Bức Họa Dorian Gray

Lượt đọc: 192 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG VII

❊ ❊ ❊

Chẳng biết vì đâu, khu khán giả sầm uất đêm đó, và lão quản lí béo mập người Do Thái đón họ ở cửa với cái miệng rạng rỡ ngoác tận mang tai kèm nụ cười hinh hích trơn tru.Lão hộ tống họ đến buồng bằng vẻ khiêm cung kiểu cách, khua đôi bàn tay béo núc đeo ngọc, và nói chuyện bằng quãng giọng cao nhất. Dorian Gray tởm lợm lão hơn bao giờ hết. Chàng cảm tưởng mình đến tìm nàng Miranda mà vớ phải tên Caliban. Ngài Henry, mặt khác, lại khá thích lão. Ít nhất gã bày tỏ vậy, và nhất định đòi bắt tay lão, và quả quyết rằng mình hãnh diện được gặp mặt người đã phát hiện một thiên tài thực thụ và đến chỗ phá sản vì thi ca. Hallward ngắm nhìn những gương mặt dưới ghế trũng giải khuây. Hơi nóng ngột ngạt khủng khiếp, và vầng sáng khổng lồ bừng phả như một bông thược dược quái đản với cánh hoa lửa vàng. Đám thanh niên trên khán đài đã cởi áo khoác và gi-lê mà treo lên bên cạnh. Chúng tán láo với nhau xuyên dọc rạp hát, và chuyền tay những trái cam cho các cô ả loè loẹt ngồi gần. Đám đàn bà nào đó đang cười hô hố dưới ghế trũng. Giọng họ chói lói và nghịch nhĩ khủng khiếp. Tiếng bật nút bần lốp bốp từ phía quầy uống.

“Quả là chốn miễn chê để tìm thấy nữ thần!” Ngài Henry nói.

“Vâng!” Dorian Gray trả lời. “Chính chỗ này em tìm thấy nàng, và nàng thiêng liêng vượt ra ngoài mọi vật sống. Khi nàng diễn anh sẽ quên mọi sự. Những con người tầm thường, thô kệch, mang gương mặt lỗ mãng và cử chỉ cục cằn này, trở nên khác hẳn khi nàng lên sân khấu. Họ ngồi im lặng và xem nàng. Họ khóc và cười theo ý chí nàng điều khiển. Nàng khiến họ nhạy đáp như một cây vĩ cầm. Nàng giúp họ hướng thượng, và người ta cảm nhận rằng họ có cùng máu thịt với mình.”

“Có cùng máu thịt với mình! Ôi, tôi mong là đừng!” Ngài Henry ta thán, gã đang rà quét khách khứa trên khán đài bằng cái ống nhòm đi rạp của mình.

“Đừng để tâm cậu ta, Dorian,” người hoạ sĩ nói. “Anh hiểu lòng em, và anh tin ở cô gái này. Người mà em yêu hẳn phải tuyệt diệu, và cô gái nào sở hữu ấn tượng em miêu tả hẳn phải tốt đẹp và cao thượng. Hướng thượng một thời đại – đó là việc đáng làm. Nếu cô gái này có thể trao tặng linh hồn cho những người sống mà không có nó, nếu nàng có thể tạo tri giác về cái đẹp lên những người sống trong đê hèn và xấu xí, nếu nàng có thể tước khỏi họ tính vị kỉ và cho họ mượn dòng lệ tuôn từ nỗi buồn không thuộc về mình, nàng xứng đáng với tất cả cuồng si của em, xứng đáng với sự cuồng si của cả thế giới. Cuộc hôn nhân này hoàn toàn đúng đắn. Ban đầu anh đã không nghĩ vậy, nhưng giờ đây anh thừa nhận. Thần thánh tác tạo Sibyl Vane cho em. Vắng nàng em sẽ không hoàn thiện.”

“Cảm ơn anh, Basil,” Dorian Gray trả lời, siết chặt tay anh. “Em biết anh sẽ hiểu em mà. Anh Harry quá hoài nghi, anh ấy làm em rợn người. Nhưng đây là dàn nhạc. Nó khá khủng khiếp, nhưng chỉ còn khoảng năm phút thôi. Rồi màn kéo lên, và anh sẽ thấy cô gái mà em sắp dâng trọn đời mình, người đã ban tặng mọi điều tử tế trong em.”

Một khắc sau, giữa tràng pháo tay náo động lạ thường, Sibyl Vane bước lên sân khấu. Vâng, nàng trông quả thật đáng yêu – một tạo vật đáng yêu nhất, Ngài Henry nghĩ, mà gã từng được trông. Có gì đó ở loài nai tơ trong vẻ duyên dáng e thẹn và đôi mắt thảng thốt của nàng. Một sắc đỏ nhạt, như bóng hồng trong gương bạc, lướt qua má khi nàng liếc về khu khán giả đông đúc, nhiệt tình. Nàng lùi vài bước, và môi nàng dường như run rẩy. Basil Hallward nhảy dựng lên và bắt đầu vỗ tay. Bất động, như chìm trong mơ, ngồi đó là Dorian Gray, chăm chú nhìn nàng. Ngài Henry dòm qua cặp ống kính, lẩm bẩm, “Mê hoặc! Mê hoặc!”

Cảnh phông là đại sảnh nhà Capulet, và Romeo trong bộ áo hành hương bước vào cùng Mercutio và bạn bè. Ban nhạc, vẫn chỉ đến thế, tấu lên vài nhịp, và điệu nhảy bắt đầu. Xuyên suốt đám kép hát ăn vận xoàng xĩnh, kém duyên, Sibyl Vane uyển chuyển như một tạo vật đến từ thế giới cao quí hơn. Thân mình nàng xoay, khi nàng múa, như một cây thân thảo xoay trong dòng nước. Đường cong nơi cổ họng nàng là đường cong của bông huệ trắng. Đôi tay nàng dường như làm từ ngà mát.

Tuy nhiên nàng lơ đãng lạ kì. Nàng chẳng biểu lộ niềm vui khi mắt nàng lặng nhìn Romeo. Vài lời ít ỏi

Hỡi kẻ hành hương ngoan đạo, chàng tàn tệ quá đỗi, Với đôi tay mình cung hiến lòng thành;

Bởi nữ thánh và kẻ hành hương cầm tay chẳng nên tội,

Tay trong tay là nụ hôn của giới tu hành[1] cùng mẩu đối thoại ngắn theo sau, được nói theo vẻ vô cùng giả tạo. Giọng nói rất thanh tú, nhưng từ quan điểm sắc điệu thì hoàn toàn dối dá. Nó sai màu. Nó vứt hết chất đời khỏi câu thơ. Nó khiến đam mê không thành thật.

Dorian Gray càng xem càng tái mặt. Chàng bối rối và lo âu. Cả hai người bạn chẳng nỡ nói gì chàng. Nàng trong họ chừng như hoàn toàn bất tài. Họ thất vọng khủng khiếp.

Tuy nhiên họ nhận thấy thử thách thực thụ của bất kì Juliet nào là ở cảnh ban-công trong hồi hai. Họ chờ cảnh đó. Nếu nàng hỏng hồi ấy, thì chẳng có gì ở nàng cả.

Nàng trông quyến rũ khi bước ra ánh trăng. Điều này chẳng thể phủ nhận. Nhưng chất kịch trong diễn xuất của nàng thật không chấp nhận nổi, và càng diễn càng tệ thêm. Cử chỉ của nàng giả tạo đến ngớ ngẩn. Nàng gồng lên nhấn nhá mọi câu mình nói. Đoạn thơ đẹp đẽ

Chàng biết tấm mạng đêm che lên khuôn mặt, Bằng không sắc đồng trinh trên má em ửng hắt

Bởi những lời chàng nghe em lỡ nói mất đêm nay[2] bị ngâm lên với độ chính xác đau đớn của một cô học trò được dạy đọc thuộc lòng từ một giáo sư ngâm thơ thứ cấp nào đó. Khi nàng cúi xuống ban-công và đến những dòng tuyệt vời

Dù bên chàng em mừng vui ngây ngất, Chẳng mừng vui với đính ước đêm nay: Quá bất ngờ, khinh suất, vội vàng thay; Như ánh chớp, đã thình lình vội tắt

Trước lúc kịp reo, “Kìa chớp.” Chúc giấc say! Hơi mùa hạ chín đỏ phả lên chồi yêu mới Chứng cho bông hoa đẹp nở trong lần gặp tới[3] nàng buông ra như thể chúng vô nghĩa với mình. Đây không phải sự căng thẳng. Quả thực, rất xa với căng thẳng, nàng hoàn toàn hàm ý. Đây đơn giản là nghệ thuật tồi. Nàng đã thất bại triệt để.

Ngay đám khán giả tầm thường, ít học dưới ghế trũng và trên khán đài cũng mất hứng với vở diễn. Họ bất bình, rồi khởi sự nói oang oang và huýt gió. Lão quản lí Do Thái, đứng trong cùng tầng lễ phục, giậm chân thình thịch và chửi rủa trong thịnh nộ. Người duy nhất không động tâm là chính cô gái.

Khi hồi hai kết thúc có một cơn bão rít lên, rồi Ngài Henry đứng dậy khỏi ghế và mặc áo khoác vào. “Cô bé rất mực xinh đẹp, Dorian,” gã nói, “nhưng cô ấy không biết diễn. Ta đi thôi.”

“Em sẽ xem hết vở kịch,” chàng trai trả lời, bằng giọng gai góc, cay đắng. “Em vô cùng xin lỗi đã làm uổng phí buổi tối của anh, Harry. Em xin hai anh thứ lỗi.”

“Dorian thân mến, anh nghĩ là Cô Vane đang bệnh,” Hallward xen lời. “Chúng ta sẽ đến đêm khác.”

“Em những mong nàng bệnh lắm,” chàng tiếp. “Nhưng trong em nàng dường như đơn thuần vô cảm và giá băng. Nàng hoàn toàn biến đổi. Đêm qua nàng là một nghệ sĩ vĩ đại. Đêm nay nàng chỉ là một ả đào tầm thường, xoàng xĩnh.”

“Đừng nói như vậy về người em yêu, Dorian ạ. Tình Yêu là điều tuyệt vời hơn Nghệ Thuật.”

“Cả hai đều là hình thức đơn sơ của mô phỏng mà thôi,” Ngài Henry bình phẩm. “Nhưng ta hãy đi thôi. Dorian, cậu đừng nên ở đây thêm nữa. Chứng kiến diễn xuất tồi không tốt cho đạo đức người ta. Vả lại, tôi không cho rằng cậu sẽ muốn vợ mình diễn kịch. Thế thì quan trọng gì nếu cô ấy đóng vai Juliet như một con nộm gỗ? Nàng rất đáng yêu, và nếu nàng ít biết về cuộc sống như thể về diễn xuất, nàng sẽ là một trải nghiệm thú vị. Chỉ có hai loại người thực sự mê hoặc – người rành rọt mọi sự, và người chẳng rành rọt sự gì. Trời đất, cậu bé thân mến, đừng trông bi thảm thế! Bí quyết của việc duy trì tuổi trẻ là đừng bao giờ bày tỏ cảm xúc không hợp cảnh. Đến hội quán với Basil và anh cậu đi. Chúng ta sẽ hút thuốc và uống mừng sắc đẹp của Sibyl Vane. Nàng rất xinh đẹp. Cậu còn có thể muốn gì hơn?”

“Đi đi, Harry,” chàng trai kêu lên. “Em muốn được một mình. Basil, anh cũng phải đi. A! Anh không thấy trái tim em đang tan nát ư?” Nước mắt nóng tràn lên mắt chàng. Môi chàng run rẩy, và, lao về cuối buồng, chàng dựa vào tường, giấu mặt trong lòng bàn tay.

“Ta đi vậy, Basil,” Ngài Henry nói, bằng giọng dịu dàng khác lạ; và hai người đàn ông trẻ cùng nhau ra ngoài.

Lát sau đèn sàn bùng sáng, và màn kéo lên cho hồi ba. Dorian Gray về lại chỗ ngồi. Chàng trông nhợt nhạt, bóng nhẫy, và lãnh đạm. Vở kịch lê thê, tưởng như không bao giờ kết thúc. Phân nửa khán giả đã bỏ về, bước thình thịch trong đôi giày ống nặng, và cười cợt. Toàn bộ buổi diễn đã hỏng bét. Hồi cuối được diễn cho băng ghế gần như trống. Tấm màn hạ xuống trong tiếng cười khùng khục, và vài lời càu nhàu.

Ngay sau khi kết thúc, Dorian Gray vội vã lao ra hậu trường vào phòng chờ. Cô gái đang đứng một mình, với khuôn mặt vang ca khúc khải hoàn. Mắt nàng sáng lên trong ngọn lửa mãnh liệt. Có ánh rạng ngời ở nàng. Đôi môi nàng khép hờ đang cười nụ cho bí mật nào đó của chúng.

Khi chàng vào tới, nàng nhìn chàng, và biểu hiện của niềm vui vô bờ ập đến nàng. “Đêm nay em diễn dở quá đi thôi, Dorian!” nàng kêu lên.

“Khủng khiếp!” chàng trả lời, chằm chằm nhìn nàng kinh ngạc – “Khủng khiếp! Quá đáng sợ! Em bị bệnh sao? Em không biết thế nào đâu. Em không biết anh đã đau khổ thế nào đâu.”

Cô gái cười tủm tỉm. “Dorian,” nàng trả lời, kéo dài tên chàng với tiếng nhạc ngân nga trong giọng nói, như thể nó ngọt ngào hơn mật ong đối với đôi cánh hoa hồng trên miệng nàng. “Dorian, anh phải hiểu chứ. Nhưng giờ anh đã hiểu rồi, phải không?”

“Hiểu gì?” chàng giận dữ hỏi.

“Cớ sao em làm quá dở đêm nay. Cớ sao em sẽ luôn luôn làm dở. Cớ sao em sẽ không bao giờ lại diễn tốt được nữa.”

Chàng nhún vai. “Em đang bệnh, anh đồ rằng thế. Khi mắc bệnh em không nên diễn. Em khiến bản thân thành trò cười. Các bạn anh buồn lòng. Anh cũng buồn lòng.”

Dường như nàng không lắng nghe chàng. Nàng được tân trang bởi niềm vui. Niềm hạnh phúc ngây ngất ngự trị nàng.

“Dorian ơi, Dorian ơi,” nàng kêu lên, “trước khi biết anh, ca kịch là hiện thực duy nhất của đời em. Chỉ trong rạp hát em mới sống. Em từng nghĩ rằng đó là tất cả thực tại. Em là Rosalind đêm này, và Portia đêm khác. Niềm vui của Beatrice là niềm vui của em, và nỗi buồn của Cordelia cũng là của em. Em tin vào mọi thứ. Những người tầm thường diễn chung với em tựa như là thần thánh. Cảnh phông tô vẽ là thế giới của em. Em chẳng biết gì ngoài bóng đen, và em đã nghĩ chúng là thật. Anh đến – chao ôi, tình yêu đẹp đẽ của em! – và anh giải phóng linh hồn em khỏi ngục tù. Anh dạy em hiện thực thật sự là gì. Đêm nay, lần đầu tiên trong đời, em nhìn thấu sự trống rỗng, điệu giả cách, tính ngờ nghệch của gánh hát mà em hằng diễn. Đêm nay, lần đầu tiên, em nhận ra rằng Romeo ghê tởm, già nua, và tô vẽ, rằng ánh trăng trong vườn quả là dối dá, rằng cảnh phông là dung tục, và rằng lời thoại em phải nói là không thật, không phải lời em, không phải điều em muốn nói. Anh đã mang đến em điều gì cao hơn, điều mà tất cả nghệ thuật phản ánh. Anh đã khiến em hiểu tình yêu thật sự là gì. Tình yêu! Tình yêu! Hoàng Tử Quyến Rũ! Hoàng tử lòng em! Em đã phát bệnh với bóng đen. Trong em anh hơn tất cả những gì nghệ thuật có được. Em phải làm gì với con rối của vở kịch? Khi em bước lên đêm nay, em không hiểu được bằng cách nào mọi thứ biến mất trong em. Em nghĩ mình sẽ tuyệt vời. Em thấy mình chẳng thể làm gì. Đột nhiên hé rạng trong linh hồn em tất cả ý nghĩa. Sự biết thật mãnh liệt với em. Em nghe họ rú rít, và em mỉm cười. Họ biết gì về tình yêu như của chúng ta? Mang em đi xa, Dorian – mang em đi xa cùng anh, nơi chỉ có hai ta. Em ghét sàn diễn. Có lẽ em bắt chước được đam mê mà mình không cảm nhận, nhưng em không thể bắt chước được thứ thiêu đốt mình như lửa. Chao ôi, Dorian, Dorian, bây giờ anh hiểu tầm quan trọng rồi chứ? Ngay cả nếu em có làm được, sẽ là báng bổ cho em khi diễn kịch lúc đang yêu. Anh đã khiến em biết ra điều đó.”

Chàng ném mình xuống ghế dài, và quay mặt đi. “Cô đã giết chết tình yêu của tôi,” chàng nói khẽ.

Nàng nhìn chàng kinh ngạc, và cười lên. Chàng không trả lời. Nàng đến bên chàng, và bằng những ngón tay nhỏ nàng vuốt tóc chàng. Nàng quì xuống ấn tay chàng lên môi mình. Chàng giằng tay ra, và một cơn rùng mình chạy qua người.

Rồi chàng đứng lên, đi ra phía cửa. “Phải,” chàng kêu lên, “cô đã giết chết tình yêu của tôi. Cô từng khuấy động trí tưởng tượng tôi. Giờ đây cô không khuấy động được cả trí tò mò. Cô đơn thuần chẳng còn ấn tượng gì. Tôi từng yêu cô vì cô tuyệt diệu, vì cô có thiên tài và trí tuệ, vì cô nhận ra ước mơ của những thi sĩ vĩ đại và tạo hình tạo chất cho bóng đen nghệ thuật. Cô đã vứt chúng đi hết. Cô nông cạn và ngu ngốc. Chúa ơi! Tôi đã từng yêu cô cuồng dại đến thế! Tôi đã quá khờ dại làm sao! Cô chẳng là gì với tôi bây giờ. Tôi sẽ không bao giờ gặp lại cô nữa. Tôi sẽ không bao giờ nghĩ về cô. Tôi sẽ không bao giờ nhắc tên cô. Cô không biết mình đã như thế nào trong tôi, đã từng. Tại sao, chỉ là đã từng… Ôi, tôi không thể chịu nổi ý nghĩ đó! Tôi ước mình chưa bao giờ từng gặp cô! Cô phá hỏng mối lãng mạn đời tôi. Cô biết ít về tình yêu lắm thay, khi cô nói nó làm hỏng nghệ thuật! Không có nghệ thuật cô chẳng là gì. Tôi đáng lẽ khiến cô nổi danh, lộng lẫy, tráng lệ. Thế giới đáng lẽ tôn thờ cô, và cô đáng lẽ được mang họ tôi. Giờ đây cô là gì? Một ả đào mạt hạng với gương mặt xinh xắn.”

Cô gái chuyển trắng bệch, và run rẩy. Nàng nắm chặt đôi bàn tay với nhau, và giọng nàng dường như nghẹn trong cổ họng. “Anh không nghiêm túc chứ, Dorian?” nàng lẩm bẩm. “Anh đang đóng kịch.”

“Đóng kịch! Tôi nhường phần cho cô. Cô làm nó rất giỏi,” chàng cay đắng trả lời.

Nàng nhảy lên dù đang quì, và, với biểu cảm thảm thương của niềm đau trên gương mặt, băng ngang phòng đến cạnh chàng. Nàng đặt tay lên cánh tay chàng, và nhìn vào mắt chàng. Chàng đẩy nàng lại. “Đừng động vào tôi!” chàng kêu lên.

Một tiếng rên trầm vỡ ra, và nàng ném mình xuống, rồi nằm đó như bông hoa bị chà đạp. “Dorian, Dorian, đừng rời bỏ em!” nàng thầm thì. “Em rất xin lỗi vì đã không diễn tốt. Em nghĩ đến anh suốt buổi. Nhưng em sẽ gắng – quả thực, em sẽ gắng. Nó ập đến em đột ngột quá, tình yêu em dành cho anh. Em nghĩ mình sẽ chẳng bao giờ biết đến nếu anh không hôn em – nếu chúng ta không hôn nhau. Lại hôn em đi, tình yêu của em. Đừng rời xa em. Em không chịu được. Than ôi! đừng rời xa em. Em trai em… Đừng, đừng để tâm. Nó không có ý đó. Nó nói đùa thôi… Nhưng anh, than ôi! anh không thể tha thứ cho em đêm nay chăng? Em sẽ làm việc hết sức, và gắng cải thiện. Đừng tàn nhẫn với em vì em yêu anh hơn hết thảy sự đời. Suy cho cùng, đây là lần duy nhất em từng khiến anh không đẹp lòng. Nhưng anh hoàn toàn đúng, Dorian. Em nên thể hiện bản thân mình nhiều hơn dưới tư cách nghệ sĩ. Đó là chuyện dại dột của em; dầu vậy em không ngăn mình được. Than ôi, đừng rời bỏ em, đừng rời bỏ em.” Một cơn thổn thức nức nở chẹt lấy cổ nàng. Nàng ép mình xuống sàn như một vật bị thương, còn Dorian Gray, bằng đôi mắt đẹp đẽ, nhìn xuống nàng, và đôi môi như tạc cong lên trong niềm khinh bỉ sâu sắc. Luôn có điều gì đó nực cười trong cảm xúc của người mà ta đã thôi yêu. Chừng như với chàng, Sibyl Vane đầy tính kịch mê-lô lố bịch. Nước mắt và tiếng thổn thức của nàng làm phiền lòng chàng.

“Tôi đi đây,” cuối cùng chàng nói, bằng giọng điềm tĩnh, rõ ràng. “Tôi không mong muốn bất nhẫn, nhưng tôi không thể nhìn cô được nữa. Cô làm tôi vỡ mộng.”

Nàng lặng lẽ khóc, và không trả lời, nhưng rụt rè bò lại gần. Đôi bàn tay nhỏ của nàng với với mù quáng, và tuồng như tìm kiếm chàng. Chàng quay gót, rồi rời phòng. Chỉ lát sau chàng đã bên ngoài rạp hát.

Nơi chàng đến chàng cũng khó biết. Chàng nhớ mình lang thang xuyên các con phố tù mù, qua các cổng vòm đen bóng vắng ngắt và những ngôi nhà trông nanh ác. Đám đàn bà bằng giọng nói khàn và giọng cười khô khốc gọi với theo sau chàng. Đám bợm rượu bước loạng choạng theo tiếng chửi thề, và nói lảm nhảm một mình như con khỉ quái đản. Chàng nhìn thấy bầy trẻ con kì khôi túm tụm nhau trên ngạch cửa, và nghe thấy tiếng thét với văng tục từ mảnh sân ảm đạm.

Đoạn bình minh ló rạng chàng thấy mình gần Vườn Covent. Bóng tối bị nhấc ra, và, hửng lên trong tia lửa yếu, bầu trời tự đánh bóng mình thành viên ngọc trai hoàn hảo. Những chiếc xe cải tiến chở đầy các bông huệ gật gù đi ầm ầm chầm chậm xuống con phố bóng loáng vắng ngắt. Bầu không ngào ngạt hương hoa, và vẻ đẹp của chúng dường như mang đến chàng liều thuốc xoa dịu niềm đau. Chàng theo bước vào chợ, và quan sát mọi người dỡ hàng trên xe thồ. Một bác kéo xe mặc bờ-lu trắng mời chàng vài trái anh đào. Chàng cảm ơn bác, tự hỏi lòng sao bác từ chối lấy tiền quả, rồi bắt đầu lơ đãng ăn chúng. Chúng được hái vào nửa đêm, và đã ngấu hơi lạnh của ánh trăng. Một hàng dài mỏng các cậu bé ôm thúng đựng uất kim hương sọc, và hồng nhung hồng vàng, diễu qua trước mặt chàng, khéo lách qua những chồng rau to sụ màu xanh ngọc. Dưới cổng trụ, với những cột trụ bạc màu nắng của mình, lảng vảng một toán đám con gái lướt thướt để đầu trần, chờ đợi cuộc

đấu giá kết thúc. Những người khác chen chúc nhau quanh cánh cửa đung đưa của tiệm cà-phê trong Quảng Trường Chợ. Chiếc xe ngựa thồ nặng nề trượt và giẫm lên nền đá khô ráp, rung chuỗi lục lạc và hành lí của mình. Vài tay đánh xe nằm ngủ trên đống bao tải. Những con bồ câu cổ tím chân hồng chạy quanh nhặt hạt.

Một lát sau, chàng gọi một chiếc han-xăm, và đánh xe về nhà. Trong ít phút chàng tha thẩn trước hiên nhà, nhìn quanh nơi Quảng Trường im ắng với những ô cửa sổ đóng trống trợn, và tấm mành che lồ lộ của nó. Nền trời lúc này xanh màu ô-pan thuần khiết, còn các mái nhà lấp lánh như bạc soi. Từ ống khói đối diện đâu đó một làn khói mỏng cuộn lên. Nó cuốn tròn, một dải ruy-băng tím, xuyên bầu không màu xà cừ.

Bên trong chiếc đèn lồng lớn xứ Venice thếp vàng, lợi phẩm từ chiếc xà-lan nào đó của ngài Tổng Trấn, đang treo trên trần gian sảnh đón rộng lát gỗ sồi, đèn vẫn cháy từ ba tia lửa bập bùng: tựa như những cánh hoa lửa lam mỏng, viền quanh bằng lửa trắng. Chàng tắt đèn, rồi, ném mũ cùng áo choàng lên bàn, xuyên qua thư phòng hướng về cửa phòng ngủ, một căn buồng lớn hình bát giác ở tầng trệt, với thị hiếu mới nhất của mình về sang trọng, chàng vừa tự trang trí cho mình, và treo vài tấm thảm tường kì lạ thời Phục Hưng tìm thấy được cất trữ trong căn gác xép bỏ không ở vùng Hoàng Gia Selby. Vừa khi xoay tay nắm cửa, mắt chàng hướng thẳng vào bức chân dung Basil Hallward đã vẽ mình. Chàng giật thót mình như kinh ngạc. Rồi đi vào phòng riêng, trông hơi lúng túng. Sau khi tháo cúc áo, chàng dường như lưỡng lự. Rốt cuộc chàng quay lại, đến sát bức hoạ, và xem xét nó. Dưới ánh sáng mờ mịt bị giam hãm đang vẫy vùng chiếu xuyên tấm mành lụa màu kem, gương mặt hiện ra trước chàng có đôi chút thay đổi. Biểu cảm trông khác đi. Người ta hẳn nói rằng có một nét tai ác trên miệng. Điều này hiển nhiên kì lạ.

Chàng quay ra, rồi, tiến đến cửa sổ, kéo tấm mành lên. Bình minh sáng sủa tràn vào ngập phòng, và quét các mảng bóng tối kì quái vào những góc mờ mịt, nơi chúng nằm run rẩy. Nhưng biểu cảm kì lạ mà chàng nhận thấy trên gương mặt bức chân dung vẻ như nán lại đó, thậm chí còn dữ dội hơn. Ánh nắng nồng nhiệt, rung rinh phơi trước chàng vệt kẻ tai ác quanh cái miệng rõ rệt như thể chàng đang soi vào gương sau lúc mình vừa làm điều gì gớm guốc.

Chàng nhăn mặt, rồi, vớ lấy từ trên bàn chiếc kính lúp ô-van viền chạm trổ thần Cupid ngà, một trong nhiều món quà của Ngài Henry tặng, liếc vội vào những chỗ tận cùng bóng bẩy của nó. Không vệt kẻ nào bẻ cong đôi môi đỏ của chàng. Vậy nghĩa là sao?

Chàng dụi mắt, rồi dí sát bức hoạ, rồi xem xét lần nữa. Không có vết tích gì của thay đổi khi chàng nhìn vào bức hoạ chân thực, và dầu thế không nghi ngờ gì rằng toàn bộ biểu cảm bị biến đổi. Nó không phải là tưởng tượng thuần tuý của riêng chàng. Điều này rành rõ khủng khiếp.

Chàng quăng mình xuống ghế, và khởi sự suy nghĩ. Đột nhiên có ánh chớp lóe qua tâm trí về những điều chàng từng nói ở phòng hoạ của Basil Hallward trong cái ngày bức hoạ hoàn thành. Vâng, chàng nhớ y nguyên. Chàng đã thốt lên điều ước rồ dại rằng chính mình được trẻ mãi, còn bức chân dung già đi; rằng sắc đẹp chàng không tàn, còn gương mặt trên nền vải bạt đỡ lấy gánh nặng của đam mê và tội lỗi chàng; rằng tấm tranh vẽ bị đóng hằn những đường nhăn của đau khổ và suy nghĩ, và rằng chàng được giữ tất thảy tuổi xuân thanh tú cùng vẻ đáng yêu của mình sau khi vừa mới ý thức ra tuổi trẻ. Chắc chắn điều ước chàng không được thoả nguyện ư? Những điều như vậy thật không thể nào. Nó có vẻ quái đản ngay từ suy nghĩ. Và, tuy thế, bức hoạ ở đây trước mắt chàng, với nét tai ác trên miệng.

Tai ác! Chàng đã làm ác chăng? Đó là lỗi do cô gái, không phải do chàng. Chàng đã mơ về nàng như một nghệ sĩ vĩ

đại, và trao tình cho nàng vì chàng nghĩ về sự vĩ đại của nàng. Thế rồi nàng khiến chàng vỡ mộng. Nàng nông cạn và không xứng đáng. Và, tuy vậy, một cảm giác nuối tiếc vô bờ ập đến chàng, khi chàng nghĩ về nàng nằm dưới đất thổn thức khóc như đứa trẻ nhỏ. Chàng nhớ vẻ vô cảm của mình lúc nhìn nàng. Tại sao chàng đến mức ấy? Tại sao một linh hồn như thế lại được trao cho chàng? Nhưng chàng cũng đau lắm. Suốt ba giờ đồng hồ vở kịch kéo lê, chàng sống hàng thế kỉ trong đau khổ, kiếp nối kiếp trong tra tấn. Đời chàng rất xứng đáng với nàng. Nàng làm tổn hại chàng một giây, chàng làm tổn thương nàng một kiếp. Vả lại, phụ nữ phù hợp để gánh lấy nỗi buồn hơn đàn ông. Họ sống bằng cảm xúc mình. Họ chỉ nghĩ về cảm xúc mình. Khi họ giao tình, đó đơn thuần là có được ai đó để họ giao duyên. Ngài Henry từng bảo chàng thế, và Ngài Henry biết rõ phụ nữ. Tại sao chàng phải phiền muộn về Sibyl Vane? Giờ đây nàng chẳng là gì với chàng nữa.

Thế còn bức hoạ? Chàng nói gì về nó? Nó nắm giữ bí mật đời chàng, và kể câu chuyện chàng. Nó đã dạy chàng yêu vẻ đẹp chính mình. Liệu nó sẽ dạy chàng ghê tởm linh hồn chính mình? Liệu chàng có bao giờ nhìn lại nó?

Không; nó đơn thuần là ảo giác đến từ các giác quan muộn phiền. Buổi đêm khủng khiếp chàng vừa qua đã để lại bóng ma theo sau. Đột nhiên thả xuống não chàng đốm đỏ tươi nhỏ xíu khiến lòng người hoá dại. Bức hoạ không hề thay đổi. Thật ngớ ngẩn khi nghĩ vậy.

Dầu vậy nó đang quan sát chàng, với gương mặt đẹp bị tàn phá và nụ cười tai ác của mình. Mái tóc sáng của nó bóng lên trong nắng sớm. Đôi mắt xanh của nó gặp chàng. Một cảm giác tiếc thương vô bờ, không phải cho mình, mà cho bức tranh vẽ chính mình, ập đến chàng. Nó đã biến đổi rồi, và sẽ biến đổi nữa. Vàng của nó sẽ ngả xám. Bông hồng đỏ và trắng của nó sẽ tàn lụi. Hễ mỗi tội lỗi chàng phạm, một vết nhơ sẽ vấy lên và tàn phá vẻ ngay thẳng của nó. Nhưng chàng sẽ không gây tội. Bức hoạ, đổi hay không đổi, sẽ làm biểu trưng hữu hình của lương tâm trong chàng. Chàng sẽ chống cự cám dỗ. Chàng sẽ không gặp Ngài Henry nữa – sẽ không, bất kể thế nào, lắng nghe những lí thuyết độc hại tinh vi mà trong vườn nhà Basil Hallward đã khuấy lên lần đầu tiên trong chàng niềm đam mê những điều hoang đường. Chàng sẽ quay về bên Sibyl Vane, bù đắp cho nàng, cưới nàng làm vợ, gắng yêu nàng trở lại. Vâng, đó là nhiệm vụ chàng cần làm. Nàng hẳn đã đau khổ nhiều hơn chàng. Sức mê hoặc nàng từng ngự trị chàng sẽ quay trở lại. Họ sẽ hạnh phúc bên nhau. Đời chàng có nàng sẽ đẹp tươi và tinh khiết.

Chàng rời khỏi ghế, rồi kéo tấm bình phong lớn ngay trước bức chân dung, rùng mình khi liếc thấy nó. “Thật kinh khiếp!” chàng lẩm bẩm một mình, rồi bước đến cửa sổ và mở toang. Lúc bước ra bãi cỏ, chàng hít một hơi sâu. Hơi lành buổi sáng dường như xua đi tất thảy đam mê u tối của chàng. Chàng chỉ nghĩ về Sibyl thôi. Một tiếng vọng mờ nhạt của tình yêu trở lại nơi chàng. Chàng gọi lại tên nàng lần nữa và lần nữa. Bầy chim ca hát trong khu vườn đẫm sương tuồng như đang kể các đoá hoa nghe về nàng.

❀ ❀ ❀

[1] Trích đoạn, theo thứ tự lần lượt: Hồi I, Màn V và Hồi II, Màn II, vở Romeo và Juliet của William Shakespeare.

[2] Trích đoạn, theo thứ tự lần lượt: Hồi I, Màn V và Hồi II, Màn II, vở Romeo và Juliet của William Shakespeare.

[3] Trích đoạn, theo thứ tự lần lượt: Hồi I, Màn V và Hồi II, Màn II, vở Romeo và Juliet của William Shakespeare.

Dịch giả Nguyễn Tuấn Linh và Book Hunter
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.