Nghệ Thuật Nói Trước Công Chúng

Lượt đọc: 70 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Xii - Nâng Cao Khả Năng Chọn Từ Của Bạn
Tổng Kết

❊ ❊ ❊

Một người Anh, không nghề nghiệp, không tiền bạc, đang đi trên những con phố của thành phố Philadelphia tìm kiếm việc làm. Anh ta bước vào văn phòng của ông Paul Gibbons, một thương gia nổi tiếng của thành phố đó và xin được phỏng vấn. Ông Gibbons nhìn người lạ đó với thái độ thiếu tin tưởng. Diện mạo của anh ta rõ ràng là chống lại anh ta. Quần áo của anh ta chỉ đã sờn, cũ kỹ, và toàn bộ con người anh ta toát lên sự thiếu thốn không thể nhầm lẫn được. Nửa vì tò mò, nửa vì thương hại, ông Gibbons đồng ý phỏng vấn anh ta. Đầu tiên, ông chỉ định nghe một lúc thôi, nhưng một lúc của ông đã trở thành hàng chục phút rồi lên tới hàng giờ; và cuộc nói chuyện vẫn tiếp tục. Cuộc phỏng kết thúc bằng việc ông Gibbons gọi điện cho ông Roland Taylor, giám đốc của công ty Dillon Read ở Philadelphia; và ông Taylor, một trong những chuyên gia tài chính hàng đầu của thành phố đó, mời người lạ đó đến ăn tối và nhận anh ta vào làm việc ở một vị trí quan trọng. Người đàn ông đó là một người như thế nào, khi mà diện mạo bên ngoài của anh ta trông rất bình thường, mà có thể tạo ấn tượng mạnh mẽ như vậy trong một thời gian ngắn?

Bí mật đó có thể được phơi bày trong đúng cụm từ sau: khả năng ngôn ngữ của anh ta. Trên thực tế anh ta là một người của trường đại học Oxford, đến đất nước này để kinh doanh nhưng đã gặp thất bại thảm hại làm cho anh ta không biết đi đâu, không tiền bạc và không bạn bè. Nhưng anh ta nói tiếng mẹ đẻ hay tuyệt đến nỗi mà người nghe anh ta ngay lập tức quên đi đôi giầy phai màu, áo sờn chỉ và mặt không cạo râu của anh ta. Khả năng ăn nói là tấm vé thông hành giúp anh ta bước vào giới doanh nhân đầy danh vọng.

Câu chuyện về người đàn ông này có vẻ như là không tưởng, nhưng nó minh họa cho một sự thật là chúng ta bị đánh giá hàng ngày qua cách ăn nói. Những từ chúng ta nói cho biết sự tinh tế của chúng ta: các từ ngữ đó nói với những người nghe hiểu biết về nghề nghiệp, địa vị xã hội của chúng ta: chúng là dấu hiệu nhận biết về văn hóa và trình độ học vấn.

Chúng ta chỉ có bốn mối liên lạc với thế giới, bạn và tôi. Chúng ta được đánh giá và phân loại bởi bốn thứ: bởi những gì chúng ta làm, bởi chúng ta trông như thế nào, bởi chúng ta nói những gì và bởi chúng ta nói như thế nào. Nhưng rất nhiều người đã mắc một sai lầm trong suốt cuộc đời, sau khi rời khỏi ghế nhà trường, không hề cố nỗ lực chủ động làm giàu ngôn từ của mình, làm chủ ngữ nghĩa của chúng, nói với sự chính xác và rõ ràng. Nhiều người thường lặp đi lặp lại những từ và cụm từ sáo mòn. Chẳng mấy ai để ý cách nói của họ thiếu sự rõ ràng và cá tính. Và cũng chẳng mấy ai để ý rằng mình đã vi phạm chuẩn ngôn ngữ truyền thống, và rằng đã vượt quá giới hạn chuẩn ngữ pháp tiếng Anh.

Nhiều năm trước đây, vào một buổi trưa, tôi đứng ngủ gà ngủ gật ở đấu trường Coliseum ở Rome. Một người lạ tiến tới phía tôi, một người Anh thuộc địa. Anh ta tự giới thiệu mình, và bắt đầu nói về kinh nghiệm của anh ta ở thành phố Bất tử. Anh ta chưa nói được ba phút, anh ta đã nói “Tôi xong”. Sáng hôm đó, khi tỉnh dậy, anh ta đã đánh đôi giầy của mình sáng bóng và khoác lên mình bộ sa tanh tinh tươm để làm nổi bật mình và để có được sự tôn trọng từ những người khác mà anh gặp; nhưng anh ta lại không hề cố gắng làm giàu vốn ngôn từ của mình và nói những câu cụt lủn. Đáng ra anh ta phải lấy làm xấu hổ, chẳng hạn, khi không bỏ mũ ra khi nói chuyện với một người phụ nữ hay dùng sai ngữ pháp, làm cho những người có học cảm thấy khó nghe, nhưng anh ta đã không xấu hổ - anh ta thậm chí còn không nhận ra điều đó. Bằng chính những lời lẽ của anh ta, người nghe đã đánh giá và xếp loại anh ta. Khả năng sử dụng tiếng mẹ đẻ tồi của anh ta đã chứng tỏ không thể nhầm lẫn được rằng anh ta là một người không có văn hóa.

Giáo sư Charles W. Eliot, sau khi là là hiệu trưởng trường đại học Harvard trong khoảng một phần ba thế kỷ, đã tuyên bố rằng: “Tôi nhận ra chỉ một điều duy nhất như là một phần không thể thiếu trong trình độ học vấn của quý ông hay quý bà là khả năng sử dụng chuẩn xác và tinh tế ngôn ngữ mẹ đẻ.” Đây là một lời tuyên bố lớn lao. Hãy suy nghĩ về nó.

Nhưng bạn có thể hỏi làm cách nào chúng ta trở nên quen thuộc với từ ngữ, để nói chúng với sự chuẩn xác và tinh tế? May mắn thay, không hề có sự kỳ bí nào về cách để đạt được điều này, không trò lừa. Phương pháp đó là một bí mật mở. Tổng thống Lincoln đã sử dụng nó một cách điêu luyện. Không một người Mỹ nào từng làm được như vậy, thêu dệt nên những từ ngữ hết sức duyên dáng hoặc và những bài văn xuôi hay như vậy: “với sự độc ác không dành cho ai và với tình thương dành cho tất cả.” Tổng thống Lincoln, với ông bố là một người thợ mộc mù chữ, vụng về và mẹ là một người không có gì nổi bật, liệu ông có được Thượng đế ban tặng năng khiếu sử dụng từ ngữ? Không hề có bằng chứng nào chứng tỏ sự suy đoán này. Khi được bầu vào Quốc hội ông đã tả lại trình độ học vấn trong một biên bản chính thức ở Washington, với một tính từ “thiếu sót”. Ông chỉ đến trường chưa tới mười hai năm trong toàn bộ cuộc đời mình. Vậy ai là người dạy ông? Zachariah Birney và Caleb Hazel trong những khu rừng ở Kentucky. Azel Dorsey và Andrew Crawford thung lũng Pigeon ở Indiana - tất cả họ, những nhà truyền giáo, đi khắp nơi từ nơi định cư của những người khai hoang này đến nơi định cư khác để tìm ra những học giả mà sẵn sàng dạy họ số học, đọc, viết để đổi lấy thịt, lúa mỳ và ngũ cốc. Tổng thống Lincoln có được rất ít sự trợ giúp và động lực từ cuộc sống hàng ngày của ông.

Những người nông dân và nhà buôn, những luật sư và người kiện, những người mà ông quen biết tại Eighth Judicial District ở Illinois, không có khả năng ăn nói tốt, nhưng Lincoln thì không như vậy - và đây là yếu tố đáng nhớ - tổng thống Lincoln không lãng phí tất cả thời gian của mình với những người không hơn hoặc kém mình. Ông kết bạn với cả những người học thức rộng, có khả năng diễn đạt tốt, ca sỹ, nhà thơ đương thời. Ông có thể nhắc thuộc lòng tất cả những trang của Bums và Byron và Browning. Ông viết bài giảng về Bums. Ông có một bản sao những bài thơ của Byron ở văn phòng mình và một bản khác tại nhà. Ông sử dụng nhiều lần bản sao ở văn phòng đến nỗi mà nó đã thành nếp, mỗi khi mở ra là đến ngay tác phẩm Don Juan. Thậm chí khi ở trong Nhà Trắng và những gánh nặng to lớn của cuộc Nội chiến làm suy kiệt sức lực và hằn những nết nhăn trên mặt ông, ông thường có sắp xếp thời gian để đọc những bài thơ của Hood trước khi đi ngủ. Đôi khi ông tỉnh dậy lúc nửa đêm, và mở quyển sách, ông gặp những bài thơ rất hay và đầy cảm xúc. Thức dậy, chỉ khoác mỗi chiếc áo ngủ và đôi dép đi trong nhà, ông băng qua gian chính cho tới khi tìm được người giúp việc mình và đọc cho anh ta nghe hết bài thơ này đến bài thơ khác. Trong Nhà Trắng, ông vẫn có thời gian đọc lại, ghi nhớ những đoạn dài vở kịch của Shakespeare, bình luận cách hiểu của những diễn viên về một đoạn nào đó và đưa ra cách hiểu riêng của mình. Ông viết cho Hackett, một diễn viên, “Tôi đã đọc một số tác phẩm của Shakespeare, có lẽ nhiều hơn bất cứ một người đọc không chuyên nào. Lear, Richard III, Henry VIII, Hamlet, và nhất là Macbeth. Tôi nghĩ không gì có thể sánh được với Macbeth. Tác phẩm đó thật là tuyệt vời.”

Tổng thống Lincoln rất yêu thích thơ ca. Ông không chỉ nhớ và đọc thơ khi ở một mình và cả trước công chúng mà còn sáng tác thơ. Ông đã đọc một bài thơ dài do ông sáng tác tại bữa tiệc cưới của người chị. Sau này, ở độ tuổi trung niên, ông viết đầy những bài thơ mà ông sáng tác vào một quyển vở, nhưng ông lại cảm thấy xấu hổ về những tác phẩm này đến nỗi ông không bao giờ cho phép bất cứ ai đọc chúng kể cả những người bạn thân thiết nhất của ông.

Robinson viết trong cuốn Lincoln, con người của kiến thức “Người đàn ông tự học này khoác lên bộ óc mình một tấm áo choàng kiến thức rộng lớn. Dù gọi đó là tài năng hay là thiên tài. Phương pháp để đạt được điều này đã được giáo sư Emerton miêu tả khi nói về giáo dục của Erasmus: “Ông không còn học ở trường nữa, nhưng vẫn tự đào tạo mình bằng một phương pháp sư phạm mà cho dù ở đâu cũng mang lại kết quả, đó là bằng phương pháp của lòng nhiệt tình không bao giờ nguội liên tục nghiên cứu và thực hành.”

Người khai phá vụng về này, người đã từng bóc từng vỏ hạt ngũ cốc và mổ thịt lợn để kiếm được ba mươi mốt cent một ngày tại trang trại Pigegon Creek của vùng Indiana, đã, tại Gettysburg, có một trong những bài phát biểu hay trong lịch sử loài người. Một trăm bảy mươi nghìn người lính đang chiến đấu ở đó. Bảy nghìn người lính đã hy sinh. Và Charles Sumner đã nói, ngay sau khi Lincoln qua đời, rằng bài phát biểu của ông sẽ tồn tại cho dù những ký ức về cuộc chiến đã phai nhạt, và rằng cuộc chiến sẽ được nhớ tới chủ yếu bởi vì bài diễn văn. Ai sẽ nghi ngờ tính đúng đắn của lời dự đoán này?

Edward Everrett đã phát biểu trong hai tiếng đồng hồ tại Gettysburg; tất cả những gì ông ta nói đã bị lãng quên từ lâu. Tổng thống Lincoln chỉ nói chưa đầy hai phút: một nhà nhiếp ảnh định chụp chân dung ông khi ông ông đang phát biểu, nhưng Lincoln đã kết thúc bài nói trước khi chiếc máy ảnh nguyên thủy đó được lắp đặt và lấy hình.

Bài diễn văn của Lincoln đã được khắc vào một bản đồng không bao giờ bị phân hủy và đặt tại một thư viện của Oxford như là một ví dụ về tính giàu và đẹp của ngôn ngữ tiếng Anh. Bài diễn văn này phải được tất cả những sinh viên theo học môn diễn thuyết ghi nhớ8.

Tám mươi bảy năm trước, cha ông chúng ta đã tạo dựng nên một quốc gia mới từ lục địa này, với tư tưởng tự do, và trung thành với lời tuyên bố rằng tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng. Bây giờ chúng ta đang tham gia vào một cuộc nội chiến to lớn, chứng minh liệu quốc gia này, hoặc bất kỳ một quốc gia nào khác hoàn toàn tin tưởng và trung thành vào lý tưởng, có thể tồn tại. Chúng ta đang chiến đấu trên một mặt trận ác liệt. Chúng ta đã dành một phần của chiến trường này làm nơi an nghỉ cuối cùng cho những chiến sỹ mà đã hy sinh cuộc sống của họ cho đất nước này. Giờ là thời điểm rất thích hợp tất cả chúng ta làm điều này. Nhưng trong một ý nghĩa rộng lớn hơn chúng ta không thể dành, chúng ta không thể dâng hiến, chúng ta không thể thần thánh hóa mảnh đất này. Những người lính dũng cảm, dù còn sống hay đã chết, những người đã chiến đấu ở đây, đã dâng hiến mảnh đất, lớn hơn rất nhiều sức mạnh nhỏ bé của chúng ta. Thế giới sẽ ít chú ý, hoặc nhanh chóng quên điều chúng ta đang nói ở đây, nhưng sẽ không bao giờ có thể quên được những gì chúng ta làm ở đây. Chúng ta, những người còn sống ở đây phải dành trọn sức lực của mình cho công việc vẫn chưa hoàn thành mà họ những chiến sỹ đã chiến đấu ở đây đã tiến bước đầy tự hào. Nhiệm vụ của chúng ta ở đây là cống hiến sức lực và trí óc cho nhiệm vụ to lớn còn nằm phía trước, rằng lòng kính trọng linh hồn của người đã khuất, chúng ta càng trân trọng sự nghiệp đấy, sự nghiệp mà họ đã dành sự cống hiến đến giây phút cuối cùng; rằng chúng ta với quyết tâm không gì lay chuyển được sẽ không làm cho những sự hy sinh đó là vô ích; rằng quốc gia này, dưới sự che chở của Chúa, sẽ có tự do mới; và rằng chính phủ của dân, do dân và vì dân sẽ không bao giờ biến mất khỏi trái đất này.

Đa số mọi người đều cho rằng tổng thống Lincoln là người sáng tạo ra những dòng văn bất tử mà kết thúc bài diễn thuyết đó; nhưng liệu có phải thực sự thế không? Hemdon, luật sư của ông, vài năm trước đó, đã đưa cho tổng thống Lincoln những bài diễn văn của Theodore Parker. Tổng thống Lincoln đã đọc và đánh dấu trong cuốn sách những từ “Dân chủ là cách tự quản tốt nhất, của tất cả nhân dân, vì tất cả nhân dân và cho tất cả nhân dân”. Theodore Parker có thể đã mượn những ngôn từ đó từ Webster người đã từng nói bốn năm trước đó khi trả lời Hayne rằng: “Chính phủ của dân, lập ra vì dân và lập ra bởi dân.” Webster cũng lại có thể mượn câu nói đó từ tổng thống James Monroe người đã đưa ra ý kiến tương tự trước đó một phần ba thế kỷ. Và tổng thống James Monroe mượn ai câu đó? Năm trăm năm trước khi tổng thống Monroe đuợc sinh ra, Wyclif đã nói, trong một tựa đề được dịch ra của Kinh thánh, rằng “cuốn Kinh thánh này là dành cho chính phủ của dân, do dân và vì dân.” Và rất lâu trước thời của Wyclif, hơn 400 năm trước khi Chúa ra đời, Cleon, trong một bài diễn thuyết trước người dân thành Athehs, đã nói về một người cai trị “của dân, do dân và vì dân.” Và từ nguồn cổ xưa nào mà Cleon có được câu nói đó là vần đề chưa được giải đáp, đã bị chìm vào màn sương mù, màn đêm và sự lãng quên.

Sự phát hiện này chẳng có gì mới. Thậm chí những nhà diễn thuyết vĩ đại đã mượn rất nhiều từ những cuốn sách mà họ đã đọc.

Những cuốn sách! Đó là bí mật! Một người muốn làm phong phú và mở rộng vốn từ vựng phải để cho trí óc của anh ta ngập liên tục trong bể văn chương. John Bright đã nói: “Chỉ duy nhất một sự ca thán mà tôi luôn cảm thấy khi ở trong thư viện là cuộc sống quá ngắn ngủi và tôi không có hy vọng được tận hưởng trọn vẹn một bữa ăn ngon”. Ông Bright rời ghế nhà trường lúc mười lăm tuổi, và vào làm việc tại một xưởng chế biến bông, và ông không bao giờ có cơ hội quay trở lại trường học một lần nữa. Thế mà ông đã trở thành một trong những nhà diễn thuyết tài năng nhất của thế hệ đó, nổi tiếng về khả năng làm chủ ngôn ngữ tiếng Anh. Ông đọc, nghiên cứu và ghi lại vào các cuốn vở và cố học thuộc những đoạn dài từ thơ của Byron và Milton, và Wordsworth và Whittier, và Shakespeare và Shelley. Ông đọc hết cuốn “Paradise Lost” hàng năm để làm giàu vốn từ vựng của mình.

Charles James Fox đọc to các tác phẩm của Shakespeare để nâng cao kỹ năng của mình. Gladstone gọi thư viện của ông là một “Ngôi đền của hòa bình”, trong đó ông giữ mười lăm nghìn cuốn sách. Ông đã tiết lộ là ông được nâng cao năng lực ngôn ngữ nhiều nhờ do đọc các tác phẩm của St. Augustine, giám mục Butler, Dante, Aristotle, và Homer. Tác phẩm Iliad và Odyssey đã làm ông mê mệt. Ông viết sáu cuốn sách về thơ và thời đại của Homeric.

Phương pháp của Pitt, một người trẻ tuổi hơn, là đọc một trang sách hoặc hai trang sách viết bằng tiếng Hy Lạp hoặc La tinh sau đó dịch trang sách đó ra tiếng mẹ đẻ. Ông thực hành phương pháp này trong vòng 10 năm, và “ông đã có được kỹ năng hầu như không ai có thể sánh kịp là diễn đạt suy nghĩ, không cần phải chuẩn bị trước, một cách trôi chảy và tinh tế”.

Demosthenes viết tay lại lịch sử Thucydides tám lần để ông có thể nhớ được những ngôn từ ấn tuợng và sắc sảo của nhà lịch sử nổi tiếng đó. Kết quả là gì? Hai nghìn năm sau, để nâng cao kỹ năng của mình Woodrow Wilson nghiên cứu các tác phẩm của Demosthnes. Ông Asquish tìm ra cách đào tạo mình tốt nhất là đọc những tác phẩm của giám mục Berkeley.

Tennyson nghiên cứu kinh thánh hàng ngày. Tolstoy đọc và đọc lại sách Phúc âm cho đến khi ông nhớ những đoạn dài. Mẹ của Ruskin ép ông hàng ngày, liên tục phải nhớ những chương dài của Kinh thánh, và đọc to toàn bộ cuốn sách đó hằng năm, “mỗi âm, tên khó và tất cả, từ Genesis tới Apocalypse.” Bằng kỷ luật và học tập, Ruskin đã có để lại dấu ấn trong thế giới văn chương.

R. L. S được coi là những chữ cái đầu tiên được yêu thích nhất trong tiếng Anh. Robert Louis Stevenson là nhà văn của những nhà văn. Làm cách nào mà ông phát triển được văn phong quyến rũ giúp ông trở nên nổi tiếng? May mắn thay, ông đã kể cho chúng ta câu chuyện về bản thân ông.

Mỗi khi tôi đọc một cuốn sách hay một trang sách có dùng từ sắc sảo và phong cách viết mới lạ đặc sắc, tôi liền ngồi ngay xuống và cố gắng bắt chước cách viết và từ ngữ đó. Tôi đã không thành công và tôi biết điều này; và lại thử một lần nữa, và lại không thành công, và luôn luôn không thành công. Nhưng ít ra trong những cố gắng vô vọng đẩy tôi đã có một chút kinh nghiệm và thực hành về ngữ điệu, sự cân đối, cấu trúc và sự kết hợp giữa các phần.

Tôi đã bắt chước đi bắt chước lại cách hành văn của Hazlitt, của Lamb, của Wordsworth, của Ngài Thomas Browne, của Deoe, của Hawthorme, của Montaigne.

Đấy, dù thích hay không, là cách học để viết; cho dù tôi có thu được điều gì hay không, nhưng đấy chính là phương pháp. Đó là cách mà ông Keats đã sử dụng và đã không có một giọng văn nào hay hơn của ông Keats.

Nó là điểm lớn nhất của những sự bắt chước này mà vẫn còn tỏa sáng vượt qua tâm của các sinh viên, khuôn mẫu có thể bắt chước được của ông. Hãy để anh ta thử đến khi nào anh ta chán, chắc chắn anh ta sẽ thất bại; và đó là một câu ngạn ngữ rất cổ xưa và nhưng rất đúng rằng thất bại là mẹ của thành công.

Như thế là đã đủ những cái tên và những câu truyện. Bí mật đã lộ ra. Tổng thống Lincoln đã viết thư cho một người trẻ tuổi rất muốn trở thành một luật sư: “Chỉ cần cầm quyển sách và đọc và nghiên cứu chúng một cách kỹ lưỡng. Làm việc, làm việc, làm việc là điều chính nhất.”

Những quyển sách nào vậy? Hãy bắt đầu bằng cuốn How to Live on Twenty-four hours a Day của Arnold Bennett. Cuốn sách này sẽ làm bạn thức tỉnh như là một buổi tắm nước lạnh. Nó sẽ nói cho bạn biết rất nhiều điều thú vị - bản thân bạn. Nó sẽ cho bạn thấy một ngày bạn đã lãng phí bao nhiêu thời gian, làm cách nào ngăn chặn sự lãng phí đó, và làm cách nào sử dụng thời giờ mà bạn tiết kiệm được. Cả cuốn sách chỉ dày một trăm linh ba trang. Bạn có thể đọc hết cuốn sách trong vòng một tuần. Hãy đọc hai mươi trang mỗi buổi sáng, và đặt nó vào trong túi bạn. Và sau đó chỉ đọc báo buổi sáng trong vòng mười phút thay vì thường dùng hai mươi hoặc ba mươi phút.

Tổng thống Thomas Jefferson đã viết: “Tôi đã đổi báo lấy Tacitus và Thucydides, lấy Newton và Euclid. Và tôi cảm thấy hạnh phúc hơn rất nhiều”. Bạn có tin rằng bạn, bằng việc học tập phương pháp của tổng thống Jefferson, giảm một nửa thời gian dành cho báo chí sẽ cảm thấy bạn hạnh phúc hẳn, thông tuệ hơn khi mỗi tuần trôi qua. Liệu bạn, cho dù như thế nào, có sẵn sàng thử điều này trong vòng một tháng và dành thời gian mà bạn tiết kiệm được cho những cuốn sách tuyệt vời bất diệt? Tại sao không đọc những trang trong cuốn sách mà bạn mang theo trong túi khi đứng đợi cầu thang máy, đợi xe buýt, đợi thức ăn và đợi hẹn hò?

Sau khi bạn đọc hai mươi trang đó, thay thế chúng, đọc tiếp hai mươi trang sau. Khi bạn đọc hết chúng rồi, hãy bọc quyển sách đã được đọc đó lại. Liệu có tốt hơn rất nhiều không nếu quyển sách bị nhàu nát và bám bụi nhưng những dòng chữ đã in sâu trong đầu bạn so với việc để quyển sách trên giá không đọc ở trong thư viện?

Sau khi bạn đã đọc xong cuốn How to Live on Twenty-four hours a Day, bạn có thể sẽ quan tâm đến một cuốn sách khác cùng tác giả. Hãy thử đọc cuốn The Human Machine. Cuốn sách này sẽ giúp bạn đối xử với mọi người khéo léo hơn. Quyển sách sẽ giúp bạn phát triển phong thái đĩnh đạc và điềm tĩnh. Những cuốn sách tôi giới thiệu ở đây không phải chỉ bởi vì những gì viết trong đó mà còn vì ngôn từ trong đó bạn khó có thể sánh kịp.

Tôi cũng xin gợi ý một số quyển sách bổ ích: The Octopus và The Pitt của Frank Norris, hai cuốn tiếu thuyết hay nhất của nước Mỹ đã từng được biết đến. Cuốn đầu tiên kể về những xáo động và bi kịch con người xuất hiện trên những cánh đồng lúa mỳ của vùng California; cuốn thứ hai miêu tả cuộc chiến giữa con bò và con gấu trên sàn giao dịch ở Chicago. Tess of the d’Urbervilles của Thomas Hardy là một trong những câu chuyện hay nhất từng kể. A Man's Value to Society của Newell Dwight Hillis và giáo sư William James, tác phẩm Talks to Teachers là hai cuốn sách đáng để đọc. Ariel, A life of Shelley của André Maurois, Childe Harold’s Pilgrrimage của Byron và Travel with a Donkey của Robert Louis Stevenson cũng nên nằm trong danh sách của bạn.

Hãy kết bạn với Ralph Waldo Emerson và hàng ngày nói chuyện với ông ta. Hãy xin ông ta đưa cho bạn bài luận nổi tiếng của ông “Tự lập.” Hãy để ông ta nói thầm vào tai bạn những câu như kiểu này:

Hãy nói lên niềm tin ẩn sâu trong lòng của bạn, và nó sẽ là niềm tin toàn vũ trụ; bởi vì những điều thầm kín nhất luôn trở thành những điều bộc bạch nhất, - và ý nghĩ đầu tiên của chúng ta sẽ được phản ánh lại với chúng ta qua kèn trompet của Lời phán quyết cuối cùng. Quen thuộc như là âm thanh của ý nghĩ, chúng ta dành tặng những lời ca ngợi tốt đẹp nhất dành cho Moses, Plato, và Milton bởi vì họ tấn công những quyển sách vô nghĩa truyền thống lạc hậu, và nói những điều mà con người ta suy nghĩ chứ không phải là điều mà họ nói. Một người nên học cách phát hiện và quan sát một chút tia sáng mà chợt lóe lên trong tâm trí anh ta từ những từ ngữ tinh tế của nhà thơ và nhà hiền triết. Nhưng anh ta lại quên ngay những ý nghĩ của mình bởi vì chúng là của anh ta. Trong mọi tác phẩm của các thiên tài chúng ta nhận ra những ý tưởng bị lãng quên của chính mình: Những ý tưởng đó quay lại với chúng ta trong sự kỳ diệu ngạc nhiên. Những tác phẩm - nghệ thuật vĩ đại dạy chúng ta những điều không hơn gì những quyển sách này. Chúng dạy ta hãy hành động theo nhưng cảm hứng bất chợt với tính hài hước không đổi và sau đó những nỗi buồn đã lùi về phía sau. Nếu không vào sáng hôm sau, một người lạ sẽ nói với một phong cách bậc thầy đúng những gì mà chúng ta đã nghĩ và cảm nhận suốt hôm qua, và chúng ta sẽ cảm thấy xấu hổ buộc phải công nhận ý tưởng của mình là của người khác.

Trong quá trình học tập của bất cứ ai thì sẽ có lúc nào đó anh ta sẽ nhận ra rằng sự ghen tỵ là sự ngu ngốc; và rằng sự bắt chước là hành động tự vẫn; và rằng anh ta phải coi mình dù tốt hay xấu là một phần trong xã hội; rằng mặc dù vũ trụ rộng lớn có rất nhiều điều tốt đẹp, nhưng phần cốt lõi của trái cây dinh dưỡng chỉ có thể đến với anh ta khi anh biết rằng công sức cày cấy mảnh đất đưa cho anh ta chăm sóc. Sức mạnh mà tồn tại trong anh ta là mới trong tự nhiên, không ai trừ bản thân anh ta biết anh ta có thể làm gì chỉ khi mà anh ta thử sức.

Nhưng thực sự là chúng ta đã để nhà văn giỏi nhất cuối cùng. Họ là gì? Khi ngài Henry Irving được hỏi ý kiến về danh sách một trăm quyển sách hay nhất, ông trả lời: “Trước một trăm cuốn sách, tôi đề xuất hai cuốn - Kinh thánh và Shakespeare.” Ngài Henry đã đúng. Hãy uống từ hai nguồn nước văn học vĩ đại đó. Hãy uống nhiều và thường xuyên. Hãy ném tờ báo buổi tối một bên và nói, “Hỡi ngài Shakespeare hãy đến đây và nói chuyện với tôi về Romeo và Juliet, về Macbeth và tham vọng của anh ta”.

Nếu bạn làm những điều này, phần thưởng nào bạn sẽ giành được? Dần dần và vô thức, nhưng chắc chắn là thế, vốn ngôn từ của bạn sẽ trở nên phong phú và tinh tế. Dần dần, bạn sẽ bắt đầu học được những vinh quang, vẻ đẹp và oai nghiêm của những người bạn của bạn. Goeth đã nhận xét: “Hãy nói với tôi bạn đọc gì và tôi sẽ nói bạn là ai.”

Chương trình đọc mà tôi đưa ra này sẽ đòi hỏi chỉ lòng yêu thích và sự tiết kiệm thời gian... Bạn có thể mua những bản sao bỏ túi những bài luận của Emerson và Shakespeare với giá chỉ năm mươi cent.

Bí mật của Mark Twain với cách dùng từ

Nhà văn Mark Twain đã phát triển khả năng sử dụng từ một cách hết sức duyên dáng của ông như thế nào? Khi còn trẻ, ông đã đi suốt từ Missouri tới Nevada trên một xe ngựa chậm chạp và cũ kỹ. Cả người và ngựa đều phải chở thực phẩm - và đôi khi cả nước uống. Thêm tải trọng có thể hàm ý giữa sự sống và cái chết; hành lý của ông thì hầu như chả có gì cả, chỉ nặng chừng một ounce, nhưng Mark Twain vẫn mang bên mình cuốn từ điển Unabrridged của Webster suốt chặng đường, qua núi, qua sa mạc nắng cháy, và qua những miền đất của những tên cướp và của người da đỏ. Ông muốn biến mình thành vua của ngôn từ, và với lòng can đảm và lý trí, ông quyết tâm làm những việc cần thiết để trở thành vị vua đó.

Cả Pitt và huân tước Chatham đều nghiên cứu cuốn từ điển đó hai lần mỗi trang, mỗi từ. Browning mải mê với nó hàng ngày, nhận thấy cuốn từ điển rất thú vị và có ích. Tổng thổng Lincoln “có thể ngồi ở chỗ tranh tối tranh sáng để đọc một cuốn từ điển miễn sao ông vẫn còn đọc được chữ”. Không hề có trường hợp ngoại lệ. Những nhà văn, nhà diễn thuyết nổi tiếng đều làm như thế.

Woodrow Wilson sử dụng ngôn từ tiếng Anh rất điệu nghệ. Một số bài viết của ông - một phần trong lời Tuyên Chiến với Đức - chắc chắn sẽ có chỗ đứng trong làng văn chương. Dưới đây là câu chuyện của bản thân ông về cách làm chủ ngôn từ:

Bố tôi không bao giờ cho phép bất cứ ai trong gia đình sử dụng sai cách diễn đạt. Bất cứ người con nào diễn đạt sai đều được chỉnh sửa ngay lập tức; bất cứ một từ nào mới sẽ được giải thích; mỗi người chúng tôi đều được khuyến khích sử dụng từ đó trong các cuộc chuyện trò để làm sao in tin đó vào đầu.

Một nhà diễn thuyết ở thành phố New York thường được ca ngợi về cách dùng cấu trúc câu chắc chắn, dùng từ giản dị nhưng tinh tế. Trong một buổi nói chuyện gần đây, ông đã phá lệ tiết lộ bí quyết cách chọn từ đắt và chính xác của ông. Mỗi khi ông phát hiện ra một từ mới khi nói chuyện hoặc là khi đọc sách, ông viết nó vào một cuốn sổ ghi nhớ của ông. Sau đó, trước khi đi ngủ, ông mở từ điển ra tra và biến từ đó thành từ của mình. Nếu như ông không gặp từ mới nào trong cả một ngày, ông sẽ nghiên cứu một hoặc hai trang Từ đồng nghĩa, Từ trái nghĩa, Giới từ của Fernald, ghi chú nghĩa chính xác của từ mà ông thông thường tìm một từ đồng nghĩa tương đương. Một ngày một từ mới - đó là khẩu hiệu của ông. Điều này có nghĩa trong suốt một năm ba trăm sáu mươi nhăm công cụ ngôn ngữ mới được đưa vào. Những từ mới được ghi vào một quyển vở nhỏ bỏ túi, và nghĩa của chúng sẽ được xem lại trong những lúc rỗi rãi trong ngày. Ông nhận thấy rằng một từ đã là nằm trong sở hữu của ông khi ông sử dụng nó ba lần.

Những câu chuyện thú vị đằng sau ngôn từ bạn sử dụng

Sử dụng từ điển không chỉ để nắm rõ được ngữ nghĩa của từ mà còn để tìm nguồn gốc của từ đó. Lịch sử, nguồn gốc của từ thường được chú thích trong dấu ngoặc đơn sau định nghĩa của nó. Bạn đừng bao giờ nghĩ rằng những từ mà bạn sử dụng mỗi ngày là tẻ nhạt và vô tri vô giác. Chúng đầy màu sắc; chúng sống động với những mối tình lãng mạn. Chẳng hạn bạn không thể nói một điều hết sức đơn giản thôi như “Telephone the grocer for sugar (Hãy gọi điện đến hàng bách hóa để đặt mua đường)” mà không sử dụng những từ mà chúng ta đã mượn từ rất nhiều ngôn ngữ của các nền văn minh trên thế giới. Từ Telephone được cấu thành từ hai từ của tiếng Hy Lạp, tele có nghĩa là xa, và phone có nghĩa là âm thanh. Grocer có nguồn gốc là một từ cổ tiếng Pháp, grpssie, và từ này lại đến từ một từ gốc Latin, grossarlus, nghĩa đen của nó một người bán sỷ. Từ Sugar của chúng ta cũng là từ có nguồn gốc tiếng Pháp; người Pháp mượn nó từ người Tây Ban Nha; người Tây Ban Nha lại mượn nó từ người Ả-rập; người Ả-rập lấy nó từ người Ba Tư; và từ shaker trong tiếng Ba Tư có nguồn gốc từ từ carkara của người Sanskrit, có nghĩ là kẹo.

Bạn có thể làm việc cho hoặc là chủ một công ty (company). Từ Company bắt nguồn từ tiếng Pháp có nghĩa là người bạn (companion); và từ companion, theo nghĩa đen, là cấu thành bởi com (cùng) và panis (ăn bánh mỳ). Một công ty (company) thực sự là một hiệp hội của những nguời cùng làm ra bánh mỳ. Tiền lương của bạn (salary) nghĩa đen có nghĩa là tiền muối của bạn. Những người lính thành Rome được cung cấp chi phí sinh hoạt hàng ngày bằng muối, vào một ngày có một người lính khôi hài nói rằng toàn bộ thu nhập của anh ta salarium, và tạo ra một từ mà từ lâu đã trở thành một từ tiếng Anh đáng tôn trọng. Bạn đang cầm trên tay một cuốn sách (book). Nghĩa đen của từ là cây sồi (beech), từ lâu lắm rồi người Anglo-Saxons viết những từ của họ lên các cây sồi và lên trên những tấm gỗ cây sồi. Đồng dollar mà bạn có trong túi nghĩa đen là thung lũng (valley). Từ Dollar lần đầu tiên được nói đến trong cuốn Thaler hay dale hay valley của St. Joachim vào thể kỷ mười sáu.

Tháng thứ bảy (July) được đặt tên theo Julius Caesar; như vậy Hoàng đế Augustus, không hề muốn bị kém cỏi hơn, gọi tháng kế tiếp là August (tháng tám). Nhưng tháng tám lại chỉ có ba mươi ngay vào thời gian đó, và Augustus không muốn tháng mang tên mình lại ngắn hơn tháng mang tên của Julius; do đó ông ta đã lấy một ngày của tháng hai sang tháng tám; và dấu ấn của tên trộm kiêu căng này vẫn hiện rõ trên lịch đang treo trong nhà bạn ngày hôm nay. Thật vậy, bạn sẽ nhận thấy lịch sử các từ rất hấp dẫn.

Hãy cố tra từ trong các từ điển lớn để tìm hiểu nguồn gốc của từ: atlas (tập bản đồ), boycott (tảy chay), ngũ cốc (cereal), khổng lồ (colossal), concord (sự hòa hợp), lệnh giới nghiêm (curfew), giáo dục (education), tài chính (finance), lunatic (thuộc mặt trăng), panic (đau đớn), palace (cung điện), tiền tài (pecuniary), bánh sandwich (sandwich), nhử mồi (tantalize). Hãy đọc những câu chuyện đằng sau những từ đó. Chúng sẽ làm cho các từ trở nên sống động và thú vị gấp đôi. Sau đó, bạn sẽ sử dụng chúng với niềm vui thích và hứng thú.

Viết lại một câu một trăm linh tư lần

Hãy cố gắng nói đúng như điều bạn muốn nói, diễn đạt ý tưởng với sắc thái tinh tế nhất. Điều này không phải lúc nào cũng dễ dàng - thậm chí là đối với cả một nhà văn. Fann Hurst đã nói với tôi là đôi khi bà phải viết lại các câu văn từ năm mươi đến một trăm lần. Chỉ vài ngày trước cuộc nói chuyện này, bà nói là bà đã phải viết lại một câu văn đúng một trăm linh tư lần. Mabel Herbert Umer tâm sự với tôi rằng có khi bà dành cả buổi trưa để chỉnh sửa một hoặc hai câu trong một tác phẩm truyện ngắn mà sẽ được đăng trên một vài tờ báo.

Gouverneur Morris đã kể lại phương pháp tỷ mẫn của Richard Harding Davis để chọn được một từ đúng:

Mọi cụm từ trong câu chuyện khoa học viễn tưởng, trong vô số những cụm từ mà ông có thể viết ra, là những cụm từ đẹp nhất, còn sót lại sau đánh giá rất khắt khe của ông. Các cụm từ, các đoạn văn, các trang, thậm chí là cả câu truyện được viết lại và viết lại rất nhiều lần. Ông làm việc với nguyên tắc loại trừ. Nếu ông muốn diễn đạt một chiếc xe đi qua một cái cổng, đầu tiên, ông viết một đoạn miêu tả dài và đầy đủ không thiếu bất cứ một chi tiết nào mà một cặp mắt tinh tường nhất có thể nhận ra. Và từ đó, ông sẽ bắt đầu lược bỏ dần những chi tiết mà ông cảm thấy rất khó khăn để bỏ đi; và sau mỗi lần lược bỏ, ông tự hỏi: “Liệu bức tranh vẫn vậy chứ?” Nếu bức tranh thay đổi, ông sẽ khôi phục lại chi tiết mà ông vừa loại ra, và thử làm với những chi tiết khác. Cứ như thế và như thế cho đến khi bức tranh của ông hiện lên trước mắt người đọc sinh động, rõ ràng và đầy đủ (hoàn chỉnh mọi chi tiết). Chính những bức tranh đó đã làm cho câu truyện của ông quyến rũ người đọc và được nhớ mãi.

Hầu hết mọi người trong chúng ta không có thời gian hoặc sự thích thú để tìm kiếm cẩn thận những từ đắt giá. Những ví dụ này được đưa ra để chứng tỏ cho bạn thấy những nhà văn coi trọng cách sử dụng từ và diễn đạt chuẩn xác như thế nào. Tôi hy vọng rằng những ví dụ đó có thể khuyến khích các sinh viên ngày càng quan tâm đến cách sử dụng ngôn từ tiếng Anh. Tất nhiên, một nhà diễn thuyết không nên ngập ngừng trong một câu để tìm ra những từ diễn đạt chuẩn xác mà anh ta nên luyện tập diễn đạt chính xác hàng ngày cho đến khi nó trở nên thuần thục. Anh ta nên, nhưng liệu anh ta có làm như vậy hay không?

Người ta ước tính Milton sử dụng tám nghìn từ, và Shakespeare là mười lăm nghìn từ. Một quyển từ điển chuẩn chứa đựng năm mươi nghìn từ, ít hơn nửa triệu; nhưng theo một nguồn tính toán khá tin cậy, một người trung bình chỉ sử dụng khoảng hai nghìn từ. Anh ta có một vài động từ, đủ liên từ để nối chúng lại với nhau, một ít danh từ, và một vài tính từ được dùng quá nhiều lần. Anh ta có thể quá lười nhác, lười suy nghĩ, hoặc là quá bị công việc chiếm hết thời gian để có thể trau dồi vốn từ. Kết quả là gì? Hãy để tôi đưa cho bạn thấy một ví dụ minh họa. Tôi đã từng có một vài ngày không thể quên dưới chân ngọn Tháp Bút Chì ở Colorado. Vào một buổi trưa, tôi nghe thấy một quý bà dùng lặp đi lặp lại một tính từ với con chó su (nguồn gốc Trung Quốc), với buổi hòa nhạc, với dáng hình của một người đàn ông, và với Ngọn Tháp Bút Chì. Tất cả đều là “đẹp” (beautiful).

Bà ta nên nói cái gì? Dưới đây là những từ đồng nghĩa với từ beautiful mà Roget đã liệt kê.

Những tính từ nào mà bạn nghĩ là bà ta nên sử dụng?

Tính từ: beautiful, beauteous, handssome, pretty, lovely, graceful, elegant, exquisite, delicate, dainty.

comely, fair, goodly, bonny, good-looking, well- favored, well-formed, well-proportioned, shapely, symmetrical, harmonious.

bright, bright-eyed, rosy-cheeked, rosy, ruddy, blooming, in full bloom.

trim, trig, tidy, neat, spruce, smart, jaunty, dapper, brilliant, shining, sparkling, radiant, splendid, resplendent, dazzling, glowing, glossy, sleek, rich, gorgeous, surperb, magnificent, grand, fine.

artistic, athetic, picturesque, pictorial, enchanting, attrative, becominh, ornamental.

perfect, unspotted, spotless, immaculate, undeformed undefaced.

passable, presentable, tolerable, not amiss.

Những từ đồng nghĩa vừa được đưa ra là từ cuốn Treasury of Words của Roget. Nó là phiên bản rút gọn của cuốn Thesaurus của ông. Quyển sách này thật là bổ ích. Đối với bản thân tôi, tôi không bao giờ viết mà không có quyển sách này bên cạnh. Tôi sử dụng cuốn này nhiều hơn mười lần so với số lần tôi sử dụng quyển từ điển.

Ông Roget đã dành hàng năm trời để viết quyển sách đấy; và quyển sách này sẽ giúp ích cho bạn. phục vụ bạn cả cuộc đời với giá chỉ bằng một cái càvạt loại thường. Nó không phải là cuốn sách chỉ để bám bụi trên giá sách của bạn. Nó là một công cụ phải được sử dụng hàng ngày. Hãy sử dụng quyển sách khi bạn viết và làm giàu vốn ngôn từ của bạn. Hãy sử dụng quyển sách khi viết thư và viết báo cáo. Hãy sử dụng quyển sách hàng ngày, và nó sẽ gấp đôi thậm chí là gấp ba khả năng dùng từ của bạn.

Hãy tránh những cụm từ sáo mòn

Bạn hãy cố không chỉ diễn đạt chính xác mà còn cả mới mẻ và độc đáo. Hãy dũng cảm nói lên ý kiến của mình, bởi vì “Chúa sinh ra những điều như thế.” Ví dụ như, ngay sau trận Đại hồng thủy, những ý kiến độc đáo ban đầu đã sử dụng sự so sánh “lạnh như quả dưa chuột” (cool as a cucumber). Một sự so sánh quá hay bởi vì nó quá mới. Thậm chí là cho đến lễ hội nổi tiếng Belshazzar, nó vẫn còn giữ được đủ sự độc đáo và mới mẻ và vẫn còn được sử dụng trong những bài diễn văn sau bữa tối. Nhưng người nào mà tự hào về sự độc đáo của mình sẽ sai lầm nếu lặp lại cách so sánh đấy trong thời đại này.

Dưới đây là mười hai cách để diễn đạt giá lạnh. Chẳng lẽ những cách diễn đạt này lại không hay hơn, mới hơn và được chấp nhận nhiều hơn sự so sánh đã quá nhàm chán của “quả dưa chuột”?

Lạnh như sương sớm.

Lạnh như một túi nước buổi sáng.

Lạnh như que nhồi thuốc súng.

Lạnh như quan tài.

Lạnh như những núi băng ở Greenland.

Lạnh như đất - Coleridge.

Lạnh như một con rùa - Richard Cumberland.

Lạnh như đống tuyết - Allan Cunningham.

Lạnh như muối - James Huneker.

Lạnh như con sâu đất - Maurice Maeterlinck.

Lạnh như buổi sớm.

Lạnh như cơn mưa mùa thu.

Chọn cụm từ nào là hoàn toàn tùy thuộc vào bạn, nhưng hãy nghĩ tới những cách diễn đạt tương tự để nói lên giá lạnh. Hãy cố gắng làm khác biệt sự so sánh. Hãy viết chúng vào đây

Lạnh như...

Lạnh như...

Lạnh như...

Lạnh như...

Lạnh như...

Tôi một lần đã hỏi Kathleen Norris về cách bà phát triển văn phong. Bà trả lời rằng “Bằng việc đọc những tác phẩm văn học và thơ cổ và lược bỏ những cụm từ lặp lại quá nhiều.”

Một nhà biên tập tạp chí đã từng nói với tôi rằng ông tìm ra hai hoặc ba cụm từ bị lặp lại trong một câu truyện gửi đến để đăng, ông ngay lập tức gửi lại bài đó cho tác giả mà không phải phí thời gian đọc nó; bởi vì, ông ta cho biết thêm, người mà không có sự độc đáo trong diễn đạt sẽ có ít sự sáng tạo trong suy nghĩ.

1. Người với người chỉ giao tiếp với nhau qua bốn phương cách. Bốn thứ giúp đánh giá và phân loại một con người là: anh ta làm gì, anh ta trông như thế nào, anh ta nói gì và anh ta nói như thế nào. Chúng ta thường rất hay được nhận xét và đánh giá qua ngôn từ mà chúng ta sử dụng. Giáo sư Charles W. Eliot, hiệu trưởng trường đại học Harvard trong khoảng một phần ba thế kỷ, đã từng tuyên bố rằng: “Tôi nhận ra chỉ một điều duy nhất như là một phần không thể thiếu trong trình độ học vấn của quý ông hay quý bà là khả năng sử dụng chuẩn xác và tinh tế ngôn ngữ mẹ đẻ.”

2. Cách dùng từ của chúng ta phản ảnh khá rõ những nguời mà chúng ta qua lại. Vậy hãy noi gương tổng thống Lincoln, kết bạn với những người sử dụng ngôn ngữ bậc thầy. Hãy dành cả buổi tối, giống như ông thường làm, để đọc các tác phẩm của Shakespeare và những bài thơ, bài văn tuyệt diệu khác. Hãy làm như vậy. Chắc chắn và tự nhiên tâm hồn bạn sẽ trở nên sáng láng với vốn từ vựng phong phú mà bạn học được từ những người vĩ đại.

3. Tổng thống Thomas Jefferson đã viết: “Tôi đã đổi báo lấy Tacitus và Thucydides, lấy Newton và Euclid. Và tôi cảm thấy hạnh phúc hơn rất nhiều”. Tại sao bạn lại không làm như thế nhỉ? Đừng thôi hẳn không đọc báo mà chỉ xem lướt qua với chỉ một nửa thời gian trước đây. Hãy dành những khoảng thời gian mà bạn tiết kiệm được từ đọc báo cho những quyển sách tồn tại mãi với thời gian. Mỗi ngày hãy đọc hết khoảng hai mươi đến ba mươi trang của những cuốn sách đó, mang chúng theo người, và đọc chúng vào những lúc có thể được trong ngày.

4. Hãy đọc với một cuốn từ điển bên cạnh bạn. Tra những từ mới. Hãy cố tìm cách sử dụng từ đó sao cho nó in sâu vào trong tâm trí bạn.

5. Hãy nghiên cứu lịch sử, nguồn gốc của những từ mà bạn sử dụng. Những câu chuyện về chúng không bao giờ tẻ nhạt và khô khan đâu; mà thường hết sức thú vị. Ví dụ như từ salary (lương) thực sự có nghĩa là salt money (tiền muối). Những người lính ở thành Roman được cung cấp chi phí sinh hoạt bằng các bọc muối để trao đổi lấy những thứ khác. Và một hôm, một anh lính vui tính đã tạo ra một từ lóng khi nói về lương của mình là salt money.

6. Đừng sử dụng nhũng từ sáo mòn, cũ rích. Hãy chuẩn xác trong cách diễn đạt. Hãy luôn để cuốn Treasury of Words trên mặt bàn của bạn. Xem cuốn đó thường xuyên. Đừng lúc nào cũng sử dụng từ “beautiful” (đẹp) khi có một vật nào đó rất bắt mắt. Bạn có thể diễn tả vẻ đẹp đó với sự độc đáo và mới mẻ bằng cách sử dụng các từ đồng nghĩa khác.

7. Đừng sử dụng những lối so sánh nhàm chán giống như “lạnh như quả dưa chuột”. Hãy tìm ra những lối so sánh mới. Tạo ra cái của riêng bạn. Đừng ngại khi cảm thấy không giống ai.

SONG HÀ biên dịch
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.