Trưa An Thới biển màu xanh ngọc.
Võ Bằng đứng trên boong tàu, dõi mắt theo những hòn đảo lớn nhỏ thành một hàng dài. Hòn Thơm nổi bật, cao nhất, lớn nhất. Anh có nghe bãi tắm Hòn Thơm cũng đẹp nhất, nước trong nhất. Đã có lúc anh định thả ca-nô ra đó tắm nhưng lúc nào cũng thiếu... người đẹp đi cùng!
Từ sau hôm chia tay cô giáo Lê Hồng Hạnh, Võ Bằng chỉ quanh quẩn trên tàu. Không hẳn vì sợ chạm mặt, mà muốn lợi dụng bốn ngày sửa chữa để tìm hiểu thêm về loại trợ chiến hạm. Trên giá sách trong phòng họp sĩ quan không thiếu quyển Cẩm Nang nào. Từ cẩm nang cho máy chánh, máy điện đến truyền tin, điện tử, tác chiến, đào thoát...
Những trang cẩm nang cho thấy hình ảnh về một loại chiến hạm được trang bị hỏa lực mạnh để yểm trợ các cuộc hành quân ven sông, ven biển. Đôi khi trở thành soái hạm cho bộ chỉ huy. Nhiệm vụ thứ yếu là tuần tiễu. Võ Bằng đã trải qua vài trận địch phục kích nhưng đọc lại những dòng cảnh báo cũng không khỏi chạnh lòng. Với chiều dài đáng kể, thường trực trình diện địch toàn bộ mạn tàu, vận tốc thấp và nhất là đơn độc trên sông, trợ chiến hạm luôn là mục tiêu ngon lành cho địch nhả đạn. Sự ra đời của súng B40, B41 càng gây thêm nhiều thiệt hại.
Từ sau Tết Mậu Thân 1968, nhằm tăng cường hữu hiệu công tác ngăn chặn và diệt địch, Hải Quân được trang bị thêm nhiều chiến đỉnh, giang đỉnh có tốc độ cao, hỏa lực mạnh, phản ứng nhanh. Trợ chiến hạm được điều động tuần dương, đáp ứng việc địch tăng cường xâm nhập đường biển.
Bốn ngày trôi qua, công tác hàn vá hoàn tất, tàu dời về cập cầu nổi. Anh định dùng ngày nghỉ bến cuối cùng khởi sự đọc Tư Tưởng Hiện Đại của Bùi Giáng mua khá lâu nhưng chưa hề rớ tới. Thế nhưng chữ nghĩa cứ bị bóng dáng Huỳnh Như Oanh xóa mờ. Anh không hiểu nổi con người của mình. Suốt hai năm dửng dưng với mọi người đẹp, rồi bỗng nhiên lại đam mê người chỉ gặp trong thoáng chốc. Phải chăng đó là vì hạp nhãn như thường nói?
Anh nhìn về phía đồi cao, nơi lần đầu gặp nàng. Trời xanh vời vợi, gió nhẹ mang theo hương biển khiến anh khao khát muốn ra quán Sóng nằm mơ màng có nàng bên cạnh. Rồi tưởng tượng ra cuộc đối thoại thú vị để nhớ giọng nói êm ái, ngọt ngào, tế nhị...
Võ Bằng trở xuống phòng họp sĩ quan, đọc hết công văn công điện để chắc chắn không còn việc gì cần giải quyết. Có hai công việc quan trọng trong một công điện từ Bộ Tư Lệnh Vùng 4 Duyên Hải:
“1. Do thành tích đánh chìm hai tàu chở súng đạn, quý chiến hạm được ân thưởng bốn Anh Dũng Bội Tinh gồm hai ngôi sao bạc, hai ngôi sao đồng. Gửi danh sách về nơi gửi trong thời hạn sớm nhất.
2. Hạm trưởng được mời tham dự thuyết trình hành quân sáng mai lúc 8 giờ. Khởi hành công tác ngay sau buổi thuyết trình.”
Một ngôi sao bạc xứng đáng dành cho Thiếu úy Đức, trưởng khẩu 76,2 ly bị thương nặng. Ba ngôi sao còn lại ủy quyền cho Hạm phó tập họp nhân viên bình chọn. Anh trút bỏ quân phục, thay đồ dân sự rồi cuốc bộ lên phố. Dừng lại quán Ngự Bình, xơi tô bún bò Huế rồi lững thững đến quán Sóng. Anh mua lon bia, cầm ra tán dù vẫn bỏ trống. Đồng hồ ở cổ tay vừa chỉ hơn một giờ trưa. Giờ này chắc cô giáo Lê Hồng Hạnh còn bận dạy. Cho dù nàng đã ra đây tắm, có đến chào, anh cũng sẽ làm lơ.
Anh khui lon bia, mắt dõi ra khơi, nhâm nhi từng ngụm nhỏ. Anh ngả người, nhắm mắt mơ tưởng đến Như Oanh. Nàng thật dễ thương, đứng bên mép biển trong chiếc quần jeans xanh và áo sơ mi xám nhạt. Tóc đen, dài, xõa ngang lưng. Khuôn mặt gần hình bầu dục, đôi mắt to, sáng, làn da ngọc ngà. Và nàng đang cười — nụ cười duyên dáng, giọng cười giòn giã...
Giấc mơ kéo anh và nàng vào cõi sống đầy hạnh phúc, không tiếng súng, không thị phi. Chỉ anh và nàng và biển trời...
Khi tỉnh giấc, nắng đã nghiêng. Vài người tắm biển. Dăm ba dạo trên cát. Võ Bằng uống cạn lon bia rồi bước dọc bờ. Ánh nắng phủ lên mặt nước màu xanh dịu. Anh dừng lại nơi từng đứng với Như Oanh. Sóng nhấp nhô như lời thì thầm: "Anh Bằng, về Sài Gòn gặp em ngay. Em nhớ anh."
Anh khẽ bật cười: "Võ Bằng ơi! Đừng mộng mơ nữa. Hãy tiếp tục xa lánh các giai nhân. Hãy hiến trọn tâm hồn cho đại dương. Chỉ có biển mới giữ đời thủy thủ thăng bằng. Dù sóng gió, bão tố, rồi cũng sẽ yên bình."
Mặc những lời tự nhủ, lòng khao khát gặp lại nàng vẫn bỏng cháy. Ngày mai bắt đầu chuyến tuần tiễu tám ngày cuối cùng của lịch trình biệt phái. Kể cả hai ngày hải hành từ An Thới, mười ngày nữa tàu anh sẽ cập bến Bạch Đằng. Liệu Giáng Sinh này anh và nàng có được sánh vai cùng thiên hạ dạo phố ngập ánh đèn màu?
Quay về tán dù, anh giật mình khi chiếc ghế tựa đã có người chiếm. Một cô gái trẻ, áo pullover trắng, quần jeans xanh, mái tóc ngắn, đôi mắt to. Khuôn mặt đẹp nhưng nhăn nhó khó chịu. Giọng khàn khàn:
— Tôi đành thất lễ: anh thật bất lịch sự! Nhìn gì như muốn nuốt sống người ta!
Anh mỉm cười:
— Xin lỗi, tôi không cố ý. Chỉ ngạc nhiên vì chiếc ghế tôi vừa ngồi bị chiếm mất.
Cô nàng hất mặt, khẽ gắt:
— Đừng kiếm chuyện làm quen. Tôi không chiếm ghế của ai hết. Chiếc ghế bỏ trống.
— Tôi chỉ mới ra mép nước một chút thôi.
Nàng nhổm lên, bực dọc dịch sang chiếc ghế bên, giọng lạnh:
— Vậy thì tôi trả ghế cho anh đấy.
Võ Bằng vẫn lịch sự:
— Tôi đâu có đòi. Ghế của quán Sóng chớ của tôi đâu. Chẳng qua…
Nàng bất ngờ nhoẻn miệng cười, ngắt lời:
— Tôi hiểu rồi và tôi cũng đã trả lại. Mời anh… hạ bàn tọa.
Anh thoáng phân vân. Bỏ đi thì thiếu bản lĩnh mà ngồi thì không còn hứng thú. Nàng lặp lại, giọng nhẹ hơn:
— Mời anh.
Võ Bằng đành ngồi xuống. Giọng nàng vui vẻ:
— Trông anh không giống dân địa phương.
— Cô nhận xét không sai. Tôi làm việc ở đây thôi.
— Cũng chẳng giống quân nhân hay công chức. Quân nhân, công chức không ai ngồi ở biển giờ này.
Võ Bằng trêu chọc:
— Cô luôn luôn nhận xét không sai. Tôi là... ngư dân.
Tưởng nàng sẽ quê mà câm miệng, nhưng lại tỉnh bơ:
— Ồ, thì ra anh là thợ lặn mò ngọc trai. Nghe nói Phú Quốc có nhiều ngọc trai ngũ sắc, đẹp nhất thế giới.
Anh trả lời cho qua chuyện:
— Cũng có thể.
— Vậy anh chắc giàu... nhất thế giới.
Võ Bằng bật cười:
— Ngọc trai không trôi giạt đầy dưới biển đâu. Tay làm hàm nhai thôi. Còn cô, là ai?
— Lan Như.
— Tôi muốn hỏi nghề nghiệp?
— Cũng như anh, làm việc ở đây.
Anh nhìn chiếc máy ảnh Canon xinh xắn nằm trên bụng nàng:
— Làm việc ở đây, không ai đủ tiền sắm máy ảnh quá đẹp.
Lan Như cười duyên:
— Nhận xét quá đúng. Tôi thuộc... khách qua đường.
— Ở đây mấy ngày rồi.
— Hai.
— Đã đi viếng những đảo nào rồi? Đã chụp hết mấy cuộn phim?
— Hỏi chi kỹ vậy? Có dám mời tôi về nhà, lo luôn cơm chiều không?
Võ Bằng lắc đầu:
— Không dám mời vì biết cô sẽ từ chối.
— Cái cách anh nói chuyện, chắc người Sài Gòn?
— Lần này thì cô đoán sai. Chính cô mới là dân Sài Gòn. Cô đến đây du lịch ư? Hết hè rồi...
Cô nàng mím môi một lúc, rồi hỏi lại:
— Anh biết tên tôi rồi, còn anh?
Võ Bằng nhắm mắt, thoáng xót xa. Đời anh đã vướng khá nhiều giai nhân. Thuở thiếu úy, ba người từng thương yêu, rốt cuộc đều chia tay. Lên trung úy, tu tâm dưỡng tánh. Lên đại úy, vớ phải cô đặc công suýt tiêu tùng sự nghiệp. Nay làm hạm trưởng chưa đầy một tháng đã gặp bốn người đẹp — một đang ngồi bên anh. Không biết cô nàng mang đến phúc hay lại thêm họa?
Anh cố hướng ý nghĩ về Như Oanh. Giờ này chắc nàng đang dạy học. Không biết nàng còn nhớ anh không. Anh chàng nào đó may mắn hơn anh nhiều.
Anh chợt nghe giọng ngọt ngào:
— An Thới có gì đặc biệt, hở anh...
Anh không đáp. Có tiếng ghế cọt kẹt và tiếng càu nhàu:
— Người gì đâu mà bất lịch sự, phách lối...
Khi mở mắt, nàng đã bỏ đi, tà áo trắng phất nhẹ trong gió. Anh nhìn theo, nói nhỏ: — Cám ơn.
***
Sáng hôm sau, buổi thuyết trình hành quân kết thúc lúc 9 giờ. Khi Võ Bằng đứng lên chào từ giã, Tư lệnh Lương Đình Thám mỉm cười:
— Tôi gửi xuống tàu anh một người khách đặc biệt. Ưu tiên giúp đỡ.
Anh chờ nghe rõ hơn nhưng Tư lệnh chỉ bắt tay. Đành băn khoăn cùng Cố vấn Bill cuốc bộ về cầu tàu. Gần cuối cầu, ngang mũi chiếc Rạch Gầm, bóng dáng một thiếu nữ mặc bộ kaki xám, vai đeo túi xách, cổ đeo máy ảnh đang đứng trông ngóng. Khi đến gần, Võ Bằng và nàng cùng sững người.
Lan Như mỉm cười:
— Hoàn toàn bất ngờ. Lan Như xin chào Đại úy Võ Bằng.
Nàng chìa tay. Võ Bằng vui vẻ bắt lấy. Nàng quay sang Cố vấn:
— Hi! Nice to meet you. Lan Nhu, my name.
Cố vấn bắt tay nồng nhiệt:
— Nice to meet you, too. Call me Bill.
Lẽ ra Võ Bằng tra hỏi cặn kẽ trước khi cho lên tàu, nhưng nhớ lời Tư lệnh, anh mời Lan Như cùng lên hạm kiều. Sĩ quan trực khám túi xách thật kỹ. Trong lúc chờ, Võ Bằng nhận ra cách Lan Như quan sát: ánh mắt lia nhanh qua từng khẩu súng, từng vị trí — ánh nhìn rất đáng nghi ngờ đối với người quá giang.
Khi đến phòng họp, các sĩ quan đã có mặt đông đủ. Tất cả đứng lên chào. Hạm phó ra dấu mời Lan Như ngồi ghế của anh. Các sĩ quan cùng dãy nhích sang một ghế. Hạm phó ngồi kế Lan Như.
Võ Bằng hỏi nàng:
— Tư lệnh báo gửi người xuống tàu mà không nói rõ để làm gì?
Lan Như mỉm cười:
— Trước hết vô cùng xin lỗi anh Võ Bằng nếu hôm qua Lan Như có lời không phải. Lan Như là phóng viên chiến trường của nhật báo Ngôn Luận. Lan Như từng tham dự các cuộc hành quân của Hải Quân trong sông, hôm nay mong muốn thực hiện một phóng sự về hoạt động trên biển.
Võ Bằng nghiêm giọng:
— Mặc dù có lời gửi gắm, nhưng theo thủ tục, xin cô cho xem giấy tờ liên quan.
Nàng nhấc chiếc xách để cạnh ghế mở lấy xấp giấy tờ trao cho Võ Bằng. Anh chăm chú đọc từng tài liệu:
— Thẻ Căn Cước do Quận trưởng Quận 1 ấn ký.
— Thẻ Báo Chí do Bộ trưởng Bộ Thông Tin ấn ký.
— Giấy Công Tác Ký Giả do Nha Báo Chí ấn ký.
— Giấy phép nhập hạm do Bộ Tư Lệnh Hải Quân Hành Quân Biển ấn ký.
Võ Bằng chỉ thị Trung úy Tuấn tìm cho anh một văn thư có con dấu của Bộ Tư Lệnh Hành quân Biển. Sau khi so sánh tỉ mỉ, anh an tâm nói:
— Đừng lấy làm phiền, chẳng qua ngoài ý muốn.
Anh nhìn một lượt các sĩ quan, giới thiệu:
— Cô Lan Như là phóng viên chiến trường của tờ báo danh tiếng Ngôn Luận. Welcome aboard!
Tất cả vỗ tay, đồng hô: "Welcome aboard!" Võ Bằng nồng nhiệt tiếp:
— Chiến hạm Rạch Gầm chúc cô có dịp diễn đạt các trận đánh như trận Rạch Gầm thuở trước.
Lan Như mỉm cười, mắt long lanh. Có tiếng xì xào thán phục người đẹp chịu chơi. Phóng viên chiến trường đồng nghĩa coi cái chết tựa lông hồng.
Võ Bằng chỉ thị Hạm phó cấp cho Lan Như một phòng ở khu sĩ quan. Trung úy Đặng Thành Tài tạm thay Thiếu úy Dương Công Đức đang dưỡng thương, trách nhiệm về ẩm thực toàn thể thủy thủ đoàn.
Võ Bằng nói qua về công tác tám ngày tới:
— Nhiệm vụ như trước, nhưng trọng yếu hơn. Thổ Châu là tiền đồn ở Vịnh Thái Lan, cách Phú Quốc 100 cây số hướng tây nam, cách mũi Cà Mau 160 cây số hướng tây bắc. Đó là nơi địch tập trung trước khi xâm nhập dọc theo bờ biển hai tỉnh Kiên Giang và An Xuyên. Ngăn chận và tiêu diệt từ xa là trách nhiệm của Trợ Chiến Hạm Rạch Gầm, ba khinh tốc đỉnh và toàn bộ Duyên Đoàn 42 phối hợp. Khu vực này nhiều hải sản nên đông đảo tàu đánh cá, địch dễ trà trộn. Riêng ngư dân đảo Thổ Châu đã có hàng chục tàu, thêm tàu các nước Mã Lai, Thái Lan. Việc phân biệt không dễ dàng.
Anh hướng về sĩ quan trực, tiếp:
— Cho nhận còi nhiệm sở vận chuyển, chúng ta lên đường.
Tiếng còi nhịp vang, thúc hối. Trên đường lên đài chỉ huy, Võ Bằng siết chặt tay vịn cầu thang, cảm giác bất an len lỏi. Bất chấp các giới chức thẩm quyền ký tên xác nhận, anh vẫn mong Lan Như không phải là một Phan Kim Phượng thứ hai.
***
Hải trình đến Thổ Châu khác xa mọi chuyến trước. Thay vì rẽ trái hướng vào bờ như khi đi Nam Du hay Hải Tặc, Trợ Chiến Hạm Rạch Gầm lao mũi chếch phải, bung hết tốc lực đường trường ra khơi. Với vận tốc mười hai gút, con tàu phăng phăng rẽ sóng đến vùng chỉ định. Trời trong, gió nhẹ, biển êm như lời mời gọi dịu dàng đầy hứa hẹn.
Vừa qua khỏi Hòn Móng Tay, ba hải lý phía nam Hòn Thơm, Võ Bằng xem lại hải trình, chỉnh độ giạt bù trừ hướng gió rồi giao lại trách nhiệm hải hành cho sĩ quan đương phiên. Anh trở về buồng riêng, bật băng nhạc. Tiếng hát Lệ Thu trong trẻo, ngọt ngào vang lên, xoa dịu mọi mỏi mệt, lo âu. Đó là thói quen, một cách giải tỏa sau những giờ căng thẳng trên đài chỉ huy. Giai điệu quen thuộc Ngậm Ngùi, Mùa Thu Trong Mưa, Thuyền Viễn Xứ, Xin Còn Gọi Tên Nhau gợi nhớ những chiều cuối tuần ở Queen Bee, thuở còn làm thuyết trình viên Trung Tâm Hành Quân Hải Quân trại Bạch Đằng. Hình ảnh các giọng ca thần tượng hoàn toàn thay thế các bóng hồng…
Đúng mười hai giờ, Võ Bằng xuống phòng ăn sĩ quan. Tất cả đứng lên chào. Anh ra hiệu mọi người ngồi, rồi quay sang chiêu đãi viên: "Mời cô Lan Như."
Nàng xuất hiện với vẻ e dè. Võ Bằng lên tiếng:
— Mỗi bữa, cô dùng cơm với chúng tôi.
Lan Như lắc đầu, nhỏ nhẹ:
— Xin cảm tạ. Tôi có mang theo lương khô.
— Cứ để dành. Ăn chung cho vui.
Lan Như ngập ngừng:
— Vậy… xin cho tôi được đóng góp.
Võ Bằng cười, lắc đầu:
— Chuyện nhỏ. Mời cô ngồi.
Hạm phó nhường chỗ. Sĩ quan xê dịch. Võ Bằng tiếp lời:
— Mọi người đều đeo bảng tên, cô làm quen dần vậy.
Chợt nhớ vị cựu Hạm trưởng Đống Đa thường mở lời thăm hỏi dành cho “khách quá giang” Phan Kim Phượng, anh hỏi Lan Như:
— Cứ nói thật, không có điều gì phiền lòng về tiếp đãi chứ?
Lan Như nở nụ cười tươi tắn:
— Thưa, hơn cả mong đợi.
— Về ẩm thực, tuy không bằng nhà hàng, nhưng chắc chắn không thua… lương khô. Mời cầm đũa.
Lan Như cúi nhìn mâm cơm, mắt sáng lên:
— Chà! Canh chua, cá kho, đậu xào thịt bò — toàn món ưa thích.
Không khí trở nên ấm cúng. Võ Bằng chan canh vào cơm. Cố vấn Mỹ cầm đũa thuần thục. Mọi người lặng lẽ ăn. Tiếng muỗng chạm vào tô, tiếng chén đặt lên bàn. Một lúc sau, Võ Bằng ngẩng lên:
— Với tư cách phóng viên, cảm tưởng đầu tiên của cô về Rạch Gầm?
Lan Như vừa nhai vừa suy nghĩ. Gọi “anh” như hôm qua có lẽ không ổn. Xưng "tôi" nghe xa cách. Cuối cùng nàng chọn:
— Thưa Hạm trưởng, Lan Như…
Võ Bằng lắc đầu ngắt lời:
— Cô gọi chúng tôi là anh được rồi.
Lan Như mỉm cười:
— Thưa anh. Lan Như thấy… súng mà phát sợ. Từ mũi đến lái, chỗ nào cũng súng với súng. Khẩu ở mũi thật đồ sộ.
Mọi người khẽ cười. Không khí dịu lại. Võ Bằng hỏi tiếp:
— Còn gì nữa?
— Thủy thủ sung sướng hơn bộ binh nhiều. Bộ binh hành quân vất vả. Súng vác, đạn đeo, hành trang lỉnh kỉnh. Còn thủy thủ được tàu chở đi, có người nấu nướng, có máy nước uống.
Thiếu úy Ngô Quang lên tiếng:
— Bộ binh vất vả thật, nhưng chúng tôi cũng có nỗi khổ riêng. Say sóng — nhiều người ta thán thà chết còn hơn!
Lan Như mỉm cười:
— Tôi có thấy sóng gió gì đâu! Êm ru mà!
Trung úy Tuấn nói:
— Do cô may mắn gặp ngày đẹp trời đó!
Hạm phó Tiến cười:
— Khi ra khơi, chúng tôi được tăng phụ cấp ăn uống, nhưng nghịch lý là sóng to gió lớn thì… ăn vô nhả ra!
Tiếng cười rộ lên. Võ Bằng dịch cho cố vấn.
Lan Như chớp mắt, tinh nghịch:
— Tôi hy vọng có dịp nếm thử… ăn vô nhả ra!
Mọi người lại cười. Giọng nàng dịu dàng:
— Lại phải so sánh: bộ binh ngủ bờ ngủ bụi, còn thủy thủ thì giường ấm nệm êm.
Võ Bằng nhún vai:
— Đó là cách bù đắp cho nhiều tháng xa nhà, và cũng để dưỡng sức đối phó sóng gió. Cô từng đi hành quân với bộ binh lâu nhất bao lâu?
— Nửa tháng. Nhân đây, xin cám ơn đã cho tôi một buồng đầy đủ tiện nghi, giường ấm nệm êm.
Võ Bằng đặt đũa, nhìn thẳng nàng:
— Hành quân sống chết trong gang tấc. Cô trẻ đẹp, sao chọn nghề nguy hiểm?
— Lan Như thích từ nhỏ. Thích phiêu lưu mạo hiểm.
— Thiếu gì cách phiêu lưu không nguy hiểm.
— Nhưng phiêu lưu nào cũng phải tốn kém, trừ tháp tùng hành quân. Phiêu lưu mà còn được trả lương!
Mọi người bật cười. Hạm phó xen vào:
— Cô làm phóng viên từ bao giờ?
— Năm 1965. Từ phóng viên thành phố thành phóng viên chiến trường. Của nào tiền nấy!
Hạm phó hỏi thêm:
— Vậy cô thành phóng viên chiến trường lâu chưa?
— Hai năm rồi.
Tiếng Hạm phó chân thành:
— Nên giải nghệ, lấy chồng đi.
Trung úy Tài chen vào:
— Như lấy tôi chẳng hạn!
Lan Như cười khúc khích, mắt long lanh:
— Nếu thích lập gia đình, Lan Như lấy chồng lâu rồi. Anh là người thứ một nghìn lẻ một ngỏ lời. Xin hứa, chừng nào hết thích bay nhảy mà anh chưa có vợ, Lan Như sẽ ưu tiên tìm anh
Cả bàn cười rộ. Võ Bằng gật đầu:
— Đúng là mỗi người một ý thích. Nhiều nhân viên của tôi có chuyên môn mà các hãng xưởng đều cần — cơ khí, điện tử, y tá, kế toán — nhưng họ lại thích phiêu lưu mạo hiểm với chiến hạm. Chuyến đi này đáp ứng đúng ý thích của cô.
Lan Như tròn mắt:
— Đại dương mênh mông, ngày nào cũng như ngày nào, có gì mà gọi là phiêu lưu mạo hiểm?
Võ Bằng nhìn nàng, nói chậm rãi:
— Cuộc chiến này, cộng sản gọi là chiến tranh tổng lực: tuyên truyền, khủng bố, ám sát, tấn công. Bằng mọi giá chúng phải đưa nhiều loại người và vũ khí vào Nam. Nhiệm vụ của chiến hạm là tìm và diệt. Đó chính là phiêu lưu mạo hiểm.
Lan Như ngừng đũa, nhìn Võ Bằng. Lời anh nói khiến nàng lặng đi. Một nhiệm vụ nặng nề nàng không hề nghĩ tới. Nàng nhìn anh bằng ánh mắt nể vì.
Võ Bằng trầm giọng tiếp:
— Chúng tôi không thụ động. Chúng tôi chủ động săn đuổi. Đó là phiêu lưu. Khi đụng trận, đó là mạo hiểm. Do chủ động, chúng tôi bình tâm nhắm mục tiêu tác xạ. Đó là niềm hứng khởi của thủy thủ đoàn.
Lan Như bật cười, cố xua cảm giác nặng nề:
— Rốt cuộc, giống như trò chơi săn đuổi?
Nói xong, nàng nhận ra sự bất kính của mình. Không khí chùng xuống. Võ Bằng nhíu mày, mạch cổ giật nhẹ nhưng giọng anh vẫn bình thản:
— Phải nói đầy đủ: trò chơi chết người! Tuần rồi, rạp Đại Nam có chiếu phim Moby Dick, cô có xem không?
— Có xem. Đó là cuộc săn cá voi, phiêu lưu và mạo hiểm.
Võ Bằng lại nhíu mày. Giọng anh lạnh:
— Không chỉ là săn cá voi. Đó còn là ẩn dụ về niềm tin mù quáng, như tin vào một chủ nghĩa không tưởng. Nhưng thôi, chúng ta nên ăn tiếp.
Không ai nói gì thêm. Sau cùng, anh quay sang Hạm phó:
— Có dịp, Hạm phó kể cho cô Lan Như nghe về những lần săn tàu Bắc Cộng. Chuyện đó sẽ giúp bài phóng sự thêm hấp dẫn.
Hạm phó Tiến liếc nhìn nàng. Ánh mắt chạm ánh mắt:
— Tôi không phải là người kể chuyện hay, nhưng tôi tin qua ngòi bút của cô nó sẽ vô cùng hấp dẫn.
— Cám ơn anh, tôi mong được nghe.
Chiêu đãi viên dọn bàn, mang lên món bánh kẹp sô-cô-la. Anh nói:
— Món điểm tâm này là của cố vấn.
Mọi người cám ơn Bill. Cố vấn hỏi Lan Như bằng tiếng Việt khá rành rọt:
— Lần đầu đi tàu, cô cảm thấy thế nào?
— Tôi thích lắm. Mọi thứ đều mới lạ.
— Sau tám ngày, cô sẽ thấy còn nhiều điều thú vị khác. Khi viết xong bài phóng sự, cho tôi một bản. Tôi sẽ dịch và đăng trên Stars and Stripes.
Lan Như lắc đầu:
— Một vinh dự lớn, tôi không dám nhận. Nhưng anh sẽ có một bản để tùy nghi.
Điều này nhắc nàng nhớ lời chủ bút: cần tin tức đầy đủ về sinh hoạt, chiến trận, kỹ thuật điều động và phản ứng của thủy thủ. Muốn vậy, nàng phải được tự do tìm hiểu.
Chuông điện thoại reo. Đài chỉ huy báo cáo: đã thấy đảo. Võ Bằng, Cố vấn và các sĩ quan đồng đứng dậy. Lan Như nhìn theo, muốn đi cùng, nhưng ngại ngỏ lời. Còn quá sớm để đòi hỏi.
Chiêu đãi viên mời nàng cà phê. Theo thói quen, nàng vừa nhâm nhi vừa suy nghĩ. Cả hai người quyền lực nhất trên tàu — Hạm trưởng, Hạm phó — xem chừng đều tỏ ra lạnh nhạt, giữ khoảng cách. Bất lợi thật. Nhưng dù khó khăn thế nào, nàng vẫn phải giữ nhiệt huyết.
Cạn ly, nàng rời phòng ăn, bước qua hành lang vắng lặng về buồng ngủ. Trên giường, chiếc áo lạnh dày có nón trùm đầu được xếp ngay ngắn. Bên cạnh là áo giáp, nón sắt. Thì ra Võ Bằng không hề vô tâm. Nàng chạm tay lần lượt ba món, nghe lòng ấm áp. Nhưng anh vẫn là một người kỳ dị, khó đoán. Nghề nghiệp thúc đẩy nàng tìm hiểu.
Nằm dài trên nệm, nàng cảm thấy mỏi mệt tan dần. Nhưng nỗi cô đơn ùa đến. Ngày đầu tiên mới qua vài giờ mà dài như vô tận. Nàng băn khoăn nghĩ về cuộc phiêu lưu mạo hiểm lần này. Nếu đụng trận, bộ binh còn có nhiều hầm hố ẩn nấp, còn trên tàu, chỉ một áo giáp? Thì đành cầu mong đạn biết tránh mình!
Nàng lắng nghe những âm thanh lạ: tiếng máy tàu gầm gừ, hệ thống thông gió o o. Nỗi khắc khoải khiến nàng thao thức. Căn buồng chật hẹp khiến nàng như nghẹt thở. Nàng nhớ bầu trời rộng, nhớ không khí trong lành nơi rừng sâu.
Không chịu nổi, nàng bật dậy, quyết định lên boong tàu. Qua phòng ăn sĩ quan, dọc theo hành lang dài, vào phòng ăn đoàn viên. Một thủy thủ hỏi nàng cần gì. Biết mục đích, anh đưa nàng đến cánh cửa gài chặt bằng nhiều cần quay. Bằng động tác nhanh nhẹn, anh vặn các cần quay xuôi chiều, cánh cửa nặng nề bật mở.
Ánh nắng chói chang xuyên vào mắt Lan Như. Gió lạnh tạt vào mặt, thơm tho. Nàng bước ra ngoài. Biển mở rộng, những vệt sóng loang ánh bạc. Nàng đi vòng qua mạn trái, dưới gió. Mặt biển êm đềm, óng ánh, mênh mông. Xa xa, vài chiếc ghe câu bơ vơ. Nàng thấy mình cũng đâu khá gì, lạc lõng, bơ vơ. Ban ngày đã buồn tẻ, đêm xuống hẳn càng khủng khiếp. Chẳng lẽ suốt tám ngày chỉ quanh quẩn buồng ngủ và phòng ăn?
— Chào chị, xin lỗi tôi đến hơi chậm.
Nàng giật mình quay lại. Một thủy thủ trẻ gật đầu chào. Nàng hồi hộp hỏi:
— Chậm gì vậy anh?
— Đi tìm chị khắp nơi.
— Có chuyện gì?
— Hạm trưởng bảo tôi nhắn: chị có thể lên đài chỉ huy ngắm quần đảo Thổ Châu.