Khấu Kiếm Độc Tiếu

Lượt đọc: 71 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phụ Lục Một: Tạp Đàm Công Pháp

❊ ❊ ❊

Vô cùng cảm ơn sự ủng hộ của các bạn độc giả thân yêu. Trong bộ tiểu thuyết trước mang tên "Võ Lâm Đế Vương", một phần nhật ký tâm đắc của các học viên theo tác giả tu hành được đưa vào phần phụ lục đã nhận được sự cổ vũ và hưởng ứng rộng rãi từ đông đảo bạn đọc! Nay, xin ghi lại thêm một phần những sự tích kỳ diệu đã xảy ra trong quãng thời gian trước đây — có lẽ các bạn sẽ gọi đó là "đặc dị công năng", có lẽ gọi là "thần thông", hoặc thậm chí là "sự trùng hợp"!

Tám bài viết ở đây lần lượt là:

Một, "Pháp hội nhân duyên": Kể về việc dự đoán sự kiện tai nạn máy bay của Hàng không Liên hợp Quốc gia.

Hai, "Khởi đầu của thiên nhãn thông": Trình bày cách tác giả bắt đầu phá vỡ giới hạn thời gian!

Ba, "Thiên nhĩ thông và văn tự bát nhã": Thuật lại việc chỉ cần nghe văn tự của một người chưa từng gặp mặt, là có thể biết được tình trạng sức khỏe cùng đủ thứ chuyện của họ.

Bốn, "Kinh nghiệm gia trì từ xa của tôi": Giải thích việc khoảng cách không gian có thể dùng "tâm" để vượt qua.

Năm, "Buổi chiều thứ bảy": Là một bài thảo luận thú vị về một số vấn đề cơ bản của Pháp Bảo Đàn Kinh.

Bảy, "Nhân duyên lớn Phật gọi đến": Hồi tưởng lại những chuyện lớn nhỏ khi đạo tràng vừa mới thành lập.

Tám, "Ác mộng mà tôi biết": Thường ngày có rất nhiều người hay gặp ác mộng, trong bài viết này, quá trình cá nhân phá giải nghiệp lực đó sẽ được thuật lại.

Tám bài viết này là những trải nghiệm kỳ dị khi đạo tràng mới được thành lập, hy vọng các độc giả có thể dành cho tác giả sự khích lệ, để có thêm dũng khí tiếp tục viết những bài viết về phương diện này! Đồng thời cũng kính mong các độc giả thân yêu không tiếc lời chỉ giáo!

Một, Pháp hội nhân duyên. Vào ngày 8 tháng 7 năm 1989, tôi đã tổ chức pháp hội đầu tiên tại Phật đường, đặt tên là "Tam Thế Diệu Duyên Pháp hội". Ý nghĩa của việc đặt tên này nằm ở chỗ "Kiếp quá khứ tiêu tai, kiếp hiện tại hồi hướng, kiếp vị lai cầu phúc", mượn công đức pháp hội này để giải quyết nợ nần nhân duyên túc mệnh với chúng sinh mười phương, cùng gieo trồng bồ đề cho kiếp sau.

Hôm đó là thứ bảy, ngoài hai mươi hai học viên của phật đường đến dự, họ còn giới thiệu thêm hơn hai mươi người thân và bạn bè cùng đến chung vui. Thoáng chốc, bốn, năm mươi con người đã chen chúc chật ních phật đường nhỏ bé của chúng tôi. Có lẽ vì là lần đầu tiên tổ chức pháp hội.

Mọi người đều vô cùng hào hứng.

Hôm ấy, mẹ và người chị họ Trịnh đương nhiên đều có mặt, hai người họ là hộ pháp lớn nhất che chở cho phật đường này. Nghĩ lại vào ngày 25 tháng 3, số tiền trong người tôi chẳng còn lại là bao, chính là nhờ vào sự góp tiền góp sức của hai người họ mà chỉ trong vòng vỏn vẹn một tuần ngắn ngủi, chúng tôi đã tìm được nhà, bày trí mọi thứ và hoàn thành xong xuôi. Làm thế nào mà trong một thời gian ngắn như vậy lại có thể thuê được một địa điểm ưng ý cơ chứ? Đó chính là nhờ ơn Đại Tự Tại Vương Phật, Quan Tự Tại Bồ Tát dùng uy đức thần thông lực từ bi gia bị chỉ thị trong một lần nhập định nên mới hoàn thành tâm nguyện này nhanh chóng nhất — lúc bước vào căn nhà này vào thời điểm đó, tôi đã biết ngay đây chính là nơi này, không khác chút nào so với những gì nhìn thấy trong định.

"Con có căng thẳng không?" Mẹ và chị họ hỏi tôi.

"Không đâu ạ, mấy ngày nay khi con lạy Phật niệm Phật, Đại Tự Tại Vương Phật cùng chư Phật Bồ Tát đã ban cho con niềm tin vô cùng lớn, con tin rằng pháp hội lần này sẽ có kỳ tích xuất hiện." Đối với những người phụ nữ vĩ đại phải gánh vác tiền thuê nhà đắt đỏ bốn vạn tệ trong hai tháng này, pháp hội lần này là một sự đền đáp, tuyệt đối không được phép thất bại.

Sở dĩ tôi có lòng tin lớn nhường ấy, ngoài việc tin rằng chư Phật Bồ Tát ắt sẽ dẫn dắt thiên long bát bộ hộ pháp bảo hộ chánh pháp ra, thì chính là bởi trước đây hễ có pháp hội ở đâu, chỉ cần đến nơi đó là có thể dự đoán trước được chuyện gì sẽ xảy ra, kết quả của việc tổ chức pháp hội sẽ ra sao...

Một giờ rưỡi chiều, pháp hội chính thức bắt đầu. Sau khi cung kính thành khẩn xướng ba tiếng thánh hiệu Đại Tự Tại Vương Phật, chúng tôi hành lễ với nhau rồi ngồi xuống. "Hình thức pháp hội của bổn môn không giống với những pháp hội hiện đang được tổ chức bên ngoài. Trong ba giai đoạn này, chúng ta không gõ khánh khôngngụa kinh, hoàn toàn dùng phương thức tịnh thiền tu chung, đem niệm lực từ bi khởi lên từ tâm gửi đến chúng sinh mười phương pháp giới..."

Tôi giải thích phương thức của pháp hội, nói: "Hôm nay chúng ta chia làm ba giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất tu cho kiếp quá khứ, tu chính là tâm sám hối, sám hối những ác nghiệp do bản thân tạo ra trong thân khẩu ý từ vô lượng kiếp đến nay; giai đoạn thứ hai tu cho kiếp hiện tại đang sống ở cõi ta bà này, tu chính là tâm hồi hướng, nguyện đem tất cả công đức tu hành hồi hướng cho chúng sinh mười phương đều được nghe pháp đại thừa; giai đoạn thứ ba là cầu phúc cho kiếp vị lai, tu chính là tâm từ bi, cầu phúc cho bản thân và muôn vàn hữu tình vô tình, có tưởng hay không tưởng chúng sinh, sớm ngày vượt thẳng ba cõi, vĩnh viễn không đọa vào sáu đường luân hồi.

Mỗi giai đoạn tu xong sẽ có hai mươi phút báo cáo tâm đắc, sau đó nghỉ ngơi năm phút..."

Pháp hội ngày hôm đó có thể nói là vô cùng thành công. Dù là học viên của chúng tôi hay không, là đồng tu của đạo tràng khác, thậm chí là những cao nhân bốn phương bị kéo đến miễn cưỡng, vậy mà hầu như ai nấy đều nhập vào cảnh giới "mắt sáng". Điểm này tôi tuyệt đối không dám nhận là Lý mưu đây có thần thông quảng đại gì có thể khiến người ta bước vào cảnh giới tịnh tướng sáng ngời ấy, đó hoàn toàn là sự gia bị tam muội tự tính quang minh đặc biệt mà Đại Tự Tại Vương Phật và chư Phật Bồ Tát xót thương cho tiểu tử không biết trời cao đất dày là chúng ta.

Vào lúc nghỉ ngơi của giai đoạn thứ nhất, mẹ chồng của giảng viên Đỗ (Phương bác mẫu) đặc biệt chạy tới nói với tôi: "Thầy Lý, vừa rồi tôi thật sự giật mình, may mà mở mắt ra nhìn thấy anh ngồi vững vàng trước mặt tôi, lúc này mới buông thỏi lòng..."

"Phương bác mẫu, bác ngàn vạn lần đừng gọi cháu là 'thầy'." Tôi vội vàng xua tay giải thích: "Bác cứ gọi cháu là sư huynh hay giảng viên là được rồi..."

Phương bác mẫu cười một tiếng, tiếp tục nói: "Vừa rồi lúc tôi tịnh tọa, thoạt đầu lỗ chân lông sinh ra khí lạnh, trước mắt tối đen như một cái hang không đáy, cơ thể cứ rơi xuống mãi. Lúc đó trong lòng sợ lắm, thật sợ mình không biết sẽ rơi đến nơi nào mà không về được nữa.

May là, vừa mở mắt ra liền nhìn thấy anh bình thản trang nghiêm định ở đó, tôi cũng yên tâm rồi..."

Phương bác mẫu là một người rất cởi mở và thú vị. Chúng tôi quen nhau từ hai tuần trước pháp hội, quãng thời gian tôi khai quang một chuỗi niệm hạt để trấn áp ma quái cho bác ấy sẽ được nhắc đến trong bài viết sau. Sau đó, một tuần sau pháp hội này, bác ấy cùng chúng tôi đi Bangkok, Hồng Kông và xảy ra thêm một vài chuyện khó tin.

— "Tôi nào có lợi hại đến thế." Nghe lời Phương bác mẫu, tôi vội vã xua tay, nói: "Đó là chư Phật Bồ Tát ban cho bác niềm tin, không liên quan gì đến tôi..."

Lúc nói câu nói ấy, thật sự tôi không ngờ tới, trong những ngày sau đó, ở những dịp khác nhau — hành lang, phật đường của chúng tôi, phật đường nơi khác, khi tôi xuất định đã có lần lượt ba vị phụ nữ rơi lệ nói với tôi rằng: "Tôi vừa nãy nhìn thấy anh hiện thân Bồ Tát, cảm động lắm." Xin lạy muôn lần, nói những lời thế này với tôi sẽ tổn hại đến việc tu hành của tôi, nghe mỗi một lần là phải niệm mấy chục vạn tiếng Phật hiệu, lạy mấy trăm lần sám hối mới bù đắp lại được.

Giai đoạn thứ hai là hồi hướng kiếp hiện tại. Trong khoảng thời gian tịnh thiền tu chung này của đoạn này, trong đầu tôi bỗng thoáng qua một cảm giác — một chiếc máy bay của Hàng không Liên hợp Mỹ sẽ gặp tai nạn bên trong nước Mỹ trong vòng hai tuần tới. Thế là, tôi lập tức cầu xin Đại Tự Tại Vương Phật đem công đức pháp hội này hồi hướng cho những chúng sinh đang bước tới cửa tử ấy.

Đại Tự Tại Vương Phật đã đồng ý với tôi, nhưng tôi cũng biết đây là cộng nghiệp, có những người là không trốn thoát được.

Kết thúc giai đoạn thứ hai, rất nhiều người giơ tay đứng lên báo cáo cảnh giới vừa rồi. Rất nhiều người trước đây chưa từng tiếp xúc với Phật pháp đều vô cùng phấn khích nói rằng họ vừa nhìn thấy ánh sáng màu tía vàng chớp động, xoay chuyển, rồi bao trùm lấy họ đưa lên hư không. Phương bác mẫu cũng đặc biệt đứng lên báo cáo rằng: "Lần này tôi không thấy sợ chút nào cả. Bởi vì tôi cảm nhận được Giảng viên Lý có một luồng sáng chiếu vào người tôi, hơn nữa Đại Tự Tại Vương Phật trên bàn thờ Phật cũng phóng ra một đạo Phật quang chiếu vào người tôi, phá tan hoàn toàn sự tối tăm vừa rồi."

Bên cạnh bác ấy có một cô gái chưa từng gặp mặt cũng đứng lên nói: "Tôi vốn dĩ trước giờ chưa từng tin Phật pháp, nhưng bây giờ tôi hoàn toàn tin rồi. Cảm giác đó... vô cùng kỳ diệu, xuất phát từ bên trong tâm rất khó dùng ngôn từ để diễn tả..."

Tôi nhìn cô ấy, biết rằng cô ấy và vị hôn thê của tôi — Đơn sư tỷ — đều đến từ cùng một "nơi". Khi tôi chỉ ra một số điểm giống nhau giữa hai người họ, những người có mặt lúc thì nhìn cô ấy lúc lại nhìn Đơn sư tỷ, tất cả đều gật đầu mỉm cười.

"Tôi cũng có cảm giác này..." Giảng viên Đỗ xen vào cười nói: "Vừa nhìn thấy cô ấy là tôi đã thấy đặc tính từ trường của hai người rất giống nhau, hóa ra là đến từ cùng một nơi."

Mọi người đều báo cáo xong giai đoạn này, tôi liền nói ra chuyện tai nạn máy bay mà mình biết được khi tu chung lúc nãy. "Mục đích lớn nhất của pháp hội chính là ở đây — dùng năng lượng từ trường sinh ra từ việc tu chung để thành tâm cảm hóa chư Phật Bồ Tát cứu vớt mọi khổ ách ở thế gian!" Tôi nói: "Đây là công đức do nguyện lực từ tâm mà mọi người cùng khởi tạo, gọi là Từ Tế tam muội..."

Quả nhiên mười một ngày sau, Hàng không Liên hợp đã xảy ra tai nạn máy bay lớn trong nội địa Mỹ. Lúc đó tôi, Đơn sư tỷ, Giảng viên Đỗ, vợ Giảng viên Đỗ, Phương bá phụ, Phương bác mẫu, chị họ v.v... tất cả mọi người đều đang ở Thái Lan, mẹ anh Đỗ là người đầu tiên gọi điện thoại đường dài truy đuổi đến khách sạn ở Bangkok để thông báo sự việc này.

— "Trên máy bay có hai trăm chín mươi ba người, có ít nhất một trăm bảy mươi sáu người kỳ tích sống sót một cách khó tin, có bốn ba người mất tích đang được tìm kiếm..."

Đây là tiêu đề lớn vô cùng nổi bật trên các tờ báo khắp thế giới — Ngày 19 tháng 7 năm 1989, máy bay Hàng không Liên hợp Mỹ rơi gần sân bay Sioux City ở Iowa, vậy mà lại có một trăm bảy mươi sáu người kỳ tích sống sót.

Chư Phật Bồ Tát thật là chưa từng có lúc nào không dùng đại từ bi đại nguyện lực để thương xót thế nhân mà! Các bạn có thể không tin tôi, nhưng không thể không tin vào năng lực vượt xa tưởng tượng của con người của chư Phật Bồ Tát. Ít nhất, sự việc này có khoảng hơn bốn mươi người làm chứng, hơn nữa một nửa trong số đó là chưa từng quen biết, họ đến từ mọi ngành mọi nghề hoàn toàn không đời nào phải nói dối để lừa người. Phật tử rất kiêng kỵ việc phạm phải một trong năm tội lớn là "vọng ngữ" đấy nhé!

Sau pháp hội lại có thêm một kỳ tích, đó là sau hội khi mọi người lần lượt chụp ảnh chung, bức ảnh chụp chung giữa tôi và Đơn sư tỷ trước bàn thờ Phật lại bất ngờ hiện lên "Đại quang minh vân phật quang".

Khi chúng tôi đi lấy ảnh rửa, ông chủ tiệm ảnh cứ dùng ánh mắt khó tin nhìn chằm chằm vào một trong số những tấm ảnh, đồng thời chốc chốc lại đối chiếu với cuộn âm bản.

"Có chuyện gì thế?" Tôi và Giảng viên Đỗ hỏi.

"Các anh nhìn bức ảnh này xem —" Ông chủ đưa bức ảnh tới, nói: "Phía sau bức tượng Phật có một vòng hào quang lớn, bức tường trắng đã biến thành màu xanh nhạt giống như bầu trời, điều vô lý hơn nữa là từ vòng hào quang lớn đó bắn ra năm thứ trông như mây tản ra theo hình chiếc quạt."

Tôi vội vàng cầm lấy xem, nào phải thế chứ?

Đặc biệt là đám mây đỏ điềm lành trên đỉnh đầu Đại Tự Tại Vương Phật vừa mềm mại vừa tráng lệ, thoạt nhìn như một chiếc lọng hoa lớn che chở trên đỉnh Phật. Bức ảnh này và cuộn âm bản sau đó lại được rất nhiều nhiếp ảnh gia và chủ tiệm ảnh xem qua, kết luận đồng lòng đưa ra là: "Hiện tượng này chưa từng thấy bao giờ, các loại giả thiết đều không thành lập, thật khó tin!"

— "Đây là hiện tượng biến đổi vật lý, hóa học do hóa thân Phật hiển hiện gây ra." Thầy của tôi là Duyên Đạo Thượng Nhân sau khi nghe báo cáo xong liền nói: "Các loại thần thông đều là hiện tượng vật lý, mà hiện tượng trong bức ảnh của con lại là một trong những hiện tượng thù thắng nhất — chính là hóa thân Phật của Đại Tự Tại Vương Phật đích thân hiển hiện..."

Không tin chư Phật Bồ Tát có năng lực không thể nghĩ bàn ư? Lại thêm một ví dụ sống sờ sờ mà mắt có thể nhìn thấy đây. Đừng không tin sự không thể nghĩ bàn của Phật, lại càng đừng báng Phật; bằng không đến lúc đọa vào Vô Gián địa ngục chịu muôn vàn khổ sở qua muôn ức kiếp, lại khiến Địa Tạng Bồ Tát phải lắc đầu thở dài đấy!

Hai, Cảnh giới không thể nghĩ bàn của việc lạy Phật — Khởi đầu của thiên nhãn thông. "Giảng viên Lý, anh bắt đầu có thiên nhãn thông vào lúc nào, trong hoàn cảnh ra sao thế?"

Các học viên của phật đường hoặc các vị cao nhân mười phương đến cùng tham học Phật pháp thường mang theo nụ cười trên mặt, đôi mắt lóe sáng với một ánh mắt tò mò cùng giọng điệu hỏi câu nói này!

Thiên nhãn thông ư? Nghĩ lại thật hổ thẹn, đừng nói là so với thành tựu thù thắng của vị sư phụ đầu tiên khi tôi học Phật — "Vua trái cây" Quảng Khâm lão hòa thượng — mà kém xa một phần nghìn; cho dù là so với vị cư sĩ trẻ tuổi mà tại hạ vô cùng ngưỡng mộ là Phùng Phùng đại đức thì cũng chỉ biết trông theo mà thở dài.

“Thiên nhãn thông mà các vị biết là gì? Chẳng lẽ phóng ra chuyện tương lai giống như chiếu phim? Hay là phóng ra chuyện quá khứ thì gọi là mệnh thông?” Có lẽ tính tình ương ngạnh của tôi thâm căn cố đế mãi chẳng chịu lớn, thế nên tôi thường thích dùng những danh từ Phật học đơn giản nhất mà ai nấy đều quen miệng để hỏi những người muốn đặt câu hỏi cho mình.

Được rồi, câu hỏi này một khi được hỏi ngược lại thì hơn nửa số người sẽ ngẩn ngơ đứng hình ở đó, họ nghĩ: “Anh bạn này chẳng phải đã trả lời luôn đáp án của câu hỏi rồi sao?” Trớ trêu thay, những người hỏi những câu hỏi này, có lẽ vì liên quan đến Phật học nên đầu óc vô cùng minh mẫn, họ biết câu trả lời mà tôi đưa ra chính là điều họ đang nghĩ trong lòng, nhưng trong giọng điệu lại dùng dấu hỏi chấm giống như đang phủ định nó!

“Thiên nhãn thông mà chúng ta biết không phải như vậy, nó cực kỳ ít khi hiện khung cảnh, mà là trong thiền định tự nhiên sinh khởi sự minh bạch ngay tại chỗ của trí tuệ thuộc tự tính Phật vị.” Tôi nói: “Cái này tôi tự gọi nó là niệm của vô niệm, cũng chính là điều Kinh Kim Cương đã nói: Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm.”

Mỗi lần nói đến đây tôi đều sẽ quan sát phản ứng của đối phương, ai hiểu được thì tôi nói tiếp: “‘Ưng vô sở trụ’ chính là vô niệm, còn chữ ‘tâm’ trong ‘nhi sinh kỳ tâm’ ý chỉ pháp thân tự tại, tự tính Phật vị. Trong kinh Lăng Già, khi Phật Thích Ca nhắc đến nguồn gốc của pháp giới ( vũ trụ) từng đề cập rằng trước khi pháp giới tồn tại thì đã có Phật tính, mà Phật tính như như bất động vắng lặng này đã sinh ra hư không trong định sâu tịch mịch. Hư không không phải là cõi không chẳng có gì cả, mà là mang theo mười hai loại ‘năng lượng’ đang tương tác trần lao — trần là điện tử nhỏ nhất; lao là sự vận động biến hóa.” Sự ảnh hưởng qua lại của mười hai loại năng lượng hư không này vận động cho đến khi sinh ra pháp giới, cũng chính là vũ trụ ban đầu; pháp giới lại thông qua sự biến hóa của năng lượng mang tên “thời gian” mà phái sinh ra muôn hình vạn vật qua nhiều kiếp. Cho nên, khi bạn có thể trụ ở tự tính Phật vị vào khoảnh khắc ánh sáng tự tính lóe lên ấy — cũng chính là niệm của vô niệm, thì đương nhiên chuyện gì cũng rõ thông.” “Cho nên giống như tôi vừa nói, thiên nhãn thông nhìn tương lai, túc mệnh thông nhìn quá khứ, kỳ thực những danh tướng này chỉ là lời nói phương tiện ứng theo chúng sinh. Chúng ta đều biết, trái đất quay quanh mặt trời, mặt trời dẫn dắt các hành tinh trong hệ mặt trời quay quanh ngân hà với tốc độ ánh sáng, vì vậy con người tính toán thời gian lấy “ánh sáng” làm chuẩn mực. Trong thuyết tương đối của Einstein cũng từng nói, nếu một vật thể nào đó có thể vượt qua tốc độ ánh sáng thì nó có thể đến được quá khứ, tương lai.” Người nghe có người miễn cưỡng hiểu được thì gật đầu đồng tình, nhưng đáp án mà họ muốn biết thì tôi vẫn chưa nói ra. Kẻ dễ lừa một chút, hay nói cách khác là những kẻ có căn tính thiện lương đầy đủ hơn thì bị câu chuyện này bẻ lái rẽ ngoặt; nhưng đôi khi gặp phải những kẻ cứng đầu kiên quyết đòi bạn phải nói ra cho bằng được, thì đành phải thành thật khai ra hai chữ: “Lạy Phật!”

Lạy Phật? Đúng vậy, thiên nhãn thông lần đầu tiên của tôi, không, lúc đó chỉ có thể gọi là thiện ngân phát tướng, chính là lúc quỳ trước phật làm bài văn lạy Phật sám hối, được chư Phật Bồ Tát uy đức lực từ bi gia bị mà sinh ra.

Trước khi kể về trải nghiệm lần đó, hãy nói về việc một kẻ vô danh tiểu tốt chưa bước chân vào Phật học như tôi lại dám cầm bút viết ra mấy bài văn này, ghi chép lại những thần tích về Phật, Bồ Tát xảy ra xung quanh mình suốt một năm qua.

Vốn dĩ tôi viết tiểu thuyết võ hiệp, bộ thứ nhất “Thiền Dực Đao” thậm chí còn được Công ty Truyền hình Trung Quốc Đài Loan chuyển thể thành phim truyền hình dài tập “Thiền Dực Truyền Kỳ”. Lúc bấy giờ khi viết những cuốn tiểu thuyết chém giết đâm chém như vậy, trong lòng tôi ít nhiều cũng thầm thắc mắc liệu có đi ngược lại với Phật pháp hay không? Mặc dù Ngũ Tổ từng nói bồ đề tự tính “mặc giáp ra trận, cũng được nhìn thấy”, nhưng trong lòng vẫn cứ cảm thấy cấn cấn không thỏa đáng. Sau đó, tôi uyển chuyển mượn dùng, quyết định nhân vật nam chính không bao giờ giết người và trong sách nhất định phải có các câu cú kinh Phật hòa quyện vào trong đó để kết duyên Phật với độc giả, hơn nữa vì sinh kế nên đành cắn răng viết tiếp.

Vào cuối tháng 3 năm 78 Trung Hoa (1989), được sự cảm hóa của chư Phật Bồ Tát cùng nhân duyên hội tụ, tôi đã mở một phật đường ở khu Đông Đài Bắc để truyền giảng Phật pháp cùng các thứ lớp tu hành. Thế này thì hỏng bét rồi, phật đường vừa mở, dạy người ta tự tu thì càng dạy càng thấy thú vị, càng tu càng nghiện, tựa hồ như bước vào một cái hang không đáy vô cùng tự tại ở trong đó, mà thảm hại nhất là mỗi khi định cầm bút viết tiểu thuyết võ hiệp, trong đầu lại nảy sinh một niệm: “Ấy, viết cái thứ này làm gì chứ? Phá hoại việc tu hành. Đi vào tịnh thiền nhập định thôi!”

Được rồi, buông bút xuống, trong lòng nghĩ chỉ ngồi nửa tiếng thôi; ai ngờ mỗi lần “tỉnh lại” thì đã là chuyện của ba, bốn tiếng sau rồi. Cứ kéo dài như thế, kéo dài suốt nửa năm!

Cuối cùng có một ngày nghĩ cứ tiếp tục thế này thì không phải là cách, đã là chỗ tu hành và sở thích, vậy chi bằng viết những bài viết liên quan đến tu hành? Ý nghĩ này vừa lóe lên thì càng nghĩ càng thấy có lý, lại nghĩ đến chuyện vào khoảng tháng 7 năm nay (năm 78) khi sang Hồng Kông thỉnh giáo lão sư Nam Hoài Cẩn, ngài từng nói rằng: “Đàn em à — viết tiểu thuyết rất hay, nhưng đừng viết sai một chữ mà dẫn dắt sai lệch người khác. Từ trước đến nay ta vẫn luôn có tâm nguyện viết tiểu thuyết, nhưng mãi vẫn chưa đặt bút chính là vì sợ điểm này... ... Công việc khác của cậu là mở phật đường truyền pháp ư? Hay, hay lắm —! Sau này chúng ta vẫn còn cơ hội gặp mặt, lại ngồi xuống trò chuyện thật kỹ —.”

Trước đó đã có sự chỉ thị của Nam lão sư, sau đó lại có một lời của thầy Lý Vân Phụng bên Nhà xuất bản Thiên Hoa mới khiến tôi có dũng khí đặt bút.

Thầy Lý có một đạo tràng vô cùng rộng rãi trang nghiêm ở Thiên Mẫu — Từ Sinh Phật Đường, tuy nghe danh đã lâu, nhưng mãi vẫn chưa có cơ hội thân cận. Mãi cho đến tối ngày 9 tháng 9 năm nay, khi đến Thiên Hoa mua ba cuốn sách “Phật Môn Dị Khí”, tôi mới có được nhân duyên đầu tiên để tiếp cận.

“Nghe nói việc tu hành của thầy Lý rất giỏi, có phải không lúc thanh toán tiền, tôi đã hỏi cô nhân viên của Thiên Hoa một câu.”

“Anh muốn gặp thầy Lý chứ?” Cô nhân viên vô cùng nhiệt tình đáp: “Thầy ấy bây giờ đang ở trong phật đường, anh đi thì nhất định sẽ gặp được thầy ấy.”

Đã là nhân duyên thù thắng như vậy, tôi liền hỏi xin địa chỉ và bản đồ vị trí từ cô nhân viên, sau đó kéo theo một người bạn chơi thân chục năm, đồng thời cũng là giảng viên Đỗ của phật đường chúng tôi cùng lên núi.

Nếu bạn hỏi tôi cảm giác đầu tiên về Từ Sinh Phật Đường là gì? Đó chính là các sư huynh làm công quả bên trong vô cùng lễ phép.

Bạn đừng tưởng những người học Phật ai cũng lễ phép văn chất bập bẹ nhé, tôi thường có thể nhìn xuyên qua cái vỏ bọc bên ngoài của họ, mà nhìn thẳng vào sóng não, sự thay đổi từ trường của họ để biết cái "lễ" này xuất phát từ đâu!

Dưới lớp học, tôi thường nói với các học viên rằng: "Chúng ta là người học Phật, đừng để người ta coi thường? Hãy ghi nhớ, ngàn vạn lần đừng để bản ngã chưa tiêu lại mọc thêm một cái pháp chấp để cống cao ngã mạn; nếu vì cách làm này của bạn mà khiến người khác sinh lòng khinh miệt người theo đạo Phật, thì cái tội lớn này gọi là 'đại thừa, xuất phật thân huyết', là một trong năm tội ngũ nghịch, nhân quả tự chịu, nghiệp lực tự gánh. Có chuyện gì thì đừng có tìm tôi..."

Cho nên cái "lễ" xuất phát từ sự chân thành, hoàn toàn không có chút "ngã mạn" nào của các sư huynh Từ Sinh Phật Đường chính là ấn tượng sâu sắc đầu tiên để lại trong tôi. Ấn tượng thứ hai chính là "đạo tràng lớn quá", tôi nói với bạn bè rằng: "Người có tiền mà có thể phát tâm bố thí tài, bố thí pháp như thế này quả thật là hiếm có trên đời." Người bạn bên cạnh gật đầu mỉm cười, rồi lại đáp lời: "Tiếc là chúng ta không có tiền để làm chuyện lớn thế này, vốn dĩ tâm nguyện của chúng ta là sau này nếu có đủ tiền nhất định sẽ mở một đạo tràng lớn để hoằng pháp độ sinh, không ngờ có người đã đi trước chúng ta một bước làm việc mà chúng ta muốn làm..."

Nói rồi cả hai nhìn nhau cười lớn, nếu không phải đang ở trong đạo tràng trang nghiêm, ắt sẽ ngửa cổ cười vang vì tâm ý tương thông là đây!

Sư huynh của Từ Sinh Phật Đường dẫn chúng tôi lần lượt lạy Quan Thế Bồ Tát ở hai khu phật đường trên lầu và dưới lầu, sau đó dẫn đến giảng đường ngồi xuống, lắng nghe thầy Lý khai thị tầm quan trọng của việc "giới sát, ăn chay". Ở trong giảng đường, tôi đã gan dạ nhập định lần thứ ba để "thử nghiệm" cái "khí" của đạo tràng — năng lượng từ trường.

Lúc nãy khi chiêm bái ở hai khu phật đường, tôi cũng đã dùng cách đứng thẳng để thử qua, còn bây giờ thì dùng cách ngồi định để phát dụng tích thức lực mà cảm nhận. Đây chính là ấn tượng thứ ba mà Từ Sinh Phật Đường mang lại cho tôi.

“‘Khí’ của Từ Sinh Phật Đường vô cùng nhẹ nhàng mà tinh thuần.” Trở về tôi nói với các học viên trong lớp rằng: “Thầy Lý Vân Phụng nói thầy ấy ăn trường chay mười ba năm chưa từng gián đoạn, quả thật đáng tin. Bằng không, từ trường ở nơi đó tuyệt đối không thể tinh sạch đến mức này!”

Lần gặp gỡ đó bởi vì giữa chừng có việc bận, nên tôi cùng bạn rời đi trước, không có cơ hội trò chuyện chi tiết với thầy Lý. Thế nhưng, chuyến trở lại Từ Sinh Phật Đường lần này lại thúc đẩy nhân duyên đến thăm một lần nữa vào ngày 27 tháng 9.

Hôm ấy, thầy Lý hoằng pháp tại Từ Sinh Phật Đường, sau giờ học tất cả các cao nhân đến giảng đường đều đứng thẳng dậy, có người thì thỉnh giáo thầy Lý muôn vàn sự việc của thế gian pháp. Lúc bấy giờ cái tính nghịch ngợm lại nổi lên, người ta hỏi thì tôi liền nhập định; hai mắt nhắm lại hai tai mở rộng, các người hỏi cứ hỏi, trong tâm tôi tự có đáp án — tôi nhìn thấy một cặp vợ chồng nọ vào năm bốn bảy tuổi, vì nghiệp sát sinh quá nặng, nên một người sẽ mù mắt, một người sẽ điếc tai.

Tôi cũng nhìn thấy một cụ bà ăn thịt cả đời, kết quả là phần não phải đã bị tổn thương, ngoài ra có một nữ cư sĩ thì khi gần năm mươi tuổi sẽ gặp phải phiền phức khá lớn. Thầy Lý từ bi, đối với câu hỏi của mỗi người, chỉ cố gắng ám chỉ đồng thời khổ tâm khuyên họ ăn chay đừng gây thêm nợ oan oan tương báo.

Người hỏi thực sự rất nhiều, lúc đó trong tâm tôi dấy lên một niệm: “Thầy Lý đứng nên mọi người cũng đứng để bày tỏ sự kính trọng, có người lạy thầy, thầy cũng quỳ lạy đáp lễ. Nhưng, nếu thầy ấy thực sự là một người có tu hành chứng thực, kẻ này ngồi xuống đây nhập định để lấy tâm lễ kính; nếu có ý trách móc thì mỉm cười xin lỗi rồi bỏ đi, còn nếu không thèm đếm xỉa tới thì tôi cứ yên tâm mặc kệ.”

Ý niệm vừa khởi liền hành động, quả nhiên mọi người đều đứng mà một mình tôi ngồi, thật là bất lễ ư?

“Tôi từ sớm đã nói với họ rồi, hôm nay sẽ có một người rất quan trọng đến phật đường —” Thầy Lý sau đó trò chuyện đã cười nói với tôi: “Các anh đừng thấy người đó bước vào phật đường rồi, ra vẻ rất tự tại, cậu ấy không phải không lễ phép, mặc kệ cậu ấy muốn thế nào thì thế...”

Lúc sau nghe được đoạn này vốn định đứng dậy vỗ tay cười lớn, nhưng bậc trưởng bối trước mặt nên đành cố nhịn lại. Đáp rằng: “Lúc thầy truyền pháp ban nãy, vãn bối nhìn thấy Quan Tự Tại Bồ Tát phóng đại quang minh sau lưng thầy, cho nên mới yên tâm phóng túng...”

Kỳ thực, lúc đó tôi nhìn thấy không chỉ dừng lại ở đó, chỉ là thầy Lý vốn dĩ từ trước đến nay không khoe khoang thành tựu của mình, cho nên ở đây tôi cũng không dám viết ra.

Sau khi tiễn hết tất cả khách quý chỉ còn lại các đệ tử của thầy, thầy Lý gọi tôi ngồi ra phía trước mỉm cười hỏi thăm mục đích đến đây. Đương nhiên, người đã tới thì cũng chẳng có gì không thể nói, thế nên tôi bày tỏ ý định muốn viết những bài viết liên quan đến sự chứng thực tu hành của Phật giáo, muốn thỉnh cầu thầy Lý chỉ bảo về phương diện này. Đồng thời, cũng đề cập đến việc dự đoán trước hai vụ tai nạn máy bay quốc tế, những điều mắt thấy tai nghe khi mọi người thỉnh giáo ban nãy v.v... Khi tôi nhắc đến việc trong số các đệ tử của thầy có một vị cực kỳ sám hối nghiệp sát sinh trước đây mà ngồi gãy cả hai chân khiến cơ nghiệp hủy hoại trong chốc lát, liền nói: “Vừa rồi thầy nói cậu ấy thành tâm sám hối nên được chư Phật Bồ Tát gia bị, đến nỗi ở một chỗ kín nào đó trên người có ‘ánh sáng’ chớp động. Vãn bối nhìn thấy là một đóa sen, xin hỏi có phải ở phía trên lông mày phải không.”

Lúc đó thầy Lý mỉm cười nhẹ, nói: “Cậu nhìn thấy rồi đấy, cậu ấy ở đằng kia...” Thầy dùng tay chỉ một cái, chính là vị sư huynh đang đứng ở phía sau cách đó không xa đang cười với tôi.

“Cậu có duyên Phật rất sâu, là mang theo thành tựu mà đến; hôm nay cậu đến đây, giữa chúng ta cũng có nhân duyên rất sâu...” Khi thầy Lý nói những lời này, tôi thật sự muốn thốt lên rằng, những gì tôi biết thì từ bao lâu trước đã có nhân duyên cực sâu rồi, nhưng thầy ấy còn chưa nói thì đến lượt tôi mở miệng thế nào được!

“Cậu thấy phật đường của chúng tôi thế nào?” Hả! Bỗng nhiên một câu hỏi giáng thẳng từ đỉnh đầu xuống, tôi đành phải trả lời theo đúng những gì mình biết: “Cái gọi là năng lượng thần thông được chia thành hai loại mạnh yếu và ‘chất’ thô hay tinh. Ánh sáng của chư Phật Bồ Tát vẫn luôn không ngừng chiếu rọi xung quanh chúng ta, nhưng chúng sinh đều không có cảm giác! Từ trường ở đây vô cùng nhẹ nhàng tinh tế, nếu không dùng ‘tâm’ để cảm nhận thì sẽ thấy bình thường. Theo những gì vãn bối được biết, hễ người mắc bệnh nhẹ đến đây, dựa vào phán đoán phân thân ba ngã trong lúc nhập định ban nãy, bệnh của họ đều có thể khỏi được một nửa...”

Đây tuyệt đối không phải là vọng ngữ, Từ Sinh Phật Đường quả thực có loại năng lượng này. Bạn có thể nói đó là sự gia bị đặc biệt của chư Phật Bồ Tát, cũng có thể nói là do nhân duyên tu hành chân thành của con người ở đây cảm ứng nên, hoặc bạn nói phong thủy cực tốt thì tùy ý.

Nhưng thật là thật, chỉ cần bạn bước vào đó thành tâm mặc niệm Phật hiệu, ắt sẽ đắc đại uy đức lực vô thượng từ bi gia bị.

Tôi có một tật xấu này, khi đến các ngôi chùa, phật đường thì rất hiếm khi quỳ xuống đảnh lễ, thậm chí ở chùa Phật Ngọc, chùa Cẩm Thạch ở Bangkok cũng vậy — không phải ngạo mạn đâu, mà là vì một số nơi giới luật không giữ, nghiệp chướng quá nặng nên không dám lạy xuống. Bởi vì "quỳ lạy" là pháp tu hành lớn thông suốt cõi Phật ở trên và thấu đến các loại địa ngục ở dưới, lạy sai một cái rất dễ làm thông thống "sức ức chế ê-te (ether)" nhiễm thành pháp ngoại đạo khiến cho lực lượng ma giới nhập vào thân, người ta thường gọi là "trúng ma"! Cho nên có người lạy âm miếu lạy đến phát thần kinh cũng chính là vì thế.

Thế nhưng, ở Từ Sinh Phật Đường thì tôi lại quỳ xuống đảnh lễ một cách vô cùng thành tâm thành ý.

Nói vòng lại, thầy Lý nghe xong một tràng lời của tôi, chỉ gật đầu mỉm cười ẩn chứa vẻ khen ngợi, chứ cũng không nhân cơ hội đó mà khoe khoang phật đường của mình tốt thế này thế nọ. Than ôi! Con người này đôi khi khiêm tốn đến mức khiến người ta phải hổ thẹn.

“Cậu muốn viết những bài viết liên quan đến Phật học là rất hay, và tôi tin rằng nó có thể dẫn dắt rất nhiều người học Phật.” Thầy Lý cười nói.

Chính nhờ sự khích lệ nhân duyên lớn lao này, lại được thầy Lý khen ngợi cho phép lấy số điện thoại nhà thầy làm một sự tín nhiệm tâm ấn, cho nên bây giờ tôi mới dám cầm bút viết thử.

Đoạn trước có nhắc đến việc lúc lạy Phật sơ khởi thiên nhãn, đó là vào tháng 10 năm ngoái, có một lần quỳ trước phật làm bài văn lạy Phật sám hối (bài văn sám hối này vô cùng thù thắng, ở phần sau sẽ có chuyên đề thảo luận), hai mí mắt nhắm lại — lạ thật đấy! Sao lại nhìn thấy ngũ tạng lục phủ của chính mình thế kia? Hơn nữa từ mờ ảo chuyển thành rõ nét rồi càng ngày càng lớn, lúc đó quả thật giật mình thợn tóc gáy. Lúc ấy trong đầu nghĩ là: “Hay cho cái ‘gương’ kia, mày đến lừa ta à?”

Thế là, mở mắt ra nhìn tượng Phật phía trên, rồi lại nhắm lại. Lần này thì ba mươi sáu vật trong thân hiện ra hoàn toàn, cứ như thể tôi có một đôi mắt, lại giống như có rất nhiều đôi mắt đang từng cái từng cái nhìn vào. Mẹ ơi! Lúc đó trong lòng tôi thực sự đã thốt lên tiếng kêu cứu ấy, đừng đùa trò này nữa được không? Lúc ấy là không đầu không đuôi, nhưng trong lòng nghĩ dẫu sao mặc kệ mày là cái quái gì, tao lạy Phật của tao, tâm này bất động xem mày làm gì được ta?

Đêm đó lạy Phật xong về nhà, nhân duyên đưa đẩy nên tiện tay cầm cuốn Tiểu Chỉ Quan của phái Thiên Thai lên đọc, và tìm thấy đoạn này ở mục “Thiện căn phát tướng thứ bảy” — “Hành giả hoặc ở chỗ chưa đến địa vị dục giới, bỗng thấy hơi thở ra vào dài ngắn, lỗ chân lông khắp người đều hư lưu; liền dùng tâm nhãn nhìn thấy ba mươi sáu vật trong thân, giống như mở kho nhìn thấy các hạt mè hạt đậu v.v... Tâm đại kinh hỷ, tịch tĩnh an khoái, đây gọi là tùy tức thù thắng thiện căn phát tướng.”

Hóa ra là chuyện thế này.

Chuyện này vốn dĩ cũng chẳng để trong lòng, qua rồi thì thôi. Nào ngờ sau này khi ngồi đối diện với người khác, hễ nhắm mắt lại là đôi khi có thể nhìn thấy nghiệp chướng ở bộ phận nào đó của đối phương đang hành hạ họ, cũng có thể nhìn thấy “khí” của đối phương hiện lên đủ mọi màu sắc, biến hóa. Lại qua một khoảng thời gian nữa, thậm chí trong một thoáng chốc lại hiểu thấu tương lai quá khứ của đối phương, sao càng lúc càng vứt ra nhiều thế nhỉ?

Tôi chợt nhớ đến câu nói của Bố Đại Hòa Thượng: “Hóa ra lùi bước chính là tiến lên.” Học Phật không chấp vào cảnh thì có thể chuyển cảnh thành thức, tương tự không chấp vào thức thì chuyển thức thành trí, trí tuệ thì tôi không dám nhận là mình có, cái có duy nhất chỉ là Phật hiệu niệm đến mấy triệu tiếng, tiện thể lạy Phật thêm mười mấy năm mà thôi. May mắn thôi!

Ba, Thiên nhãn thông và văn tự bát nhã. Phật Thích Ca từng nhắc đến trong kinh Đại Bát Nhã rằng bát nhã có tổng cộng năm ý nghĩa bên trong: Thực tướng bát nhã, cảnh giới bát nhã, văn tự bát nhã, phương tiện bát nhã, xuyến thuộc bát nhã. Trong năm loại bát nhã này, văn tự bát nhã thường bị hiểu lầm rằng chỉ có kinh sách mớicụ bị loại sức mạnh này, đây là một cái nhìn phiến diện!

Bởi vì "văn tự" được nhắc đến tuyệt đối không đơn thuần chỉ là giấy trắng mực đen, mà tất cả âm thanh ngôn ngữ đều thuộc về văn tự bát nhã, cho nên trong kinh Lăng Nghiêm có Đại Thế Chí Bồ Tát dùng tiếng niệm Phật mà chứng đạo, Quan Tự Tại Bồ Tát dùng thấy ánh sáng mà chứng đạo, còn Quan Thế Bồ Tát thì dùng thiên nhĩ viên thông mà chứng đạo. Từ đây có thể biết rằng, trong cõi Ta Bà tràn ngập âm thanh ánh sáng này, việc dùng văn tự bát nhã — nghe pháp, niệm Phật, tụng kinh, hóa hợp các loại âm tướng thành một thể viên dung là một bài học vô cùng quan trọng. Trong kinh Lăng Nghiêm, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát tổng kết phương pháp tu hành thực tế của hai mươi lăm vị cũng tôn sùng pháp môn thiên nhĩ viên thông đầy đủ một nghìn hai trăm công đức là phù hợp nhất với chúng sinh cõi Ta Bà.

Vậy thì thiên nhĩ thông và văn tự bát nhã có mối quan hệ gì?

Trước khi giải thích trải nghiệm của mình, chúng ta hãy xem mối quan hệ giữa thiên nhãn thông và văn tự bát nhã của Phùng Phùng đại đức — ngài có thể đối diện với một bức thư, mà người viết lá thư này hoàn toàn chưa từng gặp mặt ngài. Cư sĩ Phùng có thể "kết hợp" năng lượng trên nét chữ của người viết lá thư đó, từ từ biến hóa ra hình tượng của người đó để tiến hành từ "hư tướng" này, tự mình trụ ở tự tính Phật vị phát dụng "thực tướng bát nhã" để phán đoán người đó mắc bệnh gì!

Đối với đoạn trên, Phùng đại đức đã ghi chép lại trên nguyệt san Thiên Hoa số kỳ một trăm hai mươi tư. Ngài viết rằng: "Nét chữ là một trong những biểu tướng về 'năng lượng' của người viết, chỉ là một chút 'năng lượng' rất nhỏ, tôi cần những 'năng lượng' vi lượng này tập hợp lại, khiến nó trở thành một thể hoàn chỉnh..."

Cư sĩ Phùng chỉ dùng cách giải thích rất đơn giản để người đọc dễ hiểu, dễ tiếp nhận, sau đó lại dùng cuộn phim chụp ảnh, đồ họa máy tính để tăng cường giải thích. Kỳ thực trong phạm vi tôi biết là: Bất kỳ một vật thể nào cũng có từ trường, khi hai vật thể được đặt cạnh nhau, từ trường của chúng sẽ giống như chiếc gương mà "ánh chiếu" lẫn nhau vào từ trường của đối phương.

Một khi hai vật thể này tách ra, năng lượng tương chiếu lẫn nhau sẽ giảm đi, theo tác dụng của "năng lượng thời gian" mà xuất hiện hiện tượng suy thoái. Thế nhưng do nhân duyên bản chất từ trường, tác dụng năng lượng của mỗi vật thể khác nhau, nên sinh ra độ dài ngắn của thời gian. Ví dụ như hai viên đá, bởi vì đều thuộc về loại vô tình vô tưởng, cho nên đem chúng tách ra thì rất nhanh sẽ tiêu biến ảnh hưởng của lực tương chiếu từ trường đối phương.

Nhưng một con người khi viết thư thì lại khác, anh ta đem toàn tâm toàn ý đặt tư tưởng tình cảm vào trong đó, năng lượng "vạn pháp duy tâm tạo" được đầu tư phóng chiếu này có lực ảnh hưởng vô cùng mạnh mẽ.

Lúc này, tờ giấy giống như cuộn phim "chụp" lấy người cúi đầu viết thư đó vào trong.

Nhưng có cuộn phim thôi vẫn chưa đủ, vẫn phải nhờ vào cái đầu có sóng não niệm lực tần số siêu cao của cư sĩ Phùng làm phòng tối rửa ảnh mới có thể "hiện hình" được!

Tôi thì kém xa cư sĩ Phùng lắm, tôi không có tuệ nhãn không thể nghĩ bàn như ngài; cùng lắm thì tôi chỉ có thể dùng tai nghe tên của một người, hơn nữa người niệm tên người đó phải quen biết người này — nếu là như vậy, tôi ngược lại đã thử qua mấy lần có thể nói ra chính xác không sai một li bệnh trạng của người đó, thỉnh thoảng cũng có thể kết hợp chút ít thức thần thiên nhãn, thức thần túc mệnh không đáng kể của bản thân để biết được nguồn gốc ngọn ngành tại sao lại mắc bệnh này.

Giống như đã nói trong "Cảnh giới không thể nghĩ bàn của việc lạy Phật" phía trước, có người thỉnh giáo thầy Lý Vân Phụng về các vấn đề thế gian pháp trong Từ Sinh Phật Đường, tôi nhắm hai mắt mở hai tai, nhưng trong khoảnh khắc nghe thấy nhìn thấy liền thấu suốt ngay hậu quả của việc mỗi người vì ăn mặn không ăn chay mà tạo ra ác nghiệp quả báo trọng đại ngày sau. Thầy Lý sau khi cho số điện thoại xong, còn mỉm cười nói: "Hoan nghênh cậu bất cứ lúc nào gọi tới, đem những chuyện mà 'tuệ nhãn' của cậu nhìn thấy nói cho chúng tôi nghe..."

Trời ạ, lúc đó tôi chỉ liên tục xua tay lắc đầu nguầy nguậy vẻ vô cùng sợ hãi chắp tay vái chào thầy Lý mãi: "Xin đừng nói thế, xin đừng nói thế, vãn bối hoàn toàn không gánh vác nổi..." Tôi nói thật lòng đấy, nếu bạn biết lai lịch của thầy Lý Vân Phụng, tôi dám đảm bảo câu nói này của thầy mà nói với bạn, nếu bạn không quay người chạy gấp thì chắc chắn đã là kẻ định lực cực tốt tu hành thành tựu lớn rồi.

Hồi tưởng lại lần thứ hai làm thí nghiệm kiểu này là vào cuối năm 1988, đầu năm 1989, qua sự giới thiệu của Giảng viên Đỗ Chí Trung, tôi quen biết một nữ giám đốc Y nào đó của một ngân hàng Anh. Tại sao lại phải kể từ lần thứ hai? Các độc giả đọc tiếp rồi sẽ rõ. Lúc đó cô Y đã nghe danh thuật tử vi đẩu số của tôi vô cùng linh nghiệm, cho nên năm lần bảy lượt nhờ anh Trung xin tôi nhất định phải xem giúp cô ấy một quẻ.

“Phật nói không nên tin vào bói toán toán mệnh ở thế gian, sư huynh Lý nay học Phật đã đắc được tam muội thú cơ, anh ấy sẽ không phá hoại việc tu hành của mình để xem giúp chị đâu...” Bạn tốt Chí Trung quả không hổ danh là người hiểu rất rõ về tôi, lại một lần nữa uyển chuyển từ chối.

“Chẳng phải cách đây không lâu anh ấy từng xem cho một nữ ngôi sao nổi tiếng nào đó sao? Quả nhiên lời nói ứng nghiệm nên người đó đã được đề cử giải Kim Mã cho hạng mục Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất đấy ư?

Hơn nữa cách đây không lâu chẳng phải cũng xem cho một nữ đồng nghiệp trong ngân hàng rồi sao, biết được lần này cô ấy không bị sảy thai, hơn nữa còn sinh con gái?” Cô Y vẫn không từ bỏ lời thỉnh cầu.

“Nữ ngôi sao kia quả thực là được tính ra bằng tử vi đẩu số, nhưng chuyện đó đã là của một năm trước rồi.” Đỗ Chí Trung trả lời cô Y rằng: “Còn về chuyện gần đây xem cho vợ anh W thì là dùng thiên nhãn thông nhìn thấy trong lúc nhập định, chứ không phải dùng phương pháp bói toán.”

Vợ anh W của anh Chí Trung vì trước đó phẫu thuật khi mang thai sinh nở không thuận lợi nên đã gây ra hiện tượng sảy thai quen thuộc, vì thế bị nhà chồng trách mắng gay gắt. Trải qua một thời gian khá lâu sau cuối cùng cô ấy cũng mang thai, mẹ chồng liền dẫn cô ấy đi khắp nơi cầu thần bói toán kèm theo xem vận mệnh để giải hạn.

Trớ trêu thay, kết quả của việc cầu thần bói toán là tất cả các quẻ xăm đều nói thai nhi không giữ được, mà kết quả xem bói lại đều nói đứa bé trong bụng là con trai, sau khi sinh ra nhất định sẽ khó nuôi v.v... Thế là thái độ của mẹ chồng cô ấy còn biểu lộ sự bất mãn tương đối nhiều hơn so với trước kia.

Vợ anh W trong lúc đường cùng đành nhờ sư huynh Đỗ đến hỏi giúp, “Đây là tia hy vọng cuối cùng, dù thế nào xin anh Lý giúp cho. Chỉ cần anh ấy giúp được tôi, sau này tôi nhất định sẽ thành tâm tin Phật niệm Phật!”

Câu nói này quá nặng nề, quả thực liên quan đến huệ mệnh của một con người, của cả một gia đình. Lúc đó sư huynh Đỗ nhận lời người khác truyền đạt câu nói này, tôi chỉ đành cười khổ đáp lại: “Miễn cưỡng thử xem thì được, có chuẩn xác hay không thì tôi không biết đâu nhé.”

Lần này, chính là lần đầu tiên gặp phải người hoàn toàn chưa từng gặp mặt, mà dựa vào người quen của cô ấy nói ra tên rồi đưa ra dự đoán.

Chỉ là lúc đó không hiểu loại năng lực này rốt cuộc có thuộc về một trong những thiên nhãn thông hay không? Hay là thuộc về một loại thần thông khác?

Sau khi sư huynh Đỗ nói xong tên của cô ấy, tôi thành tâm nhắm hai mắt lại, trong tâm thành khẩn cầu xin Đại Tự Tại Vương Phật, Quan Tự Tại Bồ Tát, Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Địa Tạng Vương Bồ Tát, hy vọng có thể tiêu trừ ác nghiệp sát sinh cực lớn mà vợ anh W đã gieo từ hai kiếp trước.

Đặc biệt là Địa Tạng Bồ Tát, vợ anh W chính là được vị Bồ Tát đại nguyện đại hạnh này nhổ cỏ tận gốc cứu thoát khỏi ác đạo địa ngục. Lúc đó, tôi chỉ cảm thấy Phật quang của Đại Tự Tại Vương Phật — bậc thầy của muôn Phật — tự chân trời bàng hoàng trùm xuống với một thứ ánh sáng vàng vô cùng chói mắt. Trong lòng lập tức hiểu rõ.

Mở mắt ra hướng về phía sư huynh Đỗ nói: “Cô ấy sẽ sinh một bé gái, hơn nữa còn vô cùng bình an vô sự, anh bảo cô ấy cứ yên tâm đi.”

Tôi khựng lại một lúc, lại thận trọng nói: “Nhưng anh nhất định nhất định phải bảo cô ấy niệm ‘Nam mô bản sư Đại Tự Tại Vương Phật’ — chín chữ thiền chín chữ này đấy nhé.”

Sư huynh Đỗ gật đầu, nói: “Được, tôi sẽ mua một chuỗi niệm hạt nhờ anh khai quang rồi tặng cho cô ấy, nhất định sẽ chuyển lời bảo cô ấy niệm thiền chín chữ...”

“Đại Tự Tại Vương Phật là thầy của muôn Phật, là pháp thân Phật của tất cả các Phật —”, tôi căn dặn đi căn dặn lại: “Phật Thích Ca thường nói Phật Lô Xá Na là chân thân của Phật, đồng thời cũng là thật tướng pháp thân của tất cả các Phật. Phật Lô Xá Na chính là Đại Tự Tại Vương Phật, bảo cô ấy phải có lòng tin tuyệt đối để tin tưởng Phật pháp và sự không thể nghĩ bàn của Phật...”

Sư huynh Đỗ là một Phật tử vô cùng thích giúp đỡ người khác, bản thân cũng có tu dưỡng tương đối về mặt lý sự. Hai tháng sau sự việc này, tại một khách sạn Bích Dao ở Đài Bắc, tôi thấy nhân duyên đã chín muồi nên đã dùng thời gian ba phút để truyền giảng cho anh ấy pháp môn chân không diệu hữu của thiên nhãn thông, lúc đó anh ấy từng hô lớn: “Hóa ra là thế, hóa ra là thế, ha ha ha — anh nói thiên nhãn thông rất đơn giản, chỉ có bốn chữ ‘hóa ra là thế’, quả nhiên là hóa ra là thế!” Hóa ra là thế, là bởi vì vốn dĩ anh đã có sẵn rồi.

Vợ anh W sau khi nhận được chuỗi niệm hạt của sư huynh Đỗ quả nhiên mỗi ngày đều chăm chỉ niệm không ngừng, cách ba tháng sau quả thực bình an vô sự thuận lợi sinh hạ một bé gái. Sau này chờ đến lúc chúng tôi mở phật đường, cô ấy đặc biệt đến để bày tỏ lòng biết ơn hết lần này đến lần khác.

“Tôi chẳng có chút công lao nào cả.” Tôi mỉm cười đáp lại cô ấy: “Là sự gia bị của chư Phật Bồ Tát cùng việc chị tự mình niệm thiền chín chữ mà có được cảm ứng, không liên quan gì đến tôi cả. Chị muốn cảm ơn thì đến phật đường mà cảm ơn Đại Tự Tại Vương Phật ấy!”

Đây không phải là tôi cố tình làm bộ khiêm tốn, mà là vì tôi càng ngày càng hiểu rõ điểm không thể nghĩ bàn của chư Phật Bồ Tát. Thật đấy, mỗi lần bất kể là lúc nhập định ngao du hay sau này tiến bộ đến lúc đi đứng nằm ngồi dùng mắt hay không dùng mắt, trực tiếp dùng cái tâm này để lĩnh ngộ thì càng cảm thấy hổ thẹn không thôi trước sự nhỏ bé của bản thân!

“Huống chi kinh Lăng Nghiêm cuối cùng còn nhắc đến hiện tượng năm mươi ấm ma,” tôi và sư huynh Đỗ thường hay tự cảnh tỉnh bản thân: “Ngàn vạn lần đừng để sa vào ma đạo mà không tự biết.”

Sự việc vừa kể trên chính là thí nghiệm đầu tiên sinh ra bằng tai và văn tự bát nhã, chỉ có điều lúc đó không hiểu rõ lắm nên cứ tưởng là thiên nhãn thông.

Đến lần thứ hai, sư huynh Đỗ trước sự thỉnh cầu nài nỉ của cô Y nên đã đến gặp tôi, nói rõ mục đích đến đây. “Chồng của cô Y họ M có mối quan hệ rất tốt với giới đảng chính, có lẽ sau này cô ấy sẽ trở thành một hộ pháp lớn cho việc hoằng pháp của chúng ta cũng nên...”

“Hoằng pháp là không bàn điều kiện trao đổi.” Tôi đáp lại anh ấy: “Cậu biết là tôi sớm đã không dùng tử vi đẩu số, phong thủy bát quái để xem bói cho người ta nữa rồi—”

“Tôi đương nhiên biết, cho nên đã từ chối mấy lần liền. Nhưng dạo gần đây cô ấy gặp vận xui liên miên, nói không chừng lần này cũng giống như vợ anh W là sự ‘nghịch hành’ của Phật để cô ấy có thể thân cận Phật pháp...”

Lúc đó tôi bước vào thiền định biết được cô ấy là người có huệ duyên khá sâu, thế nên đáp: “Thôi được, là nhân duyên thuyết pháp tùy cơ ứng biến vậy —”

Hôm sau, sư huynh Đỗ dẫn tôi đến ngân hàng Anh đó gặp cô Y. Sau một hồi ngồi đối diện với nhau, cô Y sinh ra cảm ứng vô cùng lớn. Cô ấy vô cùng ngạc nhiên vui mừng nói: “Thật là tuyệt diệu, cả người cứ như đang trôi nổi trên hư không rất thoải mái, hơn nữa còn có một nguồn năng lượng liên tục tuôn trào vào trong cơ thể.”

“Đây chính là sự gia bị của chư Phật Bồ Tát đấy!”

Tôi nhìn cô ấy một lát, cuối cùng cũng đem những gì vừa nhìn thấy nói cho cô ấy biết: “Ở sâu trong não bên trái của cô có một nghiệp chướng rất sâu đang hành hạ, có phải cô bị chứng đau nửa đầu không?”

“Phải, phải, chuyện này bị anh nhìn ra rồi sao? Cả ngân hàng không có ai biết chuyện này đâu đấy!” Cô Y liên tục gật đầu, đồng thời hỏi: “Có cách nào để tiêu trừ nghiệp chướng này không?”

“Tôi có thể giúp cô khai quang chuỗi niệm hạt, cũng miễn cưỡng có thể thay cô thỉnh cầu Đại Tự Tại Vương Phật hoãn lại nghiệp chướng này bớt hành hạ cô...” Tôi thận trọng đáp: “Nhưng, dù thế nào đi nữa cô cũng phải thành tâm niệm tụng Phật hiệu, bằng không chẳng ai giúp được cô đâu.”

Sư huynh Đỗ lúc này ở bên cạnh cổ vũ cô Y rằng: “Cách đây không lâu chẳng phải tôi giới thiệu chị đọc bài ‘Thử thách nhân quả thần ma đáng sợ’ của Phùng Phùng đó sao? Cho dù chị có đánh chết sư huynh Lý, anh ấy cũng không dám can thiệp vào nhân quả đâu...”

“Nhân quả không thể nghĩ bàn, lực lượng của Phật lại càng không thể nghĩ bàn!” Tôi bồi thêm một câu: “Cho nên Phùng Phùng mới dùng thủ pháp ám dụ, khi Đế Thích Thiên xuất hiện, nhân quả thần ma liền lùi về núi Cửu Hoa. Chị phải có lòng tin đối với Phật nhé!”

Cuộc trò chuyện đến đây, tôi thấy cô Y vô cùng thành tâm, thế nên nói thêm: “Vừa rồi tôi cũng nhìn thấy tình trạng sức khỏe của bố cô không được tốt lắm...”

“Đúng vậy, đúng vậy — tôi phải làm sao đây?”

“Khuyên ông ấy niệm Phật đi!”

“Nhưng... bố tôi không tin những thứ này lắm...”

Nghe cô ấy nói vậy tôi chỉ đành lắc đầu đáp: “Vậy thì tôi đành chịu thua thôi, cô hãy niệm nhiều Phật hiệu rồi hồi hướng cho ông ấy vậy —”

Cuộc trò chuyện hôm đó kết thúc tại đây, cách mấy ngày sau cô Y đòi số điện thoại từ sư huynh Đỗ rồi gọi điện đến chỗ ở của tôi, nói rằng:

“Sư huynh Lý, tình hình của bố tôi rất không ổn, xin anh giúp một tay —”

“Xin lỗi — tôi không có năng lực đó!”

“Xin anh, xin anh giúp cho một tay...” Giọng nói vô cùng sốt ruột của cô Y truyền đến từ đầu dây bên kia: “Ngày nào tôi cũng dành thời gian vô cùng thành tâm để niệm Phật đấy, bây giờ ngủ trưa cũng không ngủ mà mang ra niệm Phật, làm việc nhà cũng niệm Phật...”

“Thôi được, tôi chỉ đành thử xem sao —” Tôi đáp lại cô ấy: “Bây giờ cô hãy thành tâm ngồi ngay ngắn, tay trái kiết ấn nhất tâm niệm Phật hiệu, đồng thời quán tưởng dung mạo của bố cô. Tay trái cầm ống nghe điện thoại để hai bên có thể liên lạc bất cứ lúc nào...”

Cô Y nói cho tôi biết tên họ của bố cô, rồi bắt đầu ngồi ngay ngắn trong văn phòng theo phương pháp tôi vừa nói. Còn tôi ở đầu dây điện thoại bên này thì nhập định cầu xin Đại Tự Tại Vương Phật cùng chư Phật Bồ Tát đại từ bi đại uy đức lực gia bị.

Năm phút sau khi tôi nói "được rồi" vào ống nghe điện thoại, cô Y kích động trả lời tôi rằng: “Việc này thật sự quá khó tin, thật khó mà tin nổi vừa rồi lúc tôi tưởng tượng ra dáng vẻ của bố tôi, ông ấy lại ‘thật sự’ xuất hiện trước mặt tôi, vô cùng rõ ràng giống như bản thân ông ấy đang ở ngay trước mắt vậy.”

Cô ấy thở dốc một hơi rồi nói tiếp: “Thế nên trong tâm tôi cứ niệm thánh hiệu của Tổ sư, bỗng nhiên cảm thấy các lỗ chân lông trên toàn thân mở ra thoải mái vô cùng. Tôi cảm thấy bản thân mình cùng bố trôi nổi trên hư không, có một nguồn năng lượng cực mạnh, một luồng ánh sáng cực rực rỡ truyền vào trong cơ thể qua ống nghe điện thoại, rồi lại được gửi đến người bố qua Phật hiệu mà tôi niệm —”

“Rất tốt, rất tốt —” Tôi cười nói: “Đây là thiện căn phát tướng nhân duyên túc mệnh của cô đấy, hãy niệm Phật nhiều vào nhé!”

Lần này coi như là một trải nghiệm trực tiếp hơn lần trước, đối với tình hình chư Phật Bồ Tát gia bị từ xa bằng con người làm vật dẫn. Trong bài viết tiếp theo "Kinh nghiệm gia trì từ xa của tôi" sẽ có phần giải thích chi tiết.

Sau đó cô Y lại gọi điện cho tôi, cảm ơn rối rít vì sự gia bị hôm nay, quả nhiên đã khiến bệnh tình của bố cô có khởi sắc lớn.

Tôi rất không thích người khác cảm ơn mình, cho dù là học viên trong phật đường hiện nay viết những chữ kiểu như "Cảm ơn sư huynh Lý" trên bài tâm đắc học Phật, thì nhất định sẽ bị mắng mỏ.

Bởi vì tôi căn bản không có năng lực này, chư Phật Bồ Tát thì các người không cảm ơn lại đi cảm ơn một kẻ phàm phu như tôi để phá hoại việc tu hành của tôi, không mắng các người thì mắng ai? Cho nên bây giờ bọn họ đã khôn ngoan hơn rồi, đổi thành câu nói này: "Cảm ơn chư Phật Bồ Tát đã để chúng tôi học được Phật pháp đại thừa từ Giảng viên Lý..."

Tôi thực sự rất sợ hai chữ "cảm ơn" thốt ra từ miệng người khác, hễ thốt ra lọt vào tai tôi là tạo thành "nhân", có nhân lại đắc "quả". Đây chẳng phải là phá hoại việc tu hành của tôi thì là gì? Viết đến đây lại chợt nhớ thầy Lý bên Thiên Hoa đôi khi cũng thật đáng thương, sáu mươi chín tuổi rồi cơ thể vô cùng tráng kiện, nhưng hễ có người quỳ lạy đảnh lễ thầy ấy, thầy ấy nhất định cũng sẽ quỳ xuống đáp lễ. Than ôi! Quả thực là tra tấn con người ta mà.

Bốn, Từ kinh nghiệm gia trì từ xa của tôi mà nói, kinh nghiệm gia trì từ xa của cá nhân tôi quả thực vô cùng nhiều. Không chỉ ở ngay trên đảo Đài Loan, mọi người cầm điện thoại lên là làm gia trì ngay tức khắc, mà ngay từ Bangkok, Hồng Kông cũng từng làm những thí nghiệm tương tự, còn hiện tại đang làm là thí nghiệm "vào mộng" trong khoảng thời gian từ một giờ sáng đến sáu giờ rạng sáng.

Làn sóng thí nghiệm cảm ứng từ xa về mặt này sớm nhất là nghĩ ra khi trò chuyện phiếm qua điện thoại với người bạn thân Đỗ Chí Trung. Đó là khoảng vào tháng mười một năm 1988, lúc đó tôi đã dần ngừng việc viết tiểu thuyết võ hiệp, cũng dần cắt đứt công việc biên đạo ở giới điện ảnh truyền hình bên ngoài để chuyên tâm tu hành.

Mỗi ngày, sư huynh họ Đỗ đều đến chỗ ở thuê của tôi ở đường Đôn Hóa Nam, cùng nhau tu hành từ chín giờ sáng, niệm Phật đến bốn giờ rưỡi chiều cho đến khi anh ấy đi đón vợ về nhà. Khoảng thời gian này duy trì xấp xỉ bốn tháng, cho đến khi chúng tôi mở Phật đường, ngoại trừ dịp Tết ra thì có thể nói là ngày nào cũng làm như vậy, đợt đó mỗi ngày tôi tu hành gần mười sáu giờ đồng hồ, rất nhiều hiện tượng thần thông, sự biến đổi thân tâm chính là hiển hiện ở giai đoạn đó.

Sư huynh họ Đỗ cũng hoàn toàn là một người có tâm, lúc đó ngân hàng nơi anh ấy nhậm chức muốn thăng chức cho anh ấy ngồi lên vị trí giám đốc, ngày hôm sau anh ấy liền từ chức. Lý do lúc đó nói với ông chủ người Anh là: "Công việc giám đốc quá bận rộn, sẽ ảnh hưởng đến việc tu hành của tôi —."

Quả thực có khí phách khiến ông chủ người ngoại quốc kia đứng dậy hành lễ.

Trong khoảng thời gian đó, hầu như mỗi tối đều sẽ gọi điện thoại với sư huynh họ Đỗ, thảo luận lẫn nhau sau khi anh ấy về nhà thì đôi bên lại làm những công việc tu tập gì, có được những cảm ứng gì? Có một hôm, khi sư huynh họ Đỗ trò chuyện xong liền bất ngờ nói: "Thật kỳ lạ, từ lúc anh vừa thông điện thoại cho đến nay là nửa tiếng đồng hồ, toàn bộ cơ thể tôi có cảm giác tê rần như có dòng điện chạy qua!"

Chính câu nói này đã bắt đầu cho hàng chục hàng trăm vụ việc làm đủ loại thí nghiệm qua điện thoại, thỉnh chư Phật Bồ Tát gia trì cho họ giúp người thân bạn bè của tôi sau này. Giống như tiểu thư Y trong bài viết "Thiên nhĩ thông và văn tự nhã ý" phía trước cũng là một trong số đó!

Ngày 31 tháng 12 năm 1988, tôi và sư tỷ Đơn đã đi Hồng Kông, đây là lần đầu tiên làm thí nghiệm gia trì từ xa vượt biển.

Trong chuyến đi năm ngày, đã hẹn trước với sư huynh họ Đỗ là giữa mười giờ đến mười rưỡi tối mỗi ngày sẽ làm thí nghiệm, đôi bên ghi chép thời gian lại để tiện đối chiếu khi về nước. Kết quả là vừa về Đài Loan thì bị sư huynh họ Đỗ cười mắng một trận: "Cậu thật không giữ chữ tín, năm ngày này không có lần nào là làm trong thời gian đã hẹn cả, hơn nữa còn có một lần vào khoảng ba giờ rưỡi nửa đêm đã 'gọi thức' tôi dậy..."

Cách đầu dây điện thoại, tôi cười ha hả, vui sướng khôn cùng. "Nếu theo thời gian chúng ta đã hẹn trước, có khả năng là tác dụng tâm lý, cho nên tôi cố tình không lần nào ngồi thiền nhập định trong khoảng thời gian đó, nếu thời gian hai người ghi chép lại giống nhau thì mới là đúng chứ!"

Lần thứ hai làm thí nghiệm xuyên quốc gia này là vào khoảng tháng bảy năm nay (1989), lần lượt làm đối với các học viên của Phật đường tại Bangkok, Pattaya, Hồng Kông, sau đó lần lượt viết ra nhật ký tâm đắc, sẽ được phụ lục ở phía sau cuốn sách này — trong Phật ảnh tâm tung.

Rốt cuộc đây là một loại năng lượng như thế nào, mà có thể phá vỡ sự hạn chế của không gian?

Giữa tháng mười hai năm ngoái có một ví dụ thực tế, có lẽ sẽ giúp ích cho mọi người trong việc thấu hiểu. Đó chính là bên trong mạng sườn trái của Phương Thục Nghi, vợ của sư huynh họ Đỗ, mọc ra một khối u, dự định tiến hành phẫu thuật tại Bệnh viện Hoành Ân ở Đài Bắc. Khi kết quả chẩn đoán vừa ra lò, sư huynh họ Đỗ liền chạy đến chỗ ở của tôi nói rằng: "Thục Nghi muốn phẫu thuật loại bỏ một khối u nhỏ lành tính, mặc dù khối u đó không ảnh hưởng gì đến cơ thể, nhưng người nhà vẫn quyết định lấy nó ra thì hơn."

"Nên làm như vậy chứ!" Tôi gật đầu đồng ý.

"Thục Nghi hy vọng cậu có thể gia trì đặc biệt cho cô ấy." Sư huynh họ Đỗ nói: "Đối với một người chưa từng phẫu thuật bao giờ mà nói, lần đầu tiên bị đẩy vào phòng phẫu thuật ắt sẽ sinh ra sự sợ hãi về mặt tâm lý!"

"Anh khách sáo quá rồi!" Tôi cười đáp lại: "Với công lực của anh thì thừa sức rồi!"

"Không được! Không được —, cậu biết Thục Nghi cô ấy tin cậu chứ không tin tôi mà!" sư huynh họ Đỗ cười lớn nói: "Lần nào cô ấy cũng phải đợi cậu 'ra tay' thì mới chịu tin —."

Điểm này khi khai quang chuỗi hạt, độ hóa cơn ác mộng cho bác gái Phương thì đã biết rồi. Trên thế giới này có một số chuyện chính là như vậy, người nhà của mình thì không tin lời của mình, luôn cho rằng đủ loại cảnh giới, thần thông là quá phóng đại, quá mê tín, bắt buộc phải khẳng định hiện tượng này với người ngoài rồi mới nửa tin nửa ngờ.

Cũng giống như trước đây vậy! Khi tôi nhập định thiền định bay đến cõi Phật của Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, một thân hóa ba tự do tung bay lửng lơ giữa không trung trong nhà; trong thiền định nhìn thấy hàng nghìn hàng triệu ức Bồ Tát Di Lặc phát ánh sáng vàng hướng về phía mình cười; cũng từng tu thiền định trong giấc ngủ, xuất thân từ đỉnh tòa nhà nhìn thấy ba đạo ánh sáng cầu vồng hình tròn... vơ vẩn những điều này kể cho sư tỷ Đơn nghe, liền bị cô ấy mắng là hồ ngôn loạn ngữ.

Cho đến tận sau này sư huynh họ Đỗ cũng có cảnh giới tương tự, hơn nữa sư tỷ Đơn cũng trì tụng danh hiệu Phật nhiều lần, sau những cảm ứng thù thắng thì mới tin tưởng.

"Tôi đương nhiên biết —," nghe lời của sư huynh họ Đỗ, tôi vừa cười vừa thở dài nói: "Dù sao thì Thục Nghi tin tôi, còn Đơn Chí Trinh ngược lại tin anh là được rồi."

Trước lúc cúp điện thoại, sư huynh họ Đỗ cười nói lên rằng: "Cậu cứ yên tâm, mấy ngày nay tôi sẽ bảo Thục Nghi cùng tu hành với tôi nhiều hơn, niệm thêm một chút danh hiệu Phật..."

Đêm hôm đó, sau khi hai vợ chồng anh ấy tu hành chung xong rồi đi ngủ, đến nửa đêm lúc mơ màng nửa tỉnh nửa mê, Thục Nghi bỗng nhiên nhìn thấy một cảnh tượng kỳ lạ!

"Sư huynh Lý, tối qua Thục Nghi nói cô ấy nhìn thấy cậu toàn thân phát ánh sáng vàng kiết già phu tọa lơ lửng trên đỉnh đầu cô ấy để gia trì cho cô ấy —." sư huynh họ Đỗ hào hứng gọi đến vào sáng sớm nói: "Thời gian xấp xỉ vào khoảng hơn bốn giờ sáng... Cậu còn nói với cô ấy bảo cô ấy yên tâm, cứ niệm thật tốt cửu tự thiền là được, đừng sợ, phẫu thuật sẽ thuận lợi bình an..."

"Tôi làm gì có năng lực đó chứ?" Điểm này tôi vội vàng phủ nhận: "Trong khoảng thời gian này tôi nhập định là không sai, nhưng mà mấy cái như toàn thân ánh sáng vàng, ngồi trên đỉnh đầu của Thục Nghi thì không có —."

"Vậy lúc cậu thiền định có nói những lời đó không?" sư huynh họ Đỗ truy vấn.

"Ý niệm thì có động qua..."

Sau đó vào hai ngày trước khi phẫu thuật, Thục Nghi đã nhập viện trước tại Bệnh viện Hoành Ân, sau khi tôi biết được liền thầm cầu nguyện Đại Tự Tại Vương Phật đại từ đại bi oai đức lực gia trì cho Thục Nghi.

Vừa mới xuất định, điện thoại liền reo lên: "Sư huynh Lý, có phải vừa rồi cậu vừa gia trì qua không?" Là giọng nói của sư huynh họ Đỗ.

Anh ấy vốn biết thói quen sinh hoạt của tôi, sau mười hai giờ đêm mỗi ngày là nhập định, tu hành, đọc kinh, nghiên cứu cảnh giới trong sách của Phùng Phùng, làm ghi chép, thường là đến bảy giờ sáng mới đi ngủ; sau đó khoảng mười một giờ thức dậy tiếp tục làm công khóa. Cho nên anh ấy sẽ đặc biệt nhấn mạnh "Đặt nhiều đồng hồ báo thức một chút được không?"

Có lẽ là nhận lời gửi gắm của người ta đi! Buổi sáng hôm đó chín giờ đã thức dậy, đến chín giờ rưỡi thì ngồi thiền ba phút; sau đó mãi cho đến chín giờ năm mươi lăm phút mới lại ngồi đến mười giờ. Sau sự việc, thời gian mà sư huynh họ Đỗ ghi chép lại hoàn toàn giống hệt với thời gian tôi ghi chép, anh ấy cười lắc đầu nói: "Quá rõ ràng, cậu lười biếng tôi đều biết!"

Thục Nghi sau đó cũng nói cho tôi biết cảm nhận của cô ấy: "Lần này là gây tê cục bộ, nhưng trong lòng vô cùng bình tĩnh, nửa phần sợ hãi cũng không có, hơn nữa còn có một luồng khí vô cùng nhẹ nhàng bao trùm lấy toàn thân, liên miên kín kẽ vô cùng thoải mái."

Trong toàn bộ sự việc này, tôi vẫn luôn tin rằng đó là sự chiếu cố đặc biệt của Đại Tự Tại Vương Phật, Quan Tự Tại Bồ Tát và chư Phật Bồ Tát. Đặc biệt là lúc Thục Nghi bước vào phòng phẫu thuật, đã mang theo cả chuỗi hạt niệm Phật mà cô ấy thường dùng vào trong đó, một chút "thành" ắt có thể cảm ứng được sự gia trì che chở của Phật Bồ Tát.

Sau đó có một lần vào hơn một giờ rưỡi nửa đêm, lúc tôi đang đả tọa ở Phật đường thì nhìn thấy một học viên trong kỳ thứ hai đang mắng người, mà "linh thức" của cô ta thì đang khóc.

"Tham sân si là ba độc đấy! Sao có thể phạm giới lớn như vậy chứ?" Tôi truyền đạt bằng tâm niệm cho cô ta, đồng thời cầu xin Đại Tự Tại Vương Phật gia trì cho cô ta, tha thứ cho cô ta. Khi đến lớp vào ngày hôm qua tôi hỏi: "Tối qua một giờ mấy cô đang làm gì vậy?"

Cô ta giật mình hoảng hốt, người bình thường thì đang ngủ rồi chứ!

Chỉ thấy cô ta cúi rạp đầu vô cùng ngại ngùng đáp lại: "Uống trà cùng mấy vị sư huynh sư tỷ."

"Uống trà? Nửa đêm một giờ uống trà? Còn gì nữa? Tán gẫu gì thế?"

"Mắng người!" Đầu của cô ta liền thấp xuống, mặt càng đỏ hơn.

"Mắng người? Hừ, hừ —— mắng người? Sau đó thì sao?"

"Sau đó, khoảng tầm hai giờ thì đột nhiên toàn thân có một luồng thanh tảng bao trùm xuống..." Cô ta nhìn tôi như thể đã hiểu ra điều gì đó, có phải là sư huynh Lý gia trì không?

"Là Đại Tự Tại Vương Phật thấy cô đáng thương —." Tôi chỉ vào bức tượng Phật, nói: "Sao còn chưa mau đi làm văn lễ Phật lạy sám hối để sám hối đi?"

Nhìn từ những ví dụ trên, loại gia trì từ xa này có vẻ như là một loại thần thông ghê gớm lắm sao?! Sai rồi, đây chỉ là một việc vô cùng bình thường mà thôi. Gia trì từ xa thực ra chỉ đóng vai trò là một loại "chất dẫn ý niệm" mà thôi.

Loại "chất dẫn ý niệm" này thực chất chỉ là dùng một phương pháp —— tu trì niệm Phật, lễ Phật, ăn chay "khiến cho từ trường toàn thân bạn được thuần khiết, tần số rung động của sóng não, không ngừng nâng cao cho đến khi có thể cộng hưởng với năng lượng của chư Phật Bồ Tát trong pháp giới mà thôi! Khi ý niệm sóng não của bạn cộng hưởng với năng lượng của chư Phật Bồ Tát, luồng năng lượng thuần khiết nhất pháp giới này sẽ truyền tải phản chiếu" ngay lập tức "vào thân, tâm bạn với tốc độ vượt thời gian không gian. Lúc này, bạn chính là một chất dẫn điện! Mượn ý niệm (lòng thành) cộng hưởng với năng lượng của chư Phật Bồ Tát, rồi lấy chính bản thân làm chất dẫn điện để" đưa "đến người cần giúp đỡ. Đây chính là điểm" bất khả tư nghị "của toàn bộ sự bất khả tư nghị trong gia trì từ xa. Thế nhưng khi làm gia trì từ xa tuyệt đối phải ghi nhớ rằng, cái" tâm "của mình đặt ở đâu? Nếu định lực không đủ, rất dễ bị cảnh chuyển thành thức hoặc, đến lúc đó chẳng những rơi vào giả tướng hư ảo, mà còn rất dễ vướng phải năm mươi ấm ma mà khoác lác xưng mình là Phật. Cho nên, trước khi muốn sở hữu năng lực này bắt buộc phải thành tâm thành ý lễ Phật lạy sám hối, niệm cho thật chắc chắn từ một trăm tiếng danh hiệu Phật trở lên, quan trọng hơn là duy trì độ tinh khiết từ trường của thân thể mình, có thể phối hợp tương hỗ với tâm cảnh ý niệm —— tức là giới mặn ăn chay.

Bằng không, thân tâm không như một thì làm sao có thể cảm động sự hộ trì chiếu cố của chư Phật Bồ Tát?! Sau khi bước vào cảnh giới thân tâm như một, tiếp đến chính là đem cái" tâm "này đặt ở đâu? Cái tâm về mặt tinh thần phải đặt ở trong" vô niệm ", mà cái" tâm "của bản tính thì chủ về Phật vị tự tính. Một khi an trú ở Phật vị tự tính, thì sẽ tâm ý thông suốt với chư Phật Bồ Tát vô lượng vô số nhiều như cát sông Hằng, ánh sáng dung hòa lẫn nhau. Công đức nhất tâm, há lại không mượn lấy một niệm của mình để gánh chịu ơn cảm đức lực gia trì của Phật Bồ Tát hay sao? Cho nên tôi nói gia trì từ xa không phải là thần thông gì ghê gớm cả, chỉ cần bạn hành trì không gián đoạn niệm Phật, lễ Phật, ăn chay, thì bất cứ ai cũng có năng lực này. Năm, Chiều thứ bảy (Mười câu hỏi trước khi giảng Đàn Kinh) Phật đường vào mỗi chiều thứ bảy là mở cửa cho các học viên các khóa đến cùng nhau tu hành, đặt câu hỏi. Không biết là do thói quen của người Trung Quốc hay là những học viên này ngay cả câu hỏi ở đâu cũng không biết, cho nên những câu hỏi tôi hỏi họ ngược lại còn nhiều hơn rất nhiều so với những câu hỏi họ hỏi tôi." Trương Biệt Đa trước khi viết kệ cho Lục Tổ từng nói: 'Ngươi chỉ cần tụng kệ, ta vì ngươi viết; ngươi nếu đắc pháp, trước tiên cần độ ta, chớ quên lời này.' Thế nhưng trong toàn bộ Lục Tổ Đàn Kinh, Lục Tổ không hề độ ông ta, tại sao? "

"Huệ Năng hỏi Ngũ Tổ đi về phương nào? Tổ đáp: 'Gặp Hoài thì dừng, gặp Hội thì trốn.' Huệ Năng sang canh nhận được y bát rồi chạy trốn về phương nam bị Huệ Minh đuổi kịp, sau một hồi giảng pháp độ được Huệ Minh rồi, Minh hỏi: 'Huệ Năng từ nay về sau đi về phương nào?' Huệ Năng đáp: 'Gặp Viễn thì dừng, gặp Mông thì ở.' Kỳ lạ, rốt cuộc bản thân Lục Tổ có biết 'đi về phương nào' hay không? Biết thì hà cớ gì phải hỏi Ngũ Tổ? Không biết thì làm sao chỉ điểm Huệ Minh?!"

"Một cục đá thì làm sao minh tâm kiến tính?"

"Tại sao năng lực thần thông của một số vị La Hán lại cao hơn Bồ Tát? Lại tại sao La Hán đầy đủ năng lực đại thần thông lợi ích chúng sinh đối với ông ấy hoàn toàn không có tổn thất gì ngược lại còn có công đức, tại sao không làm?"

"Chư Phật không tướng sao lại có thủ ấn?"

"Lúc lễ Phật tại sao phải dùng quỳ? Lẽ nào phải quỳ cậu mới thành tâm, dùng đứng, dùng ngồi thì cậu không thành tâm nữa sao?"

"Thế nào gọi là giúp người gánh nghiệp chướng gánh nhân quả? Của người khác sao lại biến thành của cậu?"

Những vấn đề như trên đều lần lượt xuất hiện trên bảng đen, chiều thứ bảy hàng tuần đại khái đều hỏi bốn, năm đề thi đánh gục chúng sinh.

Trở về phòng thiền định một tiếng đồng hồ rồi đi ra Phật đường.

"Có đáp án chưa?"

"Chưa!"

"Sao lại không có? Các cậu học Phật người thì ba, bốn năm, người thì mười mấy năm, đạo tràng chạy khắp nơi, tượng Phật lạy sạch, mấy câu hỏi nhỏ này sao lại không có đáp án?"

Không có chính là không có, vấn đề càng nhỏ thì nghi hoặc càng lớn. Người Trung Quốc hình như tương đối thích tuân theo lời dạy của sư phụ, sư phụ dạy thế nào thì chính mình làm thế nào. Cho nên đến cuối cùng, nói là lời của người khác, tu là cảnh giới của người khác, nửa chút trí huệ cũng không sinh ra. Lý chứng thiếu sót, sự chứng không có, vô cùng đáng thương!

Tháng bảy năm nay sau khi từ Thái Lan, Hồng Kông về nước, chuẩn bị vào giữa tháng tám bắt đầu giảng Lục Tổ Đàn Kinh, đã chọn cuốn "Lục Tổ Đàn Kinh kim dịch" của Pháp sư Thánh Ấn do Thiên Hóa xuất bản làm giáo trình mẫu.

Vào buổi chiều thứ bảy trước buổi học đầu tiên, đã cùng liệt kê ra mười câu hỏi xoay quanh bài kệ của Lục Tổ và bài kệ của Thần Tú để hỏi học viên. Ở đây tôi tuyệt đối không dám nói tôi có kiến giải thâm sâu thế nào đối với Lục Tổ Đàn Kinh, chẳng qua chỉ là đem cái nhìn về một chút lý chứng sự chứng của bản thân mình bỏ vào trong Lục Tổ Đàn Kinh để so sánh mà thôi. Huống chi cuốn Đàn Kinh này của Thiên Hóa là bản dịch giải của Pháp sư Thánh Ấn, đúng trọng tâm trúng đích khiến cho một vãn bối như tôi vô cùng khâm phục sự tâm huyết của Pháp sư.

Đạo tràng của Pháp sư Thánh Ấn vô cùng có linh lực, có một lần Đạo sư họ Đỗ từ Đài Trung về liền gọi điện thoại bảo với tôi rằng: "Ngôi chùa của vị Pháp sư Thánh Ấn đó vô cùng có linh lực, bậc đá vừa leo đến lưng chừng là đã cảm nhận được từng đợt năng lượng linh tính biến đổi liên miên bất tận ở phía trên, nhất định là người có tu trì tương đương."

Nhưng mà lý do tôi dám mạo muội giảng Lục Tổ Đàn Kinh, là bởi vì quá nhiều người đã phớt lờ hàng trăm phương pháp tu trì thành tựu ngay trong đời sống được ẩn giấu sâu sắc bên trong nó. Ở trong những phật tử mà tôi biết, quá nhiều người coi Lục Tổ Đàn Kinh như sách sự tích để đọc.

Thật đáng tiếc làm sao, cả đời Lục Tổ thành tựu đã cô đọng toàn bộ ý chỉ của chư Phật trong pháp giới lại ở trong Đàn Kinh, giống như Đại Bát Nhã Kinh được cô đọng thành Tâm Kinh vậy, người đời không biết có bảo vật, cứ xem xong là vứt khiến cho người ta lắc đầu ngầy ngẩy.

Chúng ta nhân đây tùy tay trích lấy hai đoạn nhỏ để xem Lục Tổ Đàn Kinh xem như thế nào nhé?

Hai đoạn này đều xuất phát từ phẩm Hành Hữu thứ nhất, trang thứ bảy và trang thứ mười sáu của cuốn sách gốc: "Huệ Năng nghe nói, kiếp trước có duyên, bèn được một vị khách cho 'mười lượng bạc' để Huệ Năng dùng làm áo quần lương thực cho mẹ già, bảo bèn đi Hoàng Mê bái yết Ngũ Tổ."

"Mười lượng bạc" trong đoạn này xin hỏi có thể để cho mẹ già của Huệ Năng sống được bao lâu? Huệ Năng đi chuyến này thì không hề quay về quê cũ nữa, mẹ của anh ta tiêu hết mười lượng bạc này rồi thì phải làm sao? Chết đói sao?! Huệ Năng làm sao dám yên tâm mà đi chứ?!

Đoạn ở trang thứ mười sáu là: "Tú bèn suy nghĩ, chẳng bằng bốn câu kệ ở hành lang, nếu như hòa thượng nhìn thấy, bỗng như bảo hay, liền ra lễ bái, nói là Tú làm, 'nếu bảo không kham, uổng phí trong núi mấy năm, chịu lễ bái, còn tu đạo gì nữa'?"

Câu nói phía sau "nếu bảo không kham, uổng phí trong núi mấy năm, chịu người lễ bái, còn tu đạo gì nữa" Thần Tú nói có đúng không? Nhìn đoạn lời này thì Thần Tú có lòng hổ thẹn vô cùng, hơn nữa tâm ngạo mạn tương đối nhẹ nhàng; bằng không thì sao lại có chuyện đời sau tôn sùng Lục Tổ mà phái đệ tử đi "trộm pháp" sau này chứ?

Thế nhưng, người học Phật có chút trắc trở như vậy liền sinh tâm thối chuyển, thốt ra bốn chữ "còn tu đạo gì nữa", có phải là trò cười không?!

Quan trọng hơn nữa, Đàn Kinh là do Lục Tổ khẩu thuật đệ tử ghi chép lại mà thành; lúc Lục Tổ nói đến phần này, lại làm sao biết được Thần Tú lúc đó trong lòng đang suy nghĩ gì? Lẽ nào lúc đó ông ta trộm nấp ngoài cửa sổ của Thần Tú nhìn vào trong, rồi nhìn thấu trong đại não của Thần Tú có tha tâm thông nên mới biết được?

Những vấn đề như trên ở trong Lục Tổ Đàn Kinh nhiều như lông bò, người xem kinh hời hợt một chút thì coi Đàn Kinh như sách sự tích mà xem, qua rồi thì thôi. Thế nhưng có một số kẻ tinh ranh hơn, tự xưng là chuyên gia nghiên cứu Phật học thì bắt đầu đem ra để hạch hỏi phật tử. Cậu trả lời thế nào đây?!

Đáng thương thay, không có lý chứng, sự chứng, nhìn đông ngó tây trái phải xem kinh Phật tối đa cũng chỉ đạt được "y văn giải nghĩa" khiến cho "ba đời Phật oan uổng"; thế nhưng trong tâm đã thấu suốt rồi, tất cả kinh Phật cộng lại cũng chỉ có đem đi nhóm củi đốt thì mới có thể nấu nước sôi mà thôi. Hãy cứ liệt kê bài kệ của Thần Tú và bài kệ của Lục Tổ ra trước đã: Thân là cây bồ đề, tâm như đài gương sáng, luôn luôn chăm chỉ lau chùi, chớ để dính bụi bẩn. Bồ đề vốn không cây, gương sáng cũng chẳng đài, xưa nay không một vật, nơi nào dính bụi bẩn. Mười câu hỏi là: So sánh sự khác biệt của hai bài kệ? Cảnh giới trên bài kệ của Thần Tú có kém hơn Lục Tổ không? Tại sao Ngũ Tổ nói bài kệ của Lục Tổ chưa minh tâm kiến tính? Có phải thực sự chưa thấy bản tính không? Hay là lời nói dối phương tiện uyển chuyển của Ngũ Tổ? Lục Tổ thực sự đã đạt đến cảnh giới trong bài kệ, hay chỉ đem bài kệ của Thần Tú "đảo ngược" lại mà thôi? Lục Tổ có phải là kẻ mượn danh trục lợi gạt đời không? Tính theo thời gian, Ngũ Tổ hỏi Lục Tổ gạo chín chưa? Đến canh ba đi gặp Ngũ Tổ được truyền cho Kim Cương Kinh, trong sáu canh mười hai tiếng đồng hồ ở giữa này Lục Tổ đang nghĩ gì? Ông dựa vào đâu mà chỉ một câu "ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm" mà kiến tính? Cảnh giới mà Thần Tú đề cập là sự chứng của bản thân hay đang đùa giỡn chữ nghĩa? Lục Tổ kế thừa y bát chạy trốn về phương nam, tại sao Ngũ Tổ không ngăn cản hành động môn nhân đuổi giết Lục Tổ? Dưới cửa Ngũ Tổ sao lại có nhiều kẻ tham sân thích giết chóc đến vậy? Lục Tổ được y bát chạy trốn về phương nam, tâm thái của Thần Tú ra sao? Hai câu hỏi sáu, bảy trước đó có liên quan gì đến bài kệ của Thần Tú? Pháp tu hành của Thần Tú đúng, hay pháp tu hành của Lục Tổ đúng?

Sau khi lau sạch hai bài kệ trên bảng đen rồi hỏi rằng: "Bốn mươi chữ vừa viết trên bảng đen là gì? Sau khi lau sạch rồi thì thứ còn lại là gì?"

Mười câu hỏi trên có lẽ sẽ bị các bậc đại đức bốn phương xem thành trò cười, thế nhưng sở dĩ tôi đưa ra là bắt nguồn từ kiến giải cá nhân —— hai bài kệ của Lục Tổ và Thần Tú này chính là cửa khẩu bước vào trí huệ vô biên của Lục Tổ Đàn Kinh, nếu không thể dùng trí huệ nhìn thấu hai loại phương pháp tu trì hướng đến căn cơ thượng thượng và kẻ phàm phu tục tử này, vậy thì toàn bộ Lục Tổ Đàn Kinh có lẽ chỉ còn lại văn tự tướng!

Chúng ta trước tiên thảo luận chung câu hỏi thứ nhất và thứ hai: Bài kệ này của Thần Tú là hữu vi pháp, nói về "sinh"; bài kệ của Lục Tổ thì nói về vô vi pháp —— "diệt". Cho nên Ngũ Tổ dùng giày lau kệ mà nói rằng: "Cũng chưa thấy tính" là có đạo lý tương đương của ông ấy.

Bởi vì thật sự minh tâm kiến tính chắc chắn là đã phá vỡ pháp sinh diệt, há lại chỉ chấp trước vào một đầu? Tu hành coi trọng pháp Đại Thừa thân tâm như một, lấy thân làm nhập thế, lấy tâm làm xuất thế, giác ngộ vô thường mà ứng dụng bình thường mới là ý nghĩa diệu kỳ của pháp Đại Thừa. Thế nhưng, mặc kệ là pháp nhập thế, pháp xuất thế thì đều là pháp, vẫn bị vướng mắc bởi các thứ văn tự lý, đều còn đang nghiền ngẫm trên các loại văn tự lý.

Pháp Đại Thừa nói là diệt hợp làm một viên dung, thế nhưng chúng ta bắt buộc phải vứt bỏ cả sự viên dung này đi, lúc này mới được thấy tính mới được an trú vào Phật vị tự tính. Cho nên, khi Ngũ Tổ giảng câu trong Kim Cương Kinh: "Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm", Lục Tổ mới thực sự hiểu rõ, thấy được bản tính chính là cái thứ không sinh không diệt như như bất động rất rất không bình thường đó, cũng chính là "sinh tử không câu thúc, vạn pháp câu thúc nó không nổi"!

Đáp án của câu hỏi thứ ba lại là gì? Theo kiến giải nông cạn của cá nhân tôi chính là cầm một chiếc lọ thủy tinh có dán nhãn "toluen" cho bạn xem, hỏi bạn rằng: "Trong bình này đựng gì?" Bạn sẽ trả lời là: "Toluen." Bởi vì người bình thường nhìn thấy văn tự tướng thì liền đinh ninh ý nghĩa của nó; giả sử đổi thành đi hỏi một người Mỹ mà anh ta lại không hiểu tiếng Trung, anh ta sẽ trả lời thế nào?

"Không biết!"

Thiền là vô cùng tự nhiên, một người tu hành sau khi bước vào một tầng thứ nào đó về mặt tâm tính, anh ta sẽ căn cứ vào những việc đã làm, những lời đã nói, trong tất cả mọi hành vi cử chỉ mà lĩnh hội được đủ loại biến đổi năng lượng do toàn bộ vũ trụ diễn ra dưới sự vận hành tự nhiên. Tâm có thể lĩnh hội được điểm này chính là Thiền! Nếu không dùng tâm để suy tư cho đến tận minh bạch rõ ràng, mà cứ muốn dùng văn tự tướng để truy tìm thế giới của "tâm" thì tuyệt đối là điều không thể.

Bởi vì cái "tâm" mang Phật tính này đã tạo ra hư không, mười hai loại năng lượng của hư không vận động nhọc nhằn mà sinh ra pháp giới, pháp giới thông qua tác dụng của năng lượng thời gian mà sinh ra vạn tướng vạn vật. Ở trong vạn tướng vạn vật này, một quả địa cầu nhỏ bé với tiếng Trung trong hàng nghìn hàng loại ngôn ngữ văn tự —— bạn muốn dùng văn tự tướng tiếng Trung này để truy tìm "tâm" thì chẳng phải giống như ếch ngồi đáy giếng nào biết biển cả rộng lớn mênh mông hay sao?!

Nhưng mà nói ngược lại, nếu dùng "tâm" để nhìn văn tự tướng của các loại kinh Phật thì có thể "một nghe lý chứng, nhân sự chứng tận"!

Bây giờ chúng ta quay đầu lại nhìn câu hỏi thứ ba!

Lục Tổ nhìn thấy bài kệ của Thần Tú liền biết ông ta chưa thấy bản tính, biết rằng rơi vào văn tự hữu vi pháp là không đúng. (Hãy xem trước câu trả lời khi Lục Tổ lần đầu gặp Ngũ Tổ: "Chỉ cầu làm Phật", lúc đó Lục Tổ cũng không biết Phật là không thể cầu —— muốn thành Phật nằm ở tự mình cầu nội chứng! Cho nên, chúng ta có thể tưởng tượng quan niệm trước khi ngộ được bản tính của Lục Tổ cũng giống như người bình thường: không chính thì phụ, cái ngược lại của sai chính là đúng! Thế nhưng đây là thế luận ngoại đạo —— có tâm so sánh.) Cho nên Lục Tổ đã dùng phương thức tương đương hoàn toàn ngược lại để nhờ Trương Nhật Dụng viết xuống bài kệ nổi tiếng được lưu truyền ngàn đời đó. Ngũ Tổ mặc dù biết rõ ông ta chưa thấy bản tính, thế nhưng sao lại nói là mạnh hơn Thần Tú một chút —— bởi vì Lục Tổ có thể nhìn ra Thần Tú chưa hề thấy bản tính.

Ở đây chúng ta có thể nhìn ra, Lục Tổ không phải là kẻ mượn danh trục lợi. Ông ta có căn cơ trí huệ vô cùng nhạy bén, chỉ là lúc đó chưa nhận được tâm ấn phó mật chỉ thẳng tâm chứng của Ngũ Tổ mà thôi. Cho nên khi Ngũ Tổ hỏi: "Gạo chín chưa?", Huệ Năng đáp: "Gạo chín lâu rồi, chỉ còn thiếu cái sàng nữa thôi." Quả thực là đáp theo tình theo lý không có nửa điểm giả tạo.

Cho nên, nối tiếp ngay câu hỏi thứ tư: Sáu canh giờ này Lục Tổ đang suy nghĩ gì? Thì có thể hiểu rõ rồi. Chúng ta có thể tưởng tượng với căn cơ tuệ khí của Lục Tổ ắt sẽ đem hết tâm tư suy ngẫm phản phúc tham cứu —— tại sao mặt trái của sai không phải là đúng?

Trong thế gian pháp, mặt trái của "sai" chính là "đúng", nhưng tại sao trong Phật pháp lại không phải như vậy? Lục Tổ trong khoảng thời gian này có thể nói là tâm (suy tư) và thiền (ý Phật) kết hợp một cách tự nhiên trong định (tham nghiên không ngừng).

Đây là một khoảng thời gian vô cùng quan trọng đối với Lục Tổ, cũng là dụng tâm lương khổ lấy giày lau kệ, lấy gậy gõ đất của Ngũ Tổ. Theo kiến giải trên lý và sự chứng của cá nhân tôi —— nếu muốn đại ngộ, trước tiên phải đạt được hai mươi tư tiếng một ngày đều ở trong định không khởi một niệm nào; sau đó mới có thể sinh "huệ" —— "cái niệm ấy" ở trong "định" "vô niệm" này.

Ở đây người học Phật chúng ta phải biết một chuyện —— nếu cứ đem ý thức tinh thần của cái đầu bạn dùng mãi vào việc suy nghĩ về mệnh tài quan khoa của thế gian pháp, thì Phật tính sẽ bị năm uẩn che khuất, cuối cùng sẽ chìm đắm trong sáu đường cứ nổi lên chìm xuống thế này không thể siêu việt tam giới; thế nhưng, nếu ý niệm của bạn từng chút từng chút ứng khớp với đại sự Phật pháp, lúc này năng lượng của sóng não không những không hao tổn, mà dưới sự suy ngẫm phản phúc, tần số rung động của sóng não ngày càng trở nên tinh vi tế nhị, tức là cái gọi là tham đắc trí sinh trong môn Thiền tông.

Lục Tổ lúc này suốt ngày trầm tư cứ mãi luân hồi trong pháp sinh diệt, cho nên khoảnh khắc đột ngột nghe thấy câu nói "ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm" do Ngũ Tổ nói ra, ắt là chấn động đất trời đại triệt đại ngộ —— hà cớ gì phải cứ nghĩ mãi về đúng sai thiện ác sinh diệt? Cái gọi là không trụ ở trước, không trụ ở sau, không suy nghĩ thiện, không suy nghĩ ác, không có tất cả công đức cũng như bản tính của tội lỗi là không.

Lục Tổ đại ngộ, ngộ xong liền chứng, cái chứng được chính là cái "tâm" tự cầu nội chứng này —— Phật vị tự tính.

Tiếp theo chúng ta xem câu hỏi thứ năm: Cảnh giới của Thần Tú rốt cuộc ra sao?

"Thân là cây bồ đề, tâm là đài gương sáng" đây là cảm nhận thuộc về phương diện "tướng", tự hứa hẹn tự răn mình từng chút từng chút một qua một khoảng thời gian dài, rất dễ phản chiếu tác dụng ý thức của "tâm" lên sự biến hóa của "thân". Thần Tú đem "cảnh" biến hóa này làm bài kệ để bày tỏ kiến giải lý chứng của ông ta.

"Luôn luôn chăm chỉ lau chùi" năm chữ này là yếu chỉ tu trì của Thần Tú cũng chính là pháp môn tu hành của ông ta. Đừng có tưởng nó đơn giản, ba độc tham sân si khiến cho người đời quay mòng mòng, người có thể tùy thời phản tỉnh vào đời thực sự không nhiều lắm đâu. Cho nên câu "luôn luôn chăm chỉ lau chùi" này của Thần Tú là lấy giới làm nền tảng tu hành, chính là một môn công khóa cơ bản vô cùng quan trọng khi tu hành hai mươi tư tiếng đều định.

Nếu như thực sự tu vào bên trong rồi, thậm chí ngay cả ngủ, nằm mộng cũng có thể tu hành làm công khóa, vậy thì chính là thành tựu tương đối rồi.

"Chớ để dính bụi bẩn" năm chữ cuối cùng này chính là điểm then chốt bị Ngũ Tổ, cũng là bị Lục Tổ nhìn thấu chưa minh tâm kiến tính.

Kiến giải của người nước ta là, Ngũ Tổ cho rằng vốn dĩ không hề có cái gọi là "bụi bẩn"; còn Lục Tổ bằng căn cơ tuệ khí của mình thì có thể liếc mắt nhận định ngay, cho dù có "bụi bẩn" đi nữa thì làm sao có thể dính lên Phật tính "xưa nay không một vật" chứ?

Nhìn từ bốn câu kệ phía trên, câu "luôn luôn chăm chỉ lau chùi" đó của Thần Tú ở phần "tâm" hoàn toàn chưa khế nhập, chưa có sự chứng thực thật sự mà nói chuyện chứng pháp thì đó là trò chơi văn tự lý chứ không phải lý chứng chân thật. Bằng không, thì há lại có chuyện mười ba lần dâng lên không được mà phải viết kệ lên vách tường hành lang phía nam chứ?!

Khi chúng ta đã hiểu rõ suy nghĩ và cảnh giới giữa ba người bọn họ rồi, năm câu hỏi tiếp theo liền trở nên đơn giản rồi.

Ngũ Tổ không ngăn cản môn nhân đuổi giết Huệ Năng, một mặt là vì nhân duyên chưa đủ cho nên không phải thời điểm Lục Tổ truyền pháp, mặt khác là vì nghiệp lực (hoặc nghiệp lực chúng sinh) của Lục Tổ chưa tịnh đến mức hoằng dương pháp môn kiến tính lớn này cho nên không ngăn cản. Còn có một điểm quan trọng hơn nữa, đó là bởi vì ông ta không ngăn cản, mà đã tạo nên đại nhân duyên Huệ Minh được nghe Lục Tổ khai ngộ.

Với thành tựu của Ngũ Tổ, lẽ nào ông ta không biết nhân duyên của vị đệ tử tứ phẩm tướng quân đó đã chín muồi, hơn nữa người độ ông ta chính là Lục Tổ sao?!

Vậy thì Thần Tú lại ôm giữ tâm thái thế nào? Các sư đệ vì y bát mà bốn bề tìm kiếm săn lùng giết hại Huệ Năng, tin rằng tâm trạng của ông ta là từ chán nản chuyển thành phản tỉnh.

Chán nản là vì bản thân đường đường là vị trí giám khảo trưởng, vậy mà lại không bằng một tên thợ chẻ củi giã gạo ở nhà bếp?! Tâm trạng chán nản trắc trở này, may mà ở trong sự tu trì "luôn luôn chăm chỉ lau chùi" đã chuyển ma thành thánh. Đúng như câu tâm niệm vừa chuyển, chuyển nghiệp tu huệ; cho nên năng lực để Thần Tú có thể trở thành quốc sư cao quý đời sau, có uyên nguồn cực lớn với khoảnh khắc này.

Điểm then chốt lớn nhất của hai câu hỏi này và bài kệ của Thần Tú nằm ở đâu vậy? Vẫn nằm ở câu "chớ để dính bụi bẩn" đó.

Thành tựu trọn đời của Thần Tú không thể sánh ngang với Lục Tổ, chính là nằm ở chỗ trong suốt cuộc đời tuy tán thán thành tựu của Lục Tổ, thế nhưng rốt cuộc vẫn bị vướng víu bởi khoảng cách không gian, sự tôn quý của bậc thầy mà không thể trực tiếp đến cầu pháp ngộ chứng với Lục Tổ. Người học Phật phải gan lớn tâm tỉ mỉ, chẳng có gì là buông bỏ không được, ngay cả thể diện mà còn buông không xuống thì làm sao thành Bồ Tát, thành Phật? Thần Tú cả đời không ngộ, thật là đáng tiếc cũng thật đáng thương!

Bây giờ nhắc đến câu hỏi thứ chín, pháp tiệm tiến của Thần Tú đúng, hay pháp đốn ngộ của Lục Tổ đúng? Có lẽ bạn sẽ nói pháp tiệm tiến hợp với phàm phu, pháp đốn ngộ hợp với người căn cơ thượng thượng. Thế nhưng, nếu bạn hiểu rằng Phật nói Phật pháp là pháp tự cầu nội chứng, vậy thì cũng sẽ hiểu rằng tất cả pháp đều không phải là pháp. Pháp không đốn tiệm, nhân không bất đồng; mà cái chữ "bất đồng" này chính là nói vì căn cơ trí huệ từ nhiều đời nhiều kiếp đến nay của bạn và tâm tinh tấn đã hạ quyết tâm trong đời này!

Cho dù có căn cơ trí huệ nhưng lại bị ngoại cảnh thế gian pháp chuyển hóa, thì có ích gì chứ?!

Theo những gì tôi biết, bất kỳ đoạn nào hay thậm chí bất kỳ câu nào trong kinh Phật cũng đều có thể trở thành pháp môn tu trì đại diệu nghĩa; cái gọi là "đắm chìm vào tạng kinh, trí huệ như biển" chính là đây!

Thần Tú đúng hay Lục Tổ đúng? Điều này không quan trọng, quan trọng là tâm của bạn — người học Phật này — đang đặt một cái tâm với ý niệm gì? Nếu có thể cắn răng tự thề với bản thân tinh tấn dặn đi dặn lại, vĩnh viễn không thối chuyển; tôi có thể nói, bạn chắc chắn là long tượng Phật môn căn cơ thượng thượng trong thế gian Ta Bà này.

Cuối cùng, tôi đem những chữ trên bảng đen này lau đi, bạn nói còn lại cái gì? Lưu ảnh thị giác? Không đúng! Thức thần vẫn đang khởi tác dụng? Không đúng! Không có gì cả? Không đúng! Không? Đơn giản là chưa chứng mà nói là đã chứng, nghịch ngợm lung tung văn tự.

Vậy rốt cuộc còn lại cái gì?

Còn lại tấm bảng đen sạch sẽ tinh tươm! Ngay cả cái... cũng không hiểu, mù mắt rồi à? Có vẻ rất có ý thiền nhỉ? Hồ ngôn loạn ngữ, thiền cái gì? Quẹt quẹt bảng đen cũng gọi là thiền á? Phải làm cho rõ ràng minh bạch, thiền là thứ tự nhiên nhất, hợp với Phật tính nhất mới là thật, mới là Như Lai thiền; bằng không thì toàn biến thành ngu phu thiền, bám víu thiền, quan sát thiền, u u mê mê trôi qua ba a-tăng-kiếp, kết quả là người ta đều thành Phật hết rồi chỉ có mỗi bạn là chưa!

Nhớ cho kỹ câu đầu tiên của Lục Tổ trong Đàn Kinh: "Bồ đề tự tính, vốn dĩ thanh tịnh."

Vốn dĩ thanh tịnh, ai bảo cậu bày ra một đống thứ mà chính cậu cũng không hiểu để hại người hại mình chứ?!

Sáu, Sao lại có nhiều "tôi" thế này?

Trong những kinh nghiệm thần thông mà tôi biết được, phiền toái nhất chính là thần túc thông. Lạ thật, có lẽ bạn sẽ nghiêng đầu hỏi tôi: "Kinh nghiệm thần túc thông rất tuyệt mà, có thể không cần bước chân ra khỏi nhà mà ngao du thế giới, thậm chí đến các cõi Phật trong pháp giới! Có gì mà không tốt chứ?"

Đúng vậy, thần thông vốn dĩ chẳng có phân biệt tốt xấu gì cả, chỉ là nếu như ở trong giấc mơ, bạn dùng thần túc thông quay về kiếp trước để độ nghiệp chướng từ nhiều đời nhiều kiếp của chính mình, thì bạn sẽ hiểu được tầm quan trọng của "định" lực.

Hơn nữa, cho dù không phải là tự độ nghiệp chướng túc mệnh của mình, bắt bạn một đêm trải qua hàng nghìn hàng vạn nơi hoặc ở cõi Phật, hoặc ở cõi trời, hoặc ở thế giới khác, hoặc ở địa ngục thì đó thực sự là một việc gần như "đau khổ". Lúc mới vừa khởi phát hiện tượng thần túc thông khi đó, vẫn chưa thể làm công khóa, tu hành trong lúc ngủ, cho nên trôi dạt đông tây không thể khống chế, cho đến tận một ngày nọ cầu nguyện rằng: "Chư Phật Bồ Tát pháp giới, xin các ngài hãy làm cho tôi biến mất năng lực này đi?"

Bạn nói có kỳ lạ không, sau đó trọn vẹn ba, bốn tháng không còn hiện tượng này xảy ra nữa.

"Sao lại có người ngốc thế nhỉ?" Sư huynh họ Đỗ nghe xong thuật lại của tôi liền cảm thấy vô cùng khó hiểu: "Đọc những gì viết trên sách của Phùng Phùng thấy kinh nghiệm của ông ấy chẳng phải cực kỳ thú vị sao?"

"Hầy! Có một ngày anh đụng phải rồi thì sẽ hiểu —." Lúc đó tôi thở dài đáp lại.

Đến tháng sáu năm nay, sư huynh họ Đỗ gặp mặt ở Phật đường với gương mặt cười khổ nói: "Không được rồi, tối qua tôi cũng xin chư Phật Bồ Tát cho tôi mất đi năng lực này rồi —."

Nói xong, chúng tôi nhìn nhau cười lớn.

Sao lại có nhiều "tôi" thế này? Đây là cảm giác đầu tiên, thời gian là đầu tháng mười một năm 1988; lúc đó chính là thời gian ngủ "trưa" nửa tiếng vào lúc bảy giờ tối.

Ban đầu, tôi nhìn thấy một "tôi" từ trong thân thể nổi bồng bềnh lơ lửng giữa không trung lúc lên lúc xuống, trong lòng cảm thấy vô cùng kỳ lạ; tiếp theo từ phía bên phải thân thể lại trượt ra một "tôi" cũng lơ lửng, kiết già ngồi nhìn ba "tôi" kia; lúc này, tôi đột nhiên phát hiện ra hóa ra không biết từ lúc nào lại có thêm một "tôi" ở ngay phía sau đỉnh đầu đồng thời nhìn ba "tôi".

Điều rất kỳ lạ là, ba "tôi" chạy ra ngoài có hướng mắt khác nhau, thế nhưng cảnh tượng nhìn thấy lại có thể đồng thời tồn tại trong ý thức đại não của cái "tôi" mang nhục thể kia.

Tình huống này có chút giống như trước mắt bạn đặt ba chiếc tivi, lần lượt bật đài Đài Thị, Trung Thị, Hoa Thị lên, hai mắt nhìn qua thì màn hình của cả ba đài đều có thể thông qua thần thị giác mà đi vào trong não hải vậy.

Lần đầu tiên có kinh nghiệm này trong lòng cứ cảm thấy không thực tế, sao thân thể cứ lơ lửng giữa không trung mãi thế, không nằm yên ổn ở trên giường đi? Nghe nói đại đa số mọi người khi lần đầu tiên xuất hiện thần túc thông, đều sẽ giật mình hoảng hốt rồi định thần lại, nhưng mà ba cái "tôi" đó thì vô cùng yên ổn, không những động cũng không động mà còn mỗi người tự niệm danh hiệu Phật của mình!

Cứ như vậy dây dưa ngược xuôi mất nửa tiếng đồng hồ, cái "tôi" ở phía trên mới xem như quay về "nhà" một cách yên ổn, còn hai cái "tôi" kia thì bỗng chốc biến mất chẳng thấy tăm hơi.

Đến tối ngày hôm sau lại xảy ra thì tâm trạng đã vững vàng hơn nhiều rồi. Lần này chỉ có một, hơn nữa lại "tự do" hơn một chút có thể chạy đông chạy tây trong phòng —— đều là ở lơ lửng giữa không trung, thậm chí còn chạy đến phòng khách lộn nhào, chơi đùa một hồi lâu mới quay về, ngày thứ ba đến một bãi cỏ lớn nằm xuống, cảm giác về bãi cỏ đó vô cùng rõ ràng, vô cùng mềm mại lại còn tràn đầy độ đàn hồi, lúc tỉnh dậy trên người vẫn còn vương lại cảm giác xúc giác đó, trong chóp mũi cũng vẫn còn vương lại mùi cỏ đó. Có đôi khi lại nhìn thấy rất nhiều tội nhân dưới chân đều bị xích sắt khóa lại, nối đuôi nhau thành một chuỗi chia thành hàng trăm hàng liệt đi mãi không dứt, lúc tôi cầm thủ ấn hướng về phía họ lớn tiếng niệm danh hiệu Phật, chân của bọn họ liền tháo lỏng rơi xuống đất ùa ào chạy lao về phía tôi.

Lại có một lần đi độ hóa một con thằn lằn lớn màu trắng đã chết, nó vậy mà lại sống lại gật đầu nói cảm ơn với tôi; lại có một lần là đi sâu vào ma cảnh để giảng pháp cho một nữ tu la, điều kỳ lạ nhất là tôi ở trong giấc mơ vừa mở miệng, trước mắt liền tự động hiện lên kinh Phật giảng giải theo từng câu —— mà đồng thời, ở trong giấc ngủ cái nhục thể này của tôi cũng nói ra những lời giống hệt như trong giấc mơ!

Cứ như vậy trải qua nửa tháng trời, cuối cùng tôi không nhịn được mà cầu xin chư Phật Bồ Tát đừng cho tôi có năng lực này nữa. Nó quả thực đã dừng lại một thời gian, vấn đề là sau khi tôi niệm xong một triệu tiếng cửu tự thiền, thì không phải xảy ra trong mộng, mà là xảy ra hiện tượng này lúc tĩnh tọa.

Giai đoạn này thì ghi nhớ rõ ràng hơn một chút!

Lúc mới bắt đầu vào thiền định tĩnh tâm, rơi vào trạng thái nửa tỉnh nửa mê, bỗng nhiên bay người ra khỏi cửa sổ, bay mãi bay mãi đến tòa nhà đối diện, dừng lại với tư thế đứng "ngang" ở một góc sân thượng nhà người ta. Vốn dĩ kinh nghiệm thế này có rất nhiều lần rồi cũng không sợ, chỉ là không ngờ bỗng nhiên lật người lại lưng ngửa mặt xuống dưới, điều này thì giật mình hoảng hốt một vố lớn.

Trời ạ, sao mình lại đứng lên chỗ này được chứ? Cú hoảng sợ lớn này suýt thì dọa bản thân tỉnh mộng quay về.

"Trừ phi có một ngày bản thân tự mình có tình huống này, bằng không tôi rất khó hình dung cái tình huống 'chân mềm nhũn' đột ngột đó cho anh hiểu —." Sau đó lúc tôi nói kinh nghiệm này với sư huynh họ Đỗ, liền bảo rằng: "Có chút giống như anh tưởng tượng bản thân đứng ở mép vách núi rất cao nhìn xuống, mà đầu gối sẽ có cảm giác ê ẩm vậy, chỉ là chân thật hơn nó rất nhiều."

Kinh nghiệm loại này Phật Thích Ca có giải thích trong Lăng Nghiêm Kinh: "Chính cái tâm tưởng tượng đứng trên cao được nói ở đây, có thể khiến hình thể của ngươi thực sự chịu cảm giác ê ẩm, do nhân chịu sinh, có thể động sắc thể. Ngươi nay hiện tại thuận ích vi tổn, hai hiện xua ngựa. Gọi là vọng tưởng thứ hai hư minh."

Lăng Nghiêm Kinh là một bộ kinh điển vô cùng lợi hại, ngay từ đầu từ việc Phật hỏi A Nan: "Tại sao ngươi học Phật?" mà có sự biện luận bảy vi tâm tám hoàn đã là đặc sắc vô cùng, tiến thêm một bước từ bản thể tâm tính, tâm vật vũ trụ, sự thăm dò các loại công năng "tự tính" tâm lý, sinh lý, vật lý, tinh thần —— chính là do tướng ngã đến tướng nhân đến tướng chúng sinh được nói trong Kim Cương Kinh. Tiếp liền bước vào phần sự chứng của hai mươi lăm vị pháp môn tu trì thực tế, quy về thứ tự tu tập chỉ đường đạo lý dung hòa lý chứng —— tướng thọ giả. Quan trọng nhất chính là ở phần cuối nhắc đến đủ loại tình sự định huệ của "năm mươi ấm ma".

Chiếu theo một chút kiến giải ít ỏi mà tôi biết được, "năm mươi ấm ma" này chính là nhắm vào năm thần thông mà nói, lột bỏ từng tầng ngạo mạn cống cao của bạn để đạt được mục đích "sự phi đốn trừ, nhân thứ tự tận".

"Đàn em nhỏ, sau khi về nhà phải nghiên cứu thật kỹ Lăng Nghiêm Kinh đấy —." Tháng bảy năm nay ở Hồng Kông, cách đầu dây điện thoại thầy Nam Hoài Cẩn dặn đi dặn lại bốn lần: "Bộ kinh sách này rất quan trọng đối với cậu, đối với bất kỳ người tu hành nào cũng đều rất quan trọng..."

Có kinh nghiệm lần đầu rồi, thì càng ngày càng có thể định tâm lại không thèm để ý đến việc cái "tôi" đó muốn đi làm cái gì nữa. Dù sao thì giữ vững một nguyên tắc, thấy cảnh chớ mừng, cũng không cưỡng cầu hôm nay ngồi thiền này là định đi đến đó. Tâm đắc lớn nhất khi học Phật cho đến nay chính là —— cảnh giới có thể vứt bỏ chính là Bồ Tát! Từ đó về sau thụ ích nông cạn, mỗi lần liễu ám hoa minh, chẳng mấy chốc lại bước vào một tầng lý sự chứng mới mẻ khác.

Giai đoạn này tuân theo chỉ thị của thầy, hoàn toàn thuần túy chỉ tu một chữ "định"! Càng giữ gìn tâm định bao nhiêu, cái "tôi" đó lại càng "tự do tự tại" bấy nhiêu. Cho nên mới có chuyện "hóa thân ba tôi", phi trì đến cõi Phật lưu ly quang của Dược Sư Như Lai, bầu trời có màu sắc sỡ khiến người ta trầm trồ thán khảo, sau cõi Phật pha lê là hàng nghìn hàng vạn ức vị tăng nhân phát ra ánh sáng trắng thuần khiết khó mà hình dung nổi. Lần nhập định này đến khi tỉnh dậy gần ba tiếng đồng hồ, vậy mà vẫn chưa thể tận cùng!

Cũng từng đến ba mươi ba cõi trời lên xuống "vui đùa", theo những gì tôi biết thì những thiên nhân đó hình như mặc y phục trắng trong suốt, người hình pha lê mặc đủ loại trang phục cổ trang, hàng trăm hàng vạn ức người nào người nấy đều mang nụ cười cười với tôi.

Có một lần vào buổi chiều lúc nhập định, ý niệm trong lòng vừa dấy lên nhớ tới cư sĩ Phùng Phùng thường hay nhắc đến Đế Thích Thiên có "ba đạo bảo hồng quang" không biết là dạng gì nhỉ? Ý niệm này vừa lóe lên qua đầu, liền nhìn thấy ngoài cửa sổ lần lượt có một cái ngang tròn, một cái hình vòm cầu, ngoài ra một cái nữa là cầu vồng bảy sắc bắn chéo từ trên chân trời vào trong phòng tôi. Còn cái "tôi" đó thì bay ra xuyên qua cửa sổ lơ lửng ở giữa không trung quan sát. Không biết lần này nhìn thấy có phải là bảo hồng quang Đế Thích Thiên mà cư sĩ Phùng Phùng đã nói hay không? Bởi vì không quen biết cư sĩ Phùng Phùng cho nên vẫn luôn không có cơ hội đi thỉnh giáo ông ấy.

Đến sau này không biết thiên nhĩ thông có phải đã kết hợp với thần túc thông hay không? Từng biết trước hai tiếng đồng hồ rằng tầng dưới nhà bên cạnh bị hỏa hoạn, hơn nữa còn đi xem trước hỏa hoạn bắt nguồn từ đâu. Lúc đó chỉ cho là huyễn cảnh, không ngờ lại xảy ra thật; trong khoảnh khắc giao lộ đường Đôn Hóa Nam, đường Tín Nghĩa một mảnh tiếng còi hỏa xa hú vang còi cảnh sát, nhìn qua cửa sổ vọng xuống dưới, trong lòng vẫn luôn mặc niệm danh hiệu Phật, khóe mắt nước mắt xoay vòng.

"Thần thông thì có ích gì chứ?" Ngày hôm sau tôi vô cùng chán nản nói với sư huynh họ Đỗ: "Tôi một chút năng lực ngăn cản cũng không có! Thần thông thì có ích gì chứ?!"

Không ngờ đến ngày 21 tháng 12 thì lại trải qua một đại sự lớn. Chiều hôm đó cùng tu hành với sư huynh họ Đỗ đến khoảng ba giờ rưỡi, tôi bỗng nhiên trong chưa đầy một giây đồng hồ nhìn thấy máy bay bốc cháy phát nổ, đồng thời rất nhiều phân thân của tôi xuất hiện ở Anh, Đức, Mỹ, tiếp theo lại đến Mát-xcơ-va, cuối cùng là nhìn thấy kiến trúc kiểu Hồi giáo vùng Trung Đông.

"Lẽ nào là chiến tranh thế giới?" sư huynh họ Đỗ sắc mặt tái nhợt nói sau khi từ thiền định trở về: "Sẽ liên quan đến nhiều quốc gia như vậy rốt cuộc là chuyện gì xảy ra thế?"

"Tôi cũng không biết..." sư huynh họ Đỗ cười khổ đáp lại.

Ngày 23 tháng 12, tin tức lớn trang nhất báo chí xuất hiện rồi: "Tai nạn máy bay lớn nhất trong lịch sử nước Anh, hai trăm sáu mươi tám người trên máy bay toàn bộ tử nạn!" Thời gian xảy ra là vào ngày 22 tháng 12 năm 1988, cũng chính là một ngày sau khi tôi biết được!

Máy bay từ Frankfurt Tây Đức bay đi Luân Đôn, lại bay từ Luân Đôn đi New York thì gặp nạn rơi ở Scotland. Trước đó, Mát-xcơ-va đã cảnh báo Mỹ rằng sẽ có một chiếc máy bay gặp nạn... Sau đó, một tổ chức giáo phái đã thừa nhận chuyện này là do bọn họ làm.

"Đây là một chuyện vô cùng đau lòng, bởi vì tôi hoàn toàn không có năng lực ngăn cản, vãn hồi chuyện này! Nghi vấn lớn nhất của tôi lúc đó là, cần thần thông để làm gì? Đã đành năng lực thần thông không thể bạt độ khổ ách của chúng sinh, cần nó để làm gì chứ? Ngoài việc phá hoại tu hành ra thì thực sự không thể nói ra giá trị tồn tại của nó." Sau đó lúc lên lớp tôi nói với các học viên rằng: "Sự khốn đốn này khiến tôi ngoài niệm Phật ra thì chính là lễ Phật mỗi ngày, mười sáu tiếng đồng hồ liên tục không ngừng khẩn cầu chư Phật Bồ Tát độ hết thảy khổ ách trên thế gian..."

"Sau đó giảng sư Lý còn xảy ra loại tình huống đó nữa không?" Các học viên hỏi, lúc hỏi câu này thì những chuyện đủ loại ở giai đoạn thứ ba sau này vẫn chưa xảy ra.

"Ngoại trừ một lần ra, đại đa số đều là phần thiên nhĩ thông —."

"Lần đó là tình huống thế nào?"

"Nhìn thấy vô số vô lượng Bồ Tát Di Lặc lúc tôi niệm Phật, xuất hiện ở ngoài cửa sổ kéo dài mãi cho đến tận chân trời, hết hàng này đến hàng khác toàn bộ phát ra ánh sáng vàng dịu dàng..."

Tôi cười đáp lại họ: "Tôi chưa từng gặp Bồ Tát Di Lặc bao giờ, cho nên lúc đó chỉ cảm thấy vô cùng an tường, vô cùng bình tĩnh..."

Lúc đó nào có ngờ tới, ngay ngày hôm qua (30 tháng 9 năm 1989) lại được Bồ Tát Di Lặc cảm hóa đến Phật đường Từ Sinh có một nhân duyên thù thắng với thầy Lý Vân Bằng. Nhân duyên này sau này có cơ hội sẽ viết vào trong bài viết, nên là sự dung hợp giữa tha tâm thông, thiên nhĩ thông và túc mệnh thông nhỉ?!

Giai đoạn thứ ba bắt đầu vào khoảng giữa tháng sáu năm nay, trong giai đoạn này, bốn uy nghi hành trụ tọa ngọa cái gọi là tâm đều an trú trong Phật vị tự tính, mở mắt là nhìn cười lòng từ bi của chư Phật, nhắm mắt thì quang minh tự tại vô tướng cũng vô cảnh. Thế nhưng, trong tâm minh bạch rõ ràng vô cùng! Mơ hồ khế ngộ cái điểm như như bất động ngược lại vô cùng rõ ràng sự vận động của tất cả pháp giới. Bạn nếu hỏi tôi biết quá khứ, hiện tại, vị lai thế nào, hỏi tôi đỉnh đầu chân dưới bốn phương tám hướng biết thế nào?

Chỉ trả lời bạn một câu: "Buổi tối không có mặt trời!"

Bước vào giai đoạn thứ ba rồi thì bắt đầu làm thí nghiệm "vào mộng"!

"Sư huynh Lý, xin hỏi có phải mấy ngày trước anh đã chạy vào trong mộng của tôi mắng tôi 'lười biếng' không?" Học viên Hồ Vỹ Đống có lần sau khi tu hành xong trong buổi học, bước lên trước báo cáo tâm đắc thì thắc mắc hỏi: "Mấy ngày trước lúc ngủ đột nhiên nhìn thấy anh xuất hiện trước mặt mắng tôi gần đây lười biếng, không tinh tinh tấn, tỉnh dậy nghĩ lại hai tuần nay quả thực là như vậy, vô cùng hổ thẹn hạ quyết tâm đau đớn tu hành cho thật tốt..."

Cùng một báo cáo trong ngày, Vương Xảo Mai cũng hào hứng nói: "Hai ngày nay cũng mơ thấy giảng sư Lý, trong mộng anh ấy dạy tôi —— cắt củ cải đỏ." Sau những tiếng cười của mọi người cô ấy tiếp lời: "Ở trong cảnh mộng tôi đang cắt củ cải —— cắt từng sợi từng sợi, giảng sư Lý đứng bên cạnh lắc đầu nói: 'Không đúng! Cắt củ cải đỏ phải cắt theo cách này.' Thế là sư huynh Lý cầm ngay con dao phay chém một nhát vào chính giữa củ cải đỏ, cắt rồi lại cắt, vừa cắt vừa nói: 'Củ cải phải cắt như thế này, cắt từng miếng từng miếng, mỗi miếng đều có góc có cạnh, hơn nữa kích thước phải hoàn toàn giống hệt nhau...'"

"Hai ngày sau, Xảo Mai lại chạy đến nói: 'Giảng sư Lý, ngày hôm qua có phải anh trong mộng đã dẫn dắt tôi cùng chị Tâm Ngọc đến một nơi vô cùng vô cùng lớn không? Ở đó có một tấm bảng thông báo lớn, trên đó viết đầy những tội nghiệp kiếp trước của chị tư tôi, hơn nữa còn nói kiếp trước chị tư tôi là một con rồng màu đỏ, kiếp này phải mau chóng tu hành... Sau đó anh lại cất tiếng bảo tôi nếu tu hành muốn có thành tựu thì bắt buộc phải tu thế này thế này...'"

Một tháng trước, học viên Đồng Chiêu Đệ báo cáo rằng: "Xin lỗi giảng sư Lý, tối qua lúc tôi mơ ngủ nhìn thấy một vị phụ nữ mặc áo trắng đang răn dạy tôi, lúc đó tôi chạy đi thỉnh thị giảng sư Lý xem người phụ nữ đó có phải là Quan Thế Âm Bồ Tát không? Sư huynh Lý bảo tôi 'đừng chấp trước'."

Hỏi, sư huynh Lý lại nói 'đừng chấp trước'; tôi hỏi ba lần, sư huynh Lý vẫn là 'đừng chấp trước' như cũ, tiếng nói vẫn văng vẳng bên tai thì tỉnh dậy. Tỉnh dậy nghĩ lại bản thân mình quả thực là quá chấp trước, vô cùng hổ thẹn khiến cho giảng sư Lý nửa đêm canh ba còn phải đến trong mộng của tôi để khuyên bảo..."

Nửa tháng trước, học viên Lỗ Mỹ Thuần có một báo cáo khác: "Có một hôm vào khoảng hơn bốn giờ rưỡi gần năm giờ sáng, tôi dậy niệm Phật, tĩnh tọa, toàn thể cảm thấy từng đợt năng lượng liên tục gia trì xuống thật dễ chịu, cứ ngồi như thế cho đến rạng đông mới mở mắt nhìn ra ngoài cửa sổ. Ơ? Bất ngờ nhìn thấy sư huynh Lý đang ở ngoài cửa sổ cười với tôi..." (Chi tiết xin xem "Phật ảnh tâm tung" ở phần phụ lục).

Gần đây nhất là hôm kia (ngày 29 tháng 9), báo cáo của Hoàng Hậu Trinh: "Ba ngày trước tôi mơ thấy sư huynh Lý đang khóc... khóc vì chúng ta không tinh tịnh. Lúc đó tôi hỏi ngài, chúng ta thực sự không tinh tịnh sao? Ngài nói: "Đúng vậy, bởi vì ta nhìn thấy linh hồn của các vị khóc vì các vị không tinh tịnh, thế nên ta cũng khóc thay cho nỗi buồn của linh hồn các vị." Sau khi tỉnh dậy thực tế kiểm điểm lại một lúc, quả thực có đôi khi tâm tham của bản thân quá nặng, nghĩ lại thật vô cùng hổ thẹn. Tâm nguyện của bản thân vẫn muốn theo sư huynh Lý đi hoằng pháp khắp nơi trên thế giới, tham sân si nặng thế này thì lấy đâu ra tư cách?"

"Từ mấy ví dụ trên xem ra, thí nghiệm "vào mộng" hình như có chút thành quả, nhưng đây có phải là thần thông gì ghê gớm lắm đâu? Trong bài viết trước "Kinh nghiệm gia trì cách không của tôi" cũng từng nhắc đến việc vợ của sư huynh Đỗ là Phương Thục Nghi trước khi phẫu thuật, từng nhìn thấy tôi ngồi ở phía trên cô ấy để gia trì. Lúc đó nào đã thực sự hiểu rõ cách "dùng" pháp này để đi vào mộng của người ta, chỉ cho rằng đó là mèo mù vớ phải cá chết mà thôi. Gia trì cách không là "thể dẫn niệm lực", nhưng "vào mộng" lại là gì? Nói đơn giản mấy chữ, chính là điều Lục Tổ đã nói: "Khi mê thầy độ, lúc ngộ tự độ!"

Tám chữ nghe thật vang dội, nhưng không phải trò chơi chữ, lý chứng và sự chứng thực sự của câu nói này ở đâu?!

Trước đây đã từng nói qua, ngũ thông đều dứt là lậu tận thông phát khởi, tâm hằng trụ ở Phật vị tự tính khôngấy niệm khởi chính là tự tại quang minh.

Quang minh này Thiền tông Lục Tổ gọi là tự tính quang, tức là ý nghĩa sinh ra tự tính Phật.

Cái gọi là "vào mộng" chẳng qua là khi tĩnh tọa ban đêm tâm trụ ở Phật vị tự tính đem ý từ bi đến mười phương pháp giới, năng lượng này phát ra từ trong quang Phật tự tính. Mà học viên và tôi do thường xuyên tiếp xúc, từ trường sóng não của đôi bên tương ứng nên dễ dàng hơn.

Cộng thêm việc một người trong giấc ngủ sự ràng buộc của ngũ uẩn tương đối nhẹ, một khi chịu sự gia trì của năng lượng từ trường, niệm lực sóng não gần gũi lẫn nhau thì lập tức khơi dậy quang Phật tự tính hiển lộ mà hiện ra trăm ngàn tướng.

"Tôi" mà họ nhìn thấy thực ra không phải là tôi, mà là quang Phật tự tính của họ chớp động lôi kéo năng lượng hoạt động của sóng não, tần số phóng đại mà hiện ra "tướng" của sư huynh Lý đây chính là tôi.

"Cho nên tôi thường nói với các vị, ngoài pháp căn bản ra, tất cả các pháp đều là do Đại Tự Tại Vương Phật dạy tôi --." Hôm nay, tại Quán cà phê Y Di ở Thiên Muũ lúc đứng sửa bản thảo đã nói với Vương Xảo Mai rằng: "Em đã hiểu chưa? Thực ra chính là 'tôi' đang dạy 'tôi', tức là quang Phật tự tính chớp động, khiến tôi 'hồi tưởng' lại những gì vốn dĩ tôi đã biết -- tức là ý nghĩa của cái gọi là 'bản tính đầy đủ tất cả'." Thích Ca Phật nói câu "Hay thay, chúng sinh đều có Phật tính" nửa điểm cũng không lừa dối người, hoàn toàn đúng như ngài đã nói, tất cả thần thông, Phật tính vốn dĩ mỗi người mỗi chúng sinh đều có, chỉ là bản thân các vị u mê lạc lối mà thôi!

Cảnh giới này gọi là cảnh giới vô thượng của "Tổ sư tương ứng pháp". Nếu các vị có thể làm được điểm này, các vị chính là tương ấn với tâm mười vô lượng của tất cả chư Phật Bồ Tát; đây cũng chính là cảnh giới lý sự viên dung của ba thứ ngộ (tâm minh kiến tính), thần thông (sự minh kiến tính), giải thoát (pháp minh kiến tính)!

"Cho nên hôm qua cô có nhân duyên lớn đến Phật đường Từ Sinh tìm thầy Lý, lúc cảm nhận được Thiên Thủ Quan Âm của Đại Bi Điện 'cười' với cô ở bên trong Đại Trí Giảng Đường cũng là như thế này sao?"

Vương Xảo Mai quả không hổ danh là ngộ tính cực cao, chỉ điểm là thông!

"Đúng vậy." Tôi đáp lại: "Kỳ thực cái 'cười' đó không phải là cười trên 'tướng', mà là nụ cười tâm ấn mật thiết sinh ra từ sự quang minh viên dung không chút phân biệt giữa đôi bên!" Tôi cười lớn trả lời.

Lục Tổ quả là long tượng cửa Phật vô cùng lợi hại, truyền pháp một đêm là ngay lập tức chứng đắc cảnh giới "Khi mê thầy độ, lúc ngộ tự độ", vậy mà tôi phải mất một năm năm tháng dư mới miễn cưỡng chạm được một chút mép.

Khi mê thầy độ, chính là nhờ vào chư Phật Bồ Tát, thầy dạy pháp khơi dậy trí tuệ của bạn (trụ ở tính Phật vị), biết dùng (tự tính Phật quang). Mà khi bạn đã trụ vào đó rồi, thì thời khắc không quên tinh tiến hành nguyện độ hóa "người, chúng sinh, thọ giả" -- tức là độ hóa cái "tôi" này!

Thần thông để làm gì? Nghi ngờ trước kia mười tháng sau đã hiểu rõ, dùng để tích đức!

Hai bánh xe trí đức là hành khí quan trọng nhất dẫn lối đến sơ địa Bồ Tát thậm chí thành Phật.

Viết đến đây, trong lòng không khỏi vô cùng cảm kích chư Phật Bồ Tát không lúc nào là không gia trì che chở, thật là vô oán vô tận khiến người ta ngàn vạn lần tán thán, nhớ lại rất lâu, rất lâu trước đây tôi từng hỏi đại sư Thủy Quả: "Đệ tử từng đạt được bốn giải thưởng văn chương, không biết lần gửi bài này có thể tiếp tục đạt giải hay không?"

Lão Quảng mang nụ cười nhìn tôi, đôi mày từ bi rũ xuống nhẹ nhàng nói một câu mà lúc đó tôi không hiểu rõ: "Tu hành là tốt nhất!"

Bây giờ, bốn chữ này khắc sâu vào tâm bản ngày ngày đêm đêm nhìn ngắm nó -- Tu hành là tốt nhất.

Thật vậy!

Bảy, Nhân duyên lớn Phật gọi đến Vào ngày 25 tháng 3 năm 1989 vì để hoằng dương Phật pháp mà mở ra Phật đường hiện tại này. Lúc đó, tôi và sư huynh Đỗ trên người không có nổi một nửa đồng; tiền đặt cọc một trăm nghìn, tiền thuê nhà gần bốn mươi nghìn, cộng thêm chi phí cần thiết cho việc bài trí trong Phật đường theo nguyên tắc tiết kiệm hết mức, cũng cần phải có bốn mươi nghìn mới đủ!

May mà thân mẫu và biểu tỷ phát đại tâm nguyện dốc sức ủng hộ, miễn cưỡng bố trí được đại khái, điện thoại ở khu Đông là ai cũng biết là khó xin đến mức nào, thậm chí tìm qua mấy công ty điện thoại mới miễn cưỡng tìm được một cái mua với giá cao.

Mọi thứ dường như đã ổn thỏa? Nhìn qua nhìn lại cứ có vẻ thiếu sót điều gì đó, mọi người nhìn ngắm mãi mới nghĩ ra hóa ra là thiếu đèn quang minh.

Thế là, lại vì hai ngọn hải đăng này mà bôn ba qua lại gần Long Sơn Tự, lúc đó mới biết hai ngọn đèn quang minh nhỏ xíu, mặc cả chán chê mà vẫn đắt đỏ đến một vạn năm nghìn đồng.

"Thôi vậy," tôi nói: "Chi bằng đến Thiên Hoa mua bức tranh 'Nam Mô Quan Thế Sĩ Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà Lô Ni', mỗi ô dùng làm chỗ điền tên đèn quang minh cho một người. Vừa tiết kiệm lại vừa có ý nghĩa sâu xa...."

Nguyên nhân lúc đó một phần là không có tiền mua sắm, phần nữa là thứ đèn quang minh này kỳ thực cũng không đến mức thiết yếu như vậy.

Nhà của sư huynh Đỗ nằm ngay đối diện Thiên Hoa ở tầng trên tiệm sách Tân Học Hữu, nhớ lại năm xưa lúc giới thiệu ông ấy đọc sách của Phùng Phùng, vẫn còn đang lật tìm nhà xuất bản Thiên Hoa rốt cuộc ở đâu? Bỗng nhiên quay đầu lại, "Ở ngay đối diện nhà tôi!" Sư huynh Đỗ nghe xong địa chỉ liền hét lớn một tiếng, tiếng hét này coi như kết duyên sâu sắc với Thiên Hoa -- tràng hạt của Phật đường chúng ta mỗi tháng đều mua gần vạn đồng ở Thiên Hoa!

Cho nên, nếu các vị đến Thiên Hoa hỏi ai là "Đại vương tràng hạt" họ nhất định sẽ nói với các vị đó là sư huynh Đỗ.

"Đại vương tràng hạt, hôm nay có một lô tràng hạt mới về, có muốn qua xem không?" Cứ cách một khoảng thời gian sư huynh Đỗ tổng thể lại nhận được những cuộc điện thoại như vậy. Khổ nỗi tràng hạt của Thiên Hoa cực kỳ đẹp (vấn đề tràng hạt, tượng Phật và khai quang sẽ viết ở bài khác), sư huynh Đỗ và tôi luôn không kìm được mà mua hết lần này đến lần khác.

Mua rồi cũng có cái lợi, chúng ta đã lập đại nguyện mỗi chuỗi tràng hạt phải niệm một triệu câu danh hiệu Phật, mua càng nhiều càng bức bách bản thân buổi sáng buổi tối không tinh tiến tu hành không được. Giống như cá nhân tôi hiện tại đang trì tụng chính là một chuỗi một trăm linh tám hạt được mệnh danh là hạt Bồ Đề Kim Cương được mài giũa to nhất từ trước đến nay của Thiên Hoa -- chuỗi tràng hạt này nghe nói đến từ Phổ Tả Sơn, ngày đầu tiên chạm vào nó nó vẫn còn là một con mãnh long bất tuân khuất phục!

Dường như có chút thần thoại? Sau này hãy bàn lại nhé!

Phật đường khai trương đúng giờ vào ngày 25 tháng 3, họ hàng bạn bè đến rất đông vui náo nhiệt, ở ngay gần chúng ta tiểu thư Lý của tiệm chay Thiên Lệ cũng gửi hoa đến, mọi thứ rốt cuộc cũng có một khởi đầu.

Lúc đó, vì để thuận tiện cho việc hoằng pháp đành phải dán cáo thị "Xem miễn phí tam thế nhân quả", hy vọng có thể thông qua cách này để độ hóa người có duyên, đồng thời cũng là biện pháp cực chẳng đã để Phật đường tiếp tục sinh tồn.

Thân mẫu làm nhân viên công vụ mấy chục năm, vốn dĩ chẳng có tiết kiệm gì để mà nói, biểu tỷ thì nghỉ hưu ở nhà làm du lịch đã tu hành nhiều năm nay, giờ đây họ đem toàn bộ tiền vốn dưỡng già ra làm sự nghiệp hoằng pháp. Mà tôi lúc đó vì tu hành, trong nửa năm từ mỗi ngày có thể viết hai vạn chữ tiểu thuyết võ hiệp hóa thành mười ngày không nặn ra được hai nghìn chữ, Phật đường muốn làm sự nghiệp hoằng pháp thì bắt buộc phải có thu nhập.

Thu nhập cơ bản nhất, chính là chiêu sinh truyền thụ thiền công và tĩnh tọa, thông qua sự tu trì thân tâm làm một mà từ từ dẫn dắt họ bước vào trí tuệ mênh mông của Phật pháp.

Thế nhưng, học viên từ đâu mà đến?

"Xem tam thế nhân quả thực ra không phải là việc chúng ta nên làm," lúc đó mọi người vắt óc suy nghĩ đối sách, "Nhưng chúng ta quyền cơ dùng Thiên nhãn thông, Túc mệnh thông tạo phương tiện Bát Nhã, trước tự lập sinh tồn rồi sau đó mới có thể lợi ích chúng sinh!"

Người đến đầu tiên là người Philippines, may mà ở đây chúng tôi thông thạo bốn thứ tiếng Trung, Đài, Anh, Nhật, coi như miễn cưỡng ứng phó qua loa được.

"Thế này không được," sư huynh Đỗ thở dài nói: "Người đến xem bói sẽ không có người muốn học Phật. Thấy vậy, tôi vẫn là về ngân hàng làm việc trước kia kéo người..."

Lần này lôi kéo chết bỏ được bảy đồng nghiệp đến góp số đủ, hơn nữa còn tuyên bố trước: "Chúng tôi chỉ học thiền công rèn luyện cơ thể nếu nói Phật pháp thì sẽ trở mặt không đi."

Người đại diện nói câu này lúc đó là vợ chồng Mã Đức Câu, Hoàng Hậu Trinh, nhưng bạn có tin không? Cách năm tháng sau ngày hôm nay, tâm nguyện cả đời của họ hóa ra lại là: "Giờ đây, chúng ta đã có một mục tiêu hoằng pháp khắp thế giới! Thật sự, tôi rất hướng tới -- hướng tới cái ngày tháng tự do tự tại tiêu diêu đó. Nhưng suy nghĩ này hình như không đúng lắm, tâm lượng của người thực học Phật lẽ ra không nên ở mức này. Nhưng, tôi thực sự không tìm ra động cơ nào mạnh mẽ hơn để khích lệ bản thân nảy sinh tinh thần sứ mệnh." (Trích từ nhật ký ngày 29 tháng 9 của Hoàng Hậu Trinh, nguyên văn tham khảo "Phật ảnh tâm tung" ở phụ lục phía sau. Ngoài ra những vấn đề về sự thay đổi của vợ chồng họ sẽ được nhắc chi tiết trong chín bài "Hai đôi vợ chồng sâu nặng Phật duyên".) Thôi được rồi, khi sư huynh Đỗ truyền đạt lại lời đó tôi gật đầu nói: "Phật pháp bất tư nghị, chỉ cần họ đến lớp, mọi thắc mắc đều có thể giải quyết dễ dàng."

Tôi tin Đại Tự Tại Vương Phật, tôi tin Quan Tự Tại Bồ Tát, tôi càng tin vô lượng chư Phật Bồ Tát pháp giới sẽ hộ trì chúng ta -- chỉ cần chúng ta hành sự đoan chính, mọi thứ đều vì Phật truyền đại pháp, không có lý do gì chư Phật Bồ Tát lại vứt bỏ chúng ta không màng tới.

Rạng sáng ngày hôm sau tôi nhập vào trong thiền định thầm cầu nguyện với Đại Tự Tại Vương Phật và chư Bồ Tát: "Nếu đệ tử phước đức, trí tuệ, uy đức cả ba đều không đầy đủ, chính là kiêu căng ngạo mạn chưa có tư cách hoằng pháp, nếu Phật nhìn thấy đệ tử có duyên, tâm nguyện đại sự này thì xin hãy giúp đỡ đệ tử..."

Trong chớp mắt, trong tâm thoáng qua một niệm: "Chiều nay năm rưỡi sẽ có bốn người đến --."

Là thật? Là giả? Là cảm ứng gia trì? Hay là thức hư ảo tạo ra?

Hôm đó đến năm rưỡi chiều không có ai đến. Sáu giờ, vẫn chưa có ai; bảy giờ, cũng chẳng có lấy một bóng dáng. Thưa, đói bụng quá!

Đến tiệm chay Thiên Lệ ăn bữa đầu tiên trong ngày, chân trước vừa mới bước vào cửa thì chân sau đã có người bấm chuông cửa rồi.

Thời gian: Bảy giờ rưỡi, số người: Ba người.

Lạ thật, lúc đó trong lòng tôi nghĩ: "Rốt cuộc là cảm ứng của tôi có đúng hay không?"

"Các người không phải nên lên đây từ lúc năm rưỡi sao?" Tôi bật thốt lên: "Hơn nữa sao lại chỉ đến có ba người? Lẽ ra phải là bốn người chứ?!"

Họ ngẩn người, ngưng lại trong giây lát không dám tin rồi mới đáp lại: "Chúng tôi quả thực là bốn người, và cũng quả thực là ở dưới lầu từ lúc năm rưỡi..."

"Sao lại thiếu một người?"

"Trong nhà anh ấy có việc đột xuất nên về rồi --."

"Vậy sao lúc năm rưỡi các người không lên đây? Lại kéo dài đến tận bây giờ!"

"Đói bụng quá...," họ cười ngượng ngùng: "Cho nên đi ăn cơm trước --."

Cứ như vậy, Phật đường trong tình trạng có ba lớp tĩnh tọa, bảy lớp thiền công, bắt đầu trải qua những ngày tháng "tự lập sinh tồn".

Đương nhiên, chi phí các mặt của Phật đường căn cứ vào khoản thu nhập ít ỏi này thì tuyệt đối không thể nào gánh vác nổi.

Hai tháng sau, tôi không thể không cầu nguyện với Đại Tự Tại Vương Phật: "Chư Phật Bồ Tát, con biết đây là một trận pháp lớn, một đại ma khảo, xin hãy thương xót tâm nguyện của đệ tử đi! Nếu pháp mà đệ tử truyền thụ là đúng, nếu đệ tử có tư cách chịu đựng sự yêu thương gia trì của chư Phật Bồ Tát, xin hãy để Phật đường của chúng tôi có thể tiếp tục duy trì, hơn nữa những người đến là vì học Phật mà đến, chứ không phải vì thế gian pháp!"

Hôm đó ở trên lầu tôi quỳ dài trong Phật đường, trong lòng hết lần này đến lần khác cầu xin mười phương chư Phật Bồ Tát ba đời: "Đệ tử kiên định tin rằng dẫu là mạt pháp cũng vẫn có Phật pháp, dẫu là Ta Bà cũng có Phật duyên, chẳng lẽ đệ tử thực sự mang trọng tội đời này không độ được mình cũng chẳng độ được người? Thích Ca Phật nói chỉ cần tâm niệm hoằng dương đại pháp ắt được thiên long bát bộ hộ trì, cũng được mười phương chư Phật xoa đỉnh đầu khiến cho nguyện của họ được hoàn thành; đệ tử tin Phật là chân thật tuyệt đối không nói lời dối trá, cầu xin đại từ đại bi oai đức lực gia trì..."

Đêm hôm đó, là nằm ngủ với những giọt nước mắt nhòe mi, cho đến tận ngày hôm nay nhớ lại tâm trạng lúc đó, có thể gọi là trong lòng hoảng sợ đau đớn mà ôm lấy một tia hy vọng không vụt tắt!

Ngày hôm sau, Khâu Hoảng Mẫn và Hoàng Nguyệt Lan dẫn theo sư huynh đồng tu sáng sớm đã đến!

Đây cũng là một chuyện lạ. Cư sĩ Khâu, cư sĩ Hoàng vốn dĩ hai người họ vào ngày thứ ba khi Phật đường vừa mở cửa từng đến qua, nhưng vì duyên chưa đủ cho nên từ đó vẫn luôn không ghé thăm lại nữa. Nào ngờ, lần này lại kéo theo bốn vị sư huynh, sư tỷ cùng học mật pháp ở một nơi đi cùng đến, đến tận lúc mở lớp khóa này đợt đó tổng cộng đến mười người!

Trong số họ có người học mật pháp đã mười mấy năm, cũng có người xuất ngoại sang Nhật Bản học Đông Mật, trong đó cũng có người có thiên bẩm dị thường, cũng có người đã chạy khắp các đạo pháp trường ở Đài Loan. Nói tóm lại một cách đơn giản, mười người này chính là đến để "đá quán"; nếu khiến họ tâm phục khẩu phục thì sau này ắt sẽ là long tượng cửa Phật.

Lúc đó tôi thực sự vô cùng cảm kích chư Phật Bồ Tát, nếu không nhờ đại từ đại bi của các ngài triệu tập những người này đến, sự sinh tồn của Phật đường không thể kéo dài đến ngày hôm nay. Quan trọng hơn là, từ trên người họ đã cho tôi thấy hy vọng và sức sống của thế hệ trẻ Phật giáo mới.

Họ đều rất trẻ, từ đôi mươi cho đến đầu ba mươi, mười người chỉ có chung một tâm nguyện: "Chúng con thề nguyện lợi ích chúng sinh đem thân đem mạng vứt bỏ vĩnh viễn không thoái chuyển. Xin hỏi giảng sư Lý ngài có phương pháp gì để chúng con đạt được tâm nguyện này?!"

Ha! Khí phách thật đấy?!

"Lợi ích chúng sinh?" Tôi cười, lúc đó đơn giản trả lời họ một câu: "Tâm nguyện của một Phật tử chỉ có thế này thôi sao?"

Họ ngẩn người, lợi ích chúng sinh chỉ là chuyện nhỏ?

"Tâm của chúng ta ở trong pháp giới, chân nghĩa Phật pháp là tự cầu nội chứng ngay đời thành tựu." Tôi nói với họ: "Người học Phật, không chỉ dừng lại ở 'lợi ích chúng sinh' mà thôi, căn bản là ngăn chặn thời kỳ mạt pháp của thế giới Ta Bà xuất hiện, cho đến việc hoằng pháp ở vô lượng thế giới trong pháp giới. Muốn lợi ích chúng sinh? Quá đơn giản! Chỉ cần các vị trong 'thể, tướng, trí, đức, lý, sự' viên dung bồi dưỡng ra 'năng' rồi sau đó chân không diệu hữu 'dụng' nó vào 'thời gian, không gian' của mười phương tam thế, điều lợi ích không chỉ là nhân loại trái đất, cũng không chỉ là chúng sinh trái đất..."

Tôi liếc nhìn họ một cái, lại tiếp tục nói: "Tâm lượng của người Phật giáo phải rộng lớn, muốn học Phật thì trước tiên học hạnh lục độ vạn hành của Bồ Tát. Không có vị Bồ Tát nào ích kỷ chỉ đem lòng từ bi dành riêng cho chúng sinh của một hành tinh đó..."

Hôm đó trò chuyện ngót nghét gần sáu tiếng đồng hồ, họ đưa ra không dưới ba, bốn mươi câu hỏi thắc mắc không hiểu khác nhau trong mấy năm học Phật của cá nhân. Bây giờ nghĩ lại thực sự vô cùng cảm kích chư Phật Bồ Tát, nếu không phải cá nhân trong lý chứng và sự chứng đã được Phật quang gia trì, mà có được sự thông suốt viên dung một chút xíu, thì những câu hỏi kỳ lạ muôn hình vạn trạng đó thực sự không phải chỉ dựa vào việc cầu cứu văn tự kinh sách là có thể trả lời được!

"Tại sao một tên sát nhân cả đời làm trọn chuyện ác, hơn nữa còn mắng nhiếc tăng lữ lăng nhăng miếu mạo sau khi chết lại thiêu ra xá lợi tử? Điều này có phải là không phù hợp với lý luận của Phật giáo không?"

“Tại sao người Phật giáo ở trong xã hội, trong nhóm bạn bè lại bị xem là kẻ dị loại? Khi chúng ta học Phật rồi rất nhiều bạn bè đều rời xa?”

“Chúng tôi tin nơi đây của thầy là nơi hoằng dương Đại thừa Phật pháp chính tín, nhưng thầy lại nợ nần chồng chất nghèo khổ đáng thương. Thế nhưng, những kẻ lừa đảo đó trái lại lại vơ vét đầy túi kiếm được một số tiền lớn? Chẳng lẽ chư Phật Bồ Tát không hộ trì?”

“Tại sao lại có thời kỳ mạt pháp?”

“Tại sao chúng sinh thế giới Ta Bà lại nghiệp chướng sâu nặng đến thế...?”

Phàm là những điều như thế bỗng nhiên hỏi ra, nếu không nhờ sự gia trì của chư Phật Bồ Tát, với sự tu trì nhỏ nhoi không đáng kể của cá nhân tôi thì làm sao có thể trả lời khiến họ tâm phục khẩu phục?

"Giảng sư Lý chúng tôi hoàn toàn tin tưởng ngài rồi --." Hoàng Nguyệt Lan lúc này hỏi: "Nhưng ngài nói ngài là Đại thừa chính tín, người khác cũng nói họ là Đại thừa chính tín. Xin hỏi, với những người bình thường như chúng tôi làm thế nào để phân biệt?"

“Thứ nhất về yếu pháp tu hành phải trực hợp với Phật tâm, pháp môn của chúng ta nói về sự tu trì thân tâm làm một, sự ấn chứng mười đại như một, sự khảo hạch mười tâm vô lượng, pháp tu hành viên mãn đầy đủ cả xuất thế pháp và nhập thế pháp. Tức là trong quá trình học Phật tự cầu nội chứng không đi theo thế luận ngoại đạo, ở thế gian tu hành bằng tâm xuất thế, khi tu xuất thế pháp thì tự nhiên thành tựu thế gian pháp --.”

Tôi liếc nhìn họ một cái, cực chẳng đã đành phải nói tiếp:

“Người đời thường lấy mắt thấy làm thật. Thưa rằng, các vị thuộc môn phái nào tôi không biết, tên sư phụ trước kia của các vị tôi cũng chưa từng nghe qua! Bây giờ, chúng ta làm hai bài trắc nghiệm trên sự chứng -- Thứ nhất, các vị niệm tên sư phụ của các vị ba lần, tôi sẽ nói trên người ông ấy có bệnh gì. Thứ hai, lát nữa ở trong Phật đường tôi xin chư Phật Bồ Tát gia trì cho các vị, cảm nhận sự từ bi của Phật quang --.”

Cá nhân tôi rất không thích dùng thần thông để khoe khoang, Phật nói “không chuộng thần thông” là hoàn toàn chính xác. Nhưng, có lúc vì Đại thừa Phật pháp, vì tâm nguyện độ hóa chúng sinh, lại không thể không dùng.

Lúc đó trong lòng tôi chỉ có một niệm: “Các vị nếu thực sự là đệ tử nhân duyên thù thắng do Đại Tự Tại Vương Phật triệu tập đến để học pháp Đại thừa, chư Phật Bồ Tát tất sẽ không phụ lòng tôi.”

Vào lúc đó, mối quan hệ giữa “Thiên nhĩ thông và văn tự Bát Nhã” vẫn chưa thể hiểu rõ hoàn toàn, trong lòng chỉ có một niệm -- đời này tôi có cơ duyên hoằng pháp hay không, hãy xem chư Phật lúc này có thương xót tấm lòng thành không hai của đệ tử hay không!

Ba tháng sau, trong ấn phẩm “Thiên Trang Nghiêm” do Phật đường xuất bản (không có kinh phí đánh máy in ấn, đành phải mượn máy photocopy của cư sĩ Vương Tứ Minh) tôi đã nhìn thấy tâm đắc và sự cảm kích của họ.

Nhưng tôi càng phải cảm kích họ -- không chỉ vì giúp cho khoản chi phí khổng lồ mỗi tháng của Phật đường này được giảm bớt, khiến tôi không phải phiền não vì nợ nần ngày càng nhiều; quan trọng hơn là -- họ đã cho tôi niềm tin và hy vọng vô bờ bến, biết được rằng những người thực sự học Phật trên thế giới này không hề cô đơn!

Tôi từ đáy lòng cảm ơn chư Phật Bồ Tát đã che chở gia trì như thế, tôi có thể khẳng định họ không phải là không nghe thấy tiếng kêu của bạn, mà là tấm lòng thành của bạn đã đủ chưa?! Tôi cũng từ đáy lòng hy vọng bài viết này có thể khiến những người không tin Phật sinh khởi lòng tin, hy vọng, khiến những người đang cầu nguyện với chư Phật Bồ Tát bằng một tấm lòng thành kính hơn đừng từ bỏ. Đó là tâm nguyện duy nhất của tôi!

-- Kính gửi bài viết này đến vong linh của Bác Đơn trên trời

Khi tôi viết được nửa chừng thì bác qua đời

Hy vọng những câu hiệu Phật tôi niệm cho bác có thể khiến bác

vãng sinh cõi tịnh độ chư Phật, không còn chịu nỗi khổ luân hồi Nam Mô Bản Sư Đại Tự Tại Vương Phật!

Tám, Ác mộng mà tôi biết Ác mộng, mỗi người ít nhiều đều sẽ có trải nghiệm này, đặc biệt là người tu hành sau khi bạn trải qua một đoạn cảnh giới “giả không” dần dần không thể nhớ lại giấc mơ nữa, bạn sẽ bắt đầu trải qua muôn vàn trận pháp chấn của chư Phật Bồ Tát sau những giấc mơ -- thường được gọi là bài kiểm tra ma khảo -- kiểm tra xem bạn có còn nhất tâm bất loạn tinh tiến không thối chuyển trong mơ hay không?

Thế nhưng, có rất nhiều người không tin Phật pháp hoặc tin theo ngoại đạo lại có những trải nghiệm kinh tâm động phách hơn. Khi những "dị vật" đó quấy nhiễu, những người không tin Phật cũng bắt đầu có chút biến thành thứ "mê tín" trong miệng họ, những tín đồ ngoại đạo đó bắt đầu hỏi thần linh này hỏi thái tử nọ, thế ra bôn ba khắp nơi chỉ mong bản thân sau này lúc ngủ có thể an an ổn ổn ngủ một mạch đến sáng.

Phật nói không sai chút nào: "Thứ chúng sinh vô cùng yêu quý chính là tính mạng thân thể!" Thế nhưng, ngàn vạn lần phải nhớ câu tiếp theo của Phật: "Thứ chư Phật vô cùng yêu quý chính là chúng sinh!" Cho nên, đừng đi cầu bùa chú gì nữa, Thiên sư đó ra sao, đạo sĩ đó thế nào đi nữa cũng không hiệu quả bằng việc niệm một câu danh hiệu Phật cho đến khi ngủ thiếp đi!

Về phương diện ác mộng, hương thôn cũng từng gặp mấy ví dụ đặc biệt.

Mẹ vợ của sư huynh Đỗ được nhắc đến trước đó là Phương bá mẫu vốn dĩ tin tưởng "Tam Điện Hạ" của miếu nào đó, có một hôm bà được sư huynh Đỗ dẫn đến Phật đường nói rằng: "Thầy Lý, dạo này tôi thường hay gặp những giấc mơ rất kỳ lạ..."

Trước khi Phương bá mẫu đến, sư huynh Đỗ đã lược qua nhắc đến tình hình của mẹ vợ mình, hơn nữa còn nhấn mạnh: "Mẹ vợ tôi tin Tam Điện Hạ của Đạo giáo, lần này là tình thế cực chẳng đã mới đến Phật đường. Ờ --, giúp đỡ nể mặt một chút, nếu bà ấy có bất kỳ lời nói nào không phù hợp với Phật pháp, xin đừng để ý --."

Mỗi người có nhân duyên của mỗi người, các anh cứ yên tâm." Lúc đó tôi cười đáp: "Mà tôi bây giờ đã biết là Quan Thế Âm Bồ Tát muốn bà ấy đến..."

"Thật á?"

"Phật có chính hành, nghịch hành các anh đâu phải không biết." Tôi cười nói: "Lần này coi như là một sự "nghịch hành" nhỏ, mục đích là để mẹ vợ anh được nghe thấy Đại thừa Phật pháp."

"Vậy thì tôi yên tâm đưa bà ấy đến rồi." Sư huynh Đỗ vui vẻ đáp lại ở đầu dây bên kia.

Ánh nắng đầu hạ tháng năm lướt qua khung cửa chớp màu tím nhạt lọt vào trong nhà, cơn gió dịu dàng thổi bay lời kể của Phương bá mẫu; "Dạo này tôi cứ luôn bị ma quỷ hành hạ trong mơ, hai ngày nay lại càng nghiêm trọng hơn -- chúng xé tung bụng tôi ra, đem toàn bộ nội tạng bên trong bóp rồi kéo đau đớn vô cùng. Thậm chí..., tôi mở mắt ra là có thể nhìn thấy vẻ mặt dữ tợn của chúng đang cười với mình..."

"Bà không ăn chay!"

Tôi từ từ mở đôi mắt đang nhắm lại, cảm nhận được phía sau lưng Phương bá mẫu Quan Thế Âm đang mỉm cười nhìn tôi. "Hơn nữa, loại hải sản nào đó ăn quá nhiều rồi --."

Về phương diện này tôi có rất nhiều kinh nghiệm, có người cả đời chưa từng ăn thịt cá mập, vô tình ăn hai miếng liền mắc bệnh nặng, có người ba năm chưa từng ăn thịt gà, kết quả ăn một chiếc đùi gà mà bản thân cũng quên mất, cũng có người ăn quá nhiều tôm hoặc có người trong đời chỉ vì hai ngày trước đánh chết một con nhện, những điều này tôi đều biết rõ. (Những điều trên sẽ được kể chi tiết trong "Bất tư nghị Phật bi tâm".) Lúc đó tôi vừa nói như vậy, Phương bá mẫu liền lo lắng hỏi: "Vậy phải làm sao bây giờ? Có phương pháp nào để "hóa giải" không?"

"Rất dễ," tôi trả lời bà ấy rằng: "Thứ nhất, phải ăn chay, ít nhất là trong một tháng hiện tại này phải ăn chay không dính mỡ động vật. Thứ hai, bà thỉnh một chuỗi tràng hạt tôi khai quang cho bà rồi 'về nhà phải chăm chỉ niệm Cửu tự thiền --.'"

"Cửu tự thiền là gì?"

"Nam Mô Bản Sư Đại Tự Tại Vương Phật, chín chữ này gọi là Cửu tự thiền. Đại Tự Tại Vương Phật trong Mật tông gọi là Đại Nhật Như Lai là Phật sáng lập Mật tông, Thích Ca Phật thì gọi ngài là Lô Xá Na Phật, uy đức lực không thể nghĩ bàn!"

Lúc đó tôi cố tình không giải thích cho Phương bá mẫu biết nên chọn loại tràng hạt nào, mục đích là để một lần nữa kiểm tra xem phán đoán của mình có đúng hay không -- quả nhiên nếu có duyên, nhất định sẽ chọn chuỗi tràng hạt mã não đen.

Quả nhiên không sai, Phương bá mẫu đã chọn chuỗi tràng hạt mã não đen để thỉnh tôi khai quang. Tôi cười: "Chọn thật hay đấy, người ở độ tuổi như Phương bá mẫu bình thường sẽ không chọn tràng hạt màu đen để niệm đâu, sao lại chọn trúng nó vậy?"

“Tôi cũng không biết nữa --.” Phương bá mẫu cười một tiếng, đáp lại: “Trong số mười mấy loại tràng hạt đó, cái nhìn đầu tiên tôi đã chấm trúng nó. Có vấn đề gì sao?”

“Có!” Tôi mỉm cười gật đầu khích lệ bà ấy: “Lần này bà được Quan Thế Âm Bồ Tát gọi đến đây đấy, tràng hạt màu đen có hiệu lực rất lớn đối với ác mộng! Giống như loại Bồ Đề Kim Cương kia thì chuyên trị chứng tinh thần bất thường kiểu như ma quỷ.”

Phương bá mẫu gật gật đầu cũng vui mừng hẳn lên, từ đó về sau bà ấy thực sự kết duyên sâu sắc với Phật pháp, ăn chay niệm Phật là chuyện đương nhiên, hơn nữa còn nhiều lần được chư Phật Bồ Tát phù hộ. Những điều này, sẽ được nhắc đến riêng trong "Bất tư nghị Phật bi tâm"!

"Thật không dám tin mẹ vợ tôi lại tin tưởng sư huynh Lý đến mức độ này," có một lần sư huynh Đỗ không dám tin nói với thân mẫu:

"Hễ sau này người thân bạn bè có chuyện gì, bà ấy luôn chỉ vào tôi mà bảo: 'Hãy để Chí Trung dẫn con đi gặp thầy Lý đi, có vấn đề gì cứ hỏi ngài ấy, ngài ấy thần thông quảng đại...'"

Thần thông quảng đại? Lúc đó nghe câu này xong chỉ đành mau chóng đến Phật đường hành lễ lạy sám hối!

Tôi tuyệt đối không phải làm bộ khiêm tốn, mà là tôi thực sự có lỗi.

Nếu tôi khiến người ta vì mình mà tin tưởng Phật pháp thì đó là đúng, nhưng nếu vì chư Phật Bồ Tát hộ mệnh cho tôi mà khiến người ta tưởng lầm tôi rất "lợi hại", "thần thông quảng đại", "không biết đã đến địa vị Bồ Tát nào" thì đó thực sự là tội lỗi tày trời!

Xin được nói một cách cực kỳ, cực kỳ thành thật rằng, ngưỡng cửa sơ địa Bồ Tát tôi còn cách một đoạn rất xa, rất xa, đây chính là nói khách sáo đấy! Chúng ta có thể lật xem phẩm thập địa của kinh Hoa Nghiêm để xem tâm lượng và thần thông mà sơ địa Bồ Tát cần phải có là sẽ hiểu rõ.

Ở đây tôi muốn đặc biệt nhấn mạnh một điểm, ý của Phật khi nói "không chuộng thần thông" là không lấy cảnh giới thần thông làm mục tiêu theo đuổi, tin rằng những ai đã đọc tác phẩm lớn của cư sĩ Phùng Phùng đều biết! Mà điều tôi muốn nhấn mạnh là: nếu không có thần thông thì không thể là A-la-hán, lại càng không thể là Bồ Tát, Phật! Trong pháp giới không có vị Bồ Tát nào không có thần thông, lại càng không có vị Phật nào không có thần thông.

Cho nên Thích Ca Phật mới nói người tu hành mà không có thần thông hiển hiện gọi là "kiền tuệ", người kiền tuệ không thể dùng sự chứng thực để viên dung lý chứng những nhân quả trước sau mà Phật đã nói. Ngài nói trong kinh Hoa Nghiêm, sơ địa Bồ Tát nếu không thể hóa trăm phân thân đến các thế giới để thuyết pháp, thì không phải là sơ địa Bồ Tát!

Lại lấy ví dụ thế này, chó nhìn thấy tay con người có thể mở cửa, cho nên con người đối với chó mà nói có sở hữu "thần thủ thông", chẳng lẽ cái sự "mở cửa" vốn dĩ đầy đủ trong bản tính này bạn cũng nói là ngoại đạo? Nhạc sĩ biết đánh đàn piano, kéo vĩ cầm mà bạn thì không, cùng là con người mà bạn lại không biết, tại sao bạn không mắng người ta là "ma"? Bởi vì họ đã học qua, luyện qua sao?! Đúng! Học Phật tu hành há chẳng phải là học, tập tu sao? Thần thông vốn sẵn có trong bản tính nếu không hiển hiện thì ngược lại biểu thị việc tu hành của bạn có vấn đề hoặc dụng tâm chưa đủ.

Thần thông là một trong những phương pháp khảo hạch thành tựu tu hành của bạn! Nó hoàn toàn không có gì hiếm lạ, lại càng không có gì đáng sợ, không có ai niệm Phật mà niệm thành ma cả!

Bởi vì, theo kinh nghiệm của tôi, thần thông chính là việc tôi mỗi ngày niệm Phật, lạy Phật mười sáu tiếng, liên tục kiên trì qua mười tám tháng cho đến ngày hôm nay là tự nhiên sẽ có. Các bạn muốn có chứ? Cứ làm theo cách này thì nhất định sẽ có!

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ tianyashuku.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.