Chiếc Xe Kéo Ma Và Những Chuyện Kinh Dị Khác

Lượt đọc: 26 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
“Câu Chuyện Hay Nhất Trên Đời”

❊ ❊ ❊

“O’ ever the knightly years were gone

With the old world to the grave,

I was a king in Babylon

And you were a Christian slave.”

—W. E. Henley.

Tên hắn là Charlie Mears; hắn là con trai độc nhất của người mẹ góa chồng, sống ở miền bắc Luân Đôn, ngày ngày vào Thành phố để làm việc trong một ngân hàng. Hắn hai mươi tuổi và mang trong mình đầy những hoài bão. Tôi gặp hắn trong một tiệm bi-a công cộng, nơi người ghi điểm gọi hắn bằng tên riêng, còn hắn gọi người ghi điểm là “Mắt Bò”. Charlie thanh minh, hơi ngượng ngùng một chút, rằng hắn chỉ đến đó để xem, và vì việc xem chơi các trò chơi kỹ năng vốn không phải là một trò tiêu khiển rẻ tiền đối với thanh niên, tôi bèn gợi ý Charlie nên về với mẹ.

Đó là bước đầu tiên để chúng tôi trở nên thân thiết hơn. Đôi khi hắn ghé thăm tôi vào buổi tối thay vì la cà khắp Luân Đôn cùng những đồng nghiệp ngân hàng; và chẳng bao lâu sau, bằng cách bộc lộ bản thân như bất kỳ thanh niên nào cũng thế, hắn kể cho tôi nghe về những hoài bão của mình, tất cả đều mang tính văn chương. Hắn khao khát tạo dựng cho mình một cái tên trường tồn chủ yếu qua thơ ca, dẫu hắn cũng chẳng ngại gửi những câu chuyện tình ái và sự chết đến các tạp chí bỏ xu vào khe. Số phận buộc tôi phải ngồi yên nghe Charlie ngâm những bài thơ dài hàng trăm dòng, cùng những đoạn kịch cồng kềnh chắc chắn sẽ làm rung chuyển thế giới. Phần thưởng của tôi là sự tin tưởng hoàn toàn của hắn, mà những nỗi niềm và sự tự bộc lộ của một tuổi trẻ thì thiêng liêng chẳng kém gì của một thiếu nữ. Charlie chưa từng yêu, nhưng rất khao khát được yêu ngay khi có cơ hội; hắn tin tưởng vào mọi điều tốt đẹp và đáng kính, đồng thời lại vô cùng cẩn trọng để cho tôi thấy rằng hắn rất rành đường đi nước bước ở đời, đúng chất của một nhân viên ngân hàng kiếm được hai lăm shilling một tuần. Hắn gieo vần “dove” với “love” và “moon” với “June”, và thành kính tin rằng chưa từng có ai gieo vần như thế trước đây. Những khoảng trống dài lê thê trong các vở kịch của hắn được khỏa lấp bằng những lời xin lỗi và miêu tả vội vàng, rồi hắn cứ thế lướt qua, thấy rõ mọi dự định của mình đến mức đinh ninh rằng nó đã được hoàn thành, và quay sang tôi chờ đợi những tràng pháo tay.

Tôi đoán rằng mẹ hắn không cổ vũ cho những hoài bão của hắn, và tôi biết bàn viết ở nhà của hắn chính là mép chiếc bàn đặt chậu rửa mặt. Điều này hắn kể cho tôi nghe gần như ngay từ khi chúng tôi mới quen nhau; lúc hắn đang lục lọi các kệ sách của tôi, ngay trước khoảnh khắc tôi bị nài nỉ phải nói sự thật về cơ hội “viết được một cái gì đó thực sự vĩ đại, anh biết đấy” của hắn. Có lẽ tôi đã khích lệ hắn quá đà, bởi vì có một tối nọ, hắn ghé qua phòng tôi, đôi mắt bừng sáng vì phấn khích, và thở hổn hển nói:

— Anh có phiền không... anh có thể cho phép tôi ở lại đây viết suốt tối nay được không? Tôi sẽ không làm phiền anh đâu, thật đấy. Ở nhà mẹ tôi chẳng có chỗ nào để viết cả.

— Có chuyện gì thế? — tôi hỏi, thừa biết rắc rối đó là gì.

— Tôi nảy ra một ý trong đầu, chắc chắn sẽ thành câu chuyện tuyệt vời nhất từng được viết. Cho tôi viết nó ở đây nhé. Ý tưởng hay lắm cơ!

Không thể cưỡng lại lời nài nỉ ấy. Tôi dọn cho hắn một chiếc bàn; hắn hầu như chẳng cảm ơn, mà lao vào công việc ngay lập tức. Suốt nửa tiếng đồng hồ, tiếng ngòi bút sột soạt không ngừng nghỉ. Rồi Charlie thở dài và vò mái tóc của mình. Tiếng sột soạt chậm dần, những vết tẩy xóa xuất hiện nhiều hơn, và cuối cùng thì im bặt. Câu chuyện hay nhất trên đời đã không chịu tuôn trào.

— Giờ trông nó mới nhảm nhí làm sao — hắn buồn bã nói. — Thế mà lúc nghĩ đến thì thấy hay lắm cơ chứ. Sai ở đâu nhỉ?

Tôi không thể làm hắn nản lòng bằng cách nói ra sự thật. Thế là tôi đáp: — Có lẽ cậu không có tâm trạng để viết.

— Có chứ — ngoại trừ lúc nhìn vào đống thứ này. Phê quá!

— Đọc cho tôi nghe những gì cậu vừa viết xem nào — tôi nói. Hắn đọc, và nó dở một cách kỳ lạ, hắn dừng lại ở tất cả những câu có vẻ hoa hòe hoa sói nhất, mong chờ một chút tán thưởng; vì hắn tự hào về những câu đó, như tôi đã đoán trước.

— Cần phải cô đọng lại — tôi thận trọng gợi ý.

— Tôi ghét phải cắt xén tác phẩm của mình. Tôi không nghĩ anh có thể sửa dù chỉ một từ ở đây mà không làm hỏng ý nghĩa. Đọc thành tiếng nghe xuôi tai hơn là lúc tôi viết ra.

— Charlie, cậu đang mắc phải một căn bệnh đáng báo động mà rất nhiều người gặp phải đấy. Cất nó đi, rồi quay lại xử lý nó sau một tuần nữa xem sao.

— Tôi muốn làm nó ngay cơ. Anh nghĩ sao về nó?

— Làm sao tôi có thể đánh giá qua một câu chuyện viết dở dang chứ? Kể cho tôi nghe câu chuyện theo cách nó đang nằm trong đầu cậu xem nào.

Charlie kể, và trong lời kể ấy ẩn chứa tất cả những gì sự thiếu hiểu biết của hắn đã cẩn thận ngăn không cho lọt vào trang giấy viết. Tôi nhìn hắn, tự hỏi liệu có thể nào hắn lại không nhận ra tính độc đáo, sức mạnh của ý tưởng vừa vụt đến trong đầu mình hay không? Đó quả thực là một Ý tưởng trong số muôn vàn ý tưởng. Người ta từng kiêu ngạo đến phách lối vì những ý tưởng chẳng bằng một phần mười về độ xuất sắc và tính khả thi. Thế nhưng Charlie vẫn thản nhiên bập bõm kể, ngắt quãng dòng tưởng tượng thuần khiết ấy bằng những mẫu câu khủng khiếp mà hắn định dùng. Tôi kiên nhẫn nghe hết câu chuyện. Thật là dại dột nếu để ý tưởng của hắn nằm lại trong đôi bàn tay vụng về ấy, trong khi tôi có thể làm được bao điều với nó. Quả thực không phải tất cả mọi thứ có thể làm, nhưng ôi, chao ôi là nhiều!

— Anh nghĩ sao? — cuối cùng hắn nói. — Tôi hứng lên là muốn gọi nó là “Câu chuyện về một con tàu”.

— Tôi nghĩ ý tưởng khá hay; nhưng cậu sẽ chưa thể xử lý nó trong một thời gian dài đâu. Này, tôi——

— Nó có ích gì cho anh không? Anh có muốn nhận lấy nó không? Tôi sẽ thấy tự hào lắm — Charlie đáp nhanh.

Trên đời này có ít thứ ngọt ngào hơn sự ngưỡng mộ ngây thơ, bốc đồng, quá khích và bộc trực của một kẻ bề dưới. Ngay cả một người phụ nữ trong sự tận tụy mù quáng nhất cũng không đến nỗi bắt chước dáng đi của người đàn ông mình tôn sùng, đội chiếc mũ lệch đúng góc độ mà anh ta đội, hay chêm vào lời nói những câu thề quen thuộc của anh ta. Thế mà Charlie lại làm tất cả những điều đó. Dù vậy, tôi vẫn cần phải xoa dịu lương tâm trước khi chiếm đoạt suy nghĩ của Charlie.

— Chúng ta thỏa thuận thế này nhé. Tôi sẽ đưa cậu năm bảng cho ý tưởng đó — tôi nói. Charlie lập tức biến thành một nhân viên ngân hàng.

— Ồ, điều đó không thể được. Giữa hai người bạn với nhau, anh biết đấy, nếu tôi được phép gọi anh như vậy, và nói với tư cách là một người từng trải, tôi không thể nhận được. Cứ lấy ý tưởng đó đi nếu nó có ích cho anh. Tôi còn đống cơ mà.

Hắn còn — chẳng ai hiểu rõ điều này hơn tôi — nhưng đó là những ý tưởng của người khác.

— Hãy coi đó là một vấn đề kinh doanh giữa những người từng trải — tôi đáp lại. — Năm bảng sẽ mua cho cậu bao nhiêu là sách thơ tùy thích. Kinh doanh là kinh doanh, và cậu có thể chắc chắn rằng tôi sẽ không đưa mức giá đó trừ khi——

— Ồ, nếu anh đặt vấn đề theo hướng đó — Charlie nói, rõ ràng là bị dao động bởi ý nghĩ về những cuốn sách. Thỏa thuận được chốt lại với giao kèo rằng cậu ta sẽ ghé qua tôi vào những khoảng thời gian không cố định với tất cả những ý tưởng mà mình có, sẽ có một chiếc bàn riêng để ngồi viết, và quyền nghiễm nhiên được nhồi nhét vào đầu tôi tất cả những bài thơ cùng những mảnh vơ đoạn thơ của hắn. Sau đó tôi nói: — Bây giờ hãy kể cho tôi nghe làm thế nào mà cậu nghĩ ra ý tưởng này đi.

— Nó tự đến thôi. — Mắt Charlie mở lớn hơn một chút.

— Ừ, nhưng cậu vừa kể cho tôi nghe rất nhiều chi tiết về người anh hùng mà chắc chắn cậu từng đọc ở đâu đó trước đây rồi.

— Tôi làm gì có thời gian đọc sách, ngoại trừ lúc anh cho phép tôi ngồi đây, còn Chủ Nhật thì tôi đi xe đạp hoặc ra sông suốt cả ngày. Có gì không ổn về người anh hùng à?

— Kể lại cho tôi nghe lần nữa xem nào, tôi sẽ hiểu rõ hơn. Cậu nói rằng người anh hùng của cậu đi làm cướp biển. Hắn sống thế nào?

— Hắn ở boong dưới của cái con tàu mà tôi vừa kể cho anh nghe ấy.

— Tàu gì thế?

— Đó là loại tàu chèo bằng mái chèo, nước biển bắn qua các lỗ chèo và bọn đàn ông ngồi chèo ngập nước đến đầu gối. Rồi có một chiếc ghế dài chạy dọc ở giữa hai hàng mái chèo và một kẻ cai quản cầm roi đi lại dọc theo chiếc ghế đó để bắt họ làm việc.

— Sao cậu biết điều đó?

— Nó có trong truyện mà. Có một sợi dây căng phía trên đầu, được móc vào boong trên, để gã cai quản bám vào mỗi khi tàu tròng trành. Hãy nhớ là khi gã cai quản lỡ tuột tay khỏi sợi dây và ngãm vào đám người chèo, thì người anh hùng đã cười nhạo hắn và bị ăn đòn vì điều đó. Hắn bị xích vào mái chèo của mình mà—người anh hùng ấy.

— Hắn bị xích thế nào?

— Bằng một vòng sắt quanh eo cố định vào chiếc ghế hắn ngồi, và một dạng còng số tám ở cổ tay trái xích hắn vào mái chèo. Hắn ở boong dưới, nơi những kẻ tồi tệ nhất bị đày xuống, và ánh sáng duy nhất lọt vào từ các miệng hầm và qua các lỗ chèo. Anh không thể tưởng tượng nổi ánh sáng mặt trời lách qua khe hở giữa cán chèo và lỗ chèo rồi lắc lư theo chuyển động của con tàu hay sao?

— Tôi tưởng tượng được, nhưng tôi không thể tưởng tượng nổi việc cậu lại tưởng tượng ra nó đấy.

— Làm sao mà khác đi được chứ? Giờ thì nghe tôi đây. Những mái chèo dài ở boong trên do bốn người điều khiển cho mỗi băng ghế, boong dưới ba người, và thấp nhất là hai người. Hãy nhớ là boong thấp nhất hoàn toàn tối tăm và tất cả bọn họ ở đó đều phát điên. Khi một người chết trên mái chèo ở boong đó, hắn không bị vứt xuống biển, mà bị chặt đứt trong xiềng xích rồi nhét qua lỗ chèo thành từng mảnh nhỏ.

— Tại sao? — tôi gặng hỏi, ngạc nhiên không phải vì thông tin đó mà vì cái giọng điệu ra lệnh khi hắn thốt lên.

— Để đỡ rắc rối và dọa những kẻ khác. Cần tới hai gã cai quản mới kéo được xác một người lên boong trên; và nếu đám người chèo ở boong dưới cứ để mặc họ một mình, dĩ nhiên họ sẽ ngừng chèo và cố nhổ bật các băng ghế lên bằng cách cùng đứng dậy trong xiềng xích của mình.

— Cậu có một trí tưởng tượng thật chu đáo đấy. Cậu từng đọc ở đâu về thuyền galleys và nô lệ chèo thuyền thế?

— Chẳng ở đâu mà tôi nhớ được cả. Tôi có chèo thuyền một chút khi có cơ hội. Nhưng, có lẽ, nếu anh nói vậy, thì chắc tôi cũng từng đọc gì đó.

Ngay sau đó hắn rời đi để giao thiệp với các hiệu sách, còn tôi thì tự hỏi làm thế nào mà một nhân viên ngân hàng mới tròn đôi mươi lại có thể trao vào tay tôi một cách phóng túng vô số chi tiết, tất cả đều được kể với sự quả quyết tuyệt đối, câu chuyện về những cuộc phiêu lưu ngông cuồng và đẫm máu, bạo loạn, cướp biển, và cái chết trên những vùng biển vô danh. Hắn đã dẫn dắt người anh hùng của mình trải qua một vũ điệu tuyệt vọng từ cuộc nổi dậy chống lại bọn cai quản trên biển, lên đến quyền chỉ huy một con tàu của riêng mình, và cuối cùng lập ra một vương quốc trên một hòn đảo “đâu đó ngoài khơi, anh biết đấy”; rồi, vô cùng thỏa mãn với số tiền năm bảng cỏn con của tôi, hắn đã đi ra ngoài để mua những ý tưởng của người khác, nhằm để chúng dạy cho hắn cách viết. Tôi được an ủi khi biết rằng ý tưởng này là của tôi theo quyền mua đứt, và tôi nghĩ mình có thể làm nên trò trống gì từ nó.

Lần tới khi đến gặp tôi, hắn đã say khướt — say rúm ró vì vô số nhà thơ lần đầu tiên được mở ra cho hắn thấy. Đồng tử của hắn giãn ra, lời nói xô đẩy lẫn nhau, và hắn chìm đắm trong những câu thơ trích dẫn. Hơn hết thảy, hắn say đắm Longfellow.

— Không tuyệt lắm sao? Không tuyệt vời lắm sao? — hắn kêu lên, sau những lời chào hỏi vội vã. — Nghe này—

—‘Wouldst thou,’ so the helmsman answered,

‘Know the secret of the sea?

Only those who brave its dangers

Comprehend its mystery.’

Chà quỷ tha ma bắt!

—‘Only those who brave its dangers

Comprehend its mystery.’

hắn lặp lại tới hai mươi lần, đi qua đi lại trong phòng và quên mất cả sự hiện diện của tôi. — Nhưng tôi cũng có thể hiểu nó chứ — hắn lẩm bẩm với chính mình. — Tôi chẳng biết làm sao để cảm ơn anh vì tờ năm bảng đó. Và đoạn này nữa; nghe này—

—‘I remember the black wharves and the ships

And the sea-tides tossing free,

And the Spanish sailors with bearded lips,

And the beauty and mystery of the ships,

And the magic of the sea.’

— Tôi chưa từng đối mặt với hiểm nguy nào, nhưng tôi có cảm giác như mình đã tường tận mọi thứ vậy.

— Quả thực cậu có vẻ rất am hiểu về biển cả. Cậu đã từng thấy nó bao giờ chưa?

— Hồi còn là một chú nhóc, tôi từng đến Brighton một lần; nhưng trước khi chuyển đến Luân Đôn, chúng tôi sống ở Coventry cơ. Tôi chưa từng thấy nó,

—‘When descends on the Atlantic

The gigantic

Storm-wind of the Equinox.’

Hắn lay vai tôi để bắt tôi phải thấu hiểu niềm đam mê đang làm rung chuyển chính bản thân hắn.

— Khi cơn bão đó kéo đến — hắn tiếp tục — tôi nghĩ tất cả các mái chèo trên con tàu mà tôi vừa kể đều bị gãy vụn, và ngực của những tay chèo bị đập nát bởi những đầu mái chèo chồm lên. Nhân tiện, anh đã làm được gì với ý tưởng đó của tôi chưa?

— Chưa. Tôi đang chờ được nghe thêm từ cậu đấy. Nói cho tôi nghe tại sao trên đời này cậu lại chắc chắn đến thế về các trang thiết bị của con tàu đi. Cậu có biết gì về tàu thuyền đâu.

— Tôi không biết. Đối với tôi nó chân thực như mọi thứ khác cho đến khi tôi cố viết nó ra. Đêm qua nằm trên giường, sau khi anh cho tôi mượn cuốn “Treasure Island”, tôi cứ nghĩ về nó; và tôi đã bịa ra hàng đống thứ mới mẻ để đưa vào câu chuyện.

— Những thứ kiểu gì?

— Về thức ăn mà đám đàn ông ăn; vả khô mục, đậu đen và rượu đựng trong túi da, được chuyền từ ghế này qua ghế khác.

— Con tàu được đóng từ thời xa xưa thế cơ à?

— Xưa gì cơ? Tôi có biết nó cách đây lâu lắm hay không đâu. Đó chỉ là một ý tưởng thôi, nhưng đôi khi nó có vẻ chân thực như thể sự thật vậy. Tôi có làm phiền anh khi nói về nó không?

— Không chút nào cả. Cậu còn bịa thêm được gì nữa không?

— Có, nhưng nó nhảm nhí lắm. — Charlie hơi đỏ mặt.

— Không sao đâu; cứ kể cho nghe xem nào.

— À, tôi đang ngẫm nghĩ về câu chuyện, rồi một lát sau tôi dậy khỏi giường và viết ra một mẩu giấy những thứ mà đám đàn ông có thể đã khắc lên mái chèo của họ bằng cạnh của những chiếc còng số tám. Nó có vẻ làm cho mọi thứ trông sống động hơn. Nó quá thực đối với tôi, anh biết đấy.

— Cậu có mang theo mảnh giấy đó không?

— C...ó, nhưng mang ra khoe thì có ích gì chứ? Nó chỉ là một đống vết khắc thôi. Dù sao đi nữa, chúng ta có thể cho in lại chúng vào trang đầu của cuốn sách.

— Tôi sẽ lo những chi tiết đó. Cho tôi xem những gì người của cậu đã viết đi.

Hắn rút từ trong túi ra một tờ giấy ghi nhớ, với một dòng nét khắc duy nhất trên đó, và tôi cất kỹ nó đi.

— Nó có ý nghĩa gì trong tiếng Anh vậy? — tôi nói.

— Ồ, tôi không biết. Có lẽ nó có nghĩa là “Tôi mệt đứ đừ rồi”. Đúng là đại nhảm nhí — hắn lặp lại — nhưng tất cả những kẻ trên con tàu đó đối với tôi đều giống như người thật vậy. Anh mau làm gì đó với ý tưởng đó đi nhé; tôi rất muốn nhìn thấy nó được viết ra và in thành sách.

— Nhưng tất cả những gì cậu kể sẽ tạo nên một cuốn sách dài đấy.

— Vậy thì cứ viết thành sách đi. Anh chỉ việc ngồi xuống và viết ra thôi mà.

— Cho tôi thêm chút thời gian. Cậu còn ý tưởng nào nữa không?

— Lúc này thì chưa. Tôi đang đọc tất cả những cuốn sách tôi đã mua. Chúng tuyệt lắm.

Khi hắn rời đi, tôi nhìn tờ giấy ghi nhớ có dòng khắc trên đó. Sau đó, tôi ân cần ôm lấy đầu mình bằng cả hai tay, để chắc chắn rằng nó không bị rụng ra hay xoay vòng vòng. Rồi... hình như chẳng có khoảng thời gian nào ngắt quãng giữa lúc rời khỏi phòng tôi và việc tôi thấy mình đang tranh cãi với một cảnh sát bên ngoài cánh cửa có biển đề Riêng trong hành lang của Bảo tàng Anh. Tất cả những gì tôi đòi hỏi, một cách lịch sự nhất có thể, là “gã chuyên gia về đồ cổ Hy Lạp”. Viên cảnh sát chẳng biết gì ngoài các quyトリth của Bảo tàng, và tôi buộc phải lùng sục qua tất cả các tòa nhà và văn phòng bên trong cổng. Một ông già bị gọi cắt ngang bữa ăn trưa đã chấm dứt cuộc tìm kiếm của tôi bằng cách cầm tờ giấy ghi nhớ giữa hai ngón tay và khinh khỉnh ngửi nó.

— Cái này có nghĩa gì? Hừm — ông ta nói. — Theo như tôi có thể xác định thì đây là một nỗ lực viết tiếng Hy Lạp cực kỳ sai lạc từ phía — ở đây ông ta trừng mắt nhìn tôi đầy ý đồ — của một-ờ-kẻ cực kỳ thất học. — Ông ta đọc chậm rãi từ tờ giấy: — “Pollock, Erckman, Tauchnitz, Henniker” — bốn cái tên quen thuộc với tôi.

— Ông có thể cho tôi biết cái sự sai lạc đó ngầm chỉ điều gì không — ý chính của nó ấy mà? — tôi hỏi.

— “Tôi đã từng — rất nhiều lần — kiệt quệ vì mệt mỏi trong cái công việc cụ thể này.” Đó là ý nghĩa của nó. — Ông ta trả lại tờ giấy cho tôi, và tôi chuồn thẳng mà không một lời cảm ơn, giải thích hay xin lỗi.

Tôi có thể được tha thứ vì đã quên đi nhiều thứ. Riêng tôi trong số tất cả mọi người đã được trao cho cơ hội viết câu chuyện kỳ diệu nhất trên đời, không gì khác chính là câu chuyện về một tên nô lệ chèo thuyền Hy Lạp, do chính hắn kể lại. Chẳng có gì lạ khi những giấc mơ của hắn lại có vẻ thực tế đối với Charlie. Các nữ thần Vận Mệnh, vốn rất cẩn trọng trong việc khép lại cánh cửa của từng kiếp sống nối tiếp phía sau chúng ta, trong trường hợp này lại đâm ra sơ suất, và Charlie đang nhìn thấu — dù hắn không hề hay biết — nơi mà chưa từng có phàm nhân nào được phép nhìn thấu với sự hiểu biết trọn vẹn kể từ khi Thời gian bắt đầu. Hơn hết thảy, hắn hoàn toàn không hề hay biết về tri thức đã được bán cho tôi với giá năm bảng; và hắn sẽ giữ mãi sự vô minh ấy, bởi vì các nhân viên ngân hàng không hiểu về sự luân hồi, và một nền giáo dục thương mại vững chắc không bao gồm tiếng Hy Lạp. Hắn sẽ cung cấp cho tôi — đến đây tôi nhảy nhót giữa những vị thần câm lặng của Ai Cập và cười vào những khuôn mặt sứt mẻ của họ — nguyên liệu để biến câu chuyện của tôi thành sự thật — chắc chắn đến mức thế giới sẽ tung hô nó như một thứ hư cấu trơ trẽn và bịp bợm. Và tôi — chỉ mình tôi biết rằng nó hoàn toàn và đích thực là sự thật. Tôi — chỉ mình tôi nắm giữ viên ngọc này trong tay để mài giũa và đánh bóng. Thế nên tôi lại nhảy múa giữa các vị thần cho đến khi một viên cảnh sát trông thấy và có động thái tiến về phía tôi.

Giờ đây, việc duy nhất còn lại là khuyến khích Charlie nói chuyện, và việc này chẳng có gì khó khăn cả. Nhưng tôi lại quên mất những cuốn sách thơ chết tiệt kia. Hắn cứ hết lần này đến lần khác đến gặp tôi, vô dụng như một chiếc máy ghi âm bị nạp quá tải — say sưa trong Byron, Shelley, hay Keats. Giờ đây đã biết cội nguồn kiếp trước của cậu thiếu niên này là gì, và vô cùng lo lắng không muốn bỏ sót dù chỉ một lời bập bõm của hắn, tôi không thể che giấu sự tôn trọng và hứng thú của mình đối với hắn. Hắn đã hiểu lầm cả hai điều đó thành sự tôn trọng dành cho tâm hồn hiện tại của Charlie Mears — kẻ mà với hắn cuộc đời còn mới mẻ hệt như với Adam — cùng sự quan tâm dành cho những bài thơ hắn đọc; và hắn đã thử thách sự kiên nhẫn của tôi đến bờ vực tan vỡ bằng cách ngâm thơ — lúc này không phải thơ của hắn nữa, mà là thơ của người khác. Tôi ước gì mọi nhà thơ Anh quốc đều bị xóa sạch khỏi ký ức nhân loại. Tôi nguyền rủa những tên tuổi vĩ đại nhất trong thi ca vì họ đã kéo Charlie ra khỏi con đường tự sự trực tiếp, và sau này sẽ thúc giục hắn bắt chước họ; nhưng tôi nén sự thiếu kiên nhẫn của mình lại cho đến khi làn sóng nhiệt tình ban đầu qua đi và cậu thiếu niên trở lại với những giấc mơ của mình.

— Việc quái gì tôi phải kể cho anh nghe những gì tôi nghĩ, trong khi mấy gã này viết ra những thứ để cho thiên thần đọc cơ chứ? — hắn càu nhàu vào một buổi tối. — Sao anh không viết cái gì đó giống như của họ nhỉ?

— Tôi nghĩ cậu đang đối xử với tôi không được công bằng cho lắm — tôi nói, kiềm chế bản thân mạnh mẽ.

— Tôi đã đưa cho anh câu chuyện rồi mà — hắn cộc lốc nói rồi lại cắm cổ vào đọc “Lara”.

— Nhưng tôi muốn các chi tiết cơ.

— Mấy thứ tôi tự bịa ra về cái con tàu chết tiệt mà anh gọi là thuyền chèo ấy à? Chúng dễ ợt mà. Anh cứ tự bịa lấy đi. Vặn to ngọn đèn hơi lên chút xem nào, tôi muốn đọc tiếp.

Tôi suýt đập cả cái lồng đèn hơi lên đầu hắn vì sự đần độn đến khó tin ấy. Quả thực tôi có thể tự bịa ra mọi thứ nếu như tôi biết được những gì mà Charlie không hề biết là bản thân hắn đang biết. Nhưng vì những cánh cửa đã khép lại sau lưng tôi, tôi đành phải chờ đợi thú vui tuổi trẻ của hắn và cố gắng giữ cho hắn được vui vẻ. Sự thiếu cảnh giác dù chỉ một phút có thể làm hỏng một sự mặc khải vô giá: thỉnh thoảng hắn lại vứt xó những cuốn sách của mình — hắn cất chúng ở phòng tôi, vì mẹ hắn mà thấy số tiền kiếm được bị ném qua cửa sổ như thế thì thể nào cũng bị sốc — và lao vào những giấc mơ đại dương của mình. Một lần nữa tôi nguyền rủa tất cả các nhà thơ nước Anh. Tâm trí dễ uốn nắn của gã nhân viên ngân hàng đã bị đè bẹp, nhuộm màu và bóp méo bởi những gì hắn đã đọc, và kết quả thốt ra là một mớ hỗn độn nhùng nhằng của những giọng nói khác, giống hệt như tiếng lẩm bẩm qua điện thoại thành phố vào giờ cao điểm nhất trong ngày.

Hắn nói về chiếc thuyền chèo — nếu hắn biết thì đó chính là chiếc thuyền chèo của chính hắn — với những hình ảnh minh họa mượn từ “Cô dâu thành Abydos”. Hắn tô điểm cho những trải nghiệm của người anh hùng bằng các câu thơ trích từ “Kẻ cướp biển”, và ném vào đó những suy ngẫm đạo đức sâu sắc và tuyệt vọng từ “Cain” và “Manfred”, cứ đinh ninh rằng tôi sẽ dùng hết thảy chúng. Chỉ khi câu chuyện chuyển sang Longfellow thì những dòng chảy trái chiều va chạm ấy mới câm lặng, và tôi biết rằng Charlie đang nói sự thật theo cách hắn ghi nhớ nó.

— Cậu nghĩ sao về đoạn này? — tôi hỏi vào một buổi tối, ngay khi tôi hiểu được thứ phương tiện mà trí nhớ của hắn hoạt động tốt nhất, và trước khi hắn kịp phản đối, tôi đọc cho hắn nghe toàn bộ “Trường ca về Vua Olaf!”

Hắn lắng nghe há hốc miệng, má ửng đỏ, đôi tay trống nhịp lên lưng chiếc ghế sofa nơi hắn nằm, cho đến khi tôi đọc đến Khúc ca về Einar Tamberskelfir và đoạn thơ:

—‘Einar then, the arrow taking

From the loosened string,

Answered: “That was Norway breaking

‘Neath thy hand, O King.”’

Hắn thở hổn hển vì sự tuyệt diệu thuần khiết của âm thanh.

— Hay hơn Byron một chút đấy chứ nhỉ? — tôi mạo muội hỏi.

— Hay hơn á? Sao lại thế chứ, đó là sự thật mà! Làm sao ông ấy có thể biết được cơ chứ?

Tôi quay lại và đọc tiếp:

—‘“What was that?” said Olaf, standing

On the quarter-deck,

“Something heard I like the stranding

Of a shattered wreck.”’

— Làm sao ông ấy có thể biết được cách những con tàu đâm sầm vào nhau, mái chèo bị giật đứt ra và kêu z-zzp dọc suốt cả mạn tàu cơ chứ? Sao cơ chứ, mới tối hôm qua thôi mà.... Nhưng làm ơn quay lại đọc lại bài “Vũng đá ngầm của những tiếng thét” đi.

— Thôi, tôi mệt rồi. Chúng ta nói chuyện đi. Tối hôm qua đã có chuyện gì thế?

— Tôi gặp một cơn ác mộng khủng khiếp về cái con thuyền chèo đó của chúng ta. Tôi mơ thấy mình bị chết đuối trong một trận chiến. Anh thấy đấy, chúng ta chèo sát vào một con tàu khác trong cảng. Nước phẳng lặng như tờ ngoại trừ chỗ mái chèo của chúng ta khuấy động lên. Anh biết chỗ tôi hay ngồi trong thuyền chèo không? — Ban đầu hắn nói ngập ngừng, dưới nỗi sợ mang đậm chất Anh quốc là bị chế giễu.

— Không. Đó là tin mới với tôi đấy — tôi ngoan ngoãn đáp, trái tim bắt đầu đập loạn nhịp.

— Ở chiếc mái chèo thứ tư tính từ mũi bên phải ở boong trên. Có bốn chúng tôi ở mái chèo đó, tất cả đều bị xích lại. Tôi nhớ là mình cứ nhìn chằm chằm vào mặt nước và cố tháo chiếc còng số tám trước khi trận chiến bắt đầu. Rồi chúng ta áp sát con tàu kia, và toàn bộ toán chiến binh của chúng nhảy bổ qua mạn tàu của chúng tôi, chiếc băng ghế của tôi gãy đôi và tôi bị gí chặt xuống dưới cùng ba gã khác đè lên người, còn cây mái chèo lớn thì kẹt ngang qua lưng chúng tôi.

— Rồi sao nữa? — Mắt Charlie bừng sáng và tràn đầy sinh khí. Hắn đang nhìn bức tường đằng sau chiếc ghế của tôi.

— Tôi không biết chúng tôi đã chiến đấu ra sao nữa. Bọn chúng dẫm đạp khắp lưng tôi, còn tôi thì nằmẹp xuống. Sau đó, những tay chèo ở mạn trái của chúng tôi — bị xích vào mái chèo, anh biết đấy — bắt đầu la hét và chèo giật lùi. Tôi có thể nghe thấy tiếng nước xèo xèo, và chúng ta quay mòng mòng như một con bọ hung, và nằm ở cái tư thế ấy, tôi biết rằng có một chiếc thuyền chèo đang lao thẳng tới, chuẩn bị đâm ngang mạn trái của chúng ta. Tôi chỉ có thể ngẩng đầu lên một chút và nhìn thấy nó bay qua mạn tàu. Chúng ta muốn đâm trực diện mũi đối mũi với nó, nhưng đã quá muộn. Chúng ta chỉ có thể xoay người một chút vì chiếc thuyền chèo ở mạn phải đã móc chặt vào chúng ta và ngăn chúng ta di chuyển. Rồi, chà quỷ tha ma bắt! Một tiếng rầm vang lên! Mạn trái mái chèo của chúng ta bắt đầu gãy nát khi chiếc thuyền chèo kia, cái con tàu đang lao tới ấy, cắm mũi vào chúng. Rồi những cây mái chèo ở boong dưới bắn vọt lên xuyên qua các tấm ván sàn, nhưng trước tiên, và một trong số chúng bay vút lên không trung rồi rơi phịch xuống ngay sát đầu tôi.

— Thế quái nào mà làm được thế? — tôi hỏi.

— Mũi của con tàu đang lao tới đã đâm ngược chúng xuyên qua các lỗ chèo của chính chúng, và tôi có thể nghe thấy một âm thanh điên rồ ở các tầng boong phía dưới. Rồi mũi của nó đâm trúng gần như vào chính giữa chúng ta, và chúng ta nghiêng hẳn sang một bên, còn đám người trên chiếc thuyền chèo mạn phải đã tháo móc và dây thừng ra, ném đủ thứ lên boong trên của chúng tôi — nào là tên, nào là hắc ín nóng chảy hay thứ gì đó làm bỏng rát, và chúng ta cứ thế trồi lên, lên, lên ở mạn trái, còn mạn phải thì chìm xuống, và tôi ngoái đầu lại nhìn thấy mặt nước đứng yên như tờ khi nó tràn qua mạn phải, rồi nó cuộn tròn lại và giáng sầm xuống tất cả lũ chúng tôi ở mạn phải, tôi cảm thấy nó đập vào lưng mình, và tôi tỉnh giấc.

— Đợi một phút đã, Charlie. Khi nước biển tràn qua mạn tàu, trông nó thế nào? — Tôi có lý do để hỏi câu này. Một người quen của tôi từng chìm cùng một con tàu bị thủng ở vùng biển lặng, và đã nhìn thấy mực nước dừng lại trong một khoảnh khắc trước khi ập xuống boong tàu.

— Trông nó y hệt như một sợi dây đàn banjo được căng thật chặt, và có vẻ như nó cứ đứng nguyên ở đó suốt nhiều năm trời — Charlie nói.

Chính xác! Người đàn ông kia đã nói:

— “Trông nó giống như một sợi dây bạc đặt dọc theo mạn tàu, và tôi tưởng nó chẳng bao giờ đứt.” — Anh ta đã phải đánh đổi mọi thứ trừ cái mạng cỏn con để lấy được mẩu kiến thức vô giá trị này, và tôi đã lặn lội mười ngàn dặm mệt mỏi để gặp anh ta và lấy lại kiến thức đó qua lời kể lại. Thế mà Charlie, gã nhân viên ngân hàng kiếm được hai mươi lăm shilling một tuần, kẻ chưa từng rời khỏi tầm mắt của một chiếc xe buýt Luân Đôn, lại tường tận tất cả. Chẳng có chút an ủi nào cho tôi khi biết rằng trong một kiếp sống nào đó, hắn đã từng buộc phải chết để đổi lấy những trải nghiệm này. Chắc hẳn tôi cũng đã chết đến hàng chục lần, nhưng đằng sau tôi, vì tôi có thể sử dụng kiến thức đó, các cánh cửa đã khép chặt.

— Và rồi sao nữa? — tôi nói, cố gắng xua đi con quỷ đố kỵ.

— Điều buồn cười là, mặc dù trong toàn bộ mớ hỗn độn đó, tôi lại chẳng hề cảm thấy kinh ngạc hay sợ hãi chút nào. Có cảm giác như tôi đã trải qua kha khá trận chiến rồi, bởi vì tôi đã nói với gã ngồi cạnh khi cuộc ẩu đả bắt đầu như vậy mà. Nhưng cái gã khốn nạn cai quản ở boong của tôi nhất quyết không chịu tháo xích cho chúng tôi một cơ hội. Hắn luôn mồm nói rằng tất cả chúng tôi sẽ được trả tự do sau một trận chiến, nhưng chúng tôi chẳng bao giờ được thế cả; chúng tôi chưa từng được thế bao giờ. — Charlie buồn rầu lắc đầu.

— Thật là một tên đểu cá!

— Tôi phải nói là hắn đúng là đồ khốn. Hắn chẳng bao giờ cho chúng tôi ăn đủ, và đôi khi chúng tôi khát đến mức phải uống cả nước biển. Tôi vẫn còn nếm được vị nước biển mặn chát đó đến tận bây giờ.

— Giờ hãy kể cho tôi nghe một chút về cái cảng nơi trận chiến diễn ra đi.

— Về cái đó thì tôi không mơ thấy. Dù vậy, tôi biết đó là một cảng; bởi vì chúng tôi bị buộc chặt vào một chiếc vòng trên bức tường trắng và toàn bộ bề mặt đá dưới nước đều được bọc gỗ để ngăn không cho mũi tàu chiến bị sứt mẻ mỗi khi thủy triều dâng làm chúng ta tròng trành.

— Thật tò mò làm sao. Người anh hùng của chúng ta là kẻ chỉ huy thuyền chèo phải không? Đúng thế chứ?

— Quá chuẩn luôn ấy chứ! Hắn đứng ở phần mũi tàu và gào thét như một kẻ hảo hán thực thụ. Hắn chính là kẻ đã giết gã cai quản.

— Nhưng tất cả các cậu đều chết đuối cùng nhau mà, Charlie, phải không?

— Tôi không tài nào khớp được đoạn đó cho lắm — hắn nói với vẻ mặt bối rối. — Con tàu chắc hẳn đã chìm cùng toàn bộ thủy thủ đoàn mà sao tôi cứ có cảm giác người anh hùng vẫn tiếp tục sống sau đó nhỉ. Có lẽ hắn đã trèo được lên con tàu tấn công. Dĩ nhiên là tôi không nhìn thấy chuyện đó rồi. Anh biết đấy, tôi đã chết rồi mà.

Hắn rùng mình nhẹ và quả quyết rằng mình không thể nhớ thêm gì nữa.

Tôi không gặng hỏi thêm, nhưng để tự trấn an rằng hắn vẫn hoàn toàn mù mịt về những hoạt động bên trong tâm trí chính mình, tôi đã chủ động giới thiệu cho hắn cuốn “Sự luân hồi” của Mortimer Collins và phác sơ cốt truyện cho hắn trước khi mở trang sách.

— Đúng là nhảm nhí hết chỗ nói! — sau một tiếng đồng hồ, hắn thẳng thừng tuyên bố. — Tôi chẳng hiểu cái mớ ngớ ngẩn của ông ấy về Hành tinh Đỏ Sao Hỏa với Nhà vua hay mấy thứ lằng nhằng khác là gì cả. Ném lại đây cho tôi cuốn Longfellow coi.

Tôi đưa cuốn sách cho hắn và viết ra tất cả những gì tôi có thể nhớ được về bản miêu tả trận hải chiến của hắn, thỉnh thoảng lại hỏi hắn để xác nhận các sự thật hay chi tiết. Hắn trả lời mà không hề ngẩng đầu lên khỏi trang sách, chắc chắn như thể toàn bộ kiến thức của hắn đang nằm phơi bày trước mặt trên từng con chữ in. Tôi nói bằng giọng bình thường để dòng suy tưởng không bị đứt đoạn, và tôi biết hắn không hề ý thức được mình đang nói gì, bởi vì tâm trí hắn đang thả hồn ra biển lớn cùng Longfellow.

— Charlie — tôi hỏi — khi những tay chèo trên thuyền nổi loạn, họ đã giết những kẻ cai quản bằng cách nào?

— Nhổ bật các băng ghế lên và đập nát đầu chúng. Chuyện đó xảy ra khi sóng biển đang nổi lớn. Một gã cai quản ở boong dưới trượt chân từ tấm ván trung tâm và ngã vào giữa đám tay chèo. Bằng những đôi tay bị còng, họ đã bóp cổ hắn đến chết ngay sát mạn tàu một cách hoàn toàn lặng lẽ, và trời tối quá nên gã cai quản kia chẳng thấy gì xảy ra cả. Khi hắn cất tiếng hỏi, hắn cũng bị kéo ngã nhào xuống và bị bóp cổ, thế là boong dưới cứ thế đánh mở đường tiến lên từng boong một, với những mảnh vỡ của những chiếc băng ghế gãy đập ầm ầm đằng sau họ. Chúng hú hét dữ dội làm sao!

— Và chuyện gì đã xảy ra sau đó?

— Tôi không biết. Người anh hùng bỏ đi — tóc đỏ, râu đỏ và tất cả mọi thứ. Chuyện đó xảy ra sau khi hắn chiếm được chiếc thuyền chèo của chúng ta, hình như thế.

Âm thanh giọng nói của tôi làm hắn bực bội, và hắn khẽ ra hiệu bằng tay trái hệt như cách một người làm khi bị quấy rầy làm gián đoạn.

— Cậu chưa từng nói với tôi trước đây rằng hắn tóc đỏ, hay rằng hắn đã chiếm chiếc thuyền chèo của các cậu — tôi nói sau một khoảng lặng vừa phải.

Charlie không ngẩng mắt lên.

— Hắn đỏ như một con gấu đỏ — hắn lơ đễnh đáp. — Hắn đến từ phương bắc; trong thuyền chèo người ta đã nói thế khi hắn đi tìm những tay chèo — không phải nô lệ, mà là những người tự do. Về sau — rất lâu, rất lâu về sau — tin tức truyền đến từ một con tàu khác, hoặc không thì hắn quay trở lại—— — Môi hắn mấp máy không thành tiếng. Hắn đang say sưa thưởng thức lại một bài thơ nào đó trước mặt.

— Thế hắn đã đi đâu? — Tôi gần như thì thầm để câu nói có thể lọt vào bất kỳ phân khu nào trong bộ não của Charlie đang hoạt động thay tôi một cách thật nhẹ nhàng.

— Đến Những Bờ Biển — Những Bờ Biển Dài và Kỳ Diệu! — câu trả lời vang lên sau một phút im lặng.

— Đến Furdurstrandi à? — tôi hỏi, toàn thân râm ran từ đầu đến chân.

— Đúng vậy, đến Furdurstrandi — hắn phát âm từ đó theo một kiểu hoàn toàn mới. — Và tôi cũng đã nhìn thấy—— — Giọng hắn đứt quãng.

— Cậu có biết mình vừa nói gì không? — tôi lớn tiếng hỏi, thiếu cẩn trọng.

Hắn ngẩng mắt lên, lúc này đã hoàn toàn tỉnh táo. — Không! — hắn cộc lẹ. — Tôi ước gì anh để cho người ta đọc tiếp. Nghe đoạn này này:

—‘But Othere, the old sea captain,

He neither paused nor stirred

Till the king listened, and then

‘Once more took up his pen

And wrote down every word.

—‘And to the King of the Saxons

In witness of the truth,

Raising his noble head,

He stretched his brown hand and said,

“Behold this walrus tooth.”’

Chà thánh thần ơi, mấy gã đó quả là những kẻ cừ khôi, cứ dong buồm đi khắp nơi mà chẳng bao giờ biết trước mình sẽ cập bờ ở đâu cả! Hah!

— Charlie — tôi nài nỉ — nếu cậu chỉ cần tỉnh táo trong một hoặc hai phút thôi, tôi sẽ biến người anh hùng trong câu chuyện của chúng ta tài giỏi không kém gì Othere đâu.

— Ừm! Longfellow viết bài thơ đó đấy. Tôi chẳng màng viết lách gì nữa đâu. Tôi muốn đọc sách. — Lúc này hắn hoàn toàn mất hứng, và ôm nỗi bực bội vì sự xui xẻo của chính mình, tôi bỏ đi.

Hãy tưởng tượng bạn đang đứng trước cánh cửa dẫn đến kho báu của thế giới, được canh giữ bởi một đứa trẻ — một đứa trẻ vô tích sự, vô trách nhiệm đang chơi đốt xương đốt ngón tay — mà sự ban ơn của nó quyết định chiếc chìa khóa, và bạn sẽ hình dung được một nửa sự tra tấn của tôi. Cho đến tối hôm đó, Charlie chưa từng nói bất cứ điều gì nằm ngoài trải nghiệm của một tên nô lệ chèo thuyền Hy Lạp. Nhưng giờ đây, nếu không có sự linh thiêng nào trong sách vở, hắn đã kể về một cuộc phiêu lưu tuyệt vọng của người Viking, về chuyến hải hành của Thorfinn Karlsefne đến xứ Vinland, tức là châu Mỹ, vào thế kỷ thứ chín hoặc thứ mười. Trận chiến trong cảng là thứ hắn đã tận mắt chứng kiến; và cái chết của chính mình là thứ hắn đã miêu tả. Nhưng đây lại là một cú lao sâu đáng kinh ngạc hơn nhiều vào quá khứ. Liệu có khả năng nào hắn đã bỏ qua nửa tá kiếp sống và giờ đây đang mơ hồ nhớ lại một tập nào đó của một ngàn năm sau đó? Đó là một mớ hỗn độn điên rồ, và tồi tệ nhất là Charlie Mears trong trạng thái bình thường lại là kẻ cuối cùng trên đời có thể làm sáng tỏ nó. Tôi chỉ có thể chờ đợi và theo dõi, nhưng đêm đó tôi lên giường với một đầu óc ngập tràn những tưởng tượng hoang đường nhất. Không có gì là không thể nếu như trí nhớ đáng ghét của Charlie chịu hợp tác.

Tôi có thể viết lại trường ca về Thorfinn Karlsefne theo cách chưa từng có ai viết trước đây, có thể kể câu chuyện về lần đầu tiên phát hiện ra châu Mỹ, chính tôi là nhà thám hiểm. Nhưng tôi hoàn toàn nằm lòng trong sự thương hại của Charlie, và chừng nào còn có một cuốn sách Bohn giá ba shilling rưỡi trong tầm với của Charlie, thì hắn sẽ chẳng hé răng nửa lời. Tôi không dám nguyền rủa hắn một cách công khai; tôi hầu như chẳng dám khơi gợi trí nhớ của hắn, bởi vì tôi đang đối phó với những trải nghiệm của một ngàn năm trước, được kể qua miệng của một đứa trẻ thời nay; và một đứa trẻ thời nay bị tác động bởi mọi sự thay đổi giọng điệu và từng luồng ý kiến, đến nỗi hắn nói dối ngay cả khi muốn nói sự thật.

Tôi không gặp lại hắn trong gần một tuần. Lần tiếp theo tôi gặp hắn là ở phố Gracechurch với một cuốn sổ hóa đơn được xích vào eo. Công việc đưa hắn qua Cầu Luân Đôn và tôi đi cùng. Hắn tỏ ra rất tự hào về tầm quan trọng của cuốn sổ đó và phóng đại nó lên. Khi chúng tôi đi qua sông Thames, chúng tôi dừng lại để nhìn một chiếc tàu hơi nước đang dỡ những phiến đá cẩm thạch trắng và nâu lớn. Một chiếc sà lan trôi dạt dưới đuôi tàu và một con bò cô độc trên chiếc sà lan đó rống lên. Khuôn mặt Charlie thay đổi từ gương mặt của một nhân viên ngân hàng sang gương mặt của một kẻ hoàn toàn xa lạ và — mặc dù hắn sẽ chẳng đời nào tin điều này — một kẻ cáo già hơn rất nhiều. Hắn vung tay qua lan can cầu, cười lớn và nói:

— Khi nghe tiếng bò của chúng ta rống lên, bọn Skraeling đã sợ hãi bỏ chạy!

Tôi chỉ chờ đợi một thoáng, nhưng chiếc sà lan và con bò đã biến mất dưới phần mũi tàu hơi nước trước khi tôi kịp trả lời.

— Charlie, cậu nghĩ Skraeling là gì?

— Chưa từng nghe thấy bao giờ. Nghe có vẻ như một loài mòng biển mới ấy chứ. Cậu đúng là một gã thích đặt câu hỏi! — hắn đáp. — Tôi phải đến gặp thủ quỹ của Công ty Xe buýt đằng kia. Anh có đợi tôi không rồi chúng ta cùng đi ăn trưa ở đâu đó nhé? Tôi đang có ý tưởng cho một bài thơ.

— Không, cảm ơn. Tôi đi đây. Cậu chắc là mình không biết gì về Skraeling chứ?

— Trừ phi nó được đăng ký tham gia Giải đua ngựa Liverpool. — Hắn gật đầu và biến mất vào đám đông.

Giờ thì trong Saga của Eric người Tóc Đỏ hoặc của Thorfinn Karlsefne có chép rằng, chín trăm năm trước, khi những chiếc thuyền của Karlsefne đến các chòi của Leif, thứ mà Leif đã dựng lên ở vùng đất vô danh mang tên Markland — có thể là đảo Rhode hoặc không — thì bọn Skraeling — và Chúa mới biết chúng là loại người nào — đã đến giao thương với người Viking, rồi bỏ chạy vì hoảng sợ trước tiếng rống của bầy gia súc mà Thorfinn mang theo trên tàu. Nhưng trên đời này một tên nô lệ Hy Lạp thì biết gì về chuyện đó chứ? Tôi lang thang khắp các con phố tìm cách gỡ rối bí ẩn ấy, và càng suy ngẫm, nó càng trở nên hóc búa. Chỉ có một điều duy nhất có vẻ chắc chắn, và sự chắc chắn ấy khiến tôi nghẹt thở trong khoảnh khắc. Nếu tôi đạt được sự thấu hiểu trọn vẹn về bất cứ điều gì, thì đó sẽ không phải là một kiếp sống của linh hồn trong thể xác của Charlie Mears, mà là nửa tá — nửa tá sự tồn tại riêng biệt và độc lập từng trải qua trên làn nước xanh thẳm vào buổi bình minh của thế giới!

Rồi tôi đi quanh tình huống đó.

Rõ ràng là nếu tôi sử dụng kiến thức của mình, tôi sẽ đứng đơn độc và không ai sánh kịp cho đến khi tất cả mọi người đều thông thái như tôi. Điều đó cũng đáng kể đấy, nhưng giống như bao phàm nhân khác, tôi lại tỏ ra vô ơn. Thật là bất công một cách cay đắng khi trí nhớ của Charlie lại phụ bạc tôi đúng vào lúc tôi cần nó nhất. Hỡi các Thế lực Tối cao trên cao — tôi ngẩng đầu nhìn họ qua màn sương mù — các Chúa tể của Sự sống và Cái chết có biết điều này có ý nghĩa thế nào đối với tôi không? Không gì khác ngoài danh tiếng vĩnh cửu thuộc về loại xuất sắc nhất; thứ xuất hiện từ Một, và chỉ được chia sẻ bởi một người duy nhất. Tôi sẽ mãn nguyện — nhớ lại Clive, tôi ngẩng người kinh ngạc trước sự ôn hòa của chính mình — với quyền được kể một câu chuyện, được tạo ra một đóng góp nhỏ nhoi cho văn học nhẹ nhàng đương thời. Nếu Charlie được phép hồi tưởng trọn vẹn trong một giờ — trong sáu mươi phút ngắn ngủi — về những sự tồn tại kéo dài suốt một ngàn năm — tôi sẽ từ bỏ mọi lợi lộc và vinh quang từ tất cả những gì tôi làm ra từ lời nói của hắn. Tôi sẽ không màng đến sự náo động sẽ xảy ra khắp góc đất cụ thể tự xưng là “thế giới” này. Mọi thứ sẽ được phát hành ẩn danh. Thậm chí, tôi sẽ khiến những người khác tin rằng chính họ đã viết ra nó. Họ sẽ thuê những gã người Anh mặt dày chuyên tự quảng cáo để đi rao giảng khắp nơi. Các nhà thuyết giáo sẽ lập nên một lối sống hoàn toàn mới dựa trên đó, thề thốt rằng nó hoàn toàn mới mẻ và họ đã gạt bỏ nỗi sợ cái chết ra khỏi toàn bộ nhân loại. Mọi nhà Đông phương học ở Châu Âu sẽ bảo trợ nó một cách dài dòng bằng các văn bản tiếng Phạn và Pali. Những người phụ nữ đáng sợ sẽ phát minh ra những dị bản dơ bẩn từ niềm tin của đàn ông để nâng cao vị thế của chị em họ. Các giáo hội và tôn giáo sẽ chiến đấu vì nó. Giữa khoảnh khắc đón và khởi hành lại của một chuyến xe buýt, tôi đã mường tượng ra những cuộc ẩu đả sẽ nảy sinh giữa nửa tá giáo phái cùng tuyên bố “học thuyết về Sự luân hồi Chân chính áp dụng cho thế giới và Kỷ nguyên Mới”; và tôi cũng thấy cả những tờ báo đáng kính của nước Anh đang nhảy dựng lên như những con bò bị hoảng sợ trước sự đơn sơ tuyệt đẹp của câu chuyện. Tâm trí phóng vượt lên một trăm — hai trăm — một nghìn năm. Tôi đau đớn nhận ra rằng người ta sẽ cắt xén và bóp méo câu chuyện; rằng các tín ngưỡng đối địch sẽ lật tung nó lên cho đến cuối cùng, thế giới phương Tây — nơi bám chặt vào nỗi sợ cái chết hơn là niềm hy vọng về sự sống — sẽ gạt phăng nó sang một bên như một thứ mê tín thú vị và lao đầu theo một đức tin nào đó đã bị lãng quên từ lâu đến mức trông nó hoàn toàn mới mẻ. Nhìn thấu điều đó, tôi thay đổi các điều khoản của thỏa thuận mà tôi sẽ thực hiện với các Chúa tể của Sự sống và Cái chết. Chỉ cần cho tôi biết, cho tôi viết câu chuyện đó với sự chắc chắn tuyệt đối rằng tôi viết ra sự thật, và tôi sẽ thiêu rụi bản thảo như một sự hy sinh trang nghiêm. Năm phút sau khi dòng cuối cùng được viết ra, tôi sẽ tiêu hủy toàn bộ nó. Nhưng tôi phải được phép viết nó với sự chắc chắn tuyệt đối.

Không có câu trả lời nào cả. Màu sắc rực rỡ của một tấm áp phích Thủy cung lọt vào mắt tôi và tôi tự hỏi liệu có khôn ngoan hay thận trọng không khi dụ dỗ Charlie rơi vào tay của một nhà thôi miên chuyên nghiệp, và liệu rằng khi ở dưới quyền lực của ông ta, hắn có nói về những kiếp sống trong quá khứ của mình hay không. Nếu hắn nói, và nếu mọi người tin hắn... nhưng Charlie sẽ sợ hãi và hoảng hốt, hoặc trở nên kiêu ngạo bởi những buổi phỏng vấn. Dù trong trường hợp nào đi nữa, hắn cũng sẽ bắt đầu nói dối, vì sợ hãi hoặc vì sự kiêu ngạo. Hắn ở trong tay tôi là an toàn nhất.

— Người Anh các anh đúng là những kẻ ngốc nghếch thú vị thật đấy — một bên khuỷu tay tôi vang lên một giọng nói, và khi quay lại, tôi nhận ra một người quen xã giao, một sinh viên luật trẻ người Bengal tên là Grish Chunder, kẻ có cha đã gửi sang Anh để học cách trở thành văn minh. Ông già là một cựu quan chức bản địa, và với mức thu nhập năm bảng một tháng, ông vẫn xoay sở chu cấp cho con trai mình hai trăm bảng một năm, cùng một chân ăn uống xả láng tại một thành phố nơi hắn có thể giả vờ là hoàng tử hoàng gia và kể những câu chuyện về bọn quan chức tàn bạo người Ấn Độ chuyên giày vò những người nghèo khổ.

Grish Chunder là một thanh niên Bengal trẻ tuổi, mập mạp, đầy đặn, ăn mặc cực kỳ cẩn thận với áo khoác dài, mũ phớt cao, quần sáng màu và găng tay da thuộc màu nâu vàng. Nhưng tôi đã từng quen hắn vào những ngày mà Chính phủ Ấn Độ tàn bạo còn phải trả tiền cho nền giáo dục đại học của hắn, và hắn chuyên đóng góp những bài viết phản loạn rẻ tiền cho tờ Sachi Durpan, rồi tòm tem với vợ của các bạn cùng trường.

— Thật là buồn cười và ngớ ngẩn làm sao — hắn vừa nói vừa gật đầu nhìn tấm áp phích. — Tôi đang định đến Câu lạc bộ Northbrook đây. Anh đi cùng chứ?

Tôi đi cùng hắn một lúc. — Trông anh không được khỏe — hắn nói. — Anh đang vướng bận điều gì trong đầu thế? Chẳng thấy anh nói năng gì cả.

— Grish Chunder, cậu được ăn học tử tế quá rồi nên chắc chẳng còn tin vào Thượng đế nữa đâu nhỉ?

— Ồ, vâng, ở đây thì thế! Nhưng khi về nhà, tôi phải xoa dịu sự mê tín phổ biến, thực hiện các nghi lễ thanh tẩy, và phụ nữ nhà tôi sẽ xức dầu thánh lên các bức tượng thần.

— Rồi dựng cây tulsi lên, mở tiệc khao đám thầy tu purohit, đưa cậu quay trở lại với đẳng cấp xã hội và biến cậu thành một tay kshatriya đàng hoàng một lần nữa, hỡi một kẻ Tự do Tư tưởng cấp tiến. Rồi cậu sẽ ăn đồ ăn desi, và thích thú với tất cả mọi thứ từ mùi hương trong sân nhà cho đến dầu mù tạt bôi trên người cậu.

— Tôi sẽ thích nó lắm chứ — Grish Chunder vô tư đáp. — Một khi đã là tín đồ Hindu thì mãi mãi là tín đồ Hindu. Nhưng tôi thích tìm hiểu xem người Anh nghĩ họ biết những gì.

— Tôi sẽ kể cho cậu nghe một điều mà một người Anh biết. Đó là một câu chuyện cũ đối với cậu đấy.

Tôi bắt đầu kể câu chuyện về Charlie bằng tiếng Anh, nhưng Grish Chunder đặt một câu hỏi bằng tiếng bản địa, và câu chuyện cứ thế tiến triển một cách tự nhiên bằng thứ ngôn ngữ phù hợp nhất để kể nó. Rốt cuộc thì nó chưa bao giờ có thể được kể bằng tiếng Anh cả. Grish Chunder lắng nghe tôi, thỉnh thoảng gật đầu, rồi cùng tôi lên phòng nơi tôi kết thúc câu chuyện.

— Beshak — hắn triết lý nói. — Lekin darwaza band hai. (Đương nhiên rồi, nhưng cánh cửa đã khép lại.) Tôi từng nghe về việc nhớ lại các kiếp sống trước đây này trong cộng đồng của mình rồi. Đương nhiên đó là một câu chuyện cũ đối với chúng tôi, nhưng việc nó lại xảy ra với một người Anh — một kẻ Mlechchha ăn thịt bò — một kẻ ngoài giai cấp. Chà, điều đó mới kỳ lạ làm sao!

— Cậu cũng là kẻ ngoài giai cấp đấy thôi, Grish Chunder! Ngày nào cậu chẳng ăn thịt bò. Hãy suy nghĩ về vấn đề này xem nào. Cậu thanh niên nhớ được các kiếp luân hồi của mình.

— Cậu ta có biết điều đó không? — Grish Chunder bình thản hỏi, đu đưa đôi chân khi ngồi trên bàn của tôi. Lúc này hắn đang nói bằng tiếng Anh.

— Cậu ta chẳng biết gì cả. Cậu nghĩ tôi sẽ kể cho cậu nghe nếu cậu ta biết chắc? Nói tiếp đi!

— Chẳng có gì để nói tiếp cả. Nếu anh kể điều đó cho bạn bè của mình, họ sẽ bảo anh điên rồi tống nó lên báo. Giờ giả sử anh kiện họ vu khống xem nào.

— Hãy gác chuyện đó sang một bên đi. Liệu có chút hy vọng nào để cậu ta buộc phải mở miệng không?

— Có một chút cơ hội đấy. Ồ, vâng! Nhưng nếu cậu ta nói ra, điều đó có nghĩa là toàn bộ thế giới này sẽ chấm dứt ngay lập tức — instanto — sụp đổ ngay trên đầu anh. Mấy thứ đó không được phép xảy ra đâu, anh biết đấy. Như tôi đã nói, cánh cửa đã khép lại rồi.

— Không có lấy một mảy may hy vọng nào sao?

— Làm sao có thể chứ? Anh là một tín đồ Ki-tô giáo, và trong sách của anh, việc ăn quả từ Cây Sự sống là bị cấm, bằng không anh sẽ chẳng bao giờ chết. Làm sao tất cả các anh có thể sợ hãi cái chết nếu tất cả đều biết những gì mà bạn của anh không biết là hắn biết chứ? Tôi sợ bị đá đít, nhưng tôi không sợ chết, bởi vì tôi biết những gì tôi biết. Các anh không sợ bị đá đít, nhưng các anh lại sợ chết. Nếu các anh không sợ, có Chúa mới biết! Người Anh các anh sẽ tràn ngập khắp nơi chỉ trong vòng một giờ, làm đảo lộn thế cân bằng quyền lực và gây ra những cuộc náo loạn. Điều đó không tốt đâu. Nhưng cứ yên tâm đi. Cậu ta sẽ chỉ nhớ một chút rồi ít dần đi, và cậu ta sẽ gọi đó là những giấc mơ. Rồi cậu ta sẽ quên hẳn. Hồi tôi vượt qua Kỳ thi Nghệ thuật Đầu tiên ở Calcutta, điều đó đều có trong cuốn sách luyện thi về Wordsworth. Khái niệm “Những đám mây vinh quang kéo lê theo sau”, anh biết đấy.

— Điều này có vẻ là một ngoại lệ so với quy luật.

— Chẳng có ngoại lệ nào cho các quy luật cả. Một vài cái trông có vẻ không khắc nghiệt bằng những cái khác, nhưng chúng đều y như nhau khi anh chạm vào. Nếu người bạn này của anh nói thế này thế nọ, ngụ ý rằng hắn nhớ toàn bộ những kiếp sống đã mất của mình, hoặc một phần của kiếp sống đã mất, hắn sẽ không còn ở ngân hàng thêm một giờ nào nữa. Hắn sẽ bị cái mà anh gọi là sa thải vì bị điên, và họ sẽ tống hắn vào nhà thương điên. Anh thừa hiểu điều đó mà, bạn tôi.

— Dĩ nhiên tôi hiểu, nhưng tôi không nghĩ về cậu ta. Tên của cậu ta sẽ không bao giờ phải xuất hiện trong câu chuyện.

— A! Tôi hiểu rồi. Câu chuyện đó sẽ không bao giờ được viết ra đâu. Anh cứ thử mà xem.

— Tôi sẽ làm thế.

— Vì uy tín của chính anh và vì tiền bạc, phải không?

— Không. Vì muốn viết câu chuyện đó. Danh dự của tôi là tất cả những gì đứng sau nó.

— Ngay cả thế thì cũng chẳng có cơ hội nào đâu. Anh không thể đùa giỡn với các Vị thần được đâu. Bây giờ nó là một câu chuyện rất hay rồi đấy. Như người ta vẫn nói, Cứ để nó dừng lại ở đó đi — ý tôi là dừng ở mức đó. Nhanh chân lên; cậu ta sẽ chẳng kéo dài được lâu đâu.

— Ý cậu là gì?

— Ý tôi là thế đấy. Cho đến nay, cậu ta chưa bao giờ nghĩ về một người phụ nữ.

— Cậu ta chưa nghĩ bao giờ à? — Tôi sực nhớ lại vài lời tâm sự của Charlie.

— Ý tôi là chưa có người phụ nữ nào nghĩ về cậu ta. Khi chuyện đó xảy ra; bus — hogya — mọi thứ tiêu tùng hết! Tôi biết mà. Có hàng triệu phụ nữ ngoài kia. Ví dụ như đám nữ gia nhân chẳng hạn.

Tôi co rúm người lại khi nghĩ đến việc câu chuyện của mình bị phá nát bởi một ả nữ gia nhân. Thế mà chẳng có gì xác suất cao hơn thế.

Grish Chunder nhe răng cười.

— Đúng vậy — cả những cô gái xinh đẹp nữa — họ hàng trong nhà cậu ta, và có lẽ cả không phải họ hàng. Chỉ một nụ hôn mà cậu ta đáp trả và ghi nhớ sẽ chữa lành toàn bộ cái mớ nhảm nhí này, hoặc không thì——

— Hoặc không thì sao? Hãy nhớ là cậu ta không biết rằng mình biết cơ mà.

— Tôi biết điều đó chứ. Hoặc không thì, nếu chẳng có chuyện gì xảy ra, cậu ta sẽ đắm chìm vào công việc buôn bán và những vụ đầu cơ tài chính giống như những kẻ khác. Chắc chắn phải thế rồi. Anh có thể thấy là nó phải thế. Nhưng tôi nghĩ người phụ nữ sẽ xuất hiện trước.

Có tiếng gõ cửa, và Charlie xồng xộc lao vào. Hắn vừa được thả khỏi văn phòng, và qua ánh mắt của hắn, tôi có thể thấy hắn sang đây để trò chuyện một trận dài; rất có thể là có cả thơ trong túi nữa. Thơ của Charlie rất mệt mỏi, nhưng đôi khi chúng dẫn dắt hắn nói về chiếc thuyền chèo.

Grish Chunder nhìn chăm chăm vào hắn một phút.

— Xin lỗi anh — Charlie ngượng ngùng nói — tôi không biết là anh đang có khách.

— Tôi đi đây — Grish Chunder nói.

Hắn kéo tôi ra hành lang khi chuẩn bị rời đi.

— Đó chính là người của anh đấy — hắn nói nhanh. — Tôi nói cho anh biết, cậu ta sẽ chẳng bao giờ nói ra tất cả những gì anh muốn đâu. Mấy thứ đó nhảm nhí lắm. Nhưng cậu ta sẽ rất tuyệt để làm cho nhìn thấy mọi thứ. Giờ giả sử chúng ta giả vờ rằng đó chỉ là trò chơi thôi — tôi chưa bao giờ thấy Grish Chunder phấn khích đến thế — và đổ vũng mực vào lòng bàn tay cậu ta xem. Ừ, anh nghĩ sao? Tôi nói với anh là cậu ta có thể nhìn thấy bất cứ thứ gì mà một con người có thể thấy. Để tôi đi lấy mực và long não nhé. Cậu ta là một nhà tiên tri và sẽ kể cho chúng ta rất nhiều điều đấy.

— Cậu ta có thể là tất cả những gì cậu nói, nhưng tôi sẽ không đời nào phó mặc cậu ta cho đám Vị thần và quỷ sứ của cậu đâu.

— Nó có hại gì đâu. Cậu ta sẽ chỉ cảm thấy hơi ngu ngơ và đần độn khi tỉnh lại thôi mà. Anh từng thấy mấy đứa nhóc nhìn vào vũng mực trước đây rồi còn gì.

— Đó chính là lý do tại sao tôi sẽ không bao giờ để điều đó xảy ra nữa. Cậu biến đi được rồi đấy, Grish Chunder.

Hắn bước đi, vừa đi vừa lẩm bẩm vọng lên từ tận đáy cầu thang rằng tôi đang vứt bỏ cơ hội duy nhất để nhìn vào tương lai.

Điều này chẳng thể làm tôi nao núng, bởi vì tôi bận tâm đến quá khứ, và việc mấy đứa nhóc bị thôi miên cứ dán mắt vào gương hay vũng mực sẽ chẳng giúp ích gì cho tôi trong việc đó cả. Nhưng tôi công nhận quan điểm của Grish Chunder và thấy đồng cảm với nó.

— Gã da đen lực điền vừa rồi là ai thế? — Charlie hỏi khi tôi quay lại với hắn. — Này, nghe đây, tôi vừa sáng tác xong một bài thơ; làm nó thay vì chơi đô-mi-nô sau bữa trưa đấy. Tôi đọc nó cho anh nghe nhé?

— Để tôi tự đọc đi.

— Thế thì anh sẽ bỏ lỡ mất biểu cảm chuẩn xác của nó. Hơn nữa, anh lúc nào cũng làm mấy thứ của tôi nghe cứ như thể vần điệu sai bét nhè ấy.

— Đọc thành tiếng đi vậy. Cậu cũng giống hệt mấy kẻ khác thôi.

Charlie ê a đọc bài thơ của hắn cho tôi nghe, và nó cũng chẳng tệ hơn mức trung bình những vần thơ của hắn là mấy. Hắn đã đọc sách của mình một cách trung thành, nhưng hắn chẳng hề vui vẻ chút nào khi tôi nói rằng tôi thích tác phẩm Longfellow nguyên bản hơn là được pha loãng với Charlie.

Rồi chúng tôi bắt đầu xem xét bản thảo từng dòng một; Charlie gạt phăng mọi lời phản đối và sửa chữa bằng câu:

— Ừ, có thể nó hay hơn, nhưng anh không bắt được cái ý mà tôi đang nhắm tới.

Ít nhất thì về một mặt nào đó, Charlie rất giống với một kiểu nhà thơ nào đó.

Có một nét chữ chì nguệch ngoạc ở mặt sau của tờ giấy và tôi hỏi: — Cái gì thế này?

— Ồ, cái đó chẳng phải thơ pháo gì đâu. Nó là một đống nhảm nhí tôi viết tối qua trước khi đi ngủ và lười chẳng buồn đi tìm vần; thế nên tôi biến nó thành một dạng thơ không vần luôn.

Đây là “thơ không vần” của Charlie:

— Chúng tôi chèo cho anh khi gió ngược và buồm hạ thấp.

Sẽ không bao giờ anh để chúng tôi đi sao?

Chúng tôi ăn bánh mì và hành tây khi anh chiếm các thị trấn hoặc lao vội lên tàu khi anh bị kẻ thù đánh bật trở lại.

Các thuyền trưởng đi lại trên boong trong thời tiết đẹp để ca hát, còn chúng tôi ở tận phía dưới.

Chúng tôi ngất xỉu với chiếc cằm gác lên mái chèo và anh không hề thấy rằng chúng tôi đang lười biếng vì chúng tôi vẫn cứ đu đưa qua lại.

Sẽ không bao giờ anh để chúng tôi đi sao?

Muối làm cho cán mái chèo trông như da cá mập; đầu gối chúng tôi bị cắt rách đến tận xương vì những vết nứt do muối; tóc chúng tôi dính bết vào trán; và môi chúng tôi bị cắt rách đến tận lợi còn anh thì quất roi chúng tôi vì chúng tôi không thể chèo nổi.

Sẽ không bao giờ anh để chúng tôi đi sao?

Nhưng chẳng mấy chốc nữa chúng tôi sẽ chui tuột qua các ô cửa sổ mạn tàu hệt như nước chảy dọc theo lưỡi mái chèo, và mặc dù anh có bảo những kẻ khác chèo đuổi theo chúng tôi, anh sẽ chẳng bao giờ bắt được chúng tôi cho đến khi anh bắt được nhịp vòm mái chèo và trói được những cơn gió trong lòng cánh buồm. Aho!

Sẽ không bao giờ anh để chúng tôi đi sao?

— Hừm. “Nhịp vòm mái chèo” là gì thế, Charlie?

— Là nước bị văng lên bởi những mái chèo. Đó là kiểu bài hát mà bọn họ có thể hát trên thuyền chèo, anh biết đấy. Anh có định hoàn thành câu chuyện đó và chia cho tôi chút lợi nhuận không thế?

— Còn tùy thuộc vào cậu đấy. Giá như cậu chịu kể cho tôi nghe nhiều hơn về người anh hùng của cậu ngay từ đầu, thì có lẽ nó đã hoàn thành từ lâu rồi. Cậu cứ mập mờ trong các ý tưởng của mình quá cơ.

— Tôi chỉ muốn đưa cho anh ý tưởng chung về nó — chuyện bôn ba nay đây mai đó rồi đánh đấm các thứ thôi mà. Anh không tự điền nốt phần còn lại vào được à? Làm cho người anh hùng cứu một cô gái trên chiếc thuyền cướp biển rồi cưới cô ta hay làm cái vẹo gì đó đi.

— Cậu đúng là một cộng sự vô cùng hữu ích đấy. Chắc là người anh hùng đã trải qua dăm ba cuộc phiêu lưu trước khi kết hôn nhỉ.

— Vậy thì, hãy biến hắn thành một gã cực kỳ xảo quyệt — một kẻ tầm thường — một kiểu chính trị gia chuyên đi lập hiệp ước rồi lại phá vỡ chúng — một gã tóc đen chuyên nấp sau cột buồm mỗi khi trận chiến bắt đầu.

— Nhưng hôm trước cậu bảo hắn tóc đỏ cơ mà.

— Làm sao tôi nói thế được. Cứ cho hắn tóc đen đi chứ. Anh chẳng có tí trí tưởng tượng nào cả.

Thấy rằng mình vừa khám phá ra toàn bộ nguyên lý làm nền tảng cho trí nhớ phân mảnh bị gọi nhầm là trí tưởng tượng, tôi cảm thấy mình có quyền cười lớn, nhưng đành nhịn vì lợi ích của câu chuyện.

— Cậu nói đúng. Cậu mới là kẻ có trí tưởng tượng. Một gã tóc đen trên một con tàu có boong — tôi nói.

— Không, một con tàu hở — giống như một chiếc thuyền lớn ấy.

Thế này thì phát điên mất.

— Tàu của cậu đã được đóng và thiết kế, được che kín và có boong rồi cơ mà; chính mồm cậu nói thế còn gì — tôi phản đối.

— Không, không, không phải con tàu đó. Con tàu đó hở, hoặc nửa có boong bởi vì... Chà, anh nói đúng. Anh làm tôi cứ nghĩ người anh hùng là một gã tóc đỏ. Dĩ nhiên nếu hắn tóc đỏ thì con tàu phải là loại tàu hở với những cánh buồm được sơn vẽ.

Chắc mẩm rằng bây giờ hắn sẽ nhớ ra là mình từng phục vụ trong ít nhất hai chiếc thuyền chèo — trên một chiếc thuyền chèo ba tầng của người Hy Lạp dưới quyền gã “chính trị gia” tóc đen, và một lần nữa trên chiếc thuyền rồng hở mạn của người Viking dưới quyền gã “đỏ như gấu đỏ” kẻ đã đi đến Markland. Ác quỷ xui khiến tôi lên tiếng.

— Sao lại “dĩ nhiên”, Charlie? — tôi hỏi.

— Tôi không biết. Anh đang trêu chọc tôi đấy à?

Dòng chảy bị cắt đứt tạm thời. Tôi cầm một cuốn sổ tay và giả vờ ghi chép rất nhiều vào đó.

— Thật là vinh hạnh khi được làm việc với một kẻ giàu trí tưởng tượng như cậu đấy — sau một khoảng lặng, tôi nói. — Cách mà cậu khắc họa tính cách của nhân vật anh hùng quả là tuyệt diệu.

— Anh nghĩ thế thật à? — hắn mãn nguyện đỏ mặt đáp. — Tôi vẫn thường tự nhủ rằng bên trong tôi còn nhiều thứ hơn là mẹ tôi... hơn là mọi người nghĩ.

— Cậu có một lượng khổng lồ những thứ bên trong đấy.

— Thế thì, anh có cho phép tôi gửi bài tiểu luận “Cách sống của các nhân viên ngân hàng” cho tờ Tit-Bits để rinh giải thưởng một guinea không?

— Không hẳn là ý tôi muốn nói thế, anh bạn ạ: có lẽ sẽ tốt hơn nếu chờ đợi một chút và tiếp tục giải quyết câu chuyện thuyền chèo.

— À, nhưng tôi sẽ chẳng có được uy tín từ việc đó đâu. Tờ “Tit-Bits” sẽ công bố tên và địa chỉ của tôi nếu tôi thắng giải. Anh đang cười cái gì thế? Họ sẽ làm thế thật đấy.

— Tôi biết chứ. Hay là cậu đi dạo một lát đi. Tôi muốn xem lại đống ghi chú của mình về câu chuyện của chúng ta.

Giờ thì cái tên thanh niên đáng trách vừa rời khỏi tôi, có phần tổn thương và cụt hứng, nếu hắn hoặc tôi biết đâu chừng lại từng là một trong các thủy thủ đoàn của con tàu Argo — chắc chắn từng là nô lệ hoặc chiến hữu của Thorfinn Karlsefne. Thế nên hắn lại vô cùng hứng thú với các cuộc thi giải thưởng một guinea. Nhớ lại những gì Grish Chunder đã nói, tôi cười lớn. Các Chúa tể của Sự sống và Cái chết sẽ không bao giờ cho phép Charlie Mears cất lời với sự thấu hiểu trọn vẹn về những kiếp quá khứ của mình, và tôi buộc phải chắp vá những gì hắn đã kể cho tôi nghe bằng những phát minh nghèo nàn của chính mình trong lúc Charlie viết về lối sống của các nhân viên ngân hàng.

Tôi gom lại và xếp vào một tập hồ sơ tất cả các ghi chú của mình; và kết quả ròng chẳng có gì là khích lệ cả. Tôi đọc lại chúng lần thứ hai. Chẳng có gì là không thể được tổng hợp lại từ sách vở của người khác — ngoại trừ, có lẽ, câu chuyện về trận chiến trong cảng. Những cuộc phiêu lưu của một người Viking đã được viết đi viết lại nhiều lần trước đó; lịch sử của một tên nô lệ chèo thuyền Hy Lạp chẳng phải điều gì mới mẻ, và cho dù tôi có viết cả hai, thì ai có thể thách thức hay xác nhận độ chính xác trong các chi tiết của tôi chứ? Tôi thà kể một câu chuyện của hai ngàn năm sau còn hơn. Các Chúa tể của Sự sống và Cái chết ranh ma hệt như những gì Grish Chunder đã ám chỉ. Họ sẽ không để lọt ra bất cứ thứ gì có thể làm xáo trộn hoặc làm dịu đi tâm trí của loài người. Mặc dù tôi bị thuyết phục bởi điều này, tôi vẫn không thể bỏ mặc câu chuyện. Sự phấn khích nối tiếp sự suy sụp, không chỉ một lần, mà đến hai mươi lần trong vài tuần tiếp theo. Tâm trạng của tôi dao động theo ánh nắng tháng Ba và những đám mây bay. Vào ban đêm hoặc trong vẻ đẹp của một buổi sáng mùa xuân, tôi nhận thức được rằng mình có thể viết câu chuyện đó và nhờ thế mà làm dịch chuyển cả các lục địa. Vào những buổi chiều mưa gió, tôi thấy rằng câu chuyện thực ra có thể được viết ra, nhưng cuối cùng thì nó cũng chẳng hơn gì một thứ tác phẩm giả mạo, sơn phết bóng bẩy, làm rỉ sét giả tạo mang phong cách Wardour Street. Rồi tôi cầu chúc những điều tốt đẹp cho Charlie theo nhiều cách — mặc dù đó chẳng phải lỗi của cậu ta. Cậu ta có vẻ bận rộn với các cuộc thi giải thưởng, và tôi ngày càng ít gặp cậu ta hơn khi các tuần trôi qua, đất đai nứt nẻ và chín muồi để chào đón mùa xuân, những nụ hoa sưng phồng trong lớp vỏ bọc của chúng. Cậu ta chẳng màng đọc hay nói về những gì mình đã đọc, và có một âm hưởng tự khẳng định mới mẻ trong giọng nói của cậu ta. Tôi hầu như chẳng buồn nhắc nhở cậu ta về chiếc thuyền chèo mỗi khi chúng tôi gặp nhau; nhưng Charlie lại ám chỉ đến nó trong mọi dịp, luôn luôn coi đó là một câu chuyện có thể kiếm ra tiền.

— Tôi nghĩ mình xứng đáng được hưởng hai mươi lăm phần trăm, ít nhất là thế, phải không? — cậu ta nói với vẻ thành thật tuyệt đẹp. — Tôi đã cung cấp toàn bộ ý tưởng còn gì?

Lòng tham tiền bạc này là một khía cạnh hoàn toàn mới trong bản tính của cậu ta. Tôi cho rằng nó đã phát triển ở Thành phố, nơi Charlie đang ngấm dần cái giọng kéo dài qua mũi kỳ quặc của những kẻ trọc phú chốn Thành phố.

— Khi nào xong việc chúng ta sẽ bàn sau. Hiện tại tôi chưa làm gì được với nó cả. Người anh hùng tóc đỏ hay tóc đen đều khó nhằn như nhau.

Cậu ta đang ngồi bên lò sưởi đăm đăm nhìn những cục than đỏ hồng. — Tôi không hiểu sao anh lại thấy khó khăn thế. Đối với tôi nó rõ mồn một như bùn ấy — cậu ta đáp. Một luồng khí gas phì ra giữa các thanh chắn, bắt lửa và huýt sáo khe khẽ. — Giả sử chúng ta lấy những cuộc phiêu lưu của người anh hùng tóc đỏ trước đi, từ lúc hắn đi về phương nam đến chiếc thuyền chèo của tôi, chiếm lấy nó và dong buồm ra đi đến Những Bờ Biển.

Lúc này tôi đã khôn ngoan hơn, không ngắt lời Charlie nữa. Tôi đang ở ngoài tầm với của giấy bút, và không dám di động để lấy chúng vì sợ làm đứt đoạn dòng chảy. Ngọn đèn hơi phì phò và rít lên, giọng Charlie nhỏ dần gần như thành tiếng thì thầm, và cậu ta kể câu chuyện về chuyến hải hành của một chiếc thuyền chèo hở mạn đến Furdurstrandi, về những buổi hoàng hôn trên biển khơi, được nhìn dưới đường cong của cánh buồm đơn độc từng buổi chiều khi cái mũi nhọn của thuyền chèo cắm ngập vào trung tâm của đĩa mặt trời đang lặn xuống, và “chúng tôi cứ thế nương theo đó mà chèo vì chẳng có ai dẫn đường khác,” Charlie kể. Cậu ta kể về việc cập bến lên một hòn đảo và khám phá những khu rừng ở đó, nơi thủy thủ đoàn đã giết ba kẻ mà họ tìm thấy đang ngủ dưới những tán thông. Hồn ma của chúng, Charlie nói, bơi theo thuyền chèo, vùng vẫy và ngạt thở trong nước, và thủy thủ đoàn đã rút thăm ném một người trong số họ xuống biển làm vật tế thần cho những vị thần kỳ lạ mà họ đã mạo phạm. Rồi họ ăn rong biển khi lương thực cạn kiệt, chân cẳng sưng phù lên, và thủ lĩnh của họ, gã tóc đỏ, đã giết chết hai tay chèo nổi loạn, rồi sau một năm sống giữa những khu rừng, họ dong buồm trở về quê hương của mình, và một ngọn gió chưa từng ngừng thổi đã đưa họ về an toàn đến mức tất cả đều ngủ say vào ban đêm. Điều này và rất nhiều thứ khác nữa đã được Charlie kể lại. Có lúc giọng cậu ta hạ xuống thấp đến mức tôi không thể bắt kịp từ nào, dù mọi dây thần kinh đều đang căng như dây đàn. Cậu ta nói về vị thủ lĩnh của họ, gã tóc đỏ, hệt như một kẻ ngoại đạo nói về vị Thần của mình; bởi vì chính hắn là kẻ đã cổ vũ họ và cũng chính hắn ra tay tước đoạt mạng sống của họ một cách không thiên vị tùy theo những gì hắn cho là tốt nhất cho nhu cầu của họ; và chính hắn là kẻ đã chèo lái họ suốt ba ngày giữa những khối băng trôi, mỗi khối băng chen chúc những con thú kỳ lạ “cố gắng chèo cùng chúng tôi,” Charlie nói, “và chúng tôi dùng cán mái chèo đánh đuổi chúng về.”

Ngọn đèn hơi vụt tắt, một mẩu than cháy dở sụt xuống, và đống lửa sụp xuống với một tiếng lách tách nhỏ đáy lò sưởi. Charlie ngừng nói, và tôi không thốt lên một lời nào.

— Chà thánh thần ơi! — cuối cùng cậu ta lắc đầu nói. — Tôi cứ nhìn chằm chằm vào đống lửa đến mức hoa cả mắt. Vừa nãy tôi định nói gì nhỉ?

— Vài điều về chiếc thuyền chèo.

— Bây giờ thì tôi nhớ ra rồi. Là 25 phần trăm lợi nhuận phải không anh?

— Là bất cứ thứ gì cậu muốn khi tôi viết xong câu chuyện.

— Tôi muốn chắc chắn về điều đó. Bây giờ tôi phải đi đây. Tôi, tôi có một cuộc hẹn. — Và cậu ta bỏ đi.

Nếu đôi mắt tôi không bị che khuất, có lẽ tôi đã nhận ra rằng những lời lẩm bẩm đứt quãng bên đống lửa đó chính là khúc ca thiên nga của Charlie Mears. Nhưng tôi lại tưởng đó là khúc dạo đầu cho một sự mặc khải trọn vẹn hơn. Cuối cùng thì tôi cũng sẽ lừa được các Chúa tể của Sự sống và Cái chết!

Lần tới khi Charlie đến gặp tôi, tôi đón tiếp cậu ta với niềm hân hoan tột độ. Cậu ta tỏ ra căng thẳng và lúng túng, nhưng đôi mắt tràn ngập ánh sáng và đôi môi hơi hé mở.

— Tôi vừa làm được một bài thơ — cậu ta nói, rồi nhanh chóng tiếp lời: — Nó là bài hay nhất tôi từng làm đấy. Đọc đi. — Cậu ta nhét nó vào tay tôi và lùi ra phía cửa sổ.

Tôi rên rỉ trong lòng. Sẽ mất toi nửa giờ đồng hồ để phê bình — nghĩa là ca ngợi — bài thơ cho đủ độ để làm hài lòng Charlie. Sau đó tôi có đủ lý do để rên rỉ, bởi vì Charlie đã vứt bỏ những mét thể thơ rết yêu thích của mình để lao vào những vần thơ ngắn hơn, giật cục hơn, và là những vần thơ có mục đích ẩn chứa đằng sau. Đây là những gì tôi đọc:

— Trời đẹp làm sao, ngọn gió vui tươi

Hò reo sau ngọn đồi,

Nơi hắn uốn cong khu rừng theo ý muốn,

Và cành non theo chiều hắn chơi!

Nổi loạn đi hỡi gió; có gì đó trong dòng máu tôi

Không muốn ngươi phải lặng yên!

— Người đã trao tôi chính Người, ôi Đất, ôi Trời;

Biển xám, cô ấy là của riêng tôi thôi!

Hãy để những khối đá câm lặng nghe tiếng tôi gào thét,

Và hoan hỉ dẫu chúng chỉ là đá vô tri!

— Của tôi! Tôi đã chiếm được cô ấy, hỡi đất nâu hiền hòa,

Hãy vui lên đi! Đã muộn màng cho mùa xuân rồi đấy;

Hãy vui lên; tình yêu của tôi đáng giá gấp đôi

Mọi sự tôn thờ mà cánh đồng của các người có thể mang lại!

Hãy để kẻ cày xới các người cảm nhận niềm vui của tôi

Vào vụ cày bừa sớm mai.

— Ừ, chắc chắn là vụ cày bừa sớm mai rồi, không trật đi đâu được — tôi nói với một nỗi sợ hãi thắt quặn trong tim. Charlie mỉm cười nhưng không trả lời.

— Mây đỏ hoàng hôn ơi, hãy loan tin khắp chốn;

Ta là kẻ chiến thắng. Hãy chào ta, hỡi Mặt Trời,

Bậc chúa tể thống trị và vị vua tuyệt đối

Ngự trị trên tâm hồn của một con người!

— Sao nào? — Charlie vừa nói vừa liếc qua vai tôi.

Tôi thấy nó chẳng hay ho gì sất, và thậm chí còn tồi tệ hơn rất nhiều, khi cậu ta lặng lẽ đặt một bức ảnh lên trang giấy — bức ảnh của một cô gái có mái tóc xoăn và cái miệng hếch ngốc nghếch.

— Nó... nó có tuyệt diệu không hả anh? — cậu ta thì thầm, đôi tai đỏ ửng lên đến tận chóp, chìm đắm trong sự kỳ diệu hồng hào của mối tình đầu. — Tôi không biết; tôi không ngờ tới — nó đến như một cú sét đánh ngang tai vậy.

— Ừ. Nó đến như một cú sét đánh ngang tai. Cậu có rất hạnh phúc không, Charlie?

— Chúa tôi — cô ấy... cô ấy yêu tôi! — Cậu ta ngồi xuống, lặp đi lặp lại những từ cuối cùng với chính mình. Tôi nhìn gương mặt không có nổi một cọng râu, đôi bờ vai gầy guộc vốn đã còng xuống vì công việc bàn giấy, và tự hỏi khi nào, ở đâu, và bằng cách nào mà cậu ta đã yêu trong những kiếp sống trước đây của mình.

— Mẹ cậu sẽ nói gì đây? — tôi vui vẻ hỏi.

— Tôi đéo thèm quan tâm bà ấy nói gì đâu.

Ở tuổi đôi mươi, những thứ mà người ta có thể đéo thèm quan tâm thường là rất nhiều, nhưng người ta không được phép đưa các bà mẹ vào danh sách đó. Tôi nhẹ nhàng nói với cậu ta điều đó; và cậu ta miêu tả Nàng, hệt như cách Adam từng miêu tả cho những loài thú vừa được đặt tên nghe về sự vinh quang, dịu dàng và vẻ đẹp của Eva. Nhân tiện, tôi được biết rằng Nàng là một nữ trợ lý cửa hàng thuốc lá với sở thích diện những bộ đồ xinh xắn, và đã nói với cậu ta bốn hay năm lần rằng Nàng chưa từng được người đàn ông nào hôn trước đó.

Charlie cứ thế tiếp tục huyên man không dứt; trong khi tôi, kẻ bị chia cắt khỏi cậu ta bởi hàng ngàn năm lịch sử, đang ngẫm nghĩ về buổi sơ khai của vạn vật. Giờ thì tôi đã hiểu tại sao các Chúa tể của Sự sống và Cái chết lại khép lại những cánh cửa cẩn thận đến thế sau lưng chúng ta. Đó là để chúng ta không thể nhớ về những mối tình đầu của mình. Nếu không phải thế, thế giới của chúng ta sẽ chẳng còn một bóng người nào trong vòng một trăm năm nữa.

— Nào, về câu chuyện thuyền chèo đó thì sao nhỉ? — tôi hỏi, càng vui vẻ hơn trong một khoảng lặng của dòng nước lũ ngôn từ.

Charlie ngẩng đầu lên như thể vừa bị ai đấm cho một cú. — Thuyền chèo — thuyền chèo nào cơ chứ? Ôi trời ạ, đừng đùa giỡn nữa man! Chuyện này nghiêm túc đấy! Anh không biết nó nghiêm túc đến mức nào đâu!

Grish Chunder đã nói đúng. Charlie đã nếm trải tình yêu của người phụ nữ — thứ tình yêu xóa nhòa ký ức — và câu chuyện hay nhất trên đời sẽ không bao giờ được viết ra nữa.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.