Không những ba tôn giáo Do Thái, Thiên Chúa và Hồi giáo đều thờ Thượng Đế tối cao và duy nhất, họ còn có cùng một ông tổ sống chừng 4000 năm trước tên là Abraham[46]. Nơi Abraham và gia đình được chôn cất là một hang đá ở Hebron. Người Hồi xây trùm lên hang đá này một thánh đường tên là Machpela và trong suốt hơn 600 năm chỉ cho phép tín đồ Hồi giáo vào làm lễ. Người Do Thái muốn đến vái ông tổ của mình (thật ra là của chung) thì chỉ được bước đến bậc thang thứ bảy. Cho đến khi phần này của vùng Palestine bị Israel chiếm đóng thì Machpela mới được mở cửa cho cả người Thiên Chúa, Do Thái và người ngoại đạo.
Thánh đường Machpela là nơi cuối cùng tôi đặt chân đến trước khi rời vùng Palestine. Ở nơi Jesus sinh ra, tôi phải xếp hàng hai tiếng cùng hàng trăm người mới vào được đến thánh đường. Ở nơi ông tổ của cả ba tôn giáo yên nghỉ, tôi là du khách duy nhất. Ấy là tôi tưởng thế cho đến khi đang bước qua mấy lần cửa gác của lính chiếm đóng Israel thì giật bắn mình khi nghe thấy những tiếng ra lệnh gằn ngắn gọn từ phía sau. Chỉ trong một giây lát, hàng chục lính đặc nhiệm Israel với đầy người súng ống lựa đạn đã tỏa ra chiếm lĩnh các hướng và vị trí cố thủ. Họ quỳ gối, tay đặt lên nòng, nheo mắt nhìn tôi, sẵn sàng xả đạn.

Machpela và ngôi mộ của Abraham tổ tiên ba giáo phái. Người đàn ông được quyền ngồi là người Hồi.
Một cậu bé Palestine đang chơi bóng gần đó bật cười ha ha. Cậu chạy lại, kéo tay tôi và chỉ lên tầng trên của thánh đường Machpela. Vừa thoáng thấy những cái chỏm đầu đàn ông có phủ một miếng mũ nhỏ tròn tròn của người Do Thái[47], tôi đã hiểu ngay ra vấn đề. Mỗi khi có du khách người Do Thái dám cả gan liều mạng (mà cũng chắc chắn chỉ vì công chuyện) phải tới Palestine nói chung và Machpela nói riêng, việc bảo vệ họ có lẽ còn cẩn thận hơn bảo vệ các tổng thống. Rất nhiều bạn bè Do Thái của tôi dù trông không khác gì người Ả Rập Palestine, nhưng cả đời họ sẽ không bao giờ dám nghĩ đến chuyện đặt chân qua biên giới. Họ cho rằng ai nhìn cũng sẽ biết họ là người Do Thái, có lẽ bởi nỗi sợ hãi bị trả thù không thể che giấu nổi trong đôi mắt của kẻ chiếm đóng.
Nếu ở Thánh đường Thiên Chúa Nativity tôi suýt bị đuổi cổ vì dám ngồi vắt chân, thì ở Thánh đường Hồi giáo Machpela, tôi cũng suýt bị đuổi cổ chỉ vì dám cả gan... ngồi. Nhà thờ Hồi giáo luôn trải thảm cho tín đồ quỳ hành lễ, ngồi nghỉ ngơi, dựa lưng tán dóc, và thậm chí nằm ngủ trưa tránh nắng. Mỗi lần vào các thánh đường Hồi, tôi không bao giờ để ai nhắc mà luôn trùm khăn lên đầu như một biểu hiện của sự thành tâm. Khi tôi ngồi xuống bên cạnh bức tường để ngắm nhìn hai cái lăng mộ cả nghìn năm tuổi thì bị một ông cai đến nhắc đứng dậy. Tôi bắt chước bà người Thái ở Navivity cũng thu hết can đảm cãi lại: “Thế cái ông đang ngồi dựa hẳn lưng vào lăng mộ, chân co chân duỗi lim dim mắt kia thì sao?” - “Ông ấy là người Hồi!” Tôi ngoan cố không nghe, vẫn tiếp tục ngồi nép vào chân tường. Đây không phải là lần đầu tiên lý do người Hồi hay người Ả Rập được đưa ra để biện minh cho một đặc ân hay một vị trí được coi là cao quý hơn bình thường. Tôi từng tức giận đến nỗi gắt gỏng om lên với một người bạn ở Oman khi anh ta tỏ ý khinh rẻ người Hồi Pakistan vì họ không phải là người Ả Rập, và rồi chính gã người Hồi Pakistan đó lại tỏ ý khinh rẻ một người Ấn Độ vì anh ta không phải là người Hồi. Toàn bộ ý thức hệ của Hồi giáo dựa trên sự ưu việt về tính tinh khiết của Quran (được tín đồ Hồi cho là không bị loài người làm vẩn đục như Cựu Ước và Tân Ước) và tính chốt hạ của thiên sứ Muhammad (được tín đồ Hồi cho là thiên sứ cuối cùng của loài người). Ý thức hệ này khiến tín đồ Hồi giáo có một niềm tin mãnh liệt rằng tôn giáo họ đi theo là phiên bản tín ngưỡng độc thần trong sạch nhất, thanh lọc nhất, đúng với nguồn gốc nhất, trong khi các phiên bản khác như Do Thái, Thiên Chúa đã bị thời gian và con người làm cho pha tạp, ô uế. Theo cách suy diễn này, tất cả các nhân vật trong kinh thánh Adam, Eva, Jesus, Moses, Abraham đều là người Hồi vì đây mới là đạo gốc. Chưa hết, bất kể tín đồ Do Thái hay Thiên Chúa nào cũng là người Hồi, chỉ có điều họ không tự biết điều đó mà thôi (!). Kẻ vô thần như tôi, không tin Thượng Đế là Đấng Tối Cao duy nhất thì hầu như chắc chắn sẽ kết thúc cuộc đời trong địa ngục.
Và trên tất cả một bậc, người Hồi Ả Rập không những tự hào mình là tín đồ của một phiên bản tôn giáo họ tự cho là trong sạch hơn, mà còn là công dân của đế chế oai hùng, bất thần hiện ra từ trong cát bụi sa mạc và triệt hạ Ba Tư cùng tôn giáo hùng mạnh Zoroastrianism của đế chế này trong vòng hai mươi năm, đánh thẳng vào trái tim của châu Âu và chiếm đóng Tây Ban Nha chỉ trong vòng một trăm năm, từ những bộ lạc du mục (bedouin) lẻ tẻ và bé nhỏ ở bán đảo Ả Rập trở thành những người chủ hùng mạnh của thế giới với những đỉnh cao nghệ thuật và khoa học chói lọi trong khi châu Âu vẫn còn chìm trong đêm trường Trung Cổ. Hẳn không ít những người Việt khi coi thường gọi xách mé dân Ả Rập là “Rệp” có rất ít khái niệm về một quá khứ oai hùng của họ, cũng như sự tổn thương sâu sắc mà những con người với trái tim kiêu hãnh này vẫn không thể nào quen nổi sau khi Ottoman - đế chế Hồi giáo cuối cùng sụp đổ.
Hoặc ít nhất là trong Thánh đường Machpela này, không phải là người Hồi và nhất là không nhìn giống như người Ả Rập thì đừng mơ đến việc được có quyền ngồi chứ đừng nói đến việc ngồi dựa hẳn vào thành lăng mộ của ông tổ Abraham mà thản nhiên chân co chân duỗi vân vê tràng hạt. Máu nóng trong người tôi dồn lên khi bị ông cai lườm nguýt đi đi lại lại canh chừng. Tôi không còn hứng thú nhìn cái lăng mộ nữa, thấy uất ức thay cho những tín đồ bao nhiêu trăm năm qua phải chịu đứng ngoài hoặc chỉ được đi đến bậc thang thứ bảy. Thế có khác gì cha mẹ chung chết đi nhưng anh chị mình không cho mình có quyền cúng bái?
Tôi bỏ đi. Trên đường ra cửa thì bị một vài cô gái Palestine đến làm lễ túm lại tíu tít hỏi chuyện. Khi chúng tôi đang hồ hởi chia sẻ thì ông cai đi đến, quát mắng đám con gái, và thẳng cánh đòi hất tôi ra cửa. Những cô gái trẻ đứng im, và len lén quay trở lại sảnh đường dành cho phụ nữ khuất sau lần rèm cửa dày cộp. Tôi nghẹn họng, cảm nhận rõ những mạch máu của mình giật liên hồi. Ông ta không những bắt nạt tôi chỉ vì tôi không phải người Hồi, không phải người Ả Rập, mà thậm chí còn bắt nạt tôi và những cô gái hiếu khách vì chúng tôi là đàn bà con gái. Mắt long lên, tôi gằn giọng: “Ông muốn ăn hiếp tôi à? Để tôi đi mách... lính Israel!”
Như một con chuột bị dọa mèo, ông cai lủi thẳng.
Còn tôi đứng khóc rưng rức. Nước mắt giàn giụa còn hơn cả bà người Thái khi được hôn lên nơi Chúa chào đời.
Tôi không phải là kẻ mau nước mắt. Nhất là nước mắt khi bị dọa nạt thì lại càng không. Phải mất mấy phút sau định thần lại tôi mới hiểu tại sao mình khóc.
Palestine khiến tôi kiệt sức và quỵ ngã. Tôi thấy niềm tin bị cạn kiệt, có lẽ bởi mình là người ngoại đạo. Nếu tôi tin Chúa, tôi sẽ như bà người Thái, sẽ gục mặt trên ngôi sao bạc trong hang đá nơi Chúa sinh ra và hồi sinh với lòng tin rằng sự bất tận yêu thương của Chúa chịu nạn sẽ cứu rỗi con người, kể cả những con người mình căm ghét. Tôi khóc vì thấy mình chẳng có một tín ngưỡng để làm nơi bấu víu: dù đứng trong trung tâm linh thiêng hội tụ tổ tiên của ba tôn giáo tồn tại hơn 3000 năm với hơn bốn tỉ tín đồ mà phải cầu cứu đến bạo lực của kẻ chiếm đóng để cứu rỗi những quyền tưởng chừng như cơ bản nhất của con người.
Lần đầu tiên trên đường vạn dặm, tôi thấy mình giống như một người Palestine bị chiếm đất phải chạy tị nạn suốt hơn năm mươi năm qua, chỉ như là bèo dạt mây trôi vậy thôi. “Kẻ chiếm đóng”, “giặc ngoại xâm”, “Chúa hài đồng”, “lòng yêu thương”, “niềm oán hận”..., tất cả chéo mòng mòng, va đập nhau và tan tác trong một ma trận không nhìn ra lối thoát.
Và thế là tôi chính thức từ biệt tuổi thơ, chính thức hiểu rằng thế giới này không có ranh giới rõ ràng giữa điều xấu xa và tốt đẹp, chính thức từ biệt niềm tin vào việc có một Lẽ Phải Giản Đơn tồn tại ở trên đời.