CHƯƠNG VI
Ngay sau khi cuộc chiến tranh Thế giới lần thứ nhất kết thúc, tôi gặp hai người anh trai tại London, Ngài Ross và Ngài Keith Smith. Hai người này vừa thực hiện chuyến bay đầu tiên từ London tới Ôxtrâylia, và dành được giải thưởng năm mươi nghìn đôla do chính phủ Úc trao tặng. Họ đã làm cho cả Đế chế Anh khâm phục và đã được nhà vua phong tước hiệu Hiệp sỹ.
Đại úy Hurley, một nhiếp ảnh gia nổi tiếng, đã bay cùng với họ trong một phần quãng đường của cuộc hành trình để ghi lại những thời điểm đáng nhớ; sau khi chuyến bay kết thúc, tôi giúp họ chuẩn bị một cuộc nói chuyện có ảnh minh họa về chuyến bay đó và hướng dẫn họ cách thể hiện nó. Họ kể lại cuộc hành trình hai lần một ngày, một lần vào buổi chiều và một lần vào buổi tối, trong vòng bốn tháng tại hội trường Philharmonic ở London.
Hai người có kinh nghiệm giống hệt nhau, cùng ngồi cạnh nhau khi họ bay nửa vòng trái đất; và có những buổi nói chuyện giống nhau, gần như từng từ một. Tuy thế, xét cho cùng thì không hẳn là như thế.
Còn có một thứ gì đấy ngoài những câu chuyện trong các buổi nói chuyện. Đó là không khí của buổi nói chuyện. “Ý nghĩa của điều mà bạn muốn nói phụ thuộc một phần lớn vào cách mà bạn diễn đạt điều đó.”
Tôi đã có lần ngồi cạnh một người phụ nữ trẻ trong một buổi hòa nhạc ngoài trời. Người phụ nữ này đang đọc bản nhạc Mazurka của Chopin khi mà Paderewski đang chơi bản nhạc đó. Cô ta tỏ ra bối rối. Cô ta không thể hiểu được điều này. Những nốt nhạc mà ông ta chơi chẳng khác gì những nốt nhạc mà cô đã từng gảy; nhưng kỳ lạ thay giai điệu của cô hết sức bình thường trong khi đó, giai điệu của anh ta thật là truyền cảm, mượt mà, một sự biểu diễn làm mê hoặc khán giả. Thực ra vấn đề không chỉ ở những nốt nhạc mà là cả cách thức mà anh ta gảy chúng, một cảm giác, một kỹ năng, một tính cách mà anh ta đặt vào trong những nốt đàn. Chính những thứ đó đã làm nên sự khác biệt giữa một người bình thường và một thiên tài.
Brullof, một họa sỹ bậc thầy người Nga, đã sửa bức họa của một cậu học sinh. Cậu học sinh hết sức ngạc nhiên trước bức tranh đã được sửa, thốt lên: “Tại sao thầy mới chỉ có thay đổi vài đường nét mà bức tranh đã trở nên sống động lạ thường.” Brullof trả lời: “Nghệ thuật bắt đầu từ những thứ nhỏ bé như thế đấy.” Đó là sự thực đối với diễn thuyết như là đối với hội họa và âm nhạc của Paderewski.
Điều tương tự xảy ra khi một người diễn thuyết. Có một câu châm ngôn cổ trong Quốc hội Anh là mọi thứ đều phụ thuộc vào cách mà người nói thể hiện chứ không phụ thuộc vào bản thân thứ đó. Quintilian đã nói điều từ lâu xa xưa, cái thời mà nước Anh còn là một thuộc địa xa xôi hẻo lánh của Đế chế Rome.
Giống như hầu hết các câu châm ngôn, nó cần phải được tính đến cum grano salis; nhưng diễn đạt tốt sẽ có thể phát triển rộng một vấn đề hết sức nhỏ bé. Tôi thường tham dự những cuộc thi tại trường đại học và nhận thấy rằng không phải lúc nào những người diễn thuyết có tài liệu tốt nhất cũng chiến thắng. Mà thường là những người diễn thuyết có thể trình bày hiệu quả khiến cho các tài liệu của người đó có tính thuyết phục cao nhất.
Huân tước Morley đã từng có nhận xét hóm hỉnh: “Có ba điều ảnh hưởng đến kết quả diễn thuyết. Đó là ai nói, anh ta nói như thế nào, và anh ta nói gì - và trong ba nhân tố đó, nhân tố cuối cùng là kém quan trọng hơn cả.” Một sự phóng đại chăng? Đúng vậy, nhưng nếu loại bỏ đi những phần nổi, bạn sẽ tìm thấy sự thật ẩn sâu bên trong nhận xét đó.
Edmund Burke đã viết những bài diễn văn rất logic và mang tính thuyết phục cao với cấu trúc chặt chẽ đến nỗi mà ngày nay, một nửa số trường đại học toàn quốc coi các bài viết của ông như là những bài diễn văn mẫu; nhưng Burke, với tư cách là một nhà diễn thuyết, thì lại không hề thành công. Ông ta không có khả năng diễn đạt những ngôn từ tuyệt vời của mình, làm cho chúng trở nên lôi cuốn người nghe; do đó ông ta bị gọi là “cái chuông của bữa tối” của Hạ nghị viện. Mỗi khi ông ta đứng lên phát biểu, các ông nghị khác lại tìm cớ lũ lượt đi ra ngoài.
Bạn có thể dùng hết sức để ném một viên đạn thép vào một người, nhưng bạn không thể làm cho anh ta bị thương. Nhưng nếu đặt thuốc súng sau một cây nến làm từ mỡ động vật, bạn có thể bắn cây nến đó xuyên qua một bảng làm bằng gỗ thông. Tôi tiếc phải thừa nhận rằng nhiều bài diễn văn kiểu “nến làm từ mỡ động vật” nhưng có thuốc súng lại gây ấn tượng hơn những bài diễn văn kiểu “đạn bọc thép” nhưng lại không có một lực nào đằng sau cả.
Do đó, hãy chú trọng tới cách diễn đạt của bạn.
Phương pháp truyền đạt là gì?
Một đại lý bán hàng đang làm gì khi “chuyển” một mặt hàng mà bạn đã mua? Có phải người lái xe chỉ đơn thuần ném nó vào sân nhà bạn rồi đi thẳng không? Việc một người đưa bưu phẩm tới tận tay bạn liệu có giống như cách làm trên của người lái xe? Một cậu bé có nhiệm vụ truyền tin mang tin tức đó trực tiếp thông báo cho người mà cần được thông báo. Liệu có phải tất cả những thứ đó cũng đúng với những nhà diễn thuyết?
Tôi sẽ đưa ra một minh họa điển hình mà hàng nghìn người đã nhắc đến. Một lần, tôi dừng lại nghỉ ở Murren, một khu du lịch mùa hè nằm gần dãy Alps Thụy Sỹ. Tôi nghỉ tại một khách sạn do một công ty có trụ sở ở London; và hằng tuần, họ thường mời hai giảng viên từ nước Anh tới để nói chuyện với khách. Một trong số giảng viên được mời có một nhà văn nữ viết tiểu thuyết nổi tiếng. Chủ đề của bà ta là “Tương lai của những cuốn tiểu thuyết”. Bà ta thừa nhận rằng mình đã không tự chọn chủ đề này; và cho dù chủ đề có dài hay ngắn như thế nào đi chăng nữa thì bà ta cũng chả có gì để nói cả và bà ta thực sự là không quan tâm nhiều đến những gì mà mình đang nói. Bà ta ghi chép rất cẩu thả; và bà ta đứng dậy trước cả những người tham dự, phớt lờ người nghe, thậm chí còn không nhìn thẳng vào họ, khi thì nhìn đi chỗ khác, khi thì nhìn vào mẩu giấy ghi chép, khi thì nhìn xuống sàn nhà. Bà ta còn rơi vào trạng thái mơ màng, không nói gì cả, với một cái nhìn xa xăm và những âm thanh lý nhí trong tiếng nói.
Đây không phải là cách nói để chuyển tải một cuộc nói chuyện. Mà đây là tự thoại. Nó không hề có tính liên lạc. Và đó chính là điều yếu tố cần thiết đầu tiên của một buổi nói chuyện thành công: tính liên lạc. Khán giả phải cảm thấy rằng có một thông điệp được gửi thẳng từ tâm hồn và trái tim của người nói đến tâm hồn và trái tim của họ. Cách nói mà tôi vừa nhắc đến trước đó chỉ là cách nói đầy sạn và không có ý nghĩa gì cả. Nói đúng hơn, cách nói đó dường như là nói với đá chứ không phải là nói với những người có trái tim và tâm hồn.
Đáng buồn là cách nói nhạt nhẽo, dễ gây hiểu lầm lại hay bị lạm dụng.
Bí mật của phương pháp diễn đạt hiệu quả
Người ta đã viết một đống những thứ lăng nhăng về phương pháp diễn đạt. Nó đã được người ta khoác lên mình những luật lệ và lễ nghi phù phiếm, và trở nên hết sức thần bí. “Thuật diễn thuyết trước công chúng” lạc hậu, một điều xấu xa lại nhân danh Chúa và loài người, đã làm cho nó trở nên lố bịch. Một doanh nhân đến thư viện hay hiệu sách tìm thấy những cuốn sách viết về “thuật hùng biện” nhảm nhí. Cho dù có những xu thế mới đang nổi lên, một vài trường học vẫn bắt học sinh phải học “thuật hùng biện” mang đầy vẻ trang trí lòe loẹt của Webster và Ingersoll - một thứ mà đã quá lỗi thời và không phù hợp với tinh thần của thời đại giống như những cái mũ mà bà Ingersoll và bà Webster đã đội nếu như chúng đuợc sản xuất lại trong thời đại này.
Một trường phái diễn thuyết hoàn toàn mới đã phát triển mạnh mẽ kể từ sau cuộc Nội chiến. Để phù hợp với tinh thần của thời đại, trường phái này chuyển tải thẳng ý tưởng giống như là một bức điện. Những ngôn từ hoa mỹ mà đã từng được coi là mốt một thời, nay không còn chỗ đứng trong thời đại này.
Những khán giả của thời đại mới, cho dù là mười lăm người trong một buổi hội thảo kinh doanh hay là một nghìn người trong một cái lều, tất cả đều muốn người nói phát biểu thẳng thắn như anh ta nói chuyện bình thường, và trong một phong cách giống như là anh ta trò chuyện với một người trong số họ.
Trong một phong cách giống như vậy, nhưng không phải với cùng âm lượng như thế. Nếu anh ta thử làm vậy, mọi người sẽ rất khó nghe được anh ta đang nói gì. Để được tự nhiên, anh ta sẽ phải dùng thêm rất nhiều năng lượng khi nói với bốn mươi người hơn là nói với một người; giống như một bức tượng trên đỉnh một tòa nhà phải có hình khối khổng lồ để làm cho nó trở nên giống thật khi quan sát từ dưới mặt đất.
Khi kết thúc buổi giảng của Mark Twain tại một trại khu mỏ ở Nevada, một người công nhân mỏ đã có tuổi tiến lại gần và hỏi ông: “Liệu họ có thể có được giọng nói tự nhiên và mạch lạc như ông không?”
Đó là thứ mà người nghe muốn “giọng nói tự nhiên và mạch lạc của bạn” được mở rộng một chút.
Hãy nói trước một Community Chest như là bạn nói với John Henry Smith. Một cuộc họp của Community Chest thực ra là gì hay chỉ là gồm toàn những ông John Henry Smith? Liệu cách mà bạn sử dụng hiệu quả với từng người một sẽ áp dụng được với khi họ tập hợp lại thành một đám đông?
Tôi đã miêu tả cách thức nói chuyện của một nhà tiểu thuyết. Cũng trong phòng mà bà đó đã nói chuyện, một vài ngày sau, tôi đã có vinh dự được nghe ngài Oliver Lodge nói chuyện. Chủ đề của ông là “Những nguyên tử và những thế giới”. Ông đã dành rất nhiều thời gian và công sức cho chủ đề. Ông có một thứ gì đấy mà là một phần hết sức quan trọng trong trái tim và tâm hồn và cuộc sống của ông. Ông đã quên - và bản thân tôi, cám ơn Chúa rằng ông đã quên - là ông giảng giải những kiến thức hết sức cao siêu. Ông không hề chú ý đến điều này. Ông chỉ quan tâm đến một thứ duy nhất là nói với khán giả về những hạt nguyên tử, nói với chúng tôi một cách chính xác, rành mạch và đầy cảm xúc. Ông tha thiết cố gắng làm cho chúng tôi thấy những cái mà ông đã thấy và cảm nhận được những cái mà ông đã cảm nhận.
Và kết quả là gì? Ông đã có một buổi thuyết giảng tuyệt vời - một buổi giảng đầy sự quyến rũ và sức mạnh. Buổi giảng đã tạo ra một ấn tượng sâu sắc đối với người nghe. Ông là một người diễn thuyết với khả năng đặc biệt. Tôi tin chắc rằng ông không hề coi mình là như vậy. Và tôi cũng chắc rằng rất ít người mà đã nghe ông nói lại nghĩ ông là một nhà diễn thuyết trước công chúng.
Nếu bạn đã đọc cuốn sách này và phát biểu trước công chúng khiến cho người nghe đoán là bạn đã qua học về môn diễn thuyết, bạn sẽ không phải là người diễn thuyết mà tác giả mong đợi. Ông ta rất muốn bạn nói với một sự tự nhiên cao độ mà những người nghe không bao giờ mơ là bạn đã được đào tạo. Một cửa sổ đẹp không bao giờ phải mời gọi ánh sáng đến mà để ánh sáng tự chiếu vào. Một nhà diễn thuyết thành công cũng giống như thế. Anh ta phát biểu tự nhiên đến mức mà làm cho người nghe không bao giờ chú ý đến cách anh ta nói; họ chỉ chú tâm vào chủ đề của anh ta.
Lời khuyên của Henry Ford
Những nhà sản xuất ô tô hãng Ford thường nói rằng: “Tất cả những chiếc xe Ford đều giống nhau, nhưng không bao giờ có hai người đàn ông giống nhau. Mọi sự sống mới đều mới mẻ dưới ánh nắng mặt trời; không hề có bất cứ thứ gì lại giống nó trước đây, và sẽ không bao giờ lại như thế. Một người thanh niên phải biết được điều này; anh ta nên tìm ra điểm khác biệt của bản thân mình so với những người khác, và phát triển nó bởi vì đấy mới chính là con người của anh ta. Xã hội và trường học có thể sẽ tìm cách loại bỏ những điểm khác biệt của anh ta; xu hướng của họ là cố đặt chúng ta vào trong một khuôn khổ chật hẹp, nhưng các bạn đừng để mất đi điểm nhấn của mình; nó là thứ duy nhất thể hiện tầm quan trọng của các bạn.”
Tất cả những điều đó thì lại đúng gấp hai lần đối với nghề diễn thuyết trước công chúng. Trong thế giới này, không có một người thứ hai nào giống bạn cả. Hàng trăm triệu người đều có hai mắt và một mũi và một mồm; không một ai trông hoàn toàn giống của bạn cả; và cũng không có ai lại có tính cách, phương pháp và tư duy giống hệt bạn. Rất ít người trong số họ sẽ phát biểu và thể hiện bản thân giống như khi bạn đang nói chuyện một cách tự nhiên. Nói một cách khác, bạn là người có cá tính. Khi là một nhà diễn thuyết, cá tính là tài sản quý báu nhất của bạn. Nắm chắc lấy nó. Nâng niu nó. Phát triển nó. Nó chính là điểm nhấn mà sẽ làm cho lời nói của bạn có sức mạnh, có tính thuyết phục và chân thành. “Cá tính là thứ duy nhất thể hiện sự quan trọng của bạn.”
Ngài Oliver Lodge phát biểu khác biệt so với những người khác bởi vì ông khác biệt so với họ. Phong cách nói chuyện riêng của ông chính là một phần cốt yếu trong cá tính bản thân ông cũng giống như bộ râu hay cái đầu hói của ông. Nếu ông cố bắt chước Loyd George, ông sẽ sai lầm và sẽ thất bại.
Những cuộc tranh luận nổi tiếng nhất ở nước Mỹ diễn ra vào năm 1858 trên các thị trấn của vùng thảo nguyên bang Illinois giữa thượng nghị sỹ Stephen A. Douglas và Abraham Lincoln. Ông Lincoln có dáng người cao, trông khá vụng về. Còn ông Douglas người thấp nhưng trông phong nhã. Tính cách, nội tâm và tư duy của cả hai người đàn ông này đều không hề giống như hình dáng bên ngoài.
Ông Douglas là một người học rộng hiểu sâu trên thế giới. Ông Lincoln là người thợ chuyển ray tàu hỏa, người đã phải đi đến từng nhà một để kêu gọi sự ủng hộ. Phong thái của ông Douglas hết sức nho nhã, còn của ông Lincoln vụng về, lóng ngóng. Ông Douglas không hề có sự dí dỏm hài hước trong khi đó ông Lincoln là một người có năng khiếu kể chuyện tuyệt vời nhất từ trước đến nay. Ông Douglas rất hiếm khi nở nụ cười trên môi. Ông Lincoln thường xuyên tranh luận bằng những sự so sánh và ví dụ minh họa. Ông Douglas cao ngạo và hống hách. Ông Lincoln khiêm tốn và vị tha. Ông Douglas suy nghĩ hết sức nhanh chóng, đối lập với sự chậm rãi của ông Lincoln. Ông Douglas nói nhanh như gió. Ông Lincoln trầm lắng, sâu sắc và chủ tâm hơn.
Cả hai người đàn ông này, không hề giống như bề ngoài của họ, đều là những nhà diễn thuyết tài năng bởi vì họ có lòng dũng cảm và là chính mình. Nếu một trong hai người cố gắng bắt chước người kia, anh ta sẽ gặp thất bại thảm hại. Nhưng mỗi người đã sử dụng tài năng kỳ lạ của chính bản thân mình để biến họ thành những cá nhân nổi trội và đầy sức mạnh. Hãy là chính mình.
Đó là một chỉ dẫn dễ dàng đưa ra. Nhưng liệu nó có phải là một chỉ dẫn dễ dàng để thực hiện được? Nói thẳng ra: nó không hề dễ gì làm được. Như ông Marshal Foch đã nói về cuộc chiến nghệ thuật: “Nó thật là đơn giản nếu xét trên định nghĩa, nhưng không may lại rất phức tạp trong thực hiện.”
Chúng ta phải luyện tập thường xuyên để có thể được tự nhiên trước khán giả. Những diễn viên biết điều này. Khi bạn còn nhỏ, khoảng 4 đến 5 tuổi, bạn rất có thể, nếu như bạn đã từng thử, leo lên bục diễn thuyết và “đọc diễn văn” cho khán giả nghe một cách tự nhiên. Nhưng khi bạn ở độ tuổi hai tư hay bốn tư, điều gì sẽ xảy ra khi bạn bước lên bục diễn thuyết để nói? Liệu bạn có thể giữ lại sự tự nhiên vô thức mà bạn đã từng có khi bốn tuổi? Bạn có thể, nhưng do đồng tiền bát gạo mà bạn sẽ trở nên mất tự nhiên, lúng túng và máy móc, và bạn sẽ thu mình lại giống như một chú rùa sợ sệt rụt đầu vào mai.
Cái khó trong việc giảng dạy và đào tạo những nhà diễn thuyết không phải là làm sao thêm tính cách cho họ; mà là làm cách nào để loại bỏ những rào cản, giải phóng họ, và giúp họ phát biểu một cách tự nhiên.
Đã hàng trăm lần tôi ngắt lời người phát biểu trong khi họ đang nói và tha thiết yêu cầu họ “hãy nói như là một con người.” Đã hàng trăm đêm tôi về nhà trong trạng thái mệt mỏi và kiệt sức do cố luyện và ép mọi người nói một cách tự nhiên. Không, hãy tin tôi, điều đó không hề dễ dàng như bạn tưởng đâu.
Và cách duy nhất dưới bầu trời này mà bạn có thể có được sự tự nhiên đó là luyện tập. Và khi bạn luyện tập, nếu bạn thấy mình đang nói với một phong cách cứng nhắc, hãy dừng lại và tự nói to với mình rằng: “Ê, bạn đang làm gì vậy? Thức tỉnh đi. Hãy là một con người.” Sau đó, bạn chọn một ai đó trong số khán giả, những người ở phía cuối, những người trông chán nản nhất mà bạn có thể tìm thấy, và nói chuyện với anh hay cô ta. Hãy quên đi sự có mặt của những người khác. Chuyện trò với anh ta. Hãy tưởng tượng là anh ta hỏi bạn một câu và bạn đang trả lời. Nếu anh ta định đứng lên và nói với bạn, và bạn đáp lại anh ta; quá trình đó ngay lập tức và chắc chắn sẽ làm cho bạn nói chuyện tự nhiên hơn, thẳng thắn hơn. Do đó, hãy tưởng tượng rằng tình huống như vậy đang diễn ra.
Bạn còn có thể đi xa hơn nữa là tự đặt ra câu hỏi và tự trả lời. Chẳng hạn như, khi đang nói, bạn có thể nói: “và bạn hỏi tôi có bằng chứng gì cho sự khẳng định này? Tôi có đầy đủ bằng chứng và chúng đây...”. Sau đó tiếp tục trả lời câu hỏi của mình. Những điều này có thể dễ dàng thực hiện được một cách tự nhiên. Nó sẽ phá vỡ sự đơn điệu buồn tẻ trong khi nói chuyện; nó sẽ làm cho buổi nói chuyện thẳng thắn, dễ chịu và cởi mở.
Sự chân thành, nhiệt tình và nghiêm chỉnh cũng sẽ giúp bạn. Khi một người bị tình cảm chi phối, con người thật của anh ta sẽ hiện ra. Những rào cản đổ xuống. Sức mạnh của những xúc cảm của anh ta sẽ thiêu rụi những hàng rào ngăn cản. Anh ta hành động tự nhiên. Anh ta nói một cách tự nhiên. Anh ta là tự nhiên.
Như vậy, cuối cùng, thậm chí cái vấn đề của diễn thuyết lại quay trở lại cái mà đã nhiều lần được nhấn mạnh trong quyển sách này: đó là đặt trái tim của bạn vào cuộc nói chuyện.
Dean Brown đã nói trong một buổi giảng đạo của ông tại khoa thần học của trường Yale: “Tôi sẽ không bao giờ quên câu chuyện của một người bạn tôi kể về một buổi lễ khi anh ta dự tại thành phố London. Người giảng đạo lúc đó là George MacDonald. Ông ta đọc bài Kinh thánh ở chương thứ mười một của Hebrews vào buổi sáng hôm đó. Khi đến bài nói về đạo đức, ông ta nói “Hẳn tất cả các con đã nghe nói nhiều về những người sùng đạo. Ta sẽ không cố nói cho các con biết sự sùng đạo là gì. Những giáo sư về thần học chắc sẽ làm tốt công việc này hơn ta rất nhiều. Ta đến đây để giúp các con có niềm tin”. Sau đấy là một sự thể hiện đơn giản, thành tâm và diệu kỳ về sự sùng đạo của ông ta trong sự thật vô hình mà kéo dài mãi mãi, làm nảy đức tin trong tâm trí và trái tim của những người nghe. Trái tim của ông ta nằm trong công việc của ông ta, và bài diễn thuyết của ông ta có tác dụng bởi vì nó dựa trên vẻ đẹp tuyệt trần của cuộc sống nội tâm bản thân ông.”
“Trái tim của ông ta nằm trong công việc của ông ta.” Đó là điều bí mật. Vâng, tôi biết rằng lời khuyên kiểu này không phổ biến lắm. Nó dường như mờ nhạt, khó hiểu. Các sinh viên bình thường muốn có những quy luật rõ ràng. Một thứ xác định được. Một thứ mà anh ta có thể đặt được vào lòng bàn tay. Những quy luật chính xác như những hướng dẫn lái một chiếc xe.
Đó là cái mà anh ta muốn. Đó là cái mà tôi có thể đưa cho anh ta. Nó có thể dễ dàng đối với anh ta, và cả cho tôi nữa. Đúng là có những quy luật như thế, nhưng lại có một sai sót nhỏ trong chúng: chúng không áp dụng được. Những quy luật đấy sẽ cướp đi tất cả tính tự nhiên, ngẫu hứng, sống động, nhiệt tình của người diễn thuyết. Tôi biết sẽ là như vậy. Khi còn trẻ, tôi đã cố gắng thử áp dụng chúng rất nhiều. Chúng sẽ không xuất hiện trong cuốn sách này bởi vì như Josh Billings đã nhận xét: “Sẽ chẳng có tác dụng gì khi biết quá nhiều điều mà không phải là như vậy.”
Trong khi diễn thuyết trước công chúng, bạn có thực hiện những điều này?
Ở đây, chúng ta sẽ bàn về một vài đặc điểm của khả năng diễn thuyết một cách tự nhiên trước công chúng để làm rõ và sống động hơn những đặc điểm đó. Lúc đầu, tôi không định viết những dòng này bởi vì chắc chắn sẽ có một ai đấy nói rằng: “À, tôi biết rồi, chỉ cần thúc ép bản thân làm những điều đó và mọi chuyện sẽ ổn thôi.” Không phải vậy đâu. Ép bản thân mình làm những điều đó và bạn sẽ trở nên vụng về và máy móc.
Bạn sử dụng hầu hết những quy tắc này khi bạn trò chuyện ngày hôm qua, sử dụng chúng trong vô thức như là bạn ăn bữa tối tối qua. Đấy chính là cách mà bạn sử dụng chúng. Và nó là cách duy nhất. Và nó chỉ đến, trong môn diễn thuyết trước công chúng, chỉ bằng cách luyện tập, điều mà chúng ta đã nói rất nhiều.
Đầu tiên: Nhấn mạnh những từ quan trọng, hạ giọng những từ không quan trọng.
Trong các cuộc trò chuyện bình thường, chúng ta nhấn mạnh vào một âm tiết trong một từ và lướt qua những âm tiết khác giống như một chiếc xe tốc độ cao lướt nhanh qua dòng người lang thang.
Đây không phải là một quá trình khó hiểu và bất bình thường mà tôi đang miêu tả. Nghe này. Bạn có thể nghe nói về nó hàng trăm lần. Bản thân bạn cũng đã thực hành nó hàng trăm lần, có khi là hàng nghìn lần vào ngày hôm qua.
Sau đây là một ví dụ. hãy đọc câu trích sau, nhấn vào những từ chữ hoa. Lướt nhanh qua những từ khác. Kết quả cuối cùng như thế nào?
Tôi đã THÀNH CÔNG trong những việc tôi đã làm, bởi vì tôi QUYẾT TÂM. Tôi KHÔNG BAO GIỜ CHẦN CHỪ trước những điều mà mang lại cho tôi LỢI THẾ hơn so với bất cứ ai trên thế giới. - Napoleon.
Đây không phải là cách duy nhất để đọc những dòng này. Những người khác có thể sẽ đọc nó theo một cách hoàn toàn khác. Không hề có những luật lệ cố định trong việc nhấn mạnh từ. Tất cả đều linh hoạt và tùy hoàn cảnh.
Hãy đọc đoạn dưới đây một cách dõng dạc và chân thành, cố gắng làm cho câu văn rõ ràng và có tính thuyết phục. Bạn có thấy mình nhấn mạnh vào những từ quan trọng và lướt qua những từ kém quan trọng hơn?
Nếu bạn nghĩ bạn đã bị đánh bại, bạn đã bị đánh bại
Nếu bạn nghĩ bạn không dám, bạn không dám
Nếu bạn muốn chiến thắng, nhưng lại nghĩ mình không thể chiến thắng
Một điều chắc chắn rằng bạn sẽ không chiến thắng.
Trong cuộc sống, phần thắng không phải lúc nào
Cũng thuộc về phía những người khỏe hơn nhanh hơn;
Mà dù sớm hay muộn người chiến thắng
Là người nghĩ rằng mình có thể chiến thắng.
- Anon
Có lẽ, không có thành tố nào quan trọng hơn sự quyết tâm cao độ. Một cậu bé sẽ trở thành một người đàn ông vĩ đại, hoặc là sẽ được mọi người nhớ đến sau khi qua đời, phải luôn xác định là không chỉ phải vượt qua hàng nghìn chướng ngại vật mà còn phải chiến thắng cho dù gặp phải hàng nghìn lần thất bại.
- Theodore Roosevelt
Thứ hai: Hãy thay đổi ngữ điệu của bạn
Âm lượng của giọng nói bạn sẽ theo chu kỳ lên bổng xuống trầm, không bao giờ đều đều mà luôn thay đổi như mặt biển nhấp nhô với những con sóng. Tại sao vậy? Không ai biết cả, và cũng chẳng ai quan tâm. Hiệu quả thật tuyệt vời và đó là phong cách tự nhiên. Chúng ta không bao giờ phải học để có thể làm được điều đó: nó đến với chúng ta như những đứa trẻ, không đòi hỏi, không nhận biết, nhưng lại để cho chúng ta đứng trước khán giả, và khi đó giọng nói của chúng ta trở nên đều đều, chán ngắt như là sa mạc ở Nevada vậy.
Khi bạn thấy mình đang phát biểu với giọng đều đều - và thường là giọng đó sẽ là cao - hãy dừng lại một lúc và tự nói: “Mình đang nói giống như một người Ấn Độ vụng về. Hãy nói chuyện với những người này. Hãy là con người. Hãy trở nên tự nhiên.”
Liệu lời khuyên này có giúp ích được gì cho bạn không? Có lẽ là một chút ít. Chính thời gian dừng lại đã giúp bạn rồi. Bạn phải thực hành nhiều để có thể đạt được đến sự hoàn mỹ.
Bạn có thể làm cho một từ hoặc cụm từ mà bạn chọn trở nên nổi bật như là cây nguyệt quế đứng trước sân bằng cách đột ngột hạ thấp giọng hoặc đột ngột lên giọng. Giáo sư S. Parkes, một vị bộ trưởng nổi tiếng của Brooklyn, thường làm như vậy. Và cả ngài Oliver Lodge nữa. Ông Bryan cũng vậy. Tổng thống Roosevelt không là ngoại lệ. Hầu hết các nhà diễn thuyết nổi tiếng trên thế giới đều có chung một cách như thế.
Trong câu trích sau, hãy cố đọc những chữ in nghiêng thấp hơn hẳn so với các từ khác. Hiệu ứng là gì?
Tôi chỉ có một điểm mạnh, đó là không bao giờ mất hy vọng - Marshal Foch.
Mục tiêu chính của giáo dục không phải là kiến thức, mà là hành động - Herbert Spencer.
Tôi đã sống tám mươi sáu năm rồi. Tôi đã chứng kiến những người đạt tới đỉnh vinh quang, hàng trăm người như vậy, và trong số tất cả những yếu tố dẫn đến sự thành công, yếu tố quan trọng nhất chính là niềm tin - Cardinal Gibbons.
Thứ ba: Hãy thay đổi tốc độ nói của bạn
Khi một đứa trẻ nói, hoặc là khi chúng ta nói chuyện phiếm, chúng ta thường thay đổi tốc độ nói. Điều này thật tuyệt diệu, hoàn toàn vô thức, có sự nhấn âm. Khả năng này thực sự là cách tốt nhất để nêu bật một ý.
Trong tác phẩm Reporter’s Lincoln của ông, phát hành bởi công ty Missouri Historical Society, Walter B. Stevens cho chúng ta biết đó là một trong những phương pháp ưa thích nhất của tổng thống Lincoln để diễn đạt một ý:
Ông nói rất nhanh một vài từ, sau đó là các từ hoặc cụm từ mà ông muốn nhấn mạnh, và kéo dài âm tiết các từ hoặc cụm từ đó. Và tiếp đến, ông nhanh chóng kết thúc phần cuối của câu trong chớp mắt... Ông dành nhiều thời gian cho một hoặc hai từ mà ông muốn nhấn mạnh bằng với thời gian mà ông dành cho nửa tá các từ phía sau.
Phương pháp kiểu này lúc nào cũng thu hút được sự chú ý của khán giả. Để minh họa: Tôi thường trích câu của Cardinal Gibbons trong một buổi diễn thuyết công cộng; tôi dành nhiều thời gian cho các từ in nghiêng, để riêng chúng ra nói như thể bản thân tôi rất ấn tượng với chúng - và tôi đã làm như thế. Bạn hãy vui lòng đọc to đoạn văn dưới đây, hãy cố sử dụng cách này và ghi lại kết quả.
Một thời gian ngắn trước cái chết của ông, Cardinal Gibbons nói: “Tôi đã sống tám mươi sáu năm rồi. Tôi đã chứng kiến những người đạt tới đỉnh vinh quang, hàng trăm người như vậy, và trong số tất cả những yếu tố dẫn đến sự thành công, yếu tố quan trọng nhất chính là niềm tin. Một người sẽ không đạt được điều gì nếu như anh ta không có niềm tin.”
Hãy thử câu này: nói nhanh và nhẹ cụm từ “ba mươi triệu đôla” để làm cho chúng trở nên kém quan trọng và nghe như là một từ. Và bây giờ, nói: “ba mươi nghìn đôla”; nói hết sức chậm rãi, đầy cảm xúc; nói cụm từ như là bạn đang rất ấn tượng với độ lớn của khoản tiền. Có phải giờ đây bạn đã làm cho khoản tiền ba mươi nghìn đôla nghe có vẻ lớn hơn khoản ba mươi triệu.
Thứ tư: Dừng lại một lúc trước và sau những ý quan trọng.
Tổng thống Lincoln thường dừng lại trong khi nói. Khi ông có một ý quan trọng muốn người nghe nắm rõ, ông vươn người về phía trước, nhìn sâu vào trong mắt họ và không nói gì cả. Sự im lặng đột ngột này có tác dụng giống như âm thanh đột ngột vang lên: nó thu hút sự chú ý. Nó làm cho mọi người chú ý, thức tỉnh, và chờ đợi xem cái gì sắp tới. Một ví dụ là, khi những cuộc tranh luận nổi tiếng giữa ông và Douglas sắp kết thúc, khi mà tất cả mọi thứ đều cho thấy ông thua cuộc, ông cảm thấy chán nản, thất vọng, nỗi buồn day dứt lại quay trở lại choán hết cả tâm trí ông lúc đó, và truyền cảm xúc mạnh mẽ vào những lời ông nói. Trong một bài diễn văn kết thúc, ông đột nhiên “dừng lại và đứng yên lặng một lúc, nhìn mọi người xung quanh nửa hờ hững, nửa thân thiện, với những đôi mắt chìm trong sự muộn phiền và dường như luôn chứa đầy giọt nước mắt chực trào ra.” Gập tay lại như thể chúng đã quá mệt mỏi vì cuộc chiến thất bại, ông nói bằng một giọng đều đều kỳ lạ: Hỡi những người bạn của tôi, sẽ chẳng có gì khác biệt nếu như ông thẩm phán Douglas hay tôi được bầu vào thượng nghị viện Hoa Kỳ; nhưng vấn đề mà chúng tôi đưa ra cho các bạn ngày hôm nay lớn hơn rất nhiều, rất nhiều lợi ích cá nhân hay chính trị của bất cứ ai. Và các bạn của tôi”, ông lại dừng lại ở đây một lần nữa, và người nghe giờ đây lắng nghe từng lời của ông, “vấn đề đó sẽ tồn tại mãi và cháy sáng ngay cả khi những giọng điệu tẻ nhạt, lặp lại của thẩm phán Douglas và của tôi đã im lặng dưới nấm mồ”.
Một người viết tiểu sử của ông đã viết: “Những từ đơn giản đó và cách mà chúng được nói ra chạm sâu tới tận trái tim của mọi người.”
Lincoln cũng dừng lại sau những cụm từ mà ông muốn nhấn mạnh. Ông tạo ra thêm sức mạnh bằng việc giữ im lặng khi mà ý nghĩa của chúng lắng sâu và in đậm trong tâm trí người nghe.
Ngài Oliver Lodge thường dừng lại trong khi nói, cả trước và sau những ý quan trọng; ông dừng lại nhiều ba đến bốn lần trong một câu, nhưng ông làm việc đó hết sức tự nhiên và trong vô thức. Không một ai, trừ những người muốn phân tích cách nói của ngài Oliver, để ý điều này.
Kipling nói: “Bạn nói ngay cả khi bạn yên lặng”. Không ở nơi nào mà sự yên lặng lại quý giá như khi đang diễn thuyết. Nó là một công cụ đầy sức mạnh và quan trọng đến nỗi không thể bỏ qua, nhưng lại thường bị những người mới học diễn thuyết lãng quên.
Đoạn trích sau trong tác phẩm Ginger Talks của Holman, tôi đã đánh dấu những nơi mà một nhà diễn thuyết nên dừng lại. Tôi không nói đấy là những chỗ mà một người phải dừng, thậm chí là chỗ dừng tốt nhất. Tôi chỉ nói đó là một trong những cách dừng trong khi nói. Khi nào thì dừng lại không hề có quy luật cụ thể. Nó chỉ là vấn đề của cảm xúc và tính cách. Bạn có thể dừng ở một chỗ trong bài diễn văn ngày hôm nay, nhưng lại dừng ở chỗ khác trong cùng bài diễn văn đó ngày mai.
Bạn hãy đọc to đoạn văn sau mà không dừng ở đâu cả; sau đó đọc lại nó, dừng lại ở những chỗ mà tôi đã đánh dấu. Hiệu quả của việc dừng lại là gì?
“Thương trường là chiến trường” (Dừng lại và để cho ý nghĩa của từ chiến trường đọng lại) “và chỉ có những người chiến đấu mới có thể giành chiền thắng” (Dừng và để cho điểm này đọng lại.) “Chúng ta có thể không thích những điều kiện này, nhưng chúng ta không tạo ra chúng do đó chúng ta không thể thay đổi chúng.” (Dừng.) “Hãy dũng cảm lên khi bạn tham gia vào thương trường” (Dừng.) “Nếu không,” (dừng lại và kéo dài thời gian dừng cho một giây) “bạn sẽ bị đánh bại trong tất cả các cuộc chiến tham gia, khi ghi được bất cứ điểm nào ngoài trứng ngỗng.” (Dừng.) “Không ai có thể ghi được 3 điểm mà lại e ngại cầu thủ ném bóng” (dừng và để cho điểm này đọng lại.) - “hãy nhớ điều này” (dừng và để cho điểm này đọng lại thêm nữa.) “Cầu thủ mà bắt lấy quả bóng và ném nó qua hàng rào rồi chạy về sân nhà luôn là người mà dẫm lên vị trí phát bóng” (dừng và tăng quãng ngắt của những lời mà bạn sẽ nói về cầu thủ tài năng này) “với một quyết tâm cao độ trong trái tim.”
Hãy đọc to những câu dẫn sau với sức mạnh và cảm hứng. Hãy chú ý tới những chỗ bạn dừng lại một cách tự nhiên.
Sa mạc lớn nhất của Mỹ không phải nằm tại Idaho, bang New Mexico hay bang Arizona. Nó nằm ở dưới mũ của một người bình thường. Sa mạc vĩ đại của nước Mỹ là sa mạc tinh thần chứ không phải là sa mạc hiện hữu - J. S. Knox.
Không hề có một cây đũa thần kỳ giải quyết được mọi khó khăn của con người; phương tiện mà có thể đạt tới gần điều đó chính là sự công khai - Giáo sư Foxwell.
Có hai người mà tôi phải làm hài lòng - Chúa trời và Garfield. Tôi phải sống với Garfield bây giờ và với Chúa trời sau này - James A. Garfield.
Một nhà diễn thuyết có thể đi theo đường hướng mà tôi đã nêu ra trong chương này, nhưng vẫn sẽ mắc phải hàng trăm lỗi. Anh ta có thể phát biểu trước công chúng giống như là anh ta đang trò chuyện với một ai đó. Kết quả là anh ta có thể nói với giọng điệu khó nghe, mắc lỗi ngữ pháp, trở nên lúng túng và thô lỗ, làm những việc không đẹp. Cách nói chuyện tự nhiên hàng ngày của một người sẽ cần phải chỉnh sửa rất nhiều. Hãy chuẩn mực hóa cách nói chuyện tự nhiên của bạn và sau đó đưa nó lên bục diễn thuyết.
1. Có một nhân tố quan trọng ngoài những lời nói đơn thuần ảnh hưởng tới bài phát biểu. Đó là cách mà chúng ta phát biểu. “Bạn nói gì không quan trọng bằng bạn nói như thế nào.”
2. Rất nhiều nhà diễn thuyết không quan tâm đến người nghe: nhìn qua đầu thính giả hoặc nhìn xuống sàn nhà. Họ dường như đang độc thoại chứ không phải là đang phát biểu. Không hề có mối liên lạc, không có sự trao đổi qua lại giữa người nghe và người nói. Phong cách kiểu này sẽ giết chết cuộc nói chuyện; nó cũng giết luôn bài diễn văn.
3. Cách phát biểu tốt là nói với giọng tự nhiên, thẳng thắn với âm lượng đủ nghe. Hãy nói trước một hội từ thiện như là bạn nói với ông John Smith. Rốt cuộc ủy ban từ thiện là gì nếu không phải là một tập hợp các ông John Smith?
4. Bất cứ ai cũng có thể diễn thuyết. Nếu bạn nghi ngờ điều này, hãy thử nó với chính mình; hãy thử xúc phạm một người đàn ông ngu ngốc nhất mà bạn từng biết; khi anh này đứng lên đáp trả lại lời xúc phạm của bạn, cách nói của anh ta là hoàn toàn chuẩn mực. Chúng tôi muốn bạn cũng có sự tự nhiên đó khi phát biểu trước công chúng. Để làm được việc này, bạn phải thực hành thường xuyên. Đừng bắt chước những người khác. Nếu bạn nói một cách tự nhiên, bạn sẽ nói khác so với bất cứ người nào trên thế giới. Hãy đặt cá tính và bản chất của bạn vào bài phát biểu.
5. Hãy nói với người nghe như thể là bạn trông, đợi họ đứng lên đối đáp với bạn! Nếu họ sắp sửa làm như vậy, phương cách diễn thuyết của bạn chắc chắn đã được cải thiện nhiều. Do vậy, hãy tưởng tượng là có ai đó hỏi bạn mội câu hỏi, và bạn lặp lại câu hỏi đó. Nói to lên, “Bạn hỏi làm sao mà tôi biết điều này? Tôi sẽ nói cho bạn nghe,”... Cách này sẽ tỏ ra rất tự nhiên: nó sẽ phá vỡ tính lễ nghi trong phong cách nói của bạn; nó sẽ làm sống dậy cách nói của bạn.
6. Hãy đặt trái tim của bạn vào lời nói. Sự chân thành, những rung cảm thực sự sẽ giúp bạn hơn bất cứ quy tắc nào của Christendom.
7. Có bốn thứ mà chúng ta làm hoàn toàn vô thức trong những cuộc nói chuyện thành thật. Nhưng bạn có làm những điều này khi bạn phát biểu trước công chúng? Hầu hết mọi người không làm.
a. Bạn có nhấn mạnh những từ quan trọng trong một câu và lướt nhanh qua những từ không quan trọng? Bạn có dành sự chú ý như nhau cho hầu hết các từ, bao gồm các từ cái, và, nhưng hay là bạn nói một câu gần giống như cách bạn nói từ MassaCHUsetts?
b. Âm điệu của bạn có lên xuống nhịp nhàng không? - giống như âm điệu của một đứa trẻ khi nói?
c. Bạn có thay đổi tốc độ nói, lướt nhanh qua các từ không quan trọng, dành nhiều thời gian cho những từ mà bạn muốn làm nó nổi bật?
d. Bạn có dừng lại trước và sau những ý quan trọng?