Khảm bạc

Khảm Bạc

Lượt đọc: 8 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Kính Tặng Một Vị Đại Nam Và Một Tài Xế Lới Lạc

❊ ❊ ❊

Với tất cả lòng ngưỡng mộ, chúng tôi xin dâng tặng câu chuyện về chuyến du ngoạn trên xứ sở mà người hằng yêu mến

“… thế giới nhỏ bé này,

Viên ngọc quý đặt giữa biển khơi màu bạc

Óng ánh như bức tường thành bảo vệ,

Hoặc như chiếc hào sâu phòng thủ cho ngôi nhà,

Chống lại sự đố kỵ của những vùng đất kém may mắn hơn,

Mảnh đất thiêng liêng này, trái đất này, vương quốc này, nước Anh này.”

I

AUDRIE BRENDON GỬI MẸ

TẠI CHAMPEL-LES-BAINS, THỤY SĨ

Phố Chapeau de Marie Antoinette,

Versailles,

Ngày 4 tháng Bảy

Mẹ Pháp bé bỏng dấu yêu của con: Nhiều chuyện đã xảy ra rồi mẹ ạ. Pháo hoa! Pháo bông loại La Mã! Pháo thăng thiên! Nhưng mẹ đừng hoảng sợ nhé. Tất cả chúng đều đang nổ tung trong đầu con thôi. Dẫu vậy, đã lâu lắm rồi, kể từ khi con còn là một cô bé ở Mỹ và đứng trên một chiếc xô thiếc với cả một dây pháo đang nổ lép bép ngay bên dưới, con mới lại có được một Ngày Độc Lập tưng bừng đến thế.

Chẳng phải rất kỳ cục sao, khi mẹ có quá nhiều điều để kể, việc viết một bức thư lại khó khăn hơn gấp bội so với lúc mẹ chẳng có gì để nói và buộc phải khỏa lấp sự trống vắng ấy bằng cách chắp nối các câu chữ? Bây giờ đây, khi con đang chịu đựng cảnh ngòi bút bị tắc nghẽn vì quá nhiều từ ngữ chực trào, chúng cứ tuôn trào thành một dòng lũ, và con chẳng biết làm cách nào để chúng nhỏ giọt từng từ một cho một sự mở đầu đàng hoàng.

Con nghĩ con sẽ nói về những chuyện khác trước đã. Đó là cách mà bố thân yêu của chúng ta thường làm mỗi khi có tin tức hào hứng và thích thú ve vung nó trước đầu chúng con, theo kiểu “anh đào chín”, cứ bàn hoài về thời tiết hay tình hình thị trường chứng khoán cho đến khi chúng con suốt ngày nhảy cẫng lên vì sốt ruột.

Đúng vậy, con sẽ dừng lại ở những chuyện khác trước—nhưng không phải những chuyện lạc đề, vì con sẽ dừng lại ở Mẹ—với chữ M viết hoa, cách duy nhất đúng đắn để viết từ Mẹ—và Mẹ thì không bao giờ là lạc đề cả. Mẹ không thể nào lạc đề được, bất kể chuyện gì đang xảy ra đi chăng nữa. Và ngay lúc này đây, mẹ lại càng vô cùng gắn kết, dù mẹ đang ở tận Thụy Sĩ mát mẻ, dễ chịu; bởi chẳng mấy chốc nữa, khi con đi đến Cái Đó, con sẽ phải thỉnh ý mẹ.

Thật là vô cùng tiện lợi khi có một người mẹ người Pháp, và con thực sự cảm kích sự khéo léo kiểu Yankee của bố thân yêu khi đã rước được mẹ về chung một nhà. Đôi khi mẹ bảo rằng con có vẻ hoàn toàn là người Mỹ, và mẹ rất vui vì điều đó; nghe thật dễ thương và đầy lòng trung thành với quê hương của bố, nhưng con không chắc liệu mình có thích hơn nếu bản thân trở nên giống mẹ hơn không. Chẳng hiểu sao mẹ lại vô cùng

trọn vẹn—như những người phụ nữ Pháp ở thời kỳ đỉnh cao của họ. Con vẫn thường nghĩ về mẹ như một thứ cẩm nang bỏ túi tổng hợp những Cuốn Sách Hay Nhất của một Tác Giả Vô Danh nào đó: Lãng mạn, Thực tế Khôn ngoan, Thơ ca, Sự hóm hỉnh, Sự khôn ngoan, Nghệ thuật Nấu nướng tinh tế, v.v., v.v.

Ngoại trừ một phụ nữ Pháp, còn ai có thể kết hợp tất cả những phẩm chất ấy với kiểu làm tóc mới nhất và chiếc áo nịt ngực gọn gàng nhất cơ chứ? Nhân tiện, liệu áo nịt ngực của một người có thể được coi là một phẩm chất không? Có chứ, nếu người đó là người Pháp—thậm chí chỉ mang một nửa dòng máu Pháp—con tin là có thể.

Nếu con vừa không nhận được lá thư ngày hôm kia của mẹ, trong đó mẹ bảo rằng mình đang cảm thấy khỏe khoắn và tươi tắn—gần như chưa từng bị bệnh bao giờ—thì con đã chẳng làm phiền mẹ để xin lời khuyên rồi. Mới chỉ vài tuần trước thôi, nếu đột ngột phải đưa ra lời khuyên, hẳn mẹ đã cho thấy những dấu hiệu của chứng suy nhược thần kinh. Con sẽ không bao giờ quên được sự kinh hoàng của con khi mẹ (hoàn toàn không thể kiềm chế được nữa) đã ném thẳng một chiếc thìa vào mặt Philomene – người đến hỏi xem chúng ta sẽ dùng súp

à croute

hay

potage à la bonne femme

cho bữa tối!

Thụy Sĩ quả là một ý tưởng thiên tài; mà là ý tưởng của con đấy, con cứ tự hào thế. Và nếu trong bức thư báo tin rằng mình đã khỏe mạnh cường tráng trở lại, mẹ lại đang bóng gió về ý định lén lút quay trở lại Paris nóng như chảo lửa trước giữa tháng Chín, thì mẹ chưa hiểu hết đứa con gái gan góc của mình rồi. Tất cả những gì mang tính Mỹ trong con đều trỗi dậy để hét lên rằng “Không!” Và mẹ không cần phải nghĩ rằng đứa con của mẹ đang thấy chán ngấy đâu. Con có thể bị luộc chín chứ đời nào thấy chán. Còn lâu mới thế, như mẹ sắp được nghe đây.

Ngày mai trường sẽ nghỉ—chia thành những mảnh nhỏ tóc vàng và tóc nâu, những người sẽ bay hoặc tản đi về ngôi nhà thân yêu của họ; và đáng lẽ lúc này con phải đang thu dọn hành lý để đến thăm nhà Despards – nơi con được cho là sẽ dạy cho giọng ca non nớt của Mimi vút bay, như một sự đền đáp cho lòng hiếu khách kỳ nghỉ; nhưng—con chẳng đóng gói gì cả, bởi vì Ellaline Lethbridge vừa lên một cơn suy nhược thần kinh.

Mẹ sẽ không ngạc nhiên khi thấy con nán lại thêm hai tiếng đồng hồ ngày hôm nay chỉ để nắm tay và vuốt tóc Ellaline. Con từng làm thế trước đây, khi cô ấy bị đau ngón tay hay cảm lạnh ở chiếc mũi nhỏ xinh, và gửi cho mẹ một bức

petit bleu

để thông báo rằng con không thể về nhà ăn tối cùng giờ phút hạnh phúc của chúng ta được. Không, mẹ sẽ không ngạc nhiên về việc con nán lại—hay việc Ellaline lên cơn suy nhược thần kinh đâu. Nhưng lý do dẫn đến cơn suy nhược ấy và phương thuốc chữa trị mà cô ấy muốn con ban phát: những điều đó sẽ khiến mẹ phải ngạc nhiên đấy.

Chà, suy cho cùng thì việc bắt đầu thật khó khăn hệt như thể con chưa từng miệt mài dạo đầu suốt ba trang giấy vậy. Nhưng bắt đầu đây!

Cưng ơi, mẹ vẫn thường nói, và con cũng đã đồng ý với mẹ (hoặc ngược lại), rằng

không có gì

trên đời này mà con có thể làm cho Ellaline Lethbridge là quá sức cả; rằng cô ấy không thể đòi hỏi ở con bất kỳ sự hy sinh nào mà lại quá lớn lao. Tất nhiên, người ta cứ hay nói những điều đó cho đến khi được thử thách. Nhưng—con tự hỏi liệu có từ “nhưng” nào không?

Tất nhiên là mẹ tin cô con cưng của mình sở hữu một giọng ca tuyệt trần, và việc cô ấy chẳng làm gì hơn ngoài việc đi dạy cho lũ trẻ nhà khác gào thét – dù giọng chúng có đáng để gào thét hay không – quả là một sự bất công tàn nhẫn. Có lẽ, dẫu vậy, giọng của con có thể không phải là một báu vật đáng kinh ngạc như chúng ta vẫn tưởng; và ngay cả khi mẹ không bắt con từ bỏ việc thử sức với nhạc kịch nhẹ, vì con từng hứng chịu một Sự Xúc Phạm (viết hoa chữ S và P) lúc còn là học trò cưng của Madame Larese, thì trong bất kỳ trường hợp nào, con cũng chưa chắc đã trở thành một nữ danh ca vĩ đại. Bản thân con khi ấy cảm thấy khá phấn khích và buồn cười trước Sự Xúc Phạm đó – nó khiến con cảm thấy mình thật thú vị, và giống như nữ chính trong một cuốn tiểu thuyết lãng mạn; nhưng mẹ thì không tán thành điều đó; và chúng ta đã trải qua không ít ngày tháng khó khăn, phải không mẹ, sau khi toàn bộ tiền bạc đã tiêu sạch vào việc đi vòng quanh thế giới và những bài học của con với người thầy bất tử Larese?

Nếu không vì cuộc gặp gỡ với Ellaline, và việc Ellaline trở thành nạn nhân trước vẻ đẹp khiêm nhường của con, rồi nằng nặc đòi Madame de Maluet nhận con làm giáo viên thanh nhạc cho “trường nội trú luyện thanh lừng danh dành cho các Thiếu nữ” của bà ấy, thì số phận của chúng ta sẽ ra sao hỡi mẹ yêu, khi mẹ thì sức khỏe mong manh, con thì còn quá trẻ, và cả hai đều nghèo túng lại đơn độc giữa một thế giới rộng lớn? Con thực sự không biết, và mẹ vẫn thường nói rằng mẹ cũng chịu.

Tất nhiên, nếu không vì Ellaline—cô tiểu thư giàu có và quan trọng nhất của Madame – cứ khăng khăng đòi theo cái cách hống hách, kiêu kỳ của một đứa trẻ được chiều hư ấy, thì Madame đã chẳng bao giờ mơ tới việc thuê một cô gái trẻ như con, hoàn toàn không có kinh nghiệm giảng dạy, dù bà ấy có thích giọng hát và phương pháp của con (hoặc đúng hơn là của Larese) đến thế nào đi nữa. Con cho rằng chẳng ai khác dám liều lĩnh nhận con đâu; thế nên con thực sự phải mang ơn Ellaline, và không một ai khác ngoài Ellaline, vì ba năm qua thật hạnh phúc và (tương đối) sung túc. Thật ra, nhờ có vị trí của con tại trường của Madame de Maluet, con cũng kiếm thêm được một vài học sinh bên ngoài; nhưng điều đó cũng gián tiếp là nhờ Ellaline, phải không mẹ?

Con nhắc lại cho mẹ nhớ tất cả những chuyện này để mẹ có thể hình dung rõ ràng trong đầu rằng chúng ta mang ơn Ellaline nhiều đến mức nào, từ đó phán xét xem khoản "thanh toán" mà cô ấy đòi hỏi lúc này có phải là quá lớn hay không.

Đó là cách cô ấy đặt vấn đề, không chút thô tục hay trơ trẽn; nhưng con hiểu cảm giác của cô ấy.

Cô ấy gửi cho con một lá thư nhỏ ngày hôm qua, trong lúc con đang dạy học, nói rằng cô ấy bị đau đầu kinh khủng, đã phải lên giường đi ngủ, và liệu con có thể sang phòng cô ấy ngay khi có thể hay không. Chà, con đã sang vào giờ nghỉ trưa, vì con ghét việc để cô ấy phải chờ đợi, và nghĩ rằng mình có thể ăn sau. Hóa ra là con chẳng ăn gì cả. Nhưng đó chỉ là chi tiết nhỏ.

Cô ấy mặc một chiếc áo ngủ đẹp tuyệt trần, cổ khoét sâu và tay ngắn (con chắc chắn rằng không một cô gái nào được phép mặc thứ trang phục như thế ở bất kỳ ngôi trường nào ngoại trừ trường Pháp, ngay cả khi cô ấy là một “nữ sinh nội trú cao cấp”) và mái tóc xoăn gợn sóng xõa trên đôi vai. Trông cô ấy vô cùng đang yêu, và giống một đứa trẻ mười bốn tuổi hơn là gần mười chín tuổi như thực tế.

“Trông cậu chẳng có vẻ gì là đang đau đầu cả,” con liền nói.

“Tớ có bị đau đầu đâu,” cô ấy đáp.

Rồi cô ấy giải thích rằng bản thân đang khao khát đến phát điên một cơ hội để trò chuyện riêng với con, và cơn đau đầu là điều duy nhất cô ấy nghĩ ra được trong hoàn cảnh đó. Mẹ biết đấy, cô ấy chẳng ngại những lời nói dối nhỏ nhặt đâu. Thậm chí con tin là cô ấy còn khá thích chúng nữa kìa, bởi vì bất kỳ “mưu kế” nào, dù là nhỏ nhất, cũng mang lại sự phấn khích cho cô ấy.

Mẹ sẽ không bao giờ có thể đoán được chuyện tày trời gì đã xảy ra đâu.

Gã giám hộ độc ác như rồng lửa của cô ấy cuối cùng cũng sắp quay về từ Bengal – nơi ông ta làm thống đốc hay chức vụ gì đại loại thế. Không phải sự trở lại của ông ta có ý nghĩa đặc biệt gì nếu không vì những rắc rối phức tạp, nhưng có tới vài rắc rối, và rắc rối đáng sợ nhất chính là Một Gã Đàn Ông Trẻ.

Gã Đàn Ông Trẻ ấy là một thanh niên người Pháp, tên là Honoré du Guesclin. Gã là một trung úy trong quân đội (Ellaline nhắc đến trung đoàn với vẻ tự hào, nhưng con đã quên bén mất rồi, vì có quá nhiều thứ khác phải nhớ), và cô ấy bảo rằng gã là hậu duệ của vị tướng vĩ đại Du Guesclin. Cô ấy gặp gã ở nhà Madame de Blanchemain – mẹ còn nhớ Madame de Blanchemain, người bạn thân thiết nhất của người mẹ quá cố của Ellaline, sống ở St. Cloud chứ? Ellaline vẫn luôn trải qua mọi kỳ nghỉ ở đó kể từ khi con quen cô ấy; thế mà dù con tưởng cô ấy kể cho con nghe mọi chuyện (cô ấy vẫn luôn thề thốt là như thế), vậy mà một lời cô ấy cũng không hề hé lộ về việc có một chàng trai trẻ vừa xuất hiện trên chân trời đời mình. Cô ấy bảo rằng cô ấy không dám nói, bởi vì con quá “cổ hủ và nguyên tắc trong một vài chuyện.” Con đâu có thế, phải không mẹ? Nhưng giờ đây cô ấy buộc phải thú nhận, vì bản thân đang rơi vào một rắc rối tồi tệ nhất, và chẳng biết chuyện gì sẽ xảy ra với cô ấy và “anh Honoré dấu yêu” nếu con không đồng ý giúp họ.

Cô ấy mới chỉ gặp gã vào Lễ Phục sinh vừa rồi thôi. Hình như gã là cháu của Madame de Blanchemain; và khi từ vùng chiến sự ở Algeria hay đâu đó trở về, gã đã làm tròn đạo hiếu khi ghé qua thăm người họ hàng của mình. Tất nhiên con liền nghĩ, không biết Madame de Blanchemain có viết thư bóng gió rằng bà đang giữ trong nhà một tiểu thư thừa kế mang hai dòng máu Anh-Pháp xinh xắn, lại chẳng vướng bận họ hàng nào phiền phức, ngoại trừ gã Giám hộ độc ác kia không? Nhưng Ellaline bảo sự xuất hiện của Honoré hoàn toàn là một bất ngờ đối với người dì. Dù sao đi nữa, gã đã cầu hôn vào ngày thứ ba, và Ellaline đã nhận lời. Đó là dưới ánh trăng, trong một khu vườn, thế thì ai có thể trách cứ tội nghiệp đứa trẻ ấy cơ chứ? Con vẫn luôn nghĩ rằng ngay cả khi một gã thanh niên có vẻ ngoài tầm trung cầu hôn con dưới ánh trăng trong một khu vườn, con cũng sẽ thốt lên “Em đồng ý – đồng ý!” ngay lập tức, dù cho ngày hôm sau con có đổi ý đi chăng nữa.

Nhưng Honoré lại

rất

đẹp trai (cô ấy giữ ảnh gã trong một chiếc mề-đay, với bộ ria mép vuốt ngược lên

trông thật thế này đây

— ý con là Honoré ấy, chứ không phải cái mề-đay), và thế là Ellaline đã không thay đổi ý định vào ngày hôm sau.

Không một lời nào được hé lộ với Madame de Blanchemain (theo như Ellaline biết), bởi vì họ quyết định rằng, xét trên mọi khía cạnh, họ phải giữ bí mật, và cuối cùng sẽ trốn đi để kết hôn; bởi vì Honoré thì nghèo, còn Ellaline lại là một nữ thừa kế bị canh giữ bởi một con Rồng lửa.

Chà, thông qua những bức thư mà E. nhận được tại một tiệm trà nơi cô và các nữ sinh lớn tuổi khác đến – với sự giám sát nghiêm ngặt, mỗi tuần hai lần – họ đã lên kế hoạch hành động ngay khi trường đóng cửa; và nếu họ có thể thực hiện được kế hoạch của mình, Ellaline đã trở thành Madame du Guesclin trước khi con Rồng kịp xuất hiện tại hiện trường, phun lửa và khua lách cách lớp vảy của mình. Họ định trốn sang Scotland để kết hôn (ý tưởng của Honoré), vì ở Pháp, một người đàn ông không thể hợp pháp kết hôn với một cô gái chưa đủ tuổi vị thành niên mà không có sự đồng ý của tất cả những người liên quan. Một khi cô ấy đã cao chạy xa bay cùng gã, và có được một đám cưới chui lủi nào đó, Honoré cho rằng ngay cả con Rồng hoang đàng nhất cũng sẽ phải ngậm ngùi chấp thuận một cuộc hôn nhân theo luật pháp Pháp; và thế là mọi chuyện có thể được làm lại một cách đàng hoàng ở Pháp.

Con cho rằng điều này cực kỳ hấp dẫn đối với sở thích mưu mô và những trò tinh quái mèo mỡ nói chung của Ellaline. Dù sao đi nữa, cô ấy đã đồng ý; nhưng các sĩ quan trẻ thì tính toán, còn các cấp trên của họ mới là người định đoạt. Honoré bị điều đi diễn tập quân sự trong suốt một tháng trước khi gã kịp xin nghỉ phép; và vì ai cũng biết gã chẳng có họ hàng thân thích gần nào, nên gã chẳng thể moi đâu ra một người bà sắp sửa quy tiên để làm cái cớ được.

Gã đã thử dùng cách gì, con không rõ; nhưng dù sao đi nữa, gã đã thất bại, và việc trốn chạy đành phải hoãn lại. Đó là cú đòn thứ nhất, và còn có thể chịu đựng được nếu không có cú đòn thứ hai giáng xuống dưới hình thức một bức thư. Nó báo tin rằng gã giám hộ độc ác đang sắp sửa lên đường về nước, và có ý định đón Ellaline trên đường sang Anh, cứ như thể cô ấy là một bưu phẩm dán nhãn “giữ lại cho đến khi có người nhận” vậy.

Cô ấy chắc chắn rằng ông ta sẽ không đời nào cho phép cô ấy kết hôn với Honoré nếu ông ta có cơ hội nói lời “không” từ trước, bởi vì ông ta chẳng màng gì đến hạnh phúc của cô ấy, chẳng màng đến cô ấy, hay bất cứ thứ gì khác ngoại trừ những tham vọng ích kỷ của chính mình. Tất nhiên, Ellaline là kiểu con gái nuôi những thành kiến sâu sắc đối với người khác mà chẳng vì một lý do cụ thể nào, ngoại trừ việc cô ấy có “cảm giác họ thật đáng sợ”; nhưng xem ra cô ấy có vẻ đúng về gã đàn ông này. Ông ta là người Anh, và mặc dù mẹ của Ellaline mang một nửa dòng máu Pháp, nhưng họ là anh em họ hàng, và con tin rằng di nguyện lúc lâm của bà là ông ta hãy chăm sóc con gái bà và số tiền của con gái bà. Mẹ hẳn sẽ nghĩ rằng điều đó có thể làm mềm lòng ngay cả một trái tim băng giá nhất, phải không mẹ? Nhưng rõ ràng trái tim của con Rồng ấy hoàn toàn miễn nhiễm với sự sướt mướt, ngay cả từ bao nhiêu năm trước, khi ông ta hẳn vẫn còn tương đối trẻ – nếu như loài Rồng có lúc nào trẻ tuổi.

Ông ta đã nhận trách nhiệm đó (Ellaline nghĩ tiền bạc của cô ấy có lẽ đã tác động khiến ông ta làm điều đó; và có lẽ ông ta được trả công cho phiền phức này); nhưng thay vì thực hiện các cam kết của mình như một người giám hộ trung thành, ông ta lại tống cổ đứa trẻ tội nghiệp mới bốn tuổi về quê với một đám người cứng nhắc, buồn ngủ, rồi nhanh chóng ra nước ngoài để tận hưởng cuộc sống. Chắc chắn Ellaline sẽ bị bỏ lại đó cho đến tận ngày nay, vô cùng bất hạnh và lạc lõng, bởi vì những kẻ đó chỉ là một mục sư người Anh và vợ ông ta; nhưng may thay, mẹ cô ấy đã đưa ra điều kiện là cô phải được gửi đến chính ngôi trường ở Pháp nơi mẹ cô từng theo học – trường của Madame de Maluet.

Chưa một lần nào người giám hộ của cô ấy thể hiện dù chỉ một chút quan tâm đến Ellaline: không thèm hỏi xin bức ảnh hay viết cho cô ấy lấy một lá thư. Họ chỉ liên lạc với nhau thông qua Madame de Maluet, khoảng bốn lần một năm; và Ellaline không chắc liệu gia tài của mình có được quản lý đúng đắn hay không, thế nên cô ấy bảo rằng mình phải kết hôn sớm để có một chồng lo toan cho quyền lợi của bản thân.

Khi con ngập ngừng nuôi hy vọng rằng con Rồng đó không đến nỗi có nhiều vảy và lắm đuôi như cô ấy đã tô vẽ, cô ấy liền chứng minh luận điểm của mình bằng cách kể rằng ông ta gần đây đã bị các tờ báo Cấp tiến của Anh chỉ trích vì tội ra tay sát hại máu lạnh rất nhiều người dân Bengal nghèo hèn, không tấc sắt trong tay. Chắc hẳn ai đó đã gửi cho cô ấy những mẩu báo cắt ra, chứ Ellaline hầu như chẳng biết báo chí là gì. Con dám cá đó là Kathy Bennett, một trong số ít học sinh người Anh của Madame. Ellaline gần đây đã chơi thân với cô ấy. Và tin tức đó dường như đã định đoạt nhân phẩm của gã đàn ông này rồi, phải không mẹ? Ông ta chắc chắn phải là một tên đồ tể chính hiệu.

Ellaline bảo rằng cô ấy thà chết chứ nhất định không chịu mất Honoré, đồng thời gã cũng sẽ tự vẫn nếu mất cô ấy. Và giờ đây, cưng ơi—giờ thì đến Tia Sét đây! Cô ấy thề rằng điều duy nhất có thể cứu vãn được cô ấy chính là

con đóng thế chỗ cô ấy trong năm hoặc sáu tuần,

cho đến khi các cuộc diễn tập quân sự của người lính kết thúc và gã có thể xin nghỉ phép để lôi tuột cô ấy tới Scotland làm đám cưới.

Mẹ là người cưng có trí óc nhanh nhạy nhất trên đời, và mẹ thường hiểu rõ mọi điều người khác ngụ ý ngay cả trước khi họ cất lời. Thế nhưng con vẫn có thể hình dung ra vẻ mặt vừa hoang mang vừa kinh ngạc của mẹ, và tiếng lầm bầm trong họng: “Đóng thế chỗ Ellaline? Ở đâu – bằng cách nào – khi nào?”

Con cũng y như thế trong lúc cô ấy cố gắng giải thích. Con trân trân nhìn với cái nhìn trố lác của loài cú suốt khoảng năm phút, cho đến khi ý tưởng thực sự của cô ấy bộc lộ trọn vẹn với vẻ hoang sơ vốn có, để không muốn nói là quái gở, giáng xuống đầu con.

Cô ấy muốn ngày mốt sẽ đến nhà Madame de Blanchemain, đúng như những gì cô ấy dự tính trước khi nghe tin gã Giám hộ đang đến để nuốt chửng cô ấy. Cô ấy muốn ở lại đó một cách yên tĩnh cho đến khi Honoré có thể đến đón, và cô ấy muốn

con giả vờ làm Ellaline Lethbridge!

Con suýt ngã khỏi ghế ở đoạn này, nhưng con hy vọng mẹ sẽ không làm điều gì tương tự thế – đó chính là lý do tại sao con đã dẫn dắt đến sự thật phũ phàng này với sự tinh vi ma quái đến vậy. Mẹ có nhận ra điều đó không?

Ellaline đã lên kế hoạch cho toàn bộ mưu đồ này. Con vốn không nghĩ cô ấy có khả năng làm được việc đó; nhưng cô ấy bảo rằng đó là vì đường cùng.

Cô ấy chắc chắn rằng mình có thể thuyết phục Madame de Maluet cho phép rời trường, ra nhà ga đón gã Giám hộ (đó là phương án do chính ông ta đề xuất: đến việc chạy ra Versailles đón cô ấy mà ông ta cũng thấy phiền phức) với chỉ một mình con đi cùng làm giám hộ. Con dám cá cô ấy đã đoán đúng về Madame, vì tất cả các giáo viên đều sẽ đi vắng vào ngày mốt, và bản thân Madame thì lúc nào cũng lăn ra ngất xỉu ngay khoảnh khắc trường nghỉ học: bà ấy có vẻ suy sụp theo cả ngôi trường luôn, và phải nằm giường ít nhất nửa tuần mới hồi phục nổi.

Madame thực sự có ấn tượng khá bợ đỡ về sự kín đáo của con. Bà ấy đã nói với con điều đó mấy bận rồi. Con đoán đó là cách con chải tóc khi đến trường, khiến con trông có vẻ đức hạnh không tì vết, phải không mẹ? May mắn là bà ấy không biết con luôn thay đổi kiểu tóc (nếu không quá mệt) mười phút sau khi về đến nhà với mẹ.

Chà, thế rồi, cứ coi như đã có sự cho phép của Madame đi, Ellaline chỉ ra rằng mọi chướng ngại vật đã được dọn sạch, bởi vì cô ấy sẽ không tính đến những rào cản đạo đức, hoặc không thèm để con tính đến chúng.

Con sẽ là người tiễn cô ấy đến St. Cloud, và ở lại đón gã Giám hộ. “Thưa ngài, xin diện kiến vật tế thần – ý con là, xin diện kiến cô con gái ward của ngài!”

Và con sẽ tiếp tục đóng vai vật tế thần cho đến khi Ellaline thật sự thuận tiện cào những tàn tro của con khỏi bàn thờ đang bốc khói.

Cứ đùa cợt về chuyện đó thì dễ lắm. Nhưng để nói chuyện nghiêm túc – và trời đất quỷ thần ơi, chuyện này vô cùng nghiêm túc rồi đấy – chúng ta phải làm sao đây, mẹ nhỏ của con? Ellaline đã (bởi vì con khăng khăng đòi) cho con thời gian đến sáng mai để trả lời. Con đã giải thích rằng sự đồng ý của con phải phụ thuộc vào sự đồng ý của mẹ. Đó là lý do tại sao con chẳng ăn miếng nào kể từ bữa sáng. Con đã phi như bay về nhà để viết bức thư dài dằng dặc này gửi cho mẹ, rồi tống nó đi cho kịp chuyến thư tín. Nó sẽ đến nơi vào buổi sáng cùng với cà phê và

petits pains

của mẹ – ước gì con được ở vị trí của bức thư biết bao! Mẹ có thể dành ra nửa tiếng để đưa ra quyết định (con chắc chắn với bộ óc chớp nhoáng của mẹ, mẹ sẽ chẳng cần mất nhiều thời gian hơn thế để định đoạt số phận của các Đại Cường quốc Châu Âu đâu) rồi điện giật về cho con chỉ một chữ “Có” hoặc “Không”. Con sẽ hiểu.

Dĩ nhiên, vì lợi ích của chính mình, con thích chữ “Không” hơn. Điều đó là dĩ nhiên rồi phải không mẹ? Khi đó con sẽ được giải tỏa khỏi trách nhiệm; bởi vì ngay cả Ellaline, khi biết rằng mẹ và con là tất cả của nhau, cũng khó lòng có thể mong đợi con dám làm trái ý mẹ chỉ để làm vui lòng cô ấy. Nhưng mặt khác, nếu mẹ nghĩ rằng con có thể làm cái việc khủng khiếp này mà không biến chính mình thành một Thứ Khủng Khiếp, thì đó sẽ là một sự giải tỏa huy hoàng để trả món nợ ân nghĩa cho Ellaline, vâng, và thậm chí

trả dư,

biết đâu đấy. Người ta thường thích trả dư một món nợ đã nợ từ lâu, bởi vì nó giống như việc cộng thêm số tiền lãi tích lũy mà chủ nợ chưa bao giờ ngờ tới sẽ nhận được.

Khi con thở hổn hển sau cú sốc đầu tiên, nài nỉ rằng con sẽ làm bất cứ điều gì khác, hy sinh bất cứ thứ gì khác vì Ellaline, ngoại trừ điều

này,

cô ấy liền lật bài ngửa (với sự khôn vặt kỳ lạ ẩn giấu trong vẻ trẻ con của cô ấy hệt như một con rắn lục sáng chói thò đầu ra từ luống hoa violet), bảo rằng con người ta lúc nào cũng vậy. Họ luôn sẵn sàng làm vì những người bạn thân nhất, những người họ mang ơn, mọi thứ trên đời ngoại trừ đúng cái điều duy nhất được cầu xin.

Chà, con chẳng có câu trả lời nào để đáp lại cả; bởi vì đó là sự thật, phải không mẹ? Và rồi Ellaline nức nở thảm thiết, bấu víu lấy con bằng đôi tay nhỏ nhắn, nóng hổi và run rẩy, khóc lóc rằng cô ấy đã

trông cậy

vào con, rằng cô ấy đã chắc chắn, sau bao lời hứa hẹn của con, rằng con sẽ không phụ bạc cô ấy. Cô ấy đã cảm thấy vô cùng

an toàn

khi ở bên con! Mẹ có ngạc nhiên khi con không đành lòng từ chối không? Con thú thật, mẹ yêu ạ, rằng nếu con chỉ có một mình trơ trọi trên cõi đời này (dù thế giới này sẽ chẳng còn là thế giới nếu thiếu mẹ) thì chắc chắn con đã quỳ lụp sụp và đồng ý ngay tại chỗ rồi.

Cô ấy bảo tối nay cô ấy sẽ không nhắm mắt nổi, và con dám cá là cô ấy sẽ thế thật, trong trường hợp đó trông cô ấy ngày mai sẽ thảm thương như một bông hoa gãy cành. Con nghĩ đêm nay chắc con cũng chẳng ngủ được mấy, cứ trăn trở mãi không biết phán quyết của mẹ sẽ ra sao.

Con thực sự hoàn toàn không có lấy một mảy may ý niệm nào không biết đó sẽ là Có hay Không. Thường thì con tưởng tượng rằng mình có thể đoán khá trúng ý kiến của mẹ sẽ là gì, nhưng lần này thì chịu. Vấn đề cần quyết định tự nó vốn dĩ đã quá ho đường, quá quái dị đến mức có lúc con tự nhủ mẹ thậm chí sẽ chẳng thèm cân nhắc đến nó. Phút tiếp theo, con lại nhớ ra mẹ là một mụ “cục cưng” đáng yêu thế nào về chủ đề lòng biết ơn – “phẩm hạnh ưa thích của mẹ,” như mẹ vẫn hay viết trong những “Cuốn Sổ Thú Tội” lỗi thời của những người bạn tỉnh lẻ người Mỹ khi con còn nhỏ.

Nếu người ta làm điều gì tốt đẹp cho mẹ, mẹ sẵn sàng đâm thủng những đôi giày cao gót xinh xắn của mình để làm một điều gì đó còn tốt đẹp hơn thế cho họ. Nếu mẹ được mời đi uống trà, mẹ sẽ mời lại gia chủ ăn trưa hoặc ăn tối để đáp lễ: kiểu như thế đấy; và mẹ đã nuôi dạy con với cùng một con ong trong cái mũ ấy của mẹ. Vậy thì bức điện tín của mẹ

sẽ

thế nào đây?

Bất kể mẹ nói gì, mẹ hãy cứ tin vào một tiếng “A-men, xin hãy cứ thế đi” ngoan ngoãn từ

Thần dân ngưỡng mộ mẹ nhất,

Audrie.

T.S. – Tất nhiên, sự việc không giống như thể gã đàn ông này là một người đàn ông bình thường, tốt bụng, vô hại, phải không mẹ? Con thực sự nghĩ rằng hầu như bất kỳ cách đối xử nào cũng là quá tốt đối với một Lão Rồng già lạnh lùng và kiêu kỳ đến thế. Và mẹ không cần phải chỉnh đốn con vì tội “gọi tên cúng cơm” đâu. Với một sự công bằng kỳ lạ, Chúa Trời đã gắn thẻ cho ông ta một cách thích hợp hệt như kẻ thù tệ hại nhất của ông ta dám làm. Người ta có những cái tên kỳ quái làm sao ở vùng Cornwall – và hình như ông ta là người gốc Cornwall. Cho đến gần đây ông ta vẫn chỉ là một Mister bình thường, giờ thì đã là Sir Lionel Pendragon rồi. Ai đó đã đủ mềm yếu để chết và để lại cho ông ta một tước hiệu, cùng với một điền trang (dù không ở Cornwall) mà ông ta đang quay về nước Anh với sự háu hức tham lam để chộp lấy. Thật là đúng bản chất, sau bao nhiêu năm trời sống tha hương; mặc dù Madame de Maluet đã cố gắng khiến Ellaline tin rằng ông ta quay về ổn định cuộc sống là vì một bức thư

cô ấy

đã viết, nhắc nhở ông ta một cách kính cẩn rằng sau mười chín tuổi mà cứ bắt một cô gái ở lại trường thì quả là gần như không thể chấp nhận được.

Tuy nhiên, mẹ đừng sợ, nếu bức điện tín của mẹ ném con cho con Rồng, rằng con sẽ đối mặt với nguy hiểm bị ăn thịt nhé. Con Rồng ấy, bên cạnh những khuyết điểm nặng nề khác, còn có một khuyết điểm là sự đáng kính mực thước, suýt chút nữa là đáng ghét. Ông ta đáng kính hệt như một cái gậy chống hay chiếc gày chọc lò sưởi, và rất có tuổi rồi, Ellaline bảo thế. Qua cách cô ấy nói về ông ta, chắc ông ta phải sắp bước sang tuổi một trăm, và đi kèm với ông ta là một người chị gái góa chồng, bà Norton – người được ông ta đào bới lên từ một xó xỉnh nào đó ở vùng quê để làm giám hộ cho ward của mình. Mọi phụ nữ khác đều bị ông ta căm ghét, theo như người ta tưởng, và nếu cần thiết, ông ta sẽ dùng gậy để quất họ tơi bời.

II

AUDRIE BRENDON GỬI MẸ

Phố Chapeau de Marie Antoinette,

Versailles,

Ngày 5 tháng Bảy

Thiên thần hiền đức của con: Bây giờ bức điện tín đã đến rồi, con có cảm giác như thể mình đã biết rõ quyết định của mẹ sẽ ra sao từ đời thủa nào rồi ấy.

Con rất vui vì mẹ đã chịu tốn kém khi viết thêm chữ “Đang viết thư”, bởi vì sáng mai con sẽ biết chính xác những quá trình tư duy nào đã giúp mẹ đưa ra quyết định. Thêm nữa, con vui vì (con nghĩ con vui) từ đó là “Có”.

Bây giờ là buổi chiều rồi; đúng hai mươi tư tiếng đồng hồ kể từ lúc con ngồi đây ở cùng một chỗ này (tất nhiên là tại bàn làm việc của mẹ bên cửa sổ phía trước), cố gắng hết sức để bày tỏ tình hình trước mắt mẹ, như một câu chuyện trần trụi, không son phấn.

Con đã nhét mẩu giấy xanh vào mũi Ellaline, và cô ấy suýt thì lên cơn ngất vì sung sướng. Nếu cô ấy to con hơn và lực lưỡng hơn một chút, hẳn cô ấy đã hôn và ôm siết lấy con đến cạn kiệt hơi thở mất thôi, điều đó sẽ thật bất tiện cho cô ấy, bởi vì khi đó cô ấy sẽ bị đẩy lùi trở lại với nguồn lực của chính mình.

Ôi,

ma petite poupee de Mere, nghĩ mà xem! Ngày mai con sẽ đi – vào khoảng không gian vô tận. Con biến mất. Con ngưng tồn tại

tạm thời.

Sẽ chẳng có con, chẳng có Audrie nào nữa cả, mà thay vào đó là hai Ellaline. Nhân tiện, con vẫn hay nói với cô ấy rằng con có thể làm thành hai người như cô ấy. Rõ ràng là có lúc con đã từng có một linh hồn tiên tri. Con chỉ ước gì mình vẫn còn khả năng đó, để con có thể nhìn thấy trước điều gì sẽ xảy ra với Bản chất-Audrie của Ellaline trong vài tuần tới. Dù sao đi nữa, bất kể chuyện gì xảy ra, con vẫn mong đợi sẽ được nâng đỡ bởi ý thức rằng con đang trả một món nợ ân nghĩa có lẽ chưa từng có món nợ nào được trả như thế trước đây.

Tất nhiên con sẽ có một khoảng thời gian hoàn toàn tồi tệ. Không chỉ vì con sẽ phải co rúm lại dưới sự nhận thức nhục nhã rằng mình là một kẻ giả mạo đê tiện, mà con còn bị nỗi nhớ nhà hành hạ đến khốn khổ và chán ngán đến tận cùng cuộc đời. Con sẽ rơi vào hoàn cảnh như Ellaline miêu tả, giống như một con chuột trong ống chân không – một con chuột đồng nghèo khổ, nghịch ngợm, hạnh phúc, sống ngoài trời, bị bắt đem đi làm thí nghiệm. Khi cuộc thí nghiệm kết thúc, con sẽ bò đi, tàn tạ và rệu rã. Nhưng ơn Chúa, con có thể lết đến bên Mẹ, và mẹ sẽ chăm sóc để hồi sinh con. Chúng ta sẽ bàn luận mọi chuyện trong nhiều giờ liền, và con sẽ được tha hồ mắng mỏ con Rồng cho đến bét nhè thì thôi. Con biết mẹ sẽ cho phép con làm điều đó, miễn là con không dùng những từ ngữ hư hỏng, hoặc nếu có dùng, hãy ngụy trang chúng một cách nhã nhặn bằng một tiếng thì thầm.

Ellaline và con đã thảo luận về các kế hoạch và khả năng, và nếu mọi việc diễn ra đúng như cô ấy mong đợi (con không thấy lý do gì mà nó lại không thế), con lẽ ra phải được giải thoát khỏi vai trò diễn viên đóng thế khó chịu ấy trong vòng năm hoặc sáu tuần. Ngay khoảnh khắc xiềng xích của con bị đứt phăng bởi một bức điện từ cô dâu gửi đến với nội dung: “Đã kết hôn an toàn”, hoặc những từ ngữ đại loại thế, con sẽ làm “tất cả những gì có thể” để cuộn lều lại như một người Ả Rập và lặng lẽ chuồn – để không muốn nói là lẻn – khỏi hang ổ của con Rồng, trước khi hắn kịp mở cái mắt đỏ ngầu vảy cá ra để đối mặt với thực tế khủng khiếp, cho đến khi con ở ngoài tầm kiểm soát của hắn.

Chỉ có cách đó hoặc là một cuộc cãi vã kinh hoàng với hắn – một Trận Cãi Vã Chính Hiệu. Hắn thì nói những suy nghĩ của hắn về sự lừa dối của con; con thì tự vệ và bảo vệ Ellaline thật bằng cách nói những suy nghĩ của con về sự ghê tởm chung của hắn. Nếu đến mức đó, trong cơn thịnh nộ, con có thể trở nên kém nữ tính; thế nên có lẽ trong hai cái điều ác, điều nhỏ hơn sẽ là hành động lẻn đi – n'est ce pas? Chà, con sẽ tính tiếp khi thời điểm ấy đến.

Trong năm hoặc sáu tuần tới, dẫu sao thì con cũng đã định cho phép mẹ rời Champel-les-Bains, nếu mẹ cảm thấy quá bứt rứt vì thiếu vắng sự hiện diện của con. Con đã định đề xuất vào lúc đó, nếu mẹ đã được bồi bổ đầy đủ bởi không khí Thụy Sĩ, sữa, mật ong và các liệu pháp thủy trị Champel, rằng chúng ta sẽ hợp sức tại một ngôi nhà nông trang rẻ tiền nhưng đầy quyến rũ ở đâu đó.

Ý tưởng đó có lẽ vẫn còn khá phù hợp, phải không mẹ? Nhưng nếu vì một lý do bất ngờ nào đó mà con phải tiếp tục xèo xèo trên bàn thờ tế thần lâu hơn chúng ta mong đợi, mẹ tuyệt đối không được quay về cái Paris nóng bức để mà tiết kiệm rồi ủ rũ trong căn hộ nhé.

Mẹ

phải

ở lại Thụy Sĩ cho đến khi con có thể gặp mẹ ở một nơi tuyệt vời nào đó dưới vùng quê. Hứa với con là mẹ sẽ không làm nặng gánh thêm cho con bằng sự bướng bỉnh nhé.

Con sẽ đánh điện báo địa chỉ cho con ngay khi con được ban phước – hoặc bị nguyền rủa – sở hữu một cái. Và

dù thế nào đi nữa,

mẹ đừng quên rằng con đang tan biến vào Ellaline Lethbridge nhé. Nếu nhân dạng của cô ấy vừa vặn với con tệ hệt như những chiếc váy của cô ấy thì nó sẽ tụt xuống tận đầu gối và chẳng thèm khép lại ở eo đâu.

Ngay khi con nhận được thư của mẹ vào sáng mai, cưng ơi, con sẽ viết thư lại, dù chỉ vài dòng. Rồi khi con đã diện kiến con Rồng và có được một ý niệm mơ hồ về cách thức và địa điểm hắn định tống khứ con mồi của mình, con sẽ nguệch ngoạc vài dòng miêu tả về gã đàn ông và cuộc gặp gỡ, ngay cả khi nó diễn ra trên boong tàu vượt Eo biển, giữa một cơn say sóng.

Iphegenia của mẹ.

(Hay con gái của Jephtha sẽ thích hợp hơn nhỉ? Con không chắc cách viết chính tả của cả hai cái tên này cho lắm.)

III

AUDRIE BRENDON GỬI MẸ

Phố Chapeau de Marie Antoinette,

Ngày 6 tháng Bảy. Sáng sớm

Nữ thần Khôn ngoan thân yêu nhất của con: Mẹ lẽ ra phải làm Cố vấn Trưởng cho các Bậc Đế vương mới phải. Mẹ sẽ là người vô giá; đáng giá bất kỳ mức lương nào. Thật là một điều đáng hổ thẹn khi mẹ không được biết đến rộng rãi: một thứ tài sản công cộng! Nhưng vì lợi ích của con, con lại thấy mừng vì mẹ không nổi tiếng như thế, bởi vì nếu mẹ bị phát hiện, mẹ sẽ chẳng bao giờ có lấy một phút rảnh rỗi để tư vấn cho con nữa.

Tất nhiên, mẹ yêu ạ, nếu mẹ không đưa ra kết luận đúng vào lúc mẹ đã làm về bước đi này, thì mẹ sẽ chẳng bao giờ khuyên bảo, hay thậm chí cho phép con thực hiện nó đâu. Và con sẽ ghi nhớ từng lời mẹ nói. Con sẽ làm chính xác những gì mẹ bảo con làm. Thế nên bây giờ, mẹ đừng lo lắng gì nữa cả, cũng đừng lo hơn là khi con là một nữ vận động viên nhảy dù trẻ tuổi đầy kinh nghiệm sắp sửa thực hiện cú nhảy từ đỉnh tháp Eiffel.

Bây giờ là tám giờ, và con đã làm thỏa mãn tâm hồn mình bằng lá thư của mẹ cùng cơ thể mình với chiếc bánh mì sừng bò và cà phê buổi sáng. Khi con viết xong nguệch ngoạc những dòng bút chì này gửi mẹ, con sẽ thu dọn hành lý, và sẵn sàng – cho bất cứ chuyện gì.

Nhân tiện, nhắc tới chuyện đó. Quả là một tấm lưới rắc rối chúng ta dệt nên khi lần đầu tiên tập tành lừa dối, v.v.

Liệu con Rồng có thấy kỳ quặc không khi ward giàu có của hắn lại chẳng thể trưng diện những bộ trang phục sang trọng hơn những thứ mà con có thể sắm sửa – sau khi đã sống ở Versailles, thực tế là ngay sát Paris, với một khoản tiền tiêu vặt khổng lồ – cho một nữ sinh?

Con chỉ mới nghĩ đến rắc rối đó vào đêm qua, sau khi đã lên giường, và bị cám dỗ muốn chồm dậy để kiểm kê lại tủ quần áo của mình. Nhưng việc đó hoàn toàn không cần thiết. Không chỉ vì con có thể nhớ lại một cách vô cùng sống động từng chiếc váy mình đang có, mà con thực sự tin là mình nhớ được cả từng chiếc váy con từng có từ khi những chiếc váy của con được hạ gấu hoặc sửa lại từ đồ của mẹ. Con đoán điều đó lẽ ra phải khiến con cảm thấy mình khá trẻ trung phải không mẹ? Khi nhớ được từng chiếc váy con từng sở hữu ấy? Nhưng không đâu. Con sẽ bước sang tuổi hai mươi trong tháng này đấy mẹ biết đấy – lớn hơn một tuổi so với lúc mẹ vỡ òa niềm vui nghe tiếng khóc chào đời đầu tiên của con. Con chắc chắn tiếng khóc đó nghe thật kỳ quái, thế mà mẹ lại thốt lên ngay với bố rằng: “Đứa trẻ cún con này sắp sửa trở thành một nghệ sĩ âm nhạc đấy!”

Nhưng quay lại với tủ quần áo của nữ diễn viên đóng thế cho nữ thừa kế. Nó bao gồm bộ đồ may đo hàng ngày của con, hai chiếc áo khoác và chân váy vải lanh trắng, một bộ sưu tập những chiếc áo blouse mùa hè đã được vá víu (con không hề có ý phỉ báng đâu nhé), và chiếc váy dạ hội đen vĩnh cửu, bất tử. Nó đã được ba hay bốn tuổi rồi nhỉ? Con biết đó là chiếc váy đen đầu tiên của con, và con đã cảm thấy tự hào và ra dáng người lớn biết bao khi mẹ bảo con được phép mặc nó.

Mẹ sẽ tự hỏi mình rằng: “Cái áo vải alpaca xanh dương mà con bé mua trong đợt giảm giá ở Bon Marché, cái áo đang được may dở lúc mẹ lên đường đi

la Suisse,

nó đâu rồi?” Cho đến tận bây giờ con vẫn giấu mẹ sự thật bi thảm rằng mụ Mademoiselle Voisin đáng ghét ấy đã làm hỏng bét nó rồi. Con đã tức điên lên được và suýt thì bóp cổ mụ ta nếu mụ ta có mặt ở đó. Chẳng có cơn giận nào giống như cơn giận vì quần áo đâu, phải không mẹ?

Hy vọng duy nhất của con là con Rồng có thể ít quan tâm đến trang phục của Ellaline hệt như cách hắn quan tâm đến bản thân Ellaline, hoặc là vì đã quen thuộc với trang phục của người Bengal – vốn có lẽ có phần sơ lược – hắn sẽ thấy biết ơn vì ward của mình có quần áo mặc là may lắm rồi.

Mẹ thấy đấy, con không thể kể chuyện này cho Ellaline nghe, bởi vì cô ấy sẽ không thể tránh khỏi việc nghĩ rằng đó là một lời ám chỉ để cô ấy tự bù đắp phần thiếu hụt, và con sẽ không đời nào để cô ấy làm thế, ngay cả vì thể diện của chính cô ấy. Dù sao đi nữa, chẳng có thời gian để mua sắm gì đâu, thế nên con đành phải xoay sở hết sức có thể, và diện chiếc áo khoác dạ xám cũ kỹ cùng chiếc mũ thủy thủ với một phong thái đường hoàng. Chúa đã ban cho con chiều cao một mét bảy mươi lăm chỉ để làm cái việc đó đấy.

Bây giờ con phải đóng gói hành lý nhanh như chớp; và khi xong xuôi, con sẽ gửi chiếc rương nâu và chiếc túi Gladstone đen đến ga Gare de Lyon, nơi

hắn

sẽ đến từ Marseille. Việc đó khá phức tạp, vì chúng ta chắc chắn phải đến ga Gare du Nord để đi Calais hoặc Boulogne; nhưng có lẽ hắn sẽ không muốn khởi hành ngay đi Anh, và trong thân phận mới của con, với tư cách là ward của hắn, con phải sẵn sàng tuân lệnh hắn. Con hy vọng hắn sẽ không đối xử với con như cách hắn có vẻ đã đối xử với người dân Bengal! Hành lý của tiểu thư Ellaline Lethbridge rõ ràng không thể được gọi lấy ra từ căn hộ của bà Brendon và cô con gái Audrie được, bởi vì sẽ có những câu hỏi – và chẳng có câu trả lời nào thích hợp cả. Thế nên, khi con xuất hiện tại ga Gare de Lyon, con có ý định sẽ “tự cung tự cấp”. Tất cả tài sản trên đời của con sẽ ở đó, để được định đoạt theo ý muốn của Đại Mô-gôn.

Khi đóng gói xong, con sẽ phóng ngay đến trường của Madame de Maluet, trông ngoan ngoãn và hiền lành như một con bồ câu được huấn luyện, để tiếp quản Ellaline – và biến thành Ellaline.

Sau đó – Hồng thủy.

Tạm biệt mẹ yêu!

Con đây, dấn thân vào bầy sư tử!

Nhưng con sẽ mang theo lá thư bùa hộ mệnh của mẹ trong túi, con sẽ không thể bị ăn thịt đâu, dù con có cảm giác hơi giống

Đứa con tử đạo của mẹ.

IV

AUDRIE BRENDON GỬI MẸ

Trên boong tàu, nửa chặng đường qua Eo biển,

Ngày 6 tháng Bảy. Ban đêm

Mẹ yêu dấu: Bản chất rồng của hắn hoàn toàn không bộc lộ ra ở bên ngoài.

Con đã mong đợi được gặp một sinh vật mang vẻ hung ác gần như trên các huy hiệu – chồm lên, không thèm đếm xỉa, sắc đỏ. Những gì con thực sự gặp phải – nhưng con sợ rằng đó không phải là cách bắt đầu đúng đắn. Xin hãy coi như con chưa bắt đầu đi. Con sẽ quay lại thời điểm Ellaline và người giám hộ của cô ấy (là con) khởi hành rời trường cùng nhau trên một chiếc xe ngựa kín đáo và vô cùng oi bức cùng với những chiếc rương của cô ấy.

Cô ấy cứ bứt rứt và cáu kỉnh vì phấn khích, làm thần kinh con căng như dây đàn đến mức con cảm thấy vô cùng nhẹ nhõm khi đã tiễn cô ấy lên chuyến tàu đi St. Cloud. Ngay tại thời điểm này, con lại phát hiện ra một sự đứt quãng khác trong câu chuyện của mình, được tạo ra bởi một cuộc phiêu lưu ngớ ngẩn, chẳng có gì thú vị.

Con đã vẫy tay lần thứ hai mươi lăm với Ellaline, đáp lại ngần ấy lần vẫy tay từ cô ấy. Khi cuối cùng cô ấy rụt đầu vào trong, lúc đoàn tàu rít còi lăn bánh, con vội vã quay người lại kẻo cô ấy lại thò đầu ra lần nữa, và va phải một người đàn ông, hoặc kẻ sẽ là một người đàn ông trong vài năm nữa nếu hắn sống sót. Con liền nói, “Pardon, monsieur,” nghiêm túc hệt như thể đó đã là một người đàn ông thực sự, và hắn đáp bằng thứ tiếng Pháp được sản xuất tại Anh rằng đó hoàn toàn là lỗi của hắn. Hắn còn quá trẻ, và trông hoàn toàn là người Anh, đến mức con đã nở một nụ cười hiền hậu như mẹ hiền, và thì thầm, “Không có chi đâu,” khi bước qua, ngây thơ nghĩ rằng sẽ vĩnh viễn bước ra khỏi cuộc đời hắn ngay lúc đó. Nhưng mẹ yêu ơi, gã nhóc ngớ ngẩn ấy đã không nhận ra nụ cười đó mang ý nghĩa của một người mẹ. Có lẽ hắn chưa từng có mẹ. Con đảm bảo là con hầu như chẳng để ý đến hắn như một cá nhân độc lập, ngoại trừ việc cái tôi tiềm thức của con tự động ghi chép mà không cần sự cho phép từ tổng hành dinh. Con lờ mờ nhận thức được rằng sinh vật vừa va phải con trông khá ưa nhìn, dẫu đầu đày, tàn nhang, mắt xanh nhạt, tóc hớt cao, và sở hữu cái bóng của một sự kiện sắp diễn ra dưới hình hài (con không thể gọi là gì hơn thế) của một bộ ria mép. Con cũng có ấn tượng về một chiếc mũ Panama, được nhấc lên để chào kính con, một bộ đồ flannel xám, kiểu cổ áo mới nhất (mẹ biết đấy, “Sissy Williams bảo ‘cảm giác năm nay là chuộng loại cổ thấp!’”) và đôi bốt màu mù tạt. Tất cả những thứ đó nghe có vẻ gớm ghiếc, con biết, thế nhưng thực tế lại không phải vậy. Thoạt nhìn thì nó khá thu hút, nhưng sự thu hút ấy bỗng tan biến trong chớp mắt khi hắn hiểu lầm bản chất nụ cười của con.

Mẹ sẽ không thể tin rằng một khuôn mặt Anh quốc sạch sẽ, dễ thương lại có thể thay đổi theo chiều hướng tồi tệ đi nhiều đến thế chỉ trong khoảng một phần tám giây! Nó không thể kéo dài lâu hơn, bằng không con đã chẳng nhìn thấy, bởi vì chuyện đó xảy ra giữa lúc con đang cười và lúc con đang bước đi. Nhưng con thực sự đã thấy. Một thứ ánh lên khó chịu trong đôi mắt, ngay lập tức khiến chúng trông đầy vẻ – ý thức về giới tính, đó là cách duy nhất con có thể diễn tả. Và thay vì là những viên bi xanh vô hại, ngây thơ, chúng bỗng chốc biến đổi thành thứ ánh nhìn sắc lẹm, trắng nhợt pha xám mà người Naples vẫn hay “làm dấu sừng” để xua đuổi.

Chà, tất cả những chuyện đó chẳng có gì đáng để làm ầm lên cả, bởi vì ngay cả

con

cũng biết rằng những gã thanh niên lầm đường lạc lối đến từ Surbiton hay Pawtucket, vốn hoàn toàn vô hại ở quê nhà, lại cứ nghĩ rằng chúng có nghĩa vụ phải tỏ ra là những tay chơi sành điệu mỗi khi chạy sang Paris, bằng không chúng sẽ chẳng nhận lại được giá trị tương xứng với số tiền đã bỏ ra. Nếu không vì những chuyện xảy ra sau đó, con đã chẳng lãng phí giấy mực cho một tên nhóc ranh ngớ ngẩn. Thế nên, con sẽ chỉ kể cho mẹ nghe những gì đã xảy ra để xem mẹ nghĩ con có lỗi hay không, hoặc liệu có khả năng xảy ra rắc rối gì không nhé.

Trước sự thay đổi đó, cái nhìn của con trượt khỏi gương mặt tự đắc ấy, hệt như giọt mưa trượt khỏi lưng một con vịt đặc biệt trơn trượt. Lẽ ra hắn phải nhận ra rồi chứ, nếu chưa nhận ra trước đó, rằng con coi hắn chẳng khác nào một thứ Đồ Vật, nhưng con có thể mường tượng ra cảnh hắn tự nhủ: “Đây là Paris, và mình đã tốn năm bảng cho một vé khứ hồi. Phải có cái gì đó để kể lại với đám bạn chứ. Một đứa con gái ra ngoài một mình để làm gì cơ chứ?”

Hắn lẽo đẽo bám theo con và bảo con đã đánh rơi thứ gì đó. Quả thực là con có đánh rơi. Đó là một bông hồng. Con định từ chối nhận nó, với tất cả vẻ kiêu kỳ uy quyền của một chiếc chổi lông, thì bỗng nhiên con nhớ ra rằng đó chính là

thẻ căn cước

của con, có thể nói là thế. Con Rồng đã quy định điều đó trong lá thư cuối cùng gửi cho Madame de Maluet về việc đón Ellaline. Vì có thể sẽ gặp khó khăn trong việc nhận diện nếu cô ấy đến nhà ga cùng một người giám hộ xa lạ với ông ta hệt như cô ấy, thế nên ông ta đề nghị mỗi người sẽ gài một bông hồng đỏ lên ngực áo. Khi đó ông ta sẽ tìm kiếm hai quý cô với hai bông hồng.

Con không thể tự biến mình thành hai quý cô với hai bông hồng được, nhưng con bắt buộc phải là một quý cô với một bông hồng, bằng không con Rồng và con có thể lướt qua đời nhau, và hắn sẽ phi ra Versailles để xem quái quỷ gì đang xảy ra. Khi đó thì mọi chuyện sẽ vỡ lở to tát, với một sự báo thù khủng khiếp!

Mẹ thấy đấy, con buộc phải nói “Có” với bông hồng, bởi vì chẳng có thời gian để ghé qua tiệm hoa mua một cái nhãn đỏ khác trước khi đi đến ga Gare de Lyon. Con chìa tay ra kèm theo một lời “cảm ơn” nghe có vẻ như đang cần được tra dầu, nhưng như thể chợt nhớ ra điều gì, gã ngốc nghếch đó liền hỏi liệu hắn có thể giữ lại bông hồng cho riêng mình hay không. “Trông nó giống một bông hồng Anh,” hắn nói, kèm theo một ánh mắt chuyển sự khen ngợi đó sang con.

“Chắc chắn là không rồi – thưa ngài,” con đáp. “Tôi cần dùng nó cho chính mình.”

“Nếu chỉ vì thế, cô có thể để tôi tặng cô cả một bó để bù lại,” hắn nói.

Rồi con nói, “Cút đi,” nghe có vẻ không được thanh lịch cho lắm nhưng lại rất đúng trọng tâm. Và con sải bước dài tiến về phía có đậu xe taxi. Nhưng một gã đàn ông dù khá lùn thì chiều cao vẫn tương đương một cô gái cao, và sải bước của hắn cũng dài chẳng kém gì con.

“Này,” hắn nói, “cô không cần phải cáu kỉnh thế chứ. Có hại gì đâu, miễn là cả hai chúng ta đều là người Anh, và đây là Paris?”

“Tôi không phải người Anh,” con nhát giấu. “Nếu anh không cút đi, tôi sẽ gọi cảnh sát.”

“Trông cô sẽ thật ngớ ngẩn nếu làm thế đấy. Một cô gái cao lớn thế cơ mà,” hắn nói, cố tỏ ra hài hước. Và nghe cũng hài hước thật. Con đoán chắc mình hẳn đã vô cùng căng thẳng, sau tất cả những gì đã trải qua với Ellaline, đến mức con suýt thì khúc khích cười, nhưng rồi con kìm lại được. Ngược lại, con hiên ngang bước đi như một đám mây giông sắp sửa bùng nổ, và chứng minh nguồn gốc không phải người Anh của mình bằng cách nói chuyện với người tài xế taxi bằng thứ tiếng Pháp Paris con thừa hưởng từ mẹ. Con hy vọng gã nhóc đó không thể hiểu, nhưng hắn lại hiểu.

“Thưa tiểu thư, tôi cũng phải đi đến ga Gare de Lyon,” hắn lớn tiếng thông báo, “và đó sẽ là một hành động vô cùng thân thiện, đồng thời cho thấy cô tha thứ cho tôi, nếu cô để tôi chở cô đến đó bằng xe taxi-motor, cô sẽ thấy nó tuyệt hơn nhiều so với cái thùng rác Noah's ark cổ lỗ sĩ mà cô đang gọi kia.”

“Tôi không tha thứ cho anh đâu,” con nói khi bước lên cái gọi là thùng rác ark kia. “Lời bào chữa duy nhất của anh là anh vẫn chưa trưởng thành.”

Vém lại một câu châm chọc sắc bén cuối cùng ấy, con liền ra lệnh cho gã

cocher,

lúc này đang lén lút cười tủm tỉm, hãy lái đi nhanh nhất có thể.

Tất nhiên là gã nhóc đáng ghét đến từ Surbiton hay xó xỉnh nào đó chẳng có việc gì phải đến ga Gare de Lyon cả; nhưng rõ ràng hắn coi con là cơ hội cuối cùng để có một cuộc phiêu lưu trước khi trở về nguyên quán hoặc ao vịt của mình; thế nên, hiển nhiên là hắn đã bám theo bằng một chiếc xe taxi-motor, với cái sức mạnh ồn ào không rõ bao nhiêu mã lực phải kìm hãm lại ở mức chạy bước một. Con không ngoái lại nhìn, nhưng con cảm nhận được trong xương tủy mình – chính xác là mấy cái xương cười – rằng hắn đang bám theo. Và khi con đến ga Gare de Lyon thì hắn cũng có mặt ở đó.

Chuyến tàu con đến đón là một chuyến Đặc biệt P. and O., hay bất cứ thứ gì mẹ gọi nó, và nó vẫn chưa vào ga, thế là con phải chờ.

“Mèo có thể nhìn vua,” vị hiệp sĩ vui vẻ của con nói.

“Nhưng lũ đểu cáng thì không được phép,” con đáp. Có lẽ lẽ ra con nên duy trì một sự im lặng đầy phẩm giá, nhưng câu

mot

đó thật không thể cưỡng lại được.

“Cô

thật sự

quá đáng với một gã trai đấy,” hắn nói. “Tôi bảo cái này nhé. Tôi đã nghĩ rất nhiều về cô, tiểu thư ạ, và tôi tin là cô đang mưu tính trò mèo gì đó của riêng mình. Khi vắng bóng mèo thì lũ chuột tha hồ quậy phá. Cô đã rũ bỏ cô bạn của mình, và đang tự mình ra ngoài để phá phách một chuyến đấy chứ. Phải không?”

Ôi, có phải con đã vô cùng thèm thuồng được vả cho hắn lệch mỏ không cơ chứ! Nhưng lần này con đã giữ được phẩm giá và quay lưng về phía hắn. May mắn thay, đoàn tàu rít còi xình xịch trờ vào ga, và hắn ngừng quấy rầy con một cách trực diện, ít nhất là lúc đó; nhưng điều tồi tệ nhất vẫn còn ở phía sau.

Bây giờ con nghĩ mình đã đi đến phần câu chuyện mà con Rồng đáng lẽ phải xuất hiện.

Đột ngột, khi đoàn tàu dừng lại, cái sân ga của một nhà ga xe lửa ở Paris bỗng hóa thành một khung cảnh hoàn toàn đậm chất Anh. Một làn sóng từ Đại Anh quét qua nó, một ngọn sóng cao ngất nghèo mặc đồ vải tu-e, mang theo nào gậy đánh golf, túi đựng đồ và đủ mọi loại rác rưởi trôi nổi của người Anh. Tất cả hành khách mới vừa đặt chân lên bờ từ những vùng đất ngoại quốc xa xôi nhất, những bờ biển san hô, và những chốn thâm sơn cùng cốc đại loại thế, nhưng trông họ vẫn vô cùng kiên định, chiến thắng và mang đậm bản sắc Anh một cách không thể lay chuyển, từ mỗi người đàn ông, phụ nữ cho đến trẻ em (ngoại trừ một đám đông lèo tèo những người hầu da đen hoặc da nâu), hệt như thể họ vừa dạo bước từ bên kia Eo biển sang để tận hưởng thứ Bảy đến thứ Hai ở “Paris vui vẻ”. Người ta không thể không ngưỡng mộ cũng như kinh ngạc trước thứ bản chất Anh kiên định, dai dẳng đến mức ấy, phải không mẹ? Con tin rằng đó một phần chính là bí quyết thành công trong công cuộc thực dân hóa của Đại Anh. Người dân của họ hoàn toàn điềm tĩnh tin chắc vào sự ưu việt của mình so với tất cả các chủng tộc khác, để rồi cuối cùng các chủng tộc khác cũng tin theo điều đó, và bắt chước lối sống của họ thay vì chiến đấu để duy trì quyền lợi đối với lối sống của chính mình.

Cảm giác ấy ập đến với con khi con, một con ranh con mang hai dòng máu Pháp-Mỹ, đứng nép sang một bên để mặc ngọn sóng ấy tràn qua. Ai nấy trông đều quan trọng biết bao, và hoàn toàn mù tịt về sự tồn tại của người ngoại quốc – ngoại trừ mấy gã phu khuân vác, khiến con sợ rằng giọt nước nhỏ bé đặc biệt của con trong ngọn sóng ấy có thể sẽ trôi tuột đi trên đỉnh sóng mà chẳng mảy may nhận ra con hay bông hồng đỏ của con. Con cố gắng làm cho mình nhỏ lại, còn bông hồng thì to lên, hệt như thể nó ở tiền cảnh còn con ở hậu cảnh, nhưng dòng người cứ thế di chuyển và chẳng một ai có khả năng là con Rồng lại thèm liếc lấy con dù chỉ một cái.

Tuy nhiên, ở đoạn cuối đuôi đoàn người, con lướt thấy hai người đàn ông đang đi tới, theo sau là một bóng hình bằng đồng nhỏ nhắn mặc trang phục “bản địa” loại nào đó. Một trong hai người cao gầy, da rám nắng, tuổi chừng ba mươi lăm. Người kia – con đã cá cược với chính mình rằng đó chính là con Rồng của con. Nhưng việc đó giống như “đặt cược vào một chuyện chắc chắn”, vốn là một trong số ít những thứ vừa nhàm chán lại vừa gian lận cùng một lúc. Một số đàn ông sinh ra đã là rồng, trong khi những người khác chỉ đạt được danh hiệu rồng, hoặc bị tống cho cái danh hiệu đó bởi căn bệnh thống phong. Người này sinh ra đã là rồng, và chính xác là những gì con đã tưởng tượng, thậm chí còn tệ hơn thế, và con cảm thấy mừng vì mình có thể một cách lương thiện căm ghét hắn trong yên bình.

Gã đàn ông kia sở hữu dáng đi mà rất nhiều người đàn ông Anh có được, hệt như thể hắn đang lần theo dấu vết sư tử băng qua sa mạc. Con khá ngưỡng mộ dáng đi đó, bởi vì trông nó dũng cảm và không hề tự ý thức; nhưng lão già mang nhãn “Rồng” thì sải bước hệt như đang giẫm đạp lên những người dân Bengal ngã rạp dưới chân. Dĩ nhiên là một kẻ bảo thủ cuồng tín – điều đó là hiển nhiên – thuộc tuýp người cho rằng những kẻ Cấp tiến đáng bị treo cổ. Trong đôi mắt hắn là cái nhìn trừng trừng lạnh giá mà người Anh vẫn thường có khi họ sợ ai đó muốn làm quen với mình; những cái nanh gà dưới cằm, hệt như thứ ta thấy ở cổ những con chó sug-en già; một cái mũi hếch kênh kiệu; một cái miệng cau có; tuổi tác thì bất cứ khoảng nào từ sáu mươi đến một trăm. Nói chung là một trong số những kẻ bắt buộc phải viết thư cho tờ

Times

hoặc là phát điên. Mẹ có thích bức chân dung này không?

Cả hai người đàn ông này, đi cùng nhau, đều nhìn con khá chằm chằm; và con quy sự thất bại của con Rồng trong việc dừng lại ở Dấu Hiệu Bông Hồng cho cái sự vanity ngớ ngẩn cấm hắn không được đeo “kính” như một ông cụ khôn ngoan. Theo đó, với sự có mặt của tâm trí đáng khen ngợi, con đã làm điều duy nhất có vẻ phải làm.

Con bước lên trước, và cất lời với sự cứng rắn khiêm nhường mà các học sinh của trường Madame de Maluet được dạy trong “các bài học cử chỉ”. “Xin lỗi ngài, nhưng có phải ngài là Sir Lionel Pendragon không ạ?”

“Ta là Lionel Pendragon,” người đàn ông kia nói – gã đàn ông còn khá trẻ.

Mẹ ơi, mẹ có thể đánh gục con bằng cái bóng của một chiếc lông vũ bị sâu mọt đục khoét!

Cả hai đều cất mũ đi đường. Chiếc của con Rồng Thật trông có vẻ có gu thẩm mỹ đoàng hoàng. Chiếc của con Rồng Giả thì phô bày một họa tiết bàn cờ đầy phản cảm.

“Cô đến để nói rằng – tiểu thư Lethbridge đã bị ngăn cản không đến đón tôi được sao?” người đàn ông thật – R.T., con sẽ gọi hắn như thế tạm thời – hỏi.

“Tôi là ——” Nó nghẹn lại trong cổ họng con và không chịu trôi lên hay trôi xuống, thế là con đành thỏa hiệp – một hành động yếu đuối của con, vì con vẫn luôn nghĩ theo nguyên tắc rằng tốt hơn hết là nên nói dối tất cả hoặc không nói gì cả. “Chắc ngài không nhận ra tôi chứ?” con lẩm bẩm một cách bối rối.

“Cái gì – không lẽ cô là Ellaline Lethbridge thật sao!” R.T. thốt lên đầy kinh ngạc, sự ngạc nhiên có thể mang ý nghĩa kinh hoàng trước ngoại hình của con hoặc một lời khen ngợi.

Con há hốc miệng như con cá mắc cạn, và vặn vẹo cái cổ theo một điệu bộ ngớ ngẩn mà một người đàn ông rộng lượng, chưa quen với phụ nữ, có thể coi là vẻ ngơ ngác của nữ sinh trong một cơn co giật đồng tình.

Lập tức hắn đưa tay ra và siết chặt tay con cực kỳ mạnh. Nó hẳn đã nghiền nát những chiếc nhẫn của Ellaline thật lún vào những ngón tay tội nghiệp của cô ấy mất.

“Cô phải thứ lỗi cho tôi,” hắn nói. “Tôi đã nhìn thấy bông hồng” – và hắn mỉm cười một nụ cười dễ chịu đến kỳ lạ, không hề mang nét mặt của rồng, khiến hắn trẻ lại như tuổi ba mươi hai – “nhưng tôi lại trông đợi một... ơ... tiểu thư hoàn toàn khác cơ.”

“Tại sao?” con hỏi, đánh rơi mất sự bình tĩnh.

“Tôi – chà, thực tình tôi không biết tại sao,” hắn đáp.

“Và tôi thì mong chờ một gã đàn ông hoàn toàn khác,” con đáp trả, cảm thấy mình ngớ ngẩn hệt như nữ sinh và ngày càng ngốc nghếch hơn qua từng phút.

Hắn lại mỉm cười lần nữa, thậm chí còn đẹp hơn lúc trước, và làm theo tấm gương mà con vừa thiết lập. “Tại sao?” hắn hỏi.

Khác với hắn, con biết rõ lý do tại sao quá đi chứ. Nhưng rất khó để giải thích. Dù sao đi nữa, con buộc phải nói điều gì đó bằng không mọi chuyện sẽ càng tồi tệ hơn. “Khi nghi ngờ hãy ra bài chủ, hoặc nói sự thật,” con tự nhủ như một quy tắc; và cất tiếng nói to rằng, chẳng hiểu vì lý do gì mà con cứ nghĩ ông ta phải già cơ.

“Thì ta già thật mà,” hắn nói, “già đủ để làm bố cô rồi.” Khi hắn bổ sung thêm thông tin đó, trông hắn cứ như thể rất muốn rút lại câu nói ấy, và khuôn mặt hắn đỏ bừng lên một màu đỏ đục ngầu, đau đớn, hệt như thể hắn vừa thốt ra điều gì gắn liền với một ký ức khó chịu. Đó là những gì biểu cảm của hắn gợi lên cho con; nhưng vì con biết rõ một thực tế rằng hắn hoàn toàn không sở hữu một tính cách tốt đẹp, tử tế gì cho cam, con cho rằng thực tế những gì hắn cảm thấy chỉ là một sự nhức nhối ngu ngốc của sự kiêu ngạo vì đã vô tình để lộ tuổi tác của mình. Con suýt thì buột miệng nói ra sự thật về tuổi của mình, điều đó hẳn sẽ đẩy con vào nước sôi lửa bỏng ngay lập tức, vì Ellaline mới chỉ mười chín tuổi trong khi con thực tế đã bước sang tuổi hai mươi mốt – xui xẻo cho mẹ quá.

Đến lúc này, con Rồng Giả đã chậm rãi bước đi, nhưng cái bóng da ngả nâu trong trang phục “bản địa” vẫn dán chặt lấy sân ga ở gần đó, quá tôn trọng để nhận thức được sự tồn tại của con. Trong lúc con đang đắn đo không biết phát ngôn cuối cùng có cần câu trả lời hay không, R.T. bỗng lóe lên một suy nghĩ mang đến cho hắn cái cớ để chuyển chủ đề.

“Châu hộ của cô đâu?” hắn cúp mắt hỏi gắt gỏng, tia chớp phản bội đầu tiên của con quỷ ẩn giấu bên trong hắn.

“Cô ấy bị gọi đi thăm họ hàng rồi ạ,” con nhanh chóng đáp; bởi vì Ellaline và con đã thống nhất con sẽ nói thế; và xét theo một cách nào đó thì điều đó là sự thật.

“Cô không đến đây một mình đấy chứ?” hắn nói.

“Con buộc phải thế,” con đáp.

“Thế thì thật là một điều quái gở khi Madame de Maluet lại để cho cô làm thế,” hắn càu nhàu. “Ta sẽ viết thư và nói cho bà ta biết điều đó.”

“Ồ, xin đừng, xin ngài đừng làm thế,” con nài nỉ, mẹ có thể đoán được với vẻ lo lắng thế nào đấy. “Bà ấy thực sự

không thể làm khác được,

và con sẽ rất lấy làm tiếc nếu phải làm phiền lòng bà ấy.” Hắn vẫn đang lườm nguượi, và sự đường cùng đã khiến con trở nên ranh mãnh. “Ngài sẽ không từ chối điều đầu tiên con xin ngài chứ?” con cố nịnh nọt hắn.

Con hy vọng – tất nhiên là vì Ellaline – rằng mình sẽ nhận được một nụ cười khác; nhưng thay vào đó, con nhận được một cái cau mày.

“Giờ thì ta bắt đầu nhận ra cô chính là – con gái của mẹ cô rồi đấy,” hắn nói bằng một giọng kỳ lạ, lạnh lùng. “Không, ta sẽ không từ chối điều đầu tiên cô xin. Nhưng có lẽ cô tốt hơn hết là đừng coi đó là tiền lệ nhé.”

“Con sẽ không đâu ạ,” con đáp. Hắn vừa mới tỏ ra vô cùng hài lòng với con trước đó, hệt như thể hắn vừa vớ được con trong một gói quà trúng thưởng, hay trúng xổ số khi hắn cứ nghĩ sẽ bốc phải vé trống; thế nhưng dù hắn đã nhượng bộ yêu cầu nịnh nọt của con không chút đấu tranh, giờ đây trông hắn lại như thể vừa phát hiện ra con được nhồi bằng mùn cưa vậy. Câu “Con sẽ không đâu ạ” nhanh nhẩu của con có vẻ chẳng khích lệ nổi hắn chút nào.

“Chà,” hắn nói bằng một giọng đều đều hơn, “chúng ta đi khỏi đây thôi. Thật rất tử tế khi cô cất công đến đón tôi. Giờ thì tôi thấy mình không nên đòi hỏi điều đó; nhưng thú thật, ý nghĩ phải đến một trường nữ sinh và nhận diện cô ——”

“Con hoàn toàn hiểu mà,” con chen ngang. “Cách này tốt hơn nhiều. Hành lý của con ở đây hết rồi,” con bổ sung thêm. “Con không biết nên gửi đi đâu khác vì không rõ kế hoạch của ngài thế nào.”

Nghe vậy hắn lại tỏ vẻ bực bội lần nữa, nhưng may thay, lần này chỉ là bực chính mình. “Tôi sợ mình đúng là một tên ngốc khi dính đến chuyện phụ nữ,” hắn nói. “Tất nhiên tôi đáng lẽ phải nghĩ đến hành lý của cô, và sắp xếp mọi chi tiết cho cô với Madame de Maluet thay vì cả tin vào sự khôn khéo của bà ta. Dù vậy, có vẻ như bà ấy ——”

Con không đời nào để hắn trách cứ Madame; nhưng con không thể bênh vực bà ấy mà không liều lĩnh đặt Ellaline và bản thân vào thế nguy hiểm, bởi vì mọi sắp xếp của Madame đều hoàn hảo nếu chúng không lén lút đảo lộn chúng. “Con có

rất ít

hành lý,” con chen ngang, cố gắng bù đắp sự lạc đề bằng sự nhấn mạnh. “Và Madame coi con hoàn toàn là một người trưởng thành rồi, con đảm bảo đấy.”

“Ta đoán là cô thế thật,” hắn thừa nhận, quan sát chiều cao của con với vẻ lo lắng. “Lẽ ra ta phải nhận ra; nhưng chẳng hiểu sao ta cứ nghĩ sẽ tìm thấy một đứa trẻ cơ.”

“Con sẽ đỡ phiền toái cho ngài hơn là một đứa trẻ,” con an ủi hắn.

Câu này quả nhiên khiến hắn mỉm cười lần nữa, vì lý do gì đó, khi hắn đáp lại rằng hắn không chắc chắn lắm về điều đó. Và chúng ta bắt đầu bước đi để bắt kịp phần đuôi của dòng người đang thưa dần, trong mối quan hệ khá thân thiện, thì trước sự kinh hoàng của con, gã ranh con người Anh ấy – hay tên tiểu nhân khốn kiếp, tùy mẹ gọi – điềm tĩnh bước ra ngay trước mặt chúng ta, và nói, “Dạo này thế nào rồi, Sir Lionel Pendragon? Tôi e ngài không nhớ tôi rồi. Dick Burden. Dù sao thì ngài cũng sẽ nhớ mẹ và dì tôi chứ.”

Con đã quên sạch sành sanh về sinh vật đó rồi, mẹ yêu ạ; thế mà hắn lại mai phục sẵn ở đó để chớp thời cơ. Và thật xui xẻo làm sao khi hắn lại quen biết người giám hộ của Ellaline, phải không mẹ?

Thoạt đầu con nghĩ có lẽ hắn thực sự có việc bận ở ga Gare de Lyon, và con đã đánh giá thấp hắn một phần. Rồi ý nghĩ đó lóe lên trong đầu con rằng, trái lại, hắn thực sự không quen biết Sir Lionel, mà chỉ vô tình nghe được cái tên và đang làm trò “bluff” để được giới thiệu với con. Đó chẳng phải là một ý nghĩ tự đắc sao? Nhưng cả hai điều đó đều không đúng. Ít nhất thì điều sau không đúng, con biết chắc, và con khá chắc điều đầu tiên cũng vậy. Những gì con nghĩ là thế này: hắn đơn giản chỉ bám theo con đến ga Gare de Lyon vì “tính ngổ ngáo” của sự việc và vì hắn chẳng có việc gì hay ho hơn để làm. Rằng hắn cứ lảng vảng hoàn toàn vì sự tò mò thuần túy, để xem con đang đi đón ai; và rằng hắn đã nhận ra con Rồng là một người quen cũ. Tựa hồ như con từng ngây thơ cho rằng sự trùng hợp là những sự kiện kỳ lạ và hiếm có, nhưng con đã biết ngay từ khi nếm trải những nỗi phiền muộn của đời người rằng chỉ có những sự trùng hợp dễ chịu mới hiếm hoi mà thôi, chẳng hạn như việc tình cờ gặp lại người chú triệu phú thất lạc lâu năm quyết định để lại cho con toàn bộ gia tài đúng lúc con đã hạ quyết tâm tự tử hoặc lấy một tay buôn kim cương người Do Thái. Những sự trùng hợp khó chịu thì cứ lảng vảng trên những đám mây ẩm ướt sẵn sàng giáng xuống đầu con ngay khoảnh khắc chúng nghĩ rằng con không ngờ tới, và chúng có khả năng xảy ra cao hơn là không. Đó là kinh nghiệm của con. Rõ ràng con Rồng có nhớ mẹ và dì của Dick, bởi vì vẻ mặt ngẩn ngơ ban đầu của hắn đã bừng sáng thành sự hiểu biết khi nhắc đến những người phụ nữ thân thích của gã thanh niên. Hắn chìa tay ra một cách niềm nở, và nhận xét rằng tất nhiên hắn nhớ bà Burden và bà Senter. Còn về phần Dick, hắn đã lớn vượt ra ngoài mọi ký ức rồi.

“Đã khá nhiều năm trôi qua rồi,” gã Dick kia đáp lại, vội vã xua tan đi cái vẻ non choẹt của tuổi trẻ. “Đó là ngay trước khi tôi vào Sandhurst. Nhưng ngài thì chẳng thay đổi gì cả. Tôi nhận ra ngài ngay lập tức.”

“Đang nghỉ phép phải không?” Sir Lionel gợi ý.

“Không,” Dick nói, “tôi không trong quân đội. Trượt rồi. Sự thật là, tôi không muốn vào. Không hợp với tôi. Chỉ có một nghề nghiệp duy nhất mà tôi quan tâm thôi.”

“Nghề gì thế?” con Rồng đành phải hỏi vì phép lịch sự, dẫu con không nghĩ hắn quan tâm lắm.

“Thực ra thì,” gã Burden đáp (một cái tên vô cùng thích hợp theo quan điểm của con), “đó là một nghề khá kỳ cục, hoặc có vẻ thế đối với ngài, và tôi đã hứa với má tôi là sẽ không bàn về nó trừ khi tôi thực sự theo đuổi nó. Và tôi đang ở đây để lấy chứng chỉ đấy.”

Thật dễ dàng nhận thấy rằng hắn hy vọng mình đã khơi gợi được sự tò mò của chúng ta; và hắn hẳn đã phải thất vọng trước câu nói nửa vời “Thế à?” của Sir Lionel. Còn về phần con, con cố gắng làm cho đôi mắt mình trông giống như quả lý gai luộc chín, một thứ quả nhạt nhẽo, đặc biệt là khi nấu chín. Dù vậy, con vô cùng thích thú với con Rồng vì đã không giới thiệu hắn.

Sau khi thốt lên từ “thế à”, Sir Lionel nói thêm rằng chúng ta phải đi thôi – còn hành lý phải lo; gã hầu phòng là người ngoại quốc và gây phiền phức hơn là giúp ích. Con liền bắt nhịp, và lóc cóc bước đi bên cạnh người giám hộ của mình, vóc dáng cao gầy của ông ta tạo thành một bức tường thành hẹp nhưng không thể vượt qua giữa con và gã Dick Burden. Nhưng gã D. B. cũng lóc cóc theo, nhất quyết không chịu bỏ cuộc.

Hắn hỏi Sir Lionel có ở lại Paris lâu không; và trong đoạn hội thoại ngắn ngủi theo sau đó, con đã lượm lặt được những mẩu tin tức chưa từng được cho biết trước đó. Hóa ra là chị gái của con Rồng (ai mà nghi ngờ một con rồng lại có chị em gái cơ chứ?) đã đánh điện tới Marseille rằng bà ấy sẽ gặp hắn ở Paris, và hắn “hy vọng sẽ tìm thấy bà ấy ở một khách sạn nào đó”. Hắn không nói khách sạn nào, thế nên hiển nhiên gã Dick Burden đừng có hy vọng nhận được lời mời ghé thăm. Rõ ràng kế hoạch của chúng ta phụ thuộc phần lớn vào bà ấy, nhưng Sir Lionel “nghĩ rằng chúng ta sẽ rời đi muộn nhất là vào ngày mai”. Chẳng có lý do gì giữ hắn lại Paris cả, và hắn đang vội trở về Anh. Con mừng khấp khởi khi nghe thấy điều đó, vì sợ rằng sẽ có thêm những sự trùng hợp khác xảy ra, chẳng hạn như việc chạm mặt Madame de Maluet hay một trong số các giáo viên đang đi nghỉ mát. Lương tâm khiến người ta trở thành kẻ hèn nhát! Trước đây con chưa bao giờ để tâm lắm đến lương tâm của mình. Ước gì người ta có thể uống thuốc chống lương tâm hệt như cách uống thuốc trị đau dây thần kinh vậy. Chẳng phải chúng sẽ bán chạy như tôm tươi sao?

Cuối cùng thì gã Dick Burden đành phải cuốn gói ra đi mà không có được màn giới thiệu hắn hằng ao ước, và Sir Lionel hoặc là vô cùng đãng trí hoặc là cực kỳ cố chấp không thèm giới thiệu, con không chắc lắm; nhưng nếu con là một kẻ thích cá cược, con sẽ cược cho vế sau. Con bắt đầu nhận ra rằng bản chất rồng của hắn có thể bị lộ ra trong thái độ đối với Phụ nữ như một Giới tính. Ngay từ bây giờ con đã phát hiện ra những tư tưởng nguyên thủy nhất, suýt chút nữa là nguyên thủy thời hồng hoang ở bên trong hắn, có lẽ hắn đã nhiễm phải chúng ở Bengal. Mẹ có tin nổi không, hắn khăng khăng bắt con phải đội mạng che mặt để đi du lịch đấy – nhưng con chưa đi đến phần đó đâu.

Còn về phần gã Burden, như con đã nói, hắn biến mất khỏi tầm mắt của chúng ta; nhưng con nghi ngờ liệu chúng ta có biến mất khỏi tầm mắt của hắn không. Mẹ có thể nghĩ rằng con đang tự mãn, nhưng khi hắn cất chiếc mũ Panama để chào tạm biệt, hắn đã cố gắng liếc nhìn con qua một góc không được phòng thủ của con Rồng, và ánh mắt hắn ném về phía con nói lên rõ hơn cả lời nói: “Thế này thì được đấy, nhưng tao thề là tao sẽ theo dõi cho đến cùng,” hoặc một câu nói còn dứt khoát hơn thế nhiều.

Sir Lionel tỏ ra ngạc nhiên khi nhìn thấy hành lý của con, thứ mà chúng ta nhặt được sau khi hắn đã lấy hành lý của chính mình.

“Ta cứ nghĩ các thiếu nữ chẳng bao giờ đi đâu mà thiếu một tá rương hòm cả,” hắn nói.

“Ồ, má và con đã đi du lịch khắp nửa châu Âu mà chỉ với một cái rương và hai chiếc túi xách giữa hai người thôi,” con buột miệng nói ra trước khi kịp suy nghĩ. Sau đó con chỉ ước gì sàn nhà nứt ra và nuốt chửng lấy mình.

Hắn thực sự nhìn chằm chằm! – và đôi mắt của hắn vô cùng sắc bén khi nhìn chằm chằm. Đó là một đôi mắt màu xám trông rất ưa nhìn; nhưng con có thể nói với mẹ rằng chúng cho cảm giác chẳng khác nào những chiếc ghim cài mũ.

“Ta cứ nghĩ hồi đó cháu còn quá nhỏ để biết gì về hành lý chứ,” hắn nói.

Điều đó cho con một chiếc cọng rơm để bấu víu. “Madame de Maluet đã kể cho con nghe rất nhiều điều.” (Bà ấy thực sự đã kể, về chuyện này chuyện nọ; chủ yếu là những lỗi lầm của con.)

“Ồ, ta hiểu rồi,” hắn nói. Chắc hẳn hắn thấy việc con nói câu đó về những chiếc rương là rất kỳ cục, vì mẹ của Ellaline đã qua đời khi E. mới lên bốn.

Hắn cũng chẳng mang nhiều hành lý; không gậy đánh golf, không rìu chiến, hay bất cứ thứ gì người ta dùng để chơi đùa ở Bengal khi không khủng bố người bản địa. Hắn tống gã đầy tớ da nâu lên một chiếc xe ngựa chở đồ của chúng ta, và nhét con lên một chiếc khác, chiếc xe mà hắn cũng leo lên sau đó. Quả thực có chút kỳ cục khi đi xe riêng với hắn, vì nghĩ lại thì, trước giờ con chưa từng ở một mình với người đàn ông nào cả; nhưng hắn còn tỏ ra lóng ngóng hơn cả con. Không hẳn là xấu hổ; con hầu như chẳng biết diễn tả thế nào, nhưng hắn không thể giấu nổi việc bản thân đang lạc lõng.

Ồ, con quên chưa kể với mẹ là hắn đã bắt tay với con Rồng Giả, và tống khứ gã ta đi một cách tàn nhẫn hệt như cách hắn làm với gã nhóc kia. “Hẹn gặp lại ở London, sớm hay muộn,” hắn nói. Cứ như thể có ai đó muốn gặp một lão già khó chịu như thế không bằng! Tuy nhiên, có lẽ nếu con biết rõ hơn, nhân vật của con Rồng Giả có lẽ còn cao thượng hơn trong hai người. Nếu con phải đánh giá qua vẻ bề ngoài, hẳn con đã thích vẻ ngoài của con Rồng Thật, và nghĩ ngay từ cái nhìn đầu tiên rằng hắn là một kẻ khá dũng cảm, tuyệt vời, có nguyên tắc cao đẹp, thậm chí không ích kỷ. Trong khi con biết rõ qua tất cả những gì Ellaline kể rằng phẩm chất của hắn hoàn toàn ngược lại với những điều đó.

Chúng ta đang đi đến Khách sạn Grand, và trên đường lái xe đến đó hắn đã moi ra vài câu hỏi kiểu qua quýt về trường học, cách mà những người lớn không hiểu trẻ con hay nói chuyện với các bé gái. Mẹ biết đấy: “Cháu có thích các bài học không? Cháu làm gì vào những ngày nghỉ lễ? Tên lót của cháu là gì?” kiểu như thế. Con sợ mình sẽ phì cười nên đành đặt ngược lại câu hỏi cho hắn; và suốt thời gian đó hắn có vẻ đang nghiên cứu con với vẻ bối rối, ngạc nhiên, hệt như thể con là một con vịt vừa bước ra từ quả trứng gà, hay một yêu tinh trong một gia đình theo đạo ly khai. (Nếu hắn cứ tiếp tục thế này, con sẽ

bắt buộc

phải tìm xem ý hắn là gì, bằng không sẽ

nổ tung

mất thôi).

Con hỏi hắn về người chị gái, vì con nghĩ Bengal có thể là một chủ đề nhức nhối, và hắn có vẻ nghĩ rằng con đã biết trước đôi điều về bà ấy. Nếu Ellaline thực sự biết, cô ấy đã quên không kể cho con; và con hy vọng những chuyện tương tự thế sẽ không liên tục xuất hiện, bằng không thần kinh của con sẽ không chịu nổi mất.

Con

sẽ bắt đầu ném thìa và tách trà cho mà xem.

Hắn nhắc con nhớ tên bà ấy là bà Norton, và rằng bà ấy là một góa phụ. Hắn không ngờ bà ấy lại sang, hắn nói, và anh ấy rất ngạc nhiên khi nhận được điện tín của bà, nhưng không nghi ngờ gì nữa hắn sẽ tìm hiểu ra lý do chính đáng của bà. Và chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi bà ấy không đến đón hắn ở ga Gare de Lyon, vì bà ấy vẫn luôn bỏ lỡ mọi người mỗi khi ra nhà ga. Đó là một đặc điểm của bà ấy từ thời trẻ. Khi cả hai còn trẻ, họ thường ở Paris cùng nhau, vì họ có họ hàng người Pháp (những người bên họ mẹ của Ellaline, con đoán thế), và khi đó họ dừng chân ở Khách sạn Grand. Tuy nhiên, hắn bổ sung rằng hắn đã không ở đó gần hai mươi năm rồi; và đã rời khỏi nước Anh, không quay trở lại, suốt mười lăm năm. Điều đó khiến hắn có vẻ già nua khi nhắc đến những chuyện xảy ra từ hai mươi năm trước – gần như toàn bộ cuộc đời con. Thế mà trông hắn chẳng già hơn ba mươi lăm tuổi là cùng. Con tự hỏi liệu khí hậu Bengal có giữ cho người ta tươi trẻ như ruồi trong hổ phách không nhỉ? Có lẽ hắn thực sự sáu mươi tuổi và sở hữu vẻ ngoài trẻ trung trái tự nhiên này chăng?

“Bà Norton có biết về – con không ạ?” con hỏi.

“Sao cơ; tất nhiên là biết chứ,” hắn nói. “Tôi viết thư bảo bà ấy phải đến ở cùng tôi khi tôi phát hiện ra mình buộc phải có ——” Đến đó hắn ngậm miệng lại như hến, và trông vô cùng xấu hổ đến mức con phì cười.

“Xin ngài đừng bận tâm,” con nói. “Con biết con là một gánh nặng, nhưng con sẽ cố gắng gây phiền toái ít nhất có thể.”

“Cô

không phải

là gánh nặng,” hắn phủ nhận, gần như phẫn nộ. “Cô hoàn toàn khác với những gì tôi tưởng tượng về cô.”

“Ồ, thế ra ngài tưởng con

sẽ

là một gánh nặng ư?” Con không thể cưỡng lại sự cám dỗ muốn đáp trả. Có lẽ điều đó thật tàn nhẫn, nhưng chẳng có hiệp hội nào bảo vệ chống lại sự tàn nhẫn đối với loài rồng cả, thế nên nó không thể bị coi là sai trái trong các vòng tròn nhân đạo.

“Hoàn toàn không. Nhưng tôi – tôi không biết nhiều về phụ nữ, đặc biệt là các cô gái,” hắn nói. “Và tôi đã bảo với cô là tôi nghĩ về cô như một đứa trẻ.”

“Con hy vọng ngài không tốn công đi thuê y tá cho con chứ ạ?” con gợi ý. Và nếu hắn có cáu vì bị trêu chọc thì hắn cũng chẳng thèm giấu giếm. Hắn nói hắn đã tin tưởng giao phó mọi sự sắp xếp đó cho chị gái mình. Hắn đã không gặp bà ấy nhiều năm rồi, nhưng bà ấy là người tốt tính, và hắn hy vọng chúng ta sẽ hòa hợp với nhau. Điều mà con chủ yếu hy vọng là bà ấy sẽ không tỏ ra là một kẻ có bản tính

đa nghi;

bởi vì một thám tử ẩn giấu trong nhà sẽ rất bất tiện, và phụ nữ thì có thể vô cùng tinh quái khi đánh giá lẫn nhau! Con đã phát hiện ra điều đó ở trường của Madame de Maluet; con sẽ chẳng bao giờ học được điều đó từ mẹ đâu, cưng ạ. Mẹ chưa từng là một con mèo trong bất kỳ tiền kiếp nào của mẹ cả. Con nghĩ chắc mẹ đã “tiến hóa” từ sự pha trộn gọn gàng giữa loài rắn và con bồ câu, thứ cuối cùng tạo nên một người phụ nữ Paris hoàn hảo.

Chúng ta bước vào sảnh lớn của Khách sạn Grand, nơi Sir Lionel kể rằng “vào thời của ông ấy” xe ngựa từng có thể lái thẳng vào trong; và bất ngờ, trước sự ngạc nhiên của chính mình, con cảm thấy vui vẻ và phấn khích, hệt như đây mới là cuộc sống, và con đã bắt đầu thực sự sống. Con không hề hối hận vì phải đóng vai Ellaline dù chỉ một chút. Mọi thứ có vẻ vô cùng vui nhộn. Mẹ biết đấy, cưng ơi, con chẳng có mấy “cuộc đời”, ngoại trừ ở bên mẹ và những trang sách kể từ khi con lên mười sáu, và những đồng xu cùng những chuyến đi chơi của chúng ta chấm dứt cùng một lúc; dẫu con đã có rất nhiều trước đó – đủ mọi loại “mẫu thử”, cách này hay cách khác. Con đoán chắc hẳn chính cái vẻ ngoài rực rỡ, đậm chất thế gian của khách sạn đã mang lại cho con cảm giác râm ran đó, hệt như một chú chim hoang dã nhỏ bé vừa cất tiếng hót trong lồng ngực con.

Mặc dù hiện tại không phải mùa du lịch của người Paris, sảnh khách sạn vẫn đông nghẹt những người có vẻ ngoài thời trang, chủ yếu là người Mỹ và những người ngoại quốc khác. Khi chúng ta bước vào, một quý cô đứng dậy khỏi chiếc ghế gần cửa. Bà ấy nhỏ con, và là người kém thời trang hoặc kém ăn mặc nhất trong phòng, tuy nhiên lại mang phong thái của một kẻ mãn nguyện với chính mình về mặt đạo đức. Con nhận ra ngay bà thuộc tuýp người coi nhà thờ của mình là “ngôi nhà thứ hai”; trang trí nhà cửa cứ như thể nó là một con người, và bọc lót bản thân cứ như thể mình là một chiếc ghế sofa. Tất nhiên, con biết đó chính là bà Norton, và con

đã

thất vọng. Con thà là bà ấy sắc sảo có khi còn hơn.

Bà ấy và em trai đã không gặp nhau suốt mười mươi năm, thế nhưng họ gặp nhau bình thản hệt như thể họ vừa ăn trưa cùng nhau ngày hôm qua vậy. Tuy nhiên, con nghĩ đó là lỗi của bà ấy nhiều hơn là lỗi của hắn, bởi vì khi hắn chìa tay ra, bà ấy liền nhấc tay lên ngang tầm cằm để bắt; và hành động đó chắc chắn sẽ thổi bay mọi sự “sôi nổi” của một con châu chấu. Con đoán việc hôn nhau ở sảnh khách sạn có lẽ không phải phép “lịch sự chuẩn mực”, nhưng nếu

con

tìm lại được một người anh trai thất lạc lâu năm ở bất kỳ cái sảnh nào đi nữa, con tin là mình không thể kìm lòng nổi.

Mái tóc của bà ấy được chải ngược ra sau một cách rõ mồn một, trông hệt như một thứ ảnh hưởng đạo đức, và chiếc mũ to-que của bà thì dựng đứng trên đầu giống như một chiếc bánh mì tròn hay một chiếc gối cắm kim khơi đi đường. Chi tiết trang trí duy nhất trên chiếc váy của bà ấy là những chiếc cúc, nhưng đó là một đại gia đình cúc vô cùng đông đúc.

Sir Lionel giới thiệu chúng con với nhau, và bà ấy bảo bà rất vui được gặp con. Thêm nữa, rằng con hoàn toàn không giống bố mẹ gì sất. Rồi bà hỏi con đã bao giờ đến Anh chưa; nhưng may mắn là, trước khi con kịp tự chuốc lấy rắc rối bằng cách thưa rằng mình đã sống vài tháng ở London nhưng chưa đi đâu khác (đó là lúc tiền bạc của chúng ta bắt đầu cạn kiệt), em trai bà liền nhắc bà rằng con mới chỉ lên bốn khi rời nước Anh.

“Tất nhiên, tôi quên mất,” bà Norton nói. “Nhưng người ta không bao giờ đưa chúng sang thăm Bảo tàng Anh hay Phòng trưng bày Quốc gia sao? Tôi cứ nghĩ đó sẽ là một nền giáo dục – với vé khứ hồi giá rẻ.”

“Có lẽ các nữ tu sĩ người Pháp tin rằng học sinh của họ nhận được giá trị xứng đáng với đồng tiền bát gạo ngay trên đất Pháp bên này Eo biển,” Sir Lionel đáp lại.

“Ồ!” bà Norton thốt lên; và nhìn con hệt như để xem hệ thống đó đã phát huy tác dụng ra sao. Con chắc chắn bà ấy chấp thuận chiếc áo dạ xám và chiếc mũ thủy thủ hơn là chấp thuận cô gái mặc chúng. Mẹ thấy đấy, con không nghĩ bà ấy ủng hộ mái tóc không có màu nâu sẫm.

Chúng ta không ngồi xuống, mà đứng nói chuyện với nhau. Sir Lionel và chị gái thỉnh thoảng ném cho con vài từ vì phép lịch sự. Bà ấy sở hữu một giọng nói hay, dẫu lạnh lẽo như nước đá đã được lọc. Tên bà là Emily.

Đương nhiên là thế rồi!

Hắn bảo hắn vừa ngạc nhiên vừa vui mừng khi nhận được bức điện tín của bà lúc đặt chân đến Marseille, và thật tuyệt khi bà đã cất công đến Paris để đón hắn. Bà bảo không có chi, chẳng có phiền phức gì cả, mà là một niềm vui, hoặc đúng hơn là sẽ vui nếu không vì lý do buồn bã đã đưa bà đến đây.

“Sao cơ, có ai chết à?” Sir Lionel hỏi, với vẻ mặt hệt như đang lướt qua một danh sách trong đầu nhưng không thể gọi tên một nhân vật có liên quan cá nhân đến mình.

“Gần đây số lượng những người bạn cũ đã thưa thớt đi, tôi rất tiếc phải nói điều đó; tôi nghĩ mình đã kể với anh về hầu hết bọn họ trong các phần tái bút rồi,” bà Norton đáp. “Nhưng không phải sự ra đi của họ, tội nghiệp họ, đã đưa tôi đến đây. Mà là vụ cháy.”

“Vụ cháy nào?” em trai bà muốn biết.

“Chà,

vụ cháy nhà anh chứ sao.

Chắc chắn anh phải đọc được tin đó trên các tờ báo London hôm nay chứ?”

“Báo London hôm nay phải đến ngày mai mới tới Marseille, và tôi chưa ở đủ lâu ở Paris để đọc báo,” Sir Lionel giải thích. “Nhà tôi bị cháy lớn lắm à, và cái gì đã bị thiêu rụi?” Hắn nói tỉnh bơ hệt như đang hỏi về một miếng sườn cừu.

“Một phần ngôi nhà,” bà Norton đáp, thậm chí chẳng thèm tìm cách giảm nhẹ tin dữ.

“Hy vọng không phải phần cổ kính,” hắn nói.

“Không, là phần nhà phụ mới xây. Nhưng

điều đó

khiến tôi thấy thật tiếc nuối. Một phòng tắm đẹp tuyệt vời, có nước nóng nước lạnh, vòi sen đứng và vòi sen nằm, bị phá hủy hoàn toàn; và một phòng chứa khăn trải giường cao cấp, được sưởi ấm toàn bộ bằng hệ thống ống dẫn, dự trữ đầy ắp.”

“Phòng tắm có lẽ mang phong cách Pullman đời đầu, và phòng chứa khăn trải giường mang phong cách German Lloyd đời cuối, Emily thân mến của tôi ạ; nhưng phần còn lại của ngôi nhà mang kiến trúc thời Tudor, và không thể thay thế được,” Sir Lionel nói; và khi hắn nhìn xuống người chị gái, con chắc chắn về một điều mà con đã nghi ngờ từ trước: rằng hắn có khiếu hài hước. Đó là một sự cải tiến hiện đại mà mẹ sẽ không đời nào mong đợi tìm thấy ở một con rồng; nhưng con bắt đầu nhận ra rằng đây là một con Rồng phức tạp và được đầu tư kỹ lưỡng. Một số kẻ tự nhận là Biệt phái về khiếu hài hước của họ, cứ nhai đi nhai lại mãi cho đến khi mẹ ước gì đó là một sợi dây điện sống có thể phóng điện tiêu diệt bọn chúng cho rồi.

Con đoán hắn thà xấu hổ về khiếu hài hước của mình còn hơn, thế nhưng nó hẳn đã khiến hắn thấy buồn cười, và khiến hắn cảm thấy mình thật là một tay ăn ý với bản thân, ở tận đẩu tận đâu mãi tận Bengal.

Bà Norton nói rằng hãng Warings có những phòng ăn kiểu Tudor rất đẹp mắt trong một hoặc hai ngôi nhà mẫu của họ, thế nên thời nay chẳng có gì là không thể thay thế; nhưng bà ấy vẫn vui mừng, nếu hắn cũng thế, vì chỉ có phần nhà phụ hiện đại bị tổn hại. Vụ việc xảy ra vào sáng hôm qua, vừa hay muộn mất giờ lên báo, điều đó hẳn đã khiến các biên tập viên tức điên; và bà ấy cảm thấy tốt nhất là nên thực hiện chuyến đi tới Paris, bàn bạc về các kế hoạch, vì nó có thể tạo ra sự khác biệt (đến đây bà liếc nhìn con); nhưng bà ấy đã không nhắc đến vụ cháy khi đánh điện, bởi vì mọi chuyện trông có vẻ tồi tệ hơn qua những bức điện tín, và vả lại, đó sẽ là một khoản chi phí vô ích. Không nghi ngờ gì nữa, bà ấy đã tỏ ra ngớ ngẩn, nhưng bà ấy cứ tưởng tượng rằng hắn chắc chắn sẽ đọc được tin đó trên báo, kèm theo mọi chi tiết, và do đó sẽ đoán được lý do tại sao bà đến đón hắn.

“Chúng ta chẳng có chỗ nào để đưa tiểu thư Lethbridge về cả,” bà ấy nói, “vì Lâu đài Graylees sẽ bị chiếm đóng bởi thợ xây trong một thời gian tới. Tôi không biết liệu anh có cảm thấy tốt nhất là đưa con bé trở lại dưới sự quản lý của mụ giáo viên cũ trong vài tuần nữa không.”

Nếu tóc thực sự có thể dựng đứng lên, tóc con chắc chắn sẽ lập tức hất văng mọi chiếc kẹp tóc ra ngoài hệt như lũ quỷ sứ, và tua tủa xung quanh đầu con giống như nhân vật Strumpelpeter vậy. Thế nhưng con chẳng thể thốt lên lời nào cả. Dù con có thông thạo một tá ngôn ngữ đi nữa, con cũng sẽ buộc phải câm nín trong tất cả các ngôn ngữ ấy. Nhưng con thấy Sir Lionel đang nhìn mình, và con vội vàng ném cho hắn một cái nhìn câm lặng bằng đôi mắt của mình. Nó mang lại hiệu quả vô cùng mỹ mãn.

“Không, tôi không nghĩ chúng ta sẽ đưa con bé trở lại trường của Madame de Maluet đâu,” hắn nói. “Madame có thể đã có những kế hoạch khác cho kỳ nghỉ. Có lẽ bà ấy sẽ đi vắng.”

“Con chắc chắn là thế ạ,” con nói. “Bà ấy định đi thăm dì của chồng.”

Sir Lionel vẫn đang nhìn con, chìm đắm trong suy tư. (Con quên mất không hỏi xem hắn có đôi mắt đẹp không nhỉ? Con chẳng có thời gian để lật lại xem mình đã viết thế chưa nữa. Con đang viết nhanh nhất có thể. Chúng ta sẽ cập bến sớm thôi, và con muốn gửi bức thư này ở Dover, nếu kiếm được con tem Anh “từ” ai đó, như “Sissy” Williams – người hàng xóm Anh quốc duy nhất của chúng ta – hay nói.)

“Cô thấy thế nào về một chuyến đi chơi bằng ô tô?” Sir Lionel đột ngột hỏi.

Sự giải tỏa khỏi nỗi bất an lớn đến mức con suýt nhảy bổ vào họng hắn, thế nên rốt cuộc, nếu con Rồng có ăn thịt con thì đó cũng là lỗi của chính con mà thôi. “Con vô cùng

ngưỡng mộ

nó!” con nói.

“Em yêu!” bà Norton phàn nàn đầy khoan dung. “Người ta chỉ ngưỡng mộ Các Đấng Thiêng Liêng thôi.”

“Con không chắc một chiếc ô tô không phải là một đấng thiêng liêng đâu,” con nói, “dù có lẽ là không viết hoa.”

Con Rồng mỉm cười, nhưng bà ấy trông vô cùng sốc, và không nghi ngờ gì nữa, lại đổ lỗi cho Madame de Maluet.

“Tôi có hứa hẹn một chiếc Mercedes bốn mươi mã lực sẽ sẵn sàng khi tôi đến nơi,” Sir Lionel nói, vẫn đầy vẻ suy tư. “Em biết đấy, Emily, chiếc xe mười hai mã lực nhỏ bé mà anh gửi sang Đông Bengal chính là một chiếc Mercedes. Nếu tôi có thể lái nó, tôi có thể lái một chiếc xe lớn hơn. Ai cũng bảo nó dễ hơn thế. Và cu cậu Nick đã học được cách trở thành một thợ máy hạng nhất.”

Con đoán cu cậu Nick chắc là cái tên cưng mà con Rồng dùng để gọi bức tượng bằng đồng. Thật là vui nhộn khi hắn lại là một tay lái xe! Hãy tưởng tượng một bức tượng Thần Ấn Độ ngồi xổm trên ghế trước của một chiếc ô tô tối tân. Nhưng nghĩ kỹ lại thì, đã có những vị thần khác ngồi trên xe hơi rồi. Con chỉ cầu mong, nếu con ngồi đằng sau hắn, vị thần này sẽ không hành xử giống như xe Juggernaut. Hắn mặc quá nhiều quần áo, vì hắn thuộc tuýp người trông sẽ quá thừa thãi quần áo ngay cả khi đeo một chiếc vòng tay.

“Chúng ta có thể có một chuyến vi vu quanh nước Anh khoảng tám hoặc mười tuần,” con Rồng nói tiếp, “trong khi mọi việc đang được sửa sang lại ở Graylees. Sẽ thật tuyệt khi được ngắm nhìn hòn đảo già nua được ban phước ấy một lần nữa trước khi ổn định cuộc sống.”

“Người ta sẽ tưởng anh vô cùng vui mừng vì vụ cháy ấy đấy, Lionel,” chị gái hắn nhận xét, người rõ ràng tin rằng việc nhìn vào mặt tươi sáng của mọi thứ là sai trái, và việc dự đoán điều tồi tệ nhất mới là đúng – hệt như một kẻ lo mai táng đến tìm khách hàng trước khi người ta chết.

“Chuyện gì xảy ra thì đã xảy ra,” hắn đáp. “Chúng ta tốt nhất nên tận dụng nó cho tốt nhất. Em không phiền về một chuyến du lịch bằng ô tô chứ, Emily?”

“Em sẽ đi nếu đó là nghĩa vụ, và anh muốn thế,” bà ấy nói, trông cứ như thể nên được đưa lên kính màu, với một nửa vòng hào quang, “chỉ là em không còn đủ trẻ để coi việc đi ô tô là một niềm vui.”

“Giữa chúng ta chẳng có bao nhiêu năm cách biệt cả,” em trai bà đáp, quá lịch sự để nói xem mình đang ở phía trước hay phía sau, “nhưng anh thú nhận là anh coi đó là một niềm vui.”

“Đàn ông thì khác chứ,” bà ấy thừa nhận.

Ơn Chúa, họ khác thật!

Sau đó họ bàn luận nhiều hơn về vụ cháy, hóa ra nó xảy ra do một lỗi ở ống khói, trong một căn phòng nơi bà N. đã dặn một người hầu nhóm lò vì trời ẩm ướt. Đó hẳn phải là một nơi cổ kính tuyệt vời qua những gì cả hai để lộ ra. (Con đã kể trong một bức thư khác về việc Sir Lionel đã thừa kế nó như thế nào, cùng thời điểm với tước hiệu của hắn, hoặc muộn hơn một chút. Tuy nhiên, điền trang thì thuộc về phía bên mẹ, và người nhà bà đến từ Warwickshire.) Cách thức điềm tĩnh theo kiểu Anh của hắn khi nói và tiếp nhận mọi thứ có vẻ bám khá nhiều vào bề mặt, con nghĩ thế. Hắn sẽ ghét việc chúng ta tận mắt chứng kiến nó, nhưng con chắc chắn hắn đã tự đẩy mình lên đến đỉnh điểm của sự phấn khích vui sướng trước ý tưởng về chuyến du lịch ô tô, khi nó phát triển trong đầu hắn. Và nó thật tuyệt vời phải không cưng?

Mẹ biết mẹ đã tiếc nuối thế nào vì chúng ta đã không tiết kiệm hơn, và để tiền kéo dài đủ lâu để du lịch ở Anh, thay vì phải dừng lại cụt lủn sau một cú vẫy vùng ở London. Giờ thì con sắp được ngắm nghía những vùng đất dù thế nào đi nữa, cho đến khi con bị “gọi đi”, và con sẽ cố gắng hết sức qua những bức thư để làm cho mẹ thấy những gì con thấy. Ellaline sẽ chẳng thích thú gì một chuyến du lịch như thế, bởi vì cô ấy ghét vùng quê, hoặc bất kỳ nơi nào không thích hợp để mang giày cao gót và đội mũ rộng bằng vành. Nhưng con – ôi, con! Hai mươi con rồng ngồi trên cùng một chiếc ghế xe hơi với con cũng không thể ngăn cản con chìm đắm trong đó – dù nó có thể bị cắt ngắn đối với con bất cứ phút giây nào đi nữa. Còn về phần bà Norton——

Nhưng cô tiếp viên vừa báo chúng ta sẽ cập bến trong năm phút nữa. Con phải xuống khoang phụ nữ với bà N. Giờ thì con không còn thời gian để kể thêm cho mẹ nữa, ngoại trừ việc cả hai (Sir L. và chị gái hắn, ý con là) đều muốn đến Anh càng sớm càng tốt. Con biết

bà ấy

đã thất vọng vì không được tống khứ ward của em trai mình trở lại cho Madame de Maluet, và có lẽ đã không sang Paris nếu không hy vọng thực hiện được điều đó; nhưng bà ấy dễ dàng cam chịu mọi chuyện khi một người đàn ông bảo rằng đó là cách tốt nhất. Chính Sir Lionel là người muốn qua eo biển tối nay nhất, dù hắn không giục giã; nhưng bà ấy nói, “Được thôi, anh yêu. Em nghĩ anh đúng.”

Thế là chúng ta ở đây. Một chiếc chuông lớn đang đổ hồi, và trái tim con cũng vậy. Ý con là nó đang đập thình thịch. Tạm biệt mẹ yêu. Con sẽ viết thư tiếp vào ngày mai – hoặc đúng hơn là hôm nay, vì đây là một bình minh tuyệt đẹp, hệt như một điềm lành – khi chúng ta đã ổn định chỗ ở đâu đó. Con tin là chúng ta đang đến một khách sạn ở London. Vâng, cô tiếp viên. Ồ, lẽ ra con nên nói điều đó với cô ấy, thay vì viết nó ra cho mẹ. Cô ấy ngắt lời con rồi.

Yêu – yêu.

Con của mẹ,

Audrie,

Ellaline của họ.

V

AUDRIE BRENDON GỬI MẸ

Khách sạn Ritz, London,

Ngày 8 tháng Bảy

Thiên thần: Mong rằng đôi cánh của mẹ sẽ chẳng bao giờ rụng lông! Con hy vọng mẹ không nghĩ con hoang phí khi đánh điện vào ngày hôm qua thay vì viết thư. Con quá bận rộn nhồi cái khối bột men của những ấn tượng trong con để viết một bức thư đáng đọc; và khi người ta thực sự

chẳng có lấy một xu dính túi,

thì việc tiết kiệm có ích gì chứ? Mẹ biết điểm đồng cảm duy nhất con từng chạm đến với “Sissy” Williams chính là câu nói nổi tiếng của anh ta: “Nếu tôi không kiếm được năm trăm một năm, thì chẳng đáng để bận tâm kiếm bất cứ cái gì”; điều đó đã biện hộ cho việc anh ta an phận làm một “gã nhận kiều hối”, ở căn hộ tầng thượng, với giá bốn mươi franc một tháng.

Cưng ơi, con Rồng chưa hề gầm gừ dù chỉ một lần cho đến tận bây giờ! Và nhân tiện, cho đến khi hắn làm thế, con nghĩ con sẽ không gọi hắn là Rồng nữa. Điều đó khá là vô cớ, vì con đang ăn cơm của hắn – hay đúng hơn là những món

à la carte

hoàn hảo tuyệt mỹ của hắn, và đang thực sự đắm chìm trong sự xa hoa, từ lúc thức dậy cho đến khi đi ngủ, bằng tiền của hắn.

Con biết, và mẹ biết, bởi vì con đã lặp lại nó từng từ một, rằng Ellaline nói cô ấy nghĩ hắn hẳn đã được trả công hậu hĩnh khi nhận trách nhiệm “giám hộ” cô ấy, vì cái tuýp người lạnh lùng, ích kỷ như hắn chẳng bao giờ làm không công thứ gì; và cô ấy vẫn luôn tỏ ra vô cùng giàu có (hoàn toàn là

nữ thừa kế

của trường, được ghen tị vì những chiếc váy và đặc quyền) đến mức có thể có những sự cám dỗ đối với một kẻ vô lương tâm để hốt nhặt vài mẻ cá béo bở ở đây đó. Nhưng – chà, tất nhiên Ellaline phải biết rõ chứ, sau khi đã là ward của hắn kể từ năm bốn tuổi, và được nghe những câu chuyện từ nguồn tin cậy nhất về cách cư xử kinh khủng mà hắn đối xử với mẹ cô ấy, cũng như phải chịu đựng sự nhẫn tâm tàn nhẫn của hắn suốt bao nhiêu năm nay. Chưa từng có lấy một lá thư viết cho chính cô ấy; chưa từng có dù chỉ một món quà nhỏ nhất; chưa từng có mong muốn được nghe tin tức từ cô ấy, hay nhìn thấy bức ảnh của cô ấy; mọi công việc kinh doanh đều được tiến hành thông qua giữa chính hắn và Madame de Maluet, người quá kín đáo để gieo rắc thành kiến cho ward chống lại người giám hộ. Và con – con mới chỉ gặp hắn vào ngày mốt trước đây lần đầu tiên. Con

có thể biết gì

về hắn chứ? Con chẳng có kinh nghiệm gì trong việc đọc vị tính cách đàn ông. Vị Viện phụ đáng yêu và vài giáo viên trong trường là những người duy nhất con có mối quan hệ xã giao chào hỏi – ngoại trừ “Sissy” Williams, người không đáng được tính đến. Việc tin tưởng vào bản năng của mình là rất nguy hiểm, không còn nghi ngờ gì nữa, bởi vì thật khó để chắc chắn rằng một mong ước không đang ngụy trang dưới lớp bản năng, đánh má hồng và đội tóc giả vàng.

Nhưng rồi, lại có khuôn mặt nghiêng của gã đàn ông, mang kiểu dáng hiệp sĩ thời cổ đại, Thập tự quân, một chiếc móc chính hiệu để treo sự đáng kính lên đó, dẫu con sẽ làm điều bất công nếu để mẹ tưởng tượng rằng nó có

hình dáng

giống cái móc. Không đâu; nó khá đẹp; và người ta cứ thấy mình lén lút, nửa vô thức phác thảo nó trong không khí bằng ngón trỏ khi ngắm nhìn nó. Nó gợi lên dòng dõi quý tộc, và

noblesse oblige,

cùng một dòng dõi dài những tổ tiên là quân nhân, và kiểu đại loại thế, như mẹ vẫn thường bảo là vẫn tồn tại một cách rõ rệt giữa tầng lớp quý tộc Anh và nông dân Anh (không phải ở tầng lớp trung lưu pha tạp) nổi bật hơn bất kỳ nơi nào khác. Điều đó hẳn phải có nghĩa là có sự tương ứng trong tính cách phải không mẹ? Hay đó có thể là một chiếc mặt nạ, được truyền lại qua các dòng dõi quý tộc để che đậy những khiếm khuyết đạo đức của một hậu duệ thoái hóa?

Có phải con đang huyên thuyên những lời nhảm nhí của nữ sinh, hay con đang mò mẫm tìm ánh sáng? Mẹ biết con muốn nói gì mà, dẫu sao đi nữa. Ấn tượng mà Sir Lionel Pendragon để lại trong con sẽ khác đi nếu hắn không được miêu tả bởi Ellaline. Con hẳn đã cho rằng hắn khá dễ đọc vị, nếu hắn tình cờ xuất hiện trước con, không có người báo trước – như một con tàu lớn lướt qua một chiếc thuyền nhỏ giữa biển khơi. Con hẳn đã cho rằng hắn là một nhân vật khá đơn giản, thẳng thắn trong trường hợp đó. Con hẳn đã xếp hắn vào cùng nhóm với lâu đài Tudor của chính hắn – không phải con đã từng tận mắt thấy lâu đài Tudor nào rồi nhé, ngoại trừ trong ảnh hoặc trên bưu thiếp. Nhưng con hẳn đã tự nhủ: Nếu hắn sinh ra là một ngôi nhà thay vì một con người, hắn hẳn đã được xây dựng từ nhiều thế kỷ và nhiều thế kỷ trước, bởi những nam tước mạnh mẽ, những kẻ biết chính xác họ muốn gì và chộp lấy nó. Hắn hẳn sẽ là một lâu đài, một

lâu đài Tudor đời đầu,

có tường chắn mái và được bao quanh bởi một hào nước, được củng cố cố nhiên rồi, và bất khả xâm phạm trước kẻ thù, trừ khi chúng dùng mưu kế cho nổ tung hắn lên. Hắn hẳn sẽ có vài căn phòng bí mật, nhưng chúng sẽ chứa những chiếc rương khobáu chứ không phải những bộ xương gớm ghiếc.

Giờ thì mẹ đã hiểu chính xác những gì con đang nghĩ về kẻ bị cáo buộc là con Rồng, nếu không vì Ellaline. Nhưng ngặt nỗi là thế đấy, con chẳng biết nên nghĩ gì về hắn nữa. Đó là lý do tại sao con miêu tả hắn là phức tạp và rắc rối, bởi vì con đoán bên trong hắn hoàn toàn khác biệt so với những gì hiển hiện bên ngoài.

Dù sao đi nữa, con chẳng bận tâm – thật tuyệt khi được ở khách sạn Ritz. Và chúng ta xuất hiện trên báo sáng nay, Emily và con tỏa sáng dưới ánh sáng phản chiếu; ánh sáng phản chiếu kép của con, hệt như ánh sáng của trái đất chiếu lên mặt trăng, rồi từ đó được truyền qua một thứ khác – một mảnh thiên thạch sứt mẻ tội nghiệp đi lạc ra khỏi Ngân Hà.

Bính chính là người phát hiện ra bài báo viết về Sir Lionel – nửa cột – trên tờ

Morning Post

và bà ấy đã sai người đi mua rất nhiều tờ báo khác mà không nói gì với em trai mình, bởi vì – theo bà ấy – hắn “ghết thể loại đó”.

Con không có thời gian để kể với mẹ trong thư trước rằng bà ấy đã bị ốm khi vượt Eo biển (dù nó phẳng lặng hệt như thể vừa được là ủi, chỉ còn sót lại vài nếp nhăn), nhưng rõ ràng bà ấy coi việc một người phụ nữ bị ốm nhẹ nhàng theo kiểu tiểu thư trên tàu là một phép lịch sự chuẩn mực; thế nên, hiển nhiên là bà ấy bị ốm thật. Và vì con đã tử tế với bà ấy, bà ấy quyết định thích con hơn là bà tưởng lúc ban đầu. Vì lý do nào đó, cả hai người

đều

tỏ ra có thành kiến với con (ý con là chống lại Ellaline) ngay từ đầu. Con không hiểu tại sao; và một cách chậm rãi, với sự ngạc nhiên không thể giấu giếm, họ đang thay đổi suy nghĩ của mình. Việc thay đổi suy nghĩ giúp cho tâm hồn người ta trở nên tốt đẹp, sạch sẽ và tươi mới; thế nên tâm hồn họ sẽ được thông gió kỹ càng, tất cả là nhờ con đấy.

Emily đã trở nên hoàn toàn cam chịu trước sự tồn tại của con và phân phát cho con những tâm sự nhỏ nhoi. Bản thân bà ấy vốn không sở hữu một tâm hồn phong phú, và nó chưa từng được bón phân nhiều cho lắm nên có phần cằn cỗi; nhưng dẫu sao thì chẳng có cỏ dại độc hại nào ở đó cả, như những gì

có thể

tồn tại trong mảnh đất rộng rãi và được vun xới kỹ càng hơn của Sir Lionel. Con nghĩ con sẽ hòa hợp với bà ấy khá ổn sau tất cả, đặc biệt là khi đi ô tô, lúc con có thể mang theo thật nhiều ozone cho bà ấy. Tuy nhiên, bà ấy hơi sợ em trai mình, dù hắn kém bà ấy năm tuổi (như con vừa mới biết), nhưng lại vô cùng tự hào về hắn; và thật là đáng thương làm sao, khi chính tay bà cắt dán những bài viết về hắn trên báo sáng nay, và khoe từng mẩu một cho con xem, trước khi dán tất cả vào một cuốn sổ bà đã giữ nhiều năm trời, hoàn toàn chỉ xoay quanh Sir Lionel. Bà ấy bảo một ngày nào đó bà cũng sẽ khoe cuốn sổ đó cho con xem, nhưng tuyệt đối không được nói cho hắn biết. Cứ như thể con sẽ nói thế không bằng!

Nhưng nói về các tờ báo. Bà ấy đã không đặt mua tờ nào theo trường phái Cấp tiến cả, bởi vì bà ấy bảo chúng lúc nào cũng chĩa mũi nhọn vào giới quý tộc, vừa bất công lại vừa ngu ngốc; nhưng bà ấy vô tình mua nhầm một tờ, và mẹ không thể tưởng tượng được người phụ nữ tội nghiệp ấy đã vui mừng đến thế nào khi tờ báo đó ca ngợi em trai bà tận mây xanh. Khi đó bà ấy mới thốt lên rằng hóa ra vẫn có

vài

tên Cấp tiến đàng hoàng đấy chứ.

Tất nhiên, người ta thừa biết sự khác biệt giữa “Mirabeau được đánh giá bởi bạn bè của ông ấy và Mirabeau được đánh giá bởi nhân dân,” và có thể châm chước (nếu hệ tiêu hóa tốt) cho các góc nhìn khác nhau. Nhưng có một điều chắc chắn, cho dù hắn là thiên thần hay ác quỷ, hay một thứ lai tạp giữa hai thái cực đó, Sir Lionel Pendragon vẫn là một nhân vật quan trọng trong Mắt Công chúng. Con tự hỏi liệu Ellaline có nhận ra tầm quan trọng của hắn theo cách đó không? Con không nghĩ cô ấy nhận ra, bằng không cô ấy đã nhắc đến nó rồi, vì điều đó chẳng có gì phải cản trở quan điểm của cô ấy về nhân cách cá nhân của hắn cả.

Chính qua Emily một phần, nhưng chủ yếu là từ những mẩu báo cắt ra, mà con có được kiến thức về những gì hắn đã làm, đã trải qua, và được kỳ vọng sẽ trở thành.

Hắn bốn mươi tuổi. Con biết điều đó, bởi vì tờ

Morning Post

đã đăng ngày sinh của hắn, và hắn khá là một nhân vật có máu mặt, mặc dù chỉ là một nam tước, và thậm chí chưa từng là thế cho đến tận gần đây. Hóa ra là dòng dõi ở cả hai phía đều ngược dòng thời gian trở về những màn sương của thời cổ đại, vào những ngày tháng mà truyền thuyết, được truyền miệng (liệu

mẹ có thể truyền mọi thứ ra từ miệng mình không? Nghe có vẻ thô lỗ), là tiền thân của lịch sử. Tổ tiên bên bố của hắn được cho là hậu duệ của Vua Arthur; do đó mới có cái tên “Pendragon”; mặc dù, con đoán là nếu điều đó là thật, Vua Arthur hẳn thực sự đã kết hôn nhiều lần, như những ghi chép dung tục mà Tennyson đã rất đúng đắn khi không thèm đếm xỉa đến. Đã từng có những công tước và bá tước trong gia tộc, nhưng họ cứ thế biến mất một cách bí ẩn nào đó, có lẽ bởi vì vào những ngày tháng tối tăm dốt nát đó chẳng có những nữ thừa kế người Mỹ nào để chống đỡ cho họ cả.

Có vẻ như Sir Lionel ban đầu là một người lính, và bị thương nặng trong một trận chiến biên giới ở Ấn Độ khi còn rất trẻ. Hắn suýt mất đi khả năng sử dụng cánh tay trái, và từ giã quân ngũ; nhưng hắn nhận được Huân chương Victoria. Ellaline đã không thèm hé răng nửa lời về chuyện đó. Có lẽ cô ấy không biết. Sau khi đọc “hồ sơ” của hắn trên báo, con không thể cưỡng lại việc hỏi hắn vào bữa trưa rằng hắn đã làm gì để xứng đáng nhận Huân chương V.C.

“Chẳng có gì xứng đáng cả,” hắn đáp, trông có vẻ ngạc nhiên.

“Vậy để kiếm được nó thì sao?” con bẻ lái câu hỏi của mình.

“Ồ, tôi không biết nữa – gần như quên bén mất. Kéo một gã ngốc ngớ ngẩn nào đó ra khỏi cái hố, tôi tin là thế,” hắn nói.

Đó là những gì mẹ nhận được khi đặt câu hỏi cho kiểu người Anh thế này về quá khứ của họ. Con cứ tưởng chỉ có mấy bà góa chồng tóc đỏ là loại người tuyệt đối không được bàn về quá khứ của họ chứ.

“Một Chính phủ biết ơn” (theo tờ

Morning Post

) “đã cử chàng thanh niên Pendragon, ở tuổi hai mươi lăm, đến Đông Bengal, làm thư ký riêng cho Sir John Hurley, người lúc bấy giờ là phó thống đốc”; và đó quả là một Thống đốc tồi, có thể nói thế, khi chẳng mang lại lợi ích gì cho ai. Gan của Sir John mệt mỏi với Bengal đến mức ông ta phải mang nó đi nơi khác, và Trung úy Pendragon (khi đó hắn là thế) đã gánh vác mọi việc cho đến khi một người khác kịp đến nơi. Hắn gánh vác chúng xuất sắc đến mức khi vị phó thống đốc tiếp theo làm điều gì đó ngớ ngẩn và được mời từ chức, Sir Lionel chớm nở của chúng ta đã được mời nhận lấy công việc đó. Hắn mới chỉ ba mươi tuổi, và thế là hắn đã làm phó thống đốc suốt mười năm trời. Giờ thì hắn chuẩn bị xem bản thân có thích làm nam tước hơn không, và có lâu đài cùng ô tô riêng không. Tất cả những tờ báo con đọc đều ca ngợi hắn hết lời, và nói rằng trong một cuộc khủng hoảng vốn có thể thảm khốc, hắn đã ngăn chặn được một thảm họa nhờ sức mạnh tính cách đáng kinh ngạc và sự điềm tĩnh của mình. Con đoán đó là thời điểm mà những tờ báo khác buộc tội hắn về những tội ác tàn bạo ghê tởm. Con tự hỏi bên nào mới đúng? Có lẽ con sẽ có thể phán xét, sớm hay muộn, nếu con canh gác ở những ô cửa sổ tò mò về tính cách của hắn hệt như một con mèo canh con chuột chui ra dạo chơi.

Còn về tiền bạc, nếu người ta có thể tin tưởng báo chí, hắn có dư dả mà chẳng cần lắc xu từ khe cắm ngân hàng của Ellaline Lethbridge, và khá là sung túc ngay cả trước khi hắn có được tước hiệu hay lâu đài của mình. Tuy nhiên, khi còn là một thanh niên rất trẻ, hắn có lẽ đã từng nghèo – vào khoảng thời gian hắn nhận trách nhiệm giám hộ.

Nhân tiện, cánh tay trái có vẻ đã hoàn toàn bình thường rồi đấy chứ. Dù sao đi nữa, hắn sử dụng nó đúng cách như những cánh tay được sinh ra để dùng, theo những gì con có thể thấy, thế nên rõ ràng nó đã cải thiện theo thời gian.

Báo chí kể về việc hắn trở về nước Anh, và lâu đài ở Warwickshire của hắn, cùng vụ cháy, và việc bà Norton từ bỏ ngôi nhà ở – một hạt nào đó; con đã quên béng mất cái nào rồi – để đến sống cùng “người em trai lỗi lạc” của bà ấy. Thêm nữa, họ nói rằng hắn có một ward, có mẹ là họ hàng của gia đình, và bố là Tôn kính Frederic Lethbridge, người rất nổi tiếng và được yêu mến trong giới thượng lưu trong những “năm cuối thập niên tám mươi”. Ellaline sinh năm 1891. Con rất muốn biết chuyện gì đã xảy ra với ông ta nhỉ? Có lẽ ông ta đã qua đời trước khi cô ấy chào đời. Cô ấy đã kể với con rằng cô ấy không thể nhớ nổi bố mình, nhưng đó là tất cả những gì cô ấy từng kể về bố mình.

Chúng ta sẽ ở khách sạn Ritz cho đến khi khởi hành chuyến du lịch bằng ô tô, việc mà thực tế sẽ xảy ra, dù con đã sợ rằng nó quá tuyệt vời để có thật. Tuy nhiên, chiếc xe mới sẽ chưa sẵn sàng trong một tuần nữa. Con thấy tiếc, nhưng bà Norton thì không. Bà ấy sợ mình sẽ bị giết, và nghĩ đó sẽ là một cái chết bừa bộn khi phải chết trên xe. Thêm vào đó, bà ấy thích London. Bà ấy bảo em trai mình sẽ “ngập chìm trong những lời mời mòi”; nhưng hắn thì ghét xã hội, và căm ghét việc bị tung hô như sư tử. Hãy tưởng tượng gã đàn ông bị vùi lấp dưới những chồng thư thơm mùi nước hoa, hệt như Tarpeia dưới những chiếc khiên và vòng tay vậy! Emily chưa từng sống ở London, bởi vì bà ấy muốn ở một nơi mà bà đặc biệt quý trọng vị mục sư và bác sĩ; nhưng giờ thì bà ấy đã từ bỏ họ vì em trai mình, và sẽ chỉ viết thư kể về các triệu chứng của mình, cả tinh thần lẫn thể xác. Bà ấy thích nhà thờ hơn bất cứ thứ gì trên đời, nhưng nghĩ rằng đó sẽ là nghĩa vụ của mình khi dẫn con đi tham quan một chút trong lúc chúng ta ở thị trấn, vì em trai bà chắc chắn sẽ không làm thế, bởi vì hắn khinh miệt phụ nữ, và chẳng quan tâm đến bất cứ thứ gì họ làm.

Con đoán chắc bà ấy phải biết rõ; thế mà, vào bữa trưa hôm qua, hắn lại hỏi liệu chúng ta có quá mệt không, hay có muốn “đi xem vài nhà hát” không. Con nói – bởi vì con đơn giản là

bắt buộc

phải tiết kiệm cho họ một cú sốc sau đó – rằng con sợ mình chẳng có bộ đồ nào đẹp đẽ để mặc cả. Con cảm thấy mặt mình đỏ bừng lên – vì đó là một thứ tủi nhục đối với Ellaline – nhưng hắn có vẻ không ngạc nhiên bằng bà Norton. Lông mày của bà ấy nhướn lên; nhưng hắn chỉ bảo tất nhiên nữ sinh thì chẳng bao giờ có những bộ váy sành điệu cả, và con phải đi mua sắm vài chiếc váy ngay lập tức.

Một chiếc váy dạ hội là đủ cho một thiếu nữ, bà Norton nói, nhưng hắn không đồng tình. Hắn bảo hắn chưa nghĩ đến điều đó, nhưng giờ thì nó hiện ra trong đầu, hắn cho rằng phụ nữ nên có thật nhiều thứ đẹp đẽ. Thế rồi, khi bà ấy bảo, có phần vội vã, rằng bà ấy sẽ chọn cho con một vài món may sẵn ở một cửa hàng tốt trên phố Oxford, hắn nhận xét rằng hắn vẫn luôn hiểu đại lộ Bond Street mới là nơi đích thực.

“Không phải dành cho nữ sinh,” Emily thân mến giải thích, vì bà ấy là một người khôn ngoan.

“Con bé không còn là nữ sinh nữa. Chuyện đó xong rồi,” Sir Lionel nói. Và vì bà ấy coi hắn là một vị thần bằng thiếc trên bánh xe, bà ấy liền ngưng tranh cãi.

Nhân tiện, hắn mang phong thái ghét việc phải gọi tên con. Hắn nói “Tiểu thư Lethbridge”, theo một cách kỳ lạ, cứng nhắc nào đó khi hắn hoàn toàn buộc phải dán nhãn cho con; bằng không hắn sẽ thỏa hiệp bằng từ “cô”, thứ hắn thu mình vào đó khi có thể. Điều đó khá kỳ cục và không thể là một sự tình cờ. Lý do duy nhất con có thể nghĩ tới là hắn có thể cảm thấy đó thực sự là nghĩa vụ của mình khi gọi con là “Ellaline”.

Con đã hứa sẽ viết thư cho Ellaline ngay khi có điều gì đáng kể để kể, và con đoán con phải làm việc đó hôm nay; thế mà con vẫn thấy sợ và không thể hạ quyết tâm bắt đầu. Con không thích ca ngợi một kẻ mà cô ấy coi là quái vật; dẫu vậy con chẳng có điều gì để chống lại hắn cả; và con chắc chắn cô ấy sẽ cáu nếu con không bôi nhọ hắn. Con nghĩ con sẽ trình bày các sự thật một cách trần trụi. Khi con nhận được các khoản tiền trợ cấp được phân bổ – dành cho Ellaline, dĩ nhiên – con sẽ gửi tiền cho cô ấy, ngoại trừ một khoản vừa đủ để không bị nhận ra là nghèo rớt mồng tơi. Con sẽ gửi thư cho cô ấy tại địa chỉ Mademoiselle Leonie de Nesville, gửi Poste Restante, bởi vì trong lúc con được biết đến với cái tên Tiểu thư Lethbridge, sẽ có vẻ kỳ cục nếu con gửi những chiếc phong bì đề tên cho một người có cùng tên với chính mình. Chính Ellaline là người đề xuất điều đó, chứ không phải con. Cô ấy nghĩ ra mọi chuyện. Dù cô ấy còn trẻ con ở một vài phương diện, cô ấy lại vô cùng xuất sắc trong việc mưu tính.

Con thực sự vẫn chưa thể nghĩ ra mình

sẽ

nói gì với cô ấy nữa. Nó đang làm con lo lắng. Con cảm thấy có lỗi, chẳng hiểu tại sao.

Bà Norton đề nghị đưa con đi mua sắm và ngắm cảnh chiều nay. Sir Lionel đề nghị đi cùng chúng ta. Chị gái hắn kinh ngạc, và con cũng thế, đặc biệt là sau những gì bà ấy đã nói về việc hắn không quan tâm đến chuyện phụ nữ. “Chỉ để chắc chắn là cô làm theo lời khuyên của tôi về đại lộ Bond Street thôi,” hắn nhận xét. “Và đại lộ Bond Street từng làm tôi thích thú – khi tôi mới đôi mươi. Tôi nghĩ nó sẽ làm tôi thích thú lúc này – để xem nó và tôi đã thay đổi ra sao.”

Thế là chúng ta đi, cả ba người. Khá là khủng khiếp khi nghĩ đến bộ đồ dạ xám và chiếc mũ thủy thủ phải không mẹ? Con cảm thấy tôn trọng chính mình khi mặc chúng ở Versailles, và thậm chí ở Paris, bởi vì ở đó con là một giáo viên thanh nhạc; nói cách khác, chẳng là ai cả. Nhưng ở London con được coi là một nữ thừa kế. Và ở đây, tại khách sạn Ritz, những sinh vật tuyệt đẹp cứ đến ăn trưa trong những bộ váy mà rõ ràng họ đã được rót vào đó với sự khéo léo tuyệt đỉnh và chi phí không thể tin nổi.

Con vừa được nếm món

Pêche Melba

ngày hôm nay, lần đầu tiên trong đời. Nó khiến con khao khát có mẹ bên cạnh. Nhưng trông nó chẳng hợp tẹo nào với bộ đồ dạ xám và chiếc áo blouse cotton cả. Đáng lẽ con phải là một Sinh vật Lộng lẫy, với lớp lót bằng lụa mới phải.

Làm sao con có thể chịu đựng được màn tra tấn mua sắm đây? Giả sử bà Norton chọn cho con những món đồ (ôi kinh hoàng!). Chúng chắc chắn sẽ gớm ghiếc, nhưng có thể rất đắt đỏ. Như đã viết trong một tờ báo xã hội Anh mà Madame de Maluet đặt mua: “A. nên làm gì đây?”

Ước gì Thần giao cách cảm là một dịch vụ đang hoạt động, thì mẹ đã trả lời cái Vụ án Khó nhằn đó cho

Đứa con tội nghiệp bối rối của mẹ,

“A.”

bí danh

“E.”

P.S. Không có thêm tin tức hay hình bóng gì về Gánh nặng của Người Phụ nữ Da trắng, Richard thuộc dòng dõi đó. Con đã sợ hắn sẽ xuất hiện ở Khách sạn Grand ở Paris, hay thậm chí ở nhà ga để “tiễn chúng ta”, nhưng hắn không xuất hiện. Hắn đã biến mất vào không gian, và cứ tự do tận hưởng toàn bộ không gian đó đi. Con suýt đã quên béng hắn nếu đôi khi con không tự hỏi nghề nghiệp bí ẩn của hắn rốt cuộc là gì.

VI

SIR LIONEL PENDRAGON GỬI ĐẠI TÁ P. R. O'HAGAN,

TẠI DROITA, ĐÔNG BENGAL

Khách sạn Ritz, London,

Ngày 8 tháng Bảy

Pat thân mến của tôi: Cậu đúng, tôi sai.

Trở về nước Anh quả thực là

tuyệt vời.

Lời tiên tri của cậu đã thành sự thật. Quá khứ đã chết coi như đã chôn vùi những gì đã chết của nó khá ổn thỏa. Vài khúc xương khô lộ ra dưới bề mặt ở đây và ở đó. Tôi mặc thây chúng nằm yên đấy. Tớ là chó đấy phỏng mà phải đi đào bới xương cốt đã chôn chứ!

Như cậu biết đấy, tôi đã ngu ngốc đến mức sợ hãi việc đặt chân đến Paris. Tôi sợ nó trong suốt cả chuyến hải trình. Khi đến Marseille, tôi nhận được một bức điện từ Emily, nói rằng bà ấy sẽ gặp tôi ở Paris. Lại ngu ngốc lần nữa! Tôi cứ đinh ninh rằng bà ấy đang tự chuốc lấy phiền phức đó với mong muốn tốt bụng là “sát cánh bên tôi”, và đánh lạc hướng suy nghĩ của tôi khỏi những ngày tháng cũ. Nhưng lẽ ra tôi phải khôn ngoan hơn chứ, khi biết rõ tâm hồn nhỏ bé thực tế và tốt bụng đó. Bà ấy có một mục đích hoàn toàn khác. Đến để báo tin dữ về một vụ cháy ở Graylees; nhưng có vẻ như nó không gây ra thiệt hại nghiêm trọng nào, ngoại trừ việc xóa sổ vài chi tiết rườm rà hiện đại. Chúng có thể dễ dàng được đắp vá lại. Tôi mừng vì mọi chuyện không tệ hơn thế, bởi vì tôi yêu Graylees. Tôi có lẽ đã trở thành một gã tồi tệ hơn nếu không có triển vọng được thừa kế nó sớm hay muộn. Người ta buộc phải sống xứng đáng với một số thứ, và Graylees chính là một nguồn khích lệ.

Cậu đã bảo tôi cho biết liệu Emily đã thay đổi chưa. Chà, bà ấy có thay đổi. Đã mười tám năm kể từ khi cậu gặp lại bà ấy; mười lăm năm kể từ lần cuối cùng của tôi. Tôi phải nói thật với cậu, cậu sẽ chẳng có chút hối tiếc tình cảm nào nếu được chứng kiến bà ấy lúc này. Cậu sẽ nhớ, nếu không quá hào hiệp, rằng bà ấy lớn hơn cậu ba tuổi; ba năm đó có vẻ đã kéo dài thành một tá. May mắn là cậu đã không để việc Norton giật phắt Emily khỏi mũi cậu làm tổn hại đến má hay tim. Chẳng có gì bị tổn hại cả. Cậu vẫn lành lặn và nguyên vẹn, và đó là lý do tại sao tình bạn của cậu lại là một món quà vô giá đối với tôi. Cậu đã cứu tôi khỏi việc đâm đầu vào rất nhiều cối xay gió.

Tôi đoán cậu sẽ nghĩ tôi đang “dạo đầu” lúc này, để trì hoãn khoảnh khắc tồi tệ khi phải kể cho cậu nghe về đứa con gái của Ellaline de Nesville. Nhưng không đâu. Lần này thì cậu đoán sai về tôi rồi. Suy cho cùng, đó không phải là một khoảnh khắc tồi tệ. Tôi ngạc nhiên về chính mình, và nhân đôi sự ngạc nhiên về cô gái; và cả hai sự ngạc nhiên đều dễ chịu cả.

Tôi không hỏi cậu có nhớ Ellaline hay không; bởi vì bất kỳ ai từng nhìn thấy cô ấy đều không thể quên được; ít nhất, với tôi là thế, sau bao nhiêu năm trời, và bao nhiêu sự thay đổi trong chính bản thân tôi. Như tôi lúc này, cô ấy là tuýp người cuối cùng mà tôi sẽ rơi vào lưới tình, giả sử tôi đủ ngu ngốc để mất trí vì bất kỳ ai. Tuy nhiên, tôi không thể lấy làm lạ về sự tôn sùng mà tôi từng dành cho cô ấy. Cô ấy chính xác là tuýp con gái có thể khơi gợi tình yêu của một cậu thiếu niên, và cô ấy đã chiếm trọn tình yêu của tôi, gã khờ dại tội nghiệp mà tôi từng là. Không có gì đáng thương hơn, tôi nghĩ ở khoảng cách này, sự trong trắng đầy đam mê của một thiếu niên trong mối tình đầu của mình – ngoại trừ sự vỡ mộng của cậu ta; bởi vì sự vỡ mộng chẳng mang lại điều tốt đẹp gì cho bản chất con người cả. Nó hẳn đã tàn phá bản chất tôi ghê gớm nếu tôi không có một người bạn như cậu để rên rỉ và cằn nhằn.

Cậu hiểu tôi vẫn luôn cảm nhận thế nào về đứa trẻ này – người mà cô ấy mong tôi chăm sóc. Tôi chắc chắn rằng Ellaline Số 2 sẽ lớn lên giống hệt Ellaline Số 1 hệt như bông hồng mùa hè này giống bông hồng mùa hè trước, nở trên cùng một bụi cây.

Vào lúc bốn tuổi, sinh vật nhỏ bé ấy chắc chắn mang một vẻ giống búp bê của mẹ nó. Tôi nhớ mang máng rằng nó sở hữu đôi mắt to sẫm màu của Ellaline thứ nhất, tràn ngập vẻ ngượng ngùng chớm nở, và hàng lông mi đen uốn cong mà cô tiểu thư nhỏ đã biết cách sử dụng bằng bản năng. Cả cái miệng kiểu ấy nữa, thứ mà ngắm nhìn nó khiến một thiếu niên tin vào một vị thần Tình yêu cá nhân, và một người đàn ông tin vào một ác ma cá nhân. Tôi có một ký ức mờ nhạt về mái tóc màu nâu hạt dẻ, xõa xung quanh một khuôn mặt nhỏ nhắn mang hình dáng của Ellaline; “hình trái tim” là cách tôi và Emily vẫn hay gọi, khi cả hai đều nằm dưới quyền cai quản của cô em họ người Pháp bé nhỏ của chúng tôi, vào những ngày đầu tiên xa xưa nhất, thậm chí trước cả khi Emily bắt đầu nhận ra bản chất thật của cô ấy.

Tôi tự hỏi liệu một đứa trẻ có thay lớp tóc đầu đời giống như thay những chiếc răng sữa không nhỉ? Tôi chưa bao giờ để tâm nhiều lắm đến các hiện tượng trẻ con thuộc bất kỳ loại nào; tuy nhiên, tôi nghiêng về niềm tin lúc này rằng hẳn phải có những trường hợp như thế. Tất nhiên, chúng ta đều biết một tuýp tóc vàng nhưng sinh ra là tóc nâu; ví dụ như bà Senter, người dì quyến rũ của gã trẻ tuổi Burden, người mà chúng ta từng nghi ngờ đã biến thành tóc vàng chỉ sau một đêm (nhân tiện, tôi đã vô tình chạm trán ai ở Paris nếu không phải là Dicky, kẻ đã lớn lên ít nhiều kể từ khi hắn làm giám hộ cho đám phụ nữ nhà hắn ở Viễn Đông). Nhưng tôi không nói về những người như bà Senter trên thế giới này; tôi đang nói về đứa con gái bất ngờ của Ellaline. Cô ấy đã thay đổi gần như không thể tin nổi trong khoảng thời gian từ bốn đến mười chín tuổi.

Trước khi tôi biết ý định muốn gặp tôi ở Paris của Emily, tôi đã viết thư cho mụ hiệu trưởng trường nữ sinh yêu cầu ward của tôi được gửi đến ga Gare de Lyon với người giám hộ đi kèm cẩn thận. Đối mặt với một thiếu nữ hiện đại, được tô điểm bằng tất cả những cải tiến mới nhất và những trò khéo léo nơi phòng khách đã đủ tệ rồi. Đối mặt với hàng tá những sinh vật như thế trong hang ổ của chúng lại càng tệ hơn; thế nên, tôi đã chùn bước khi phải tự mình đi gom ward ở Versailles. Tôi sẽ nhận ra cô ấy qua một bông hồng gài trên ngực áo trong trường hợp cô ấy đã thay đổi đến mức không thể nhận ra. Thật may mắn, xét theo cách mọi chuyện diễn ra, là tôi đã đưa ra gợi ý đó, bằng không cô ấy hẳn đã phải quay lại Versailles, hệt như một bưu phẩm vô chủ; và điều đó sẽ thật tệ, bởi vì cô ấy không có người giám hộ đi cùng. Đã có chuyện gì đó xảy ra với người phụ nữ, hoặc với họ hàng của người phụ nữ đó. Tôi suýt quên béng mất rồi.

Thay vì vóc dáng Tanagra tinh tế trong những bộ diềm xếp nếp kiểu Pháp sành điệu mà tôi mong đợi, lại xuất hiện một thiếu nữ cao gầy, xinh đẹp với phong thái của nữ thần Atalanta và trang phục của một nữ tín đồ phái Quaker. Cô ấy đã gán nhầm tên tôi cho người đàn ông khác, bằng không tôi đã để cô ấy đi, bất chấp bông hồng, vì cô ấy quá khác biệt so với những gì tôi tưởng tượng. Và cậu sẽ thấy buồn cười khi nghe rằng ý tưởng của cô ấy về Lionel Pendragon lại được hóa thân bởi lão “Hannibal” Jones, kẻ đã lên chuyến tàu của tôi ở Marseille. Giờ thì hắn đã đổi sang chẻ tên làm đôi rồi và là Tướng Wellington-Jones. Lẽ ra cô ấy phải biết xấp xỉ tuổi của tôi, hoặc có thể tìm hiểu nếu cô ấy bận tâm; nhưng tôi đoán đối với tuổi mười chín, bốn mươi cũng chẳng khác gì sáu mươi cả. Đó là điều cần ghi nhớ, nếu người ta cảm thấy nhựa sống đang sục sôi trong các cành cây của mình, chỉ để nhắc nhở bản thân rằng rốt cuộc đó không phải mùa xuân, mà là mùa thu. Và ngay tại thời điểm này, nhân tiện, tôi không chắc mình có cần đến cái sự dội gáo nước lạnh kiểu này hay không, bởi vì tôi đang cảm thấy trẻ trung đến mức nghĩ rằng chắc mình đang trẻ lại. Tôi đã bắt đầu trân trọng những gì còn sót lại của tuổi trẻ; lôi nó ra và ngắm nhìn nó dưới mọi ánh sáng, hệt như một trái cây phải được ngắm nghía thèm thuồng trước khi nó thối rữa – và đó là một dấu hiệu chí mạng, phải không cậu? Tôi có một sự quan tâm phi thường đến cuộc sống, mà tôi quy cho chiếc xe ô tô mới sẽ được hoàn thành và sẵn sàng sử dụng trong vài ngày tới; đồng thời cũng là ý nghĩ rằng Graylees thuộc về chính tôi.

Nhưng tôi đang lan man đi xa khỏi cô gái ấy rồi.

Cô ấy hoàn toàn không giống Ellaline de Nesville, hệt như một tập đầu tiên được đóng bìa đẹp đẽ của một tài liệu nhân văn này với một tập khác có sức hấp dẫn tương đương. “Tập đầu tiên của một tài liệu nhân văn” không phải là một cách nói không diễn tả được một thiếu nữ đúng không? Chúa mới biết cô ấy sẽ là người thế nào vào lúc tập thứ hai và thứ ba sẵn sàng xuất bản; nhưng hiện tại người ta cứ lật từng trang giấy với sự ngạc nhiên đầy thích thú. Có cái gì đó nguyên bản và quyến rũ trong từng trang mới.

Lớp tóc đầu tiên của cô ấy chắc chắn đã rụng, bởi vì mớ tóc hiện tại – và có rất nhiều tóc ấy chứ! – mang màu nâu ngả vàng rực rỡ; trông giống tóc của một trẻ em, bằng cách nào đó. Có những lọn xoăn nhỏ và những nếp uốn quanh đó mà tôi cho rằng được tạo ra bởi chiếc kẹp uốn tóc của tự nhiên, dù tôi có thể nhầm lẫn. Và tôi đoán mình hẳn đã tự lừa dối bản thân về đôi mắt của đứa trẻ, bởi vì chúng không hề đen, mà có màu hạt dẻ pha xám, có thể trông như màu nâu hoặc tím vào ban đêm. Cô ấy là một thiếu nữ cao ráo, mảnh mai và thẳng tắp như một chồi cây, với phong cách cởi mở, thành thật, vô cùng thu hút. Tôi ngạc nhiên và thích thú ngắm nhìn cô ấy, và nhận ra cô ấy đang nhìn tôi với một biểu cảm mà tôi không thể tài nào hiểu nổi. Tôi gần như không dám thả lỏng bản thân để thích cô ấy, vì sợ thất vọng. Cô ấy có vẻ quá tuyệt vời để là sự thật, quá tuyệt vời để có thể kéo dài. Tôi cứ tự hỏi không biết nữ tổ tiên nào của Ellaline de Nesville, hay của Fred Lethbridge, đang nhìn ra từ những ô cửa sổ màu thiên thanh chính là đôi mắt của cô gái này. Nếu linh hồn của Fred, hay của Ellaline, đang lấp ló sau những ô cửa kính trong suốt và tươi sáng ấy, thì nó cũng khéo léo che giấu bản thân rất kỹ – cho đến nay. Nhưng tôi chuẩn bị tinh thần cho mọi chuyện.

Cho đến nay tôi không hề hay biết rằng một phụ nữ trẻ có thể trở thành một “chi hữu” tuyệt vời đối với một người đàn ông, đặc biệt là một người đàn ông ở độ tuổi của tôi. Có lẽ đây là sự thiếu hiểu biết của tôi về giới tính đó (vì tôi thừa nhận mình đã khóa cuốn sách về Phụ nữ lại, và không bao giờ mở nó ra lần nữa, kể từ chương của Ellaline), hoặc có lẽ các cô gái đã thay đổi kể từ “những ngày tháng dũng cảm khi chúng ta tuổi đôi mươi”. Vào kỷ nguyên xa xôi đó, theo những gì tôi có thể khám phá ra bằng cách phủi lớp bụi trên những kỷ vật phai tàn, người ta hoặc là tán tỉnh các cô gái, hoặc là không. Họ ở đó để khiêu vũ cùng, để tán tỉnh cùng, và để cùng chèo thuyền trên sông, chứ không phải để bàn chuyện chính trị, hay trao đổi quan điểm về vũ trụ. Họ – những người xinh đẹp nhất – hẳn sẽ nghĩ rằng thời gian quý báu đã bị lãng phí trong những cuộc thảo luận như thế. Thế mà ở đây lại có cô gái này, chưa tròn hai mươi, một đứa trẻ vừa bước ra khỏi trường học – hơn nữa lại là một trường học ở Pháp – rạng rỡ với sức mạnh của tuổi trẻ, sắc đẹp, tính nữ của mình; thế mà cô ấy có vẻ thực sự quan tâm đến những vấn đề của cuộc sống không liên quan đến chuyện yêu đương. Cô ấy có vẻ thích nói chuyện nghiêm túc, và cô ấy có khiếu hài hước, tinh tế hơn nhiều so với cái thứ khiếu hài hước con nít đơn thuần thuộc về tuổi của cô ấy – hay sự thiếu vắng tuổi tác của cô ấy. Tôi đã sợ hãi trách nhiệm phải chăm sóc cô ấy, nhưng tôi còn sợ hơn việc cảm thấy chán ngán bởi cô ấy, bị tán tỉnh bởi cô ấy. Tôi thề là tôi không thể chịu đựng nổi điều đó từ kiểu con gái mà tôi chuẩn bị sẵn sàng để gặp; nhưng như tôi đã nói, tôi đã tìm thấy một “chi hữu” – nếu tôi dám tin vào cô ấy. Thay vì tránh né sự xã giao của ward, và đẩy nó cho Emily như dự định ban đầu, tôi tự bào chữa cho bản thân bằng cách bịa ra những cái cớ để đắm mình trong đó.

Hôm nay, ví dụ như thế, cậu nghĩ tôi đã làm gì? Một chuyến đi mua sắm được đặt ra. Emily, người vốn chưa bao giờ có gu thẩm mỹ tốt trong trang phục, và giờ thì tự ăn mặc hệt như để chuộc tội cho tội lỗi, dường như biết khi nào những phụ nữ khác ăn mặc tồi tàn. Bà ấy nghĩ rằng các thiếu nữ nên ăn mặc giản dị là đúng đắn, nhưng cho rằng trong trường hợp của Ellaline thì sự giản dị đã bị đẩy đi quá xa. Cậu thấy đấy, bà ấy không biết những gì cậu và tớ biết về cái kết tồi tệ của gã Lethbridge khốn khổ đó, và tin rằng con gái hắn có rất nhiều tiền, hoặc sẽ có khi đủ tuổi trưởng thành. Tất nhiên, tôi không vạch trần cho bà ấy. Emily là một người tốt, nhưng quá nguyên tắc trong những vấn đề tiền bạc, và nếu biết sự thật bà ấy có thể có xu hướng siết chặt hầu bao. Thậm chí bà ấy có thể bị cám dỗ để bóng gió điều gì đó phiền toái với cô gái tội nghiệp này, nếu đứa trẻ làm bà phật ý vì bất kỳ sự tiêu xài hoang phí nhỏ nhặt nào; trong khi tôi không đời nào muốn con gái của Ellaline phải đoán rằng cô ấy mang ơn bất cứ thứ gì đối với tôi.

Emily đề nghị chọn váy cho tiểu thư Lethbridge; đúng lúc đó tiểu thư trẻ tuổi ấy ném về phía tôi một cái nhìn tuyệt vọng vô cùng hài hước – một cái nhìn mà tôi nghĩ là không có sự cố ý – khiến tôi suýt phì cười. Tôi nhìn thấu những gì đang diễn ra trong đầu cô ấy! Và nếu cậu tin tôi, O'Hagan, tôi đã tự nguyện đi cùng họ.

Sau khi đã dấn thân, tôi có mọi cảm giác của một con ruồi bị dính trên tờ keo dán ruồi, hay một tù nhân chiến tranh bị xiềng vào chiến xa La Mã; nhưng rốt cuộc tôi đã vô cùng tận hưởng nó. Không có điều gì tốt đẹp hơn xảy ra với tôi kể từ khi tôi còn được dẫn đi ngắm các cửa hàng đồ chơi vào ngày trước lễ Giáng sinh. Không, ngay cả buổi biểu diễn kịch câm đầu tiên của tôi cũng không thể đánh bại trải nghiệm này!

Linh hồn tiết kiệm của Emily đòi hỏi phố Oxford. Tôi giữ vững lập trường dành cho Bond Street, và đã đạt được ý mình. (Cậu sẽ cười vào đây thôi. Cậu vẫn bảo tôi luôn đạt được ý mình mà.) Ý tưởng của tôi là tự biến mình thành một dạng Cơn Cứu Cuối Cùng, hoặc Tòa án Phúc thẩm. Tôi định để Emily đưa ra lời khuyên, nhưng sẽ hất cẳng bà ấy nếu bà ấy phạm phải những điều tàn bạo. Cửa hàng đầu tiên, tuy nhiên, đã khiến tôi ngất ngây. Đó là một trong những nơi mà cậu bước vào một kiểu phòng khách với những ma-nơ-canh, hoặc bất cứ từ nào cậu gọi chúng – những quý cô thon thả, không đầu trong những chiếc váy mẫu – được nhóm lại với nhau, và những quý cô thon thả không kém nhưng đầu dài trong những chiếc đuôi sa tanh đen, khoe những người chị em ma-nơ-canh của họ.

Chính những con ma-nơ-canh đã làm tôi say sưa. Tôi nhìn thấy cái đầu của Ellaline – trong trí tưởng tượng – nhô lên ở phía trên cùng của tất cả những chiếc váy xinh xắn nhất. Chúng cũng vô cùng giản dị, những chiếc hấp dẫn nhất; có vẻ hoàn hảo dành cho một thiếu nữ. Emily bước lướt qua chúng hệt như thể chúng là những người quen thô tục đang cố gắng thu hút ánh nhìn của bà tại một buổi vũ hội của nữ công tước, nhưng chúng đã tóm được tôi. Có một thứ màu trắng dành cho trang phục dạo phố, trông hệt như được may riêng cho Ellaline, và một chiếc váy phồng màu xanh lam, khoét ngổ ngỏ ở cổ, chính xác là màu sắc phù hợp để làm nổi bật mái tóc của cô ấy. Sau đó là một lớp voan hồng mỏng manh, với những vòng hoa hồng nhỏ xíu rải rác khắp nơi – khiến tôi nghĩ đến mùa xuân. (Tôi đã bảo cậu là tôi đã mất trí rồi cơ mà?)

Tôi ngăn ward của mình lại, chỉ cho cô ấy những thứ đó, và hỏi cô ấy có thích chúng không. Cô ấy bảo có, nhưng chúng sẽ đắt cắt cổ. Cô ấy sẽ không thèm nghĩ đến việc mua những giấc mơ đó đâu. Cùng lúc đó, một trong những quý cô sa tanh lướt đến (người mà nhìn từ phía sau trông chính xác hệt như một con cá tuyết đen ẩm ướt với chiếc đuôi dài; tôi tin đó là phong cách “Directoire”); và lướt đi trên một biển thảm màu xanh nhạt, bà ta tình nguyện cung cấp thông tin rằng những “chiếc váy nhỏ” này là những “bài thơ”, vô cùng phù hợp với phong cách của – tôi cứ ngóng bà ta sẽ gọi là “con gái” tôi. Thay vào đó, bà ta lại kết thúc câu nói bằng một từ “thưa bà” khiến khuôn mặt dạn dày sương gió của tôi đỏ bừng lên. Tuy nhiên, tôi là người duy nhất đỏ bừng mặt trong số những người liên quan, tôi đảm bảo đấy! Cô gái mỉm cười nhìn thẳng vào mắt tôi, với một ánh lấp lánh tinh nghịch, và chẳng mảy quan tâm chút nào. Một thế hệ trước hẳn sẽ làm dáng, nhưng thiếu nữ này chẳng có lấy một chút làm dáng nào cả.

Tôi nói “Nhảm nhí”, cô ấy dư khả năng mua những chiếc váy đó. Cô ấy tranh cãi, và Emily quay lại để giúp cô ấy hình thành một hình vuông rỗng. Cả hai đều chống lại tôi, nhưng tôi khăng khăng, và con cá tuyết là một đồng minh vô cùng quyền lực.

“Chúng có vừa với cô không?” tôi hỏi cô gái.

“Vâng, chúng vừa với tôi, tôi dám chắc thế. Nhưng ——”

Thế là xong.

“Chúng ta lấy hết,” tôi nói. Và sau đó, vì đã mất trí, tôi bắt đầu do thám nơi đó, chĩa gậy vào những thứ khác thu hút sự chú ý của tôi. Con cá tuyết ủng hộ tôi trong từng bước đi, và những con cá tuyết khác lướt trên vùng biển thảm xanh, với những chiếc mũ chắc chắn được mang từ những hang san hô không thấy rõ. Hầu hết chúng là những chiếc mũ khổng lồ, nhưng vô cùng thu hút, theo cách này hay cách khác, với vành mũ rộng rủ xuống nhỏ giọt hoa hồng hoặc sủi bọt lông đà điểu. Tôi bắt Ellaline tháo ra chiếc đĩa bơ tròn nhỏ xíu đang đội trên đầu, vốn rất xấu xí tự thân nó, dẫu cách nào đó trông nó hệt như hào quang của vị thánh trên đầu cô ấy; và lẩm bẩm những lời khen ngợi về mái tóc của “thưa bà”, những nàng còi báo động cá tuyết đã thử chiếc mũ này đến chiếc mũ khác. Tôi mua tất cả, mà chẳng thèm hỏi giá, bởi vì chiếc nào cũng tôn lên vẻ đẹp của cô gái hơn chiếc trước, và việc không mua tất cả chẳng khác nào cố tình phá hủy ngần ấy bức họa Gainsborough hoặc Sir Joshua nguyên bản.

Nhân tiện, mái tóc của đứa trẻ có sức sống phi thường. Nó phụt lên thành hai đợt dày, rực rỡ, sáng ngời trên trán trắng ngần của cô ấy, hệt như khởi đầu của một đài phun nước mạnh mẽ – một nền tảng vô cùng dễ chịu cho một chiếc mũ.

Thấy tôi đã phát điên, mấy con cá tuyết ranh mãnh liền chớp lấy trạng thái của tôi, và trưng ra những thứ trước mắt tôi mà Emily ngay lập tức cấm tôi không được nhìn. Sự thật là đó là những món đồ không thường thấy đối với một gã đàn ông độc thân, ngoại trừ trong các cửa hàng và trên các trang quảng cáo của tạp chí phụ nữ, nhưng váy lót lụa và diềm ren mỏng như tơ nhện chẳng có chút phẩm chất Gorgon nào cả, và tôi đã không hóa đá trước cảnh tượng đó. Thậm chí tôi còn tìm thấy sự can đảm để hỏi đám đông chung quanh xem đó có phải là thứ mà các thiếu nữ nên có trong tủ quần áo của họ hay không. Câu trả lời là hoàn toàn khẳng định.

“Cô đã có đủ tất cả những gì mình muốn chưa, hay có thể dùng thêm nữa?” tôi hỏi ward của mình.

“Tôi sẽ chẳng nhận ra chính mình trong những phép màu thế này đâu,” cô ấy nói, thở dốc, mắt rất sáng, và má hồng hơn so với lúc cô ấy bị nghi ngờ là cô dâu. Cô ấy vẫn bị nghi ngờ là cô dâu; thực tế, tôi nghĩ trong tâm trí của những con cá tuyết sa tanh đen, bằng chứng gián tiếp đã biến sự nghi ngờ thành sự thật. Nhưng Ellaline điếc đặc trước từ “thưa bà”. Bọn họ có thể biến cô ấy từ vợ thành góa phụ mà cô ấy cũng chẳng mảy may nhận ra. Cô ấy đang rực cháy với khao khát sở hữu những lớp ren thêu thùa và những chiếc váy lót có diềm xếp nếp đó. Tôi không hiểu tại sao cô ấy lại tỏ ra phấn khích hơn đối với những trang phục mà rất ít người, nếu có, ngoại trừ chính cô ấy nhìn thấy sau khi mặc lên người, so với những trang phục mà mèo và vua có thể ngắm nhìn; nhưng sự việc là thế đấy. Tôi muốn hỏi một chuyên gia xem đây có phải là trường hợp chung của mọi phụ nữ, hay nó là một ngoại lệ.

“Gửi tất cả cùng mũ và váy đi,” tôi nói. Và khi cô ấy trừng mắt và thở dốc, tôi trấn an cô ấy rằng tôi nắm rõ thu nhập của cô ấy hơn chính cô ấy. Bất cứ thứ gì cô ấy thích dưới dạng quần áo đẹp, cô ấy đều có khả năng chi trả.

Thật kỳ lạ thay, ngay cả lúc đó cô ấy vẫn không có vẻ thoải mái. Cô ấy hé môi như muốn nói; vội vã ngậm lại ngay từ từ đầu tiên, nuốt nó một cách khó khăn, thở dài, và trông đầy lo lắng. Tôi thắc mắc không biết có chuyện gì trong đầu cô ấy. Cuối cùng chúng tôi kết thúc bằng việc mua sắm những trang phục phù hợp cho ô tô, cả cho Emily và Ellaline. Tôi nghĩ phụ nữ cũng nên được trang bị “đầy đủ” cho việc đi ô tô hệt như cho việc đi du thuyền, cậu có nghĩ thế không? Và tôi đang mong chờ chuyến đi mà tôi dự định thực hiện. Sẽ rất thú vị khi nghiên cứu những ấn tượng được tạo ra trên thiếu nữ này bởi nước Anh, xứ sở của lịch sử và cái đẹp ——

... thế giới nhỏ bé này,

Viên ngọc quý đặt giữa biển khơi màu bạc –

... nước Anh này.

Cậu sẽ cười vào mặt tôi, có lẽ thế, vì sự “bàn hoài” dài dòng của tôi về ward của mình; nhưng dù sao đi nữa, đừng hiểu lầm nhé. Không phải vì cô ấy xinh đẹp và thu hút (người ta sẽ nói câu đó về một chú mèo con), mà là vì sự tương phản đến giật mình giữa cô gái thực tế và cô gái trong trí tưởng tượng của tôi. Tôi không thể không nghĩ về cô ấy rất nhiều vì lý do này, và những gì tôi suy ngẫm thường được tôi trò chuyện hoặc viết đầy đủ cho cậu, người bạn tốt nhất và lâu đời nhất của tôi. Đó là một thói quen gần một phần tư thế kỷ nay, và tôi không có ý định phá vỡ nó lúc này, đặc biệt là khi cậu đã tỏ ra khá kiên quyết muốn tôi tiếp tục nó khi trở “về nhà” sau bao nhiêu năm trời.

London đã chiếm lấy tôi. Tôi bị mê hoặc bởi nó. Hoặc là nó đã cải thiện khi nó lớn lên, hoặc tôi đang ở trong tâm trạng hài lòng với bất cứ thứ gì của nước Anh. Cậu có nhớ căn phòng cũ kỹ tuyệt vời của Ennis, nơi cậu và tôi từng nghĩ là đỉnh cao của sự xa hoa và vui tươi không? Tôi đã tự hứa với bản thân sẽ quay lại đó một lần nữa, và tôi có ý định dẫn Ellaline và Emily đi ăn tối sau nhà hát tối nay. Tôi nghĩ tôi sẽ để ngỏ bức thư này để kể cho cậu nghe không gian cũ ấy gây ấn tượng với tôi ra sao.

Mười hai giờ rưỡi đêm.

Tôi vừa trải qua một cú sốc. Phòng của Ennis đã chết như cây đinh đóng cửa rồi. Chúng tôi bước vào, sau buổi nhà hát, và đánh thức các Phòng dậy vào một kiểu sống đáng sợ nào đó. Bọn họ “bây giờ không phục vụ nhiều bữa tối nữa đâu thưa ngài,” có vẻ là thế. “Chủ yếu là bữa trưa và bữa tối.”

Các bồi bàn tỏ thái độ với chúng tôi như với những kẻ xâm nhập. Chúng tôi cũng là những vị khách duy nhất, điều đó càng làm tệ hơn, vì mọi sự hằn học đều chút lên đầu chúng tôi; nhưng chúng tôi ngồi chưa được bao lâu tại chiếc bàn ưa thích cũ (thứ duy nhất không thay đổi), cố gắng duy trì một niềm vui giả tạo, thì một nhóm hai người khác mạo muội bước vào.

Đó là gã trẻ tuổi Dick Burden và bà dì của hắn, bà Senter.

Giờ thì, cậu có thể không thấy thế, nhưng chuyện này khá kỳ cục. Sẽ chẳng có gì kỳ cục trong quá khứ khi gặp người bạn thân thiết nhất của cậu từ góc phố, và Vua xứ Ba Tư, tại quán của Ennis. Nhưng rõ ràng “những kẻ tự tìm niềm vui” không còn đến đó nữa. Đó không phải là “mốt”. Vậy thì tại sao cặp đôi này lại chọn quán của Ennis để ăn đêm?

Họ

đâu có rời khỏi nước Anh suốt mười lăm năm như tôi. Nếu bà Senter thỉnh thoảng dành thời gian từ thứ Bảy đến thứ Hai ở Ấn Độ, hoặc đến thăm Nhân sư khi Nhân sư đang vào mùa, bà ấy vẫn luôn quay trở lại London khi “mọi người có mặt ở thị trấn”, và làm những gì mọi người làm ở đó.

Tôi lập tức nghi ngờ rằng Burden đã đưa bà ấy đến với một mục đích: mục đích đó là để có được màn giới thiệu với Ellaline. Sự nghi ngờ có thể có vẻ xa vời; nhưng cậu sẽ không thốt lên điều đó nếu cậu được chứng kiến khuôn mặt của gã thanh niên tại nhà ga xe lửa ở Paris mấy hôm trước. Tôi đã có đặc quyền đó; và tôi đã quan sát vào thời điểm đó mong muốn được làm quen với ward của tôi, mà không cảm thấy một mong muốn tương ứng nào để đáp lại nó. Tôi không biết tại sao mình lại không cảm thấy thế, nhưng tôi không cảm thấy, dù mong ước đó vừa đáng tha lại vừa tự nhiên đối với gã trẻ tuổi. Hắn sở hữu một chiếc cằm quyết đoán; thế nên có lẽ cũng tự nhiên không kém khi thất vọng, hắn kiên trì – thậm chí bám theo, và áp dụng các biện pháp mạnh mẽ (nói cách khác là một người dì) để đạt được mục đích của mình. Cậu thấy đấy, Ellaline là một cô gái vô cùng xinh đẹp và tôi không phải là người duy nhất nghĩ như vậy.

Ý kiến của tôi là, sau khi tìm thấy chúng tôi trên các tờ báo, đang ở tại khách sạn Ritz, gã nhóc hẳn đã bằng cách nào đó tự tìm hiểu về các chuyển động của chúng tôi, chờ đợi cơ hội của mình – hoặc dì của hắn. Tôi mua vé xem nhà hát ở khách sạn. Hắn có thể đã lấy thông tin từ đó; và phần còn lại thì dễ dàng – cho đến quán của Ennis. Tôi sợ phần còn lại cũng thế, bởi vì bà Senter đã chọn chiếc bàn gần nhất với chúng tôi, và sau khi chúng tôi trao đổi những lời chào hỏi đã đề xuất việc nhập bàn. Các chiếc bàn được đẩy sát lại với nhau, và việc giới thiệu vòng quanh là điều hiển nhiên. Nước Anh trẻ tuổi mong đợi mọi người dì đều hoàn thành nghĩa vụ của mình!

Họ vẫn phục vụ đồ ăn rất ngon ở quán của Ennis, nhưng nó khá giống việc ăn “thịt nướng tang lễ”.

Bà Senter chính xác là những gì bà ấy từng là vài năm trước. Có lẽ sẽ là kém hào hiệp nếu gợi nhắc lại trong trí nhớ cậu chính xác là

bao nhiêu

năm trước. Bà ấy, nếu có thể, còn trẻ hơn. Tôi tin có một châm ngôn rằng “Một lần là nữ công tước, mãi mãi là nữ công tước”. Tôi nghĩ phụ nữ ngày nay có một châm ngôn khác: “Một lần ba mươi, mãi mãi ba mươi”; hoặc, “Một lần ba mươi, mãi mãi hai mươi chín”. Nhưng đùa chút thôi, bà ấy là một phụ nữ rất dễ chịu và khá hóm hỉnh, cũng có vẻ thông cảm nữa, dù tôi tin cậu từng nghĩ, khi bà ấy đi săn lùng trái tim ở Vùng Đất Tận Cùng của chúng ta, rằng bản chất bà ấy có phần giống một loài động vật nào đó được người Ai Cập tôn sùng và loài chuột sợ hãi. Bà ấy có vẻ rất quý trọng người cháu Dick, người mà bà bảo đi cùng rất nhiều nơi. “Chúng tôi làm giám hộ cho nhau,” bà ấy diễn tả thế. Bà ấy thương hại tôi vì vụ cháy ở Graylees, nhưng ghen tị với tôi về chuyến đi ô tô.

Chúng tôi sẽ lên đường trong vài ngày tới, lúc này, tôi hy vọng thế, ngay sau khi Ellaline được cho xem vài “đặc điểm” của London. Tôi đã đi xem chiếc xe ngày hôm nay, và nó đẹp tuyệt trần. Tôi sẽ thử lái nó lần đầu tiên vào ngày mai.

Luôn là của cậu,

Pen.

VII

AUDRIE BRENDON GỬI MẸ

Khách sạn Ritz, London,

Ngày 9 tháng Bảy

Mẹ độc tôn và duy nhất của con: Đôi cánh của mẹ nguyện không bao giờ rụng lông! Con hy vọng mẹ không nghĩ con hoang phí khi đánh điện vào ngày hôm qua thay vì viết thư. Con quá bận rộn nướng lớp bột men của những ấn tượng trong con để viết một bức thư đáng đọc; và khi người ta thực sự

chẳng có lấy

một xu dính túi, thì việc tiết kiệm có ích gì chứ? Mẹ biết điểm đồng cảm duy nhất con từng chạm đến với “Sissy” Williams chính là câu nói nổi tiếng của anh ta: “Nếu tôi không kiếm được năm trăm một năm, thì chẳng đáng để bận tâm kiếm bất cứ cái gì”; điều đó đã biện hộ cho việc anh ta an phận làm một “gã nhận kiều hối”, ở căn hộ tầng thượng, với giá bốn mươi franc một tháng.

Cưng ơi, con Rồng chưa từng gầm gừ – kéo lê lần nào cả, cho đến tận bây giờ! Và nhân tiện, cho đến khi hắn làm thế, con nghĩ con sẽ không gọi hắn là Rồng nữa. Điều đó khá là vô cớ, vì con đang ăn cơm của hắn – hay đúng hơn là những món

à la carte

hoàn hảo tuyệt mỹ của hắn, và đang thực sự đắm chìm trong sự xa hoa, từ lúc thức dậy cho đến khi đi ngủ, bằng tiền của hắn.

Con biết, và mẹ biết, bởi vì con đã lặp lại nó từng từ một, rằng Ellaline nói cô ấy nghĩ hắn hẳn đã được trả công hậu hĩnh khi nhận trách nhiệm “giám hộ” cô ấy, vì cái tuýp người lạnh lùng, ích kỷ như hắn chẳng bao giờ làm không công thứ gì; và cô ấy vẫn luôn tỏ ra vô cùng giàu có (hoàn toàn là

nữ thừa kế

của trường, được ghen tị vì những chiếc váy và đặc quyền) đến mức có thể có những sự cám dỗ đối với một kẻ vô lương tâm để hốt nhặt vài mẻ cá béo bở ở đây đó. Nhưng – chà, tất nhiên Ellaline phải biết rõ chứ, sau khi đã là ward của hắn kể từ năm bốn tuổi, và được nghe những câu chuyện từ nguồn tin cậy nhất về cách cư xử kinh khủng mà hắn đối xử với mẹ cô ấy, cũng như phải chịu đựng sự nhẫn tâm tàn nhẫn của hắn suốt bao nhiêu năm nay. Chưa từng có lấy một lá thư viết cho chính cô ấy; chưa từng có dù chỉ một món quà nhỏ nhất; chưa từng có mong muốn được nghe tin tức từ cô ấy, hay nhìn thấy bức ảnh của cô ấy; mọi công việc kinh doanh đều được tiến hành thông qua giữa chính hắn và Madame de Maluet, người quá kín đáo để gieo rắc thành kiến cho ward chống lại người giám hộ. Và con – con mới chỉ gặp hắn vào ngày mốt trước đây lần đầu tiên. Con

có thể biết gì

về hắn chứ? Con chẳng có kinh nghiệm gì trong việc đọc vị tính cách đàn ông. Vị Viện phụ đáng yêu và vài giáo viên trong trường là những người duy nhất con có mối quan hệ xã giao chào hỏi – ngoại trừ “Sissy” Williams, người không đáng được tính đến. Việc tin tưởng vào bản năng của mình là rất nguy hiểm, không còn nghi ngờ gì nữa, bởi vì thật khó để chắc chắn rằng một mong ước không đang ngụy trang dưới lớp bản năng, đánh má hồng và đội tóc giả vàng.

Nhưng rồi, lại có khuôn mặt nghiêng của gã đàn ông, mang kiểu dáng hiệp sĩ thời cổ đại, Thập tự quân, một chiếc móc chính hiệu để treo sự đáng kính lên đó, dẫu con sẽ làm điều bất công nếu để mẹ tưởng tượng rằng nó có

hình dáng

giống cái móc. Không đâu; nó khá đẹp; và người ta cứ thấy mình lén lút, nửa vô thức phác thảo nó trong không khí bằng ngón trỏ khi ngắm nhìn nó. Nó gợi lên dòng dõi quý tộc, và

noblesse oblige,

cùng một dòng dõi dài những tổ tiên là quân nhân, và kiểu đại loại thế, như mẹ vẫn thường bảo là vẫn tồn tại một cách rõ rệt giữa tầng lớp quý tộc Anh và nông dân Anh (không phải ở tầng lớp trung lưu pha tạp) nổi bật hơn bất kỳ nơi nào khác. Điều đó hẳn phải có nghĩa là có sự tương ứng trong tính cách phải không mẹ? Hay đó có thể là một chiếc mặt nạ, được truyền lại qua các dòng dõi quý tộc để che đậy những khiếm khuyết đạo đức của một hậu duệ thoái hóa?

Có phải con đang huyên thuyên những lời nhảm nhí của nữ sinh, hay con đang mò mẫm tìm ánh sáng? Mẹ biết con muốn nói gì mà, dẫu sao đi nữa. Ấn tượng mà Sir Lionel Pendragon để lại trong con sẽ khác đi nếu hắn không được miêu tả bởi Ellaline. Con hẳn đã cho rằng hắn khá dễ đọc vị, nếu hắn tình cờ xuất hiện trước con, không có người báo trước – như một con tàu lớn lướt qua một chiếc thuyền nhỏ giữa biển khơi. Con hẳn đã cho rằng hắn là một nhân vật khá đơn giản, thẳng thắn trong trường hợp đó. Con hẳn đã xếp hắn vào cùng nhóm với lâu đài Tudor của chính hắn – không phải con đã từng tận mắt thấy lâu đài Tudor nào rồi nhé, ngoại trừ trong ảnh hoặc trên bưu thiếp. Nhưng con hẳn đã tự nhủ: Nếu hắn sinh ra là một ngôi nhà thay vì một con người, hắn hẳn đã được xây dựng từ nhiều thế kỷ và nhiều thế kỷ trước, bởi những nam tước mạnh mẽ, những kẻ biết chính xác họ muốn gì và chộp lấy nó. Hắn hẳn sẽ là một lâu đài, một

lâu đài Tudor đời đầu,

có tường chắn mái và được bao quanh bởi một hào nước, được củng cố cố nhiên rồi, và bất khả xâm phạm trước kẻ thù, trừ khi chúng dùng mưu kế cho nổ tung hắn lên. Hắn hẳn sẽ có vài căn phòng bí mật, nhưng chúng sẽ chứa những chiếc rương khobáu chứ không phải những bộ xương gớm ghiếc.

Giờ thì mẹ đã hiểu chính xác những gì con đang nghĩ về kẻ bị cáo buộc là con Rồng, nếu không vì Ellaline. Nhưng ngặt nỗi là thế đấy, con chẳng biết nên nghĩ gì về hắn nữa. Đó là lý do tại sao con miêu tả hắn là phức tạp và rắc rối, bởi vì con đoán bên trong hắn hoàn toàn khác biệt so với những gì hiển hiện bên ngoài.

Dù sao đi nữa, con chẳng bận tâm – thật tuyệt khi được ở khách sạn Ritz. Và chúng ta xuất hiện trên báo sáng nay, Emily và con tỏa sáng dưới ánh sáng phản chiếu; ánh sáng phản chiếu kép của con, hệt như ánh sáng của trái đất chiếu lên mặt trăng, rồi từ đó được truyền qua một thứ khác – một mảnh thiên thạch sứt mẻ tội nghiệp đi lạc ra khỏi Ngân Hà.

Chính bà Norton là người phát hiện ra bài báo viết về Sir Lionel – nửa cột – trên tờ

Morning Post

và bà ấy đã sai người đi mua rất nhiều tờ báo khác mà không nói gì với em trai mình, bởi vì – theo bà ấy – hắn “ghết thể loại đó”.

Con không có thời gian để kể với mẹ trong thư trước rằng bà ấy đã bị ốm khi vượt Eo biển (dù nó phẳng lặng hệt như thể vừa được là ủi, chỉ còn sót lại vài nếp nhăn), nhưng rõ ràng bà ấy coi việc một người phụ nữ bị ốm nhẹ nhàng theo kiểu tiểu thư trên tàu là một phép lịch sự chuẩn mực; thế nên, hiển nhiên là bà ấy bị ốm thật. Và vì con đã tử tế với bà ấy, bà ấy quyết định thích con hơn là bà tưởng lúc ban đầu. Vì lý do nào đó, cả hai người

đều

tỏ ra có thành kiến với con (ý con là chống lại Ellaline) ngay từ đầu. Con không hiểu tại sao; và một cách chậm rãi, với sự ngạc nhiên không thể giấu giếm, họ đang thay đổi suy nghĩ của mình. Việc thay đổi suy nghĩ giúp cho tâm hồn người ta trở nên tốt đẹp, sạch sẽ và tươi mới; thế nên tâm hồn họ sẽ được thông gió kỹ càng, tất cả là nhờ con đấy.

Emily đã trở nên hoàn toàn cam chịu trước sự tồn tại của con và phân phát cho con những tâm sự nhỏ nhoi. Bà ấy vốn không sở hữu một tâm hồn phong phú, và nó chưa từng được bón phân nhiều cho lắm nên có phần cằn cỗi; nhưng dẫu sao thì chẳng có cỏ dại độc hại nào ở đó cả, như những gì

có thể

tồn tại trong mảnh đất rộng rãi và được vun xới kỹ càng hơn của Sir Lionel. Con nghĩ con sẽ hòa hợp với bà ấy khá ổn sau tất cả, đặc biệt là khi đi ô tô, lúc con có thể mang theo thật nhiều ozone cho bà ấy. Tuy nhiên, bà ấy hơi sợ em trai mình, dù hắn kém bà ấy năm tuổi (như con vừa mới biết), nhưng lại vô cùng tự hào về hắn; và thật là đáng thương làm sao, khi chính tay bà cắt dán những bài viết về hắn trên báo sáng nay, và khoe từng mẩu một cho con xem, trước khi dán tất cả vào một cuốn sổ bà đã giữ nhiều năm trời, hoàn toàn chỉ xoay quanh Sir Lionel. Bà ấy bảo một ngày nào đó bà cũng sẽ khoe cuốn sổ đó cho con xem, nhưng tuyệt đối không được nói cho hắn biết. Cứ như thể con sẽ nói thế không bằng!

Nhưng nói về các tờ báo. Bà ấy đã không đặt mua tờ nào theo trường phái Cấp tiến cả, bởi vì bà ấy bảo chúng lúc nào cũng chĩa mũi nhọn vào giới quý tộc, vừa bất công lại vừa ngu ngốc; nhưng bà ấy vô tình mua nhầm một tờ, và mẹ không thể tưởng tượng được người phụ nữ tội nghiệp ấy đã vui mừng đến thế nào khi tờ báo đó ca ngợi em trai bà tận mây xanh. Khi đó bà ấy mới thốt lên rằng hóa ra vẫn có

vài

tên Cấp tiến đàng hoàng đấy chứ.

Tất nhiên, người ta thừa biết sự khác biệt giữa “Mirabeau được đánh giá bởi bạn bè của ông ấy và Mirabeau được đánh giá bởi nhân dân,” và có thể châm chước (nếu hệ tiêu hóa tốt) cho các góc nhìn khác nhau. Nhưng có một điều chắc chắn, cho dù hắn là thiên thần hay ác quỷ, hay một thứ lai tạp giữa hai thái cực đó, Sir Lionel Pendragon vẫn là một nhân vật quan trọng trong Mắt Công chúng. Con tự hỏi liệu Ellaline có nhận ra tầm quan trọng của hắn theo cách đó không? Con không nghĩ cô ấy nhận ra, bằng không cô ấy đã nhắc đến nó rồi, vì điều đó chẳng có gì phải cản trở quan điểm của cô ấy về nhân cách cá nhân của hắn cả.

Chính qua Emily một phần, nhưng chủ yếu là từ những mẩu báo cắt ra, mà con có được kiến thức về những gì hắn đã làm, đã trải qua, và được kỳ vọng sẽ trở thành.

Hắn bốn mươi tuổi. Con biết điều đó, bởi vì tờ

Morning Post

đã đăng ngày sinh của hắn, và hắn khá là một nhân vật có máu mặt, mặc dù chỉ là một nam tước, và thậm chí chưa từng là thế cho đến tận gần đây. Hóa ra là dòng dõi ở cả hai phía đều ngược dòng thời gian trở về những màn sương của thời cổ đại, vào những ngày tháng mà truyền thuyết, được truyền miệng (liệu

mẹ có thể truyền mọi thứ ra từ miệng mình không? Nghe có vẻ thô lỗ), là tiền thân của lịch sử. Tổ tiên bên bố của hắn được cho là hậu duệ của Vua Arthur; do đó mới có cái tên “Pendragon”; mặc dù, con đoán là nếu điều đó là thật, Vua Arthur hẳn thực sự đã kết hôn nhiều lần, như những ghi chép dung tục mà Tennyson đã rất đúng đắn khi không thèm đếm xỉa đến. Đã từng có những công tước và bá tước trong gia tộc, nhưng họ cứ thế biến mất một cách bí ẩn nào đó, có lẽ bởi vì vào những ngày tháng tối tăm dốt nát đó chẳng có những nữ thừa kế người Mỹ nào để chống đỡ cho họ cả.

Có vẻ như Sir Lionel ban đầu là một người lính, và bị thương nặng trong một trận chiến biên giới ở Ấn Độ khi còn rất trẻ. Hắn suýt mất đi khả năng sử dụng cánh tay trái, và từ giã quân ngũ; nhưng hắn nhận được Huân chương Victoria. Ellaline đã không thèm hé răng nửa lời về chuyện đó. Có lẽ cô ấy không biết. Sau khi đọc “hồ sơ” của hắn trên báo, con không thể cưỡng lại việc hỏi hắn vào bữa trưa rằng hắn đã làm gì để xứng đáng nhận Huân chương V.C.

“Chẳng có gì xứng đáng cả,” hắn đáp, trông có vẻ ngạc nhiên.

“Vậy để kiếm được nó thì sao?” con bẻ lái câu hỏi của mình.

“Ồ, tôi không biết nữa – gần như quên bén mất. Kéo một gã ngốc ngớ ngẩn nào đó ra khỏi cái hố, tôi tin là thế,” hắn nói.

Đó là những gì mẹ nhận được khi đặt câu hỏi cho kiểu người Anh thế này về quá khứ của họ. Con cứ tưởng chỉ có mấy bà góa chồng tóc đỏ là loại người tuyệt đối không được bàn về quá khứ của họ chứ.

“Một Chính phủ biết ơn” (theo tờ

Morning Post

) “đã cử chàng thanh niên Pendragon, ở tuổi hai mươi lăm, đến Đông Bengal, làm thư ký riêng cho Sir John Hurley, người lúc bấy giờ là phó thống đốc”; và đó quả là một Thống đốc tồi, có thể nói thế, khi chẳng mang lại lợi ích gì cho ai. Gan của Sir John mệt mỏi với Bengal đến mức ông ta phải mang nó đi nơi khác, và Trung úy Pendragon (khi đó hắn là thế) đã gánh vác mọi việc cho đến khi một người khác kịp đến nơi. Hắn gánh vác chúng xuất sắc đến mức khi vị phó thống đốc tiếp theo làm điều gì đó ngớ ngẩn và được mời từ chức, Sir Lionel chớm nở của chúng ta đã được mời nhận lấy công việc đó. Hắn mới chỉ ba mươi tuổi, và thế là hắn đã làm phó thống đốc suốt mười năm trời. Giờ thì hắn chuẩn bị xem bản thân có thích làm nam tước hơn không, và có lâu đài cùng ô tô riêng không. Tất cả những tờ báo con đọc đều ca ngợi hắn hết lời, và nói rằng trong một cuộc khủng hoảng vốn có thể thảm khốc, hắn đã ngăn chặn được một thảm họa nhờ sức mạnh tính cách đáng kinh ngạc và sự điềm tĩnh của mình. Con đoán đó là thời điểm mà những tờ báo khác buộc tội hắn về những tội ác tàn bạo ghê tởm. Con tự hỏi liệu bên nào mới đúng? Có lẽ con sẽ có thể phán xét, sớm hay muộn, nếu con canh gác ở những ô cửa sổ tò mò về tính cách của hắn hệt như một con mèo canh con chuột chui ra dạo chơi.

Còn về tiền bạc, nếu người ta có thể tin tưởng báo chí, hắn có dư dả mà chẳng cần lắc xu từ khe cắm ngân hàng của Ellaline Lethbridge, và khá là sung túc ngay cả trước khi hắn có được tước hiệu hay lâu đài của mình. Tuy nhiên, khi còn là một thanh niên rất trẻ, hắn có lẽ đã từng nghèo – vào khoảng thời gian hắn nhận trách nhiệm giám hộ.

Nhân tiện, cánh tay trái có vẻ đã hoàn toàn bình thường rồi đấy chứ. Dù sao đi nữa, hắn sử dụng nó đúng cách như những cánh tay được sinh ra để dùng, theo những gì con có thể thấy, thế nên rõ ràng nó đã cải thiện theo thời gian.

Báo chí kể về việc hắn trở về nước Anh, và lâu đài ở Warwickshire của hắn, cùng vụ cháy, và việc bà Norton từ bỏ ngôi nhà ở – một hạt nào đó; con đã quên béng mất cái nào rồi – để đến sống cùng “người em trai lỗi lạc” của bà ấy. Thêm nữa, họ nói rằng hắn có một ward, có mẹ là họ hàng của gia đình, và bố là Tôn kính Frederic Lethbridge, người rất nổi tiếng và được yêu mến trong giới thượng lưu trong những “năm cuối thập niên tám mươi”. Ellaline sinh năm 1891. Con rất muốn biết chuyện gì đã xảy ra với ông ta nhỉ? Có lẽ ông ta đã qua đời trước khi cô ấy chào đời. Cô ấy đã kể với con rằng cô ấy không thể nhớ nổi bố mình, nhưng đó là tất cả những gì cô ấy từng kể về bố mình.

Chúng ta sẽ ở khách sạn Ritz cho đến khi khởi hành chuyến du lịch bằng ô tô, việc mà thực tế sẽ xảy ra, dù con đã sợ rằng nó quá tuyệt vời để có thật. Tuy nhiên, chiếc xe mới sẽ chưa sẵn sàng trong một tuần nữa. Con thấy tiếc, nhưng bà Norton thì không. Bà ấy sợ mình sẽ bị giết, và nghĩ đó sẽ là một cái chết bừa bộn khi phải chết trên xe. Thêm vào đó, bà ấy thích London. Bà ấy bảo em trai mình sẽ “ngập chìm trong những lời mời mòi”; nhưng hắn thì ghét xã hội, và căm ghét việc bị tung hô như sư tử. Hãy tưởng tượng gã đàn ông bị vùi lấp dưới những chồng thư thơm mùi nước hoa, hệt như Tarpeia dưới những chiếc khiên và vòng tay vậy! Emily chưa từng sống ở London, bởi vì bà ấy muốn ở một nơi mà bà đặc biệt quý trọng vị mục sư và bác sĩ; nhưng giờ thì bà ấy đã từ bỏ họ vì em trai mình, và sẽ chỉ viết thư kể về các triệu chứng của mình, cả tinh thần lẫn thể xác. Bà ấy thích nhà thờ hơn bất cứ thứ gì trên đời, nhưng nghĩ rằng đó sẽ là nghĩa vụ của mình khi dẫn con đi tham quan một chút trong lúc chúng ta ở thị trấn, vì em trai bà chắc chắn sẽ không làm thế, bởi vì hắn khinh miệt phụ nữ, và chẳng quan tâm đến bất cứ thứ gì họ làm.

Con đoán chắc bà ấy phải biết rõ; thế mà, vào bữa trưa hôm qua, hắn lại hỏi liệu chúng ta có quá mệt không, hay có muốn “đi xem vài nhà hát” không. Con nói – bởi vì con đơn giản là

bắt buộc

phải tiết kiệm cho họ một cú sốc sau đó – rằng con sợ mình chẳng có bộ đồ nào đẹp đẽ để mặc cả. Con cảm thấy mặt mình đỏ bừng lên – vì đó là một thứ tủi nhục đối với Ellaline – nhưng hắn có vẻ không ngạc nhiên bằng bà Norton. Lông mày của bà ấy nhướn lên; nhưng hắn chỉ bảo tất nhiên nữ sinh thì chẳng bao giờ có những bộ váy sành điệu cả, và con phải đi mua sắm vài chiếc váy ngay lập tức.

Một chiếc váy dạ hội là đủ cho một thiếu nữ, bà Norton nói, nhưng hắn không đồng tình. Hắn bảo hắn chưa nghĩ đến điều đó, nhưng giờ thì nó hiện ra trong đầu, hắn cho rằng phụ nữ nên có thật nhiều thứ đẹp đẽ. Thế rồi, khi bà ấy bảo, có phần vội vã, rằng bà ấy sẽ chọn cho con một vài món may sẵn ở một cửa hàng tốt trên phố Oxford, hắn nhận xét rằng hắn vẫn luôn hiểu đại lộ Bond Street mới là nơi đích thực.

“Không phải dành cho nữ sinh,” Emily thân mến giải thích, vì bà ấy là một người khôn ngoan.

“Con bé không còn là nữ sinh nữa. Chuyện đó xong rồi,” Sir Lionel nói. Và vì bà ấy coi hắn là một vị thần bằng thiếc trên bánh xe, bà ấy liền ngưng tranh cãi.

Nhân tiện, hắn mang phong thái ghét việc phải gọi tên con. Hắn nói “Tiểu thư Lethbridge”, theo một cách kỳ lạ, cứng nhắc nào đó khi hắn hoàn toàn buộc phải dán nhãn cho con; bằng không hắn sẽ thỏa hiệp bằng từ “cô”, thứ hắn thu mình vào đó khi có thể. Điều đó khá kỳ cục và không thể là một sự tình cờ. Lý do duy nhất con có thể nghĩ tới là hắn có thể cảm thấy đó thực sự là nghĩa vụ của mình khi gọi con là “Ellaline”.

Con đã hứa sẽ viết thư cho Ellaline ngay khi có điều gì đáng kể để kể, và con đoán con phải làm việc đó hôm nay; thế mà con vẫn thấy sợ và không thể hạ quyết tâm bắt đầu. Con không thích ca ngợi một kẻ mà cô ấy coi là quái vật; dẫu vậy con chẳng có điều gì để chống lại hắn cả; và con chắc chắn cô ấy sẽ cáu nếu con không bôi nhọ hắn. Con nghĩ con sẽ trình bày các sự thật một cách trần trụi. Khi con nhận được các khoản tiền trợ cấp được phân bổ – dành cho Ellaline, dĩ nhiên – con sẽ gửi tiền cho cô ấy, ngoại trừ một khoản vừa đủ để không bị nhận ra là nghèo rớt mồng tơi. Con sẽ gửi thư cho cô ấy tại địa chỉ Mademoiselle Leonie de Nesville, gửi Poste Restante, bởi vì trong lúc con được biết đến với cái tên Tiểu thư Lethbridge, sẽ có vẻ kỳ cục nếu con gửi những chiếc phong bì đề tên cho một người có cùng tên với chính mình. Chính Ellaline là người đề xuất điều đó, chứ không phải con. Cô ấy nghĩ ra mọi chuyện. Dù cô ấy còn trẻ con ở một vài phương diện, cô ấy lại vô cùng xuất sắc trong việc mưu tính.

Con thực sự vẫn chưa thể nghĩ ra mình

sẽ

nói gì với cô ấy nữa. Nó đang làm con lo lắng. Con cảm thấy có lỗi, chẳng hiểu tại sao.

Bà Norton đề nghị đưa con đi mua sắm và ngắm cảnh chiều nay. Sir Lionel đề nghị đi cùng chúng ta. Chị gái hắn kinh ngạc, và con cũng thế, đặc biệt là sau những gì bà ấy đã nói về việc hắn không quan tâm đến chuyện phụ nữ. “Chỉ để chắc chắn là cô làm theo lời khuyên của tôi về đại lộ Bond Street thôi,” hắn nhận xét. “Và đại lộ Bond Street từng làm tôi thích thú – khi tôi mới đôi mươi. Tôi nghĩ nó sẽ làm tôi thích thú lúc này – để xem nó và tôi đã thay đổi ra sao.”

Thế là chúng ta đi, cả ba người. Khá là khủng khiếp khi nghĩ đến bộ đồ dạ xám và chiếc mũ thủy thủ phải không mẹ? Con cảm thấy tôn trọng chính mình khi mặc chúng ở Versailles, và thậm chí ở Paris, bởi vì ở đó con là một giáo viên thanh nhạc; nói cách khác, chẳng là ai cả. Nhưng ở London con được coi là một nữ thừa kế. Và ở đây, tại khách sạn Ritz, những sinh vật tuyệt đẹp cứ đến ăn trưa trong những bộ váy mà rõ ràng họ đã được rót vào đó với sự khéo léo tuyệt đỉnh và chi phí không thể tin nổi.

Con vừa được nếm món

Pêche Melba

ngày hôm nay, lần đầu tiên trong đời. Nó khiến con khao khát có mẹ bên cạnh. Nhưng trông nó chẳng hợp tẹo nào với bộ đồ dạ xám và chiếc áo blouse cotton cả. Đáng lẽ con phải là một Sinh vật Lộng lẫy, với lớp lót bằng lụa mới phải.

Làm sao con có thể chịu đựng được màn tra tấn mua sắm đây? Giả sử bà Norton chọn cho con những món đồ (ôi kinh hoàng!). Chúng chắc chắn sẽ gớm ghiếc, nhưng có thể rất đắt đỏ. Như đã viết trong một tờ báo xã hội Anh mà Madame de Maluet đặt mua: “A. nên làm gì đây?”

Ước gì Thần giao cách cảm là một dịch vụ đang hoạt động, thì mẹ đã trả lời cái Vụ án Khó nhằn đó cho

Đứa con tội nghiệp bối rối của mẹ,

“A.”

bí danh

“E.”

P.S. Không có thêm tin tức hay hình bóng gì về Gánh nặng của Người Phụ nữ Da trắng, Richard thuộc dòng dõi đó. Con đã sợ hắn sẽ xuất hiện ở Khách sạn Grand ở Paris, hay thậm chí ở nhà ga để “tiễn chúng ta”, nhưng hắn không xuất hiện. Hắn đã biến mất vào không gian, và cứ tự do tận hưởng toàn bộ không gian đó đi. Con suýt đã quên béng hắn nếu đôi khi con không tự hỏi nghề nghiệp bí ẩn của hắn rốt cuộc là gì.

VI

SIR LIONEL PENDRAGON GỬI ĐẠI TÁ PATRICK O'HAGAN,

TẠI DROITA, ĐÔNG BENGAL

Khách sạn Ritz, London,

Ngày 8 tháng Bảy

Pat thân mến của tôi: Cậu đúng, tôi sai.

Trở về nước Anh quả thực là

tuyệt vời.

Lời tiên tri của cậu đã thành sự thật. Quá khứ đã chết coi như đã chôn vùi những gì đã chết của nó khá ổn thỏa. Vài khúc xương khô lộ ra dưới bề mặt ở đây và ở đó. Tớ là chó đấy phỏng mà phải đi đào bới xương cốt đã chôn chứ!

Như cậu biết đấy, tôi đã ngu ngốc đến mức sợ hãi việc đặt chân đến Paris. Tôi sợ nó trong suốt cả chuyến hải trình. Khi đến Marseille, tôi nhận được một bức điện từ Emily, nói rằng bà ấy sẽ gặp tôi ở Paris. Lại ngu ngốc lần nữa! Tôi cứ đinh ninh rằng bà ấy đang tự chuốc lấy phiền phức đó với mong muốn tốt bụng là “sát cánh bên tôi”, và đánh lạc hướng suy nghĩ của tôi khỏi những ngày tháng cũ. Nhưng lẽ ra tôi phải khôn ngoan hơn chứ, khi biết rõ tâm hồn nhỏ bé thực tế và tốt bụng đó. Bà ấy có một mục đích hoàn toàn khác. Đến để báo tin dữ về một vụ cháy ở Graylees; nhưng có vẻ như nó không gây ra thiệt hại nghiêm trọng nào, ngoại trừ việc xóa sổ vài chi tiết rườm rà hiện đại. Chúng có thể dễ dàng được đắp vá lại. Tôi mừng vì mọi chuyện không tệ hơn thế, bởi vì tôi yêu Graylees. Tôi có lẽ đã trở thành một gã tồi tệ hơn nếu không có triển vọng được thừa kế nó sớm hay muộn. Người ta buộc phải sống xứng đáng với một số thứ, và Graylees chính là một nguồn khích lệ.

Cậu đã bảo tôi cho biết liệu Emily đã thay đổi chưa. Chà, bà ấy có thay đổi. Đã mười tám năm kể từ khi cậu gặp lại bà ấy; mười lăm năm kể từ lần cuối cùng của tôi. Tôi phải nói thật với cậu, cậu sẽ chẳng có chút hối tiếc tình cảm nào nếu được chứng kiến bà ấy lúc này. Cậu sẽ nhớ, nếu không quá hào hiệp, rằng bà ấy lớn hơn cậu ba tuổi; ba năm đó có vẻ đã kéo dài thành một tá. May mắn là cậu đã không để việc Norton giật phắt Emily khỏi mũi cậu làm tổn hại đến má hay tim. Chẳng có gì bị tổn hại cả. Cậu vẫn lành lặn và nguyên vẹn, và đó là lý do tại sao tình bạn của cậu lại là một món quà vô giá đối với tôi. Cậu đã cứu tôi khỏi việc đâm đầu vào rất nhiều cối xay gió.

Tôi đoán cậu sẽ nghĩ tôi đang “dạo đầu” lúc này, để trì hoãn khoảnh khắc tồi tệ khi phải kể cho cậu nghe về đứa con gái của Ellaline de Nesville. Nhưng không đâu. Lần này thì cậu đoán sai về tôi rồi. Suy cho cùng, đó không phải là một khoảnh khắc tồi tệ. Tôi ngạc nhiên về chính mình, và nhân đôi sự ngạc nhiên về cô gái; và cả hai sự ngạc nhiên đều dễ chịu cả.

Tôi không hỏi cậu có nhớ Ellaline hay không; bởi vì bất kỳ ai từng nhìn thấy cô ấy đều không thể quên được; ít nhất, với tôi là thế, sau bao nhiêu năm trời, và bao nhiêu sự thay đổi trong chính bản thân tôi. Như tôi lúc này, cô ấy là tuýp người cuối cùng mà tôi sẽ rơi vào lưới tình, giả sử tôi đủ ngu ngốc để mất trí vì bất kỳ ai. Tuy nhiên, tôi không thể lấy làm lạ về sự tôn sùng mà tôi từng dành cho cô ấy. Cô ấy chính xác là tuýp con gái có thể khơi gợi tình yêu của một cậu thiếu niên, và cô ấy đã chiếm trọn tình yêu của tôi, gã khờ dại tội nghiệp mà tôi từng là. Không có gì đáng thương hơn, tôi nghĩ ở khoảng cách này, sự trong trắng đầy đam mê của một thiếu niên trong mối tình đầu của mình – ngoại trừ sự vỡ mộng của cậu ta; bởi vì sự vỡ mộng chẳng mang lại điều tốt đẹp gì cho bản chất con người cả. Nó hẳn đã tàn phá bản chất tôi ghê gớm nếu tôi không có một người bạn như cậu để rên rỉ và cằn nhằn.

Cậu hiểu tôi vẫn luôn cảm nhận thế nào về đứa trẻ này – người mà cô ấy mong tôi chăm sóc. Tôi chắc chắn rằng Ellaline Số 2 sẽ lớn lên giống hệt Ellaline Số 1 hệt như bông hồng mùa hè này giống bông hồng mùa hè trước, nở trên cùng một bụi cây.

Vào lúc bốn tuổi, sinh vật nhỏ bé ấy chắc chắn mang một vẻ giống búp bê của mẹ nó. Tôi nhớ mang máng rằng nó sở hữu đôi mắt to sẫm màu của Ellaline thứ nhất, tràn ngập vẻ ngượng ngùng chớm nở, và hàng lông mi đen uốn cong mà cô tiểu thư nhỏ đã biết cách sử dụng bằng bản năng. Cả cái miệng kiểu ấy nữa, thứ mà ngắm nhìn nó khiến một thiếu niên tin vào một vị thần Tình yêu cá nhân, và một người đàn ông tin vào một ác ma cá nhân. Tôi có một ký ức mờ nhạt về mái tóc màu nâu hạt dẻ, xõa xung quanh một khuôn mặt nhỏ nhắn mang hình dáng của Ellaline; “hình trái tim” là cách tôi và Emily vẫn hay gọi, khi cả hai đều nằm dưới quyền cai quản của cô em họ người Pháp bé nhỏ của chúng tôi, vào những ngày đầu tiên xa xưa nhất, thậm chí trước cả khi Emily bắt đầu nhận ra bản chất thật của cô ấy.

Tôi tự hỏi liệu một đứa trẻ có thay lớp tóc đầu đời giống như thay những chiếc răng sữa không nhỉ? Tôi chưa bao giờ để tâm nhiều lắm đến các hiện tượng trẻ con thuộc bất kỳ loại nào; tuy nhiên, tôi nghiêng về niềm tin lúc này rằng hẳn phải có những trường hợp như thế. Tất nhiên, chúng ta đều biết một tuýp tóc vàng nhưng sinh ra là tóc nâu; ví dụ như bà Senter, người dì quyến rũ của gã trẻ tuổi Burden, người mà chúng ta từng nghi ngờ đã biến thành tóc vàng chỉ sau một đêm (nhân tiện, tôi đã vô tình chạm trán ai ở Paris nếu không phải là Dicky, kẻ đã lớn lên ít nhiều kể từ khi hắn làm giám hộ cho đám phụ nữ nhà hắn ở Viễn Đông). Nhưng tôi không nói về những người như bà Senter trên thế giới này; tôi đang nói về đứa con gái bất ngờ của Ellaline. Cô ấy đã thay đổi gần như không thể tin nổi trong khoảng thời gian từ bốn đến mười chín tuổi.

Trước khi tôi biết ý định muốn gặp tôi ở Paris của Emily, tôi đã viết thư cho mụ hiệu trưởng trường nữ sinh yêu cầu ward của tôi được gửi đến ga Gare de Lyon với người giám hộ đi kèm cẩn thận. Đối mặt với một thiếu nữ hiện đại, được tô điểm bằng tất cả những cải tiến mới nhất và những trò khéo léo nơi phòng khách đã đủ tệ rồi. Đối mặt với hàng tá những sinh vật như thế trong hang ổ của chúng lại càng tệ hơn; thế nên, tôi đã chùn bước khi phải tự mình đi gom ward ở Versailles. Tôi sẽ nhận ra cô ấy qua một bông hồng gài trên ngực áo trong trường hợp cô ấy đã thay đổi đến mức không thể nhận ra. Thật may mắn, xét theo cách mọi chuyện diễn ra, là tôi đã đưa ra gợi ý đó, bằng không cô ấy hẳn đã phải quay lại Versailles, hệt như một bưu phẩm vô chủ; và điều đó sẽ thật tệ, bởi vì cô ấy không có người giám hộ đi cùng. Đã có chuyện gì đó xảy ra với người phụ nữ, hoặc với họ hàng của người phụ nữ đó. Tôi suýt quên béng mất rồi.

Thay vì vóc dáng Tanagra tinh tế trong những bộ diềm xếp nếp kiểu Pháp sành điệu mà tôi mong đợi, lại xuất hiện một thiếu nữ cao gầy, xinh đẹp với phong thái của nữ thần Atalanta và trang phục của một nữ tín đồ phái Quaker. Cô ấy đã gán nhầm tên tôi cho người đàn ông khác, bằng không tôi đã let cô ấy đi, bất chấp bông hồng, vì cô ấy quá khác biệt so với những gì tôi tưởng tượng. Và cậu sẽ thấy buồn cười khi nghe rằng ý tưởng của cô ấy về Lionel Pendragon lại được hóa thân bởi lão “Hannibal” Jones, kẻ đã lên chuyến tàu của tôi ở Marseille. Giờ thì hắn đã đổi sang chẻ tên làm đôi rồi và là Tướng Wellington-Jones. Lẽ ra cô ấy phải biết xấp xỉ tuổi của tôi, hoặc có thể tìm hiểu nếu cô ấy bận tâm; nhưng tôi đoán đối với tuổi mười chín, bốn mươi cũng chẳng khác gì sáu mươi cả. Đó là điều cần ghi nhớ, nếu người ta cảm thấy nhựa sống đang sục sôi trong các cành cây của mình, chỉ để nhắc nhở bản thân rằng rốt cuộc đó không phải mùa xuân, mà là mùa thu. Và ngay tại thời điểm này, nhân tiện, tôi không chắc mình có cần đến cái sự dội gáo nước lạnh kiểu này hay không, bởi vì tôi đang cảm thấy trẻ trung đến mức nghĩ rằng chắc mình đang trẻ lại. Tôi đã bắt đầu trân trọng những gì còn sót lại của tuổi trẻ; lôi nó ra và ngắm nhìn nó dưới mọi ánh sáng, hệt như một trái cây phải được ngắm nghía thèm thuồng trước khi nó thối rữa – và đó là một dấu hiệu chí mạng, phải không cậu? Tôi có một sự quan tâm phi thường đến cuộc sống, mà tôi quy cho chiếc xe ô tô mới sẽ được hoàn thành và sẵn sàng sử dụng trong vài ngày tới; đồng thời cũng là ý nghĩ rằng Graylees thuộc về chính tôi.

Nhưng tôi đang lan man đi xa khỏi cô gái ấy rồi.

Cô ấy hoàn toàn không giống Ellaline de Nesville, hệt như một tập đầu tiên được đóng bìa đẹp đẽ của một tài liệu nhân văn này với một tập khác có sức hấp dẫn tương đương. “Tập đầu tiên của một tài liệu nhân văn” không phải là một cách nói không diễn tả được một thiếu nữ đúng không? Chúa mới biết cô ấy sẽ là người thế nào vào lúc tập thứ hai và thứ ba sẵn sàng xuất bản; nhưng hiện tại người ta cứ lật từng trang giấy với sự ngạc nhiên đầy thích thú. Có cái gì đó nguyên bản và quyến rũ trong từng trang mới.

Lớp tóc đầu tiên của cô ấy chắc chắn đã rụng, bởi vì mớ tóc hiện tại – và có rất nhiều tóc ấy chứ! – mang màu nâu ngả vàng rực rỡ; trông giống giống tóc của một trẻ em, bằng cách nào đó. Có những lọn xoăn nhỏ và những nếp uốn quanh đó mà tôi cho rằng được tạo ra bởi chiếc kẹp uốn tóc của tự nhiên, dù tôi có thể nhầm lẫn. Và tôi đoán mình hẳn đã tự lừa dối bản thân về đôi mắt của đứa trẻ, bởi vì chúng không hề đen, mà có màu hạt dẻ pha xám, có thể trông như màu nâu hoặc tím vào ban đêm. Cô ấy là một thiếu nữ cao ráo, mảnh mai và thẳng tắp như một chồi cây, với phong cách cởi mở, thành thật, vô cùng thu hút. Tôi ngạc nhiên và thích thú ngắm nhìn cô ấy, và nhận ra cô ấy đang nhìn tôi với một biểu cảm mà tôi không thể tài nào hiểu nổi. Tôi gần như không dám thả lỏng bản thân để thích cô ấy, vì sợ thất vọng. Cô ấy có vẻ quá tuyệt vời để là sự thật, quá tuyệt vời để có thể kéo dài. Tôi cứ tự hỏi không biết nữ tổ tiên nào của Ellaline de Nesville, hay của Fred Lethbridge, đang nhìn ra từ những ô cửa sổ màu thiên thanh chính là đôi mắt của cô gái này. Nếu linh hồn của Fred, hay của Ellaline, đang lấp ló sau những ô cửa kính trong suốt và tươi sáng ấy, thì nó cũng khéo léo che giấu bản thân rất kỹ – cho đến nay. Nhưng tôi chuẩn bị tinh thần cho mọi chuyện.

Cho đến nay tôi không hề hay biết rằng một phụ nữ trẻ có thể trở thành một “chi hữu” tuyệt vời đối với một người đàn ông, đặc biệt là một người đàn ông ở độ tuổi của tôi. Có lẽ đây là sự thiếu hiểu biết của tôi về giới tính đó (vì tôi thừa nhận mình đã khóa cuốn sách về Phụ nữ lại, và không bao giờ mở nó ra lần nữa, kể từ chương của Ellaline), hoặc có lẽ các cô gái đã thay đổi kể từ “những ngày tháng dũng cảm khi chúng ta tuổi đôi mươi”. Vào kỷ nguyên xa xôi đó, theo những gì tôi có thể khám phá ra bằng cách phủi lớp bụi trên những kỷ vật phai tàn, người ta hoặc là tán tỉnh các cô gái, hoặc là không. Họ ở đó để khiêu vũ cùng, để tán tỉnh cùng, và để cùng chèo thuyền trên sông, chứ không phải để bàn chuyện chính trị, hay trao đổi quan điểm về vũ trụ. Họ – những người xinh đẹp nhất – hẳn sẽ nghĩ rằng thời gian quý báu đã bị lãng phí trong những cuộc thảo luận như thế. Thế mà ở đây lại có cô gái này, chưa tròn hai mươi, một đứa trẻ vừa bước ra khỏi trường học – hơn nữa lại là một trường học ở Pháp – rạng rỡ với sức mạnh của tuổi trẻ, sắc đẹp, tính nữ của mình; thế mà cô ấy có vẻ thực sự quan tâm đến những vấn đề của cuộc sống không liên quan đến chuyện yêu đương. Cô ấy có vẻ thích nói chuyện nghiêm túc, và cô ấy có khiếu hài hước, tinh tế hơn nhiều so với cái thứ khiếu hài hước con nít đơn thuần thuộc về tuổi của cô ấy – hay sự thiếu vắng tuổi tác của cô ấy. Tôi đã sợ hãi trách nhiệm phải chăm sóc cô ấy, nhưng tôi còn sợ hơn việc cảm thấy chán ngán bởi cô ấy, bị tán tỉnh bởi cô ấy. Tôi thề là tôi không thể chịu đựng nổi điều đó từ kiểu con gái mà tôi chuẩn bị sẵn sàng để gặp; nhưng như tôi đã nói, tôi đã tìm thấy một “chi hữu” – nếu tôi dám tin vào cô ấy. Thay vì tránh né sự xã giao của ward, và đẩy nó cho Emily như dự định ban đầu, tôi tự bào chữa cho bản thân bằng cách bịa ra những cái cớ để đắm mình trong đó.

Hôm nay, ví dụ như thế, cậu nghĩ tôi đã làm gì? Một chuyến đi mua sắm được đặt ra. Emily, người vốn chưa bao giờ có gu thẩm mỹ tốt trong trang phục, và giờ thì tự ăn mặc hệt như để chuộc tội cho tội lỗi, dường như biết khi nào những phụ nữ khác ăn mặc tồi tàn. Bà ấy nghĩ rằng các thiếu nữ nên ăn mặc giản dị là đúng đắn, nhưng cho rằng trong trường hợp của Ellaline thì sự giản dị đã bị đẩy đi quá xa. Cậu thấy đấy, bà ấy không biết những gì cậu và tớ biết về cái kết tồi tệ của gã Lethbridge khốn khổ đó, và tin rằng con gái hắn có rất nhiều tiền, hoặc sẽ có khi đủ tuổi trưởng thành. Tất nhiên, tôi không vạch trần cho bà ấy. Emily là một người tốt, nhưng quá nguyên tắc trong những vấn đề tiền bạc, và nếu biết sự thật bà ấy có thể có xu hướng siết chặt hầu bao. Thậm chí bà ấy có thể bị cám dỗ để bóng gió điều gì đó phiền toái với cô gái tội nghiệp này, nếu đứa trẻ làm bà phật ý vì bất kỳ sự tiêu xài hoang phí nhỏ nhặt nào; trong khi tôi không đời nào muốn con gái của Ellaline phải đoán rằng cô ấy mang ơn bất cứ thứ gì đối với tôi.

Emily đề nghị chọn váy cho tiểu thư Lethbridge; đúng lúc đó tiểu thư trẻ tuổi ấy ném về phía tôi một cái nhìn tuyệt vọng vô cùng hài hước – một cái nhìn mà tôi nghĩ là không có sự cố ý – khiến tôi suýt phì cười. Tôi nhìn thấu những gì đang diễn ra trong đầu cô ấy! Và nếu cậu tin tôi, O'Hagan, tôi đã tự nguyện đi cùng họ.

Sau khi đã dấn thân, tôi có mọi cảm giác của một con ruồi bị dính trên tờ keo dán ruồi, hay một tù nhân chiến tranh bị xiềng vào chiến xa La Mã; nhưng rốt quốc tôi đã vô cùng tận hưởng nó. Không có điều gì tốt đẹp hơn xảy ra với tôi kể từ khi tôi còn được dẫn đi ngắm các cửa hàng đồ chơi vào ngày trước lễ Giáng sinh. Không, ngay cả buổi biểu diễn kịch câm đầu tiên của tôi cũng không thể đánh bại trải nghiệm này!

Linh hồn tiết kiệm của Emily đòi hỏi phố Oxford. Tôi giữ vững lập trường dành cho Bond Street, và đã đạt được ý mình. (Cậu sẽ cười vào đây thôi. Cậu vẫn bảo tôi luôn đạt được ý mình mà.) Ý tưởng của tôi là tự biến mình thành một dạng Cơn Cứu Cuối Cùng, hoặc Tòa án Phúc thẩm. Tôi định để Emily đưa ra lời khuyên, nhưng sẽ hất cẳng bà ấy nếu bà ấy phạm phải những điều tàn bạo. Cửa hàng đầu tiên, tuy nhiên, đã khiến tôi ngất ngây. Đó là một trong những nơi mà cậu bước vào một kiểu phòng khách với những ma-nơ-canh, hoặc bất cứ từ nào cậu gọi chúng – những quý cô thon thả, không đầu trong những chiếc váy mẫu – được nhóm lại với nhau, và những quý cô thon thả không kém nhưng đầu dài trong những chiếc đuôi sa tanh đen, khoe những người chị em ma-nơ-canh của họ.

Chính những con ma-nơ-canh đã làm tôi say sưa. Tôi nhìn thấy cái đầu của Ellaline – trong trí tưởng tượng – nhô lên ở phía trên cùng của tất cả những chiếc váy mẫu xinh xắn nhất. Chúng cũng vô cùng giản dị, những chiếc hấp dẫn nhất; có vẻ hoàn hảo dành cho một thiếu nữ. Emily bước lướt qua chúng hệt như thể chúng là những người quen thô tục đang cố gắng thu hút ánh nhìn của bà tại một buổi vũ hội của nữ công tước, nhưng chúng đã tóm được tôi. Có một thứ màu trắng dành cho trang phục dạo phố, trông hệt như được may riêng cho Ellaline, và một chiếc váy phồng màu xanh lam, khoét ngổ ngỏ ở cổ, chính xác là màu sắc phù hợp để làm nổi bật mái tóc của cô ấy. Sau đó là một lớp voan hồng mỏng manh, với những vòng hoa hồng nhỏ xíu rải rác khắp nơi – khiến tôi nghĩ đến mùa xuân. (Tôi đã bảo cậu là tôi đã mất trí rồi cơ mà?)

Tôi ngăn ward của mình lại, chỉ cho cô ấy những thứ đó, và hỏi cô ấy có thích chúng không. Cô ấy bảo có, nhưng chúng sẽ đắt cắt cổ. Cô ấy sẽ không thèm nghĩ đến việc mua những giấc mơ đó đâu. Cùng lúc đó, một trong những quý cô sa tanh lướt đến (người mà nhìn từ phía sau trông chính xác hệt như một con cá tuyết đen ẩm ướt với chiếc đuôi dài; tôi tin đó là phong cách “Directoire”); và lướt đi trên một biển thảm màu xanh nhạt, bà ta tình nguyện cung cấp thông tin rằng những “chiếc váy nhỏ” này là những “bài thơ”, vô cùng phù hợp với phong cách của – tôi cứ ngóng bà ta sẽ gọi là “con gái” tôi. Thay vào đó, bà ta lại kết thúc câu nói bằng một từ “thưa bà” khiến khuôn mặt dạn dày sương gió của tôi đỏ bừng lên. Tuy nhiên, tôi là người duy nhất đỏ bừng mặt trong số những người liên quan, tôi đảm bảo đấy! Cô gái mỉm cười nhìn thẳng vào mắt tôi, với một ánh lấp lánh tinh nghịch, và chẳng mảy quan tâm chút nào. Một thế hệ trước hẳn sẽ làm dáng, nhưng thiếu nữ này chẳng có lấy một chút làm dáng nào cả.

Tôi nói “Nhảm nhí”, cô ấy dư khả năng mua những chiếc váy đó. Cô ấy tranh cãi, và Emily quay lại để giúp cô ấy hình thành một hình vuông rỗng. Cả hai đều chống lại tôi, nhưng tôi khăng khăng, và con cá tuyết là một đồng minh vô cùng quyền lực.

“Chúng có vừa với cô không?” tôi hỏi cô gái.

“Vâng, chúng vừa với tôi, tôi dám chắc thế. Nhưng ——”

Thế là xong.

“Chúng ta lấy hết,” tôi nói. Và sau đó, vì đã mất trí, tôi bắt đầu do thám nơi đó, chĩa gậy vào những thứ khác thu hút sự chú ý của tôi. Con cá tuyết ủng hộ tôi trong từng bước đi, và những con cá tuyết khác lướt trên vùng biển thảm xanh, với những chiếc mũ chắc chắn được mang từ những hang san hô không thấy rõ. Hầu hết chúng là những chiếc mũ khổng lồ, nhưng vô cùng thu hút, theo cách này hay cách khác, với vành mũ rộng rủ xuống nhỏ giọt hoa hồng hoặc sủi bọt lông đà điểu. Tôi bắt Ellaline tháo ra chiếc đĩa bơ tròn nhỏ xíu đang đội trên đầu, vốn rất xấu xí tự thân nó, dẫu cách nào đó trông nó hệt như hào quang của vị thánh trên đầu cô ấy; và lẩm bẩm những lời khen ngợi về mái tóc của “thưa bà”, những nàng còi báo động cá tuyết đã thử chiếc mũ này đến chiếc mũ khác. Tôi mua tất cả, mà chẳng thèm hỏi giá, bởi vì chiếc nào cũng tôn lên vẻ đẹp của cô gái hơn chiếc trước, và việc không mua tất cả chẳng khác nào cố tình phá hủy ngần ấy bức họa Gainsborough hoặc Sir Joshua nguyên bản.

Nhân tiện, mái tóc của đứa trẻ có sức sống phi thường. Nó phụt lên thành hai đợt dày, rực rỡ, sáng ngời trên trán trắng ngần của cô ấy, hệt như khởi đầu của một đài phun nước mạnh mẽ – một nền tảng vô cùng dễ chịu cho một chiếc mũ.

Thấy tôi đã phát điên, mấy con cá tuyết ranh mãnh liền chớp lấy trạng thái của tôi, và trưng ra những thứ trước mắt tôi mà Emily ngay lập tức cấm tôi không được nhìn. Sự thật là đó là những món đồ không thường thấy đối với một gã đàn ông độc thân, ngoại trừ trong các cửa hàng và trên các trang quảng cáo của tạp chí phụ nữ, nhưng váy lót lụa và diềm ren mỏng như tơ nhện chẳng có chút phẩm chất Gorgon nào cả, và tôi đã không hóa đá trước cảnh tượng đó. Thậm chí tôi còn tìm thấy sự can đảm để hỏi đám đông chung quanh xem đó có phải là thứ mà các thiếu nữ nên có trong tủ quần áo của họ hay không. Câu trả lời là hoàn toàn khẳng định.

“Cô đã có đủ tất cả những gì mình muốn chưa, hay có thể dùng thêm nữa?” tôi hỏi ward của mình.

“Tôi sẽ chẳng nhận ra chính mình trong những phép màu thế này đâu,” cô ấy nói, thở dốc, mắt rất sáng, và má hồng hơn so với lúc cô ấy bị nghi ngờ là cô dâu. Cô ấy vẫn bị nghi ngờ là cô dâu; thực tế, tôi nghĩ trong tâm trí của những con cá tuyết sa tanh đen, bằng chứng gián tiếp đã biến sự nghi ngờ thành sự thật. Nhưng Ellaline điếc đặc trước từ “thưa bà”. Bọn họ có thể biến cô ấy từ vợ thành góa phụ mà cô ấy cũng chẳng mảy may nhận ra. Cô ấy đang rực cháy với khao khát sở hữu những lớp ren thêu thùa và những chiếc váy lót có diềm xếp nếp đó. Tôi không hiểu tại sao cô ấy lại tỏ ra phấn khích hơn đối với những trang phục mà rất ít người, nếu có, ngoại trừ chính cô ấy nhìn thấy sau khi mặc lên người, so với những trang phục mà mèo và vua có thể ngắm nhìn; nhưng sự việc là thế đấy. Tôi muốn hỏi một chuyên gia xem đây có phải là trường hợp chung của mọi phụ nữ, hay nó là một ngoại lệ.

“Gửi tất cả cùng mũ và váy đi,” tôi nói. Và khi cô ấy trừng mắt và thở dốc, tôi trấn an cô ấy rằng tôi nắm rõ thu nhập của cô ấy hơn chính cô ấy. Bất cứ thứ gì cô ấy thích dưới dạng quần áo đẹp, cô ấy đều có khả năng chi trả.

Thật kỳ lạ thay, ngay cả lúc đó cô ấy vẫn không có vẻ thoải mái. Cô ấy hé môi như muốn nói; vội vã ngậm lại ngay từ từ đầu tiên, nuốt nó một cách khó khăn, thở dài, và trông đầy lo lắng. Tôi thắc mắc không biết có chuyện gì trong đầu cô ấy. Cuối cùng chúng tôi kết thúc bằng việc mua sắm những trang phục phù hợp cho ô tô, cả cho Emily và Ellaline. Tôi nghĩ phụ nữ cũng nên được trang bị “đầy đủ” cho việc đi ô tô hệt như cho việc đi du thuyền, cậu có nghĩ thế không? Và tôi đang mong chờ chuyến đi mà tôi dự định thực hiện. Sẽ rất thú vị khi nghiên cứu những ấn tượng được tạo ra trên thiếu nữ này bởi nước Anh, xứ sở của lịch sử và cái đẹp ——

... thế giới nhỏ bé này,

Viên ngọc quý đặt giữa biển khơi màu bạc –

... nước Anh này.

Cậu sẽ cười vào mặt tôi, có lẽ thế, vì sự “bàn hoài” dài dòng của tôi về ward của mình; nhưng dù sao đi nữa, đừng hiểu lầm nhé. Không phải vì cô ấy xinh đẹp và thu hút (người ta sẽ nói câu đó về một chú mèo con), mà là vì sự tương phản đến giật mình giữa cô gái thực tế và cô gái trong trí tưởng tượng của tôi. Tôi không thể không nghĩ về cô ấy rất nhiều vì lý do này, và những gì tôi suy ngẫm thường được tôi trò chuyện hoặc viết đầy đủ cho cậu, người bạn tốt nhất và lâu đời nhất của tôi. Đó là một thói quen gần một phần tư thế kỷ nay, và tôi không có ý định phá vỡ nó lúc này, đặc biệt là khi cậu đã tỏ ra khá kiên quyết muốn tôi tiếp tục nó khi trở “về nhà” sau bao nhiêu năm trời.

London đã chiếm lấy tôi. Tôi bị mê hoặc bởi nó. Hoặc là nó đã cải thiện khi nó lớn lên, hoặc tôi đang ở trong tâm trạng hài lòng với bất cứ thứ gì của nước Anh. Cậu có nhớ căn phòng cũ kỹ tuyệt vời của Ennis, nơi cậu và tôi từng nghĩ là đỉnh cao của sự xa hoa và vui tươi không? Tôi đã tự hứa với bản thân sẽ quay lại đó một lần nữa, và tôi có ý định dẫn Ellaline và Emily đi ăn tối sau nhà hát tối nay. Tôi nghĩ tôi sẽ để ngỏ bức thư này để kể cho cậu nghe không gian cũ ấy gây ấn tượng với tôi ra sao.

Mười hai giờ rưỡi đêm.

Tôi vừa trải qua một cú sốc. Phòng của Ennis đã chết như cây đinh đóng cửa rồi. Chúng tôi bước vào, sau buổi nhà hát, và đánh thức các Phòng dậy vào một kiểu sống đáng sợ nào đó. Bọn họ “bây giờ không phục vụ nhiều bữa tối nữa đâu thưa ngài,” có vẻ là thế. “Chủ yếu là bữa trưa và bữa tối.”

Các bồi bàn tỏ thái độ với chúng tôi như với những kẻ xâm nhập. Chúng tôi cũng là những vị khách duy nhất, điều đó càng làm tệ hơn, vì mọi sự hằn học đều chút lên đầu chúng tôi; nhưng chúng tôi ngồi chưa được bao lâu tại chiếc bàn ưa thích cũ (thứ duy nhất không thay đổi), cố gắng duy trì một niềm vui giả tạo, thì một nhóm hai người khác mạo muội bước vào.

Đó là gã trẻ tuổi Dick Burden và bà dì của hắn, bà Senter.

Giờ thì, cậu có thể không thấy thế, nhưng chuyện này khá kỳ cục. Sẽ chẳng có gì kỳ cục trong quá khứ khi gặp người bạn thân thiết nhất của cậu từ góc phố, và Vua xứ Ba Tư, tại quán của Ennis. Nhưng rõ ràng “những kẻ tự tìm niềm vui” không còn đến đó nữa. Đó không phải là “mốt”. Vậy thì tại sao cặp đôi này lại chọn quán của Ennis để ăn đêm?

Họ

đâu có rời khỏi nước Anh suốt mười lăm năm như tôi. Nếu bà Senter thỉnh thoảng dành thời gian từ thứ Bảy đến thứ Hai ở Ấn Độ, hoặc đến thăm Nhân sư khi Nhân sư đang vào mùa, bà ấy vẫn luôn quay trở lại London khi “mọi người có mặt ở thị trấn”, và làm những gì mọi người làm ở đó.

Tôi lập tức nghi ngờ rằng Burden đã đưa bà ấy đến với một mục đích: mục đích đó là để có được màn giới thiệu với Ellaline. Sự nghi ngờ có thể có vẻ xa vời; nhưng cậu sẽ không thốt lên điều đó nếu cậu được chứng kiến khuôn mặt của gã thanh niên tại nhà ga xe lửa ở Paris mấy hôm trước. Tôi đã có đặc quyền đó; và tôi đã quan sát vào thời điểm đó mong muốn được làm quen với ward của tôi, mà không cảm thấy một mong muốn tương ứng nào để đáp lại nó. Tôi không biết tại sao mình lại không cảm thấy thế, nhưng tôi không cảm thấy, dù mong ước đó vừa đáng tha lại vừa tự nhiên đối với gã trẻ tuổi. Hắn sở hữu một chiếc cằm quyết đoán; thế nên có lẽ cũng tự nhiên không kém khi thất vọng, hắn kiên trì – thậm chí bám theo, và áp dụng các biện pháp mạnh mẽ (nói cách khác là một người dì) để đạt được mục đích của mình. Cậu thấy đấy, Ellaline là một cô gái vô cùng xinh đẹp và tôi không phải là người duy nhất nghĩ như vậy.

Ý kiến của tôi là, sau khi tìm thấy chúng tôi trên các tờ báo, đang ở tại khách sạn Ritz, gã nhóc hẳn đã bằng cách nào đó tự tìm hiểu về các chuyển động của chúng tôi, chờ đợi cơ hội của mình – hoặc dì của hắn. Tôi mua vé xem nhà hát ở khách sạn. Hắn có thể đã lấy thông tin từ đó; và phần còn lại thì dễ dàng – cho đến quán của Ennis. Tôi sợ phần còn lại cũng thế, bởi vì bà Senter đã chọn chiếc bàn gần nhất với chúng tôi, và sau khi chúng tôi trao đổi những lời chào hỏi đã đề xuất việc nhập bàn. Các chiếc bàn được đẩy sát lại với nhau, và việc giới thiệu vòng quanh là điều hiển nhiên. Nước Anh trẻ tuổi mong đợi mọi người dì đều hoàn thành nghĩa vụ của mình!

Họ vẫn phục vụ đồ ăn rất ngon ở quán của Ennis, nhưng nó khá giống việc ăn “thịt nướng tang lễ”.

Bà Senter chính xác là những gì bà ấy từng là vài năm trước. Có lẽ sẽ là kém hào hiệp nếu gợi nhắc lại trong trí nhớ cậu chính xác là

bao nhiêu

năm trước. Bà ấy, nếu có thể, còn trẻ hơn. Tôi tin có một châm ngôn rằng “Một lần là nữ công tước, mãi mãi là nữ công tước”. Tôi nghĩ phụ nữ ngày nay có một châm ngôn khác: “Một lần ba mươi, mãi mãi ba mươi”; hoặc, “Một lần ba mươi, mãi mãi hai mươi chín”. Nhưng đùa chút thôi, bà ấy là một phụ nữ rất dễ chịu và khá hóm hỉnh, cũng có vẻ thông cảm nữa, dù tôi tin cậu từng nghĩ, khi bà ấy đi săn lùng trái tim ở Vùng Đất Tận Cùng của chúng ta, rằng bản chất bà ấy có phần giống một loài động vật nào đó được người Ai Cập tôn sùng và loài chuột sợ hãi. Bà ấy có vẻ rất quý trọng người cháu Dick, người mà bà bảo đi cùng rất nhiều nơi. “Chúng tôi làm giám hộ cho nhau,” bà ấy diễn tả thế. Bà ấy thương hại tôi vì vụ cháy ở Graylees, nhưng ghen tị với tôi về chuyến đi ô tô.

Chúng tôi sẽ lên đường trong vài ngày tới, lúc này, tôi hy vọng thế, ngay sau khi Ellaline được cho xem vài “đặc điểm” của London. Tôi đã đi xem chiếc xe ngày hôm nay, và nó đẹp tuyệt trần. Tôi sẽ thử lái nó lần đầu tiên vào ngày mai.

Luôn là của cậu,

Pen.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.