ĐÔ ĐỐC BÙI THỊ XUÂN

Lượt đọc: 97 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN II
Chương I

❊ ❊ ❊

Dân chúng bắt đầu tụ tập từ giữa trưa. Trời nắng gắt và không một gợn gió. Con đường cái quan chạy từ Bắc Thành về Phú Xuân ở quãng gần kinh thành, chỉ nơi đây là có bóng mát. Những cây mộc miên che một phần bóng mà chẳng làm dịu được cái nóng nung người. Dân chúng vẫn kéo ra mỗi lúc một đông. Người từ các ven lộ đến, người từ kinh thành ra. Ai nấy đều mồ hôi thấm khăn, đẫm áo. Đàn ông, đàn bà, cụ già trai tráng vẻ mặt lầm lì, người thần thừ đứng tựa gốc cây, người bồn chồn đi đi lại lại dáng sốt ruột.

Nhưng không thấy cảnh ồn ào như thường lệ mỗi khi đông người tụ tập. Không khí trang nghiêm nặng nề như trước lúc trời nổi dông.

Xế trưa thì những cơ đội võ binh từ kinh thành kéo đến. Quãng đường dài trở nên nhốn nháo. Những viên đội trưởng, trở cơ chốc chốc lại chạy từ đầu hàng quân đến cuối hàng quân. Mấy chiếc loa đồng, loa miệng thi nhau gào thét. Nghe lệnh loa truyền lính triều đình dàn khắp hai vệ đường, gạt dân chúng về phía sau. Cờ quạt, tán lọng, kiếm gươm, giáo mác tua tủa từng dãy từng hàng. Mấy chiếc hương án cũng được lật dật khiêng ra, đặt rải rác dưới những gốc cây. Quanh hương án, những viên xã quan, hào lý áo thụng, khăn xếp, cắp hương nến, xách bùi nhùi, tất cả chạy lăng xăng.

Nhưng cảnh nhốn nháo ấy chẳng kéo dài được bao lâu. Khoảng cuối giờ Mùi, từ phía kinh thành, một chiếc cáng đưa nhanh tới cái quán mới dựng lên, theo sau cáng là đoàn người ngựa rộn rịp. Từ trong quán, các viên đội trưởng vội vã chạy về hàng quân của mình và mấy viên chưởng cơ cũng sửa sang mũ áo, chạy ra cửa. Chiếc cáng và đoàn người ngựa dừng lại trước cửa quán. Từ trong cáng, một viên quan to béo bước xuống đường, đảo mắt nhìn khắp một lượt quang cảnh bên ngoài rồi thoáng cau mặt, đi thẳng vào trong quán.

Đằng sau một gốc mộc miên, cách chiến quán một quãng xa, có hai người, một đàn ông, một người con gái đang nheo mắt chăm chú nhìn cảnh vật. Mặc dù tuổi tác khác nhau: người đàn ông đứng tuổi, cao gầy, người con gái mặt đầy đặn, nhưng cả hai đều mặc quần nâu áo vải như những người đứng tránh nắng ở xung quanh. Chỉ khác có chiếc khăn quấn đầu màu đỏ. Người con gái nghiêng đầu thì thầm với người đàn ông đứng bên, mắt không rời cửa quán:

- Chắc là sắp về đến nơi rồi!

Người đàn ông đưa mắt liếc nhìn xung quanh, khẽ gật đầu:

- Đề đốc kinh thành đã tới. Vậy mà việc canh phòng có vẻ sơ sài quá!

Người con gái tỏ ý vui mừng:

- Nếu vậy chắc là việc sẽ thành.

Vừa lúc ấy, từ cửa quán, một viên chưởng cơ đã hiện ra. Bỏ nhanh cuộn giấy nhỏ cầm tay vào một chiếc ống tròn bằng da đỏ, viên chưởng cơ vẫy một tên lính trong đoàn tùy tùng của đề đốc kinh thành lại gần, trao ống thư cho hắn rồi hạ một lệnh gì không rõ. Tên lính nhận ống thư cúi rạp người, rồi lập tức nhẩy phắt lên lưng ngựa, phóng về phía kinh thành như tên bắn.

Nhìn theo đám bụi vàng rực quấn tròn lấy vó ngựa, người con gái hỏi người đàn ông:

- Có chuyện gì vậy?

- Chưa biết, chắc là đề đốc kinh thành truyền lệnh gì đó.

Không khí chờ đợi thêm căng thăng, nặng nề. Đám người tụ tập hai bên đường cũng xì xào bàn tán. Người nhìn theo bóng ngựa mất hút dần về phía kinh thành, người nghển cổ hướng về đầu đường xa tít. Cảnh tượng xôn xao ấy kéo dài cho đến khi từ mạn kinh thành, những tiếng động thình thịch mơ hồ như đất chuyển vọng lại, cùng với một đám bụi mù dầy đặc cuốn tới.

Người đàn ông cao gầy bỗng thất sắc, buột miệng nói nhanh:

- Tượng binh! Chúng dùng đến tượng binh.

Người ấy đứng lặng nghe ngóng một hồi lâu, bàn tay từ nãy vịn vào gốc cây, bỗng rời rợi, buông thõng rồi lại thì thầm:

- Chúng mang voi trận ra rồi.

Người con gái một lần nữa quay phắt lại kinh hoàng nhìn vẻ mặt thất vọng, giận dữ của người vừa nói. Rồi quay hẳn về phía trước, người con gái cố nhoi cao lên, căng mắt hướng về phía kinh thành. Những tiếng động nặng nề ngày càng gần, rồi đột nhiên, vượt ra khỏi đám bụi cuốn mù mịt, con voi trận lừng lững nối đuôi nhau hiện ra. Tên lính vừa mang lệnh về kinh thành phi ngựa, vượt qua đàn voi, phóng vùn vụt tới trước quán. Bộ mặt cố làm ra vẻ quan trọng của hắn đầm đìa mồ hôi, thoáng lẫn nét hể hả. Lệnh hoả tốc của viên đề đốc đem tượng binh ra đường, đã được hắn truyền đi thông đồng bén giọt. Nhảy xuống ngựa, tên lính hấp tấp vừa quệt mồ hôi trên trán vừa khom lưng chạy vào trong quán.

Người đàn ông chít khăn đỏ nhìn cảnh ấy, thì thầm nhắc lại:

- Chúng mang voi trận ra rồi! Không hành động được đâu nữ tướng.

Nói rồi người ấy kín đáo ra ám hiệu cho người con gái. Người con gái thẫn thờ bước lẩn vào đám đông. Chiếc khăn đỏ của cô thoáng dừng lại ở chỗ có mái khăn đỏ này, rồi mất hút trong đám đông, rồi lại hiện ra, chụm lại với những mái khăn đỏ khác.

Người đàn ông vẫn đứng đó sững sờ nhìn những mái khăn đỏ đụng đậy trong đám đông với vẻ mặt thất vọng buồn nản.

Khi khắp trên tuyến đường dài, chen vào giữa hàng vệ binh, những con voi trận đương sừng sững như một trái núi nhỏ, cự ly cách nhau rất đều, thì mặt trời đã xế bóng. Đằng đông, những lớp mây ùn ùn dựng lên. Nắng chiều vàng rực chiếu hắt lên nền mây và thả xuống mặt đường những vòng sáng hùng vĩ. Vừa lúc ấy, từ phía đầu đường ngược phía kinh thành bỗng xáo động, ồn ào. Hai bóng người phi ngựa đột nhiên hiện ra ở khúc ngoặt, phóng vùn vụt qua đám người, đội lính, bầy voi chạy một mạch về phía Phú Xuân. Kỵ mà cho ngựa chạy sát lề đường, cố ý vung roi, đánh vun vút vào không khí. Ngựa chạy đến đâu, cảnh nhốn nháo, náo động nổi lên đến đấy. Đám người kết lại với nhau thành một mảng lớn, xô đẩy, lấn về phía trước. Lính vệ binh chỉnh hàng, dàn quân, đàn voi trận vươn vòi, cử mình. Các viên chưởng cơ từ trong quán tất tả chạy về quân ngũ. Tiếng loa lại ậm ọc nổi lên. Và sau cùng là viên đề đốc kinh thành lật lật chạy ra cửa quán, bước nhanh về chỗ bày chiếc hương án lớn, có lọng che đổ bóng xuống. Ở các hương án khác, rải suốt dọc đường, các xã quan, hào lý cùng cuống quýt, thắp hương đốt trầm, xốc lại áo, thít lại khăn.

Đám đông mỗi lúc một xôn xao hơn. Người thì ngắm nghía cảnh tất bật của quan quân triều đình, người thì ngóng về phía vừa xuất hiện mấy tên lính dẹp đường. Từ mạn ấy, tiếng chuông, tiếng trống náo động vọng lại mỗi lúc một rõ.

Đột nhiên, một lá cờ bắc đẩu vụt hiện ra ở đầu đường. Tên lính cầm cờ gò người về đàng trước vì sức nặng của lá cờ, bước chậm chạp, một đoàn cờ 10 chiếc nữa dàn ra ở phía sau. Cả đoàn cờ bước một từ từ diễu qua quãng đường có dân chúng, quan quân, voi ngựa chực sẵn hai bên. Tiếng xì xào bình phẩm nổi lên trong đám người. Lập tức tiếng loa cất giọng oang oang:

- Cờ túc tĩnh! Dân chúng im lặng.

Hai lá cờ túc tĩnh xuất hiện ở đầu đường rồi im lặng đi lướt giữa đám đông. Quãng đường vắng lặng trong khoảnh khắc rồi bỗng nhiên lại thấy hiện tiếp ra một rừng cờ xí nhốn nhạo rợp đường: cờ nhị thập bát tú , cờ ngũ hành , cờ phong vân lôi vũ , cờ nhật nguyệt ... Cuối cùng, tách riêng ra khỏi đám cờ đủ màu sắc ấy là hai lá cờ vàng, thấp thoáng mấy đai tự màu đen. Tiếng loa đột ngột giật giọng:

- Cờ cảnh tất . Cấm chỉ đi lại!

Viên đề đốc vội quỳ phục xuống trước hương án. Các vị quan khác cũng lập theo một loạt, bò rạp người xuống đất. Quân lính, voi, ngựa, đứng lặng như hóa đá.

Nhưng cảnh tượng trang nghiêm, tôn kính ấy dường như không truyền được chút ảnh hưởng nào đến đám đông dân chúng đứng suốt dọc đường. Người ta vẫn xô đẩy, chen lấn chạy đi chạy lại để tìm chỗ nhìn ngó. Cảnh náo động lại càng tăng thêm khi trên đường xuất hiện một toán lính cấm vệ, xúm xít vây quanh một chiếc kiệu sơn son thiếp vàng, chạm rồng, khắc mây, đang từ xa tiến tới. Quạt vuông, quạt tròn, lọng cán thẳng, cán cong vàng loé một quãng đường. Chiếc kiệu đi rất chậm thấp thoáng ẩn hiện giữa đám lọng, quạt của toán lính cấm vệ.

Bỏ mặc đám quan quân triều đình đang nằm chết cứng hai bên lề đường, dân chúng hết lớp này đến lớp khác vẫn chen lấn, xô đẩy, chỉ trỏ, nghiêng ngó khi chiếc kiệu rồng chậm chạp lướt qua. Ai cũng cố nhìn vào trong kiệu, nhìn một hình người mờ mờ khuất sau tấm rèm cửa. Nhưng không mấy ai nhìn được rõ. Chỉ đến khi bất chợt một cơn gió thoảng làm lay động lá màn gấm che kiệu thì mới có mấy người thấy được ống tay áo bào vàng từ trong kiệu thò ra, khép lại tấm rèm cửa bị gió hé mở. Trong số những người được chứng kiến cảnh ấy, có người đàn ông cao gầy chít khăn đỏ, nét mặt vẫn giữ nguyên vẻ thẫn thờ. Vì thất vọng, giận dữ và người con gái lúc ấy vừa tiến về chỗ đứng cũ nét mặt vẫn còn nặng trĩu suy tư, vì bị lỡ mất một dịp hành động hiếm có. Người con gái ấy chính là Phó tướng Lộc, còn người đàn ông không phải ai lạ, chính là viên quản tượng của Bùi Thị Xuân.

Đưa tay kéo lại tấm rèm kiệu vừa bị gió hất tung, Gia Long Nguyễn Ánh lại ngả người về phía sau kiệu. Trời vẫn oi bức, ngột ngạt. Chiếc mũ trận của Hoàng đế bằng tơ lông sắc đen, đính đầy ngọc quý và thêu bốn con rồng cùng một ngọn lửa cháy lắc lư trên đầu Ánh. Chiếc áo bào vàng hẹp tay, thêu rồng mây, thuỷ ba và chiếc vải choàng màu thiên thanh bó chặt cứng lấy người, khiến Ánh cử động vừa nặng nề vừa mất tự nhiên. Chân Ánh ngọ nguậy trong đôi hài đen lót mấy lần tất lụa. Ánh không còn cảm thấy thích thú như hồi sáng khi mới mặc bộ y phục của thiên tử, để sửa soạn trở về kinh thành này nữa. Bộ y phục của thiên tử mà từ gần một tháng nay, Ánh đã hạ lệnh cho các quan ở Thăng Long phải chế gấp để kịp mặc cho đúng với vẻ uy nghi của một vị Hoàng đế mới lên ngôi. Xênh xang mũ áo, ca khúc khải hoàn hồi triều, giờ đây chỉ làm cho Ánh thêm khó chịu.

Ánh cau mặt, ghé mắt qua rèm cửa, nhìn ra ngoài một lần nữa. Dân chúng hai bên đường vẫn ồn ào, chen lấn, xô đẩy, chỉ trỏ. Nghi vệ thiên tử của Ánh không khiến được dân phải khiếp phục. Họ không chịu quỳ, cúi đầu che mặt khi thấy nghi vệ thiên tử đi qua như Ánh tưởng, vẻ bất kính cua dân chúng khiến Ánh bực bội hơn cả tiết trời oi bức, hơn cả bộ hoàng bào nặng nề. Đã vậy, dân chúng lại chỉ háo hức nhìn ngắm Ánh và đoàn tùy tùng diễu qua như đi xem một cảnh lạ. Rồi đó, họ lại dồn sự chú ý về phía sau, ngóng đợi... Nghi vệ thiên tử của Ánh bày ra chỉ được dân chúng tò mò, xem xét trong khoảng khắc và họ chăm chú chờ đón, đợi trông điều mà họ biết là còn đang ở phía sau, sắp tới. Cảnh ấy làm cho Ánh thêm tức tối.

Bất chợt Nguyễn Ánh tụt hẳn người vào trong. Ánh hành động tự nhiên, hoàn toàn theo bản năng như khi ra trận né tránh một mũi tên. Ánh vừa bắt gặp rnột đôi mắt nảy lửa, một cái nhìn giận dữ trong đám đông dân chúng bên đường, hướng thẳng vào chỗ mình ngồi trong kiệu. Người đang nhìn chằm chằm, tìm hình Ánh ở phía trong tấm màn kiệu ấy, lại cũng chít khăn đỏ. Ánh giật mình thấy người rờn rợn. Vừa nãy khi khép lại tấm rèm cửa bị gió thổi bay, Ánh cũng đã chợt nhìn thấy hai khuôn mặt dữ dội như thế. Và cũng những nếp khăn đỏ như thế. Phút chốc, Ánh thấy tim mình đập mạnh. Ngồi trong kiệu rồng, giữa bầy lính bảo vệ gươm giáo quắc sáng mà Ánh cảm thấy như hồi đầu năm, đứng trên lũy Trấn Ninh, nhìn quân Tây Sơn đang lớp lớp xô tới phía mình. Những chiến sĩ Tây Sơn ngày ấy cũng đội khăn trên đầu đỏ rực như thế. Tự nhiên Ánh thấy lo lắng, đưa mắt quan sát xung quanh. Sực nhớ mình đang dùng nghi vệ thiên tử dẫn quân hồi triều, Ánh thấy cần phải giữ cho tư thế đĩnh đạc. Ánh yên lòng thấy vệ binh đã dàn khắp đường và từng quãng lại thân voi trận đứng trực sẵn sàng. Ánh thầm khen viên đề đốc kinh thành, một thuộc hạ tin cẩn, biết lo liệu sắp đặt chu đáo. Dường như viên đề đốc bao giờ cũng đọc được suy nghĩ của Ánh và biết làm vừa lòng Ánh. Ánh nhẩm tính số vàng và số người sẽ được Ánh trọng thưởng. Ngay cả quân lính, Ánh nghĩ cũng phải ban phát cho họ ít tiền bạc. Ánh biết rằng trong lúc dân chúng còn tưởng nhớ đến triều Tây Sơn, càng cần phải ban cho lính nhiều đặc ân, phải lấy ân thay uy, dùng vàng bạc thưởng cho kẻ có công, mới mong tìm thấy sự trung thành của họ. Hẳn đấy cũng là cách thu phục nhân tâm khi cả nước vừa dứt cơn binh lửa. Ánh hài lòng trước quyết định ấy, và một ý nghĩ ngộ nghĩnh chợt đến: Ánh còn tìm thấy từ trong bộ y phục thiên tử quý vô giá, từ những đường viền kim tuyến óng ánh mà Anh đang mặc, uy quyền của một ông vua nắm trong tay tính mạng cả nhân dân. Và, xa kia, trên con đường Ánh đang tới, cung điện nguy nga, tráng lệ của thành Phú Xuân đang chờ Ánh. Để có cái ngày rất đỗi vinh hiển này, Ánh đã phải bao năm nén hờn nhịn nhục, phiêu bạt nơi đất khách quê người và bao lần cầu cứu ngoại viện mới đổi được. Đánh được Tây Sơn đã khó, thu phục được lòng dân lại càng khó hơn. Anh cố xua đi nỗi lo mà rồi đây Ánh phải định rõ kế sách, phải nghĩ cho chín, còn lúc này, lòng Ánh đang vui, Ánh đang được vui. Dẫu sao ta đã đang hồi triều - Ánh tự nhủ, ta đã là đấng thiên tử, Ánh ngây ngất mường tượng những kho châu báu, những bầy cung nữ... Ánh đặc biệt hoan hỉ sung sướng khi nghĩ tới người con gái đẹp tuyệt trần của đất Bắc Hà, tuổi vừa đôi tám, mà Ánh đã chiếm được. Ngọc Bình công chúa - tên nàng - và tấm thân ngọc ngà của nàng làm Ánh mê mẩn. Vậy mà Nguyễn Văn Thành lại còn giở giọng can gián ta. Hắn nói: “Là đấng thiên tử không ai lấy vợ thừa của Cảnh Thịnh”. Ta đã bảo thẳng vào mặt hắn: “Đất nước Cảnh Thịnh ta còn lấy huống hồ một người con gái đẹp, vợ hắn”. Thành không vui lòng nhưng đợi đấy, ta sẽ không bao giờ quên tội can gián ấy của hắn.

Ánh lại quay về với những ý nghĩ vui vui. Nhưng nỗi vui của Ánh chẳng kéo dài được bao lâu. Lại một mái khăn đỏ nữa xuất hiện bên đường. Tại sao lại có kẻ đội khăn đỏ trà trộn trong đám dân chúng như vậy? Chúng vô tình hay cố ý dùng màu đỏ ấy? Và tại sao lại có nhiều khuôn mặt giận dữ? Còn dân chúng nữa, tất cả đều ngóng về phía sau, mong đợi chăm chú! Ánh lại cảm thấy một nỗi bất lực lẫn lộn với ghen tức dâng lên trong lòng. Và, bất giác, cũng muốn xoay người, nhìn về phía sau xem sao. Ý muốn kỳ lạ ấy càng khiến Ánh thêm bứt rứt. Bởi vì, đấng thiên tử không thể có hành vi như vậy.

Chiếc kiệu rồng vẫn chậm chạp tiến về kinh thành Phú Xuân, giữa đám quan quân triều đình cung kính và bơ phờ vì nắng, giữa đám dân chúng ồn ào, nhốn nháo vì bất kính khi kiệu đi qua, rồi sau đấy lại chăm chú ngóng ngay về phía sau, chờ đón điều mà họ mong đợi.

Trong kiệu, cuối cùng không nén nổi tò mò, sau khi đã vén tấm màn gấm che kiệu, Nguyễn Ánh xoay hẳn người nhìn ngước về sau...

Ngay đằng sau chiếc kiệu rồng, một toán lính cấm vệ chín mươi tư người cao lớn, vác búa, rìu, đinh ba và giáo vàng sáng chói, bước rầm rộ. Một dàn chiêng trống nối theo, khua rền từng hồi. Đám đông dân chúng đang chen lấn ồn ào, bỗng dưng im bặt, ngừng chuyển động. Điều mà họ mong đợi đã đến. Tất cả đều mở to mắt, nín chờ. Không khí lại nặng nề, căng thẳng như lúc chưa có đoàn nghi vệ hiên tử diễu qua.

Toán lính cấm vệ cầm binh khí và dàn chiêng trống đã đi khỏi. Quãng đường lại chợt vắng lặng đi một lúc, như nín thở đón chờ một điều gì lớn lao, đang sắp sửa xuất hiện. Lúc này, mặt trời vàng rực đã ngả hẳn về phía Tây. Không gian tím ngắt lại càng làm cho cảnh chiều đượm một vẻ trầm tư man mác. Trong im lặng, dần dần nghe tiếng chân bước lạo xạo trên đường của một đội lính túm tụm, lặc lè khiêng một dẫy cũi lớn. Những chiếc cũi sơn đỏ, nặng nề chắc chắn, gióng lớn bằng bắp tay, lắc lư dưới những chiếc đòn khiêng cũng sơn đỏ, đè nghiến trên vai đám lính.

Dẫy người tản dài hai bên đường bị cảnh tượng nặng nề ấy thu hút, đứng ngây người nhìn từng chiếc cũi đỏ lúc lắc lướt qua trong những tia nắng chiều sót lại. Chiếc cũi đi đầu nhốt chặt một người nằm gục ở bên trong. Người bị nhốt chỉ còn một nắm xương bọc trong bộ võ phục rách nát, tơi tả thở thoi thóp. Khuôn mặt người trong cũi hốc hác, râu tóc rối bời nhưng vẫn còn giữ được vẻ hào hùng của cuộc đời làm tướng đầy oanh liệt.

Mấy tiếng thì thầm hốt hoảng thốt lên trong đám đông:

- Trời! Quan Thiếu phó đấy ư?

- Phải quan Thiếu phó không?

- Chúng nó đầy ải quan Thiếu phó đến nỗi này ư?.

Tất cả dân chúng vẫn mải mê ngây người nhìn ngắm dẫy cũi đỏ không chớp mắt.

Lại có tiếng than khe khẽ:

- Ô kìa! Cháu bé tội nghiệp chưa?

Chiếc cũi thứ hai quá rộng đối với một em gái nhỏ ngồi gọn lỏn bên trong. Em gái nép người trong một xó cũi, hai tay thu vào lòng, đôi mắt mở to ngơ ngác nhìn ra bên ngoài qua khe cũi. Tiếng xì xào mỗi lúc một nhiều và không ít thiếu phụ kín đáo giấu đôi mắt đẫm lệ trong vành khăn mỏng. Cho đến khi chiếc cũi thứ ba khiêng tới thì không khí nhốn nháo hẳn lên. Nhưng ngay sau đó, một sự im lặng đến căng thẳng bao trùm lên đám đông dân chúng. Nhiều người cùng thốt lên đượm nỗi xúc động nghẹn ngào.

- Bà Thiếu phó đây rồi!

- Nữ tướng Bùi Thị Xuân đây rồi!

- Trời ơi! Nữ tướng của chúng ta!

Hoà vào tiếng gọi, tiếng than của mọi người, dưới gốc gạo bên đường, người con gái chít khăn đỏ cùng nghiến răng khẽ nói, giọng đau đớn.

- Chủ tướng! Chủ tướng của tôi. Trời ơi!

Người ngồi trong cũi như cũng nghe thấy những tiếng gọi thân thuộc ấy. Khuôn mặt bầu bầu với đôi mắt tròn to chợt rạng rỡ, nữ tướng nghiêng đầu ghé qua khe cũi, cố tìm ở bên ngoài những bóng người quen biết. Nhưng chiếc gông đeo nặng trên cổ và cánh tay bị thương máu đọng loang lổ trong lần vải buộc sơ sài khiến người bị nhốt không cử động được như ý muốn. Vừa khi ấy, một tiếng voi rống đột ngột cất lên trong bầy voi trận dựng dàn trên mặt đường. Tiếng voi rống kéo dài vừa thảm thiết, ghê rợn vừa dữ dội. Nghe tiếng voi, Bùi Thị Xuân bỗng nhiên chồm bật dậy. Chiếc cũi chao mạnh. Mấy tên lính khiêng cũi cố gượng mới giữ được thăng bằng. Chúng đi chậm lại. Đám lính vệ binh chạy túm tụm cả lại bên chiếc cũi. Và, dưới gốc mộc miên ven đường, người đàn ông cao gầy, chít khăn đỏ cũng bất chợt tái mặt, nói lắp bắp:

- Con Độc! Con voi độc ngà đã nhận ra Chủ tướng. Nó gọi, đúng con Độc của ta.

Bàn tay gầy guộc của người đứng tuổi miết mạnh vào gốc cây đến tuột da rớm máu.

Một trận gió cuốn cờ từ đàng đông, thổi tung cát bụi mặt đường, xoá nhoà đi dấu vết cuộc hồi triều của Nguyễn Ánh.

*

*      *

Trời mưa như trút nước. Nước mưa xối xả đổ xuống những mái điện thấp san sát kề nhau, xuống lớp ngói xanh đen rêu mốc. Trên sàn điện rộng thênh thang, đọng từng vũng nước mưa, nổi từng hàng bong bóng tròn trong suốt như pha lê.

Nguyễn Ánh ngồi trầm mặc trong cung điện lớn, lim dim mắt ngó ra sân. Lẫn trong tiếng nước mưa rơi rào rào từ gian điện bên cạnh, có tiếng đàn dịch văng vẳng vọng tới, hòa với tiếng nhiều giọng hát đai đi, đai lại:

“Minh minh thiên tử, vạn dân sở vượng, hiển hiện linh đức, như khuê như chương...”.

Tiếng hát chưa đều, ý chừng đang buổi tập luyện. Tuy vậy, Ánh cũng thích thú nghe, vẻ khoan khoái hiện rõ trên mặt. Tiếng hát chen với tiếng đàn khi trầm khi bổng vẫn văng vẳng.

- “Tuyên chiến nghĩa vấn, duy tâm chi chương, thiên trình thuần hổ, thọ phúc vô cương” . 

- Bài hát thật là hay, nghe bao nhiêu cũng không chán! Thường lệ thì tấu mấy lần.

Tiếng Ánh cất lên bâng quơ chìm đi trong toà điện vắng.

Nhưng từ sau chiếc cột lớn, một viên nội giám đứng khuất trong bóng tối, kính cẩn chắp tay lặng lẽ, nặng nề như một pho tượng, đã khúm núm thưa:

- Muôn tâu Bệ hạ! “Nhạc lý bình” này chỉ khi hoàng đế ngự điện sửa soạn ban triều, mới được tấu một lần. Ngay mỗi khi tập, nhạc công cũng không được tập quá mười lần.

Nguyễn Ánh im lặng gật gù, lơ mơ nghĩ đến cảnh tượng của buổi đại triều sắp tới. Bấy lâu nay, Ánh hằng khao khát cảnh này. Tiếng nhạc, tiếng tấu dìu dặt, hoàng đế đội mũ “Cửu long” đeo đai ngọc, ngồi chễm chệ trên ngôi báu, dưới thềm các quan đại thần phủ phục tung hô vạn tuế...

Bỗng, Ánh lại lên tiếng:

- Toà cung điện này nhỏ hẹp quá, không xứng chỗ ngự của thiên tử. Ngay cả điện “Kim hoa” này cũng cũ quá rồi! Phải kíp xây lại cung điện mới. Không được ngại tổn phí, không được chậm trễ.

Viên nội giám kính cẩn:

- Muôn tâu! Gian điện này khỏi công xây cất từ đời đức Thế Tông Hiến Võ năm Giáp Tý. Đến nay đã được năm mươi tám năm.

- Sao? Nguyễn Ánh bực dọc cắt ngang. Ta có cần biết cung điện này xây cất từ bao giờ đâu? Trong hoàng tộc đức Hiến Võ giữ ngôi báu trước ta, nhưng ta nay không phải là vị chúa trị vì nửa thiên hạ mà là đấng thiên tử thu phục được cả giang sơn. Sự nghiệp dòng họ ta nay đã khác. Cung điện không hơn được của Chu Thành Tổ thì cũng không được kém.

Viên nội giám lo sợ nhìn Nguyễn Ánh thưa:

- Muôn tâu, ý muốn của thiên tử là ý trời, Bộ công sẽ phải gấp lo xây cất. Thần được biết khu hoàng thành của nhà Minh do Nguyễn An, người Việt ta khởi thảo, đôn đốc xây cất chỉ mất không quá ba năm.

Nguyễn Ánh lại im lặng gật gù, nhìn mưa, nghĩ lan man, rồi uể oải ngã dài người trên sập. Chợt nhớ ra điều gì, Ánh vùng dậy hỏi:

- Không biết chiếc mũ “Cửu phượng” của Hoàng hậu đã chế xong chưa?

Vốn thường nép mình sau cột rồng dinh đón từng cử chỉ của Ánh, viên nội giám vội vã thưa:

- Muôn tâu, Bộ công đã nộp từ sáng. Hiện còn để ở kho...

Nguyễn Ánh chồm ngay dậy, mắt trợn ngược:

- Sao không tâu ngay?

Viên nội giám sợ xanh mắt trước cơn thịnh nộ bất ngờ của Nguyễn Ánh vội vã quỳ phục xuống lạy rồi hấp tấp lùi sang gian điện bên. Một lát sau, trước mặt Ánh đã thấy bầy một chiếc khay phủ nhiễu vàng điểm ngọc trai lóng lánh. Nguyễn Ánh bình thản đưa tay nhấc tấm nhiễu. Một chiếc mũ vàng chói, thêu rồng, đính phượng, kết hoa, dệt bướm, dát ngọc hiện ra. Nét mặt rạng rỡ, Ánh cúi người xuống sát chiếc mũ, ghé mắt nhìn, Ánh mải mê ngắm nghía chiếc mũ, mân mê từng dây ngọc, sợi vàng, đôi mắt đờ đẫn.

Thốt nhiên, Ánh cất tiếng hỏi:

- Quốc khố đã xuất bao nhiêu ngọc?

- Muôn tâu, theo điển lễ thì mũ “Cửu phượng” của Hoàng hậu phải đủ một trăm chín mươi tám hạt trân châu và hai ba mươi hạt pha lê.

Vẻ tự đắc, Ánh ngẫm nghĩ một lát rồi nhấc mũ lên, bắt đầu rờ tay đếm lại từng hạt ngọc. Công việc tẩn mẩn này, Ánh làm không biết chán. Ánh đếm mê mải đến nỗi có tiếng thì thào của viên nội giám với một người nào đó ở cửa ngách Ánh vẫn không hay. Không đợi được, vien nội giám rón rén đến quỳ trước mặt Ánh, kính cẩn thưa:

- Muôn tâu, quân cấm vệ báo tin có quan Phó tổng trấn Bắc thành mới từ Thăng Long về, xin vào bệ kiến trình việc cơ mật.

Không thấy Ánh trả lời, viên nội giám lại kính cẩn tâu lại lần nữa. Lúc ấy Ánh mới thong thả nói, mắt chưa rời chiếc mũ:

- Đặng Trần Thường à! Sao đã theo gót ta về sớm vậy? Cho vào!

Một người nhỏ nhắn, gầy guộc lụng thụng trong chiếc áo rộng tay của quan văn hấp tấp bước tới. Qua ánh sáng yếu ớt của cây nến, con người có dáng dấp hấp tấp, vội vã ấy lộ rõ nước da nâu xỉn, đôi mắt nhỏ ti hí nhưng rất sắc và quanh đôi môi mỏng dính, mím chặt là hàng râu lưa thưa mọc không đều. Đó chính là Đặng Trần Thường, Phó tổng trấn Bắc thành của Nguyễn Ánh.

Vừa nhác trông thấy Ánh, Thường đã quỳ rạp xuống sàn vừa lạy vừa nói, giọng nhơn nhớt:

- Thần vừa từ Bắc thành vội về, xin kính chúc Bệ hạ thánh thọ vô cương!

Nguyễn Ánh chỉ liếc nhìn viên đại thần của mình một thoáng rồi lại loay hoay với những viên ngọc quý trên chiếc mũ “Cửu phượng”. Tuy vậy, hài lòng trước lễ triều kiến đúng phép của Thường, Ánh giơ tay chỉ chiếc đôn bên cạnh sập:

- Thôi miễn lễ! Hãy lại gần đây!

Thường khép nép tới gần Ánh, ngồi ghé lên chiếc đôn. Ánh nói tiếp, mắt vẫn không nhìn Thường:

- Trẫm để khanh ở lại Bắc thành, quyền cao chức trọng vào hạng nhất nhì trong số các công thần, thế mà vẫn còn chưa vừa ý hay sao mà đã vội theo về sớm vậy?

Câu nói bất ngờ của Ánh lại làm cho chính Ánh sinh bực tức. Ánh đổi giọng chì chiết:

- Công việc hệ trọng ngoài Bắc thành còn bề bộn, trẫm có tin cẩn mới giao cho khanh. Nguyễn Văn Thành tuy được làm Tổng trấn, nhưng thực quyền là ở khanh cả. Vậy mà khanh đã phụ lòng tin của trẫm mà bỏ về! Hay là việc giám sát Nguyễn Văn Thành trẫm riêng nhờ cậy khanh đã có manh mối gì? Vừa mới hồi triều trẫm muốn nghỉ ngơi đôi chút mà cũng không yên!

Đã thuộc tính nết của Anh, nét mặt Thường lộ rõ vẻ lo lắng:

- Muôn tâu Bệ hạ! Thần được Bệ hạ đoái thương, ban ơn mưa móc cho như vậy đã là quá đáng, đâu còn dám lạm xin điều gì! Việc giám sát Nguyễn Văn Thành thần vẫn hết lòng nhưng chưa thu được tin tức nào cả. Sở dĩ thần cam chịu tội tự ý về triều bệ kiến, lại phạm tới lúc nghỉ ngơi của đấng thiên tử, chính là vì công việc khẩn cấp hết sức hệ trọng muốn tấu trình...

Nguyễn Ánh rời chiếc mũ, đưa mắt dò hỏi nhìn Thường. Thấy Thường liếc mắt nhìn quanh, ngập ngừng chưa nói, Ánh hiểu ý, khoát tay ra lệnh cho viên nội giám lui ra ngoài. Lúc ấy, Đặng Trần Thường mới nhón người, nói nhanh:

- Muôn tâu Bệ hạ, thần dám xin Bệ hạ tha tội chết để hỏi rằng, gần đây Bệ hạ có biết nhân tâm đối với việc bọn Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân bị bắt ra sao không?

Trước câu hỏi đột ngột của Thường, Ánh đẩy chiếc khay đựng mũ “Cửu phượng” sang một bên và sau một thoáng nhíu mày, Ánh chậm chạp hỏi Thường:

- Khanh nói sao? Lũ tội phạm ấy ta đã đóng cũi dong về kinh, giam kỹ trong ngục, chờ ngày đem ra làm lễ hiến phù. Đó chẳng phải là theo đúng cổ lễ đó sao?

Thấy Ánh có vẻ ngạc nhiên, Thường đắc ý:

- Muôn tâu, chính cái việc rất thường ấy mà thần phải tức tốc về kinh để xin được bệ kiến. Thần không dám giấu rằng, hiện nay nhân tâm rất xao xuyến về việc này. Bọn dân đen đến tỏ ý thương tiếc những tên tặc tướng ấy...

Nghe đến đó, nét mặt Ánh tối sầm lại. Một nỗi bực bội lẫn lộn với ghen tức lại có dịp trỗi dậy trong lòng Ánh, hệt như khi Ánh đang ngồi trong kiệu rồng, lần đầu tiên dùng nghi vệ thiên tử, dẫn quân hồi triều bữa trước. Câu nói vô tình của Thường làm cho Ánh nhớ lại cuộc đấu khẩu giữa Ánh và Bùi Thị Xuân hôm nào. Bữa ấy, Ánh truyền dẫn Bùi Thị Xuân ra mắt mình. Thâm tâm Ánh không phải muốn thu phục Bùi Thị Xuân. Bởi vì, hắn biết viên nữ đô đốc Tây Sơn này có tấm lòng sắt đá không bao giờ chịu khuất phục hắn. Nhưng Ánh muốn được tận mắt nhìn người đàn bà có chí lớn, có mưu cao, có tài hơn hẳn các tướng Tây Sơn mà bao phen quân hắn bị thua.

Cuộc gặp gỡ ấy Ánh giữ rất kín vì một lẽ giản đơn, Ánh đã bị nữ tướng Tây Sơn làm nhục. Chiếc cũi nhốt Bùi Thị Xuân được khiêng đến, Ánh không úp mở rào đón mà vào chuyện ngay:

- Ta từng nghe nhà ngươi hội đủ cả trí, nhân, dũng, dẫu người xưa cũng không bằng. Vậy mà đi thờ Nguyễn Huệ, thật uổng...

- Ta chưa thấy ai tự phong mình làm vua - Bùi Thị Xuân cướp lời - mà lại ăn nói hàm hồ như nhà ngươi. Ta cũng chưa bao giờ có ý nghĩ so sánh với tiền nhân một cách vô lễ. Người ta làm nên cơ nghiệp đều nhờ sức nhiều người.

Nguyễn Ánh gượng cười, gật gù:

- Một người đối đáp giỏi. Tiếc thay không chọn được vua sáng mà thờ.

Bùi Thị Xuân chợt cười:

- Nhà ngươi nhầm rồi. Ta thờ Nguyễn Huệ vì Tiên đế ta là người trong bụng có chí lớn, có tài bao bọc được cả vũ trụ, có chí nuôi cả trời đất kia.

Nguyễn Ánh không chờ Bùi Thị Xuân nói hết, vội hỏi:

- Thôi, hãy dẹp chuyện hiềm khích lại. Ta muốn hỏi ngươi một điều: Ngươi đã từng thờ Nguyễn Huệ và đã từng nghe oai danh ta. Nguyễn Huệ từng sát hại cả dòng họ ta. May mắn cho ta, khi ấy mới 15 tuổi, được trời phù hộ, Nguyễn Huệ không giết nổi. Từ cô quân chống lại đại địch, ta đã dựng lại cơ đồ, giữ yên xã tắc, quy giang sơn về một mối, giữ ngôi chúa tể. Vậy giữa ta và Nguyền Huệ ai hơn ai kém?

Ánh ngạc nhiên khi thấy Bùi Thị Xuân không cần suy nghĩ, đáp ngay:

- Ta sẽ mở mắt cho ngươi. Nói về nhân cách Tiên đế ta là bậc anh hùng, còn ngươi là kẻ ngoài mặt thì mạnh bạo trong bụng thì nhút nhát, thích mưu mẹo mà không quyết đoán, làm việc lớn chỉ lo đến bản thân, thấy lợi nhỏ thì quên mình mà không nghĩ đến ích nước. Đó là nhân cách của kẻ tiểu nhân.

Nói về tài ba, Tiên đế ta bách chiến bách thắng, từ hai bàn tay trắng mà đánh Nguyễn, diệt Trịnh, cả phá giặc Xiêm, giặc Thanh chỉ một trận mà trời tan đất vỡ, núi đổ non nghiêng, đến nỗi giặc thoát chết về đến nước nó còn hồn siêu phách lạc. Còn ngươi bị Tiên đế ta đuổi đánh, phải luồn lách trốn chạy như lũ chuột ngày, cầu viện hết Xiêm đến Thanh và nay là bọn Phú-lãng-sa. Chỗ hơn kém, xem vậy, như ao trời nước vũng!

Nói về đức độ thì Tiên đế ta lấy nhân nghĩa mà đối xử với kẻ trung thần thất thế như đã đối xử với Nguyễn Huỳnh Đức là tôi nhà ngươi. Còn ngươi, lại dùng tâm của kẻ thù tiểu nhân đối với bậc trung nghĩa hết lòng vì chúa, chẳng nghĩ rằng lấy nhân nghĩa đối với bầy tôi trung thành của người khác tức là khuyến khích tôi mình trung với mình. Xem vậy, chỗ hơn kém rõ ràng như ban ngày và đêm tối. Nếu Tiên đế ta không thác sớm thì dễ gì nhà ngươi trở lại nước này, nói gì đến việc nhà ngươi đắc chí như hôm nay.

Mặt Nguyễn Ánh tím bầm nhưng trót bầy ra cuộc thách đố nên hắn nuốt giận, hỏi:

- Ta có thể trong giây lát bóp chết nhà ngươi hoặc kéo lưỡi ngươi ra khỏi mồm vì cái tội dám xúc phạm đến đấng thiên tử. Nhưng việc đó ta làm lúc nào cũng được. Nghe đây, hãy trả lời ta câu hỏi cuối cùng: nhà ngươi vào sinh ra tử bao năm, cũng là người có tài cầm quân sao không giỏi giữ ngai vàng cho Cảnh Thịnh?

Bùi Thị Xuân mỉm cười:

- Người xưa nói, chịu nghe thì sáng, cậy mình thì tối. Ta tiếc Hoàng đế Cảnh Thịnh không biết nghe lời khuyên của đấng trung thần, khác nào vua ta cầu người hiền mà không biết đạo, muốn người ta vào nhà mình mà lại đi đóng cửa lại. Ta nói, vua ta nối ngôi cha mà không nối được chí cha là thế. Vì chỗ yếu ấy của Vua ta nên nhà ngươi còn sống được đến hôm nay. Chứng cớ là ở trận Trấn Ninh, nếu Vua ta nghe lời ta đánh dấn, ta đã bắt được ngươi bỏ rọ đem về rồi. Đó là nói về thế cuộc. Còn giữa ta và ngươi, chẳng phải chỉ chạm trán ở trận Trấn Ninh ấy. Ở Quảng Nam, chắc ngươi còn nhớ, nêu ngươi không hèn nhát đi đoạn hậu, mạng ngươi cũng chẳng còn. Chỗ hơn kém giữa ta và ngươi cũng đã rõ. Nếu triều đình Cảnh Thịnh có một nữ nhi nữa như ta thì cửa Nhật Lệ không phải lạnh, nhà ngươi không thể đặt chân lên đất Bắc Hà.

Nghe đến đó, Nguyễn Ánh chồm dậy, hét:

- Nữ tặc, câm họng! Mi sẽ phải chịu hình phạt thảm khốc vì tội khi quân.

Bùi Thị Xuân bật cười lớn.

Bọn vệ sĩ hốt hoảng xông vào đẩy vội chiếc cũi nhốt Bùi Thị Xuân ra ngoài rồi khiêng đi. Nhưng tiếng cười sảng khoái của vị nữ Đô đốc Tây Sơn vẫn vọng vào nghe rõ mồn một. Nghe tiếng cười ấy, Nguyễn Ánh càng tức tối vì bị làm nhục. Ánh tự trách mình đã bày ra cái cảnh lợi bất cập hại. Tuy vậy, vì quá giận mà phải nén giận. Cơn giận có qua đi như một cái bóng nặng nề nhưng không bao giờ dứt được...

Tiếng của Thường lại văng vẳng bên tai Ánh. Ánh giật mình trở về hiện thực:

- Muôn tâu Bệ hạ, bọn dân đen vẫn còn thương tiếc lũ tặc tướng ấy, tức là vẫn có ý tưởng nhớ đến ngụy triều. Đó mới thực là mối lo của ta. Hậu hoạ thật không thể lường được. Ngoài Bắc thành...

Câu nói của Thường, cái giọng nhơn nhớt đáng ghét ấy như nói về nỗi nhục của Ánh, ám chỉ việc Ánh bị Bùi Thị Xuân chế giễu. Nhưng vừa ở Bắc thành về, làm sao Thường hay biết. Nghĩ vậy, Ánh yên tâm để lắng nghe Thường nói. Thấy chuyện lạ, Ánh dồn hỏi ngay:

- Khanh nói ngoài Bắc thành làm sao?

Biết mình lỡ lời, Thường phải nói thật:

- Muôn tâu Bệ hạ! Ngoài Bắc thành, bọn dân đen cũng bắt đầu nổi dậy, khởi loạn.

Tim Ánh thót lại như có bàn tay vô hình bóp chặt lấy. Thế là ngai vàng của Ánh sau khi diệt xong Tẩy Sơn đã lại bị đe doạ rồi. Và hình ảnh Bùi Thị Xuân còn ám ảnh Ánh. Giọng Ánh trầm hẳn xuống:

- Khanh phải tâu cho thực, những đám giặc cỏ ấy có tên nào như nữ tặc Xuân không?

Đến lượt Thường lúng túng. Viên đại thần triều Nguyễn định bụng tấu chuyện này nhằm một ý khác. Nhưng không ngờ sự thể lại thành ra như vậy. Thường ấp úng:

- Muôn tâu, cũng chỉ có mấy tên. Ở Hải Dương có tên Lao Văn Dung, tự xưng niên hiệu Cảnh Nguyên; tên Nguyễn Trịnh tự xưng Chính thuận thái tử, tên Tổng Cả và Nguyễn Trọng Phan lấy hiệu là Bạch xỉ chân nhân. Những tên này chỉ là hạng đỡ quân cho nữ tặc Bùi Thị Xuân mà thôi.

- Còn những tên nào nữa - Ánh hỏi dồn.

- Muôn tâu! Ở Sơn Nam có bọn Đào Xiển Văn, Tống Trung, Trương Đăng Quý. Ở Thanh Hoá có tên Trần Tiếm xưng quận công chia đội thành các ngũ Nhu, ngũ Ninh, ngũ Thắng, ngũ Dũng...

- Bọn dân đen theo chúng đông đến thế nào?

Nguyễn Ánh hỏi Thường mà cũng là hỏi mình. Không thấy Thường trả lời, Ánh bỗng nổi cơn thịnh nộ:

- Trẫm vừa đem quân ra Bắc thành trở về chưa được mấy ngày mà đã rối loạn đến thế rồi. Trẫm giao Bắc thành cho khanh, thử hỏi khanh đã vì trẫm mà giúp trẫm chưa, hay là lo hưởng phú quý, báo ân trả oán? Khanh phải nhớ rằng giặc đã nổi lên như ong khắp nơi, ngai vàng của trẫm không vững thì phú quý, vinh hoa của khanh có yên hay không?

Ánh trợn mắt thở hồng hộc, Đặng Trần Thường chưa từng gặp phải cảnh ngộ nào như thế. Thường giật thót người, toàn thân run lên, ngồi không vững, nhưng vẫn cố hết sức trấn tĩnh, sắc mặt nâu xỉn đã ngả sang màu xanh tái, nhưng Thường vẫn gắng giữ vẻ tự nhiên. Đợi cho Ánh bớt giận ngồi yên, lúc ấy Thường mới liếc nhìn Ánh rồi nuốt nước bọt, nói thẳng ý định của mình:

- Muôn tâu Bệ hạ! Bọn giặc cỏ ấy thần đã có kế trị. Chúng chẳng qua chỉ như thế muỗi đội núi. Tuy nhiên, kế ấy có can hệ đến bọn nghịch tướng Trần Quang Diệu, và - Thường ngập ngừng - Bùi Thị Xuân, nhất là Bùi Thị Xuân.

Nhắc đến nữ danh tướng Tây Sơn, cơn giận của Ánh lại bốc lên. Ánh đập tay xuống sập rồng:

- Bọn giặc tướng ấy trẫm sẽ hành tội ngay tức khắc. Trẫm sẽ bắt chúng cái chết thật ê chề, nhục nhã. Có thế thì mới triệt được hậu hoạ, có thế thì bọn giặc cỏ ở các nơi mới trông vào đấy mà khiếp đảm.

Đặng Trần Thường ngồi ngây người trên chiếc đôn, đầu choáng váng, tai ù đi như vừa qua một trận đấu súng thần công. Câu nói giải quyết đầy giận dữ của Nguyễn Ánh, khiến Thường như người bị hẫng chân, lộn xuống vực. Trong đầu óc quay cuồng của Thường thoáng gợn lên một nỗi bực bội, tiếc rẻ. Thường tự giận mình đã dò ý Nguyễn Ánh không khéo, để đến nỗi phút chốc xảy ra cơ sự này. Thường ngẩn người tiếc công mình đã bấy lâu suy tính, xếp đặt, tiếc sức mình đã mấy lần lận đận từ Thăng Long trở về Phú Xuân để thi hành kế sách.

Đặng Trần Thường vội về Phú Xuân là vì nhiều cớ - Thường ôn lại. Trong nhiều cớ ấy, có một việc riêng tư của Thường. Việc riêng tư ấy, sau bao đêm suy tính, Thường đã quyết lấy cớ vì việc công để về xin Nguyễn Ánh cho được định liệu. Nếu làm xong việc ấy, Thường sẽ nổi danh. Hơn thế, thoả được nỗi lòng bấy lâu ấp ủ.

Hơn hai mươi năm về trước, sau lúc chạy lên Thăng Long, cậy cục Ngô Thì Nhậm, một danh sĩ thời bấy giờ tiến cử lên chúa Trịnh, Thường bị Ngô Thì Nhậm ra mặt khinh bỉ, thẳng thừng từ chối, Thường ôm mối hận thù Nhậm, lén vượt biển vào Gia Định, theo phò Nguyễn Ánh. Lúc ấy, Ánh củng chung một cảnh ngộ như Thường, phải lén lút ở Gia Định, lang bạt ở Xiêm, mưu đồ chống lại Tây Sơn. Về sau, nhờ được người Tây Dương giúp, tướng Tây Sơn trấn trị ở Gia Định là Nguyễn Lữ lại bạc nhược nên Nguyễn Ánh nhanh chóng khôi phục được binh lược và lấy được đất ấy. Trong một trận giao tranh cực lớn ở Rạch Gầm - Xoài Mút, Đặng Trần Thường đã tận mắt chứng kiến Bùi Thị Xuân thống lĩnh một cánh quân Tây Sơn giao chiến với quân thuỷ bộ Xiêm - Nguyễn ngay trên cù lao Thái Sơn. Hôm ấy trời nắng gắt, đoàn thuyền chiến Xiêm - Nguyễn đuổi theo Nguyễn Huệ vừa lọt vào khúc sông hiểm trở ấy, bỗng Thường thấy Nguyễn Huệ bắn pháo lệnh rồi quay thuyền tiến đánh. Ngay sau đấy, Thường kinh hoàng thấy quân thuỷ bộ Tây Sơn từ các ngả lũ lượt tràn ra như những dòng thác đổ. Súng hai bên bờ sông từng đợt gầm lên lẫn trong tiếng reo hò dậy trời của quân Tây Sơn. Bị đánh bốn mặt, hết đường tiến thoái, nên chỉ trong phút chốc, cả 400 thuyền chiến của quân Xiêm - Nguyên quằn quại trong biển lửa, lần lượt đắm chìm. Thường hốt hoảng đưa mắt tìm Ánh, nhưng Ánh đã chạy từ lúc nào không ai hay. Cùng đường, Thường bơi vào bờ, may mắn tìm được một bãi cỏ rậm rì, ép người ẩn nấp. Vừa lúc ấy qua bụi cỏ, Thường giật thót người thấy Bùi Thị Xuân đang dẫn đầu một cánh quân Tây Sơn ập tới bờ sông. Bùi Thị Xuân đi đến đâu quân Xiêm ở đó ngã xuống như chuối đổ. Trong nỗi lo tột đỉnh, Đặng Trần Thường càng khiếp phục và nhận ra Bùi Thị Xuân khi ấy trạc ngoài 20 tuổi, cặp môi mọng đỏ, khuôn mặt thanh tú, nước da trắng hồng, tỏ ra một trang quốc sắc thiên hương. Bộ võ phục bằng lụa bó sát người càng khiến cho Bùi Thị Xuân có một vẻ đẹp cao thượng, vẻ đẹp võ tướng ấy - Thường nghĩ - gầm trời Nam này không ai sánh kịp. Trận ấy quân Tây Sơn đại thắng. Nhưng cũng như Nguyễn Ánh, Thường thoát chết. Từ đấy hình ảnh người con gái đẹp tuyệt trần đồng thời là một dũng tướng Tây Sơn luôn luôn ám ảnh Thường. Chính vì sắc đẹp quyến rũ và tài ba của Bùi Thị Xuân mà Thường để tâm dò hỏi lai lịch gốc gác viên nữ tướng. Biết Bùi Thị Xuân đã có chồng, sau này là bạn đồng liêu của Ngô Thì Nhậm, tự dưng Thường có cảm giác mất mát, tiếc nuối. Rồi mỗi lần hay tin Bùi Thị Xuân đánh đông dẹp bắc, tiếng tăm lẫy lừng Thường lại nẩy những ý nghĩ kỳ quặc: Thường vừa căm ghét viên tướng nhan sắc của triều Tây Sơn lại vừa mong chiếm đoạt được người con gái kiểu diễm ấy cho thoả dục vọng để làm nhục, để trả thù. Lòng mong ước ấy giờ đây đã thành sự thật, dù sự thật không hẳn đúng như Thường mơ tưởng. Bùi Thị Xuân đã bị Nguyễn Ánh bắt giải về Phú Xuân. Được tin ấy Đặng Trần Thường vô cùng mừng rõ. Ở Thăng Long đã mất mấy đêm trắng không ngủ để suy mưu tính kế chiếm đoạt Bùi Thị Xuân - Trên đường hấp tấp về Phú Xuân, Thường lại ra công nghiền ngẫm kế sách của mình, để giật Bùi Thị Xuân từ trong tay Nguyễn Ánh. Nguyễn Ánh có thể lấy vợ lại của Cảnh Thịnh ta cũng có thể bắt nữ danh tướng Tây Sơn phải đầu phục, phải hầu hạ - Thường nghĩ - lẽ ấy khiến cho ta nổi danh, tỏ rõ là người tài trí, khả dĩ chinh phục được cả nữ tướng, kiệt hiệt của triều Tây Sơn.

Sau phút bàng hoàng sửng sốt trước ý định quyết giết Bùi Thị Xuân của Nguyễn Ánh, Đặng Trần Thường lại cố gắng tự trấn tĩnh. Đầu óc dày dạn những mưu toan quỷ quyệt đã giúp Thường gỡ khắc quyết định này. Đợi Ánh nguôi giận, Thường điềm tĩnh nói:

- Muôn tâu Bệ hạ! Thần trộm nghĩ giết bọn Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân chưa chắc đã vỗ yên được thiên hạ mà lại như lửa đổ thêm dầu.

Ánh sửng sốt:

- Lạ cho Đặng khanh. Ngươi nói thật chẳng khác kẻ mất trí.

- Muôn tâu Bệ hạ! Thần dám xin liều chết để can ngăn Bệ hạ giết Diệu - Xuân. Để bọn ấy được sống, Bệ hạ có ba điều lợi. Một là Bệ hạ sẽ được tiếng nhân đức, bắt được tướng giặc mà vẫn rộng lượng như Gia Cát Lượng tha Mạnh Hoạch xưa. Hai là bọn tướng ngụy sẽ vì thế mà cảm kích theo Bệ hạ. Ba là, lũ cùng dân vốn còn nhớ tiếc ngụy triều thấy thế sẽ theo gương bọn ngụy tướng mà đầu phục Bệ hạ.

Thấy Ánh yên lặng, Thường tiếp:

- Vả lại, ngay ở kinh thành này vốn là đất đế đô của ngụy triều, thế nào mà chẳng còn dư đảng của chúng. Thần nghe nói, Bùi Thị Xuân từng có một đạo quân riêng năm nghìn người dũng mãnh. Xuân cho chúng dùng toàn cờ đỏ, quần áo đỏ, chít khăn đỏ. Đạo quân sắc phục đỏ ấy đã theo Bùi Thị Xuân đánh lũy Trấn Ninh, chết như ngả rạ mà không một đứa nào chịu lùi bước. Trong trận Trấn Ninh suýt nữa quân ta nguy khốn vì lũ ấy. Chúng trung thành với ngụy triều và rất tin phục tên nữ tặc tướng này. Nay những tên còn sống sót được tin Chủ tướng của chúng bị giết hại, tất chúng sẽ liều lĩnh trả thù.

Nguyễn Ánh cảm thấy một nỗi rờn rợn như khi đang đứng trên lũy Trấn Ninh hồi đầu năm, khi quân Tây Sơn đang reo hò xông tới. Cái cảm giác lo sợ, hồi hộp đã ẩn náu trong tim Ánh để rồi lại thỉnh thoảng bùng dậy. Lời nói của Thường cũng đã khiến cho Ánh tưởng tượng thấy trước mắt mình, những khuôn mặt dữ dội, những cặp mắt nảy lửa, những nếp khăn đỏ trà trộn trong đám dân chúng ở ven con đường trẩy quân về kinh thành bữa trước. Bỗng nhiên Ánh thấy cung điện rộng rãi, trống trải quá và một nỗi lo sợ không rõ ràng đến ám ảnh Ánh. Sau khi đã kín đáo thu mình, nhích vào mé sập, Ánh khẽ cất lên giọng hỏi Thường:

- Nếu trẫm tha chết cho Diệu, Xuân thì khanh có chắc chúng sẽ theo trẫm không?

Được lời như cởi tấm lòng, Thường đáp ngay:

- Muôn tâu, Trần Quang Diệu mắc bạo bệnh đã gần một năm nay, chẳng còn mấy hơi sức, dù có tha ra thì chỉ ngày một ngày hai là chết. Còn Bùi Thị Xuân thì thần cam đoan sẽ thu phục được.

Nguyễn Ánh ngạc nhiên:

- Sao khanh dám cam đoan như vậy?

Đặng Trần Thường hớn hở quên cả giữ gìn ý tứ:

- Muôn tâu Bệ hạ, Thần với Bùi Thị Xuân vốn là... chỗ quen biết cũ.

Nguyễn Ánh thoáng cau mày, liếc nhanh về phía Thường, vẻ ngờ vực dần dần hiện rõ trên nét mạt:

- À ra thế! Bấy lâu nay khanh chưa bày tỏ cho trẫm biết điều đó.

Nói đến đó Ánh dừng lại, nhếch mép cười nham hiểm, một ý nghĩ đến rất nhanh với Ánh: “Tên Thường này hấp tấp về đây chỉ vì việc Bùi Thị Xuân! Nó định mưu đồ gì với tên nữ tướng lợi hại này của giặc? Nếu chúng đã biết nhau từ trước đến nay thì việc xin cho nhau chắc hẳn phải có duyên cớ. Hậu hoạ có thể từ chỗ này mà ra đấy. Được, để thử xem”.

Đặng Trần Thường đang lúc bồng bột, không nhận thấy sự đổi khác trên vẻ mặt của Ánh, nên cúi đầu làm bộ khép nép thưa:

- Thần xin Bệ hạ thứ lỗi cho...

Và Thường cố kìm nỗi sung sướng bột phát trong lòng khi nghe tiếng Ánh rành rọt bên tai:

- Được! Trẫm cứ thử nghe khanh! Trẫm cho khanh ba hôm nữa để thu phục Bùi Thị Xuân đó.

Một lần nữa, Thường không nhìn thấy vẻ hằn học, nham hiểm và mỉa mai của Ánh khi nói tới câu đó.

Chú thích:

(42)  Tức chúa Nguyễn Phúc Khoát.

(43) Ý nói nửa nước thời Trịnh - Nguyễn.

(44) Khu hoàng thành Bắc Kinh được xây dựng từ thời vua Minh Anh Tôn, năm 1436 - 1439.

(45)  Nay là Nam Định-Nam Hà.

Nguồn: Việt Nam Thư Quan
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Quỳnh Cư

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.