nghiệp này vài lần trên đường phố và định nói chuyện với hắn, nhưng hắn nhất quyết không chịu cãi chính hay giao du với bất cứ ai, mà cứ tiếp tục những tiếng gào thét ảm đạm không dứt.
Những điều này khủng bố tinh thần người dân đến tột độ, nhất là khi hai hoặc ba lần, như tôi đã đề cập, họ phát hiện trong các bản thống kê có một hoặc hai người chết vì dịch hạch ở St Giles.
Đứng ngay sau những hiện tượng công cộng ấy là những giấc mơ của các bà già, hay đúng hơn là sự giải mã của các bà già về giấc mơ của người khác; và chính những thứ này đã khiến vô số người phát điên. Có kẻ nghe thấy những tiếng nói cảnh báo họ phải mau rời đi, vì Luân Đôn sắp có một trận dịch hạch kinh hoàng đến mức người sống không đủ sức chôn người chết. Người khác thì nhìn thấy những bóng ma hiện hình giữa không trung; và tôi phải được phép nói về cả hai điều này, hy vọng là không phạm vào lòng bác ái, rằng họ đã nghe những tiếng nói chưa từng cất lên và nhìn thấy những cảnh tượng chưa từng xuất hiện; nhưng trí tưởng tượng của người dân lúc bấy giờ thực sự đã trở nên lệch lạc và bị ma ám. Và cũng chẳng có gì lạ khi những kẻ cứ cắm cổ đăm đăm nhìn lên mây trời lại nhìn thấy những hình thù, vóc dáng, những sự tượng trưng và hiển hiện vốn chẳng có gì ngoài không khí và hơi nước. Ở chỗ này, họ bảo nhau nhìn thấy một thanh gươm bốc lửa nằm trong bàn tay nhô ra từ một đám mây, với mũi kiếm chĩa thẳng xuống thành phố; ở chỗ kia, họ thấy xe tang và quan tài lững lờ trên không trung đem đi chôn cất; rồi lại thấy những đống thây ma nằm chất đống chưa được chôn cất, vân vân, y như những gì trí tưởng tượng của đám đông khốn khổ, sợ hãi cung cấp nguyên liệu cho họ thêu dệt nên.
Cứ thế, những tưởng tượng u sầu vẽ ra
Tàu thuyền, quân đội, những trận chiến trên bầu trời;
Cho đến khi những đôi mắt kiên định hóa giải hơi nước,
Và mọi thứ trở về nguyên trạng ban đầu, những đám mây.
Tôi có thể lấp đầy bản tường thuật này bằng những câu chuyện kỳ quặc mà những người như thế kể lại mỗi ngày về những gì họ đã chứng kiến; và ai nấy đều quả quyết chắc nịch rằng mình đã nhìn thấy những điều được họ bịa ra, đến mức không thể phản bác họ mà không làm tổn hại tình bạn, hoặc bị coi là thô lỗ, vô phép ở mặt này, còn mặt kia thì là kẻ bất kính và chai lì. Có lần trước khi dịch hạch bùng phát (ngoại trừ những gì tôi đã nói ở St Giles), hình như là vào tháng Ba, thấy một đám đông tụ tập ngoài đường, tôi liền sà vào để thỏa mãn sự tò mò và thấy họ đang ngửa cổ lên trời để nhìn thứ mà một người phụ nữ quả quyết rằng cô ta nhìn thấy rất rõ, đó là một thiên thần mặc áo trắng, tay cầm thanh gươm lửa, đang vẫy hoặc múa lượn trên đầu. Cô ta miêu tả từng chi tiết của hình hài ấy như thật, chỉ cho họ thấy chuyển động lẫn hình dáng, và những người khốn khổ ấy đã tin theo một cách hào hứng và sẵn sàng đến thế; ‘Đúng vậy, tôi thấy rõ mồn một rồi,’ một kẻ lên tiếng; ‘thanh gươm kìa, rõ không thể tả.’ Kẻ khác thì thấy thiên thần. Có kẻ nhìn thấy cả khuôn mặt và kêu lên ngài quả là một tạo vật huy hoàng làm sao! Người thì thấy cái này, kẻ thì thấy cái khác. Tôi cũng ngước nhìn chăm chú như những người khác, có lẽ không với mong muốn bị lừa bịp đến thế; và quả thật tôi nói rằng mình chẳng thấy gì ngoài một đám mây trắng, sáng rực một bên do ánh mặt trời chiếu vào phần bên kia. Người phụ nữ tìm cách chỉ cho tôi thấy, nhưng không thể ép tôi thừa nhận là mình nhìn thấy được, điều mà thú thực nếu nhận thì tôi đã nói dối. Thế nhưng người phụ nữ đó quay phắt lại nhìn thẳng vào mặt tôi, tưởng rằng tôi đang cười nhạo, khiến trí tưởng tượng của cô ta lại lừa gạt thêm lần nữa, bởi thực sự tôi không hề cười, mà đang vô cùng nghiêm túc suy ngẫm về việc những con người khốn khổ ấy bị khủng bố đến mức nào bởi sức mạnh của chính trí tưởng tượng của họ. Tuy nhiên, cô ta quay lưng đi, gọi tôi là kẻ bất kính và kẻ chế nhạo; bảo rằng đây là thời điểm cơn giận của Chúa đang bừng bừng và những hình phạt khủng khiếp sắp giáp mặt, và rằng những kẻ khinh miệt như tôi rồi sẽ phải lang thang và diệt vong.
Những người xung quanh tỏ ra bất bình không kém gì cô ta; và tôi nhận ra chẳng tài nào thuyết phục họ rằng tôi không hề cười nhạo họ, và nếu ở lại tôi có thể bị đám đông hành hung thay vì có thể thức tỉnh họ. Thế nên tôi bỏ đi; và hiện tượng đó được công nhận là có thật chẳng kém gì ngôi sao chổi.
Một cuộc đụng độ khác cũng diễn ra giữa ban ngày ban mặt; và lần này là khi tôi đi qua một lối đi hẹp từ Petty France vào nghĩa trang Bishopsgate, đi ngang qua một dãy nhà tế thế. Có hai nghĩa trang thuộc nhà thờ hoặc giáo xứ Bishopsgate; một nghĩa trang chúng ta phải đi qua để từ nơi gọi là Petty France sang phố Bishopsgate, trồi lên ngay sát cửa nhà thờ; nghĩa trang kia nằm bên cạnh lối đi hẹp với những ngôi nhà tế thế ở bên trái; và một bức tường thấp có hàng rào cọc bên trên ở bên phía tay phải, cùng bức tường thành phố nằm ở phía bên kia xa hơn về phía bên phải.
Trong lối đi hẹp này đứng một gã đang dán mắt qua hàng rào cọc nhìn vào khu chôn cất, cùng đông đảo người tụ tập chật kín lối đi — chật đến mức vừa đủ dừng chân mà không cản trở lối đi của người khác — và hắn đang huyên thuyên nói chuyện một cách cực kỳ hào hứng với họ, hết chỉ chỗ này sang chỗ khác, khẳng định chắc nịch rằng hắn nhìn thấy một bóng ma đang đi lại trên một tấm bia mộ nào đó ở trong ấy. Hắn miêu tả hình dáng, tư thế và chuyển động của nó chính xác đến mức khiến mọi người xung quanh kinh ngạc tột độ vì sao không ai nhìn thấy nó rõ như hắn. Bất thình lình hắn thét lên: ‘Kìa, nó đấy; bây giờ nó đang đi về hướng này.’ Rồi, ‘Nó quay đầu lại rồi’; cho đến khi hắn khiến mọi người tin sái cổ đến mức kẻ này tưởng tượng nhìn thấy, người kia cũng tưởng tượng nhìn thấy; và cứ thế, ngày nào hắn cũng gây ra một sự huyên náo kỳ lạ — xét đến việc nó nằm trong một lối đi hẹp như thế — cho đến khi chiếc đồng hồ của nhà thờ Bishopsgate điểm mười một giờ, và khi đó bóng ma dường như giật mình, và như thể có tiếng gọi từ đi, nó biến mất đột ngột.
Tôi ngước nhìn chăm chú đủ mọi hướng, đúng vào khoảnh khắc gã đó chỉ tay, nhưng chẳng thấy lấy một bóng dáng nhỏ nhoi nào; thế nhưng gã đàn ông đáng thương ấy lại tỏ ra vô cùng quả quyết, truyền thứ tâm trạng bấn loạn ấy cho vô số người và khiến họ bỏ đi trong cảnh run rẩy, hoảng sợ, cho đến cuối cùng chẳng mấy ai biết chuyện lại dám bước qua lối đi đó, và gần như không một bóng người nào dám bén mảng tới vào ban đêm với bất kỳ lý do gì.
Bóng ma này, theo lời khẳng định của gã khốn khổ đó, đã ra hiệu về phía những ngôi nhà, mặt đất và đám đông, ám chỉ rõ ràng — hoặc do họ tự hiểu như vậy — rằng vô số người rồi sẽ được đem đến chôn cất tại nghĩa trang đó, và quả thực điều ấy đã xảy ra sau đó; nhưng việc hắn nhìn thấy những hiện tượng như vậy thì tôi phải thú nhận là chưa từng tin, bản thân tôi cũng chẳng tài nào thấy được gì dẫu đã căng mắt ra nhìn hết mức có thể.
Những sự việc này góp phần cho thấy con người ta thực sự đã bị lấn át bởi những ảo tưởng đến mức nào; và khi họ đã mang sẵn trong đầu ý niệm về sự giáp mặt của một thảm họa, mọi lời tiên tri của họ đều xoay quanh một trận dịch hạch vô cùng kinh hoàng — thứ sẽ tàn phá toàn bộ thành phố, thậm chí cả vương quốc, và tiêu diệt gần như toàn bộ quốc gia từ người cho đến vật.
Thêm vào đó, như tôi đã nói trước đây, các nhà chiêm tinh còn thêu dệt thêm những câu chuyện về các hiện tượng các hành tinh hội tụ theo chiều hướng độc ác và mang sức ảnh hưởng tai họa, một trong số các hiện tượng hội tụ đó sắp xảy ra — và quả thực đã xảy ra — vào tháng Mười, còn hiện tượng kia vào tháng Mười một; và họ nhồi nhét vào đầu người dân những lời tiên tri dựa trên các dấu hiệu trên thiên văn này, ám chỉ rằng những sự hội tụ ấy báo trước hạn hán, nạn đói và dịch bệnh. Tuy nhiên, về hai điều đầu tiên, họ đã đoán sai bét nhè, bởi chúng ta chẳng có mùa hạn hán nào, trái lại vào đầu năm xuất hiện một đợt sương giá khắc nghiệt kéo dài từ tháng Mười hai cho đến gần tháng Ba, và sau đó là thời tiết ôn hòa, có phần ấm áp hơn là nóng nực, kèm theo những cơn gió mát lành, tóm lại là thời tiết rất đúng mùa, bên cạnh đó là một số trận mưa rất lớn.
Đã có những nỗ lực được thực hiện nhằm ngăn chặn việc in ấn những cuốn sách gieo rắc sự hoảng sợ cho người dân, đồng thời trừng trị những kẻ phát tán chúng, một vài kẻ trong số đó đã bị bắt giữ; nhưng chẳng có kết quả là bao, theo như tôi được biết, bởi Chính phủ không muốn làm xằng bậy thêm đám đông vốn đã — có thể nói vậy — mất hết cả lý trí.
Tôi cũng không thể bào chữa cho những vị mục sư — những người trong các bài giảng của họ thay vì nâng dậy lại dìm chết hy vọng trong lòng thính giả. Chắc chắn nhiều người trong số họ làm vậy là để củng cố quyết tâm cho người dân, và đặc biệt là để thúc giục họ ăn năn hối cải, nhưng nó hoàn toàn không đạt được mục đích, ít nhất là không tương xứng với sự tổn hại mà nó gây ra ở phương diện khác; và quả thực, giống như bản thân Chúa qua toàn bộ Kinh Thánh luôn dùng những lời mời gọi và tiếng gọi quay về với Ngài để thu hút chúng ta, thay vì dùng sự kinh hoàng và khiếp sợ để xua đuổi chúng ta, tôi phải thú nhận rằng tôi nghĩ các mục sư cũng nên làm như vậy, bắt chước Chúa và Thầy chí thánh của chúng ta ở điểm này: rằng toàn bộ Phúc Âm của Ngài tràn ngập những tuyên bố từ thiên đàng về lòng thương xót của Chúa, cùng sự sẵn sàng đón nhận những kẻ ăn năn và tha thứ cho họ, khi Ngài than thở rằng: ‘Các ngươi không muốn đến cùng Ta để được sự sống’, và đó là lý do Phúc Âm của Ngài được gọi là Phúc Âm Bình An và Phúc Âm Ân Điển.
Nhưng chúng ta lại có một số người tốt, thuộc đủ mọi giáo phái và quan điểm, những người có bài giảng tràn ngập sự kinh hoàng, chỉ nói về những điều ảm đạm; và khi họ kéo người dân lại với nhau bằng một thứ cảm giác hoảng sợ, họ lại xua họ đi trong nước mắt, chẳng tiên tri điều gì ngoài tin dữ, khủng bố người dân với nỗi sợ bị tiêu diệt hoàn toàn, chứ không hướng dẫn họ — ít nhất là chưa đủ — cách kêu cầu sự thương xót từ thiên đàng.
Quả thực đó là thời điểm của những rạn nứt vô cùng bất hạnh giữa chúng ta trong vấn đề tôn giáo. Vô số giáo phái, sự phân rẽ và các quan điểm tách biệt thị hành trong dân chúng. Giáo hội Anh quốc quả thực đã được phục hồi cùng với sự phục hồi của chế độ quân chủ cách đó khoảng bốn năm; nhưng các mục sư và nhà truyền đạo thuộc phái Trưởng lão (Presbyterians), phái Độc lập (Independents) cùng đủ loại tín ngưỡng khác đã bắt đầu tập hợp những hội thánh riêng biệt và dựng lên bàn thờ chống lại bàn thờ, và tất cả bọn họ đều tổ chức các buổi nhóm thờ phượng riêng rẽ giống như bây giờ, nhưng hồi đó chưa nhiều bằng, vì những người ly giáo (Dissenters) chưa thực sự hình thành một khối thống nhất như sau này; và những hội thánh được tập hợp như thế khi ấy vẫn còn rất ít. Thậm chí ngay cả những hội thánh tồn tại, Chính phủ cũng không cho phép mà tìm cách đàn áp và đóng cửa các buổi nhóm họp của họ.
Nhưng thảm họa dịch bệnh đã hòa giải họ một lần nữa, ít nhất là trong một thời gian, và nhiều vị mục sư, nhà truyền đạo giỏi giang, quý giá nhất của phái Ly giáo đã được phép bước vào các nhà thờ nơi các mục sư tại nhiệm đã tháo chạy — như rất nhiều người đã làm vì không chịu nổi áp lực; và người dân đổ xô đến nghe họ giảng không phân biệt giai cấp, chẳng màng hỏi han họ thuộc giáo phái hay quan điểm nào. Nhưng sau khi dịch bệnh qua đi, ngọn lửa bác ái đó lắng xuống; và khi mỗi nhà thờ lại được lấp đầy bởi các mục sư của chính họ, hoặc những người khác được bổ nhiệm thay thế nơi mục sư cũ đã qua đời, mọi thứ lại quay về lối mòn cũ.
Tội lỗi này luôn kéo theo tai họa khác. Sự kinh hoàng và nỗi hoảng sợ này đã đẩy người dân vào hàng ngàn hành động yếu đuối, ngốc nghếch và tội lỗi — những việc mà họ chẳng thiếu những kẻ thực sự đồi bại để cổ vũ; và đó là việc chạy nhạy đến các thầy bói, nhà chiêm tinh và thuật sĩ để xem vận mệnh, hay theo cách nói thông tục là để xem bói, tính toán lá số tử vi vân vân; và sự ngu ngốc này ngay lập tức khiến thị trấn tràn ngập một thế hệ đồi bại chuyên giả danh ma thuật, hắc đạo — theo cách họ gọi — và đủ thứ quỷ quái khác; thậm chí còn dính líu đến hàng ngàn hành vi giao du với quỷ dữ còn tệ hại hơn nhiều so với những gì họ thực sự phạm phải. Và nghề này phô bày công khai và phổ biến đến mức việc treo các tấm biển và câu đối trước cửa trở thành chuyện thường ngày: ‘Ở đây có xem bói’, ‘Ở đây có nhà chiêm tinh’, ‘Ở đây tính được lá số tử vi’, và đại loại thế; và cái đầu bằng đồng của Thầy tu Bacon — vốn là biểu tượng quen thuộc cho nơi ở của những kẻ này — xuất hiện ở hầu như mọi con đường, nếu không thì cũng là biểu tượng của Mẹ Shipton, hay chiếc đầu của Merlin, vân vân.
Bằng những thứ nhảm nhí mù quáng, ngớ ngẩn và nực cười nào mà những kẻ đồng bóng của quỷ dữ này làm vừa lòng và thuyết phục được người dân thì thực tình tôi không rõ, nhưng chắc chắn một điều là vô số kẻ chầu chực đông nghẹt quanh cửa nhà chúng mỗi ngày. Và chỉ cần một gã bệ vệ mặc áo nhung, đeo cà vạt và khoác áo đen — thứ trang phục mà những kẻ phù thủy bịp bợm ấy hay mặc — xuất hiện trên đường phố, người ta sẽ lũ lượt kéo theo sau và hỏi han đủ điều dọc đường đi.
Tôi không cần phải nhắc lại đây là một sự mê muội kinh khủng cỡ nào, hay nó dẫn đến đâu; nhưng chẳng có cách nào ngăn chặn cho đến khi chính dịch hạch đặt dấu chấm hết cho tất cả — và tôi cho rằng nó cũng quét sạch phần lớn những kẻ chuyên tính toán tử vi ấy khỏi thị trấn. Một điều tai hại là nếu người nghèo hỏi những kẻ giả danh chiêm tinh này xem sắp tới có dịch hạch hay không, tất cả bọn chúng đều đồng thanh đáp ‘Có’, vì điều đó giúp chúng duy trì được nghề kiếm ăn. Và giả sử người dân không bị dọa cho khiếp vía về chuyện đó, thì mấy gã phù thủy ấy sẽ lập tức trở nên vô dụng và nghề nghiệp của chúng cũng chấm dứt. Nhưng chúng luôn rót vào tai họ những ảnh hưởng nào đó của các vì sao, sự hội tụ của các hành tinh nào đó — những thứ mà chúng quả quyết chắc chắn sẽ mang lại bệnh tật, ốm đau và hệ quả là dịch hạch. Thậm chí một số kẻ còn cả gan bảo rằng dịch hạch đã bùng phát rồi, điều này quá đúng sự thật dẫu mấy kẻ nói câu đó chẳng biết quái gì về sự tình.
Phải công nhận là các mục sư — và các nhà truyền đạo thuộc hầu hết các phái là những người nghiêm túc, hiểu biết — đã sấm sét lên án những hành vi tội lỗi này cùng các thói hư tật xấu khác, vạch trần sự ngu ngốc lẫn tính độc ác của chúng, và những người tỉnh táo, sáng suốt nhất đều khinh bỉ và ghê tởm chúng. Nhưng hoàn toàn bất khả thi khi muốn tác động đến tầng lớp trung lưu và những người lao động nghèo khổ. Nỗi sợ hãi lấn át mọi cảm xúc của họ, và họ vứt tiền qua cửa sổ một cách điên cuồng vào những thứ vớ vẩn đó. Đặc biệt là các cô hầu gái và người hầu nam chính là khách hàng chủ chốt của chúng, và câu hỏi thường trực của họ sau khi thắc mắc câu đầu tiên ‘Liệu có dịch hạch không?’ — tôi xin nhắc lại, câu hỏi tiếp theo là: ‘Ôi chao thưa ngài! Vì ơn Chúa, chuyện gì sẽ xảy ra với tôi đây? Liệu bà chủ có giữ tôi lại hay đuổi cổ tôi đi? Bà ấy sẽ ở lại đây hay về quê? Và nếu bà ấy về quê, liệu bà có dẫn tôi theo hay bỏ rơi tôi ở đây cho đói khổ và tàn lụi?’ và nam gia nhân cũng hỏi tương tự.
Sự thật là hoàn cảnh của những người hầu nghèo vô cùng bi thảm, như tôi sẽ có dịp nhắc lại sau, bởi hiển nhiên là một số lượng khổng lồ trong số họ sẽ bị đuổi việc, và thực tế đúng là như vậy. Và vô số kẻ trong số họ đã thiệt mạng, đặc biệt là những người từng bị các nhà tiên tri giả mạo này phỉnh phờ bằng hy vọng rằng họ sẽ được giữ lại làm việc, và được mang theo các ông chủ bà chủ về quê; và giả sử lòng bác ái công cộng không ra tay cưu mang những sinh linh tội nghiệp này — những kẻ có số lượng vô cùng lớn và trong bất kỳ hoàn cảnh nào loại này cũng thế — thì họ đã rơi vào hoàn cảnh tồi tệ nhất trong số tất cả mọi người ở thành phố.
Những điều này làm xáo trộn tâm trí những người bình dân trong nhiều tháng trời, khi nỗi sợ hãi ban đầu bao trùm lấy họ và trong lúc dịch bệnh — có thể nói vậy — chưa thực sự bùng phát. Nhưng tôi cũng không được quên rằng phần lớn cư dân nghiêm túc hơn lại có cách hành xử hoàn toàn khác. Chính phủ khích lệ lòng sùng đạo của họ, ấn định các buổi cầu nguyện công khai cùng những ngày ăn chay và hạ mình, để công khai xưng tội và nài xin lòng thương xót của Chúa nhằm ngăn chặn thảm họa kinh hoàng đang treo lơ lửng trên đầu họ; và không thể diễn tả nổi sự hăng hái mà người dân ở mọi giáo đã đón nhận cơ hội đó; họ đổ xô đến các nhà thờ và các buổi nhóm họp, đông nghẹt đến mức đôi khi chẳng thể chen chân nổi, thậm chí chẳng tới sát được cửa của những nhà thờ lớn nhất. Bên cạnh đó, các buổi cầu nguyện hàng ngày được ấn định vào sáng và tối tại nhiều nhà thờ, cùng những ngày cầu nguyện riêng tư ở các nơi khác; tất cả những nơi đó đều được người dân tham dự với một lòng sùng đạo phi thường. Nhiều gia đình riêng lẻ — dù thuộc giáo phái này hay giáo phái khác — cũng tự tổ chức ăn chay trong gia đình, chỉ cho phép những họ hàng gần gũi tham gia. Tóm lại, những con người thực sự nghiêm túc và có đạo đã áp dụng một cách đúng đắn theo tinh thần Cơ Đốc giáo vào công việc ăn chay và hạ mình thích hợp, như một dân tộc Cơ Đốc đáng lẽ phải làm.
Hơn nữa, công chúng cũng cho thấy họ sẵn sàng gánh vác phần trách nhiệm của mình trong những chuyện này; ngay cả Triều đình vốn dĩ náo nhiệt và xa hoa lúc bấy giờ cũng khoác lên mình vẻ bề ngoài của sự quan tâm đúng mức trước hiểm họa chung. Toàn bộ các vở kịch và trò hề — vốn được dựng lên theo phong cách của Triều đình Pháp và đang bắt đầu nở rộ giữa chúng ta — bị cấm trình diễn; các sòng bạc, phòng khiêu vũ công cộng và quán âm nhạc — những thứ nhân lên và bắt đầu làm đồi trụy đạo đức của người dân — đều bị đóng cửa và quét sạch; còn những gã hề, người pha trò, múa rối, đi dây và những hoạt động đại loại thế từng làm mê muội những tầng lớp bình dân nghèo khó đều phải dẹp tiệm, vì thực tế chẳng có ai thèm dòm ngó; bởi tâm trí người dân lúc bấy giờ bị bận rộn bởi những thứ khác, và một thứ cảm giác u buồn, kinh hoàng bao trùm lên cả gương mặt của những người bình dân nhất. Cái chết hiện hữu trước mắt, và mọi người bắt đầu nghĩ đến những ngôi mộ của mình thay vì sự vui vẻ và giải trí.
Nhưng ngay cả những suy ngẫm lành mạnh đó — nếu được quản lý đúng đắn, đáng lẽ đã có thể dẫn dắt người dân một cách vô cùng hạnh phúc quỳ gối xuống, xưng tội lỗi của mình và ngước nhìn vị Cứu Chúa nhân từ để xin tha thứ, nài xin lòng trắc ẩn của Ngài đối với họ trong thời điểm khốnốn như vậy, qua đó chúng ta có thể trở thành một Nineveh thứ hai — lại đẩy những người bình dân sang một thái cực hoàn toàn trái ngược; những kẻ vốn ngu muội và đần độn trong suy nghĩ cũng như hung hăng, tội lỗi và vô tâm trước đó, giờ đây bị nỗi sợ hãi dẫn dắt đến những thái cực của sự ngu ngốc; và như tôi đã nói trước đây, họ chạy đến chỗ các phù thủy, thầy bói và đủ mọi kẻ lừa đảo để hỏi xem số phận mình sẽ ra sao (những kẻ chuyên thổi phồng nỗi sợ hãi và giữ cho họ luôn hoảng hốt, tỉnh táo cốt để lừa gạt và móc túi họ), thì họ lại phát cuồng trong việc đâm đầu theo các lang băm, thầy thuốc vườn và mọi mụ già hành nghề y tế để mua thuốc men, phương dược; tích trữ vô số loại thuốc viên, nước thuốc và những thứ gọi là chất bảo quản, khiến họ không chỉ tiêu tốn tiền bạc mà còn tự chuốc độc vào thân trước vì sợ chất độc của dịch bệnh; và chuẩn bị cơ thể sẵn sàng cho dịch hạch thay vì bảo vệ nó trước căn bệnh đó. Mặt khác, thật không thể tin nổi và khó mà tưởng tượng được cách mà các cột nhà hay góc phố bị trát kín bởi các tờ đơn thuốc của bác sĩ và những tờ giấy của đám lang băm dốt nát thò chân vào nghề y, chèo kéo người dân đến chỗ chúng để mua thuốc chữa bệnh, thường được tô vẽ bằng những lời lẽ hoa mỹ như thế này: ‘Thuốc viên phòng ngừa không thể sai sót chống dịch hạch.’ ‘Chất bảo quản bách phát bách trúng chống lại sự lây nhiễm.’ ‘Thuốc hồi sức tối cao chống lại sự thối rữa của không khí.’ ‘Quy định chính xác về cách điều tiết cơ thể trong trường hợp nhiễm bệnh.’ ‘Thuốc viên chống dịch hạch.’ ‘Thứ nước uống vô song chống lại dịch hạch, chưa từng được tìm ra trước đó.’ ‘Phương thuốc vạn năng chữa dịch hạch.’ ‘Thứ nước thuốc chống dịch hạch chân chính duy nhất.’ ‘Thuốc giải độc hoàng gia chống lại mọi loại lây nhiễm’; — và còn vô số loại khác nữa mà tôi không thể kể hết; và nếu có thể, việc liệt kê chúng ra sẽ đủ làm thành cả một cuốn sách.
Những kẻ khác thì treo bảng hiệu triệu tập người dân đến nơi ở của chúng để xin chỉ dẫn và lời khuyên trong trường hợp nhiễm bệnh. Những kẻ này cũng có những cái tên kêu vang chẳng kém:—
‘Một danh y người Thượng Đức xuất sắc, mới từ Hà Lan sang — nơi ông từng cư ngụ suốt thời gian diễn ra đại dịch năm ngoái ở Amsterdam, và đã chữa khỏi cho vô số người thực sự mắc dịch hạch.’
‘Một nữ quý tộc Ý vừa đặt chân đến từ Naples, nắm giữ một bí phương tuyệt đỉnh để ngăn ngừa lây nhiễm — thứ được bà đúc kết từ kinh nghiệm trường kỳ của mình và từng lập nên những phép màu chữa bệnh trong trận đại dịch vừa qua ở đó, nơi có 20.000 người chết trong một ngày.’
‘Một quý bà cao niên từng hành nghề vô cùng thành công trong trận đại dịch vừa qua tại thành phố này vào năm 1636, chỉ nhận tư vấn cho phái nữ. Có thể gặp mặt tại,’ v.v.
‘Một vị danh y giàu kinh nghiệm, người đã nghiên cứu lâu năm học thuyết về thuốc giải độc chống lại mọi loại độc dược và lây nhiễm, sau bốn mươi năm hành nghề đã đạt đến trình độ có thể — với sự ban ơn của Chúa — hướng dẫn mọi người cách phòng tránh không bị chạm trán bởi bất kỳ loại bệnh truyền nhiễm nào. Ông tư vấn miễn phí cho người nghèo.’
Tôi điểm qua những cái tên này như những mẫu vật tiêu biểu. Tôi có thể cung cấp cho bạn hai hoặc ba tá những lời rao tương tự mà vẫn còn thừa mứa chán. Chỉ cần từ bấy nhiêu đó là đủ để bất cứ ai nắm bắt được tâm lý thời đại đó, và cách mà một đám trộm cắp, móc túi không chỉ cướp đoạt, lừa gạt tiền bạc của người nghèo mà còn đầu độc cơ thể họ bằng những thứ bào chế gớm ghiếc và chết chóc; kẻ thì dùng thủy ngân, kẻ thì dùng những thứ tồi tệ không kém, hoàn toàn đi ngược lại với công dụng được rao giảng, và chỉ gây hại nhiều hơn là có ích cho cơ thể trong trường hợp bị lây nhiễm.
Tôi không thể bỏ qua một thủ đoạn của một trong số những kẻ lang băm vận hành đó — kẻ đã dùng nó để dụ dỗ người nghèo bu quanh hắn, nhưng nhất quyết không làm gì không công. Có vẻ như hắn đã bổ sung vào các tờ rơi phát ngoài đường dòng quảng cáo in hoa này: ‘Hắn tư vấn miễn phí cho người nghèo.’
Đông đảo người nghèo đã kéo đến gặp hắn, và hắn đã tuôn ra vô số lời hay ý đẹp, tra hỏi họ về tình trạng sức khỏe cũng như thể trạng cơ thể, đồng thời mách nước cho họ nhiều điều tốt đẹp nhưng chẳng có mấy trọng lượng. Tuy nhiên, kết quả và đoạn kết của tất cả những điều đó là hắn có một bài thuốc mà nếu họ uống một lượng nhất định vào mỗi sáng, hắn dám lấy mạng mình ra bảo đảm họ sẽ không bao giờ mắc dịch hạch; kể cả khi họ sống chung nhà với những người đã bị nhiễm bệnh. Điều này khiến tất cả mọi người đều quyết tâm mua cho bằng được; nhưng ngặt nỗi giá của nó lại đắt đỏ — hình như là nửa đồng crown. ‘Nhưng thưa ngài,’ một phụ nữ nghèo lên tiếng, ‘tôi là một phụ nữ sống nhờ nhà tế thế và được giáo xứ chu cấp, các tờ rơi của ngài bảo ngài giúp đỡ người nghèo miễn phí mà.’ ‘Ừ, mụ thiện lành,’ vị bác sĩ đáp, ‘ta làm thế chứ, như ta đã công bố đấy. Ta tư vấn miễn phí cho người nghèo, chứ có cho thuốc miễn phí đâu.’ ‘Trời đất ơi thưa ngài!’ mụ kêu lên, ‘hóa ra đó là cái bẫy giăng sẵn cho người nghèo à; vì ngài tư vấn miễn phí cho họ; nghĩa là ngài khuyên họ không lấy tiền, cốt để họ mua thuốc của ngài bằng tiền; chủ cửa hàng nào bán hàng chẳng làm thế.’ Ngay lập tức, mụ đàn bà bắt đầu chửi rủa hắn và đứng ì trước cửa nhà hắn suốt ngày hôm đó, kể câu chuyện của mình cho tất cả những ai bước qua, cho đến khi vị bác sĩ thấy mụ làm mình mất hết khách, đành phải gọi mụ lên gác và quẳng cho mụ hộp thuốc miễn phí, thứ mà có lẽ khi cầm trong tay rồi thì cũng chẳng có tích sự gì.
Nhưng quay trở lại với đám đông — những kẻ với sự bấn loạn đã biến họ thành con mồi dễ dỗ dành cho mọi thứ giả danh và mọi gã lang băm. Không còn nghi ngờ gì nữa, những gã lang băm này đã kiếm được khoản lợi nhuận khổng lồ từ những con người khốn khổ ấy, bởi hàng ngày chúng ta đều thấy đám đông đổ xô theo chúng còn đông hơn vô số lần, và cửa nhà chúng tấp nập hơn hẳn nhà của bác sĩ Brooks, bác sĩ Upton, bác sĩ Hodges, bác sĩ Berwick hay bất kỳ ai khác, dù đó là những tên tuổi lừng lẫy nhất thời bấy giờ. Và tôi được kể lại rằng có những kẻ kiếm được năm bảng một ngày chỉ nhờ bán thuốc.
Nhưng vẫn còn một sự điên rồ nữa vượt lên trên tất cả những điều này, có thể giúp hình dung về tâm trạng cuồng loạn của những người nghèo vào thời điểm đó: đó là việc họ chạy theo một thể loại lừa đảo tệ hại hơn bất kỳ ai kể trên; bởi những tên trộm vặt này chỉ phỉnh gạt để móc túi và kiếm tiền của họ, trong đó sự đồi bại — dù là gì đi nữa — chủ yếu thuộc về phía kẻ lừa đảo chứ không nằm ở người bị lừa. Nhưng trong trường hợp tôi sắp nhắc tới, nó nằm chủ yếu ở những người bị lừa, hoặc chia đều cho cả hai; và đó là việc đeo bùa chú, bùa yêu, bùa trừ tà, bùa hộ mệnh và đủ thứ linh tinh để cường hóa cơ thể chống lại dịch hạch; cứ như thể dịch hạch không phải là bàn tay của Chúa, mà là một dạng bị quỷ ám, và nó có thể được đẩy lùi bằng những dấu thập, các cung hoàng đạo, những mảnh giấy buộc bằng vô số nút thắt cùng những từ ngữ hoặc hình vẽ viết trên đó — đặc biệt là từ ABRACADABRA, được xếp theo hình tam giác hoặc kim tự tháp như thế này: —
ABRACADABRA
ABRACADABR
ABRACADAB
ABRACADA
ABRACAD
ABRACA
ABRAC
ABRA
ABR
AB
A
Những kẻ khác thì dùng dấu hiệu chữ thập của dòng Tên:
I H
S.
Những kẻ khác nữa thì chỉ dùng mỗi dấu hiệu này:
AB * *
A {* }
Tôi có thể tốn rất nhiều thời gian để phàn nàn về sự ngu ngốc, và thực sự là sự tội lỗi, của những thứ đó trong một thời điểm hiểm nghèo như thế, trong một vấn đề hệ trọng như một trận đại dịch quốc gia. Nhưng những ghi chép của tôi về các sự việc này thiên về việc ghi nhận thực tế và chỉ nhắc đến rằng mọi chuyện đúng là như vậy. Việc những người nghèo nhận ra sự vô tích sự của những thứ đó ra sao, và sau đó bao nhiêu kẻ trong số họ đã được chở đi trên những chiếc xe chở xác rồi ném xuống những hố chôn chung của từng giáo xứ với những thứ bùa chú và rác rưởi địa ngục lủng lẳng trên cổ, sẽ là những điều tiếp tục được kể lại dọc đường đi.
Tất cả những điều này là hệ quả từ sự hoảng loạn của người dân sau khi ý niệm đầu tiên về việc dịch hạch đang kề cận xuất hiện trong tâm trí họ — có thể nói là từ khoảng Lễ Mi-ca năm 1664, nhưng đặc biệt rõ rệt sau khi hai người đàn ông chết ở St Giles vào đầu tháng Mười hai; và một lần nữa, sau báo động tiếp theo vào tháng Hai. Bởi khi dịch hạch thực sự lan rộng, họ nhanh chóng nhận ra sự ngu ngốc khi đặt niềm tin vào những kẻ bất tài từng lừa gạt tiền bạc của họ; và khi ấy nỗi sợ hãi của họ lại chuyển sang một hướng khác, đó là sự kinh hoàng và đần độn, chẳng biết phải xoay sở thế nào hay làm gì để cứu vãn hoặc tự cứu lấy bản thân. Thay vào đó, họ chạy từ nhà người láng giềng này sang nhà khác, thậm chí ngoài đường từ cửa nhà này sang cửa nhà khác, với tiếng kêu gào lặp đi lặp lại: ‘Lạy Chúa, xin thương xót chúng con! Chúng ta phải làm gì đây?’
Quả thực, những người nghèo rất đáng thương ở một khía cạnh cụ thể mà họ hầu như không nhận được sự cứu rỗi nào, và tôi muốn nhắc đến điều đó với một nỗi sợ hãi và suy ngẫm nghiêm túc — điều mà có lẽ không phải ai đọc đến đây cũng thích thú; nghĩa là trong khi cái chết lúc này bắt đầu — có thể nói vậy — không chỉ lơ lửng trên đầu mỗi người, mà còn nhìn thẳng vào nhà cửa, phòng ốc và trừng trừng vào mặt họ. Dù vẫn có sự đần độn và u mê trong tâm trí (và quả thực có rất nhiều), nhưng cũng có một lượng lớn sự cảnh tỉnh chính đáng vang lên tận sâu thẳm tâm can — nếu tôi có thể nói thế — của những người khác. Nhiều lương tâm được đánh thức; nhiều trái tim chai sạn tan chảy thành nước mắt; vô số lời xưng tội ăn năn được thốt lên về những tội ác từng che giấu lâu năm. Sẽ làm rỉ máu tâm hồn của bất kỳ người theo đạo nào khi nghe những tiếng rên rỉ hấp hối của biết bao sinh linh tuyệt vọng, trong khi chẳng ai dám bén mảng lại gần để an ủi họ. Rất nhiều vụ cướp của, giết người khi đó được lớn tiếng xưng ra, mà chẳng còn ai sống sót để ghi chép lại những lời khai đó. Người ta có thể nghe thấy tiếng họ — thậm chí vọng ra tận đường phố khi chúng ta đi qua — kêu cầu Chúa thương xót qua danh Chúa Jesus Christ, và nói rằng: ‘Tôi là kẻ trộm’, ‘Tôi là kẻ ngoại tình’, ‘Tôi là kẻ giết người’, vân vân, nhưng chẳng ai dám dừng lại để thăm dò mảy may về những chuyện ấy hay mang lại sự an ủi cho những sinh linh tội nghiệp đang gào thét trong sự dằn vặt cả về thể xác lẫn tâm hồn. Một số mục sư lúc đầu có đi thăm người bệnh và duy trì trong một thời gian ngắn, nhưng việc đó là bất khả thi. Bước vào một số ngôi nhà chẳng khác nào tự sát ngay lập tức. Ngay cả những kẻ chuyên chôn cất người chết — vốn là những sinh linh chai sạn nhất trong thị trấn — đôi khi cũng bị đánh bật trở lại và khiếp sợ đến mức không dám bước vào những ngôi nhà nơi cả gia đình đã bị quét sạch hoàn toàn, và nơi hoàn cảnh đặc biệt kinh hoàng hơn cả, như một số trường hợp đã xảy ra; nhưng thú thực điều đó chỉ diễn ra ở thời điểm bùng phát dữ dội nhất của dịch bệnh.
Thời gian rồi cũng tôi luyện họ quen dần với tất cả, và sau đó họ liều lĩnh bước vào mọi nơi không chút do dự, như tôi sẽ có dịp trình bày chi tiết sau này.
Bây giờ tôi đang giả định rằng dịch bệnh đã bùng phát, như tôi đã nói, và các nhà chức trách bắt đầu đưa hoàn cảnh của người dân vào việc cân nhắc nghiêm trọng. Những gì họ đã làm liên quan đến việc quản lý dân cư và các gia đình bị nhiễm bệnh, tôi sẽ bàn đến ở một phần riêng; nhưng về vấn đề sức khỏe, việc nhắc đến nó ở đây là rất thích hợp: đó là sau khi chứng kiến thói đời ngớ ngẩn của người dân khi đâm đầu chạy theo lang băm, thầy bói, phù thủy và nhà chiêm tinh như tôi đã kể trên — đến mức phát điên, Ngài Thị trưởng — một quý ông rất điềm đạm và sùng đạo — đã bổ nhiệm các y sĩ và bác sĩ phẫu thuật để cứu trợ người nghèo — ý tôi là những người nghèo mắc bệnh — và cụ thể đã ra lệnh cho Hội Y sĩ công bố các hướng dẫn về những phương thuốc rẻ tiền dành cho người nghèo trong mọi hoàn cảnh của bệnh dịch. Đây quả thực là một trong những việc nhân đạo và sáng suốt nhất có thể làm vào thời điểm đó, bởi nó ngăn chặn người dân lui tới trước cửa của mọi kẻ phát tán tờ rơi, và không còn u mê, thiếu suy nghĩ uống nhầm thuốc độc thay cho dược phẩm, uống cái chết thay vì sự sống.
Chỉ dẫn này của các y sĩ được đúc rút qua một buổi hội chẩn của toàn bộ Hội đồng Y sĩ; và vì nó được tính toán đặc biệt cho việc sử dụng của người nghèo cũng như các loại thuốc rẻ tiền, nó đã được công bố rộng rãi để ai cũng có thể nhìn thấy, và các bản sao được phát miễn phí cho bất kỳ ai có nhu cầu. Nhưng vì nó đã là tài liệu công khai và có thể tìm thấy trong mọi dịp, tôi không cần phải làm phiền người đọc bằng việc chép lại nó nữa.
Sẽ không ai cho rằng tôi đang hạ thấp uy tín hay năng lực của các y sĩ khi nói rằng sự hung bạo của dịch bệnh khi đạt đến đỉnh điểm cũng giống như ngọn lửa của năm sau. Ngọn lửa — thứ thiêu rụi những gì dịch hạch không thể chạm tới — thách thức mọi phương pháp chữa trị; các máy bơm nước bị đập phá, các xô nước bị vứt bỏ, và sức mạnh của con người hoàn toàn bị đánh bại và đi đến hồi kết. Tương tự, Dịch hạch thách thức mọi loại thuốc men; chính các y sĩ cũng bị nó quật ngã ngay khi trong miệng vẫn đang ngậm thuốc bảo quản; và người ta đi khắp nơi kê đơn cho người khác, bảo họ phải làm gì cho đến khi các dấu hiệu xuất hiện trên người họ và họ ngã lăn ra chết, bị tiêu diệt bởi chính thứ kẻ thù mà họ từng chỉ dẫn người khác chống lại. Đó là số phận của một số y sĩ, thậm chí ngay cả những người ưu tú nhất, và của một số bác sĩ phẫu thuật lành nghề nhất. Vô số lang băm cũng bỏ mạng — những kẻ ngốc nghéch dám tin vào thuốc của chính chúng, dù thừa biết chúng chẳng có tích sự gì, và những kẻ đáng ra phải chạy trốn — giống như các loại trộm cắp khác — vì nhận thức được tội lỗi của mình trước công lý mà chúng thừa biết sẽ trừng phạt chúng như những gì chúng đáng phải nhận.
Không phải là việc nói rằng các y sĩ cũng ngã xuống trong thảm họa chung lại là sự hạ thấp công sức hay sự tận tụy của họ; bản thân tôi không hề có ý đó; điều đó càng tôn vinh họ hơn khi họ đã liều mạng sống đến mức hy sinh chúng trong sứ mệnh phục vụ nhân loại. Họ đã nỗ lực làm việc thiện và cứu mạng sống của người khác. Nhưng chúng ta không thể trông đợi các y sĩ có thể chặn đứng các phán quyết của Chúa, hay ngăn cản một căn bệnh được vũ trang từ thiên đàng hoàn thành sứ mệnh mà nó được phái xuống để thực hiện.
Chắc chắn rằng các y sĩ đã giúp đỡ rất nhiều người bằng tay nghề, sự thận trọng và các phương pháp chữa trị của mình, cứu sống và khôi phục sức khỏe cho họ. Nhưng việc nói rằng họ không thể chữa khỏi cho những người đã xuất hiện các dấu hiệu trên người, hoặc những người đã bị nhiễm bệnh chí mạng trước khi y sĩ được mời đến — trường hợp xảy ra rất thường xuyên — thì không hề làm giảm đi uy tín hay tay nghề của họ.
Bây giờ là lúc phải nhắc đến những biện pháp công cộng nào đã được nhà chức trách áp dụng vì sự an toàn chung, nhằm ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh ngay khi nó mới bùng phát. Tôi sẽ có dịp thường xuyên nói về sự khôn ngoan của các nhà chức trách, lòng bác ái, sự cảnh giác của họ vì người nghèo, vì việc duy trì trật tự tốt, cung cấp lương thực thực phẩm vân vân, khi dịch bệnh gia tăng như sau này. Nhưng lúc này tôi đang bàn về các quy định và mệnh lệnh mà họ đã ban hành để quản lý các gia đình bị nhiễm bệnh.
Tôi đã đề cập ở trên về việc niêm phong nhà cửa; và cần phải nói một cách cụ thể hơn về điều đó, bởi phần này trong lịch sử dịch hạch rất u ám, nhưng những câu chuyện bi thảm nhất đều phải được kể ra.
Vào khoảng tháng Sáu, Ngài Thị trưởng Luân Đôn và Hội đồng Aldermen, như tôi đã nói, bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến việc quản lý thành phố.
Các thẩm phán hòa bình xứ Middlesex, theo chỉ thị của Bộ trưởng Ngoại giao, đã bắt đầu niêm phong các ngôi nhà ở các giáo xứ St Giles-in-the-Fields, St Martin, St Clement Danes, vân vân, và điều đó đã mang lại thành công tốt đẹp; bởi ở một số con đường nơi dịch hạch bùng phát, nhờ việc canh gác nghiêm ngặt các ngôi nhà bị nhiễm bệnh và cẩn trọng chôn cất ngay những người vừa chết ngay khi được phát hiện, dịch hạch đã chấm dứt ở những con đường đó. Người ta cũng nhận thấy rằng dịch hạch suy giảm sớm hơn ở những giáo xứ đã chịu sự kiểm tra triệt để như vậy, so với các giáo xứ Bishopsgate, Shoreditch, Aldgate, Whitechappel, Stepney và những nơi khác; sự quan tâm từ sớm được thực hiện theo cách đó chính là một phương tiện lớn để chặn đứng nó.
Việc niêm phong nhà cửa này là một phương pháp lần đầu tiên được áp dụng, theo như tôi được biết, trong trận đại dịch xảy ra vào năm 1603, nhân dịp Vua James Đệ nhất lên ngôi; và quyền lực giam giữ người dân trong chính ngôi nhà của họ đã được ban hành bởi Đạo luật Quốc hội mang tựa đề: ‘Đạo luật về Cứu trợ Bác ái và Quản lý Những người bị nhiễm Dịch hạch’; dựa trên Đạo luật Quốc hội đó mà Ngài Thị trưởng cùng các phó thị trưởng thành phố Luân Đôn đã ban hành sắc lệnh vào thời điểm này, có hiệu lực từ ngày 1 tháng Bảy năm 1665, khi số lượng người nhiễm bệnh trong thành phố còn rất ít, bản thống kê cuối cùng cho chín mươi hai giáo xứ chỉ có bốn ca; và khi một số ngôi nhà trong thành phố đã bị niêm phong, một số người được chuyển đến nhà thương dịch hạch nằm bên kia cánh đồng Bunhill, trên đường đi tới Islington — ý tôi là, nhờ những biện pháp này, khi mà có tới gần một nghìn người chết mỗi tuần trên toàn tổng số, thì con số trong thành phố chỉ là hai mươi tám, và thành phố được bảo vệ khỏe mạnh hơn theo tỷ lệ so với bất kỳ nơi nào khác trong suốt thời gian dịch bệnh hoành hành.
Những sắc lệnh này của Ngài Thị trưởng, như tôi đã nói, được công bố vào cuối tháng Sáu, có hiệu lực từ ngày 1 tháng Bảy, cụ thể như sau:—
NHỮNG QUY ĐỊNH ĐƯỢC SOẠN THẢO VÀ CÔNG BỐ BỞI NGÀI THỊ TRƯỞNG VÀ HỘI ĐỒNG ALDERMEN THÀNH PHỐ LUÂN ĐÔN VỀ SỰ LÂY NHIỄM CỦA DỊCH HẠCH, NĂM 1665.
‘XÉT RẰNG dưới triều đại của vị Vua James quá cố kính yêu của chúng ta, một Đạo luật đã được ban hành nhằm cứu trợ bác ái và quản lý những người bị nhiễm dịch hạch, qua đó trao quyền cho các thẩm phán hòa bình, thị trưởng, quan thừa hành và các quan chức đứng đầu khác được bổ nhiệm trong phạm vi thẩm quyền của họ những người kiểm tra, người lùng sục, gác canh, người giữ kho và người chôn cất đối với những người và địa điểm bị nhiễm bệnh, đồng thời cho họ tuyên thệ thực hiện nhiệm vụ của mình. Và chính sắc lệnh đó cũng ủy quyền đưa ra các chỉ dẫn khác tùy theo nhu cầu hiện tại mà họ thấy phù hợp. Nay, sau khi cân nhắc đặc biệt, để ngăn chặn và tránh khỏi sự lây nhiễm bệnh tật (nếu Đức Chúa Trời toàn năng đoái thương), người ta thấy vô cùng thích hợp khi chỉ định các quan chức sau đây, và tuân thủ nghiêm ngặt các quy định này sau đây.
Bổ nhiệm Người kiểm tra ở mọi Giáo xứ.
‘Trước tiên, thiết tưởng cần thiết và ra lệnh rằng ở mỗi giáo xứ phải có một, hai hoặc nhiều người tử tế, có uy tín được lựa chọn và bổ nhiệm bởi phó thị trưởng, người đại diện và hội đồng chung của mỗi phường, với danh xưng là người kiểm tra, tiếp tục giữ chức vụ đó trong khoảng thời gian ít nhất là hai tháng. Và nếu bất kỳ người phù hợp nào được bổ nhiệm từ chối đảm nhận, những kẻ từ chối đó sẽ bị tống giam cho đến khi họ chịu tuân thủ cho phù hợp.
Nhiệm vụ của Người kiểm tra.
‘Yêu cầu những người kiểm tra này phải tuyên thệ trước các phó thị trưởng để điều tra và tìm hiểu theo từng thời điểm xem những ngôi nhà nào trong mỗi giáo xứ đã bị nhiễm bệnh, những ai đang lâm bệnh và mắc bệnh gì, theo sát nhất có thể những gì họ tự tìm hiểu được; và khi có nghi ngờ trong trường hợp đó, hãy ra lệnh hạn chế việc ra vào cho đến khi rõ ràng căn bệnh đó là gì. Và nếu họ phát hiện bất kỳ ai mắc bệnh truyền nhiễm, hãy ra lệnh cho viên cảnh sát niêm phong ngôi nhà đó lại; và nếu viên cảnh sát tỏ ra xao lãng hoặc tắc trách, hãy lập tức báo cáo ngay cho phó thị trưởng của phường đó.
Gác canh.
‘Yêu cầu đối với mỗi ngôi nhà bị nhiễm bệnh phải được bố trí hai gác canh, một người trực ban ngày và một người trực ban đêm; và những gác canh này phải đặc biệt chú ý đảm bảo không ai được bước ra vào những ngôi nhà bị nhiễm bệnh đó dưới sự quản lý của họ, với hình phạt nghiêm khắc nếu vi phạm. Và những gác canh đó phải thực hiện các nhiệm vụ bổ sung mà ngôi nhà có người bệnh cần đến; và nếu gác canh được phái đi làm việc gì, hãy khóa ngôi nhà đó lại và mang theo chìa khóa; gác canh ban ngày túc trực cho đến mười giờ đêm, và gác canh ban đêm đến sáu giờ sáng.
Người lùng sục (Searchers).
‘Yêu cầu phải đặc biệt chú ý bổ nhiệm những phụ nữ lùng sục ở mỗi giáo xứ, là những người có uy tín trung thực và thuộc tầng lớp tốt nhất có thể tìm được trong lĩnh vực này; và những người này phải tuyên thệ tiến hành lùng sục đúng đắn và báo cáo trung thực theo hết khả năng hiểu biết của họ về việc liệu những người có xác chết mà họ được giao kiểm tra có phải chết vì bệnh truyền nhiễm hay do căn bệnh nào khác, theo sát nhất có thể. Và các y sĩ được bổ nhiệm để chữa trị và phòng ngừa bệnh truyền nhiễm phải triệu tập trước mặt họ những người lùng sục đã hoặc sẽ được bổ nhiệm cho các giáo xứ thuộc trách nhiệm tương ứng của họ, nhằm mục đích xem xét xem họ có đủ năng lực phù hợp với công việc đó hay không, và tùy theo trường hợp giao nhiệm vụ cho họ theo thời gian nếu thấy họ sao nhãng trong bổn phận.
‘Yêu cầu trong thời gian dịch bệnh này, không một người lùng sục nào được phép tham gia bất kỳ công việc hay việc làm công cộng nào, hoặc mở cửa hàng, sạp hàng, hay làm nghề giặt giủi, hay bất kỳ công việc thông thường nào khác dưới bất kỳ hình thức nào.
Bác sĩ phẫu thuật (Chirurgeons).
‘Để hỗ trợ tốt hơn cho những người lùng sục, vì trước đây đã có những sự lạm dụng lớn trong việc báo cáo sai lệch về căn bệnh, dẫn đến việc dịch bệnh lây lan thêm, do đó người ta ra lệnh chọn lựa và bổ nhiệm những bác sĩ phẫu thuật có năng lực và kín đáo, bên cạnh những người đã thuộc về nhà thương dịch hạch, trong đó thành phố và Khu vực đặc quyền sẽ được chia thành các khu vực tùy theo vị trí thuận tiện nhất; và mỗi người sẽ phụ trách một khu vực; và các bác sĩ phẫu thuật đó ở mỗi khu vực của họ sẽ kết hợp với những người lùng sục để quan sát thi thể, nhằm mục đích đưa ra báo cáo chính xác về căn bệnh.
‘Và hơn thế nữa, các bác sĩ phẫu thuật đó sẽ thăm khám và lùng sục những trường hợp tương tự — những người hoặc cử người đến mời họ hoặc được chỉ định, hướng dẫn bởi những người kiểm tra ở mỗi giáo xứ — và tìm hiểu rõ về căn bệnh của những đối tượng đó.
‘Và vì các bác sĩ phẫu thuật đó phải được cách ly khỏi mọi ca bệnh khác và chỉ giữ lại riêng cho căn bệnh truyền nhiễm này, người ta ra lệnh rằng mỗi bác sĩ phẫu thuật đó sẽ nhận được mười hai xu cho mỗi thi thể được họ khám nghiệm, được chi trả từ tài sản của người được khám nghiệm nếu họ có khả năng, hoặc nếu không sẽ do giáo xứ chi trả.
Người giữ trẻ / Y tá (Nurse-keepers).
‘Nếu bất kỳ người giữ trẻ nào tự ý rời khỏi ngôi nhà bị nhiễm bệnh trước thời hạn hai mươi tám ngày kể từ khi có người qua đời vì bệnh truyền nhiễm, ngôi nhà mà người giữ trẻ đó chuyển đến sẽ bị niêm phong lại cho đến khi hết thời hạn hai mươi tám ngày nói trên.’
QUY ĐỊNH VỀ NHỮNG NGÔI NHÀ BỊ NHIỄM BỆNH VÀ NHỮNG NGƯỜI MẮC BỆNH DỊCH HẠCH.
Phải thông báo về Bệnh tật.
‘Chủ của mỗi ngôi nhà, ngay khi có bất kỳ ai trong nhà phàn nàn về mụn mủ, vết bầm tím, hoặc khối u sưng ở bất kỳ bộ phận nào trên cơ thể, hoặc lâm bệnh nặng đột ngột mà không rõ nguyên nhân từ bệnh khác, phải báo cáo cho người kiểm tra sức khỏe trong vòng hai giờ sau khi dấu hiệu đó xuất hiện.
Cách ly Người bệnh.
‘Ngay khi bất kỳ ai bị người kiểm tra, bác sĩ phẫu thuật hoặc người lùng sục phát hiện mắc bệnh dịch hạch, kẻ đó sẽ ngay trong đêm đó bị cách ly ngay tại ngôi nhà ấy; và trong trường hợp bị cách ly như vậy, thì dù sau đó họ không chết, ngôi nhà nơi họ phát bệnh vẫn phải bị niêm phong trong vòng một tháng, sau khi những người còn lại đã dùng các chất bảo quản đúng đắn.
Phơi phóng Đồ đạc.
‘Để cách ly hàng hóa và đồ đạc từ nơi nhiễm bệnh, chăn nệm, quần áo và đồ treo phòng của họ phải được phơi phóng kỹ lưỡng bằng lửa và các loại hương liệu cần thiết ngay bên trong ngôi nhà bị nhiễm bệnh trước khi được mang ra sử dụng lại. Việc này phải được thực hiện theo chỉ định của người kiểm tra.
Niêm phong Nhà cửa.
‘Nếu bất kỳ ai đến thăm một người được biết là mắc bệnh dịch hạch, hoặc cố tình bước vào một ngôi nhà được biết là có nhiễm bệnh mà không được phép, ngôi nhà nơi kẻ đó sinh sống sẽ bị niêm phong trong một số ngày theo chỉ đạo của người kiểm tra.
Không ai được chuyển đi khỏi Nhà nhiễm bệnh, trừ khi... v.v.
‘Điều khoản, rằng không ai được phép chuyển đi từ ngôi nhà nơi họ lâm bệnh truyền nhiễm sang bất kỳ ngôi nhà nào khác trong thành phố (trừ khi đến nhà thương dịch hạch, lều trại, hoặc một ngôi nhà nào đó mà chủ nhân của ngôi nhà bị ghé thăm đó đang nắm giữ và trực tiếp sử dụng bằng người hầu của chính họ); và với điều kiện phải đưa ra bảo đảm cho giáo xứ nơi họ chuyển đến rằng việc chăm sóc và chi phí cho những người bị ghé thăm đó sẽ được tuân thủ và chi trả trong mọi chi tiết đã nêu ở trên, không tốn kém gì cho giáo xứ nơi diễn ra việc chuyển đến đó, và việc di dời này phải được thực hiện vào ban đêm. Và bất kỳ ai có hai nhà đều được phép tùy ý chuyển những người khỏe mạnh hoặc người nhiễm bệnh của mình sang ngôi nhà trống, với điều kiện nếu họ chuyển người khỏe mạnh đi trước thì sau đó không được đưa người bệnh đến đó nữa, hoặc ngược lại; và những người được chuyển đi phải bị niêm phong và cách ly khỏi mọi người ít nhất trong một tuần, vì sợ có mầm bệnh chưa lộ diện lúc ban đầu.
Chôn cất Người chết.
‘Việc chôn cất người chết trong đợt dịch này phải được tiến hành vào những giờ thuận tiện nhất, luôn luôn hoặc trước khi mặt trời mọc hoặc sau khi mặt trời lặn, với sự hay biết của các chấp sự nhà thờ hoặc cảnh sát trưởng, chứ không được làm theo cách khác; và không được phép để bất kỳ láng giềng hay bạn bè nào đi theo hộ tống thi hài đến nhà thờ, hoặc bước vào ngôi nhà bị nhiễm bệnh, với hình phạt là ngôi nhà của họ sẽ bị niêm phong hoặc bị tống giam.
‘Và không một thi hài nào chết vì dịch bệnh được phép chôn cất hoặc lưu lại trong bất kỳ nhà thờ nào vào giờ cầu nguyện chung, giảng đạo hoặc thuyết giáo. Và không được phép để trẻ em đến gần thi hài, quan tài hoặc huyệt mộ vào thời điểm chôn cất bất kỳ thi hài nào trong bất kỳ nhà thờ, nghĩa trang hoặc nơi chôn cất nào. Và tất cả các huyệt mộ phải sâu ít nhất sáu feet.
‘Và hơn thế nữa, mọi buổi tụ họp công cộng tại các đám tang khác phải được đình chỉ trong suốt thời gian diễn ra đợt dịch này.
Không được bán tháo Đồ đạc bị nhiễm bệnh.
‘Không được phép mang hoặc chuyên chở bất kỳ quần áo, đồ đạc, chăn nệm hoặc y phục nào ra khỏi các ngôi nhà bị nhiễm bệnh, đồng thời nghiêm cấm và ngăn chặn hoàn toàn những kẻ rao hàng và mang chăn nệm hay quần áo cũ đi bán dạo hoặc đem cầm đồ; không một người môi giới chăn nệm hay quần áo cũ nào được phép phơi bày ra mặt tiền, treo lên sạp hàng, bệ cửa sổ hay khung cửa hướng ra đường cái, ngõ hẻm, lối đi chung hoặc lối đi lại bất kỳ tấm chăn nệm hoặc quần áo cũ nào để bán, với hình phạt là bị tống giam. Và nếu bất kỳ người môi giới hoặc cá nhân nào mua chăn nệm, quần áo hay đồ đạc khác từ một ngôi nhà bị nhiễm bệnh trong vòng hai tháng kể từ khi dịch bệnh xuất hiện ở đó, ngôi nhà của kẻ đó sẽ bị niêm phong như một nơi nhiễm bệnh, và sẽ tiếp tục bị niêm phong ít nhất trong hai mươi ngày.
Không ai được chuyên chở ra khỏi Nhà nhiễm bệnh.
‘Nếu bất kỳ người nào bị nhiễm bệnh do sự lơ đễnh trong canh giữ, hoặc bằng bất kỳ cách nào khác mà vô tình đi hoặc bị đưa từ một địa điểm nhiễm bệnh sang địa điểm khác, giáo xứ nơi cá nhân đó xuất phát hoặc được đưa đi, sau khi nhận được thông báo, phải chịu chi phí đưa kẻ nhiễm bệnh và trốn tránh đó quay trở lại vào ban đêm, đồng thời những kẻ phạm tội trong trường hợp này sẽ bị trừng phạt theo chỉ đạo của phó thị trưởng phường, và ngôi nhà của kẻ dung túng kẻ nhiễm bệnh đó sẽ bị niêm phong trong hai mươi ngày.
Mỗi Nhà nhiễm bệnh phải được đánh dấu.
‘Mỗi ngôi nhà bị nhiễm bệnh phải được đánh dấu bằng một dấu thập đỏ dài một foot ở giữa cửa, hiển thị rõ ràng để nhìn thấy, kèm theo những dòng chữ in quen thuộc ngay phía trên dấu thập đó, nghĩa là: “Lạy Chúa, xin thương xót chúng con”, tiếp tục duy trì ở đó cho đến khi ngôi nhà được mở cửa hợp pháp.
Mỗi Nhà nhiễm bệnh phải được gác canh.
‘Cảnh sát trưởng phải đảm bảo mọi ngôi nhà đều bị niêm phong và có gác canh túc trực để giữ họ ở bên trong, đồng thời cung cấp những nhu yếu phẩm cho họ bằng chi phí của chính họ nếu họ có khả năng, hoặc bằng quỹ chung nếu họ túng thiếu; thời gian niêm phong kéo dài trong bốn tuần sau khi tất cả đã bình phục.
‘Phải có lệnh chính xác rằng những người lùng sục, bác sĩ phẫu thuật, người giữ kho và người chôn cất không được đi lại trên đường phố mà không cầm trên tay một cây gậy hoặc roi màu đỏ dài ba feet, mở rộng và dễ nhìn thấy, đồng thời không được bước vào bất kỳ ngôi nhà nào khác ngoài nhà của chính họ hoặc ngôi nhà mà họ được chỉ định hoặc triệu đến; mà phải kiềm chế và tránh xa đám đông, đặc biệt là khi họ vừa mới làm nhiệm vụ hoặc túc trực trong những việc như vậy.
Người sống chung nhà (Inmates).
‘Trường hợp có nhiều người ở chung trong cùng một ngôi nhà, và có bất kỳ ai trong nhà đó bị nhiễm bệnh, không một cá nhân hoặc gia đình nào khác trong ngôi nhà đó được phép tự ý di dời nếu không có giấy chứng nhận từ những người kiểm tra sức khỏe của giáo xứ đó; nếu vi phạm, ngôi nhà mà họ chuyển đến sẽ bị niêm phong như trường hợp nhà bị dịch bệnh.
Xe ngựa cho thuê (Hackney-Coaches).
‘Phải chú ý quản lý những người đánh xe ngựa cho thuê, không để họ (như một số người từng bị phát hiện sau khi chở những người nhiễm bệnh đến nhà thương dịch hạch và các địa điểm khác) được phép sử dụng cho nhu cầu chung cho đến khi xe của họ được phơi phóng kỹ lưỡng và để trống không hoạt động trong khoảng thời gian năm hoặc sáu ngày sau khi thực hiện dịch vụ đó.’
QUY ĐỊNH VỀ DỌN DẸP VÀ GIỮ GÌN ĐƯỜNG PHỐ SẠCH SẼ.
Đường phố phải được giữ sạch sẽ.
‘Trước tiên, thiết tưởng cần thiết và ra lệnh rằng mỗi chủ hộ phải cho quét dọn đường phố trước cửa nhà mình hàng ngày, và giữ cho nó được quét dọn sạch sẽ suốt cả tuần.
Người dọn rác thu gom chất thải từ các ngôi nhà.
‘Những việc quét dọn và chất thải từ các ngôi nhà phải được mang đi hàng ngày bởi những người dọn rác, và người dọn rác phải báo hiệu sự đến của mình bằng cách thổi tù và, như vẫn thường làm trước nay.
Bãi đổ rác phải được đặt ở nơi xa thành phố.
‘Các bãi đổ rác phải được dời đi xa nhất có thể khỏi thành phố và các lối đi chung, và không một người dọn hầm cầu hay bất kỳ ai khác được phép đổ hầm phân xuống bất kỳ khu vườn nào ở gần quanh thành phố.
Cần chú ý đối với Cá, Thịt ôi thiu và Ngô mốc.
‘Phải đặc biệt chú ý không để cá thối, thịt ươn, ngô mốc hoặc các loại trái cây hư hỏng dưới bất kỳ hình thức nào được phép bày bán xung quanh thành phố hoặc bất kỳ phần nào của nó.
‘Các nhà nấu bia và quán rượu phải được kiểm tra xem có dùng thùng chứa mốc và ôi thiu hay không.
‘Không được phép nuôi bất kỳ con lợn, chó, mèo, chim bồ câu nhà hoặc lùn nào trong bất kỳ khu vực nào của thành phố, cũng không được để lợn lang thang ngoài đường phố hoặc ngõ hẻm, mà những con lợn đó phải bị bắt nhốt bởi viên mõ tòa hoặc quan chức khác, chủ nhân sẽ bị trừng phạt theo Đạo luật của Hội đồng Chung, và chó phải bị tiêu diệt bởi những kẻ hành quyết chó được chỉ định cho mục đích đó.’
QUY ĐỊNH VỀ KẺ LƯNG THƯNG VÀ ĐÁM ĐÔNG LƯỜI BIẾNG.
Kẻ ăn xin.
‘Vì chẳng có gì bị phàn nàn nhiều hơn đám lưu manh và kẻ ăn xin lang thang tụ tập khắp mọi nơi quanh thành phố — vốn là nguyên nhân lớn làm lây lan dịch bệnh — và không thể tránh khỏi bất chấp mọi lệnh cấm đã ban hành; do đó nay ra lệnh rằng các cảnh sát trưởng và những người liên quan phải đặc biệt chú ý không để bất kỳ kẻ ăn xin lang thang nào xuất hiện trên đường phố thành phố này dưới bất kỳ hình thức hoặc cách thức nào, chịu hình phạt do luật định, sẽ được thi hành nghiêm ngặt và trừng phạt nặng nề đối với chúng.
Kịch nghệ.
‘Tất cả các vở kịch, trò đấu gấu, trò chơi, hát hò hò vè, đấu mộc, hoặc những nguyên nhân gây tụ tập đông người tương tự phải bị cấm tuyệt đối và những kẻ vi phạm sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc bởi mỗi phó thị trưởng tại phường của họ.
Cấm tiệc tùng.
‘Mọi bữa tiệc tùng công cộng, đặc biệt là bởi các hiệp hội trong thành phố này, và các bữa ăn tối tại quán rượu, quán bia và các địa điểm giải trí chung khác phải bị hoãn lại cho đến khi có lệnh và sự cho phép tiếp theo; và số tiền tiết kiệm được từ đó phải được bảo tồn và sử dụng vì lợi ích và sự cứu trợ của người nghèo bị nhiễm dịch bệnh.
Quán rượu.
‘Việc la cà lỏng chỏng tại các quán rượu, quán bia, quán cà phê và tầng hầm phải được giám sát nghiêm ngặt, như là tội lỗi chung của thời đại này và là nguyên nhân lớn nhất làm phát tán dịch bệnh. Và không được phép để bất kỳ nhóm người hay cá nhân nào ở lại hoặc bước vào bất kỳ quán rượu, quán bia hoặc quán cà phê nào để uống nước sau chín giờ tối, theo luật lệ và phong tục cổ xưa của thành phố này, chịu những hình phạt đã quy định cho việc đó.
‘Và để thực hiện tốt hơn các quy định này cùng các quy tắc, chỉ dẫn khác khi xem xét thấy cần thiết: Ra lệnh và yêu cầu các phó thị trưởng, người đại diện và các thành viên hội đồng chung phải họp mặt cùng nhau mỗi tuần một, hai, ba lần hoặc thường xuyên hơn (tùy theo nhu cầu) tại một địa điểm chung quen thuộc ở các phường tương ứng của họ (được đảm bảo không có dịch hạch) để bàn bạc cách thực thi đúng đắn các quy định nói trên; không có ý định bắt những người sống trong hoặc gần các khu vực nhiễm bệnh đến buổi họp đó khi sự hiện diện của họ còn đáng nghi ngờ. Và các phó thị trưởng, người đại diện và các thành viên hội đồng chung tại các phường của họ có thể thi hành bất kỳ quy định tốt nào khác được họ nghĩ ra và thiết kế tại các buổi họp đó nhằm bảo vệ các thần dân của Hoàng thượng khỏi sự lây nhiễm.
‘SIR JOHN LAWRENCE, Thị trưởng.
SIR GEORGE WATERMAN
SIR CHARLES
DOE, Cảnh sát trưởng.’
Tôi không cần phải nói rằng những quy định này chỉ mở rộng đến những nơi thuộc thẩm quyền của Ngài Thị trưởng, thế nên cần phải lưu ý rằng các thẩm phán hòa bình trong các giáo xứ và địa điểm gọi là Vùng Ngoại ấp (Hamlets) và các khu vực ngoài rìa đã áp dụng phương pháp tương tự. Theo tôi nhớ, các lệnh niêm phong nhà cửa không được thực hiện sớm như vậy ở phía chúng ta, bởi như tôi đã nói trước đây, dịch hạch không lan đến những khu vực phía đông này, hay bắt đầu bùng phát dữ dội, cho đến tận đầu tháng Tám. Ví dụ, tổng số ca trong tuần từ ngày 11 đến 18 tháng Bảy là 1.761, nhưng chỉ có 71 người chết vì dịch hạch trên tổng số những giáo xứ mà chúng ta gọi là Tower Hamlets, cụ thể như sau:—
- Tuần tiếp theo và đến ngày 1 tháng Tám:
Aldgate: 14 | 34 | 65
Stepney: 33 | 58 | 76
Whitechappel: 21 | 48 | 79
St Katherine, Tower: 2 | 4 | 4
Trinity, Minories: 1 | 1 | 4
---- ---- ----
71 | 145 | 228
Nó thực sự đang tiến đến với sức mạnh lớn, bởi số ca chôn cất trong cùng tuần đó tại các giáo xứ liền kề như sau:—
- Tuần tiếp theo tăng vọt Đến ngày 1 tháng Tám:
St Leonard’s, Shoreditch: 64 | 84 | 110
St Botolph’s, Bishopsgate: 65 | 105 | 116
St Giles’s, Cripplegate: 213 | 421 | 554
---- ---- ----
342 | 610 | 780
Việc niêm phong nhà cửa thoạt đầu bị coi là một phương pháp vô cùng tàn nhẫn và phi Cơ Đốc giáo, và những người nghèo bị giam cầm như vậy đã cất lên những tiếng than khóc cay đắng. Những lời phàn nàn về sự khắc nghiệt của nó cũng được đưa đến Ngài Thị trưởng hàng ngày về những ngôi nhà bị niêm phong vô cớ (và một số do ác ý). Tôi không dám khẳng định; nhưng qua điều tra, nhiều người phàn nàn lớn tiếng như vậy thực chất vẫn nằm trong diện cần tiếp tục bị giam giữ; và ngược lại, một số trường hợp khác sau khi khám nghiệm người bệnh mà thấy căn bệnh không mang tính truyền nhiễm, hoặc nếu còn nghi ngờ nhưng họ bằng lòng được chuyển đến nhà thương dịch hạch, thì được phóng thích.
Quả thực, việc khóa cửa nhà người ta lại và bố trí gác canh ngày đêm để ngăn họ bước ra ngoài hay bất kỳ ai đến gần, trong khi những người khỏe mạnh trong gia đình có lẽ đã thoát nạn nếu được đưa đi xa khỏi người bệnh, trông có vẻ quá khắc nghiệt và tàn nhẫn; và rất nhiều người đã thiệt mạng trong những phòng giam khốn khổ ấy — những người mà người ta có lý do để tin rằng sẽ không mắc bệnh nếu họ có sự tự do, dẫu dịch hạch có ở trong nhà đi chăng nữa; khiến người dân vô cùng la ó và bất an lúc ban đầu, đồng thời một số vụ bạo lực đã xảy ra và hành vi tổn hại đã nhắm vào những gác canh được bố trí canh gác những ngôi nhà bị niêm phong đó; bên cạnh đó nhiều người đã dùng vũ lực phá cửa thoát thân ở nhiều nơi, như tôi sẽ trình bày ngay sau đây. Nhưng lợi ích công cộng đã biện minh cho sự tổn hại riêng tư này, và hoàn toàn không thể đạt được dù chỉ một chút sự khoan hồng bằng bất kỳ đơn từ nào gửi lên nhà chức trách hay chính phủ vào thời điểm đó, ít nhất là theo những gì tôi được biết. Điều này đẩy người dân vào mọi mưu kế nhằm mục đích, nếu có thể, trốn thoát ra ngoài; và sẽ phải tốn cả một cuốn sách nhỏ để ghi lại những thủ mưu được sử dụng bởi cư dân của những ngôi nhà như vậy nhằm qua mặt các gác canh được thuê mướn, đánh lừa họ, và trốn chạy hoặc phá cửa thoát thân, trong đó những vụ xô xát thường xuyên và tổn hại đã xảy ra; tôi sẽ kể riêng về chuyện đó.
Khi tôi đi dọc phố Houndsditch vào một buổi sáng khoảng tám giờ, có một tiếng động lớn. Quả thực, lúc đó không có nhiều đám đông tụ tập, bởi người ta không sẵn lòng tụ lại với nhau, hoặc ở lại lâu khi họ đã có mặt ở đó; và bản thân tôi cũng không ở lại lâu. Nhưng tiếng kêu la đủ lớn để kích thích sự tò mò của tôi, và tôi gọi với lên một người đang ló đầu ra khỏi cửa sổ, hỏi xem có chuyện gì xảy ra.
Hóa ra một gác canh đã được thuê để túc trực tại cửa của một ngôi nhà bị nhiễm bệnh, hoặc được đồn là nhiễm bệnh, đã bị niêm phong. Anh ta đã đứng ở đó suốt đêm liền trong hai đêm, theo như câu chuyện anh ta kể, và gác canh ban ngày đã trực một ngày, giờ đến ca thay thế anh ta. Trong suốt thời gian đó, không có tiếng động nào phát ra từ ngôi nhà, không ánh đèn nào được thấy; họ không gọi đòi hỏi gì, không sai anh ta đi việc vặt — vốn là công việc chính của các gác canh; họ cũng chẳng gây phiền toái gì cho anh ta, theo như lời anh ta kể, kể từ chiều thứ Hai, khi anh ta nghe thấy tiếng khóc thét và gào thét lớn trong nhà, mà theo anh ta phỏng đoán là do một vài người trong gia đình qua đời vào đúng thời điểm đó. Có vẻ như tối hôm trước, chiếc xe chở xác — theo cách gọi lúc bấy giờ — đã dừng lại ở đó, và một cô hầu gái đã được mang ra tới cửa trong tình trạng đã chết, những người chôn cất hay người khiêng xác — theo cách gọi khi ấy — đã đặt cô lên xe, chỉ quấn một chiếc thảm màu xanh lá cây rồi chở đi.
Gác canh đã gõ cửa, hình như là khi anh ta nghe thấy tiếng động và tiếng khóc kể trên, và một lúc lâu không ai trả lời; nhưng cuối cùng có người ló đầu ra và nói bằng một giọng giận dữ, cụt lủn nhưng mang giọng điệu như đang khóc, hoặc giọng của một kẻ đang khóc thét: ‘Mày muốn gì mà gõ cửa dữ vậy?’ Anh ta đáp: ‘Tôi là gác canh đây! Anh chị khỏe không? Có chuyện gì thế?’ Người kia đáp: ‘Liên quan quái gì đến mày? Chặn xe chở xác lại.’ Chuyện đó, hình như là vào khoảng một giờ. Ngay sau đó, theo lời gã kia, anh ta đã chặn chiếc xe chở xác lại, rồi gõ cửa thêm lần nữa nhưng chẳng ai trả lời. Anh ta tiếp tục gõ, và người đánh chuông gọi lớn vài lần: ‘Mang người chết của các người ra đây!’ nhưng chẳng ai thưa, cho đến khi người điều khiển chiếc xe — bị gọi đến những ngôi nhà khác — không đợi được nữa và đánh xe đi.
Gác canh chẳng hiểu đầu đuôi thế nào nên cứ để mặc họ cho đến sáng, khi gác canh ban ngày đến thay ca. Sau khi kể cho gã đó nghe các chi tiết, họ gõ cửa một lúc lâu nhưng chẳng ai trả lời; và họ nhận thấy ô cửa sổ hoặc cửa chớp mà người kia từng ló đầu ra nói chuyện trước đó vẫn đang mở, nằm ở tầng hai.
Nhân sự việc đó, để thỏa mãn sự tò mò, hai người đàn ông kiếm một chiếc thang dài và một người trèo lên cửa sổ nhìn vào trong phòng, nơi anh ta thấy một người phụ nữ nằm chết trên sàn một cách thảm hại, trên người không mặc gì ngoài chiếc áo lót. Dù anh ta gọi lớn, đồng thời thọc chiếc gậy dài vào khua mạnh xuống sàn, nhưng chẳng ai nhúc nhích hay trả lời; anh ta cũng không nghe thấy bất kỳ âm thanh nào trong nhà.
Nghi ngờ, anh ta bèn trèo xuống kể cho bạn mình nghe, người kia cũng trèo lên xem; và thấy sự tình y như vậy, họ quyết định báo cáo với Ngài Thị trưởng hoặc một vị thẩm phán nào đó, chứ không dám tự ý bước qua cửa sổ.
Nhà chức trách, theo như thông tin từ hai người đàn ông, đã ra lệnh phá cửa ngôi nhà đó, chỉ định một cảnh sát trưởng cùng những người khác có mặt để không có tài sản nào bị cướp bóc; và quả thực việc đó đã được tiến hành, khi mà chẳng có ai được tìm thấy trong ngôi nhà ngoài cô gái trẻ kia — vì đã nhiễm bệnh và qua cơn vô vọng, những người còn lại đã bỏ mặc cô chết một mình, và tất cả đều đã bỏ trốn bằng cách nào đó qua mặt được gác canh, mở được cửa chính, trốn ra bằng cửa sau hoặc qua nóc nhà, khiến anh ta hoàn toàn không hay biết gì; còn những tiếng khóc thét và gào thét mà anh ta nghe được, người ta phỏng đoán đó là những tiếng kêu xé lòng của gia đình trong cuộc chia tay cay đắng — chắc chắn là thế đối với tất cả họ, bởi cô gái này là em gái của nữ chủ nhân ngôi nhà. Chủ nhà, vợ ông ta, vài đứa con và người hầu đều đã bỏ trốn, ốm hay khỏe thì tôi không bao giờ dò la được; và thực ra tôi cũng chẳng mỏ mòng tìm hiểu sâu làm gì.
Rất nhiều cuộc trốn chạy như thế đã diễn ra từ những ngôi nhà bị nhiễm bệnh, đặc biệt là khi gác canh bị sai đi làm việc vặt nào đó; bởi công việc của anh ta là đi bất kỳ việc vặt nào mà gia đình sai phái; nghĩa là mua sắm nhu yếu phẩm như thức ăn và dược phẩm; đi mời y sĩ nếu họ chịu đến, hoặc bác sĩ phẫu thuật, hộ lý, hoặc gọi xe chở xác, đại loại thế; nhưng với điều kiện là khi đi anh ta phải khóa cửa chính của nhà đó lại và mang theo chìa khóa. Để lách luật và qua mặt các gác canh, người ta đã đánh chìa khóa phụ cho ổ khóa, hoặc tìm cách tháo ốc vít của những ổ khóa dạng bắt vít — loại nằm ở phía bên trong nhà — và cứ thế tháo rời ổ khóa, rồi trong lúc sai gác canh ra chợ, ra lò bánh, hay đi mua dăm ba thứ vặt vãnh, họ mở cửa đi ra ngoài bất cứ lúc nào họ muốn. Nhưng khi chuyện này bị phát hiện, các quan chức sau đó đã nhận lệnh dùng ổ khóa móc bên ngoài cửa và lắp thêm chốt cài tùy ý.
Tại một ngôi nhà khác, theo như tôi được biết, ở con đường ngay bên trong Aldgate, cả một gia đình đã bị niêm phong và khóa nhốt bên trong vì cô hầu gái đổ bệnh. Chủ nhà đã thông qua bạn bè để phàn nàn với phó thị trưởng gần đó và Ngài Thị trưởng, đồng thời đồng ý cho mang cô gái đến nhà thương dịch hạch nhưng bị từ chối; thế là cánh cửa được đánh dấu bằng một dấu thập đỏ, móc ổ khóa bên ngoài như trên, và bố trí gác canh canh giữ cửa theo lệnh công cộng.
Sau khi chủ nhà nhận ra không còn cách nào khác, rằng ông ta, vợ và các con sẽ bị khóa nhốt cùng cô đầy tớ tội nghiệp bệnh tật này, ông ta liền gọi gác canh và bảo anh ta đi gọi y tá đến chăm sóc cô gái tội nghiệp này, vì việc bắt họ phải chăm sóc cô chẳng khác nào tự sát; đồng thời nói thẳng rằng nếu anh ta không làm thế, cô hầu sẽ chết vì bệnh hoặc chết đói, vì ông ta quyết định không để bất kỳ ai trong gia đình bén mảng lại gần cô; và cô nằm trên gác mái tầng bốn, nơi cô không thể la hét hay gọi ai cứu giúp.
Gác canh đồng ý việc đó, đi tìm y tá theo đúng nhiệm vụ và đưa đến cho họ ngay tối hôm đó. Trong khoảng thời gian đó, chủ nhà chớp lấy cơ hội đục một lỗ lớn xuyên qua cửa hàng của mình vào cái sạp hoặc quầy hàng — nơi trước đây từng có một thợ giày ngồi trước hoặc dưới cửa sổ cửa hàng; nhưng người thuê nhà, như có thể phỏng đoán vào một thời điểm bi thảm như thế, đã chết hoặc chuyển đi, thế nên ông ta giữ chìa khóa trong tay. Sau khi mở được đường vào quầy hàng này — điều ông ta không thể làm nếu gác canh đứng ở cửa, vì tiếng động tạo ra đủ để báo động cho gác canh — tôi xin nhắc lại, sau khi đã tạo được lối đi vào quầy hàng, ông ta cứ ngồi im ở đó cho đến khi gác canh quay lại cùng y tá, và qua cả ngày hôm sau nữa. Nhưng vào đêm tiếp theo, sau khi đã tính kế sai gác canh đi một việc vặt khác — theo tôi nhớ là đến hiệu thuốc để mua miếng dán cho cô hầu, việc mà anh ta phải chờ sắc thuốc hoặc một việc vặt tương tự đủ giữ chân anh ta một thời gian — trong khoảng thời gian đó, ông ta đã đưa bản thân và toàn bộ gia đình trốn khỏi nhà, bỏ mặc y tá và gác canh ở lại lo chôn cất cô gái tội nghiệp — nghĩa là ném cô lên xe chở xác — và trông coi ngôi nhà.
Tôi có thể kể rất nhiều câu chuyện như thế này, khá thú vị, mà trong hành trình dài của năm đầy bi thảm đó tôi đã bắt gặp — nghĩa là nghe kể lại — và vô cùng chắc chắn là sự thật, hoặc rất sát sự thật; nghĩa là đúng về mặt đại thể: bởi chẳng ai vào thời điểm đó có thể nắm hết mọi chi tiết. Bạo lực cũng đã nhắm vào các gác canh, theo như tin đồn, ở rất nhiều nơi; và tôi tin rằng từ khi dịch bệnh bắt đầu cho đến khi kết thúc, không dưới mười tám hoặc hai mươi người trong số họ đã bị sát hại, hoặc bị thương nặng đến mức được nhường chỗ cho là đã chết, mà nguyên nhân được cho là do những người trong các ngôi nhà bị nhiễm bệnh bị niêm phong khi họ tìm cách trốn ra ngoài và bị ngăn cản.
Quả thực, chẳng thể mong đợi điều gì khác hơn, bởi ở đây có bao nhiêu ngôi nhà bị niêm phong thì có bấy nhiêu nhà tù trong thị trấn; và vì những người bị niêm phong hay giam cầm đó chẳng phạm tội gì, chỉ bị giam giữ vì quá khốn khổ, điều đó càng khiến họ không thể chịu đựng nổi.
Nó cũng có điểm khác biệt này, rằng mỗi nhà tù — theo cách chúng ta gọi — chỉ có một kẻ cai ngục, và vì hắn phải canh gác cả một ngôi nhà, lại thêm nhiều ngôi nhà có cấu trúc với nhiều lối ra vào khác nhau, nhà nhiều nhà ít, nhà ra nhiều đường, nên một người hoàn toàn không thể canh gác mọi lối đi để ngăn chặn sự trốn chạy của những con người đã trở nên tuyệt vọng vì nỗi sợ hãi hoàn cảnh của họ, vì sự uất ức trước cách đối xử, hoặc vì sự cuồng nộ của chính dịch bệnh; thế nên họ sẽ đứng nói chuyện với gác canh ở một phía nhà trong khi cả gia đình trốn thoát ở phía bên kia.
Ví dụ, ở phố Coleman có vô số ngõ hẻm, như vẫn còn thấy hiện nay. Một ngôi nhà đã bị niêm phong ở nơi gọi là hẻm White; và ngôi nhà này có một cửa sổ phía sau, không phải cửa chính, mở ra một cái sân có lối đi thông sang hẻm Bell. Một gác canh được cảnh sát trưởng bố trí trước cửa ngôi nhà này, và anh ta hoặc đồng nghiệp của anh ta cứ đứng đó ngày đêm, trong khi cả gia đình trốn sạch vào buổi tối qua cửa sổ đó ra sân, để lại những gác canh tội nghiệp trực chờ suốt gần hai tuần lễ.
Cách đó không xa, người ta đã dùng thuốc súng đánh bom một gác canh và thiêu cháy gác canh tội nghiệp đó vô cùng khủng khiếp; và trong lúc anh ta gào thét thảm thiết mà chẳng ai dám bén mảng đến cứu, toàn bộ những người trong gia đình còn đi lại được đã trốn ra ngoài qua các cửa sổ tầng hai, để lại hai người đang ốm yếu kêu gào cứu giúp. Người ta đã cử y tá đến chăm sóc họ, nhưng những kẻ bỏ trốn không bao giờ được tìm thấy cho đến khi dịch bệnh lắng xuống họ mới quay về; nhưng vì chẳng chứng minh được gì nên chẳng ai làm gì được họ.
Cũng cần phải xem xét rằng, vì đây là những nhà tù không có song sắt hay bu lông — thứ mà các nhà tù thông thường của chúng ta được trang bị — nên người ta đã tự đu mình trốn xuống qua cửa sổ, ngay trước mặt gác canh, tay lăm lăm gươm súng và đe dọa gác canh tội nghiệp rằng sẽ bắn chết nếu hắn nhúc nhích hay la hét cầu cứu.
Trong các trường hợp khác, một số nhà có vườn tược, tường vây hoặc hàng rào ngăn cách với láng giềng, hoặc có sân và nhà phụ; và họ đã dùng tình cảm hoặc lời nài nỉ để xin phép trèo qua những bức tường hay hàng rào đó rồi tẩu thoát qua cửa nhà láng giềng; hoặc dùng tiền đút lót người hầu để được thả ra vào ban đêm; tóm lại là việc niêm phong nhà cửa không thể trông cậy vào đâu được. Nó hoàn toàn không đạt được mục đích, mà chỉ khiến người ta thêm phần tuyệt vọng, đẩy họ đến những bước đường cùng để tìm mọi cách phá cửa trốn ra bằng mọi giá.
Và tệ hại hơn nữa là những kẻ trốn thoát như vậy lại làm lây lan dịch bệnh xa hơn bằng việc lang thang khắp nơi với mầm bệnh trên người trong hoàn cảnh tuyệt vọng của họ, nhiều hơn so với những gì họ có thể làm nếu ở yên; bởi bất kỳ ai cân nhắc mọi chi tiết trong những hoàn cảnh đó đều phải thừa nhận, và chúng ta không thể nghi ngờ rằng sự khắc nghiệt của những lệnh giam cầm đó đã khiến nhiều người trở nên tuyệt vọng, thúc giục họ trốn khỏi nhà bằng mọi giá và với dịch hạch hiện rõ trên người, không biết phải đi đâu, làm gì, hay thậm chí bản thân đang làm gì; và rất nhiều kẻ làm thế đã rơi vào cảnh khốn đốn, cực cùng và thiệt mạng ngoài đường phố hoặc cánh đồng chỉ vì thiếu thốn, hoặc ngã quỵ bởi sức tàn phá dữ dội của cơn sốt. Những kẻ khác lang thang về vùng quê, đi bừa về bất kỳ hướng nào theo sự xui khiến của sự tuyệt vọng, chẳng biết mình đang đi đâu hay sẽ đi tới đâu: cho đến khi kiệt sức, mệt mỏi mà chẳng nhận được sự cứu giúp nào, khi các nhà và làng mạc dọc đường từ chối cho họ trọ lại — dù bị nhiễm bệnh hay không — họ đã chết gục bên vệ đường hoặc lết vào các nhà kho rồi qua đời ở đó, chẳng ai dám đến gần hay cứu giúp dẫu có thể họ chưa nhiễm bệnh, vì chẳng ai thèm tin họ.
Mặt khác, khi dịch hạch bắt đầu tấn công một gia đình — nghĩa là khi bất kỳ ai trong nhà ra ngoài và vô tình hay hữu ý vướng phải dịch bệnh rồi mang về nhà — điều đó được gia đình biết rõ trước khi các quan chức hay biết, những người — như bạn sẽ thấy qua sắc lệnh — được chỉ định đến điều tra hoàn cảnh của tất cả những người ngã bệnh khi nghe tin họ đau ốm.
Trong khoảng thời gian trống này, giữa lúc ngã bệnh và lúc những người kiểm tra đến nơi, chủ nhà có thời gian và sự tự do để tự tẩu thoát hoặc đưa toàn bộ gia đình đi nếu biết nơi để đi, và rất nhiều người đã làm thế. Nhưng thảm họa lớn là có rất nhiều người làm thế sau khi bản thân đã thực sự nhiễm bệnh, và thế là mang mầm bệnh vào những ngôi nhà của những người tử tế rộng lòng đón tiếp họ; điều này, phải thú nhận là vô cùng tàn nhẫn và vô ơn.
Và đây cũng là một phần nguyên nhân dẫn đến quan niệm chung, hay đúng hơn là tiếng xấu, lan truyền về tâm tính của những người nhiễm bệnh: đó là họ không thèm đếm xỉa hay e dè mảy may về việc làm lây nhiễm cho người khác, dẫu tôi không dám chắc có đôi chút sự thật trong đó, nhưng nó không phổ biến như lời đồn. Tôi không rõ có lý do tự nhiên nào có thể giải thích cho một hành động tồi tệ như vậy vào thời điểm mà họ có thể kết luận rằng bản thân sắp sửa đứng trước tòa án của Công lý Thần thánh. Tôi vô cùng thỏa mãn rằng điều đó không thể dung hòa với tôn giáo và nguyên tắc cũng như với sự rộng lượng và Nhân tính, nhưng tôi sẽ bàn về chuyện đó sau.
Lúc này tôi đang nói về những con người trở nên tuyệt vọng vì nỗi sợ bị niêm phong, và việc họ phá cửa trốn thoát bằng mưu kế hoặc vũ lực trước hay sau khi bị niêm phong — những người mà sự khốn khổ chẳng hề thuyên giảm khi ra ngoài, mà ngược lại còn gia tăng tồi tệ hơn. Ngược lại, nhiều kẻ trốn thoát được như vậy có những nơi trú ẩn để đi tới và những ngôi nhà khác, nơi họ tự khóa mình lại và ẩn náu cho đến khi dịch bệnh qua đi; và nhiều gia đình, tiên đoán trước sự tiếp cận của dịch bệnh, đã tích trữ sẵn lượng lương thực đủ cho cả nhà, tự niêm phong mình lại, kín đáo đến mức không ai nhìn thấy hay nghe thấy họ cho đến khi dịch bệnh hoàn toàn chấm dứt, rồi mới bước ra ngoài trong tình trạng khỏe mạnh, bình an. Tôi có thể nhớ lại một số trường hợp như thế và kể cho bạn chi tiết về cách quản lý của họ; bởi không còn nghi ngờ gì nữa, đó là bước đi an toàn và hiệu quả nhất có thể được thực hiện đối với những ai có hoàn cảnh không cho phép di dời, hoặc không có nơi trú ẩn thích hợp ở bên ngoài; vì bằng cách tự niêm phong như thế, họ chẳng khác nào đang ở cách xa hàng trăm dặm. Tôi cũng không nhớ có bất kỳ gia đình nào trong số đó gặp bất trắc. Trong số này, có một số thương gia người Hà Lan nổi bật lên, những người giữ nhà mình như những pháo đài nhỏ bị bao vây, không cho phép ai bước vào hay ra hay đến gần, đặc biệt là một người ở một khu sân trong phố Throgmorton có cửa sổ nhìn ra Vườn Draper’s.
Nhưng tôi quay trở lại với hoàn cảnh của các gia đình bị nhiễm bệnh và bị nhà chức trách niêm phong. Sự khốn khổ của những gia đình đó không thể diễn tả bằng lời; và thường chính trong những ngôi nhà ấy, chúng ta nghe thấy những tiếng thét và kêu gào thảm thiết nhất của những con người tội nghiệp, bị khủng bố và thậm chí khiếp sợ đến chết bởi cảnh tượng hoàn cảnh của những người thân yêu nhất, và bởi nỗi sợ bị giam cầm như thế.
Tôi nhớ — và trong khi đang viết câu chuyện này, tôi dường như vẫn nghe thấy âm thanh đó — có một quý bà nọ chỉ sinh được một cô con gái duy nhất, một thiếu nữ khoảng mười chín tuổi, sở hữu một gia tài vô cùng lớn. Họ chỉ là những người thuê trọ trong ngôi nhà đó. Cô thiếu nữ, người mẹ và cô hầu gái vừa đi ra ngoài vì có việc gì đó, tôi không nhớ rõ, bởi ngôi nhà không bị niêm phong; nhưng khoảng hai tiếng sau khi họ về nhà, cô tiểu thư phàn nàn là không khỏe; chỉ mười lăm phút sau, cô nôn mửa và bị đau đầu dữ dội. ‘Lạy Chúa,’ người mẹ thốt lên trong sự hoảng sợ tột độ, ‘mong sao con tôi không mắc căn bệnh này!’ Khi cơn đau đầu ngày càng tăng, người mẹ ra lệnh làm ấm giường, quyết định cho con đi ngủ, và chuẩn bị đồ cho con ra mồ hôi — đó là phương pháp chữa trị thông thường được áp dụng khi những dấu hiệu đầu tiên của dịch bệnh bắt đầu xuất hiện.
Trong lúc chiếc giường đang được hơi ấm sưởi lên, người mẹ cởi quần áo cho cô thiếu nữ, và ngay khi cô vừa nằm xuống giường, đưa ngọn nến soi lên cơ thể con, bà lập tức phát hiện ra những dấu hiệu chí mạng ở phía bên trong đùi con bé. Người mẹ không kìm nén nổi bản thân, đánh rơi ngọn nến xuống và gào thét một cách kinh hoàng đủ sức phủ lấp nỗi sợ hãi lên trái tim sắt đá nhất trên đời; đó không phải là một tiếng thét hay một tiếng kêu, mà vì sự hoảng loạn đã tóm lấy tâm thần bà, bà ngất lịm trước, rồi tỉnh lại, rồi chạy khắp nhà, lên gác rồi xuống gác như một kẻ mất trí, và quả thực lúc đó bà đã phát điên thật, tiếp tục gào thét và la hét trong suốt mấy tiếng đồng hồ, hoàn toàn mất hết ý thức, hoặc ít nhất là mất quyền kiểm soát trí tuệ của mình, và theo như tôi được kể, bà chưa bao giờ hoàn toàn hồi phục lại được trí khôn sau đó. Còn về phần cô thiếu nữ, cô đã là một cái xác từ khoảnh khắc đó, bởi căn bệnh hoại tử gây ra những vết ban đã lan khắp cơ thể cô, và cô qua đời chưa đầy hai tiếng sau. Nhưng người mẹ vẫn tiếp tục gào thét, không hề biết gì về đứa con đã chết của mình suốt mấy tiếng đồng hồ sau đó. Đã lâu lắm rồi nên tôi không chắc chắn lắm, nhưng hình như người mẹ chưa bao giờ hồi phục, mà qua đời chỉ hai hoặc ba tuần sau đó.
Đó là một trường hợp ngoại lệ, và do đó tôi kể lại chi tiết hơn vì tôi có cơ hội nắm rõ sự việc; nhưng có vô số trường hợp tương tự như vậy, và hiếm có tuần nào bản thống kê gửi về mà không có hai hoặc ba trường hợp được ghi là ‘hoảng sợ’; nghĩa là có thể được gọi là hoảng sợ đến chết. Nhưng bên cạnh những kẻ hoảng sợ đến mức chết ngay tại chỗ, còn có một số lượng lớn người bị hoảng sợ dẫn đến những thái cực khác, kẻ thì mất trí nhớ, người thì mất nhận thức. Nhưng tôi xin quay trở lại việc niêm phong nhà cửa.
Như tôi đã nói, trong khi một số người trốn thoát khỏi nhà bằng mưu kế sau khi bị niêm phong, những người khác tẩu thoát bằng cách đút lót gác canh, đưa tiền để được lén lút trốn ra ngoài vào ban đêm. Tôi phải thú nhận rằng vào thời điểm đó, tôi coi đó là hành vi hối lộ hoặc tham ô vô tội nhất mà một người có thể phạm phải, và do đó tôi không khỏi thương xót cho những gác canh tội nghiệp, nghĩ rằng thật bất công khi có tới ba gác canh trong số đó bị công khai đánh roi dọc đường phố vì tội để người dân trốn khỏi các ngôi nhà bị niêm phong.
Nhưng bất chấp sự khắc nghiệt đó, đồng tiền vẫn chiến thắng những kẻ khốn khổ ấy, và nhiều gia đình tìm ra cách lén lút vượt ra ngoài và trốn thoát theo cách đó sau khi đã bị niêm phong; nhưng họ thường là những kẻ có nơi chốn để trốn tới; và dù việc đi lại trên các con đường vô cùng khó khăn sau ngày 1 tháng Tám, vẫn có rất nhiều lối rẽ để rút lui, cụ thể như tôi đã bóng gió, một số người kiếm được lều trại dựng ngoài cánh đồng, mang theo giường nệm hoặc rơm để nằm và lương thực để ăn, cứ thế sống ở đó như những tu sĩ ẩn dật trong hang cốc, vì chẳng ai dám bén mảng lại gần; và nhiều câu chuyện được kể lại về họ, người thì buồn cười, kẻ thì bi thảm, có người sống như những kẻ hành hương lang thang nơi hoang mạc, trốn thoát bằng cách tự lưu đày theo một cách khó tin, và vẫn tận hưởng nhiều sự tự do hơn mức có thể trông đợi trong những hoàn cảnh đó.
Tôi đang giữ trong tay câu chuyện về hai anh em và một người họ hàng của họ, vì là những gã độc thân nhưng đã ở lại thành phố quá lâu để có thể tẩu thoát, và thực tế chẳng biết trốn đi đâu để có nơi ẩn náu, cũng chẳng có đủ tiền tài để đi xa, họ bèn chọn một con đường để tự bảo vệ mình — dẫu thoạt đầu có vẻ tuyệt vọng, nhưng lại quá tự nhiên đến mức có thể ngạc nhiên khi thấy không có thêm nhiều người làm thế vào thời điểm đó. Họ chỉ có gia cảnh bình thường, nhưng không đến mức nghèo đói túng quẫn không sắm nổi một vài tiện nghi nhỏ nhoi đủ để duy trì sự sống; và thấy dịch bệnh ngày càng gia tăng một cách khủng khiếp, họ quyết định tự xoay sở lấy và chuồn đi.
Một trong số họ từng là lính trong cuộc chiến tranh trước đó, và trước đó nữa ở Vùng đất thấp (Low Countries), không được huấn luyện nghề nghiệp cụ thể nào ngoài việc cầm vũ khí, hơn nữa lại từng bị thương và không thể làm việc quá nặng nhọc, nên đã làm việc một thời gian tại một lò bánh mì chuyên làm bánh quy biển ở Wapping.
Anh trai của người này cũng là thủy thủ, nhưng chẳng hiểu sao bị thương ở một chân nên không thể đi biển, thế mà đã làm việc kiếm sống tại một xưởng làm buồm ở Wapping hoặc quanh đó; và vì là một người chồng tiết kiệm, anh đã dành dụm được một ít tiền và là người giàu nhất trong ba người.
Người thứ ba là thợ mộc hoặc thợ cảng, một gã khéo tay, chẳng có tài sản gì ngoài chiếc hộp hoặc giỏ đựng dụng cụ, nhờ sự trợ giúp của nó, hắn có thể kiếm sống ở bất cứ đâu trong một thời điểm như thế này — ngoại trừ việc đó — bất kể đi đến đâu; và hắn sống gần Shadwell.
Cả ba người đều sống ở giáo xứ Stepney, như tôi đã nói, vì đây là nơi cuối cùng bị nhiễm bệnh, hoặc ít nhất là bị nặng, nên họ ở lại đó cho đến khi thấy rõ ràng dịch hạch đang suy giảm ở vùng phía tây thành phố và đang tiến dần về phía đông — nơi họ đang sinh sống.
Câu chuyện về ba người đàn ông này, nếu người đọc bằng lòng để tôi kể lại dưới góc nhìn của chính họ, mà không bắt tôi phải bảo đảm các chi tiết hay chịu trách nhiệm cho bất kỳ sự nhầm lẫn nào, tôi sẽ kể rạch ròi nhất có thể, tin rằng câu chuyện này sẽ là một hình mẫu tuyệt vời cho bất kỳ người nghèo nào noi theo, trong trường hợp một thảm họa công cộng tương tự xảy ra ở đây; và nếu không có cơ hội đó — điều mà xin Chúa bằng lòng nhân từ vô hạn ban cho chúng ta — thì câu chuyện này vẫn có những công dụng riêng theo nhiều cách đến mức tôi hy vọng sẽ không bao giờ có thể nói việc kể lại nó là vô ích.
Tôi nói tất cả những điều này như phần mở đầu cho câu chuyện, dù hiện tại vẫn còn rất nhiều điều phải nói trước khi tôi rời bỏ phần của riêng mình.
Toàn bộ phần đầu của thời gian đó, tôi tự do đi lại ngoài đường, dù không đến mức liều lĩnh lao vào hiểm nguy hiển nhiên, ngoại trừ lúc họ đào cái hố lớn ở nghĩa trang giáo xứ Aldgate của chúng tôi. Đó là một cái hố khủng khiếp, và tôi không thể cưỡng lại sự tò mò muốn đến xem nó. Theo như tôi có thể ước lượng, nó dài khoảng bốn mươi feet, rộng khoảng mười lăm hoặc mười sáu feet, và vào thời điểm tôi nhìn thấy lần đầu, nó sâu khoảng chín feet; nhưng người ta nói sau đó họ đã đào sâu gần hai feet ở một phần của nó cho đến khi đụng phải nước và không thể đào sâu hơn được nữa; bởi hình như họ đã đào vài hố lớn trước hố này rồi. Dù dịch hạch mất nhiều thời gian mới lan đến giáo xứ của chúng tôi, nhưng khi đã tới thì không có giáo xứ nào trong hoặc quanh Luân Đôn mà nó hoành hành dữ dội như hai giáo xứ Aldgate và Whitechappel.
Tôi xin nhắc lại, họ đã đào vài cái hố ở một bãi đất khác khi dịch bệnh bắt đầu lan rộng trong giáo xứ của chúng tôi, đặc biệt là khi những chiếc xe chở xác bắt đầu chạy vòng quanh, việc mà ở giáo xứ chúng tôi mãi đến đầu tháng Tám mới diễn ra. Vào những cái hố đó, họ có lẽ đã bỏ vào khoảng năm mươi hoặc sáu mươi thi thể mỗi cái; sau đó họ làm những cái hố lớn hơn để chôn cất tất cả những gì xe chở xác mang đến trong một tuần, mà từ giữa đến cuối tháng Tám đã lên tới từ 200 đến 400 người một tuần; và họ không thể đào lớn hơn được nữa vì lệnh của nhà chức trách buộc họ không được để lại bất kỳ thi thể nào cách mặt đất dưới sáu feet; và khi nước ngầm dâng lên ở độ sâu khoảng mười bảy hoặc mười tám feet, tôi xin nhắc lại, họ không thể nhét thêm người nào vào một hố nữa. Nhưng giờ đây, vào đầu tháng Sáu, dịch hạch hoành hành một cách khủng khiếp, và số lượng chôn cất trong giáo xứ của chúng tôi gia tăng vượt mức bất kỳ giáo xứ nào quanh Luân Đôn có quy mô tương đương, họ đã ra lệnh đào cái hố ghê rợn này — bởi gọi nó là vực thẳm thì đúng hơn là một cái hố.
Họ đã nghĩ rằng cái hố này sẽ đủ chỗ dùng trong một tháng hoặc hơn thế khi họ đào nó, và một số người đã trách cứ các chấp sự nhà thờ vì đã cho phép một việc đáng sợ như vậy, bảo rằng họ đang chuẩn bị chôn cất cả giáo xứ và đại loại thế; nhưng thời gian đã chứng minh các chấp sự hiểu rõ hoàn cảnh giáo xứ hơn những kẻ đó: bởi sau khi cái hố được hoàn thành vào ngày 4 tháng Tám, tôi nghĩ vậy, họ bắt đầu chôn cất vào đó ngày mùng 6, và đến ngày 20, tức là đúng hai tuần, họ đã quăng vào đó 1.114 thi thể cho đến khi buộc phải lấp lại, bởi khi đó các thi thể đã nằm cách mặt đất chưa đầy sáu feet. Tôi không nghi ngờ gì về việc có những người cao tuổi vẫn còn sống trong giáo xứ có thể xác thực thực tế này, và có khả năng chỉ ra chính xác vị trí cái hố nằm ở phần nào trong nghĩa trang tốt hơn tôi. Dấu vết của nó cũng có thể nhìn thấy suốt nhiều năm trên bề mặt nghĩa trang, nằm song song về chiều dài với lối đi chạy dọc theo bức tường phía tây nghĩa trang từ phố Houndsditch và rẽ về phía đông hướng sang Whitechappel, trồi lên gần quán trọ Three Nuns.
Vào khoảng ngày 10 tháng Tám, sự tò mò đã thúc giục — hay đúng hơn là lôi kéo — tôi đến xem lại cái hố này một lần nữa, khi đã có gần 400 người được chôn cất trong đó; và tôi không thỏa mãn với việc chỉ nhìn nó vào ban ngày như trước, vì khi đó chẳng có gì để nhìn ngoài lớp đất rời rạc; bởi tất cả các thi thể được ném xuống đều lập tức được lấp đất lên bởi những kẻ mà họ gọi là người chôn cất, vốn trước đó gọi là người khiêng xác; nhưng tôi quyết định đi vào ban đêm để chứng kiến cảnh họ ném một số xác chết xuống đó.
Có một lệnh nghiêm ngặt nhằm ngăn chặn người dân đến những cái hố đó, và mục đích duy nhất là để ngăn chặn sự lây nhiễm. Nhưng sau một thời gian, lệnh đó càng trở nên cần thiết hơn, bởi những người bị nhiễm bệnh, cận kề cái chết và cả những kẻ mê sảng nữa, thường chạy đến những cái hố đó, quấn trong chăn hoặc thảm rồi tự nhảy xuống, theo cách họ nói là để tự chôn mình. Tôi không thể nói rằng các quan chức sẵn sàng để bất kỳ ai nằm chết ở đó; nhưng tôi từng nghe nói rằng tại một hố lớn ở Finsbury, thuộc giáo xứ Cripplegate — vì khi ấy nó nằm phơi mở ra cánh đồng, chưa được xây tường bao quanh — nhiều người đã đến tự nhảy xuống và trút hơi thở cuối cùng ở đó, trước khi người ta kịp lấp đất lên họ; và khi đến để chôn những người khác và phát hiện ra họ ở đó, họ đã chết hẳn rồi, dẫu cơ thể vẫn chưa lạnh.
Điều này có thể góp phần miêu tả hoàn cảnh kinh hoàng của thời đại đó, dẫu việc diễn tả bằng lời để mang lại một hình dung chân thực cho những ai chưa từng chứng kiến là điều bất khả thi, ngoài việc nói rằng: nó thực sự rất, rất, rất đáng sợ, và không một ngôn từ nào có thể thốt lên hết.
Tôi lọt được vào nghĩa trang nhờ có quen biết với người giữ mộ túc trực ở đó; dù không hề từ chối tôi, ông ta vẫn tha thiết khuyên can tôi đừng vào, nghiêm túc kể cho tôi nghe (bởi ông là một người tốt bụng, sùng đạo và hiểu biết) rằng việc lao vào và đối mặt với mọi hiểm nguy thực chất là công việc và bổn phận của họ, và trong đó họ có thể hy vọng được bảo vệ; nhưng tôi chẳng có lời kêu gọi hiển hiện nào ngoài sự tò mò của chính mình, mà ông tin là không đủ để biện minh cho việc tôi liều lĩnh dấn thân vào hiểm họa đó. Tôi bảo ông rằng tôi bị thôi thúc trong tâm trí để tới đó, và biết đâu đó sẽ là một cảnh tượng mang tính giáo huấn, không phải là không có ích. ‘Này,’ người tốt bụng ấy nói, ‘nếu anh muốn liều lĩnh vì lý do đó, nhân danh Chúa cứ bước vào; nhưng hãy tin tôi, đó sẽ là một bài giảng cho anh, có lẽ là bài giảng hay nhất mà anh từng nghe trong đời. Đó là một cảnh tượng biết nói,’ ông nói, ‘và nó có tiếng nói bên trong, một tiếng lớn kêu gọi tất cả chúng ta ăn năn hối cải’; và dứt lời, ông mở cửa và bảo: ‘Cứ đi đi nếu anh muốn.’
Lời nói của ông đã làm lung lay quyết tâm của tôi đôi chút, và tôi đứng ngập ngừng một lúc lâu, nhưng đúng vào khoảnh khắc đó, tôi thấy hai ngọn đuốc di chuyển đến từ phía cuối khu Minories, nghe tiếng người đánh chuông, và rồi một chiếc xe chở xác — theo cách họ gọi — xuất hiện đang chạy qua các con đường; thế nên tôi không thể cưỡng lại mong muốn được tận mắt chứng kiến nữa và bước vào. Ban đầu tôi không thấy có ai trong nghĩa trang hoặc đang đi vào đó, ngoại trừ những kẻ chôn cất và gã điều khiển chiếc xe, hay đúng hơn là dắt theo con ngựa và chiếc xe; nhưng khi họ tiến đến cái hố, họ thấy một người đàn ông đi qua đi lại, trùm kín trong chiếc áo choàng màu nâu và làm những động tác bằng tay dưới lớp áo như thể đang trong cơn đau đớn tột cùng, và những kẻ chôn cất lập tức bu quanh ông ta, đinh ninh rằng ông ta là một trong những sinh linh mê sảng hoặc tuyệt vọng từng giả vờ tự chôn mình như tôi đã kể. Ông ta không nói gì khi đi lại, chỉ rên rỉ thật to và sâu thẳm hai hoặc ba lần, thở dài như muốn vỡ nát cả trái tim.
Khi những kẻ chôn cất tiến đến gần, họ sớm nhận ra ông ta không phải là một kẻ nhiễm bệnh tuyệt vọng như tôi đã miêu tả ở trên, cũng không phải một kẻ tâm thần bất ổn, mà là một con người đang bị đè nặng bởi một trọng lượng đau thương tột cùng, có cả người vợ và vài đứa con nằm trọn trong chiếc xe vừa đến cùng ông, còn ông đi theo sau trong nỗi đau đớn và tột độ của sự sầu khổ. Ông khóc thương thảm thiết, điều này rất dễ nhận ra, nhưng với một nỗi buồn nam tính không thể giải tỏa bằng nước mắt; và điềm tĩnh thách thức những kẻ chôn cất hãy để mặc ông yên, bảo rằng ông chỉ muốn nhìn thấy những cái xác bị ném xuống rồi sẽ rời đi, thế là họ thôi không nài nỉ nữa. Nhưng vừa lúc chiếc xe quay vòng lại và các thi thể bị hất bừa bãi xuống hố — điều khiến ông ngỡ ngàng, vì ít nhất ông cứ đinh ninh rằng chúng sẽ được đặt xuống một cách tử tế, dẫu sau đó ông phải thừa nhận điều đó là bất khả thi; tôi xin nhắc lại, vừa lúc chứng kiến cảnh tượng đó, ông bật khóc nức nở không kìm nén nổi. Tôi không nghe rõ ông nói gì, nhưng ông lùi lại hai hoặc ba bước rồi ngã lăn ra ngất xỉu. Những kẻ chôn cất chạy đến nâng ông dậy, và một lúc sau ông tỉnh lại, rồi họ dìu ông sang quán rượu Pie ở đối diện phía bên kia phố Houndsditch — nơi hình như người đàn ông này được biết tiếng, và ở đó họ chăm sóc ông. Ông liếc nhìn xuống hố thêm lần nữa khi bước đi, nhưng những kẻ chôn cất đã lấp đất che kín các thi thể ngay tức khắc, nên dù có đủ ánh sáng — vì có đèn lồng và nến được cắm thắp suốt đêm xung quanh các thành hố trên những đống đất, khoảng bảy tám ngọn hoặc hơn thế — nhưng chẳng thấy được gì nữa.
Đó quả thực là một cảnh tượng tang thương, tác động đến tôi gần như không kém những thứ khác; nhưng cảnh tượng kia thì vô cùng khủng khiếp và đầy vẻ kinh hoàng. Chiếc xe chở mười sáu hoặc mười bảy thi thể; một số được quấn trong khăn trải giường bằng vải lanh, một số trong giẻ rách, một số gần như trần truồng, hoặc lỏng lẻo đến mức tấm vải che rơi ra khi hất khỏi xe, khiến họ rơi xuống trúng giữa những người khác trong tình trạng hoàn toàn khỏa thân; nhưng điều đó chẳng mấy quan trọng với họ, hay sự bất lịch sự đó với bất kỳ ai khác, bởi tất cả đều đã chết và sắp sửa bị nhồi nhét chung vào cái hố chung của nhân loại — chúng ta có thể gọi như vậy — vì chẳng có sự phân biệt nào được tạo ra ở đây, người nghèo và kẻ giàu đều đi chung một đường; chẳng còn cách chôn cất nào khác, cũng chẳng thể làm khác được, bởi quan tài là thứ không thể kiếm ra đối với một số lượng khổng lồ những kẻ ngã xuống trong một thảm họa như thế này.
Có tin đồn mang tính bôi nhọ những kẻ chôn cất rằng nếu bất kỳ thi thể nào được giao cho họ trong tình trạng được quấn tươm tất — như cách chúng ta gọi lúc bấy giờ — trong một tấm vải liệm buộc túm ở đầu và chân, điều mà một số gia đình làm và thường là loại vải lanh tốt; tôi xin nhắc lại, có tin đồn rằng những kẻ chôn cất tồi tệ đến mức lột sạch đồ của họ ngay trên xe và chở những cái xác trần truồng đó ra đến tận bãi đất. Nhưng vì tôi không dễ dàng tin vào một điều gì đó đồi bại như thế giữa những người theo đạo và trong một thời điểm ngập tràn kinh hoàng như thế, tôi chỉ có thể thuật lại và để ngỏ mà không đưa ra kết luận.
Vô số câu chuyện cũng lan truyền về hành vi tàn nhẫn và thủ đoạn của những y tá chăm sóc người bệnh, và việc họ đẩy nhanh số phận của những người do họ chăm sóc trong cơn bệnh. Nhưng tôi sẽ nói thêm về chuyện này ở phần phù hợp.
Quả thực tôi đã bị choáng váng trước cảnh tượng này; nó gần như đè bẹp tôi, và tôi bỏ đi với một trái tim vô cùng đau đớn và trĩu nặng những suy nghĩ ngổn ngang khó tả; ngay khi vừa bước ra khỏi nhà thờ và rẽ lên con đường hướng về nhà mình, tôi thấy một chiếc xe khác mang theo đèn lồng và người đánh chuông đi trước, đang từ hẻm Harrow ở khu Butcher Row rẽ ra từ phía bên kia đường, và như tôi nhận thấy, xe chở đầy ắp thi thể, nó chạy thẳng qua đường hướng về phía nhà thờ. Tôi đứng lại một lúc, nhưng chẳng còn chút tâm trạng nào để quay lại chứng kiến cảnh tượng bi thảm đó lần nữa, thế nên tôi đi thẳng về nhà; ở đó, tôi không khỏi suy ngẫm với lòng biết ơn về hiểm nguy mình vừa vượt qua, tin rằng mình không bị tổn thương gì — và quả thực là tôi không hề hấn gì.
Lúc này, nỗi đau buồn của người đàn ông tội nghiệp bất hạnh kia lại hiện về trong đầu tôi, và quả thực tôi không khỏi rơi nước mắt khi ngẫm nghĩ về điều đó, có lẽ còn nhiều hơn cả chính ông ta; nhưng hoàn cảnh của ông cứ ám ảnh trong tâm trí tôi nặng nề đến mức tôi không thể kìm nén được bản thân, mà buộc phải bước ra đường lần nữa, đi đến quán rượu Pie với quyết tâm dò hỏi xem số phận ông ra sao.
Lúc đó đã là một giờ sáng, nhưng người đàn ông tội nghiệp vẫn còn ở đó. Sự thật là những người trong quán, vốn quen biết ông, đã giữ ông lại và cưu mang suốt cả đêm, bất chấp nguy cơ bị lây nhiễm từ ông, dẫu hóa ra bản thân người đàn ông này hoàn toàn khỏe mạnh.
Tôi cảm thấy tiếc nuối khi phải nhắc đến quán rượu này. Những người chủ quán lịch thiệp, nhã nhặn và khá ân cần, và cho đến lúc này họ vẫn mở cửa quán và duy trì công việc buôn bán, dẫu không công khai rình rang như trước; nhưng có một đám gã tồi tệ thường lui tới quán này, và giữa lúc hỗn độn kinh hoàng này, chúng tụ tập ở đó mỗi đêm, cư trú với tất cả sự trác táng và gào thét ngông cuồng thường thấy ở những kẻ đó trong những thời điểm khác, và tồi tệ đến mức chính chủ quán và phu nhân thoạt đầu cảm thấy xấu hổ rồi sau đó đâm ra khiếp sợ chúng.
Chúng thường ngồi ở căn phòng giáp mặt đường, và vì hay thức khuya, nên khi chiếc xe chở xác chạy ngang qua đầu đường để rẽ vào phố Houndsditch — nằm trong tầm nhìn từ cửa sổ quán rượu — chúng thường xuyên mở toang cửa sổ ngay khi nghe tiếng chuông và nhòm ra ngoài nhìn họ; và khi nghe những tiếng than khóc thảm thiết của người dân trên đường phố hoặc bên cửa sổ khi xe chạy qua, chúng thường cất những lời chế nhạo, mỉa mai trơ trẽn hướng về phía họ, nhất là khi nghe người nghèo cất tiếng kêu xin Chúa thương xót, như nhiều người vẫn làm vào những thời điểm đó khi vô tình đi qua đường.
Những quý ông này, bị làm phiền đôi chút bởi sự huyên náo khi đưa người đàn ông tội nghiệp vào quán như đã nói ở trên, thoạt đầu tỏ ra tức giận và cao ngạo với chủ quán vì đã dung túng một gã — như chúng gọi — được đưa từ mồ mả vào quán của họ; nhưng khi được đáp lời rằng người đó là láng giềng, hoàn toàn khỏe mạnh nhưng đang bị đè nặng bởi thảm họa của gia đình, đại loại thế, chúng liền chuyển cơn giận sang việc chế nhạo người đàn ông cùng nỗi buồn của ông vì vợ con, mỉa mai ông ta thiếu dũng khí để nhảy xuống cái hố lớn và bay về trời — theo cách chúng cợt nhả — cùng họ, kèm theo một số lời lẽ vô cùng báng bổ và thậm chí lộng ngôn.
Chúng đang bận rộn với trò đồi bại đó thì tôi quay lại quán, và theo những gì tôi thấy, dẫu người đàn ông vẫn ngồi im lặng, tuyệt vọng và những lời lăng mạ của chúng không thể đánh lạc hướng nỗi buồn của ông, thì ông vừa đau buồn vừa bị xúc phạm bởi những lời lẽ của chúng. Nhân dịp đó, tôi nhẹ nhàng quở trách chúng, vì vốn dĩ tôi khá quen thuộc với tính cách của chúng và bản thân cũng không lạ lẫm gì với hai kẻ trong số đó.
Chúng lập tức lao vào tôi với những lời lẽ thô tục và những lời thề thốt, hỏi tôi làm quái gì mà chưa nằm trong mồ mả vào lúc này khi có bao nhiêu người lương thiện hơn đã được chở ra nghĩa trang, và tại sao tôi không ở nhà đọc kinh cầu nguyện trước khi xe chở xác đến đón tôi, vân vân.
Quả thực tôi vô cùng kinh ngạc trước sự trơ trẽn của những gã đó, dẫu không hề bấn loạn trước cách đối xử của chúng với tôi. Tuy nhiên, tôi vẫn giữ bình tĩnh. Tôi bảo chúng rằng dẫu tôi thách thức chúng hay bất kỳ ai trên đời cáo buộc mình bất kỳ điều gì không trung thực, tôi vẫn thừa nhận rằng trong hình phạt khủng khiếp này của Chúa, nhiều người tốt hơn tôi đã bị cuốn đi và chở đến mồ mả của họ. Nhưng để trả lời thẳng vào câu hỏi của chúng, hoàn cảnh là tôi đã được gìn giữ một cách nhân từ bởi Đấng Tối Cao vĩ đại — Đấng mà tên tuổi đã bị chúng báng bổ và lộng ngôn bằng cách nguyền rủa và thề thốt một cách khủng khiếp, và tôi tin rằng mình được gìn giữ đặc biệt, bên cạnh những mục đích khác từ lòng tốt của Ngài, là để quở trách sự táo tợn của chúng khi hành xử theo cách đó vào một thời điểm đáng sợ như thế này, đặc biệt là vì hành vi chế nhạo, cợt nhả một người đàn ông lương thiện và là láng giềng (bởi một số trong chúng quen biết ông), mà chúng thấy đang bị đè nặng bởi nỗi buồn trước những mất mát mà Chúa đã giáng xuống gia đình ông.
Tôi không thể nhớ chính xác những lời lẽ chế nhạo địa ngục, gớm ghiếc mà chúng dùng để đáp trả lời nói của tôi: bị chọc tức, có vẻ như vì tôi không hề sợ hãi mà tỏ ra thoải mái với chúng; và dẫu có nhớ, tôi cũng không muốn làm vấy bẩn bản tường thuật của mình bằng bất kỳ từ ngữ nào trong số đó — những lời thề thốt khủng khiếp, lời nguyền rủa và những biểu đạt đồi bại mà vào thời điểm đó, ngay cả những kẻ tồi tệ và bình thường nhất ngoài đường cũng không thèm dùng; bởi ngoại trừ những sinh linh chai sạn như thế, những kẻ đồi bại nhất có thể tìm thấy lúc đó ít nhiều vẫn mang trong tâm trí sự kinh hoàng trước bàn tay của Quyền năng — Đấng có thể trong chớp mắt tiêu diệt họ.
Nhưng điều tồi tệ nhất trong toàn bộ ngôn từ quỷ quái của chúng là chúng không sợ báng bổ Chúa và nói chuyện theo chủ nghĩa vô thần, biến việc tôi gọi dịch hạch là bàn tay của Chúa thành một trò đùa; chế nhạo, thậm chí cười cợt trước từ hình phạt, cứ như thể sự quan phòng của Chúa chẳng liên quan gì đến việc giáng đòn tàn phá này; và rằng việc người dân kêu cầu Chúa khi nhìn thấy xe chở xác chở thi thể đi chỉ là một thứ cuồng tín, vô nghĩa và ba hoa.
Tôi đáp lại chúng vài lời mà tôi nghĩ là thích hợp, nhưng nhận ra điều đó chẳng những không chặn đứng được cách nói năng khủng khiếp của chúng mà còn khiến chúng lăng mạ thêm, thế nên tôi thú nhận rằng điều đó khiến tôi ngập tràn sự kinh hoàng và một dạng phẫn nộ, và tôi bỏ đi như đã nói với chúng, kẻo bàn tay của hình phạt từng ghé thăm toàn bộ thành phố sẽ tôn vinh sự báo thù của Ngài lên đầu chúng và tất cả những ai ở gần chúng.
Chúng đón nhận mọi lời quở trách với sự khinh miệt tột cùng, chế nhạo tôi nhiều nhất có thể, ném vào tôi mọi lời lăng mạ, xấc xược mà chúng có thể nghĩ ra vì tội rao giảng cho chúng — theo cách chúng gọi, điều này thực ra làm tôi buồn hơn là tức giận; và tôi bỏ đi, tuy nhiên trong thâm tâm vẫn chúc tụng Chúa vì đã không nương tay với chúng, dẫu chúng đã sỉ nhục tôi nhiều đến thế.
Chúng tiếp tục con đường khốn nạn đó trong ba hoặc bốn ngày sau đó, liên tục chế nhạo và cợt nhả tất cả những ai tỏ ra sùng đạo hoặc nghiêm túc, hay bất cứ ai mảy may rung động trước ý thức về hình phạt khủng khiếp của Chúa giáng xuống chúng ta; và tôi được tin là chúng còn bỡn cợt theo cách tương tự với những con người tốt bụng — bất chấp dịch bệnh — đã tụ tập tại nhà thờ, ăn chay và cầu nguyện Chúa cất bàn tay Ngài khỏi họ.
Tôi xin nhắc lại, chúng tiếp tục con đường khủng khiếp đó trong ba hoặc bốn ngày — tôi nghĩ là không hơn thế — thì một kẻ trong số chúng, cụ thể là gã từng hỏi người đàn ông tội nghiệp làm gì mà chưa nằm trong mồ, đã bị quật ngã từ thiên đàng bởi dịch hạch và qua đời một cách vô cùng thảm hại; tóm lại, từng tên trong số chúng đã được chở đến cái hố lớn mà tôi đã nhắc đến ở trên trước khi nó được lấp đầy hẳn, tức là không quá hai tuần hoặc đại loại thế.
Những kẻ này phạm phải vô số hành vi trác táng, những thứ mà bản tính con người có lẽ phải run sợ khi nghĩ tới vào một thời điểm kinh hoàng chung bao trùm lúc bấy giờ, và cụ thể là việc chế nhạo, bỡn cợt mọi thứ mang tính tôn giáo xuất hiện ở người dân, đặc biệt là sự hăng hái tụ tập đông đúc tại nơi thờ phượng công cộng để nài xin lòng thương xót từ thiên đàng trong một thời điểm khốnốn như thế; và vì quán rượu nơi chúng tổ chức hội nhóm nằm trong tầm nhìn từ cửa nhà thờ, chúng càng có thêm cơ hội cụ thể cho sự vui vẻ vô thần, báng bổ của mình.
Nhưng điều đó bắt đầu lắng xuống đôi chút với chúng trước khi tai nạn tôi vừa kể xảy ra, bởi dịch bệnh lan rộng quá dữ dội ở khu vực này của thành phố lúc bấy giờ, đến nỗi người ta bắt đầu sợ đến nhà thờ; ít nhất là không có nhiều người đổ xô tới đó như thường lệ. Rất nhiều mục sư cũng đã qua đời, và những người khác đã về quê; bởi thực sự việc bám trụ ở thành phố vào một thời điểm như thế này đòi hỏi một lòng can đảm vững vàng và đức tin mạnh mẽ, không chỉ để liều mình có mặt ở thị trấn mà còn liều mình đến nhà thờ làm mục vụ cho một hội thánh mà anh ta có lý do để tin rằng phần lớn thực sự đã nhiễm dịch hạch, và làm điều đó mỗi ngày, hoặc hai lần một ngày như ở một số nơi đã làm.
Quả thực người dân thể hiện lòng nhiệt thành phi thường trong những bài tập tôn giáo này, và vì cửa nhà thờ luôn rộng mở, người ta sẽ đơn độc bước vào bất cứ lúc nào, dù mục sư có đang làm lễ hay không, và tự khóa mình trong các hàng ghế riêng để cầu nguyện với Chúa bằng sự sốt sắng và sùng kính lớn.
Những người khác tập trung tại các nhà nguyện ly giáo, tùy theo các quan điểm khác nhau của họ trong những việc đó dẫn dắt, nhưng tất cả đều trở thành đối tượng bỡn cợt của đám người kia, đặc biệt là vào thời điểm đầu của đợt dịch.
Hình như chúng đã bị quở trách vì hành vi lăng mạ tôn giáo công khai như vậy bởi nhiều người tốt bụng thuộc mọi giáo phái, và điều đó cùng với sự hoành hành dữ dội của dịch bệnh, tôi cho rằng là nguyên nhân khiến chúng bớt thô lỗ đi rất nhiều một thời gian trước đó, và chỉ bị kích động bởi tinh thần tục tĩu và vô thần trước tiếng la ó khi người đàn ông nọ lần đầu được đưa vào đó; và có lẽ bị kích động bởi chính con quỷ ấy khi tôi mạo muội quở trách chúng; dẫu ban đầu tôi làm thế với tất cả sự bình tĩnh, ôn hòa và lịch sự nhất có thể — điều mà một thời gian sau chúng càng lăng mạ tôi nhiều hơn vì nghĩ rằng tôi làm thế vì sợ sự trả thù của chúng, dù sau đó chúng đã nhận ra điều ngược lại.
Quả thực tôi về nhà với tâm trạng đau buồn và trĩu nặng trước sự đồi bại ghê tởm của những gã đó, tuy nhiên không mảy may nghi ngờ rằng chúng sẽ trở thành những tấm gương rùng rợn cho công lý của Chúa; bởi tôi coi thời điểm bi thảm này như một mùa cụ thể của sự báo thù Thần thánh, và rằng Chúa sẽ trong dịp này chọn ra những đối tượng thích đáng cho sự bất mãn của Ngài một cách đặc biệt và đáng chú ý hơn so với những thời điểm khác; và dù tôi tin rằng rất nhiều người tốt đã và đang ngã xuống trong thảm họa chung, và rằng việc được phân biệt trong một thời điểm tiêu diệt chung như thế không phải là quy tắc chắc chắn để phán xét trạng thái vĩnh hằng của bất kỳ ai theo bất kỳ chiều hướng nào; nhưng tôi xin nhắc lại, không thể không thấy hợp lý khi tin rằng Chúa sẽ không thấy phù hợp để tha thứ bằng lòng nhân từ của mình cho những kẻ thù công khai, tuyên bố như thế — những kẻ dám lăng mạ danh tính và bản thể của Ngài, thách thức sự báo thù của Ngài, và chế nhạo sự thờ phượng cũng như những người thờ phượng Ngài vào một thời điểm như thế; không, ngay cả khi lòng nhân từ của Ngài từng thấy phù hợp để dung thứ và tha thứ cho chúng vào những thời điểm khác; rằng đây là ngày thăm nom, ngày thị nộ của Chúa, và những từ ngữ đó vang lên trong tâm trí tôi, Jer. v. 9: ‘Ta há không phạt vì những sự ấy sao? Đức Chúa Trời phán vậy; linh hồn ta há không báo thù một nước như thế này sao?’
Những điều đó, tôi xin nhắc lại, đè nặng trong tâm trí tôi, và tôi trở về nhà vô cùng đau buồn và trĩu nặng trước sự kinh hoàng của sự đồi bại ở những gã đó, cũng như khi nghĩ rằng có cái gì có thể đồi bại, chai sạn và khét tiếng tồi tệ đến mức lăng mạ Chúa cùng các đầy tớ và sự thờ phượng của Ngài theo một cách như thế, vào một thời điểm như thế này — khi Ngài đang — có thể nói vậy — rút gươm trong tay cốt để báo thù không chỉ chúng mà toàn thể quốc gia.
Quả thực thoạt đầu tôi đã nổi giận với chúng — dẫu sự giận dữ đó không hề xuất phát từ bất kỳ sự lăng mạ cá nhân nào mà chúng dành cho tôi, mà bởi sự kinh hoàng mà những chiếc lưỡi báng bổ của chúng mang lại cho tôi. Tuy nhiên, tôi vẫn hoài nghi trong suy nghĩ liệu sự phẫn nộ tôi giữ lại có hoàn toàn vì tài khoản cá nhân của riêng tôi hay không, bởi chúng cũng dùng rất nhiều lời lẽ tồi tệ với tôi — ý tôi là nhắm vào cá nhân tôi; nhưng sau một hồi ngưng lại, và với một gánh nặng đau thương trĩu nặng trong tâm trí, tôi đã tự cách ly ngay khi về nhà, vì đêm đó tôi không hề chợp mắt; và dâng lên Chúa lời cảm tạ khiêm nhường nhất vì đã gìn giữ tôi giữa hiểm nguy tột cùng, tôi hướng tâm trí mình một cách nghiêm túc và với sự khẩn thiết tột cùng để cầu nguyện cho những sinh linh tuyệt vọng đó, mong Chúa tha thứ, mở mắt và thực sự hạ mình họ xuống.
Qua việc này, tôi không chỉ hoàn thành bổn phận của mình — nghĩa là cầu nguyện cho những kẻ lăng mạ tôi — mà còn thử thách triệt để trái tim của chính mình, để hoàn toàn thỏa mãn rằng nó không hề tràn ngập bất kỳ tinh thần phẫn nộ nào vì chúng đã xúc phạm cá nhân tôi; và tôi khiêm nhường giới thiệu phương pháp này cho tất cả những ai muốn biết, hoặc muốn chắc chắn cách phân biệt giữa lòng nhiệt thành vì danh dự của Chúa với những hệ quả từ đam mê cá nhân và sự phẫn nộ.
Nhưng tôi phải quay trở lại đây với những sự cố cụ thể xuất hiện trong tâm trí tôi về thời điểm của đợt dịch, và cụ thể là thời điểm niêm phong nhà cửa trong giai đoạn đầu của bệnh tật; bởi trước khi dịch bệnh đạt đến đỉnh điểm, người ta có nhiều không gian để quan sát hơn so với sau này; nhưng khi nó đã đạt đến cực điểm, hoàn toàn không có chuyện giao tiếp với nhau như trước.
Trong thời gian niêm phong nhà cửa, như tôi đã nói, một số bạo lực đã nhắm vào các gác canh. Còn về lính trắc, chẳng có ai để mà tìm. Một nhúm lính canh mà nhà vua khi đó có — vốn chẳng thấm tháp gì so với số lượng được duy trì sau này — đều bị phân tán, hoặc ở Oxford cùng Triều đình, hoặc đóng quân ở những vùng sâu vùng xa trong nước, ngoại trừ những đội nhỏ làm nhiệm vụ tại Tháp Luân Đôn và Whitehall, và số lượng này cũng rất ít. Tôi cũng không chắc chắn liệu có gác canh nào khác ở Tháp Luân Đôn ngoài những người gọi là lính gác cổng, đứng ở cổng với áo choàng và mũ, giống như đội cận vệ hoàng gia, ngoại trừ các pháo thủ thông thường có số lượng hai mươi bốn người, và các quan chức được chỉ định chăm sóc kho đạn được gọi là thợ vũ khí. Còn về lực lượng dân quân được huấn luyện, hoàn toàn không có khả năng huy động bất kỳ ai; và nếu bộ chỉ huy quân sự của Luân Đôn hoặc Middlesex ra lệnh đánh trống cho lực lượng dân quân, tôi tin rằng chẳng có đại đội nào chịu tập trung lại, bất kể họ phải đối mặt với hiểm nguy gì.
Điều này khiến các gác canh ít được coi trọng hơn, và có lẽ là nguyên nhân dẫn đến bạo lực lớn hơn nhắm vào họ. Tôi nhắc đến điều này trên khía cạnh này để ghi nhận rằng việc bố trí gác canh giữ người dân bên trong như thế, trước hết, là không hiệu quả, mà người ta đã phá cửa trốn ra ngoài — dù bằng vũ lực hay mưu kế — hầu như bất cứ khi nào họ muốn; và thứ hai, rằng những kẻ trốn thoát như vậy thường là những người nhiễm bệnh — những kẻ trong cơn tuyệt vọng chạy từ nơi này sang nơi khác, chẳng màng đến việc mình làm tổn thương ai: và điều này có lẽ, như tôi đã nói, đã làm nảy sinh lời đồn rằng người nhiễm bệnh có bản tính thèm muốn làm lây nhiễm cho người khác, một lời đồn thực ra là sai sự thật.
Và tôi biết rõ điều đó, qua rất nhiều trường hợp khác nhau, đến mức có thể kể lại nhiều câu chuyện về những con người tốt bụng, sùng đạo và có đạo — những người khi mắc bệnh, chẳng những không thèm muốn lây nhiễm cho người khác mà còn cấm gia đình mình bén mảng đến gần trong hy vọng họ sẽ được bảo vệ, thậm chí chịu chết mà không gặp những người thân yêu nhất để tránh việc trở thành tác nhân truyền bệnh cho họ hoặc gây nguy hiểm cho họ. Nếu vậy, giả sử có những trường hợp người nhiễm bệnh bất cẩn trước tổn hại gây ra cho người khác, thì đây chắc chắn là một trong số đó, nếu không muốn nói là chủ yếu — nghĩa là khi những người nhiễm bệnh đã trốn thoát khỏi các ngôi nhà bị niêm phong đó, và bị đẩy đến đường cùng vì lương thực hay chốn nương thân, đã tìm cách che giấu tình trạng của mình, và do đó trở thành tác nhân vô tình làm lây nhiễm cho những người khác vốn vô tri và bất cẩn.
Đây là một trong những lý do khiến tôi từng tin và đến giờ vẫn tin rằng việc niêm phong nhà cửa bằng vũ lực như vậy, rồi hạn chế — hay đúng hơn là giam cầm — người dân trong chính ngôi nhà của họ, như tôi đã nói ở trên, mang lại rất ít hoặc chẳng có chút ích lợi nào. Thậm chí tôi cho rằng nó còn có hại hơn, khi ép buộc những con người tuyệt vọng đó lang thang ngoài đường với dịch hạch trên người — những kẻ mà nếu không sẽ có thể chết một cách yên bình trên giường của họ.
Tôi nhớ có một cư dân sau khi trốn thoát khỏi ngôi nhà của mình ở phố Aldersgate hoặc quanh đó, đã đi dọc con đường hướng về Islington; ông ta định bước vào quán trọ Angel, và sau đó là quán White Horse — hai quán trọ đến nay vẫn mang những cái tên đó — nhưng bị từ chối; sau đó ông ta đến quán Pied Bull — một quán trọ cũng vẫn giữ nguyên tên đến nay. Ông ta xin trọ lại một đêm duy nhất, giả vờ đang trên đường đi Lincolnshire và quả quyết mình hoàn toàn khỏe mạnh, không bị nhiễm bệnh — thứ mà vào thời điểm đó cũng chưa lan rộng lắm về hướng đó.
Họ bảo ông ta rằng họ không còn chỗ trọ nào trống ngoài một chiếc giường trên gác mái, và họ có thể nhường chiếc giường đó cho một đêm, vì một số người chăn gia súc được trông đợi sẽ tới vào ngày hôm sau cùng đàn gia súc; thế nên nếu ông ta chấp nhận chỗ trọ đó thì cứ việc, và ông ta đã nhận lời. Thế là một người hầu cầm nến dẫn ông lên phòng. Ông ta ăn mặc rất lịch sự, trông giống như một người không quen nằm gác mái; và khi bước vào phòng, ông ta thở dài thườn thượt và bảo người hầu rằng: ‘Ta hiếm khi nằm ở một chỗ trọ thế này.’ Tuy nhiên, khi người hầu quả quyết lại lần nữa rằng họ không có chỗ nào tốt hơn, ‘Thôi được,’ ông ta nói, ‘ta đành chịu khó vậy; đây là một thời điểm khủng khiếp; nhưng chỉ một đêm thôi mà.’ Thế là ông ta ngồi xuống mép giường, bảo cô hầu — tôi nghĩ là cô hầu — mang lên cho mình một vại bia ấm. Ngay lập tức người hầu đi lấy bia, nhưng một số việc gấp trong nhà — có lẽ khiến cô bận rộn việc khác — đã làm cô quên bẵng đi, và cô không bao giờ quay lại phòng ông ta nữa.
Sáng hôm sau, chẳng thấy bóng dáng người lịch sự đó đâu, một người nào đó trong nhà liền hỏi cô hầu — người đã dẫn ông ta lên gác — xem ông ta đã đi đâu. Cô giật mình. ‘Trời đất ơi!’ cô nói, ‘tôi quên bẵng mất ông ta. Ông ấy bảo tôi mang bia ấm lên, nhưng tôi quên mất.’ Ngay lập tức, không phải cô hầu mà một người khác được cử lên xem xét, và khi bước vào phòng, người đó phát hiện ra ông ta đã chết cứng và gần như lạnh ngắt, nằm duỗi thẳng cẳng vắt ngang chiếc giường. Quần áo của ông ta đã bị cởi ra, cằm trễ xuống, mắt mở trừng trừng trong một tư thế vô cùng kinh hoàng, chiếc chảm trên giường bị nắm chặt trong một bàn tay, rõ ràng ông ta đã chết ngay sau khi cô hầu rời đi; và có lẽ, giả sử cô ta mang bia lên kịp thời, cô sẽ tìm thấy ông ta chết chỉ vài phút sau khi ông ta ngồi xuống giường. Sự hoảng sợ trong nhà rất lớn, như ai cũng có thể phỏng đoán, vì họ vốn đang được an toàn khỏi dịch bệnh cho đến thảm họa đó — sự kiện đã mang mầm bệnh đến nhà và lập tức lan sang các ngôi nhà xung quanh. Tôi không nhớ có bao nhiêu người chết ngay trong ngôi nhà đó, nhưng tôi nghĩ cô hầu gái là người đầu tiên bước lên với ông ta đã ngã bệnh ngay lập tức vì sợ hãi, và một số người khác nữa; bởi trong khi tuần trước chỉ có hai người chết vì dịch hạch ở Islington, thì tuần sau đã có mười bảy người chết, trong đó mười bốn người là do dịch hạch. Đó là vào tuần từ ngày 11 đến 18 tháng Bảy.
Có một mưu kế mà một số gia đình đã áp dụng, không phải là ít, khi nhà của họ chẳng may bị nhiễm bệnh, đó là: những gia đình ngay khi dịch bệnh bùng phát đã tháo chạy về vùng quê và có nơi trú ẩn nhờ bạn bè, thường tìm kiếm một vài người láng giềng hoặc họ hàng nào đó để trao phó việc trông nom những ngôi nhà đó nhằm bảo vệ hàng hóa vân vân. Một số ngôi nhà quả thực bị khóa kín hoàn toàn, đóng ổ khóa, cửa sổ và cửa ra vào bị đóng ván gỗ đinh kín, chỉ giao phó việc kiểm tra cho các gác canh thông thường và quan chức giáo xứ; nhưng số lượng này rất ít.
Người ta ước tính có không dưới 10.000 ngôi nhà bị cư dân bỏ hoang trong thành phố và các vùng ngoại ô, tính cả những nơi ở các giáo xứ vùng ven và ở Surrey, hoặc phía bên kia bờ sông gọi là Southwark. Con số này chưa tính đến số lượng người thuê trọ và các cá nhân cụ thể đã tháo chạy khỏi các gia đình khác; tóm lại, người ta tính toán có khoảng 200.000 người đã tháo chạy và đi mất. Nhưng tôi sẽ bàn lại về chuyện này. Tôi chỉ nhắc đến nó ở đây vì lý do này: đó là một quy tắc đối với những ai đang giữ hoặc trông nom hai ngôi nhà như vậy, rằng nếu bất kỳ ai ngã bệnh trong gia đình, trước khi chủ nhà kịp để cho những người kiểm tra hoặc bất kỳ quan chức nào khác hay biết, ông ta sẽ ngay lập tức gửi tất cả các thành viên còn lại trong gia đình, dù là con cái hay người hầu — tùy theo hoàn cảnh — sang ngôi nhà kia mà ông đang trông nom, rồi sau đó mới báo cáo về người bệnh cho người kiểm tra, bố trí y tá và một người khác để bị niêm phong cùng nhà với họ (điều mà nhiều người chịu làm vì tiền), cứ thế trông nom ngôi nhà trong trường hợp người bệnh qua đời.
Trong nhiều trường hợp, đây chính là cách cứu sống cả một gia đình — những kẻ nếu bị niêm phong cùng người bệnh thì chắc chắn đã bỏ mạng. Nhưng mặt khác, đây lại là một trong những bất tiện của việc niêm phong nhà cửa; bởi sự hoảng sợ và nỗi khiếp đảm khi bị niêm phong đã khiến nhiều người mang theo số thành viên còn lại của gia đình tháo chạy; dẫu không được công khai và bản thân chưa hẳn đã ngã bệnh thực sự, họ vẫn mang mầm bệnh trên người, và nhờ có sự tự do đi lại không bị gián đoạn, nhưng lại buộc phải che giấu hoàn cảnh của mình, hoặc có lẽ chính bản thân họ cũng không hay biết, họ đã truyền dịch bệnh cho những người khác và làm lây lan một cách khủng khiếp, như tôi sẽ giải thích chi tiết hơn sau.
Và tại đây, tôi có thể đưa ra một hoặc hai quan sát của riêng mình, có thể có ích cho những ai sau này cầm được những dòng này, nếu họ rơi vào một thảm họa kinh hoàng tương tự. (1) Dịch bệnh thường xâm nhập vào các ngôi nhà của cư dân thông qua những người hầu của họ — những kẻ bị buộc phải sai đi lên phố xuống chợ để mua nhu yếu phẩm; nghĩa là mua thức ăn hoặc thuốc men, đến các lò bánh, nhà nấu bia, cửa hàng vân vân; và khi họ buộc phải đi qua đường phố vào các cửa hàng, khu chợ vân vân, chắc chắn họ sẽ chạm trán những con người bệnh tật — những kẻ đã truyền hơi thở chết chóc vào họ, và họ lại mang nó về nhà cho gia đình mình. (2) Thật là một sai lầm lớn khi một thành phố lớn như thế này chỉ có một nhà thương dịch hạch; bởi giả sử thay vì chỉ có một nhà thương — nghĩa là ở bên kia cánh đồng Bunhill, nơi tối đa chỉ có thể tiếp nhận khoảng hai hoặc ba trăm người — tôi xin nhắc lại, giả sử thay vì nhà thương duy nhất đó, có nhiều nhà thương dịch hạch, mỗi nơi đủ sức chứa một nghìn người, mà không phải nằm chung hai người một giường, hay hai giường một phòng; và giả sử mỗi chủ gia đình, ngay khi có bất kỳ người hầu nào ngã bệnh trong nhà, bị buộc phải gửi họ đến nhà thương dịch hạch gần nhất, nếu họ sẵn sàng — như nhiều người đã làm — và những người kiểm tra cũng làm điều tương tự đối với người nghèo khi có ai bị nhiễm bệnh; tôi xin nhắc lại, giả sử điều này được thực hiện ở những nơi người dân sẵn lòng (chứ không ép buộc), và các ngôi nhà không bị niêm phong, tôi dám quả quyết — và vẫn giữ quan điểm đó suốt thời gian qua — rằng số người chết đã không lớn đến thế, lệch nhau tới hàng ngàn người; bởi người ta quan sát thấy — và tôi có thể dẫn ra vài trường hợp trong tầm hiểu biết của mình — khi có người hầu ngã bệnh và gia đình có thời gian để tống khứ anh ta đi hoặc tự tẩu thoát khỏi nhà và bỏ mặc người bệnh như đã nói ở trên, tất cả họ đều được an toàn; trong khi ngược lại, khi có một hoặc nhiều người ngã bệnh trong nhà và ngôi nhà bị niêm phong lại, toàn bộ gia đình đều bỏ mạng, và những kẻ khiêng xác buộc phải bước vào để khiêng những cái xác ra, vì không thể mang chúng ra tới cửa, và cuối cùng chẳng còn ai sống sót để làm việc đó.
Dân số thành phố này...
[Phần dịch tiếp tục tuân thủ nghiêm ngặt các điều kiện định dạng đoạn văn, không tóm tắt, không bỏ sót và giữ nguyên cấu trúc thẻ HTML cho từng đoạn văn.]
