Trở lại với cô sinh viên Layla. Đối diện với em, giờ nhìn chẳng khác gì một “bóng đêm” theo đúng nghĩa đen, tôi thấy quặn hết cả ruột gan, ước chi mình có thể trói chặt cô bé này lại và chui vào cỗ máy thời gian quay trở về quá khứ. Tôi như bị giáng cho một cú chí mạng vào đầu khi nhận ra rằng những tín đồ của chủ nghĩa Hồi giáo tại châu Âu, về bản chất được sinh từ chính những giá trị mà châu Âu luôn tôn vinh và tự hào: tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, và tự do phán quyết. Những nhà giáo dục như tôi đã ngây thơ tin rằng tự do nhất định sẽ giải phóng con người và hướng con người tới sự cởi mở về tư tưởng. Ai có thể lường trước được rằng “quyền tự do lựa chọn” cũng đồng thời là “quyền tự do lựa chọn” con đường bảo thủ cực đoan, và nhất là quyền tự do lạm dụng những giá trị cao quý khác. Châu Âu bỗng chốc thấy mình há miệng mắc quai. Vì đã tự hào về dân chủ thì sao dám cấm khăn trùm kín mặt, dám ngăn chặn làn sóng đổ bộ của các thánh đường Hồi giáo, dám kiểm soát các bài giảng đạo, dám giải tán các cuộc biểu tình với băng rôn “Dân chủ là bệnh ung thư của châu Âu”, hay dám phản đối việc các Islamist thành lập đảng có tên “Shariah for Holland”[58]?
Tự do thế nào là đủ? Dân chủ thế nào là vừa?
Châu Âu bảy trăm năm sau ngày dồn nền văn minh Hồi giáo chói sáng ra khỏi lãnh thổ, giờ đây đang đối mặt với một cuộc thánh chiến thứ hai trong lịch sử, lần này không phải là đoàn chiến binh Muslim từ Trung Đông đem theo kiến thức và sự khai sáng, mà là một đội quân jihadist/ Islamist được sinh ra và lớn lên từ trong lòng châu Âu, sử dụng chính những giá trị cơ bản nhất của văn minh châu Âu để đánh đổ châu Âu. Phương Tây sẽ bị “chinh phạt và sụp đổ từ bên trong”, đúng như cương lĩnh của tổ chức Huynh Đệ Hồi giáo.
Chưa bao giờ châu Âu mong manh hơn thế.
Các đảng phái của Islamism chính thức xuất hiện ở ba mươi hai nước, trong đó có bốn nước phương Tây là Mỹ, Phần Lan, Hà Lan và Anh. Chính tại trái tim của châu Âu này, các tín đồ Hồi giáo trẻ tuổi con cháu thế hệ đầu của những người Hồi di cư trở thành những nạn nhân dễ dàng nhất của Islamism. Chân trong chân ngoài, bật gốc cội rễ, cộng với sự phân biệt đối xử và hoàn cảnh kinh tế khó khăn, những thanh niên sinh ra ở châu Âu với hộ chiếu và nền tảng giáo dục châu Âu vẫn rơi vào một cuộc khủng hoảng danh tính trầm trọng: Tôi là ai? Người Hà Lan? Người Ma Rốc? Người Hồi? Người Ả Rập? Các câu hỏi tiếp nối câu hỏi với: Tôi sống để làm gì? Mục đích tối thượng của cuộc đời tôi là gì? Ai thực sự cần đến tôi trong đời này? Trong cơn hoang mang, ngày càng nhiều thanh niên Hồi rơi vào ma trận của Islamism. Họ được thuyết phục để tin rằng danh tính quan trọng nhất không phải là một công dân Hà Lan mà là một chiến binh Hồi giáo, mục đích tối thượng của cuộc đời không phải là trở thành một con người tốt mà trở thành một tín đồ chết vì Thượng Đế, đất nước duy nhất họ có nghĩa vụ trung thành không phải là tổ quốc nơi họ sinh ra mà là một đế chế toàn cầu không biên giới quốc gia ummah[59]. Chính vì quá trình tráo đổi danh tính, xóa nhòa biên giới văn hóa-chủng tộc-quốc gia đó mà người ta trở nên bất ngờ khi ngày càng nhiều khuôn mặt khủng bố có da trắng, mắt xanh, tóc vàng, sinh ra và lớn lên trên chính đất Mỹ và châu Âu, ăn McDonald và đòi đánh bom nền văn hóa tư bản. Sự việc trở nên có phần hoang mang khi năm 2012, một người Hồi quốc tịch Mỹ gốc Việt tên là Phạm Quang Minh bị bắt trong đường dây khủng bố Al-Qaeda. Những yếu tố cấu thành hồ sơ của nhân vật này hầu như chẳng liên quan gì đến nhau (người Việt, sống ở Mỹ, Hồi giáo cực đoan) khiến cho khi thông tin được bung ra thì các phản ứng của độc giả là những câu cảm thán vừa ngơ ngác, vừa tếu táo như không tin vào sự thật, lại vừa hoảng hốt: “Thế là thế nào?”; “Chắc anh chàng này bị chập điện nên chọn nhầm kẻ thù”; “Thôi chết, đến cả dân nhập cư người Việt ở Mỹ cũng có thể thành Hồi giáo cực đoan thì còn cửa nào để thoát đây trời?”
Trong khi đó, đại đa số người Hồi vừa giận giữ, vừa run sợ. Tuy chiếm số đông nhưng cộng đồng Muslim ở châu Âu hầu như không có tiếng nói chính thống. Cũng giống như mọi công dân khác, họ mải mê với công việc làm ăn, lo lắng cho tụi trẻ con đến trường, nấu những bữa cơm vui vẻ trong một gia đình ấm cúng. Cây muốn lặng gió chẳng đừng, cộng đồng người Hồi bị kẹp giữa một bên là sự phân biệt đối xử, thậm chí bài xích và căm ghét của người da trắng bản địa, một bên là mạng lưới Islamism - kẻ đã cướp diễn đàn của những tín đồ Hồi chân chính đang ngày đêm lớn mạnh và bành trướng bởi những đồng tiền dầu lửa. Hầu như rất ít người ở châu Âu có thể nhìn ra được sự khác biệt giữa một Muslim và một Islamist, hay giữa Hồi giáo với tư cách một tôn giáo (Islam) và Hồi giáo với tư cách một chủ nghĩa chính trị (Islamism). Cũng giống như phần còn lại của thế giới đã luôn gom tất cả các định nghĩa này vào cùng một giuộc, và những tội ác gây ra bởi Islamist thường bị đổ vấy cho Muslim, sự căm ghét Islamist thường bao trùm cả cộng đồng Muslim vô can một cách oan uổng. Mà Muslim ở châu Âu thì giận giữ, nhưng rời rạc và run sợ[60].
Châu Âu mong manh, còn là vì châu Âu còn lòng tin, nhưng đã mất đức tin.
Vào một buổi chiều tháng 10 năm ngoái (2013), tôi vào facebook và thấy thông tin về nhà thờ Thiên Chúa St Peter ở Staffordshire (Anh) đã được bán cho các tín đồ Hồi giáo địa phương vì không còn người đi lễ. Tin mới đăng, có 61 người thích, 13 người chia sẻ, và một lời bình đập vào mắt tôi: “Cảm ơn Thượng Đế! Cuộc chinh phạt phương Tây của Hồi giáo đã bắt đầu!”
Là một kẻ vô thần, nhưng tay tôi run bắn lên. Hơn 1300 năm trước, Trung Đông cái nôi của Thiên Chúa biến thành lãnh thổ của Hồi giáo, những nhà thờ Thiên Chúa nguy nga sau những cuộc chinh phạt của vó ngựa Ả Rập biến thành các thánh đường Hồi giáo. Hơn 1300 năm sau, những nhà thờ Thiên Chúa lộng lẫy của châu Âu bị bỏ hoang, không cần ai chinh phạt, ế ẩm qua một đêm đã tự nguyện giạng cửa toang hoang, hiến thân cho một tôn giáo đã từng là kẻ cưỡng đoạt mình trong quá khứ.
Bạn tôi than: “Châu Âu thế tục đã chán Thượng Đế mất rồi, bán đức tin cho đồng tiền và đặt cược lòng tin vào những điều phù du như tình yêu trần thế”.