Chiếc Xe Kéo Ma Và Những Chuyện Kinh Dị Khác

Lượt đọc: 26 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Kẻ Muốn Làm Vua

❊ ❊ ❊

“Làm em một vị Vương, làm bạn một kẻ ăn mày, nếu người ấy đáng mặt.”

Câu luật lệ trên, dẫu được trích dẫn ra đây, đã vạch ra một lối sống thật đẹp đẽ nhưng chẳng dễ gì tuân theo. Bản thân tôi đã từng làm bạn với kẻ ăn mày hết lần này đến lần khác, trong những hoàn cảnh chẳng cho phép bên nào kịp tìm hiểu xem đối phương có xứng đáng hay không. Còn làm em một vị Vương thì tôi vẫn chưa có dịp, dẫu có lần tôi suýt bén duyên với kẻ suýt trở thành một vị Vua thực thụ, và từng được hứa hẹn phần thừa kế của cả một vương — quân đội, tòa án, thuế khóa, và chính sách đều đủ cả.

Thế nhưng, ngày nay, tôi vô cùng e rằng vị Vua của tôi đã chết, và nếu tôi muốn có một chiếc vương miện, tôi buộc phải tự mình đi săn tìm nó.

Khởi đầu của mọi chuyện diễn ra trên một chuyến tàu hỏa trên đường từ Ajmir đi Mhow. Hồi đó ngân sách bị thâm hụt, buộc tôi phải đi không phải bằng toa hạng Nhì — vốn chỉ rẻ bằng một nửa hạng Nhất — mà đi bằng toa Trung gian, một hạng ghế thực sự khủng khiếp. Trong toa Trung gian chẳng có lấy một chiếc đệm, và hành khách hoặc là người lai, hoặc là người bản xứ — mà đối với một chuyến hành trình dài ban đêm thì quả là kinh khủng — hoặc là những kẻ lang thang, dẫu có phần thú vị dẫu chúng đang say mỉn. Những hành khách đi toa Trung gian không bao giờ mua đồ ăn ở các phòng giải khát. Họ mang theo thức ăn trong những bọc vải và nồi niêu, mua đồ ngọt từ những người bán kẹo rong bản xứ, và uống nước dọc đường. Đó là lý do vì sao vào mùa nóng, người ta khiêng ra khỏi toa tàu những hành khách đã chết ngắt, và vào mọi mùa trong năm, họ đều bị nhìn bằng nửa con mắt một cách đáng đời nhất.

Toa Trung gian riêng của tôi vốn trống hoác cho đến tận khi tới ga Nasirabad, thì một quý ông cao lớn, lông mày rậm đen trong bộ áo sơ mi tay cộc bước lên, và theo đúng thói quen của hành khách đi toa Trung gian, cất lời chào hỏi thời tiết. Hắn cũng là một kẻ lang thang, một kẻ phiêu bạt giống như tôi, nhưng lại có một khẩu vị tao nhã với rượu whisky. Hắn kể những câu chuyện về những nơi hắn từng thấy và từng làm, về nhữngó góc khuất xó xỉnh của Đế quốc mà hắn từng đặt chân tới, và về những cuộc phiêu lưu nơi hắn dám đánh cược cả tính mạng chỉ để đổi lấy thức ăn qua mấy ngày.

“Nếu Ấn Độ mà đầy rẫy những kẻ như anh với tôi, chẳng biết hơn gì lũ quạ đen về việc bữa cơm ngày mai sẽ ở đâu ra, thì số tiền thuế thu về của xứ này chẳng phải là bảy mươi triệu — mà là bảy trăm triệu,” hắn nói; và khi tôi nhìn vào khóe miệng cùng chiếc cằm của hắn, tôi chợt thấy nghiêng về ý kiến của hắn.

Chúng tôi bàn về chính trị — thứ chính trị của thế giới lang thang, nơi người ta nhìn sự đời từ phía dưới đáy, nơi lớp trát vữa còn chưa được gọt giũa — và chúng tôi bàn về chuyện thư tín, bởi người bạn của tôi muốn gửi một bức điện tín về trạm tiếp theo tới Ajmir, nơi chuyển tiếp từ tuyến Bombay sang tuyến Mhow khi bạn đi về hướng Tây. Người bạn của tôi chẳng có một xu dính túi ngoài tám đồng anna mà hắn giữ để ăn tối, còn tôi thì hoàn toàn trắng tay, cũng bởi vụ hẫng hụt ngân sách đã nhắc đến ở trên. Hơn nữa, tôi đang đi sâu vào một vùng hoang mạc, nơi dù tôi có liên lạc lại được với Kho bạc đi nữa thì cũng chẳng có lấy một bưu điện nào. Do đó, tôi đành chịu, chẳng thể giúp gì cho hắn.

“Hay chúng ta dọa ma Trưởng ga một trận, bắt hắn gửi một bức điện chịu?” người bạn tôi bàn, “nhưng thế thì lôi thôi rắc rối cho cả anh lẫn tôi lắm, mà dạo này tay chân tôi bận rộn cả rồi. Anh có nói là sẽ quay ngược lại trên tuyến đường này trong vòng vài ngày nữa chứ?”

“Trong vòng mười ngày,” tôi đáp.

“Anh không rút ngắn lại thành tám ngày được à?” hắn nài. “Việc của tôi khẩn cấp lắm.”

“Tôi có thể gửi điện tín giúp anh trong vòng mười ngày, nếu thế có ích cho anh,” tôi nói.

“Giờ nghĩ lại thì tôi không dám chắc bức điện có tìm được nó không. Cơ sự là thế này. Nó rời Delhi vào ngày 23 để đi Bombay. Nghĩa là nó sẽ chạy qua Ajmir vào khoảng đêm ngày 23.”

“Nhưng tôi phải đi vào Sa mạc Ấn Độ cơ mà,” tôi giải thích.

“Thì tốt chứ sao,” hắn bảo. “Anh sẽ phải đổi tàu ở ga Marwar Junction để sang lãnh thổ Jodhpore — bắt buộc phải thế — và nó sẽ chạy qua Marwar Junction vào sáng sớm ngày 24 trên chuyến Tàu thư Bombay. Anh có mặt ở Marwar Junction vào thời gian đó được không? Sẽ chẳng làm phiền hà gì cho anh đâu, vì tôi thừa biết chẳng bòn rút được mấy mỏm lợi lộc gì ở mấy xứ Trung Ấn này đâu — dù anh có mạo nhận là phóng viên của tờ ‘Backwoodsman’ đi chăng nữa.”

“Anh từng giở chiêu trò đó rồi phỏng?” tôi hỏi.

“Hết lần này đến lần khác, nhưng mấy tay Thống sứ sớm muộn gì cũng lật tẩy được anh, rồi thế nào anh cũng bị tống cổ ra Biên giới trước khi kịp rút dao đâm lén chúng nó. Nhưng ngặt một nỗi là về người bạn của tôi cơ. Tôi phải nhắn nhủ đôi lời để hắn biết sự tình của tôi, bằng không hắn sẽ chẳng biết đường nào mà mò tới. Tôi sẽ mang ơn anh vô vàn nếu anh chịu cất bước từ miền Trung Ấn ra cho kịp gặp hắn tại ga Marwar Junction, và nói với hắn rằng: ‘Hắn đã đi về phương Nam trong tuần này rồi.’ Hắn sẽ hiểu câu đó có nghĩa gì. Hắn là một gã to con râu đỏ quạch, và là một tay có máu mặt lớn lắm đấy. Anh cứ tìm hắn mà xem, hắn đang nằm ngủ nghê như một ông lớn, xung quanh lỉnh kỉnh hành lý trong một toa hạng Nhì. Nhưng đừng có sợ. Cứ ghé cửa sổ xuống rồi bảo: ‘Hắn đã đi về phương Nam trong tuần này rồi,’ là hắn khắc ngộ ra ngay. Chỉ bớt thời gian lưu lại ở mấy vùng đó đi có hai ngày thôi mà. Tôi nài xin anh đấy, như một người qua đường với nhau — người sắp đi về hướng Tây,” hắn nói giọng đầy khẩn khoản.

“Anh từ đâu tới vậy?” tôi hỏi.

“Từ phương Đông,” hắn đáp, “và tôi hy vọng anh sẽ nhắn lại cho hắn ở cái Quảng trường ấy — vì vong linh người Mẹ của tôi cũng như của chính anh vậy.”

Người Anh vốn không dễ bị lay động bởi những lời nài nỉ nhắc đến người mẹ quá cố; nhưng vì một số lý do, mà sau này mọi người sẽ thấy rõ mười mươi, tôi đã đồng ý.

“Việc này không phải chuyện nhỏ đâu,” hắn nói tiếp, “thế nên tôi mới nài anh — và giờ thì tôi biết mình có thể tin tưởng ở anh rồi. Một toa hạng Nhì ở ga Marwar Junction, và một gã râu đỏ đang ngủ trong đó. Anh nhớ cho kỹ đấy. Tôi sẽ xuống ở ga tiếp theo, và tôi phải bám trụ ở đó cho tới khi hắn đến hoặc gửi cho tôi thứ tôi cần.”

“Tôi sẽ chuyển lời nếu gặp được hắn,” tôi đáp, “và vì mẹ của anh cũng như mẹ của tôi, tôi xin tặng anh một lời khuyên chân thành. Đừng có dại mà giở trò làm phóng viên tờ ‘Backwoodsman’ ở mấy xứ Trung Ấn lúc này. Có một tay phóng viên xịn đang lảng vảng ở đây đấy, và chuyện đó dễ sinh họa lắm đấy.”

“Cám ơn anh,” hắn đáp gọn lỏn; “và khi nào thì con lợn ấy xéo đi nơi khác nhỉ? Tôi không thể nhịn đói chết chỉ vì hắn đang phá hỏng công việc của tôi được. Tôi đang tính tóm cổ cái tên Degumber Rajah ở dưới này vì vụ gã hành hạ người vợ góa của cha gã, và cho gã một phen hú vía đây.”

“Thế gã đã làm gì người vợ góa của cha gã thế?”

“Nhồi đầy ớt bột vào mồm rồi lấy dép quất chết tươi khi bà ta bị treo lủng lẳng trên xà nhà. Chính tôi đã mò ra chuyện đó, và tôi là gã duy nhất dám xông vào cái xứ đó để đòi tiền bịt miệng vụ này đấy. Lũ chúng nó sẽ tìm cách hạ độc tôi cho mà xem, hệt như chúng từng làm ở Chortumna khi tôi mò ra đó vơ vét của cải ấy mà. Nhưng anh sẽ nhắn lại cho lão ở ga Marwar Junction chứ?”

Hắn xuống tàu ở một sân ga nhỏ ven đường, còn tôi thì ngồi trầm ngâm suy nghĩ. Tôi đã từng nghe không chỉ một lần về những kẻ mạo danh phóng viên báo chí để moi tiền các Tiểu vương quốc bản xứ nhỏ bé bằng những lời đe dọa bóc mẽ, nhưng đây là lần đầu tiên tôi chạm mặt một kẻ thuộc cái giống loài ấy. Cuộc đời họ cơ cực lắm, và thường thì kết thúc rất đỗi đột ngột. Các Tiểu vương quốc bản xứ vốn mang một nỗi sợ hãi tột cùng đối với báo chí Anh — thứ có thể phơi bày những phương thức cai trị kỳ cục của chúng — nên chúng làm đủ mọi cách để chuốc rượu champagne cho các phóng viên say khướt, hoặc tống xe bốn bánh đuổi họ ra khỏi địa hạt của mình. Chúng chẳng tài nào hiểu nổi rằng chẳng ma nào thèm đếm xỉa đến nền nội trị của các Tiểu vương quốc ấy chừng nào sự áp bức và tội ác còn được kìm hãm trong những giới hạn coi được, và nhà cai trị không đến nỗi phê thuốc, say mèm hay bệnh hoạn từ đầu năm chí cuối. Đó thực sự là những chốn tối tăm trên mặt đất, ngập tràn sự tàn ác không thể tưởng tượng nổi, một bên giáp với Đường sắt và Điện tín, còn bên kia thì vẫn chìm đắm trong thời đại của Harun-al-Raschid. Khi rời khỏi chuyến tàu, tôi đi giao thiệp với đủ các loại Vua chúa, và chỉ trong tám ngày đã trải qua biết bao đổi thay của cuộc đời. Có lúc tôi diện comple chỉnh tề, giao du với các vương tôn công tử và giới chính khách, uống nước từ bình pha lê và ăn trên đĩa bạc. Có lúc tôi nằm vật ra đất, ngấu nghiến bất cứ thứ gì kiếm được trên một chiếc đĩa làm bằng lá cây, uống nước suối chảy róc rách, và ngủ chung một chiếc thảm với người hầu của mình. Tất cả đều là công việc thường nhật cả thôi.

Đúng hẹn, tôi hướng thẳng về Đại Sa mạc Ấn Độ, và chuyến Tàu thư ban đêm đã thả tôi xuống ga Marwar Junction, nơi có một tuyến đường sắt nhỏ bé ngộ nghĩnh, số phận bấp bênh do người bản xứ quản lý chạy đi Jodhpore. Chuyến Tàu thư Bombay từ Delhi chỉ dừng lại chớp nhoáng ở Marwar. Tàu vừa cập ga là tôi đã kịp rảo bước ra sân ga và đi dọc các toa. Trên tàu chỉ có duy nhất một toa hạng Nhì. Tôi hé cửa sổ nhìn vào và bắt gặp một bộ râu đỏ chót đang che khuất một nửa bởi tấm thảm trải tàu. Chính là hắn đây rồi, đang ngủ say như chết, và tôi liền chọc nhẹ vào mạn sườn hắn. Hắn càu nhàu tỉnh giấc, và tôi thấy rõ khuôn mặt hắn dưới ánh đèn. Đó là một khuôn mặt vĩ đại và rạng rỡ.

“Lại kiểm tra vé à?” hắn càu nhàu.

“Không,” tôi đáp. “Tôi đến để nhắn với anh rằng hắn đã đi về phương Nam trong tuần này rồi. Hắn đã đi về phương Nam trong tuần này rồi!”

Tàu bắt đầu bánh lăn bánh rời ga. Gã râu đỏ dụi mắt. “Hắn đã đi về phương Nam trong tuần này rồi,” hắn lặp lại. “Đúng là cái thói hỗn xược của hắn. Thế hắn có dặn đưa gì cho anh không? Vì tôi không cho đâu đấy.”

“Không hề,” tôi nói, rồi lùi lại, dõi theo những ngọn đèn đỏ phai dần trong bóng đêm. Trời lạnh buốt xương vì gió từ những cồn cát thổi thốc vào. Tôi trèo lên toa tàu của mình — lần này không phải toa Trung gian nữa — và chìm vào giấc ngủ.

Giả sử gã râu đỏ mà cho tôi một đồng rupee thì tôi đã giữ lại làm kỷ niệm cho một vụ việc khá kỳ quặc ấy rồi. Thế nhưng sự thanh thản vì đã hoàn thành nhiệm vụ lại là phần thưởng duy nhất dành cho tôi.

Về sau, tôi ngẫm nghĩ lại và thấy rằng hai gã đàn ông như những người bạn của tôi chẳng thể làm được tích sự gì lành lặn nếu cứ tụ tập với nhau rồi mạo danh phóng viên báo chí như thế, và rất có thể, nếu chúng tống tiền nhầm một trong những cái tiểu quốc bé như cái rọ chuột ở Trung Ấn hay miền Nam Rajputana, chúng sẽ tự đẩy mình vào những rắc rối tày đình. Thế nên tôi đã mất chút ít công sức để mô tả chúng một cách chính xác nhất có thể trong trí nhớ của mình cho những nhà chức trách có quan tâm đến việc trục xuất chúng; và quả nhiên, theo thông tin tôi nhận được sau đó, tôi đã thành công trong việc chặn đứng đường lui của chúng khỏi biên giới Degumber.

Rồi tôi trở lại làm một kẻ đàng hoàng, quay về cái tòa soạn báo nơi chẳng có lấy một vị Vua chúa hay sự kiện nào ngoài guồng quay chế tạo báo chí hằng ngày. Một tòa soạn báo dường như thu hút mọi thứ người trên đời, làm tổn hại đến cả kỷ cương phép tắc. Các bà phái đoàn truyền giáo Zenana xồng xộc kéo đến, nài nỉ Chủ biên phải dẹp ngay mọi công việc để đi tường thuật một buổi phát giải Cơ đốc ở cái xóm nghèo túng cùng đường của một ngôi làng hoàn toàn biệt lập; những viên Đại tá bị bỏ quên trong việc thăng cấp chỉ huy thì ngồi xuống, phác thảo đề cương cho một loạt mười, mười hai hay hai mươi bốn bài xã luận về thâm niên với sự tuyển chọn; các nhà truyền giáo muốn được giải thích tại sao họ không được phép thoát khỏi những phương tiện phỉ báng quen thuộc của mình, lại quay sang chửi mắng một đồng đạo dưới sự bảo trợ đặc biệt của danh xưng “Chúng tôi” đầy quyền uy của tòa soạn; những gánh hát lưu vong kéo đến giải thích rằng họ không thể trả tiền quảng cáo, nhưng khi từ New Zealand hay Tahiti trở về họ sẽ trả đầy đủ cả lãi lẫn vốn; những nhà phát minh máy quạt trần tự động, khớp nối xe ngựa, cùng kiếm và trục xe không gãy thì mang theo bản vẽ trong túi và rảnh rỗi cả ngày trời; các công ty chè bước vào, thong thả soạn thảo bản cáo bạch bằng chính bút của tòa soạn; thư ký các ủy ban khiêu vũ thì gào lên đòi phải miêu tả lộng lẫy hơn nữa vinh quang của buổi dạ vũ gần nhất; những người phụ nữ lạ mặt sột soạt bước vào và cất giọng: “Làm ơn in cho tôi ngay một trăm danh thiếp quý bà nhé,” — việc mà rõ ràng là một phần trong bổn phận của Chủ biên; và mọi gã du côn đồi bại từng lê la trên Con đường lớn Grand Trunk đều coi việc xin việc làm thợ sửa bản in là sứ mệnh của đời mình. Và cứ thế, suốt ngày dài, chuông điện thoại reo inh ỏi điên cuồng, các vị Vua trên Lục địa lần lượt bị hạ sát, các Đế quốc lớn tiếng đấu khẩu với nhau, Ngài Gladstone trút diêm sinh xuống các Địa hạt thuộc địa của Anh, còn mấy chú bé lượm bản thảo nhếu nhác thì rên rỉ: “Kaa-pi chay-ha-yeh” (“Đưa bản thảo đây”), giọng y như những chú ong mệt mỏi, trong khi phần lớn tờ báo thì trắng phau như chiếc khiên của Modred.

Nhưng đó chỉ là khoảng thời gian thú vị trong năm. Còn có sáu tháng khác khi chẳng một bóng người bén mảng tới, cái nhiệt cứ nhích từng inch lên đến tận đỉnh ống thủy ngân, phòng làm việc bị che tối chỉ vừa đủ để đọc sách, mấy cỗ máy in nóng bỏng tay đến mức không dám chạm vào, và chẳng ai viết nổi cái gì ngoài bản tin về các khu nghỉ mát trên đồi hay cáo phó. Khi ấy, chiếc điện thoại trở thành một nỗi kinh hoàng lanh lảnh, bởi nó báo cho bạn hay về cái chết bất đắc kỳ tử của những người đàn ông và phụ nữ mà bạn từng thân thiết; cái nóng ngứa ngáy bao phủ lấy bạn như một tấm áo chẽn, để rồi bạn cứ ngồi xuống và viết: “Một sự gia tăng nhẹ về dịch bệnh được ghi nhận tại Huyện Khuda Janta Khan. Bùng phát chỉ mang tính chất lẻ tẻ, và nhờ những nỗ lực đầy năng nổ của chính quyền Huyện, dịch bệnh nay đã gần như bị dập tắt. Tuy nhiên, chúng tôi vô cùng tiếc thương báo tin về sự ra đi,” v.v.

Rồi bệnh dịch thực sự bùng phát, và việc ghi chép hay đưa tin càng ít đi bao nhiêu thì sự bình yên cho độc giả lại càng tốt bấy nhiêu. Thế nhưng các Đế quốc và các vị Vua vẫn tiếp tục vui thú một cách ích kỷ như trước, còn gã Quản đốc xưởng in thì nghĩ rằng một tờ báo hằng ngày thực ra nên ra mắt đều đặn hai mươi tư một lần, và tất cả mọi người trên các khu nghỉ mát trên đồi giữa lúc đang mải chơi bời lại thốt lên: “Trời đất quỷ thần ơi! Sao tờ báo trông tẻ nhạt thế nhỉ? Tôi dám cá ở đây có khối thứ đang diễn ra đấy chứ.”

Đó chính là nửa vầng trăng tối tăm, và như lời quảng cáo hay nói: “phải tự mình trải nghiệm mới thấu hiểu được.”

Chính vào mùa ấy, một mùa vô cùng khắc nghiệt, tòa soạn bắt đầu cho ra mắt số báo cuối tuần vào tối thứ Bảy, nghĩa là rạng sáng Chủ nhật, theo đúng lề thói của một tờ báo Luân Đôn. Đây thực sự là một sự tiện lợi lớn, bởi ngay khi tờ báo vừa được đưa lên khuôn thì ánh bình minh sẽ kéo nhiệt độ từ 96 độ xuống gần 84 độ trong vòng nửa tiếng đồng hồ, và trong cái hơi lạnh ấy — bạn chẳng thể hình dung nổi 84 độ trên bãi cỏ lạnh buốt ra sao cho tới khi bạn phải khẩn cầu vì nó — một gã lao động mệt nhừ tử có thể thiếp đi trước khi cái nóng kịp đánh thức hắn.

Có một tối thứ Bảy nọ, tôi nhận cái nhiệm vụ dễ chịu là một mình đưa tờ báo lên khuôn. Một vị Vua hay một tên bợ đỡ triều đình, một kỹ nữ hay cả một Cộng đồng nào đó sắp sửa chết, hoặc sắp có Hiến pháp mới, hay làm một cái vẹo gì đó quan trọng ở tận đẩu tận đâu bên kia bán cầu, và tờ báo buộc phải được giữ lại cho đến khoảnh khắc muộn màng nhất có thể để hứng lấy bức điện tín.

Đó là một đêm tối như mực, ngột ngạt hết chỗ nói đúng như tính chất của một đêm tháng Sáu, và cơn gió lò tôn đỏ rực thổi thốc từ hướng Tây mang tên loo đang gầm rít qua những tán cây khô khốc như củi mục, làm như thể những trận mưa giông đang bám sát gót chân nó. Thỉnh thoảng, một giọt nước nóng già suýt luộc chín lại rơi bộp xuống lớp bụi khô hốc với âm thanh của một con ếch nhẩy, nhưng toàn bộ thế giới mệt mỏi của chúng tôi đều thừa biết đó chỉ là trò giả vờ mà thôi. Trong phòng in có dịu mát hơn phòng làm việc một chút, thế nên tôi ngồi lì ở đó, giữa lúc những con chữ cứ lạch cạch tíc tắc, lũ chim đêm kêu éc éc ngoài cửa sổ, còn những người thợ sắp chữ mình trần như nhộng thì liên tục lau mồ hôi trán và cất tiếng gọi xin nước uống. Thứ đang kìm chân chúng tôi lại, dù là cái quái gì đi nữa, mãi vẫn chẳng chịu xuất hiện, mặc cho gió loo đã lặng dần và con chữ cuối cùng đã được xếp xong, mặc cho cả quả địa cầu tròn vo đứng sững lại trong cái nóng ngột ngạt đến nghẹt thở, ngón tay đặt hờ lên môi, chờ đợi biến cố xảy ra. Tôi thiu thiu ngủ, tự hỏi không biết điện tín rốt cuộc là một ân huệ hay tai họa, và không biết kẻ đang hấp hối này, hay cái đám đông đang oằn mình đấu tranh kia, có mảy may hay biết về sự bất tiện mà sự chậm trễ này đang gây ra hay không. Chẳng có lý do đặc biệt nào khác ngoài cái nóng và sự lo âu khiến bầu không khí căng như dây đàn, nhưng khi kim đồng hồ nhích dần đến ba giờ và những cỗ máy in bắt đầu quay bánh đà hai ba vòng để kiểm tra xem mọi thứ đã ổn thỏa chưa, trước khi tôi thốt ra câu lệnh khởi động chúng, tôi đã suýt gào lên cho thỏa.

Rồi tiếng gầm rú và lách cách của những cỗ máy xé toạc sự yên tĩnh thành từng mảnh vụn. Tôi đứng dậy toan bỏ đi, nhưng có hai bóng người mặc áo trắng đứng sừng sững ngay trước mặt. Gã thứ nhất cất giọng: “Chính nó đây rồi!” Gã thứ hai phụ họa: “Đúng thế thật!” Và cả hai cùng cười vang dội chẳng kém gì tiếng máy in gầm rú, đưa tay quệt mồ hôi trên trán. “Bọn tôi thấy có ánh đèn sáng hắt qua đường, và tụi này đang nằm ngủ trong cái mương kia cho mát, rồi tôi mới bảo với bạn tôi rằng: ‘Tòa soạn đang sáng đèn kìa. Hay là tụi mình ghé vào nói chuyện với cái tay từng tống cổ bọn mình quay lại khỏi xứ Degumber xem sao,’” gã thấp người hơn trong hai kẻ lên tiếng. Hắn chính là gã tôi từng gặp trên chuyến tàu đi Mhow, còn kẻ đồng hành với hắn chính là gã râu đỏ ở ga Marwar Junction. Chẳng thể nào nhầm lẫn được cặp lông mày của gã này hay bộ râu của gã kia.

Tôi chẳng lấy làm vui vẻ gì, bởi tôi chỉ muốn đi ngủ chứ không có hứng đôi co với lũ lang thang. “Chúng mày muốn gì?” tôi hỏi cộc lốc.

“Nửa tiếng trò chuyện với anh, thật mát mẻ và thoải mái, ngay trong phòng làm việc,” gã râu đỏ đáp. “Bọn tôi muốn làm tí đồ uống — Bản Hợp đồng chưa có hiệu lực đâu Peachey, nên anh khỏi phải nhìn — nhưng thứ bọn tôi thực sự muốn là lời khuyên. Bọn tôi không xin tiền. Bọn tôi xin anh như một ân huệ thôi, bởi bọn tôi phát hiện ra chính anh đã chơi xấu bọn tôi vụ xứ Degumber.”

Tôi dẫn đường từ phòng in sang căn phòng làm việc ngột ngạt treo đầy bản đồ trên tường, và gã râu đỏ xoa xoa hai bàn tay vào nhau. “Thế này mới đúng điệu chứ,” hắn thốt lên. “Đây mới là chốn đích thực để ghé đến. Nào, Thưa ngài, xin cho phép tôi được giới thiệu với ngài Huynh đệ Peachey Carnehan đây, chính là hắn, và Huynh đệ Daniel Dravot, chính là tôi đây; còn về nghề nghiệp của tụi này thì tốt nhất là đừng có bàn tới làm gì, bởi tụi tôi hầu như đã làm qua đủ mọi thứ nghề trên đời này rồi — lính thủy, lính đánh thuê, thợ sắp chữ, thợ chụp ảnh, thợ sửa bản in, nhà truyền giáo đường phố, và cả phóng viên tờ ‘Backwoodsman’ những khi tụi tôi tưởng tờ báo đang cần người. Carnehan tỉnh táo, và tôi cũng vậy. Cứ nhìn tụi tôi trước đi cho chắc ăn. Sẽ đỡ mất công anh phải ngắt lời tôi đấy. Tụi tôi xin mỗi người một điếu xì-gà của anh, và anh sẽ được chứng kiến tụi tôi châm lửa.”

Tôi đứng quan sát bài kiểm tra. Cả hai gã hoàn toàn tỉnh táo, thế nên tôi bèn thết mỗi người một ly whisky pha soda còn âm ấm.

“Được rồi,” gã có cặp lông mày rậm Carnehan lên tiếng, vừa nói vừa quệt bọt nước bám trên bộ ria mép. “Đến lượt tôi nói đây, Dan. Bọn tôi đã đi dọc khắp Ấn Độ, phần lớn là đi bộ. Bọn tôi từng làm thợ lắp lò hơi, tài xế tàu hỏa, thầu khoán té rhep, và đủ mọi thứ nghề, thế rồi tụi tôi đi đến quyết định rằng Ấn Độ này quá nhỏ bé đối với những kẻ như tụi mình.”

Quả thực bọn chúng quá lớn so với căn phòng làm việc này. Bộ râu của Dravot dường như chiếm trọn một nửa căn phòng còn bờ vai của Carnehan thì lấp đầy nửa còn lại khi cả hai ngồiễm chệ trên chiếc bàn lớn. Carnehan tiếp tục: “Cái xứ này chưa được khai phá hết đâu, bởi lũ người cai trị nó không đời nào cho phép anh chạm tay vào. Chúng dành trọn mẻ thời gian trời đánh của mình chỉ để lo cai trị, và anh chẳng thể nhấc nổi một cái xẻng, đập nổi một hòn đá, hay mò mẫm tìm mỏ dầu, hay bất cứ thứ gì tương tự, mà không bị Chính quyền la làng lên rằng: ‘Hãy để yên đấy và để tụi tao cai trị.’ Thế nên, dẫu xứ này có ra sao đi nữa, tụi tôi cũng sẽ mặc kệ nó và cuốn xéo đến một xó xỉnh nào khác, nơi con người không bị chen chúc và có thể tự do tung hoành. Tụi tôi không phải những kẻ tầm thường, và chẳng có gì trên đời này khiến tụi tôi phải sợ hãi ngoại trừ Rượu chè, mà tụi tôi đã đặt bút ký hẳn một Bản Hợp đồng đoạn tuyệt với nó rồi. Thế nên tụi tôi sắp sửa khăn gói đi làm Vua đây.”

“Làm Vua theo quyền của chính tụi mình,” Dravot lầm bầm.

“Ừ, dĩ nhiên rồi,” tôi đáp. “Các anh vừa đi bộ dưới trời nắng gắt xong, mà đây lại là một đêm oi bức nữa, các anh không nghĩ là mình nên ngủ một giấc rồi hãy tính tiếp sao? Mai hãy quay lại.”

“Không hề say xỉn cũng chẳng bị cảm nắng,” Dravot khẳng định. “Tụi tôi đã suy tính kỹ càng chuyện này suốt nửa năm trời rồi, và giờ cần phải tra cứu Sách vở với Bản đồ, và tụi tôi đã đi đến kết luận rằng hiện chỉ còn duy nhất một nơi trên thế giới này mà hai gã đàn ông lực điền có thể Sar-a-whack được. Bọn họ gọi đó là Kafiristan. Theo tính toán của tôi thì nó nằm ở góc trên cùng bên phải của Afghanistan, cách Peshawar không quá ba trăm dặm. Ở đó có tới ba mươi mốt bức tượng thần ngoại đạo, và tụi tôi sẽ là vị thần thứ ba mươi hai và ba mươi ba. Đó là một xứ sở đồi núi, và phụ nữ ở vùng đó vô cùng xinh đẹp.”

“Nhưng điều đó đã được quy định rõ trong Bản Hợp đồng rồi nhé,” Carnehan chen vào. “Không Phụ nữ cũng chẳng Rượu chè gì hết, Daniel ạ.”

“Và đó là tất cả những gì tụi tôi biết, ngoại trừ việc chưa từng có ai đặt chân đến đó, và chúng đánh nhau suốt ngày; mà ở bất cứ nơi nào có chiến tranh thì một kẻ biết cách huấn luyện binh lính đời nào cũng có thể lên làm Vua. Tụi tôi sẽ đến vùng đất đó và nói với bất kỳ vị Vua nào tụi tôi gặp rằng: ‘Ngươi có muốn đánh bại kẻ thù của mình không?’ và tụi tôi sẽ chỉ cho hắn cách huấn luyện quân sĩ; bởi đó là thứ tụi tôi rành hơn bất cứ cái gì trên đời. Sau đó tụi tôi sẽ lật đổ vị Vua đó, chiếm lấy Ngai vàng và thiết lập một Triều đại.”

“Các anh sẽ bị băm vằm thành từng mảnh trước khi kịp đặt chân qua khỏi Biên giới năm mươi dặm,” tôi cảnh báo. “Các anh phải vượt qua cả Afghanistan mới tới được vùng đất đó. Đó là một khối núi non, đỉnh cao ngất trời và sông băng chi chít, và chưa từng có một người Anh nào đặt chân qua đó cả. Dân cư ở đó hoàn toàn là một lũ dã thú, và dẫu các anh có mò tới nơi thì cũng chẳng làm nổi tích sự gì.”

“Thế mới đúng chuyện chứ,” Carnehan cười hô hố. “Nếu anh nghĩ tụi tôi còn điên rồ hơn nữa thì tụi tôi lại càng thấy khoái chí hơn. Tụi tôi đến đây là để hỏi han về xứ sở này, để đọc sách về nó và xem bản đồ. Tụi tôi muốn anh phải bảo rằng tụi tôi là lũ khùng và đem sách vở của anh ra cho tụi tôi xem.” Hắn quay sang hướng về phía các kệ sách.

“Các anh thực sự nghiêm túc đấy chứ?” tôi hỏi.

“Một chút thôi,” Dravot đáp một cách ngọt ngào. “Hãy cho tụi tôi xem tấm bản đồ nào lớn nhất mà anh có, dẫu cho chỗ Kafiristan có trắng phau đi nữa, cùng với bất kỳ cuốn sách nào anh đang có. Tụi tôi biết đọc chữ, dù chẳng được học hành cao cho lắm.”

Tôi liền lôi ra tấm bản đồ Ấn Độ tỉ lệ ba mươi hai dặm trên một inch cùng hai tấm bản đồ Biên giới nhỏ hơn, nhấc xuống tập sách INF-KAN của bộ “Bách khoa toàn thư Britannica,” và hai gã bắt đầu chụm đầu nghiên cứu.

“Nhìn đây này!” Dravot nói, ngón tay cái ấn mạnh lên bản đồ. “Đường đi thì Peachey với tôi nắm rõ như lòng bàn tay cho đến tận Jagdallak. Tụi tôi từng ở đó cùng với Quân đội của Roberts. Tụi tôi sẽ phải rẽ phải ở Jagdallak đi qua lãnh thổ Laghmann. Sau đó tụi tôi sẽ lọt vào vùng đồi núi — mười bốn ngàn bộ — mười lăm ngàn bộ — chắc là lạnh cóng tay chân đấy, nhưng nhìn trên bản đồ thì có vẻ không xa lắm.”

Tôi bèn đưa cho hắn cuốn “Các nguồn sông Oxus” của Wood. Còn Carnehan thì đang cắm cúi nghiên cứu sâu vào cuốn “Bách khoa toàn thư.”

“Lũ dân ở đó đủ các thành phần nham nháp lắm,” Dravot ngẫm nghĩ nói; “và việc biết tên tuổi các bộ tộc của chúng chẳng giúp gì được mấy. Càng nhiều bộ tộc thì chúng càng đánh nhau to, và thế lại càng có lợi cho tụi tôi. Từ Jagdallak đến Ashang. Hừm!”

“Nhưng mọi thông tin về xứ sở đó đều sơ sài và thiếu chính xác đến cùng cực,” tôi phản đối. “Thực sự chẳng một ai biết chút gì về nó cả. Đây này, tập tài liệu của Viện ‘Dịch vụ Thống nhất’ đây. Hãy đọc xem Bellew viết gì này.”

“Mặc thây cái thằng Bellew đi!” Carnehan gạt phăng. “Dan ạ, lũ đó toàn là một đám ngoại đạo bốc mùi thối tha, nhưng cuốn sách này lại nói rằng chúng tưởng tụi mình có họ hàng với người Anh cơ đấy.”

Tôi đứng hút thuốc trong lúc hai gã đang cặm cụi ngấu nghiến các tác phẩm của Raverty, Wood, những tấm bản đồ và bộ “Bách khoa toàn thư.”

“Anh ngồi đợi cũng chẳng ích gì đâu,” Dravot lịch sự nói. “Bây giờ cũng khoảng bốn giờ rồi. Tụi tôi sẽ chuồn trước sáu giờ nếu anh muốn đi ngủ, và tụi tôi sẽ chẳng táy máy ăn cắp tờ giấy nào của anh đâu. Cứ đi ngủ đi. Tụi tôi chỉ là hai gã khùng vô hại thôi, và nếu ngày mai anh ghé qua quán trọ Serai vào buổi tối, tụi tôi sẽ chào tạm biệt anh.”

“Các anh đúng là hai gã đầu đất,” tôi đáp. “Các anh sẽ bị tống cổ ngay tại Biên giới hoặc bị băm vằm ra ngay khoảnh khắc đặt chân xuống đất Afghanistan. Các anh có cần tiền hay một bức thư giới thiệu để xuống miền Nam không? Tôi có thể giúp các anh kiếm việc làm vào tuần tới đấy.”

“Tuần tới thì tụi tôi đã bận rộn ngập đầu với công việc của chính mình rồi, xin cám ơn,” Dravot đáp. “Làm Vua chẳng dễ ăn như người ta tưởng đâu. Khi nào thiết lập xong xuôi giang sơn chả ngụ của mình, tụi tôi sẽ báo cho anh biết, rồi anh cứ việc lên đó mà phụ tụi tôi cai trị.”

“Hai gã khùng có bao giờ ký một bản Hợp đồng kiểu thế này không nào?” Carnehan cất lời với vẻ kiêu hãnh thầm kín, chìa ra cho tôi xem một nửa tờ giấy viết thư nhàu nhĩ bám đầy mỡ, trên đó nguệch ngoạc những dòng sau. Tôi bèn chép lại ngay lúc đó, như một món đồ kỳ cục.

Bản Hợp đồng giữa tôi và anh với tư cách người chứng giám xin thề trước danh nghĩa Thiên Chúa — Amen và vân vân.

(Một) Rằng tôi và anh sẽ cùng nhau giải quyết ổn thỏa việc này; tức là, trở thành Vua của Kafiristan.

(Hai) Rằng anh và tôi, trong suốt quá trình giải quyết việc này, sẽ không màng đến bất kỳ loại Rượu chè nào, cũng không ngó ngàng đến bất kỳ người Phụ nữ nào, dù da đen, da trắng hay da vàng, để tránh bị vướng bận vào những điều gây hại cho một trong hai bên.

(Ba) Rằng chúng ta sẽ hành xử với đầy đủ sự Trang nghiêm và Thận trọng, và nếu một trong hai gặp rắc rối thì người kia sẽ ở lại sát cánh cùng.

Ký tên bởi anh và tôi ngày hôm nay.

Peachey Taliaferro Carnehan.

Daniel Dravot.

Cả hai đều là Quý ông Tự do.

“Chẳng cần thiết phải có điều khoản cuối đâu,” Carnehan đỏ mặt thẹn thùng nói; “nhưng trông thế cho nó có bài bản chính quy. Giờ thì anh đã biết rõ cái giống loài lang thang tụi tôi là thế nào rồi đấy — tụi tôi chính là lũ lang thang, Dan ạ, cho đến khi nào rời khỏi đất Ấn Độ — và anh có nghĩ tụi tôi sẽ đặt bút ký một bản Hợp đồng như thế nếu không thực sự nghiêm túc không? Tụi tôi đã đoạn tuyệt hoàn toàn với hai thứ khiến cuộc đời này đáng sống đấy.”

“Các anh sẽ chẳng thọ nổi bao lâu đâu nếu cứ đâm đầu vào cái trò phiêu lưu ngớ ngẩn này. Đừng có làm cháy xừ cái tòa soạn báo của tôi đấy nhé,” tôi dặn, “và xéo đi trước chín giờ đấy.”

Tôi bỏ mặc bọn chúng vẫn đang cặm cụi dán mắt vào những tấm bản đồ và ghi chép nguệch ngoạc vào mặt sau của tờ “Hợp đồng.” “Nhớ ghé quán trọ Serai vào ngày mai nhé,” đó là những lời chào từ biệt của chúng.

Quán trọ Kumharsen Serai là cái rốn nhân loại hình vuông rộng lớn, nơi những đoàn lạc đà và ngựa thồ từ phương Bắc kéo đến trút hàng và bốc dỡ. Mọi quốc tịch ở Trung Asia đều tề tựu ở đó, cùng với phần lớn dân chúng từ chính cống đất Ấn Độ. Balkh và Bokhara gặp gỡ Bengal và Bombay tại đó để rồi lừa gạt móc họng lẫn nhau. Bạn có thể mua ngựa lùn, ngọc lam, mèo Ba Tư, túi yên ngựa, cừu đuôi béo và xạ hương ngay tại quán trọ Kumharsen Serai, và kiếm được khối thứ kỳ lạ chẳng tốn xu nào. Buổi chiều, tôi lững thững đi ra đó để xem thử hai gã bạn tôi có giữ lời hứa hay lại đang lăn quay ra uống rượu say mèm.

Một gã thầy tu mặc những mảnh giẻ rách và ruy băng thắt lưng thượt nghênh ngang bước tới, tay lơ đễnh xoay tròn một món đồ chơi chong chóng giấy của trẻ con. Lệnh bà sau hắn là tên đầy tớ đang còng lưng gánh một thùng đồ chơi bằng đất sét. Cả hai đang chất hàng lên hai con lạc đà, và cư dân trong quán trọ đứng xem với những tiếng cười ré lên khoái chí.

“Tên thầy tu này điên rồi,” một tay buôn ngựa bảo tôi. “Hắn đang tính lên Kabul để bán đồ chơi cho Amir. Hoặc là hắn sẽ được tôn vinh lên hàng danh giá, hoặc là cái đầu hắn sẽ rơi xuống đất. Hắn mò vào đây từ sáng nay và cứ cư xử điên rồ suốt từ bấy đến giờ.”

“Những kẻ khùng dại luôn được Thượng đế che chở,” một gã người Usbeg mặt dẹt bập bẹ thứ tiếng Hindi lơ lớ. “Chúng có tài tiên tri trước tương lai.”

“Ước gì tụi nó tiên tri được rằng đoàn buôn của ta đã bị lũ Shinwaris cướp sạch ngay sát bóng râm của cái Cửa ải ấy chứ!” gã đại diện người Eusufzai thuộc một hãng buôn Rajputana làu bàu, khi hàng hóa của gã đã bị bọn cướp nẫng tay trên ngay bên kia Biên giới, và sự bất hạnh của gã trở thành trò cười cho cả cái khu chợ. “Này lão thầy tu, ngươi từ đâu tới và định đi về đâu?”

“Ta từ Roum đến đây!” gã thầy tu thét lên, vừa vẫy vẫy cái chong chóng trên tay; “từ Roum, bị thổi bay bởi hơi thở của cả trăm con quỷ dữ vượt biển khơi! Hỡi những tên trộm cắp, cướp bóc, lừa đảo, xin chư thần Pir Khan phù hộ cho loài lợn, loài chó và lũ kẻ thù bội ước! Kẻ nào sẽ đưa Kẻ được Thượng đế bảo hộ lên phương Bắc để bán những bùa chú quay mãi không ngừng cho Amir nào? Những con lạc đà sẽ chẳng bị ghẻ lở, những đứa con sẽ chẳng lâm bệnh, và những người vợ sẽ vẫn giữ trọn thủy chung chừng nào những người đàn ông còn nhường chỗ cho ta trong đoàn buôn của họ. Ai sẽ giúp ta xỏ chiếc giày vàng gót bạc cho vị Vua xứ Roos nào? Nguyện xin sự bảo trợ của Pir Khan độ trì cho công việc của hắn!” Hắn giũ tà chiếc áo thụng rồi xoay một vòng tít mù giữa hàng ngựa đang buộc.

“Có một đoàn buôn khởi hành từ Peshawar đi Kabul trong vòng hai mươi ngày nữa đấy, thưa Ngài,” gã lái buôn người Eusufzai cất tiếng. “Đoàn lạc đà của ta cũng đi chuyến đó. Ngươi cũng hãy đi cùng đi để mang lại may mắn cho bọn ta.”

“Ta sẽ đi ngay bây giờ đây!” gã thầy tu hét lớn. “Ta sẽ khởi hành trên những con lạc đà có cánh của mình, và sẽ có mặt ở Peshawar chỉ trong một ngày! Này! Hazar Mir Khan,” hắn gầm lên với tên đầy tớ, “lùa lạc đà ra mau, nhưng hãy để ta cưỡi con của ta trước đã.”

Hắn phóng vút lên lưng con vật đang quỳ, rồi quay đầu lại phía tôi, hét lên: “Cả anh nữa, Sahib, hãy đi cùng một đoạn đường đi, tôi sẽ bán cho anh một thứ bùa — một chiếc bùa hộ mệnh có thể biến anh thành Vua của Kafiristan.”

Rồi ánh sáng bừng lên trong đầu tôi, và tôi bước theo hai con lạc đà ra khỏi quán trọ cho đến khi tới con đường lớn thì gã thầy tu dừng lại.

“Anh nghĩ sao về màn vừa rồi?” hắn cất giọng Anh chuẩn chỉnh. “Carnehan không tài nào nói sõi cái thổ âm của bọn chúng, thế nên tôi bắt nó làm đầy tớ cho tôi. Nó làm đầy tớ nom cũng bảnh bao phết chứ nhở. Tôi lượn lờ khắp cái xứ này mười bốn năm trời đâu phải là uổng phí. Tôi diễn màn vừa rồi ngọt xớt phải không nào? Tụi tôi sẽ bám theo một đoàn buôn ở Peshawar cho đến tận Jagdallak, rồi sau đó sẽ tính xem có thuê được lừa thay cho lạc đà để đột nhập vào Kafiristan hay không. Chong chóng bán cho Amir, ôi lạy Chúa! Thử thọc tay xuống dưới túi lạc đà xem anh cảm thấy thế nào đi.”

Tôi sờ thấy báng súng của một khẩu Martini, rồi thêm một khẩu nữa, và lại một khẩu nữa.

“Hai mươi khẩu tất cả,” Dravot điềm nhiên đáp. “Hai mươi khẩu cùng đạn dược tương ứng, nằm gọn dưới đống chong chóng và đồ chơi đất sét.”

“Chúa phù hộ cho các anh nếu bị tóm cùng đống đồ đó!” tôi thốt lên. “Một khẩu Martini có giá trị bằng cả cân bạc đối với bọn Pathan đấy.”

“Mười lăm nghìn rupee vốn liếng — mọi đồng rupee mà tụi tôi có thể xin xỏ, vay mượn hoặc ăn cắp — đều được đầu tư vào hai con lạc đà này đây,” Dravot nói. “Tụi tôi sẽ không bị tóm đâu. Tụi tôi đi qua đèo Khaiber cùng với một đoàn buôn chính ngạch cơ mà. Ai lại đi nỡ lòng tusờ mó vào một gã thầy tu điên khát chứ?”

“Các anh đã có đủ mọi thứ mình cần chưa?” tôi hỏi, kinh ngạc đến tột độ.

“Chưa đâu, nhưng sẽ sớm đủ thôi. Hãy cho tôi một món kỷ vật về lòng tốt của anh đi, Huynh đệ. Hôm qua anh đã làm ơn cho tôi, rồi cả lần ở Marwar nữa. Anh sẽ được hưởng một nửa vương quốc của tôi, như người ta vẫn hay nói.” Tôi bèn tháo chiếc la bàn nhỏ xíu khỏi dây đồng hồ rồi trao lên cho gã thầy tu.

“Tạm biệt,” Dravot nói, thận trọng bắt tay tôi. “Đây là lần cuối cùng tụi tôi được bắt tay với một người Anh trong những ngày sắp tới đấy. Bắt tay hắn đi Carnehan,” hắn gọi với theo khi con lạc đà thứ hai đi ngang qua tôi.

Carnehan cúi người xuống bắt tay tôi. Rồi những con lạc đà khuất dần theo con đường đầy bụi bặm, để lại tôi đứng đó một mình ngơ ngác. Mắt tôi chẳng thể phát hiện ra chút sơ hở nào trong những lớp cải trang ấy. Màn kịch tại quán trọ đã chứng minh rằng chúng hoàn toàn thuyết phục đối với tâm thức bản xứ. Do đó, vẫn có một chút hy vọng rằng Carnehan và Dravot có thể lang thang qua Afghanistan mà không bị phát hiện. Nhưng vượt qua được biên giới đó, họ sẽ phải đối mặt với cái chết — một cái chết chắc chắn và kinh hoàng.

Mười ngày sau, một thông tín viên bản xứ gửi cho tôi bản tin thời sự từ Peshawar, đã kết thúc bức thư bằng dòng chữ: “Có rất nhiều tiếng cười râm ran ở đây nguyên nhân bởi một gã thầy tu điên nào đó đang tính đem bán dăm ba món đồ trang sức lặt vặt và ba cái thứ quà cáp vớ vẩn mà hắn tán tụng là bùa phép lớn cho H.H. Amir xứ Bokhara. Hắn đã đi qua Peshawar và nhập đoàn vào chuyến đoàn buôn Mùa hè thứ hai hướng về Kabul. Các thương gia rất lấy làm thích thú vì do mê tín, họ tưởng rằng những gã điên như vậy sẽ mang lại vận may.”

Như vậy là hai kẻ đó đã vượt qua Biên giới. Lẽ ra tôi đã cầu nguyện cho họ, nhưng đêm đó một vị Vua thực thụ ở Châu Âu đã băng hà và đòi hỏi phải có một bài cáo phó.

Bánh xe thế giới cứ quay vòng qua những chu kỳ hết lần này đến lần khác. Mùa hè trôi qua rồi mùa đông tới, cứ thế lặp lại. Tờ nhật báo vẫn tiếp tục phát hành và tôi vẫn gắn bó với nó, rồi vào mùa hè thứ ba, một đêm oi bức lại đến, một bản tin đêm và sự chờ đợi căng thẳng thứ gì đó được điện tín từ bên kia bán cầu, hệt như những gì từng xảy ra trước đó. Vài nhân vật lớn đã qua đời trong hai năm qua, những cỗ máy in hoạt động với tiếng kêu lách cách nhiều hơn, và vài cái cây trong khu vườn tòa soạn đã cao thêm vài thước. Nhưng đó là tất cả những gì khác biệt.

Tôi bước sang phòng in, và trải qua đúng khung cảnh mà tôi đã miêu tả. Sự căng thẳng thần kinh còn dữ dội hơn hai năm về trước, và tôi cảm nhận cái nóng gay gắt hơn nhiều. Đúng ba giờ, tôi hô lớn: “In đi,” rồi quay người bước đi, thì có một thứ hình hài tàn tạ lê lết bò tới ghế tôi. Gã còng quắp gập người thành một vòng tròn, đầu thụt hẳn giữa hai vai và lê đôi chân bước lết đi như một con gấu. Tôi suýt chẳng nhận ra gã đang đi hay đang bò — gã ăn mày quấn giẻ rách, rên rỉ cất tiếng gọi tên tôi, khóc lóc rằng gã đã quay trở về.

“Anh có thể cho tôi xin một ngụm nước không?” gã rên rỉ. “Vì ơn Chúa, hãy cho tôi xin một ngụm nước!”

Tôi quay trở lại phòng làm việc, gã lết theo sau với những tiếng rên rỉ đau đớn, và tôi vặn to ngọn đèn dầu.

“Anh không nhận ra tôi sao?” gã hổn hển nói, ngã vật xuống ghế, rồi ngẩng khuôn mặt hốc hác, trên đầu chỏm tóc bạc phơ lên dưới ánh đèn.

Tôi đăm đăm nhìn gã. Đã có lần tôi nhìn thấy cặp lông mày mọc liền nhau tạo thành một dải đen rộng một inch vắt ngang mũi, nhưng dù có vắt óc suy nghĩ tôi cũng không tài nào nhớ nổi ở đâu.

“Tôi không nhận ra anh,” tôi nói, đưa ly whisky cho gã. “Tôi có thể giúp gì cho anh nào?”

Gã ngửa cổ nốc cạn ngụm rượu nguyên chất, rồi rùng mình run rẩy mặc cho cái nóng ngột ngạt bao trùm.

“Tôi đã quay về rồi đây,” gã lặp lại; “và tôi chính là Vua của Kafiristan — tôi và Dravot — hai chúng tôi được đội mũ miện làm Vua cơ mà! Chính trong căn phòng này chúng ta đã bàn định chuyện đó — anh ngồi đằng kia đưa sách cho tụi tôi. Tôi là Peachey — Peachey Taliaferro Carnehan đây — và anh vẫn cứ ngồi lì ở đây suốt từ bấy đến nay ư — Ôi lạy Chúa!”

Tôi kinh ngạc đến sững sờ, và không giấu nổi cảm xúc của mình.

“Thật đấy chứ,” Carnehan cười khô khốc, đưa tay ôm lấy đôi chân quấn đầy giẻ rách của mình — “thật như lời Chúa. Tụi tôi là Vua, với vương miện đội trên đầu — tôi và Dravot — tội nghiệp thằng Dan — ôi, tội nghiệp thằng Dan, tội nghiệp lắm, nó chẳng bao giờ chịu nghe lời khuyên răn của ai, dẫu tôi có quỳ lạy nài nỉ nó!”

“Cứ uống ngụm whisky đi,” tôi nói, “và thong thả kể lại đi. Kể lại mọi thứ anh còn nhớ từ đầu chí cuối. Các anh đã vượt Biên giới trên lưng lạc đà, Dravot giả làm thầy tu điên còn anh làm đầy tớ. Anh còn nhớ chuyện đó chứ?”

“Tôi chưa điên đâu — nhưng chẳng mấy chốc nữa thì có đấy. Dĩ nhiên là tôi nhớ chứ. Cứ nhìn thẳng vào tôi đi, kẻo lời lẽ của tôi lại lú lẫn hết bây giờ. Cứ nhìn vào mắt tôi này và đừng nói gì cả.”

Tôi chồm người về phía trước, đăm đăm nhìn vào mặt gã hết mức có thể. Gã thả một tay xuống bàn và tôi với lấy cổ tay gã. Nó vặn vẹo như móng vuốt chim, và trên mu bàn tay hằn lên một vết sẹo hình thoi đỏ quánh, rách rưới.

“Không, đừng nhìn vào đó. Hãy nhìn vào tôi này,” Carnehan bảo. “Chuyện đó xảy ra sau, nhưng vì ơn Chúa đừng có làm tôi phân tâm. Tụi tôi rời đi cùng đoàn buôn đó, tôi và Dravot giở đủ trò hề để mua vui cho những kẻ đi cùng. Hồi đó cứ đến chiều tối là Dravot lại làm cho tụi tôi cười bò ra khi mọi người đang nấu nướng bữa tối — nấu bữa tối, và... thế rồi họ làm gì nữa nhỉ? Họ nhóm những đốm lửa nhỏ với những tàn bay bắn thẳng vào bộ râu của Dravot, và tất cả chúng tôi cười — cười đến chết đi được. Những đốm lửa đỏ rực bay vào bộ râu đỏ rực to lớn của Dravot — buồn cười làm sao.” Đôi mắt gã rời khỏi mắt tôi và nở một nụ cười ngây dại.

“Các anh đi đến tận Jagdallak cùng đoàn buôn đó,” tôi liều lĩnh đoán, “sau khi các anh đã châm những đốm lửa đó. Tới Jagdallak, rồi rẽ ngang để tìm đường đột nhập vào Kafiristan.”

“Không, tụi tôi không đi đường đó. Anh đang luyên thuyên cái gì thế? Tụi tôi rẽ trước khi tới Jagdallak, bởi nghe ngóng được rằng đường sá ở đó dễ đi hơn. Nhưng chúng lại chẳng đủ tốt cho hai con lạc đà của tụi tôi — con của tôi và con của Dravot. Khi rời đoàn buôn, Dravot lột sạch quần áo của hắn và của cả tôi nữa, rồi bảo rằng tụi mình sẽ giả dạng làm người ngoại đạo, bởi người Kafir không cho phép người theo đạo Hồi chuyện trò với họ. Thế là tụi tôi mặc đồ nửa mùa, và một hình thù quái dị như Daniel Dravot thì tôi chưa từng thấy bao giờ và cũng chẳng mong gặp lại lần thứ hai. Hắn tự thiêu cháy một nửa bộ râu của mình, quàng tấm da cừu lên vai, và cạo trọc đầu thành những hoạ tiết vằn vện. Hắn cũng cạo đầu tôi như thế, và bắt tôi mặc những thứ trang phục lố bịch trông như một tên ngoại đạo. Đó là ở một vùng núi non hiểm trở vô cùng, và lạc đà của tụi tôi chẳng thể lê bước nổi nữa vì địa hình quá đỗi hiểm trở. Chúng cao lêu ngêu và đen sì, và trên đường về tôi thấy chúng húc nhau y như loài dê hoang — ở Kafiristan có rất nhiều dê. Và những dãy núi ấy, chúng chẳng bao giờ chịu đứng yên cả, hệt như loài dê vậy. Lúc nào chúng cũng đánh nhau và chẳng cho anh nổi một giấc ngủ yên ban đêm.”

“Cứ uống thêm chút whisky đi,” tôi từ tốn bảo. “Anh và Daniel Dravot đã làm gì khi lạc đà không thể bước tiếp vì đường xá gập ghềnh dẫn vào Kafiristan?”

“Ai làm gì cơ chứ? Có một gã mang tên Peachey Taliaferro Carnehan đi cùng Dravot mà. Để tôi kể cho anh nghe về hắn nhé? Hắn đã chết cóng ngoài cái xứ lạnh buốt đó rồi. Lão Peachey ngã cắm đầu từ trên cầu xuống, lộn nhào xoay tít giữa không trung y như cái chong chóng đồng có thể đem bán cho Amir ấy. Không; phải là hai cái đổi lấy một xu rưỡi chứ, mấy cái chong chóng ấy, bằng không thì tôi lú lẫn và đau đớn lắm rồi... Và thế là mấy con lạc đà chẳng còn tích sự gì nữa, thế là Peachey mới bảo Dravot rằng, ‘Vì ơn Chúa, hãy chuồn khỏi chốn này trước khi đầu tụi mình bị chém đứt,’ và thế là họ đâm chết cả lũ lạc đà giữa chốn núi non, bởi chẳng có gì ăn được, nhưng trước tiên họ tháo mấy chiếc thùng đựng súng và đạn dược xuống, cho đến khi có hai gã đi dắt theo bốn con la đi tới. Dravot liền nhảy chồm lên trước mặt chúng, hát vang, ‘Bán cho tao bốn con la.’ Gã thứ nhất đáp, ‘Mày đủ tiền mua thì cũng đủ tiền cướp,’ nhưng chưa kịp vươn tay rút dao thì Dravot đã vặn gãy cổ gã qua đầu gối, còn gã kia tháo chạy mất dép. Thế là Carnehan chất đạn dược và mấy khẩu súng tháo ra từ lạc đà lên lưng la, và cùng nhau tiến sâu vào vùng núi non lạnh buốt xương sương ấy, chẳng có nổi một con đường nào rộng bằng sống lưng.”

Gã khựng lại một lát, trong lúc tôi hỏi xem liệu gã có còn nhớ nổi bản chất của vùng đất mà họ đã trải qua không.

“Tôi đang kể cho anh nghe thật thẳng thắn đây này, nhưng đầu óc tôi chẳng còn được minh mẫn như trước nữa. Bọn chúng đóng đinh vào đầu tôi để bắt tôi nghe cho rõ hơn về cái chết của Dravot. Xứ sở đó toàn núi non hiểm trở, lũ la thì ương bướng hết chỗ nói, còn dân cư thì thưa thớt lẻ loi. Cứ trèo lên rồi lại tụt xuống, trèo lên tụt xuống, và cái gã kia kìa, Carnehan, cứ van nài Dravot đừng có hát hò huýt sáo to quá, sợ làm lở tuyết kinh hoàng. Nhưng Dravot bảo rằng nếu làm Vua mà không được hát hò thì chẳng đáng làm Vua nữa, thế là hắn quất tơi bời vào mông mấy con la, chẳng màng quái gì suốt mười ngày lạnh cắt da cắt thịt. Cuối cùng tụi tôi tới được một thung lũng bằng phẳng rộng lớn nằm lọt thỏm giữa núi non, và lũ la thì ngắc ngoải sắp chết, thế nên tụi tôi đành làm thịt chúng, bởi chẳng có gì cho cả chúng lẫn tụi tôi ăn. Tụi tôi ngồi lên mấy cái thùng đạn, chơi trò chẵn lẻ với mấy viên đạn văng ra.

Rồi có mười tên mang cung tên tháo chạy thục mạng xuống thung lũng, đuổi theo sau là hai mươi tên khác cũng mang cung tên, tiếng la hét vang trời dậy đất. Bọn chúng là những kẻ da trắng — trắng hơn cả anh hay tôi — tóc vàng rộm và thân hình vạm vỡ lạ thường. Dravot vừa mở hòm súng vừa bảo, ‘Đây là lúc mở màn sự nghiệp đây. Tụi mình sẽ đánh giúp mười tên kia,’ rồi hắn nổ liền hai phát súng về phía hai mươi tên kia, hạ gục ngay một tên cách xa hai hòn đá nơi hắn đang ngồi chừng hai trăm thước. Mấy tên còn lại quay đầu tháo chạy, nhưng Carnehan và Dravot cứ ngồi trên mấy chiếc thùng đạn bắn tỉa chúng ở mọi cự ly, trên dưới thung lũng. Rồi tụi tôi tiến lại chỗ mười tên vừa chạy thột qua tuyết, và chúng bắn về phía tụi tôi một mũi tên bé tí xíu. Dravot bèn bắn vọt qua đầu chúng, khiến tất cả ngã rạp xuống đất. Hắn bước đến giẫm đạp lên người chúng, rồi đỡ chúng dậy và bắt tay từng tên một để làm thân. Hắn gọi chúng lại, giao mấy chiếc thùng đạn cho chúng mang, và vẫy tay chào hệt như thể hắn đã là Vua từ lâu lắm rồi. Bọn chúng vác thùng dắt hắn băng qua thung lũng, lên ngọn đồi rợp bóng thông trên đỉnh, nơi có chừng nửa tá bức tượng thần bằng đá to tướng. Dravot tiến lại chỗ bức tượng lớn nhất — một gã mà chúng gọi là Imbra — đặt một khẩu súng và một viên đạn dưới chân tượng, cọ mũi mình vào mũi tượng một cách kính cẩn, vỗ vỗ lên đầu tượng, gật đầu và nói, ‘Ổn cả rồi đấy. Tao cũng là người trong cuộc và mấy lão đồ chơi này đều là bạn của tao hết.’ Rồi hắn há hốc miệng ra chỉ vào trong, và khi tên đầu tiên dâng thức ăn cho hắn, hắn lắc đầu bảo, ‘Không’; khi tên thứ hai mang đồ ăn tới, hắn lại lắc đầu ‘Không’; nhưng khi một trong số các lão thầy tu và già làng dâng thức ăn tới, hắn liền phán, ‘Được’; với vẻ mặt kiêu kỳ và thong thả thưởng thức. Đó là cách tụi tôi đặt chân đến ngôi làng đầu tiên của mình mà chẳng gặp chút rắc rối nào, hệt như vừa từ trên trời rơi xuống vậy. Nhưng tụi tôi rơi xuống từ một trong mấy cái cầu dây chết tiệt đó cơ mà, anh thấy đấy — và anh có đời nào mong một gã cười nổi sau chuyện đó chứ?”

“Cứ uống thêm whisky rồi kể tiếp đi,” tôi giục. “Đó là ngôi làng đầu tiên các anh đặt chân tới. Thế làm thế nào mà các anh lên làm Vua?”

“Tôi có làm Vua đâu,” Carnehan đáp. “Dravot mới là Vua, và trông hắn thật bảnh bao với chiếc vương miện bằng vàng trên đầu. Hắn và gã kia ở lại ngôi làng đó, và mỗi sáng Dravot lại ngồi bên cạnh lão Imbra, dân làng lũ lượt kéo đến quỳ lạy. Đó là lệnh của Dravot. Rồi một đám đông kéo vào thung lũng, Carnehan và Dravot liền dùng súng bắn tỉa chúng trước khi chúng kịp hoàn hồn, rồi lao xuống thung lũng vòng lên phía bên kia, tìm thấy một ngôi làng khác y như ngôi làng trước, và dân làng đều rạp mặt xuống đất, còn Dravot cất tiếng hỏi, ‘Nào, giữa hai làng các ngươi có xích mích gì nào?’ Dân làng liền chỉ vào một người phụ nữ da trắng trẻ trung như anh hay tôi bị bắt cóc, và Dravot đưa cô ta về lại ngôi làng cũ, đếm số người chết — có tổng cộng tám mạng. Cho mỗi cái xác chết, Dravot rưới một ít sữa xuống đất, vẫy đôi tay y như cái chong chóng và nói, ‘Ổn cả rồi.’ Sau đó hắn và Carnehan tóm lấy tay tù trưởng của mỗi làng, dẫn họ xuống thung lũng, vạch cho họ thấy cách vạch một đường bằng ngọn giáo dọc thung lũng, rồi trao cho mỗi bên một cục đất cỏ từ hai phía vạch. Thế là tất cả dân làng ùa xuống hò hét ỏm tỏi, và Dravot phán, ‘Hãy đi khai hoang đất đai, sinh sôi nảy nở đi,’ và họ đã làm theo, dẫu chẳng hiểu gì. Sau đó tụi tôi hỏi tên gọi các thứ bằng thổ ngữ của họ — bánh mỳ, nước, lửa, thần linh và mấy thứ linh tinh khác; và Dravot dắt thầy tu của mỗi làng tới trước bức tượng thần, bảo rằng họ phải ngồi đó để phán xử dân chúng, nếu có bề gì xảy ra thì họ sẽ bị bắn bỏ cụm.”

“Tuần sau đó, tất cả bọn họ đã cày xới đất đai trong thung lũng ngoan ngoãn hiền hòa như bầy ong vò vẽ và trông còn đẹp đẽ hơn nhiều, các thầy tu tiếp nhận mọi đơn từ khiếu kiện và dùng thủ hiệu giải thích cho Dravot hiểu chuyện gì đang xảy ra. ‘Đây mới chỉ là khởi đầu thôi,’ Dravot nói. ‘Chúng tưởng tụi mình là Thần thánh.’ Hắn và Carnehan chọn ra hai mươi gã trai tráng lực điền, chỉ cho chúng cách bấm cò súng, xếp hàng ngũ và tiến bước; và chúng tỏ ra rất hứng thú và cực kỳ lanh lợi nắm bắt quy củ. Sau đó hắn lôi tẩu thuốc và túi thuốc lào ra, để lại mỗi thứ ở một ngôi làng, và hai tụi tôi tiếp tục lên đường xem thung lũng tiếp theo thế nào. Đó toàn là đá núi, có một ngôi làng nhỏ xíu ở đó, và Carnehan liền bảo, ‘Đuổi tụi nó sang thung lũng cũ mà cày cấy,’ rồi dẫn chúng đi, phân cho một khoảng đất chưa ai nhận. Chúng là một đám nghèo kiết xác, và tụi tôi phải cúng tế bằng một con dê non trước khi cho chúng gia nhập Vương quốc mới. Mục đích là để gây ấn tượng với dân chúng, rồi chúng cũng yên vị, còn Carnehan quay lại với Dravot — lúc này đã mò sang một thung lũng khác toàn băng tuyết và núi non hiểm trở. Chẳng có bóng người nào ở đó cả, và đám lính bắt đầu hoảng sợ; thế nên Dravot bắn chết một tên, rồi tiếp tục tiến bước cho tới khi tìm thấy vài người dân trong một ngôi làng, và đám lính giải thích rằng nếu không muốn bị bắn bỏ mạng thì tốt nhất đừng có giương mấy khẩu súng kíp cọc cạch của chúng lên, bởi bọn họ có súng kíp cơ mà. Tụi tôi làm thân với thầy tu ở đó, còn tôi ở lại độc lập cùng hai tên lính, dạy dân làng cách tập điều lệnh; và có một lão Tù trưởng sừng sỏ kéo đến qua miền tuyết lạnh cùng tiếng trống chiêng vang dội, bởi lão nghe hơi nồi chõ có một vị Thần mới xuất hiện ở đây. Carnehan nấp nhắm bắn vào khoảng tối của đám đông cách đó nửa dặm qua màn tuyết và hạ gục một tên. Sau đó tôi gửi lời nhắn đến Tù trưởng rằng nếu không muốn bỏ mạng thì phải thân chinh đến bắt tay tôi và để lại vũ khí ở nhà. Tù trưởng đến một mình trước, Carnehan bắt tay lão và khua tay múa chân y như cách Dravot vẫn làm, khiến lão Tù trưởng ngạc nhiên tột độ và đưa tay vuốt ve lông mày tôi. Sau đó Carnehan một mình đến gặp Tù trưởng, ra hiệu hỏi xem lão có kẻ thù nào căm ghét không. ‘Có chứ,’ Tù trưởng đáp. Thế là Carnehan chọn ra những gã tinh nhuệ nhất từ đội quân của mình, cắt hai tên lính ra huấn luyện điều lệnh cho chúng, và chỉ sau hai tuần là đám đông đã có thể thao diễn nhịp nhàng chẳng kém gì lính tình nguyện. Thế là hắn cùng Tù trưởng hành quân đến một đồng bằng rộng lớn trên đỉnh núi, quân của Tù trưởng ào vào một ngôi làng và chiếm lấy nó; ba chúng tôi dùng súng Martini bắn vùi dập vào đám đông kẻ thù. Thế là tụi tôi chiếm luôn ngôi làng đó, tôi xé một mảnh áo của mình tặng Tù trưởng, và phán, ‘Hãy chiếm lấy đất đai này cho đến khi ta trở lại;’ nghe đậm chất Kinh thánh quá chứ lỵ. Để làm kỷ niệm, khi tôi và đám lính đứng cách đó mười tám trăm thước, tôi nổ một phát súng sát cạnh lão đang đứng trên tuyết, khiến toàn bộ dân chúng rạp mặt xuống đất. Sau đó tôi viết một bức thư gửi cho Dravot dù hắn đang ở đâu, dù trên bộ hay dưới biển.”

Bất chấp rủi ro có thể làm gã đứt mạch cảm xúc, tôi ngắt lời: “Làm thế nào mà anh viết được thư khi ở trên đó chứ?”

“Bức thư ư?— ồ!— bức thư ấy à! Xin hãy tiếp tục nhìn thẳng vào giữa hai mắt tôi đây. Đó là một bức thư bằng dây thừng, kiểu mà tụi tôi đã học được cách từ một lão ăn mày mù ở Punjab.”

Tôi nhớ rằng đã từng có một gã mù ghé qua tòa soạn mang theo một nhành cây thắt nút, cùng một đoạn dây thừng mà gã quấn quanh nhành cây theo một mật mã riêng của mình. Gã có thể, sau nhiều ngày hoặc nhiều giờ, đọc lại chính xác câu nói mà gã đã quấn vào đó. Gã đã quy giản bảng chữ cái xuống còn mười một âm tiết nguyên thủy, và từng cố dạy tôi phương pháp của gã, nhưng tôi không tài nào hiểu nổi.

“Tôi gửi bức thư đó cho Dravot,” Carnehan kể tiếp, “và bảo hắn quay về bởi Vương quốc này đã quá lớn so với sức tôi cáng đáng; rồi tôi quay lại thung lũng đầu tiên để kiểm tra xem các thầy tu làm ăn thế nào. Họ gọi ngôi làng tụi tôi chiếm được cùng Tù trưởng là Bashkai, còn ngôi làng đầu tiên là Er-Heb. Các thầy tu ở Er-Heb làm ăn ổn thỏa cả, nhưng họ có cả đống đơn từ khiếu kiện đất đai chưa giải quyết chất đống ra để trình bày với tôi, và mấy gã từ ngôi làng khác cứ lén lút bắn tên vào ban đêm. Tôi bèn lùng sục tìm ngôi làng đó và nã liền bốn phát đạn từ cự ly một ngàn thước. Số đạn đó đủ dùng cho tôi rồi, và tôi chờ đợi Dravot — kẻ đã đi vắng hai ba tháng trời — và tôi giữ cho dân chúng được yên ổn.

Một buổi sáng nọ, tôi nghe thấy tiếng trống chiêng inh ỏi điên cuồng, và Dan Dravot hiên ngang dẫn đoàn quân cùng hàng trăm người rồng rắn kéo xuống sườn đồi, và điều ngạc nhiên nhất là trên đầu hắn đội một chiếc vương miện bằng vàng ròng. ‘Lạy Chúa tôi, Carnehan,’ Daniel thốt lên, ‘đây quả là một cơ nghiệp vĩ đại, và tụi mình đã thâu tóm toàn bộ xứ sở này đến mức chẳng còn gì đáng tiếc nữa. Tao là con trai của Alexander và Nữ hoàng Semiramis, còn mày là em trai út đồng thời cũng là một vị Thần! Đây là kỳ tích lớn nhất tụi mình từng thấy. Tao đã hành quân và chiến đấu ròng rã sáu tuần liền với quân đội, và từng cái làng bé tí tẹo cách đây năm mươi dặm đều hân hoan kéo đến quy thuận; và hơn thế nữa, tao đã nắm giữ chìa khóa của toàn bộ cơ nghiệp này, như mày sẽ thấy đây, và tao mang đến cho mày một chiếc vương miện! Tao bảo chúng làm hai chiếc ở một nơi gọi là Shu, nơi vàng nằm trong đá béo ngậy như mỡ cừu. Vàng tao đã thấy, ngọc lam tao từng đá văng ra khỏi vách đá, và trong cát suối có cả ngọc hồng lựu, đây là một cục hổ phách mà có người vừa dâng cho tao. Hãy triệu tập tất cả thầy tu lại, và đây, cầm lấy vương miện của mày đi.’

Một tên mở chiếc túi bằng lông ngựa đen, và tôi đội chiếc vương miện lên đầu. Nó hơi nhỏ và nặng trịch, nhưng tôi cứ đội vì vinh quang. Làm bằng vàng nặng tới năm cân mộc, uốn cong y như chiếc đai thùng phuy.

‘Peachey,’ Dravot nói, ‘tụi mình không cần phải đánh đấm gì nữa đâu. Nghề này mới là bùa phép chính tông đấy, thề có Chúa!’ và hắn dẫn ra cái gã Tù trưởng mà tôi từng bỏ lại ở Bashkai — sau này tụi tôi gọi hắn là Billy Fish, bởi hắn trông y hệt lão Billy Fish từng lái đầu máy xe lửa lớn ở Mach trên đèo Bolan ngày trước. ‘Bắt tay hắn đi,’ Dravot nói; và tôi giơ tay bắt rồi suýt ngã quỵ, bởi Billy Fish đã ra hiệu Cầm tay theo đúng Mật khẩu. Tôi không nói gì, mà thử lại bằng Mật khẩu Bạn nghề. Gã đáp lại trôi chảy, và tôi tiếp tục thử Mật khẩu Bậc thầy, nhưng lần đó thì bị hụt. ‘Đúng là một Bạn nghề chính hiệu rồi!’ tôi thấu tai Dan. ‘Gã có biết khẩu lệnh không?’ ‘Biết chứ,’ Dan đáp, ‘và tất cả các thầy tu đều biết. Thật là một phép lạ! Các Tù trưởng và thầy tu có thể mở một Nhà Lãnh đạo Bạn nghề theo cách rất giống của tụi mình, và họ đã khắc các dấu hiệu lên đá, nhưng họ không biết Bậc Tam cấp thứ Ba, và họ đến để tìm hiểu cho ra lẽ. Đó là sự thật hiển nhiên trước Chúa. Ta đã biết từ nhiều năm nay rằng người Afghanistan chỉ nắm được đến Cấp độ Bạn nghề, nhưng chuyện này quả là một phép lạ. Ta đây là một vị Thần kiêm Đại sư của Hội Tam điểm, và ta sẽ mở một Nhà Lãnh đạo ở Cấp độ Thứ ba, đồng thời nâng bậc cho các vị đại tư tế cùng Tù trưởng các làng.’

‘Chuyện đó trái với mọi quy tắc,’ tôi phản đối, ‘mở một Nhà Lãnh đạo mà không có sắc lệnh ủy quyền từ bất kỳ đâu; và anh thừa biết tụi mình chưa từng giữ chức sắc ở bất kỳ Nhà Lãnh đạo nào.’

‘Đó là một nước cờ chính trị thiên tài,’ Dravot phán. ‘Nó có nghĩa là điều hành xứ sở này mượt mà như một chiếc toa tàu bốn bánh chạy đà xuôi dốc. Tụi mình không thể dừng lại để điều tra lúc này đâu, bằng không chúng sẽ quay lưng phản lại. Tao đang có trong tay bốn mươi Tù trưởng, và chúng sẽ được thăng cấp đúng theo công trạng của mình. Hãy phân bổ đám người này về các làng, và lo dựng lên một Nhà Lãnh đạo nào đó đi. Ngôi đền Imbra sẽ làm phòng họp Nhà Lãnh đạo được đấy. Đám phụ nữ phải lo may tạp dề theo đúng chỉ dẫn của mày. Tao sẽ tổ chức một buổi yết kiến Tù trưởng vào tối nay và mở Nhà Lãnh đạo vào ngày mai.’

Tôi bận rộn đến rã cả cẳng chân, nhưng cũng không đến nỗi đần độn mà không thấy được cái lợi thế to lớn mà trò Hội Tam điểm này mang lại cho tụi tôi. Tôi chỉ cho gia đình các thầy tu cách may tạp dề cho các cấp bậc, nhưng riêng tạp dề của Dravot thì viền xanh và các dấu hiệu được đính bằng những cục ngọc lam trên nền da thuộc trắng chứ không dùng vải. Tụi tôi chọn một khối đá vuông lớn trong đền làm ghế của Bậc Thầy, những hòn đá nhỏ làm ghế cho các quan chức, tô điểm nền nhà đen bằng những ô vuông trắng, làm hết sức mình để mọi thứ trông thật chính quy.

Trong buổi yết kiến diễn ra tối hôm đó trên sườn đồi dưới ánh lửa trại bập bùng, Dravot tuyên bố rằng hắn và tôi là Thần thánh, là con trai của Alexander, và là Đại sư Đã qua Cấp độ của Hội, đến đây để biến Kafiristan thành một xứ sở nơi mọi người đều được ăn uống trong hòa bình và đặc biệt là phải tuân lệnh tụi tôi. Sau đó các Tù trưởng kéo đến bắt tay, họ rậm râu, trắng trẻo và tuấn tú hệt như đang bắt tay với những người bạn cũ. Tụi tôi đặt tên cho họ theo những người quen cũ ở Ấn Độ — Billy Fish, Holly Dilworth, Pikky Kergan — kẻ từng làm Chủ chợ thời tôi ở Mhow, vân vân và vân vân.

Những phép lạ kinh ngạc nhất diễn ra tại Nhà Lãnh đạo vào tối hôm sau. Một trong các lão thầy tu cứ chằm chằm theo dõi tụi tôi không rời mắt, khiến tôi thấy vô cùng bất an, bởi tôi thừa biết tụi mình sẽ phải bịa ra Nghi thức, và tôi chẳng mòng gì biết rõ chúng nắm được đến đâu. Lão thầy tu đó là một kẻ lạ mặt đến từ vùng đất ngoài làng Bashkai. Khoảnh khắc Dravot vừa khoác chiếc tạp dề Bậc Thầy do mấy cô gái may cho lên người, lão thầy tu liền thét lên một tiếng rợn người và lao vào tính lật nhào khối đá mà Dravot đang ngồi. ‘Tiêu đời rồi,’ tôi thầm nghĩ. ‘Đó là hậu quả của cái tội táy máy dính líu đến Hội Tam điểm mà không có sắc lệnh!’ Thế mà Dravot chẳng thèm chớp mắt lấy một cái, ngay cả khi mười tên thầy tu cùng xúm lại hất tung chiếc ghế của Bậc Thầy — tức là khối đá của Imbra. Lão thầy tu bắt đầu chà sát phần đáy khối đá để phủi sạch lớp bụi đen, và chẳng mấy chốc lão vạch ra cho tất cả các thầy tu khác thấy Dấu hiệu của Bậc Thầy, y hệt như trên tạp dề của Dravot, được khắc chìm vào đá. Ngay cả các thầy tu trong đền Imbra cũng chẳng hề hay biết nó ở đó. Lão già quỳ rạp mặt xuống chân Dravot và hôn lấy hôn để. ‘Lại hên nữa rồi,’ Dravot thầm thì qua phòng họp với tôi; ‘chúng bảo đó là Dấu hiệu thất truyền mà không ai hiểu nổi nguyên lý của nó. Tụi mình an toàn vượt mức rồi đấy.’ Rồi hắn nện báng súng xuống đất làm búa gõ lệnh và tuyên bố: ‘Bằng uy quyền được ban tặng từ chính đôi bàn tay ta và sự giúp đỡ của Peachey, ta tuyên bố bản thân là Đại sư của toàn bộ Hội Tam điểm tại Kafiristan trong Nhà Lãnh đạo Mẹ này của xứ sở, và là Vua của Kafiristan bình quyền với Peachey!’ Ngay lúc đó hắn đội vương miện lên đầu còn tôi thì đội vương miện của mình — tôi đang giữ chức Giám thị Cấp cao — và tụi tôi long trọng khai mạc Nhà Lãnh đạo. Đó quả là một phép lạ kinh ngạc! Các thầy tu di chuyển trong Nhà Lãnh đạo qua hai cấp độ đầu tiên hầu như chẳng cần nhắc nhở, hệt như ký ức đang sống lại trong họ. Sau đó Peachey và Dravot tiến hành nâng bậc cho những kẻ xứng đáng — các đại tư tế và Tù trưởng các làng xa xôi. Billy Fish là người đầu tiên, và tôi có thể nói rằng tụi tôi đã làm cho gã vía bay phách lạc. Chẳng tuân theo chút Nghi thức nào cả, nhưng thế là đủ cho mục đích của tụi mình. Tụi tôi không nâng bậc quá mười gã chóp bu, bởi không muốn làm loãng Cấp độ. Thế mà chúng cứ nhao lên đòi được nâng bậc.

‘Chỉ sáu tháng nữa thôi,’ Dravot tuyên bố, ‘tụi ta sẽ tổ chức một buổi Giao lưu khác để xem các ngươi làm ăn thế nào.’ Rồi hắn hỏi han về các làng bản của họ, và biết được rằng họ đang đánh giết lẫn nhau, đã cảm thấy chán ngấy cảnh chiến tranh rồi. Và khi không đánh nhau thì họ lại đụng độ với người Hồi giáo. ‘Các ngươi cứ việc đánh chúng khi chúng bén mảng vào xứ của ta,’ Dravot phán. ‘Hãy cắt cử cứ mười tên trong bộ tộc ra làm lính canh Biên giới, và cứ hai trăm tên một lần kéo đến thung lũng này để tập điều lệnh. Sẽ không có chuyện bắn giết hay đâm chém gì nữa chừng nào còn vâng lời, và ta thừa biết các ngươi sẽ không dám phản bội ta, bởi các ngươi là người da trắng — dòng dõi Alexander — chứ không giống lũ Hồi giáo đen đúa tầm thường. Các ngươi là thần dân của ta, và thề có Chúa,’ hắn buột miệng nói tiếng Anh ở câu cuối, ‘ta sẽ nhào nặn các ngươi thành một Dân tộc cừ khôi, hoặc ta sẽ bỏ mạng trong công cuộc này!’

Tôi chẳng thể kể hết mọi chuyện tụi tôi đã làm trong sáu tháng tiếp theo, bởi Dravot làm khối thứ mà tôi không tài nào hiểu nổi, và hắn học thổ ngữ của bọn chúng siêu hơn tôi nhiều. Công việc của tôi là giúp dân làng cày cấy, thỉnh thoảng kéo ra ngoài cùng đám lính để xem các ngôi làng khác làm ăn thế nào, và bắt chúng bắc cầu dây qua những khe núi cắt ngang xứ sở hiểm trở này. Dravot đối xử rất tốt với tôi, nhưng mỗi khi hắn đi qua đi lại trong rừng thông, vò bới bộ râu đỏ máu của mình bằng cả hai nắm tay, tôi thừa biết hắn đang nung nấu những kế hoạch mà tôi chẳng thể góp ý nổi, thế nên tôi chỉ biết im lặng chờ lệnh.

Thế nhưng Dravot chưa bao giờ tỏ thái độ thiếu tôn trọng tôi trước mặt dân chúng. Họ sợ tôi và đám lính, nhưng họ yêu quý Dan. Hắn giữ mối quan hệ vô cùng tốt đẹp với các thầy tu và Tù trưởng; nhưng bất cứ ai lặn lội qua núi mang theo đơn khiếu kiện đều được Dravot tiếp đón công bằng, triệu tập bốn vị thầy tu lại để phán quyết xem nên xử lý thế nào. Hắn thường gọi Billy Fish từ Bashkai, Pikky Kergan từ Shu, và một lão Tù trưởng mà tụi tôi gọi là Kafuzelum — nghe khá giống tên thật của lão — để họp bàn mỗi khi có chiến sự ở các làng nhỏ. Đó chính là Hội đồng Chiến tranh của hắn, còn bốn vị thầy tu ở Bashkai, Shu, Khawak và Madora là Hội đồng Cơ mật. Giữa đám đông đó, họ phái tôi cùng bốn mươi người mang theo hai mươi khẩu súng, và sáu mươi người gánh ngọc lam sang xứ Ghorband để mua mấy khẩu súng Martini thủ công xuất xưởng từ xưởng của Amir tại Kabul, từ một trung đoàn Herati của Amir — những kẻ sẵn sàng bán cả cái răng trong mồm để đổi lấy ngọc lam.

Tôi ở Ghorband trọn một tháng, dâng cho viên Tổng đốc ở đó những giỏ quà tinh tuyển nhất để làm tiền bịt miệng, hối lộ thêm cho viên Đại tá trung đoàn, và nhờ sự hỗ trợ của cả hai phía cùng dân bản xứ, tụi tôi vơ vét được hơn một trăm khẩu Martini tự chế, một trăm khẩu súng kíp Kohat ngon lành tầm bắn sáu trăm thước, cùng bốn mươi gánh đạn chất lượng rất tồi cho súng. Tôi mang theo số chiến lợi phẩm đó trở về và phân phát cho đám lính mà các Tù trưởng phái đến cho tôi huấn luyện. Dravot quá bận rộn để quan tâm mấy thứ đó, nhưng đám lính cựu binh tụi tôi gầy dựng từ đầu đã giúp đỡ tôi hết mình, và tụi tôi đã nhào nặn ra được năm trăm binh sĩ điều lệnh thuần thục cùng hai trăm tay súng khá vững vàng. Ngay cả mấy khẩu súng thủ công xoắn ốc đó cũng là một phép lạ đối với họ. Dravot cứ lớn tiếng bàn về các xưởng thuốc súng và nhà máy, vừa đi dạo dọc rừng thông khi mùa đông sắp đến gần.

‘Ta sẽ không chỉ tạo ra một Dân tộc,’ hắn tuyên bố. ‘Ta sẽ dựng nên một Đế chế! Lũ người này không phải dân da đen; họ là người Anh! Hãy nhìn đôi mắt họ — nhìn khóe miệng họ kìa. Nhìn cách họ đứng thẳng người xem. Họ ngồi ghế trong chính ngôi nhà của mình. Họ chính là Mười Chi tộc Thất lạc, hoặc thứ gì đó đại loại thế, và họ đã phát triển thành người Anh. Ta sẽ tiến hành tổng điều tra vào mùa xuân nếu các thầy tu không quá hoảng sợ. Phải có tới tròn hai triệu người ở những vùng núi non này. Làng mạc lúc nhúc trẻ con. Hai triệu dân — hai trăm năm mươi ngàn chiến binh — và toàn là người Anh cả! Họ chỉ cần súng ống và chút huấn luyện. Hai trăm năm mươi ngàn chiến binh, sẵn sàng thọc sườn bên phải nước Nga khi chúng mưu đồ đánh chiếm Ấn Độ! Này Peachey bạn hiền,’ hắn nói, nhai ngấu nghiến những nhúm râu to tướng, ‘tụi mình sẽ là Hoàng đế — Hoàng đế của Cả Trái Đất! Rajah Brooke chẳng thấm tháp gì so với tụi mình đâu. Ta sẽ thương lượng với Phó vương trên cơ bình đẳng. Ta sẽ yêu cầu ngài ấy cử cho ta mười hai người Anh ưu tú — mười hai người ta biết rõ — sang phụ giúp ta cai trị đôi chút. Có Mackray, Hạ sĩ Hưu trí ở Segowli — lão từng đãi ta biết bao bữa cơm ngon lành, còn vợ lão thì tặng ta một chiếc quần dài. Có Donkin, Ngục quan Nhà tù Tounghoo; có hàng trăm người mà ta có thể triệu tập nếu đặt chân về Ấn Độ. Phó vương sẽ phải làm điều đó cho ta; ta sẽ cử một người vượt biên vào mùa xuân để đón mấy người đó, và ta sẽ viết thư xin sắc phong đặc quyền từ Đại hội Lãnh đạo cho những gì ta đã làm với tư cách Đại sư. Điều đó — và toàn bộ số súng Snider sẽ bị thải loại khi lính bản xứ Ấn Độ chuyển sang dùng Martini. Chúng có thể bị mòn nhẵn, nhưng vẫn dùng tốt để chiến đấu ở chốn núi non này. Mười hai người Anh, một trăm ngàn khẩu Snider lọt qua xứ Amir theo từng giọt nhỏ giõ — ta chỉ cần hai mươi ngàn khẩu trong một năm thôi — là tụi mình thành một Đế chế. Khi mọi thứ đã đâu vào đấy, ta sẽ trao lại vương miện này — chiếc vương miện ta đang đội trên đầu lúc này đây — cho Nữ hoàng Victoria bằng hai đầu gối, và Người sẽ phán rằng, “Hãy đứng lên, Ngài Daniel Dravot.” Ôi, nó vĩ đại lắm! Vĩ đại lắm, ta nói cho anh hay! Nhưng có quá nhiều việc phải làm ở khắp mọi nơi — Bashkai, Khawak, Shu, và mọi chốn khác nữa.’

‘Chuyện gì nữa thế?’ tôi hỏi. ‘Mùa thu này chẳng còn tên lính nào kéo đến để tập luyện nữa đâu. Hãy nhìn kìa, mấy đám mây đen xì béo ngậy kìa. Chúng đang mang tuyết đến đấy.’

‘Không phải chuyện đó,’ Daniel đáp, đặt mạnh bàn tay lên vai tôi; ‘và ta không muốn nói gì mang ý chê bai anh, bởi chẳng có một sinh linh nào khác trên đời chịu đi theo và phò tá ta thành ra cơ đồ như ngày hôm nay ngoài anh cả. Anh là một Tổng tư lệnh hạng nhất, và dân chúng kính trọng anh; nhưng — đây là một giang sơn rộng lớn, và bằng cách nào đó anh không thể giúp ta, Peachey, theo cách mà ta mong muốn được giúp.’

‘Thế thì cứ đi mà tìm mấy lão thầy tu chết tiệt của anh đi!’ tôi đáp, và ngay lập tức thấy hối hận vì câu nói đó, nhưng thực tình tôi cảm thấy nhói đau khi thấy Daniel cứ lên mặt kẻ cả trong khi chính tôi là người đã huấn luyện toàn bộ binh sĩ và làm mọi việc theo đúng lời hắn dặn.

‘Đừng cãi vã nhau nữa mà Peachey,’ Daniel nói, không hề văng tục. ‘Anh cũng là một vị Vua, và một nửa Vương quốc này thuộc về anh; nhưng anh không thấy sao, Peachey, hiện tại tụi mình cần những bộ óc mẫn cán hơn — ba hay bốn người để tụi mình có thể rải đi làm Phó vương. Đây là một Quốc gia to lớn vĩ đại, và ta không thể lúc nào cũng phán đoán đúng đắn mọi việc, ta cũng chẳng có đủ thời gian cho tất cả những gì ta muốn làm, trong khi mùa đông thì đang kề cận thế này đây.’ Hắn nhét một nửa bộ râu vào mồm, đỏ rực như sắc vàng của chiếc vương miện.

‘Tôi xin lỗi, Daniel,’ tôi đáp. ‘Tôi đã làm mọi thứ trong khả năng của mình. Tôi đã huấn luyện binh sĩ, chỉ cho dân chúng cách xếp gọn lúa mạch hơn; và tôi đã mang về mấy khẩu súng tôn từ Ghorband — nhưng tôi hiểu ý anh muốn nhắm tới cái gì. Tôi cho rằng các vị Vua lúc nào cũng cảm thấy bị đè nặng như vậy cả.’

‘Còn một chuyện nữa,’ Dravot vừa đi qua đi lại vừa nói. ‘Mùa đông đang đến gần, dân chúng sẽ chẳng quậy phá gì nhiều đâu, và giả sử chúng có làm thế thì tụi mình cũng chẳng thể di chuyển được. Ta muốn có một người vợ.’

‘Vì ơn Chúa, hãy buông tha cho đàn bà con gái đi!’ tôi thốt lên. ‘Cả hai chúng ta đều ngập đầu trong công việc rồi, dẫu tôi có là một gã khùng đi nữa. Hãy nhớ tới Bản Hợp đồng, và tránh xa đàn bà ra.’

‘Bản Hợp đồng chỉ có hiệu lực cho đến khi tụi mình lên làm Vua thôi; và tụi mình đã làm Vua mấy tháng nay rồi còn gì,’ Dravot nói, tung hứng chiếc vương miện trong tay. ‘Anh cũng đi kiếm một cô vợ đi Peachey — một cô nàng thật phổng phao, đầy đặn đủ sức sưởi ấm cho anh qua mùa đông giá rét. Phụ nữ ở đây xinh đẹp hơn cả gái Anh, và tụi mình có quyền chọn lựa những người ưu tú nhất. Cho họ đắm nước nóng một hai lần là trông nuột nà như dăm bông gà ngay.’

‘Đừng có dụ dỗ tôi!’ tôi quả quyết. ‘Tôi sẽ không dính dáng gì đến đàn bà con gái hết, cho tới khi tụi mình an vị vững chắc hơn tình hình hiện tại. Tôi đã gánh vác công việc của hai người, còn anh gánh việc của ba người. Hãy tạm gác lại một thời gian xem có kiếm được ít thuốc lào ngon từ đất Afghanistan và lén đưa vài chai rượu xịn vào đây không; tuyệt đối không đàn bà.’

‘Ai thèm bàn chuyện đàn bà chứ?’ Dravot cãi. ‘Ta nói là vợ — một Hoàng hậu để sinh ra giòng dõi hoàng tử nối ngôi. Một người Hoàng hậu xuất thân từ bộ tộc hùng mạnh nhất, người sẽ kết nghĩa máu mù với anh, người sẽ nằm bên gối lắng nghe mọi suy nghĩ của thần dân cũng như việc nước của họ. Đó mới là thứ ta muốn.’

‘Anh có nhớ mụ đàn bà người Bengali mà tôi nuôi ở Mogul Serai hồi còn làm công nhân đường sắt không?’ tôi vặn lại. ‘Mụ ta đem lại chút tích sự quái gì cho tôi nào. Mụ ta dạy tôi chút thổ ngữ cùng dăm ba thứ lặt vặt; nhưng rồi sao nào? Mụ ta cuỗm theo tên đầy tớ của Trưởng ga cùng nửa tháng lương của tôi cao chạy xa bay. Rồi sau đó mụ ta mò đến ga Dadur dắt theo một gã lai, trơ trẽn tuyên bố tôi là chồng mụ — ngay giữa đám tài xế ở khu nhà đầu máy nữa chứ!’

‘Chuyện đó qua lâu rồi,’ Dravot gạt đi; ‘phụ nữ ở đây còn trắng trẻo hơn cả anh hay tôi, và ta nhất định sẽ cưới một Hoàng hậu cho những tháng mùa đông này.’

‘Nói câu cuối cùng nhé Dan, đừng có làm thế,’ tôi khuyên. ‘Chỉ chuốc họa vào thân thôi. Kinh thánh đã dạy rằng các vị Vua không được phung phí sức lực vào đàn bà, nhất là khi họ đang phải gầy dựng một Vương quốc mới tinh.’

‘Câu trả lời cuối cùng của ta là: Ta sẽ cưới,’ Dravot phán, rồi sải bước biến vào rừng thông trông y như một con quỷ đỏ rực, dưới ánh nắng rọi thẳng vào vương miện và bộ râu của hắn.

Thế nhưng việc kiếm vợ không hề dễ dàng như Dan tưởng. Hắn đưa chuyện này ra trước Hội đồng, và chẳng có lấy một tiếng trả lời cho đến khi Billy Fish cất lời khuyên hắn nên hỏi trực tiếp mấy cô gái. Dravot nguyền rủa tất cả bọn họ. ‘Ta có điểm gì không ổn chứ?’ hắn gầm lên, đứng cạnh bức tượng thần Imbra. ‘Ta là con chó hay ta không đủ đàn ông đối với đám đàn bà con gái các ngươi? Chẳng lẽ ta chưa từng che chở cho xứ sở này sao? Kẻ nào đã chặn đứng cuộc đột kích cuối cùng của người Afghanistan?’ Thật ra chính là tôi, nhưng Dravot lúc đó đang nổi giận đùng đùng nên chẳng nhớ nổi. ‘Kẻ nào đã mua súng ống cho các ngươi? Kẻ nào đã sửa cầu cộ? Kẻ nào là Đại sư mang dấu hiệu khắc trên đá?’ hắn gầm lên, nện mạnh bàn tay xuống khối đá mà hắn vẫn thường ngồi trong các buổi họp Nhà Lãnh đạo cũng như Hội đồng. Billy Fish im bặt, và những kẻ khác cũng chẳng hé răng nửa lời. ‘Bình tĩnh nào Dan,’ tôi can thiệp, ‘hãy đi hỏi thẳng mấy cô gái xem sao. Ở Quê nhà người ta vẫn làm thế đấy, và lũ dân ở đây hoàn toàn là người Anh cả.’

‘Hôn sự của nhà Vua là quốc sự,’ Dan gầm lên trong cơn thịnh nộ bốc khói, bởi hy vọng rằng hắn có thể nhận ra mình đang đi ngược lại lý trí. Hắn đùng đùng bỏ ra khỏi phòng họp, để lại những kẻ khác ngồi im thin thít cắm cúi nhìn xuống mặt đất.

‘Billy Fish,’ tôi quay sang hỏi Tù trưởng Bashkai, ‘khúc mắc ở đây là thế nào? Hãy cho tôi câu trả lời thẳng thắn từ một người bạn tri kỷ.’

‘Anh thừa biết mà,’ Billy Fish đáp. ‘Làm sao một kẻ phàm trần lại dám mở lời với người thấu triệt mọi thứ cơ chứ? Làm sao con gái người phàm lại có thể kết hôn cùng Thần linh hay Quỷ dữ? Thật chẳng ra thể thống gì.’

Tôi chợt nhớ đến điều gì đó tương tự trong Kinh thánh; nhưng giả sử sau từng ấy thời gian chứng kiến chúng tôi, họ vẫn đinh ninh chúng tôi là Thần thánh, thì tôi dại gì mà đi vạch trần ảo tưởng của họ.

‘Thần linh thì muốn làm gì chẳng được,’ tôi bảo. ‘Nếu nhà Vua đã phải lòng một cô nàng thì ngài sẽ chẳng đời nào để cô ta chết đâu.’ ‘Sợ rằng cô ta không thoát nổi,’ Billy Fish đáp. ‘Có đủ loại Thần linh và Quỷ dữ ẩn náu trong chốn núi non này, thỉnh thoảng lại có một cô gái bị bắt đi làm vợ chúng rồi chẳng bao giờ thấy tăm tích trở lại nữa. Hơn nữa, hai người lại nắm giữ Dấu hiệu khắc trên đá cơ mà. Chỉ có Thần linh mới biết được điều đó. Tụi tôi cứ tưởng hai vị chỉ là người phàm cho đến khi chứng kiến dấu hiệu của Bậc Thầy.’

Lúc đó tôi thực sự ước gì mình đã giải thích rõ ràng về vụ thất truyền các bí mật chân chính của một Thậc Thầy Tam điểm ngay từ phút ban đầu; nhưng tôi đành ngậm tăm. Suốt đêm hôm đó, tiếng kèn thổi vang lên inh ỏi từ một ngôi đền nhỏ tối tăm lưng chừng sườn đồi, và tôi nghe tiếng cô gái khóc lóc thảm thiết như đứt từng khúc ruột. Một vị thầy tu cho chúng tôi biết rằng cô ta đang được chuẩn bị để làm lễ cưới nhà Vua.

‘Ta không chấp nhận mấy thứ tào lao đó đâu,’ Dan phán. ‘Ta không muốn xen vào phong tục của các ngươi, nhưng ta có quyền cưới vợ của riêng ta.’ ‘Cô bé có hơi sợ hãi một chút,’ vị thầy tu thanh minh. ‘Cô ấy nghĩ mình sắp chết, và mọi người đang động viên cô ấy dưới đền kìa.’

‘Hãy động viên cô ấy cho thật dịu dàng vào đấy,’ Dravot đe dọa, ‘bằng không ta sẽ dùng báng súng động viên ngươi đến mức chẳng bao giờ muốn được động viên nữa đâu.’ Dan liếm môi, đi lang thang thao thức suốt hơn nửa đêm, tơ tưởng về người vợ mà hắn sắp đón nhận vào sáng hôm sau. Bản thân tôi chẳng thấy thoải mái chút nào, bởi tôi thừa biết việc dính líu đến đàn bà ở xứ người, dù có là Vua đội vương miện hai chục lần đi nữa, cũng tiềm ẩn đầy rẫy hiểm nguy. Tôi dậy từ rất sớm khi Dravot còn đang ngủ say, và bắt gặp mấy vị thầy tu đang thì thầm to nhỏ với nhau, các Tù trưởng cũng túmụ bàn tán, và họ nhìn tôi bằng nửa con mắt đầy dò xét.

‘Có chuyện gì thế Fish?’ tôi hỏi gã người Bashkai — kẻ đang quấn mình trong lớp áo lông thú trông oai phong lẫm liệt.

‘Tôi không dám chắc nữa,’ gã đáp; ‘nhưng nếu anh có thể khuyên nhà Vua từ bỏ cái ý định cưới xin điên rồ này, anh sẽ lập được công lớn cho chính ngài ấy, cho tôi và cho cả anh nữa.’

‘Tôi tin là thế,’ tôi đáp. ‘Nhưng chắc anh cũng thừa biết, Billy ạ, qua những lần sát cánh chiến đấu cùng tụi tôi, rằng nhà Vua và tôi chẳng qua chỉ là hai trong số những gã đàn ông cừ khôi nhất mà Thượng đế từng tạo ra. Chỉ có thế thôi, tôi xin thề danh dự đấy.’

‘Có thể là vậy,’ Billy Fish nói, ‘và tôi sẽ rất lấy làm tiếc nếu thực sự đúng là thế.’ Gã cúi gằm đầu lên tấm áo choàng lông cừu trầm ngâm suy nghĩ một phút. ‘Nhà Vua,’ gã nói tiếp, ‘dù ngài là người hay Thần hay Quỷ, tôi vẫn sẽ sát cánh bên ngài ngày hôm nay. Tôi mang theo hai mươi tráng sĩ, họ sẽ tuân lệnh tôi. Chúng ta sẽ rút về Bashkai cho đến khi cơn bão này qua đi.’

Hơi tuyết đã lất phất rơi trong đêm, và mọi thứ đều trắng xóa ngoại trừ những đám mây béo ngậy xám xịt cuồn cuộn đổ xuống từ hướng bắc. Dravot hiên ngang bước ra với vương miện trên đầu, tay khua khoắng chân dậm thình thịch, trông đắc ý hơn cả trúng số.

‘Lần cuối cùng đấy, bỏ ý định đó đi Dan,’ tôi thì thầm khuyên nhủ; ‘Billy Fish bảo rằng sắp có bạo loạn đến nơi rồi đấy.’

‘Bạo loạn giữa thần dân của ta á!’ Dravot cười khẩy. ‘Còn lâu nhé. Peachey, anh đúng là đồ ngốc khi không chịu kiếm một cô vợ đấy. Cô dâu đâu rồi?’ hắn cất giọng oang oang to như tiếng lừa kêu. ‘Triệu tập toàn bộ Tù trưởng và thầy tu lại, để Hoàng đế xem mặt vợ mình có vừa ý không nào.’

Chẳng cần phải cất công gọi ai cả. Tất cả bọn họ đều có mặt ở đó, tay chống súng và giáo mác vây quanh khoảng đất trống giữa rừng thông. Một đám thầy tu kéo xuống ngôi đền nhỏ để đưa cô dâu lên, tiếng kèn thổi vang lên chói lọi đinh tai nhức óc. Billy Fish lững thững bước vòng lại gần Daniel nhất có thể, và đứng sau gã là hai mươi tráng sĩ súng kíp trên vai — không một tên nào cao dưới sáu thước. Tôi đứng ngay sát Dravot, và đằng sau tôi là hai mươi binh sĩ thuộc lực lượng chính quy. Cô dâu được dẫn lên, quả là một cô nàng vạm vỡ, người trĩu nặng bạc và ngọc lam, nhưng mặt cắt không còn giọt máu, cứ chốc chốc lại ngoái đầu nhìn đám thầy tu.

‘Được đấy,’ Dan lướt mắt đánh giá. ‘Sợ cái gì chứ hỡi cô nương? Lại đây thơm ta một cái nào.’ Hắn vòng tay ôm lấy cô ta. Cô nhắm nghiền mắt, rít lên một tiếng nhỏ, rồi úp phắt mặt vào bộ râu đỏ rực của Dan.

‘Con khốn này cắn ta!’ hắn gầm lên, đưa tay ôm lấy cổ, và quả nhiên bàn tay hắn đẫm máu. Billy Fish cùng hai tay súng kíp lao tới túm chặt vai Dan lôi thốc về phía đám người Bashkai, trong khi lũ thầy tu gào thét bằng thổ ngữ: ‘Chẳng phải Thần cũng chẳng phải Quỷ, chỉ là một gã đàn ông!’ Tôi chết sững người, bởi một tên thầy tu chém tới tấp vào tôi ở phía trước, còn đám quân chính quy đằng sau bắt đầu nã đạn xối xả vào nhóm người Bashkai.

‘Lạy Chúa nhân từ!’ Dan thốt lên, ‘chuyện này nghĩa là thế nào?’

‘Rút lui mau! Chạy ngay đi!’ Billy Fish hét lên. ‘Sụp đổ và Phản loạn rồi. Tụi mình phải phá vòng vây tháo chạy về Bashkai nếu còn kịp.’

Tôi cố gân cổ ra lệnh cho đám quân của mình — đội quân chính quy — nhưng vô ích, thế nên tôi bèn dùng khẩu Martini Anh quốc nã thẳng vào giữa đám đông và hạ gục ba tên ngã gục ngay tại chỗ. Thung lũng ngập tràn tiếng la hét gào thét của lũ sinh vật cuồng nộ, và mọi mồm đều gào lên: ‘Không phải Thần cũng chẳng phải Quỷ, chỉ là một gã đàn ông!’ Đám quân Bashkai chiến đấu sát cánh bên Billy Fish hết mình, nhưng súng kíp của họ chẳng thể đọ lại súng nạp hậu Kabul, và bốn tên đã ngã gục. Dan gầm lên như một con bò mộng vì tức giận lộn ruột; và Billy Fish phải vất vả lắm mới giữ được hắn không lao đầu vào đám đông.

‘Tụi mình không trụ nổi đâu!’ Billy Fish la lớn. ‘Tháo chạy xuống thung lũng mau! Cả cái xứ này đang chống lại tụi mình đấy.’ Đám cầm súng kíp tháo chạy thừng thừng, và chúng tôi tháo lui xuống thung lũng mặc cho sự can ngăn của Dravot. Hắn chửi rủa thậm tệ và tru tréo rằng hắn là một Vua. Lũ thầy tu lăn những tảng đá lớn xuống đầu chúng tôi, đám quân chính quy nã đạn rát rạt, và chỉ còn vỏn vẹn chưa đầy sáu người, không tính Dan, Billy Fish và Tôi, chạy xuống được tận đáy thung lũng còn sống sót.

Rồi tiếng súng ngừng bặt, và những tiếng kèn trong đền lại vang lên. ‘Chạy mau — vì ơn Chúa chạy mau đi!’ Billy Fish giục. ‘Chúng sẽ phái người đi thông báo tới tất cả các làng trước khi tụi mình kịp đặt chân tới Bashkai. Tôi có thể bảo vệ các anh ở đó, chứ giờ thì chịu chết.’

Ý kiến riêng của tôi là Dan bắt đầu phát điên từ khoảnh khắc đó. Hắn trợn trừng mắt nhìn quanh đờ đẫn như một con heo bị chọc tiết. Rồi hắn cứ nằng nặc đòi quay ngược lên một mình để tay không giết sạch lũ thầy tu; việc mà lẽ ra hắn có thể làm được. ‘Ta là một Hoàng đế cơ mà,’ Daniel lảm nhảm, ‘và năm sau ta sẽ trở thành Hiệp sĩ của Nữ hoàng.’

‘Được rồi, Dan ạ,’ tôi khuyên; ‘nhưng giờ thì chuồn lẹ đi còn kịp.’

‘Tại mày cả đấy,’ hắn tru tréo, ‘vì đã không quản lý đám quân của mình cho tốt. Có kẻ phản loạn ngay trong hàng ngũ mà mày không hề hay biết — cái đồ chạy tàu hỏa, rải đường ray, chuyên đi săn ơn huệ của truyền giáo khốn nạn này!’ Hắn ngồi phịch xuống tảng đá và tuôn ra đủ mọi từ ngữ nhơ nhuốc nhất mà hắn biết. Tôi quá chán nản chẳng buồn chấp nhất, dẫu chính sự ngu ngốc của hắn đã gây ra cơ sự thảm họa này.

‘Tôi xin lỗi Dan,’ tôi nói, ‘nhưng làm sao lường trước được lòng dạ dân bản xứ. Vụ này chính là sự kiện Năm mươi bảy của tụi mình đây. Biết đâu tụi mình lại vớt vát được gì đó khi về tới Bashkai.’

‘Thì về Bashkai mau lên,’ Dan gầm, ‘và thề có Chúa, khi tao quay lại đây lần nữa tao sẽ quét sạch cả cái thung lũng này không sót một con rận trong chăn!’

Chúng tôi đi bộ suốt ngày hôm đó, và suốt cả đêm hôm đó Dan cứ lang thang lên xuống trên lớp tuyết, nhai ngấu nghiến bộ râu và lầm bầm một mình.

‘Chẳng còn hy vọng tẩu thoát đâu,’ Billy Fish buông lời. ‘Lũ thầy tu đã sai người đi các làng phao tin rằng các anh chỉ là người phàm. Sao lúc trước các anh không tiếp tục đóng giả Thần linh cho đến khi mọi chuyện vững vàng hơn cơ chứ? Tôi là kẻ chết chắc rồi,’ Billy Fish nói, rồi quăng mình xuống nền tuyết bắt đầu cầu nguyện với các vị Thần của gã.

Sáng hôm sau, chúng tôi lọt vào một vùng đất hiểm trở tột cùng — nhấp nhô lên xuống, hoàn toàn không có khoảng bằng phẳng nào, và cũng chẳng có lấy một hạt gạo. Sáu gã người Bashkai nhìn Billy Fish với ánh mắt đói khát như chực hỏi điều gì nhưng không thốt nổi một lời. Đến trưa, chúng tôi leo lên đỉnh một ngọn núi bằng phẳng phủ đầy tuyết, và khi vừa trèo lên tới nơi, ôi thôi, một Đội quân đang dàn trận chờ sẵn ngay chính giữa!

‘Bọn đưa thư phi nước đại nhanh thật đấy,’ Billy Fish cười nhạt. ‘Chúng đang đợi sẵn chúng ta kìa.’

Ba bốn tên bắt đầu nã đạn từ phía kẻ thù, và một viên đạn lạc trúng ngay bắp chân Daniel. Cú đó kéo hắn bừng tỉnh khỏi cơn mê sương. Hắn nhìn chằm chằm qua lớp tuyết về phía Đội quân, và nhận ra những khẩu súng mà chính tụi mình từng mang vào xứ sở này.

‘Tụi mình tiêu đời rồi,’ hắn lẩm bẩm. ‘Họ là người Anh, những con người này — và chính sự ngu ngốc của ta đã đẩy các anh đến nông nỗi này. Quay về đi Billy Fish, dẫn người của anh đi đi; anh đã làm hết sức rồi, giờ thì chuồn lẹ đi. Carnehan,’ hắn nói tiếp, ‘bắt tay tôi đi và đi theo Billy đi. Biết đâu chúng sẽ tha mạng cho anh. Tôi sẽ ra đối mặt với chúng một mình. Chính tôi gây ra chuyện này! Chính tôi, vị Vua!’

‘Đi đi!’ tôi hét lên. ‘Xuống địa ngục đi Dan! Tôi ở lại đây với anh. Billy Fish, anh xéo đi đi, hai tụi tôi sẽ ra diện kiến bọn chúng.’

‘Tôi là một Tù trưởng,’ Billy Fish điềm tĩnh đáp. ‘Tôi ở lại với các anh. Đám lính của tôi cứ việc đi.’

Mấy gã Bashkai chẳng thèm đợi nghe câu thứ hai, cắm cổ chạy thừng thừng, còn Dan, Tôi và Billy Fish bước băng qua khoảng tuyết về phía những tiếng trống kèn đang rộn rã. Trời lạnh buốt — lạnh thấu xương thấu thịt. Cái lạnh đó giờ vẫn găm chặt ở sau gáy tôi đây này. Nó đọng lại thành một cục ở đó mãi không tan.

Đám phu quạt đã chìm vào giấc ngủ. Hai ngọn đèn dầu hỏa đang bùng cháy trong văn phòng, mồ hôi đầm đìa tuôn rơi trên mặt tôi và nhỏ giọt xuống tờ giấy thấm khi tôi chồm người về phía trước. Carnehan đang run lẩy bẩy, và tôi sợ rằng trí óc gã sẽ sụp đổ hoàn toàn. Tôi lau mặt, siết chặt lấy đôi bàn tay tơi tả tội nghiệp của gã, rồi cất tiếng hỏi: “Chuyện gì xảy ra sau đó?”

Khoảnh khắc chuyển hướng ánh nhìn của tôi đã cắt đứt mạch suy tưởng liền mạch của gã.

“Anh vừa nói gì cơ?” Carnehan rên rỉ. “Bọn chúng túm lấy tụi nó chẳng một tiếng động. Không một tiếng thì thầm dọc bãi tuyết, dẫu nhà Vua có quật ngã tên đầu tiên dám bén mảng chạm tay vào ngài — dẫu lão Peachey có nã viên đạn cuối cùng vào giữa đám đông chúng đi chăng nữa. Không một âm thanh đơn độc nào phát ra từ lũ súc sinh đó. Chúng chỉ siết chặt vòng vây lại, và tôi nói thật với anh cái mùi lông thú của chúng hôi thối kinh khủng. Có một gã tên là Billy Fish, một người bạn tốt của tất cả chúng ta, bị chúng cắt cổ ngay tại chỗ, thưa ngài, y như cắt tiết một con lợn; và nhà Vua đá văng đống tuyết đẫm máu rồi phán, ‘Tụi mình đã có một chuyến phiêu lưu đáng đồng tiền bát gạo rồi đấy. Giờ thì tới lượt gì đây?’ Thế nhưng Peachey, Peachey Taliaferro, tôi xin nói với ngài, thưa ngài, như giữa hai người bạn với nhau, hắn đã mất trí rồi, thưa ngài. Không, hắn không mất trí đâu. Nhà Vua mới là kẻ mất trí, chính thế, tất cả chỉ vì một trong mấy cái cầu dây quỷ quái đó. Làm ơn đưa cho tôi mượn con dao rọc giấy, thưa ngài. Nó nghiêng về phía này. Bọn chúng giải hắn đi suốt một dặm qua lớp tuyết tới một chiếc cầu dây bắc qua khe núi có dòng sông cuồn cuộn ở đáy. Chắc anh từng thấy những cây cầu như thế. Chúng chọc vào lưng hắn y như chọc bò. ‘Đồ khốn nạn!’ nhà Vua thét lên. ‘Bay tưởng tao không biết chết như một quý ông hay sao?’ Hắn quay sang phía Peachey — Peachey lúc đó đang khóc thét lên như một đứa trẻ. ‘Tao đã đẩy mày vào nông nỗi này, Peachey,’ hắn nói. ‘Lôi mày khỏi cuộc đời hạnh phúc để rồi bỏ mạng ở Kafiristan, nơi mày từng là Tổng tư lệnh quân đội của Hoàng đế. Hãy nói là mày tha thứ cho tao đi, Peachey.’ ‘Tôi tha thứ,’ Peachey đáp. ‘Tôi hoàn toàn và rộng lượng tha thứ cho anh, Dan.’ ‘Bắt tay nhau đi Peachey,’ hắn nói. ‘Tôi đi đây.’ Hắn bước ra, chẳng thèm liếc trái ngó phải, và khi ra đến chính giữa những sợi dây đung đưa chóng mặt ấy, ‘Chém đứt đi lũ khốn!’ hắn gầm lên, và chúng chém thật, thế là lão Dan rơi xuống, lộn nhào xoay tròn xoay tròn, suốt hai mươi ngàn dặm, bởi lão mất tận nửa tiếng đồng hồ mới rơi xuống trúng mặt nước, và tôi có thể nhìn thấy thi thể lão bị vướng vào một tảng đá với chiếc vương miện bằng vàng nằm ngay sát bên.

Nhưng anh có biết chúng đã làm gì Peachey giữa hai cây thông không? Chúng đóng đinh hắn lên đó, thưa ngài, y như bàn tay của Peachey đang bày ra đây này. Chúng dùng những cái chốt gỗ đóng vào tay và chân hắn; nhưng hắn không chết. Hắn cứ treo lơ lửng ở đó và gào thét, rồi hôm sau chúng hạ hắn xuống, bảo rằng đó là một phép lạ khi hắn vẫn chưa chết. Chúng hạ hắn xuống — tội nghiệp lão Peachey chẳng làm hại ai bao giờ — chẳng làm hại ai—”

Gã ngả người qua lại rồi khóc nức nở, dùng mu bàn tay chi chít sẹo quệt nước mắt và rên rỉ như một đứa trẻ suốt chừng mười phút.

“Bọn chúng tàn nhẫn đến mức nhốt nuôi hắn trong đền, bởi chúng bảo hắn còn ra dáng Thần thánh hơn cả lão Daniel chết tiệt kia. Rồi chúng tống cổ hắn ra ngoài bão tuyết, bảo hắn xéo về nhà đi, và Peachey đã lết về nhà sau khoảng một năm, vừa đi vừa ăn mày dọc đường khá an toàn; bởi Daniel Dravot cứ đi đằng trước và nhủ, ‘Đi nào Peachey. Cơ nghiệp lớn lắm đấy.’ Núi non ban đêm cứ nhảy múa, núi non cứ chực đè bẹp đầu Peachey, nhưng Dan cứ giơ tay đỡ, còn Peachey cứ lết đi với tấm lưng còng gập. Hắn chẳng bao giờ buông tay Dan ra, và chẳng bao giờ buông rời cái đầu của Dan. Chúng trao nó cho hắn như một món quà trong đền, để nhắc nhở hắn đừng có bén mảng quay lại nữa; và dẫu chiếc vương miện bằng vàng ròng còn Peachey thì đang chết đói, Peachey đời nào chịu bán nó. Anh thừa biết Dravot mà, thưa ngài! Anh từng biết Huynh đệ Đáng kính Dravot chứ! Hãy nhìn hắn bây giờ đi!”

Gã lần mò trong mống giẻ rách quanh cái eo còng cọc; lôi ra một chiếc túi lông ngựa màu đen thêu chỉ bạc; và trút từ đó lên bàn làm việc của tôi — cái đầu khô khốc, quắt queo của Daniel Dravot! Ánh nắng ban mai, thứ từ lâu đã làm lu mờ ánh đèn, chiếu rọi vào bộ râu đỏ cùng đôi mắt trũng sâu mù lòa; rọi lên cả vòng kim hoàn nặng trĩu nạm những viên ngọc lam thô mà Carnehan dịu dàng đặt lên vương miện đã móp méo.

“Ngài đang chiêm ngưỡng đây,” Carnehan cất tiếng, “vị Hoàng đế trong trang phục thuở sinh thời — vị Vua xứ Kafiristan với vương miện đội trên đầu. Tội nghiệp lão Daniel từng một thời là quân vương!”

Tôi rùng mình run rẩy, bởi bất chấp những vết mutilation chằng chịt, tôi vẫn nhận ra cái đầu của gã đàn ông ở ga Marwar Junction. Carnehan lồm cồm đứng dậy toan đi. Tôi định ngăn gã lại. Gã hoàn toàn không đủ sức khỏe để đi dạo lang thang ngoài đường. “Hãy để tôi mang theo ly whisky, và cho tôi chút tiền đi,” gã hổn hển. “Tôi từng là Vua cơ mà. Tôi sẽ đến gặp Phó Tổng sứ quán xin vào Trụ cứu tế cho đến khi khỏe lại. Không, cảm ơn ngài, tôi không đợi ngài kiếm xe cho tôi đâu. Tôi có việc tư khẩn cấp lắm — ở phương nam — tận Marwar cơ.”

Gã lết thết lê bước khỏi phòng làm việc và hướng thẳng về phía nhà riêng của Phó Tổng sứ quán. Trưa hôm đó, tôi có việc phải đi qua con đường Mall lóa mắt vì nắng, và tôi bắt gặp một gã người còng quắp đang bò lê lết trong lớp bụi trắng ven đường, tay cầm chiếc mũ, cất giọng rên rỉ thảm thương theo điệu của những gã ca sĩ đường phố ở Quê nhà. Xung quanh chẳng một bóng người, và gã đứng ngoài tầm tai của mọi ngôi nhà. Gã vừa hát bằng giọng mũi, vừa ngoái đầu từ phải sang trái:

“Con Người bước ra chốn chiến trường,

Vương miện vàng ròng đang ngóng trông;

Cờ máu phấp phới tung bay gió,

Ai bước theo sau bước chân Người?”

Tôi chẳng chờ nghe thêm nữa, liền tống gã khốn khổ lên xe chở thẳng tới nhà truyền giáo gần nhất để chuyển giao vào Trại tế bần. Gã lặp lại bài thánh ca đó hai lần khi đi cùng tôi, dù chẳng hề nhận ra tôi chút nào, và tôi để mặc gã vừa hát vừa giao cho nhà truyền giáo.

Hai ngày sau, tôi ghé qua hỏi thăm tình hình của gã từ vị Giám đốc Trại tế bần.

“Gã được đưa vào trong tình trạng kiệt sức vì say nắng. Gã đã qua đời vào sáng sớm hôm qua,” vị Giám đốc cho hay. “Có đúng là gã đã để trần đầu ngoài nắng gắt giữa trưa suốt nửa tiếng đồng hồ không?”

“Đúng vậy,” tôi đáp; “nhưng ngài có tình cờ biết liệu lúc chết gã có mang theo thứ gì trên người không?”

“Tôi không hề thấy,” vị Giám đốc đáp.

Và câu chuyện khép lại từ đó.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.