PHỤ LỤC38

Đường Tống Truyền Kỳ

Lượt đọc: 531 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
BỔ GIANG TÔNG BẠCH VIÊN TRUYỆN

❊ ❊ ❊

Khuyết danh

Cuối những năm Đại Đồng nhà Lương, vua phái Bình Nam tướng quân Lạn Khâm đi Nam chinh, đến Quế Lâm, đại phá bọn Lý Sư Cổ, Trấn Triệt. Biệt tướng Âu Dương Hột thu đất tới Trường Lạc, bình được các động, thâm nhập chốn non sâu hiểm trở. Vợ Hột thon thả và trắng trẻo, trông rất diễm lệ. Bộ hạ của ông nói: ‘Sao tướng quân lại dẫn người đẹp tới đây? Đất này có thần, ưa bắt những cô gái trẻ, người đẹp lại càng dễ bị cướp mất, tướng quân phải giữ cho cẩn thận”. Hột rất nghi hoặc và lo lắng, ban đêm sai lính vây quanh gian nhà, giấu vợ mình trong mật thất, khóa chặt cửa ngõ, lại cho mười mấy tỳ nữ hầu hạ bảo vệ nàng.

Đêm hôm ấy, gió rét quất từng đợt, còn trời lại tối om, đến canh năm thì yên tĩnh không còn nghe gì. Những người canh giữ do mệt mỏi mà ngủ quên, chợt có vật gì đó làm cho họ thức tỉnh, nhưng lúc ấy không thấy vợ Hột nữa. Then vẫn cài như cũ, chẳng ai biết nàng đi đâu. Ngoài cửa là núi non trùng điệp, cách gang tấc là lạc nhau, không thể nào tìm kiếm. Khi trời sáng vẫn không thấy tung tích. Hột phẫn nộ và đau khổ lắm, thế không đuổi kịp thì quyết chẳng trở về, bèn mượn cớ lâm bệnh, đóng quân lại đó rồi bỏ cả ngày đi tìm vợ, vào tận thâm sơn cùng cốc khắp bốn phương để kiếm người.

Sau một tháng, Hột chợt thấy một chiếc giày thêu của vợ mình trong khóm trúc ở cách đó trăm dặm, tuy ngấm nước mưa nhưng vẫn có thể nhận ra. Hột vô cùng buồn bã, càng quyết tâm tìm bằng được. Bèn chọn ba mươi tráng sĩ, cầm binh khí, vác lương khô, không quản phải ngả lưng trên đá hay ăn giữa đồng hoang. Lại hơn một tuần[1] nữa, họ đã đi xa nhà khoảng hai trăm dặm rồi, nhìn về hướng Nam thì thấy một ngọn núi xanh vắng vẻ, đến dưới chân núi thì bắt gặp dòng suối sâu chảy lượn quanh; liền khoét gỗ làm thuyền để băng qua. Giữa non cao trúc biếc lại thoáng thấy bóng hồng và nghe tiếng nói cười. Họ níu lấy dây leo để trèo lên, trên đó là cây cối um tùm đan chen với danh hoa, dưới gốc thì cỏ mọc xanh rờn, dày và mịn như trải thảm. Cảnh sắc u tịch và mờ ảo mông lung. Trước thạch thất phía Đông có mấy chục người phụ nữ mặc xiêm váy sáng tươi, vui đùa ca hát, ra ra vào vào, thấy người lạ thì đều dừng chân nhìn lại. Khi Hột tới gắn thì họ hỏi: “Sao các ngài lại tới đây?”. Hột nói rõ nguyên do. Ai nấy đều than rằng: “Hiền thê đã đến hơn một tháng nay rồi, giờ đang nằm bệnh trên giường, ngài mau tới xem đi”. Hột bước qua cánh cửa làm bằng gỗ. Bên trong rộng bằng ba gian, bốn vách có giường, thảy đều trải đệm gấm. Vợ Hột nằm trên giường đá, đệm chóng mấy lớp, sơn hào hải vị thì đầy ra trước mặt. Hột đã thấy nàng. Nàng ngoảnh nhìn một cái, liền vẫy tay bảo Hột mau đi khỏi. Những phụ nữ kia nói: “Chúng tôi cũng như vợ ngài, bị nó bắt về, có người đã ở được mười năm. Nơi này có thần vật sinh sống, sức giết được người, dù trăm lính cắm binh khí cũng không thể hạ nổi. May là nó chưa về, ngài mau chóng tránh đi. Nhưng xin hai hộc mỹ tửu, mười con chó, vài chục cân đay để lập mưu giết nó, chắc chính Ngọ nó về. Lần tới xin thận trọng, đừng đến quá sớm, hẹn các ngài mười ngày sau”. Rồi thôi thúc họ đi ngay.

Hột và tùy tùng cũng nhanh chóng rời khỏi đó. Bèn tìm rượu ngon, thịt chó với đay, chờ đúng ngày quay lại. Những phụ nữ kia nói: “Con vật ấy thích rượu, thường uống đến say. Khi say rồi thì hay khoe sức lực, bảo chúng tôi dùng dải lụa màu buộc tay chân nó vào giường, nhưng nó giẫy một cái là đứt hết. Chúng tôi từng thử trói bằng ba lớp thì thấy nó dùng hết sức cũng không thể thoát được. Nay giấu đay vào trong bông chắc nó không chống nổi. Toàn thân nó đều là sắt, duy ở dưới rốn mấy tấc luôn che lại, hẳn vị trí đó không đỡ được binh khí”. Họ chỉ một tảng đá bên cạnh và bảo: “Đây là kho lương thực, ngài hãy trốn vào đó rồi lẳng lặng dò xét. Bày rượu dưới hoa, ném thịt chó vào rừng; đợi kế thành công thì chúng tôi gọi ngài ra”. Hột y lời; nín thở chờ đợi.

Quá trưa, có vật gì đó như lụa trắng đổ xuống từ trên núi; lao tới như bay, xông thẳng vào trong động, không bao lâu thì thấy một người đàn ông râu đẹp mình cao hơn sáu thước, mặc áo trắng chống gậy, ôm ấp phụ nữ bước ra. Gặp được thịt chó thì mừng rỡ, vội phóng vọt tới, xé thịt ăn ngoàm ngoạp cho tới lúc no căng.

Phụ nữ tranh nhau dùng ly ngọc mời rượu, nói cười vui vẻ lắm. Uống được mấy đấu thì nâng hắn đứng dậy, lại nghe tiếng cười đùa. Rất lâu sau, có người phụ nữ ra gọi, Hột liền cầm binh khí tiến vào, thấy con vượn trắng lớn, tứ chi bị trói vào góc giường, đang co rúm khốn quẩn không cách gì thoát ra, ánh mắt sáng như điện. Binh khí chạm vào nó thì cứ như va phải sắt đá. Khi đâm dưới rốn mới giết được, máu tuôn tựa suối. Nó than thở nói to: “Đây là trời giết ta, há bởi sức ngươi đâu? Nhưng vợ người có mang rồi, đừng giết đứa bé. Mai này gặp thánh đế, tất làm quang đại tông tộc”. Nói xong thì chết. Hột thu gom kho tàng của nó, thấy của cải đầy ắp, kỳ trân dị bảo bày la liệt, phàm là châu báu trên đời không món nào không có, lại thêm mấy hộc hương liệu danh tiếng và một đôi bảo kiếm. Ba mươi phụ nữ người nào cũng tuyệt sắc, có người đã đợi hết mười năm. Họ nói: “Ai nhan sắc kém đi thì nó bỏ, không biết nhốt nơi đâu. Còn bắt người thì chỉ mỗi mình nó, không có đồng đảng. Sáng nó tắm rửa, đội mão, mặc áo kép, khoác thêm lớp áo the nên không biết nóng lạnh. Toàn thân đều là lông trắng, dài mấy tấc. Lúc ở đây nó thường đọc thẻ tre, văn tự hình như là chữ Triện, chúng tôi không hiểu được, xem xong thì để dưới thềm đá. Ban ngày múa song kiếm, chớp lóe quanh người, sáng tròn như nguyệt. Nó ăn uống bất chợt, thích hoa quả, hạt dẻ, mê nhất là thịt chó, ăn và uống cả máu. Cứ qua giờ Ngọ thì đi mất, trong nửa ngày mà đi tới mấy ngàn dặm, chiều xuống thì về, hôm nào cũng vậy. Nó muốn gì là có ngay. Buổi tối nó di quanh các giường trêu ghẹo, mỗi đêm đều lượn hết một vòng; chưa hề ngủ. Ngôn ngữ của nó sâu sắc và tinh tế, hoa mỹ mà lưu loát, nhưng bộ dạng cứ như loài khỉ vượn. Mùa lá trút năm nay, nó chợt nói xót xa: ‘Ta bị sơn thần tố giác; sắp chịu tội chết, cũng đã xin chư linh phù hộ; biết đâu thoát được’. Đầu tháng trước, bậc thềm đá phát hỏa, đốt cháy quyển sách tre, nó chán nản thất vọng: ‘Ta ngàn tuổi mà không con. Giờ thì có rồi, ngày chết cũng đã tới’; rồi quay lại nhìn chúng tôi khóc sụt sùi một lúc lâu và bảo: ‘Núi này hẻo lánh, chưa từng có ai sống, lên cao quan sát chẳng nhìn thấy tiều phu, còn ở dưới thì lại nhiều hổ sói và quái thú. Giờ có người nào đến thì ắt được trời giúp đấy. Không phải sao?’”.

Hột liền lấy của báu và dẫn phụ nữ về; họ vẫn nhớ nhà mình. Tròn một năm thì vợ Hột hạ sinh một đứa bé; giống y như đúc. Sau đó Hột bị Trần Vũ Đế[2] xử tử. Lúc sinh thời, Hột có giao hảo với Giang Tổng[3], Tổng quý đứa bé thông minh hơn người, bèn giữ lại nuôi, do đó mới thoát nạn. Đến lúc trưởng thành thì quả nhiên văn học và thư pháp đều xuất chúng; vang danh một thời[4].

Âu Dương Hột tự Phụng Thánh; rất có tài cán; mưu lược. Trong những năm Thiên Gia triều đình bổ nhiệm các vị trí Hoàng môn Thị lang, Viên ngoại Tán ky Thường thị; rồi lần lượt chuyển sang làm An viễn Tướng quân và Thứ sử Hành Châu. Kế tập tước Dương Sơn Quận công, giữ chức Đô đốc của quân đội mười chín châu Giao Quảng kiêm Thứ sử Quảng Châu, ở đó hơn mười năm, uy danh và ân huệ lan rộng khắp Bách Việt, được dâng hiệu Khinh xa Tướng quân. Đến niên hiệu Quang Đại, các phiên trấn thượng lưu nhiều nơi nổi dậy, Cao Tông cho rằng Hột lâu nay được miền Nam tin phục nên tỏ ra nghi ngờ. Năm Thái Kiến thứ nhất, vua xuống chiếu triệu về làm Tả nhận Tướng quân. Hột sợ, chưa muốn hồi triều, bộ hạ nhiều người khuyên tạo phản, liền ra quân công đánh Thứ sử Hành Châu Tiền Đạo Tập. Đạo Tập báo có biến, vua bèn phái Nghi đồng Chương Chiêu Đạt thảo phạt Hột, nhiều lần đánh bại, Hột bị bắt, áp giải về kinh sư rồi chịu chết, năm ấy ba mươi ba tuổi. Gia sản bị sung công. Con là Tuân do còn nhỏ nên được miễn tội.

Diêu Tư Liêm: Trân thư, quyển 9

[1] Một tuần thời xưa là mười ngày.

[2] Có lẽ truyện viết nhầm, vì sự thật là Âu Dương Hột chết vào năm 570, dưới triều Trần Tuyên Đế.

[3] Giang Tổng (519 – 594) tự Tổng Trì, làm quan dưới ba triều Lương, Trần, Tùy, từng giữ chức Thượng thư lệnh thời Trần Hậu Chủ, nên còn được gọi là Giang lệnh.

[4] Âu Dương Tuân (557 – 641) con của Âu Dương Hột là một nhà thư pháp nổi tiếng thời nhà Đường. “Bổ Giang Tổng bạch viên truyện” có thể là do kẻ nào đó ganh ghét Âu Dương Tuân nên viết ra để bôi xấu ông. Khi đánh giá tác phẩm này, Lỗ Tấn nói: “Thế mới biết, trào lưu giả tiểu thuyết để vu cáo và khinh miệt người ta vốn đã có từ rất xưa”.

LỖ TẤN (Sưu tầm và hiệu đính) ĐƯỜNG TỐNG TRUYỀN KỲ 唐宋傳奇Người dịch: Ngô Trần Trung Nghĩa NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.