Bên Phía Nhà Swann

Lượt đọc: 26 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tên Địa Danh: Cái Tên

❊ ❊ ❊

Trong số những căn phòng thường hay hiện hình trong tâm trí tôi vào những đêm dài mất ngủ, chẳng có căn phòng nào khác biệt hoàn toàn với những căn phòng tại Combray vốn dày đặc những hạt bụi lơ lửng trong bầu không khí li ti, đượm phấn hoa, ngỡ như có thể nuốt được và thấm đẫm sự kính cẩn bằng căn phòng của tôi tại khách sạn Grand Hôtel de la Plage ở Balbec. Những bức tường ở đây được sơn quét bóng loáng, tựa như lòng máng nhẵn thín nơi làn nước ánh lên thứ lửa xanh ẩn giấu, chứa đựng một bầu không khí trong lành hơn, tinh khiết, ngả màu da trời và mang vị mặn của biển. Người thợ bọc nệm người Bavaria được giao phó việc trang hoàng khách sạn này đã biến hóa phong cách trang trí ở các phòng khác nhau; và trong căn phòng tôi ở, ông đã bố trí sát vách ở ba mặt tường một dãy tủ sách thấp có lắp kính phía trước. Tùy theo vị trí đặt tủ, theo một quy luật tự nhiên mà có lẽ ông đã quên tính đến, khung cảnh biển khơi luôn biến đổi chỗ này hay chỗ khác lại được phản chiếu qua lớp kính ấy, khiến cho những bức tường như được viền quanh bằng một dải phong cảnh biển, chỉ bị ngắt quãng bởi những sáp gỗ gụ bóng loáng của chính các tầng kệ. Hiệu ứng này đạt đến mức trọn vẹn khiến toàn bộ căn phòng trông giống hệt như những căn phòng ngủ mẫu mà ta thường thấy ngày nay tại các cuộc triển lãm gia cư, được trang hoàng bằng các tác phẩm nghệ thuật nhằm làm dịu mắt bất cứ ai rồi sẽ phải ngủ lại nơi đây, với các chủ đề được thiết kế sao cho hòa hợp phần nào với địa phương và cảnh quan xung quanh của ngôi nhà.

Thế nhưng, đồng thời, chẳng có gì có thể khác biệt hoàn toàn với Balbec thực tế hơn cái Balbec kia — cái Balbec mà tôi vẫn thường mơ tưởng vào những ngày giông bão. Đó là khi gió thổi mạnh đến mức Françoise, trên đường dẫn tôi ra đại lộ Champs-Elysées, phải dặn dò tôi đừng đi quá sát mép đường kẻo hòn ngói rơi có thể đập bay đầu, và rồi cô sẽ kể lể với tôi bằng giọng đầy sầu thảm về những thảm họa kinh hoàng cùng những vụ đắm tàu được loan tin trên mặt báo. Tôi chẳng khao khát điều gì hơn là được tận mắt chứng kiến một cơn bão biển, không hẳn như một kỳ quan vĩ đại cho bằng như một sự khải thị chớp nhoáng về bản chất đích thực của thiên nhiên; hay nói đúng hơn, đối với tôi chẳng có kỳ quan vĩ đại nào ngoại trừ những thứ mà tôi biết chắc không phải do nhân tạo dựng lên để giải trí cho mình, mà là những điều tất yếu và bất biến — ấy là vẻ đẹp của phong cảnh hay của những kiệt tác nghệ thuật. Tôi không hề tò mò, tôi chẳng khát khao thấu hiểu điều gì ngoại trừ những gì tôi tin là chân thực hơn chính bản thân mình, những thứ mang lại cho tôi công trạng tối cao là phơi bày một mảnh linh hồn của một thiên tài lớn, hoặc sức mạnh cùng vẻ đẹp duyên dáng của thiên nhiên khi nàng hoàn toàn tự tại, không bị bàn tay con người can thiệp. Giống như âm thanh tuyệt diệu từ giọng hát của nàng, được thu lại trọn vẹn trong chiếc máy hát, chẳng bao giờ có thể an ủi một người đàn ông trước nỗi đau mất mẹ, thì sự bắt chước máy móc của một cơn bão cũng sẽ để lại trong tôi sự lạnh lẽo y như những đài phun nước rực sáng tại cuộc triển lãm. Hơn nữa, để cơn bão ấy mang tính chân thực tuyệt đối, bờ biển nơi tôi ngắm nhìn nó phải là một bờ biển tự nhiên, chứ không phải là một bờ kè do chính quyền đô thị mới xây dựng. Bên cạnh đó, qua tất cả những xúc cảm mà nó khơi gợi trong tôi, thiên nhiên dường như là điều trái ngược nhất trên đời đối với các phát minh cơ khí của nhân loại. Dấu ấn của con người càng mờ nhạt bao nhiêu, không gian mở ra cho sự khoáng đạt của trái tim tôi càng rộng bấy nhiêu. Và tình cờ thay, tôi vẫn giữ lại cái tên Balbec, cái tên mà Legrandin từng nhắc đến trước chúng tôi như một thị trấn miền biển nằm ngay giữa lòng "bờ biển tử khí ấy, nổi tiếng với vô số vụ đắm tàu, bị bao bọc suốt nửa năm trời trong tấm vải liệm sương mù và bọt sóng tung bay."

“Ở đó, ngay dưới chân mình, bạn vẫn cảm nhận rõ ràng hơn cả ở Finistère,” ông từng bảo tôi, “(và dẫu cho các khách sạn giờ đây đang mọc lên chồng chất trên đó, nhưng chẳng thể nào lay chuyển nổi phần xương xẩu cổ xưa nhất trong bộ xương của trái đất này), bạn sẽ cảm thấy rằng mình thực sự đang đứng ở tận cùng đất nước Pháp, của châu Âu, của Cũ Thế Giới. Và đó chính là trạm dừng cuối cùng của những người đánh cá, y hệt như những ngư dân đã sinh sống từ thuở hồng hoang, đối mặt với vương quốc bất tận của sương mù biển cả và bóng tối màn đêm.” Một hôm, khi còn ở Combray, tôi đã nhắc đến bờ biển ấy, cái tên Balbec ấy trước mặt ông Swann với hy vọng hỏi xem liệu đó có phải là nơi lý tưởng nhất để ngắm những cơn bão dữ dội hay không, ông đã đáp lại rằng: “Tôi tưởng tôi phải biết Balbec chứ! Nhà thờ ở Balbec, được xây dựng từ thế kỷ thứ mười hai và mười thế kỷ thứ mười ba, vẫn còn mang một nửa phong cách Rô-man, có lẽ là ví dụ kỳ lạ nhất về kiến trúc Gothic vùng Normandy mà người ta có thể tìm thấy, độc đáo đến mức khiến người ta dễ liên tưởng đến nguồn cảm hứng Ba Tư.” Và vùng đất ấy — cho đến lúc đó vẫn chỉ được tôi xem như một phần của thiên nhiên bất diệt, vẫn tồn tại song hành cùng những đại biến đổi địa chất, và xa rời lịch sử loài người chẳng kém gì Đại Dương hay chòm Đại Hùng, cùng với dòng giống ngư dân hoang dã của nó, những kẻ chưa từng trải qua Thời kỳ Trung Cổ cũng như loài cá voi của họ — thật là một niềm vui lớn lao đối với tôi khi thấy nó đột ngột chiếm lấy vị trí của mình trong trật tự của các thế kỷ, mang theo ký ức đọng lại của kỷ nguyên Rô-man, và biết rằng chiếc lá ba thùy kiểu Gothic rồi cũng đến để tô điểm cho những mỏm đá hoang dã ấy khi thời điểm đã định, giống như những loài thực vật mỏng manh nhưng kiên cường nơi vùng cực, khi mùa xuân quay về, rải những vì sao của mình lên lớp tuyết vĩnh cửu. Và nếu như nghệ thuật Gothic mang đến cho những vùng đất và con người ấy một hệ thống phân loại mà bấy lâu họ còn thiếu, thì ngược lại, chính họ cũng ban tặng cho nó một giá trị tương xứng. Tôi cố hình dung trong đầu cuộc sống của những ngư dân ấy ra sao, về sự thử nghiệm rụt rè và bất ngờ đối với giao tiếp xã hội mà họ từng nỗ lực thực hiện tại đó, quây quần trên một mỏm đất thuộc bờ biển Địa Ngục, dưới chân những vách đá tử thần; và nghệ thuật Gothic bỗng trở nên sống động hơn trong tôi khi tôi tách nó ra khỏi những thành phố nơi trước đây tôi vẫn luôn tưởng tượng về nó, để thấy rằng, trong một trường hợp cụ thể, ngay trên một rạn đá hoang dã, nó đã bén rễ và vươn lên cho đến khi nở hoa thành một ngọn tháp vút cao. Tôi được dẫn đi xem những bản sao của các bức tượng nổi tiếng nhất tại Balbec — những vị Tông đồ với khuôn mặt thô ráp, xù xì, bức tượng Đức Mẹ ở cổng vòm — và tôi tưởng như nghẹt thở vì sung sướng khi nghĩ rằng có ngày chính mình sẽ được tận mắt nhìn thấy chúng hiện hình vững chãi giữa nền sương muối vĩnh cửu.

Kể từ đó, vào những đêm tháng Hai bão bùng và thân thương, ngọn gió — hà hơi vào trái tim tôi, lay động nó dữ dội chẳng kém gì ống khói phòng ngủ, thổi bùng lên dự định viếng thăm Balbec — đã hòa quyện trong tôi niềm khát khao kiến trúc Gothic với nỗi khao khát một cơn bão trên biển.

Tôi rất muốn được lên ngay chuyến tàu tốt bụng, hào phóng khởi hành lúc một giờ hai mươi hai phút — chuyến tàu mà chưa bao giờ tôi đọc đến giờ khởi hành của nó trên các bảng thông báo của hãng tàu hay trong các tờ quảng cáo du lịch vòng tròn mà trái tim lại không đập rộn ràng: nó dường như cắt ngang, tại một thời điểm chính xác trong mỗi buổi chiều, một đường rãnh đầy mê hoặc, một dấu ấn bí ẩn mà từ đó những giờ khắc lệch hướng vẫn tiếp tục dẫn dắt người ta tiến về phía trước, dĩ nhiên là hướng tới buổi chiều, hướng tới sáng mai, nhưng là một buổi chiều và một buổi sáng mà người ta sẽ được chiêm ngưỡng, không phải ở Paris mà ở một trong những thị trấn mà đoàn tàu đi qua và cho phép người ta lựa chọn; bởi vì nó dừng lại ở Bayeux, ở Coutances, ở Vitré, ở Questambert, ở Pontorson, ở Balbec, ở Lannion, ở Lamballe, ở Benodet, ở Pont-Aven, ở Quimperlé, và lướt đi đầy uy nghi, trĩu nặng những cái tên mà nó ban phát cho tôi, khiến giữa tất cả những cái tên ấy, tôi chẳng biết phải chọn cái nào, vì thật không sao có thể hy sinh bất cứ cái nào. Nhưng ngay cả khi không cần đợi chuyến tàu ngày hôm sau, tôi vẫn có thể, chỉ bằng cách thức dậy và thay quần áo thật nhanh, rời khỏi Paris ngay tối hôm đó nếu được bố mẹ cho phép, và đặt chân đến Balbec khi ánh bình minh lan rộng về phía tây trên vùng biển đang gào thét, nơi từ những ngọn bọt sóng cuộn trào, tôi sẽ tìm kiếm chốn trú ẩn trong ngôi nhà thờ mang phong cách Ba Tư ấy. Thế nhưng, khi kỳ nghỉ lễ Phục sinh đến gần — lúc bố mẹ đã hứa cho tôi một lần được trải nghiệm chúng ở miền Bắc nước Ý — kìa! thay vì những giấc mơ bão tố từng chiếm lĩnh hoàn toàn tâm trí tôi, khi tôi chẳng muốn nhìn thấy gì ngoài những con sóng cuồn cuộn lao vào từ tứ phía, dâng lên ngày một cao trên bờ biển hoang dã nhất, bên cạnh những ngôi nhà thờ gồ ghề và dốc đứng như vách đá, nơi lũ chim biển cất tiếng kêu than trong các ngọn tháp; đột ngột thay thế chúng, xóa nhòa tất cả vẻ đẹp quyến rũ của chúng, loại bỏ chúng vì chúng là thái cực đối lập và chỉ làm suy yếu hiệu ứng của mình, là giấc mơ trái ngược về một mùa xuân rực rỡ sắc màu — không phải mùa xuân của Combray vẫn còn nhức nhối với mọi mũi kim băng giá của mùa đông, mà là mùa xuân đã phủ đầy hoa huệ và hoa hải quỳ trên những đồng cỏ ở Fiesole, phủ lên Florence một ánh vàng chói lọi, tựa như trong những bức tranh của Fra Angelico. Từ khoảnh khắc đó, chỉ có ánh sáng mặt trời, hương thơm, màu sắc mới có giá trị đối với tôi; bởi vì sự hoán đổi hình ảnh này đã tạo ra một bước ngoạt trong khát vọng của tôi, và — đột ngột như những chuyển biến đôi khi xuất hiện trong âm nhạc — một sự thay đổi hoàn toàn về âm điệu trong sự nhạy cảm của tôi. Cứ thế, chỉ một biến đổi nhỏ của thời tiết cũng đủ khơi châm trong tôi sự chuyển nhệu ấy, mà chẳng cần tôi phải chờ đợi sự quay vòng của một mùa trong năm. Bởi vì ta thường bắt gặp một ngày trong mùa này lại lạc bước sang mùa khác, khiến ta phải sống trong mùa ấy, lập tức triệu hồi vào hiện tại và khiến ta khao khát những niềm vui đặc trưng của nó, đồng thời ngắt quãng những giấc mơ ta đang dở dang dệt thạo bằng cách chèn vào đó, lạc điệu, quá sớm hoặc quá muộn, chiếc lá này, bị xé toạc từ một chương khác, trong cuốn lịch chắp vá của Hạnh phúc.

Nhưng chẳng mấy chốc, cũng giống như những hiện tượng tự nhiên mà sự thoải mái hay sức khỏe của chúng ta chỉ có thể thu được những lợi ích ngẫu nhiên và vô cùng khiêm tốn cho đến ngày khoa học nắm quyền kiểm soát chúng, và bằng cách tạo ra chúng theo ý muốn, đặt vào tay chúng ta sức mạnh điều khiển sự xuất hiện của chúng, thoát khỏi sự kèm cặp và sự độc lập đối với sự đồng thuận của ngẫu nhiên; tương tự như vậy, sự sản sinh ra những giấc mơ về Đại Tây Dương và về Ý đã ngưng việc phụ thuộc hoàn toàn vào sự biến đổi của các mùa và thời tiết. Tôi chỉ cần, để khiến chúng hiện hình trở lại, thốt lên những cái tên: Balbec, Venice, Florence, nơi trong từng âm tiết của chúng đã dần tích tụ biết bao niềm khát khao do những vùng đất mà chúng đại diện khơi gợi nên. Thậm chí vào mùa xuân, việc vô tình đọc được cái tên Balbec trong một cuốn sách cũng đủ để đánh thức trong tôi niềm khao khát những cơn bão biển và phong cách kiến trúc Gothic vùng Normandy; ngay cả vào một ngày giông bão, cái tên Florence hay Venice cũng sẽ đánh thức khát vọng về ánh nắng vàng, về những đóa huệ, về Cung điện Tổng đốc và nhà thờ Santa Maria del Fiore.

Nhưng nếu những cái tên ấy cứ thế liên tục hấp thụ hình ảnh mà tôi đã nhào nặn về các thành phố này, thì điều đó chỉ xảy ra bằng cách biến đổi hình ảnh ấy, bằng cách bắt sự tái xuất hiện của nó phải phục tùng những quy luật đặc biệt của riêng chúng; và kết quả là chúng làm cho hình ảnh ấy trở nên đẹp đẽ hơn, nhưng đồng thời cũng khác biệt hơn so với bất cứ thứ gì mà các thành phố ở Normandy hay Tuscany thực sự vốn có, và qua việc gia tăng những niềm vui tùy hứng của trí tưởng tượng, chúng càng làm trầm trọng thêm sự vỡ mộng đang chờ đợi tôi khi tôi lên đường du ngoạn. Chúng phóng đại ý tưởng mà tôi hình thành về một số điểm trên bề mặt trái đất, khiến chúng trở nên đặc biệt hơn, và do đó càng thực tế hơn. Lúc ấy, tôi không hình dung các thành phố, phong cảnh, hay các công trình lịch sử như những bức tranh hấp dẫn ít nhiều, được cắt ra từ một chất liệu chung cho tất cả, mà nhìn nhận mỗi nơi như một điều gì đó chưa từng biết, khác biệt với tất cả những nơi còn lại, một thứ mà linh hồn tôi đang khao khát, và qua sự thấu hiểu nó, linh hồn tôi sẽ được thụ hưởng. Tính cách của chúng còn trở nên cá biệt biết bao khi được định danh bằng những cái tên, những cái tên chỉ dành riêng cho chúng, những danh từ riêng hệt như tên của con người. Từ ngữ mang đến cho chúng ta những bức tranh nhỏ về sự vật, rành mạch và bình thường, giống như những bức tranh được treo trên tường lớp học để minh họa cho trẻ em hiểu thế nào là một chiếc bàn thợ mộc, một con chim, một gò mối; những sự vật được chọn làm điển hình cho mọi thứ khác cùng loại. Nhưng tên gọi lại mang đến cho chúng ta — về con người và về những thành phố mà chúng tập cho ta thói quen nhìn nhận như những cá thể, độc nhất vô nhị như con người — một bức tranh hỗn độn, rút ra từ chính cái tên ấy, từ sự sáng láng hay tối tăm của âm thanh phát ra, cái màu sắc mà nó được nhuộm đều lên, giống như một trong những tấm áp phích toàn màu xanh hoặc toàn màu đỏ, nơi mà do những giới hạn của quy trình in ấn hoặc do sự ngẫu hứng của người thiết kế, không chỉ bầu trời và biển cả mà cả những con tàu, nhà thờ và con người trên phố đều mang một màu xanh hoặc đỏ duy nhất. Cái tên Parma, một trong những thành phố mà tôi khao khát ghé thăm nhất sau khi đọc cuốn Tu viện ở Parma, dường như đối với tôi thật đặc sánh và bóng bẩy, nhuộm sắc tím, dịu dàng; nếu có ai nhắc đến căn nhà này hay căn nhà nọ ở Parma, nơi tôi sẽ trọ lại, họ sẽ mang lại cho tôi niềm vui khi nghĩ rằng mình sắp được sống trong một mái ấm đặc sánh và bóng bẩy, nhuộm sắc tím, dịu dàng ấy, chẳng mảy may liên quan đến những ngôi nhà ở bất kỳ thành phố nào khác tại Ý, bởi vì tôi chỉ có thể tưởng tượng ra nó nhờ vào âm tiết nặng nề của cái tên Parma — nơi chẳng một làn gió nhẹ nào lay động — và tất cả những gì tôi đã gán cho nó từ sự ngọt ngào theo phong cách Stendhal cùng sắc màu phản chiếu của hoa violet. Và khi tôi nghĩ đến Florence, đó là một thành phố được ướp hương kỳ diệu và tựa như một đóa hoa, bởi vì nó được mệnh danh là Thành phố của những đóa Huệ, và nhà thờ chính tòa của nó mang tên Đức Mẹ của loài Hoa. Còn về phần Balbec, đó là một trong những cái tên mà ở đó, như trên một món đồ gốm cổ vùng Normandy hãy còn giữ nguyên màu sắc của lớp đất sét đã nhào nặn nên nó, người ta vẫn thấy phác họa hình ảnh của một tập tục từ lâu đã bị xóa bỏ, của một quyền phong kiến, của hiện trạng một vùng đất trong quá khứ, của một cách phát âm lỗi thời đã định hình và kết nối những âm tiết lạc điệu của nó; và tôi chưa bao giờ hoài nghi rằng mình sẽ tìm thấy thứ tiếng ấy được nói ngay tại đó, ngay cả bởi người chủ quán trọ — kẻ sẽ rót cà phê sữa cho tôi vào lúc tôi vừa đến, rồi dẫn tôi ra ngắm vùng biển cuồn cuộn, sục sôi, xích xiêm trước cửa nhà thờ — người mà tôi gán cho vẻ bề ngoài tranh biện, trang nghiêm và đậm chất trung cổ của một nhân vật trong những cuốn tiểu thuyết cổ.

Phải chi sức khỏe của tôi thực sự khá hơn, phải chi bố mẹ cho phép tôi, nếu không thực sự đến ở lại Balbec thì ít nhất cũng được một lần — để làm quen với kiến trúc và phong cảnh vùng Normandy hay Brittany — bước lên chuyến tàu một giờ hai mươi hai phút mà tôi từng bao lần tưởng tượng mình leo lên ấy, tôi đã muốn dừng chân và bước xuống ở thành phố đẹp nhất của vùng; nhưng dẫu tôi có so sánh và đối chiếu chúng đi chăng nữa thì ích gì; làm sao người ta có thể lựa chọn giữa Bayeux — sừng sững trong chiếc vương miện cao quý bằng thứ ren rỉ sét, nơi điểm cao nhất bắt lấy ánh vàng cổ kính của âm tiết thứ hai của nó; Vitré, nơi dấu sắc vắt ngang những ô kính cổ bằng những thanh gỗ hình quả trám; Lamballe dịu dàng, với sắc trắng trải dài từ vàng vỏ trứng đến xám ngọc trai; Coutances, một nhà thờ chính tòa vùng Normandy được vương miện bằng một ngọn tháp bằng bơ qua những phụ âm cuối phong phú và ngả vàng; Lannion với tiếng rền rĩ và vo ve trong sự tĩnh lặng của con đường làng, vang lên như tiếng con ruồi đậu trên vành bánh xe của cỗ xe ngựa; Questambert, Pontorson, ngớ ngẩn và giản đơn đến mức buồn cười, với những chiếc lông vũ trắng và những chiếc mỏ vàng vãi dọc con đường dẫn đến những chốn nước non thơ mộng ấy; Benodet, một cái tên vừa mới cập bến dường như đang cố gắng kéo dòng sông chìm vào đám rong rêu vướng víu; Pont-Aven, chuyến bay trắng ngần và hồng hào của cánh mũ trùm đầu khẽ khàng đậu xuống, rung rinh phản chiếu dưới làn nước xanh lục của một con kênh; Quimperlé, gắn kết chặt chẽ hơn, từ thời Trung Cổ giữa những dòng suối nhỏ róc rách, xâu chuỗi những hạt ngọc trai trên nền xám, giống như họa tiết được tạo ra qua những lớp mạng nhện trên khung cửa sổ bởi những tia nắng mặt trời hóa thành những đầu cùn bằng bạc xỉn màu?

Những hình ảnh này sai lầm còn vì một lý do khác nữa; đó là chúng vốn dĩ đã bị giản lược đi rất nhiều; chắc chắn rằng đối tượng mà trí tưởng tượng của tôi khao khát, thứ mà các giác quan của tôi tiếp nhận không trọn vẹn và chẳng mang lại chút niềm vui trực tiếp nào, đã được tôi phó thác cho sự canh giữ an toàn của những cái tên; chắc chắn rằng vì tôi đã tích tụ ở đó một kho tàng những giấc mơ, nên những cái tên ấy giờ đây đã tạo ra lực hút đối với những khao khát của tôi; thế nhưng tự thân những cái tên ấy lại chẳng hề bao hàm quá nhiều thứ; điều tối đa mà tôi có thể làm là nhốt vào mỗi cái tên ấy hai hoặc ba thắng cảnh chính của thành phố, chúng nằm bên nhau ở đó mà không có khoảng trống hay vách ngăn; trong cái tên Balbec, giống như trong những chiếc kính lúp được lắp vào chiếc bút máy mà người ta hay mua ở các khu nghỉ mát ven biển, tôi có thể phân biệt được những con sóng đang cuồn cuộn vây quanh một ngôi nhà thờ được xây dựng theo kiểu Ba Tư. Có lẽ, thực ra, sự giản lược bắt buộc của những hình ảnh này chính là một trong những lý do khiến chúng có sức nắm giữ tâm trí tôi mạnh mẽ đến thế. Khi cha tôi quyết định vào một năm nọ rằng chúng tôi sẽ đến Florence và Venice vào kỳ nghỉ Phục sinh, vì không tìm thấy không gian để nhồi nhét vào cái tên Florence những yếu tố vốn cấu thành một thành phố, tôi buộc phải để một thành phố siêu nhiên trỗi dậy từ sự thấm đẫm của một số khung cảnh mùa xuân vào cái mà tôi cho là cốt lõi trong thiên tài của Giotto. Hơn thế nữa — và bởi vì người ta không thể kéo dài một cái tên theo thời gian xa hơn không gian — giống như một số bức tranh chính của Giotto cho chúng ta thấy cùng một nhân vật đang tham gia vào các hành động khác nhau tại hai thời điểm riêng biệt, chỗ này nằm trên giường, chỗ kia chuẩn bị lên ngựa, cái tên Florence được chia thành hai ngăn. Ở ngăn thứ nhất, dưới một tán cây kiến trúc, tôi ngắm nhìn một bức bích họa mà một phần bị che khuất bởi tấm màn nắng ban mai bụi bặm, xiên xéo và đang lan rộng dần; ở ngăn thứ hai (bởi vì, vì tôi nghĩ về các tên gọi không phải như một lý tưởng xa vời mà như một thực thể có thật và bao bọc lấy tôi, nơi tôi sắp sửa đắm mình vào đó, cuộc đời chưa từng sống, cuộc đời nguyên vẹn và tinh khôi mà tôi gói gọn trong đó đã mang lại cho những niềm vui vật chất nhất, cho những khung cảnh giản dị nhất, sức hấp dẫn y như trong các tác phẩm của các họa sĩ thời kỳ đầu), tôi rảo bước thật nhanh — để kịp đến bàn ăn đã được dọn sẵn cho mình, với hoa quả và một chai rượu Chianti — băng qua chiếc cầu Ponte Vecchio chất đầy hoa thủy tiên vàng, hoa thủy tiên trắng và hoa hải quỳ. Đó (mặc dù tôi vẫn đang ở Paris) là những gì tôi nhìn thấy, chứ không phải những thứ thực sự xung quanh tôi. Ngay cả từ góc nhìn giản dị nhất, thực tế nhất, những vùng đất mà chúng ta khao khát tại bất kỳ thời điểm nào cũng chiếm một không gian lớn hơn rất nhiều trong cuộc sống thực của chúng ta so với vùng đất mà chúng ta vô tình đặt chân đến. Chắc chắn rằng, nếu vào thời điểm đó, tôi chú ý nhiều hơn đến những gì ẩn trong tâm trí khi tôi thốt lên những từ "đi Florence, đi Parma, đi Pisa, đi Venice", tôi đã nhận ra rằng những gì tôi nhìn thấy hoàn toàn không phải là một thành phố, mà là thứ gì đó khác biệt hoàn toàn với bất kỳ điều gì tôi biết, thứ gì đó tuyệt diệu như thể dành cho một giống loài người mà toàn bộ sự tồn tại đã trôi qua trong một chuỗi những buổi chiều cuối đông, một điều kỳ diệu không thể tưởng tượng nổi, một buổi sáng mùa xuân. Những hình ảnh này, phi thực tế, cố định, lúc nào cũng giống nhau, lấp đầy mọi ngày đêm của tôi, đã làm cho giai đoạn này trong cuộc đời tôi khác biệt với những khoảng thời gian trước đó (v vốn có thể dễ dàng bị nhầm lẫn bởi một người quan sát chỉ nhìn sự vật từ bên ngoài, nghĩa là chẳng thấy gì cả), giống như trong một vở opera, một giai điệu mới mẻ giới thiệu một bầu không khí mới lạ mà người ta chưa từng dám nghi ngờ nếu chỉ đọc phần lời, và càng mù mờ hơn nếu chỉ đứng ngoài nhà hát mà đếm từng phút trôi qua. Và hơn thế nữa, ngay cả từ góc độ thuần túy về số lượng, trong cuộc đời chúng ta, các ngày không hề giống nhau. Để đi đến tận cùng của một ngày, những bản tính có chút nhạy cảm thần kinh như tôi thường sử dụng, giống như những chiếc ô tô, các 'tốc độ' khác nhau. Có những ngày nhiều đồi núi, khó nhọc, mà người ta phải mất một khoảng thời gian vô tận mới vượt qua nổi, và có những ngày xuôi dốc, nơi người ta có thể lao vun vút, vừa đi vừa hát. Suốt tháng đó — khi tôi cặm cụi nghiền ngẫm, như với một giai điệu, dẫu chẳng bao giờ thấy thỏa mãn, những viễn cảnh về Florence, Venice, Pisa, từ đó niềm khao khát mà chúng khơi gợi trong tôi đã rút tỉa và gìn giữ một điều gì đó sâu sắc mang tính cá nhân như thể đó là tình yêu, tình yêu dành cho một người khác — tôi chưa từng nguôi ngoai niềm tin rằng chúng tương ứng với một thực tại độc lập với chính tôi, và chúng khiến tôi ý thức được một hy vọng huy hoàng chẳng kém gì điều mà một tín điều Thiên Chúa giáo có thể ôm ấp vào thời kỳ sơ khai của đức tin, ngay trước thềm bước vào Thiên đàng. Hơn nữa, mặc dù tôi chẳng màng đến sự mâu thuẫn trong việc tôi vừa muốn nhìn và chạm bằng các giác quan của mình thứ được nhào nặn bởi phép màu của những giấc mơ chứ không hề được nhận thức qua các giác quan — dẫu vậy, chính vì thế mà chúng càng trở nên vô cùng cám dỗ đối với các giác quan, khác biệt hơn bất cứ thứ gì chúng từng biết — đó lại là điều gợi nhắc tôi về thực tại của những viễn cảnh này, khơi bùng khao khát của tôi hơn nữa bằng cách hé lộ lời hứa hẹn rằng khao khát ấy sẽ được thỏa mãn. Và dẫu cho động lực của sự thăng hoa trong tôi là niềm khao khát những tận hưởng về mặt thẩm mỹ, thì các cuốn cẩm nang du lịch thậm chí còn tiếp sức cho nó nhiều hơn cả những cuốn sách về thẩm mỹ, và hơn thế nữa, vượt lên trên cả cẩm nang du lịch chính là những cuốn lịch trình tàu hỏa. Điều làm tôi xúc động chính là ý tưởng rằng thành phố Florence này, mà tôi có thể nhìn thấy, gần gũi nhưng không thể với tới trong trí tưởng tượng của mình, nếu khoảng đất tách biệt nó khỏi tôi trong chính tôi không phải là thứ tôi có thể băng qua, thì người ta vẫn có thể vươn tới nó bằng một lối đi vòng, bằng một đoạn rẽ ngang, nếu tôi đi theo con đường mòn trần thế. Khi tôi tự nhủ, qua đó trao một giá trị đặc biệt cho những gì mình sắp sửa chiêm ngưỡng, rằng Venice chính là "Trường phái Giorgione, ngôi nhà của Titian, bảo tàng hoàn thiện nhất về kiến trúc dân dụng thời Trung Cổ", tôi thực sự cảm thấy vô cùng hạnh phúc. Cũng như tôi càng hạnh phúc hơn khi vào một buổi đi dạo nọ, khi tôi sải bước thật nhanh vì thời tiết — sau vài ngày mang hơi hướng mùa xuân sớm, nay lại quay về với mùa đông (giống như thời tiết mà chúng tôi luôn bắt gặp khi chờ đợi mình ở Combray vào Tuần Thánh) — nhìn thấy trên các đại lộ những cây dẻ, dù chìm đắm trong bầu không khí băng giá thấm sâu vào chúng như dòng nước, vẫn không hề nhụt chí, như những vị khách đúng giờ đã xiêm y lộng lẫy sẵn sàng cho buổi tiệc, bắt đầu gọt đẽo và uốn cong trong những cục băng của chúng lớp cây xanh bất khống chế, thứ mà sự tăng trưởng đều đặn của nó có thể bị cản trở bởi sức mạnh yểu mệnh của cái lạnh nhưng không tài nào dập tắt nổi — tôi tự nhủ rằng cây cầu Ponte Vecchio lúc này đã chất đầy những khóm hoa lan dạ hương và hải quỳ, và ánh nắng mùa xuân đã bắt đầu nhuộm lên những con sóng của Đại Vận Hà một thứ sắc xanh lam thẫm, những viên ngọc lục bảo rực rỡ đến mức khi chúng vỗ và vỡ tan dưới chân một bức tranh của Titian, chúng có thể sánh ngang với nó về độ phong phú của màu sắc. Tôi không thể kìm nén nổi niềm vui khi cha tôi, trong những khoảng nghỉ giữa việc gõ nhiệt kế và phàn nàn về cái lạnh, bắt đầu tìm kiếm những chuyến tàu tốt nhất, và khi tôi hiểu ra rằng chỉ bằng cách bước vào phòng thí nghiệm đượm mùi than sau bữa trưa — cái ô cửa của phù thủy nhận nhiệm vụ thực hiện một cuộc biến đổi hoàn toàn xung quanh — người ta có thể thức dậy vào sáng hôm sau tại thành phố bằng cẩm thạch và vàng, nơi "tường được xây bằng ngọc bích và móng tường là ngọc lục bảo". Để rồi thành phố ấy và Thành phố của những đóa Huệ không chỉ đơn thuần là những khung cảnh nhân tạo mà tôi có thể tự dựng lên theo ý thích trước trí tưởng tượng của mình, mà thực sự tồn tại ở một khoảng cách nhất định từ Paris — khoảng cách chắc chắn phải vượt qua nếu tôi muốn nhìn thấy chúng — tại vị trí đã định của chúng trên bề mặt trái đất và không ở đâu khác; nói một cách ngắn gọn, chúng hoàn toàn có thật. Chúng càng trở nên chân thực hơn trong tôi khi cha tôi nói rằng: "Ừ, con có thể ở lại Venice từ ngày 20 đến ngày 29, rồi tới Florence vào sáng Chủ nhật Phục sinh", khiến cả hai thành phố ấy trỗi dậy, không còn chỉ từ sự trừu tượng của Không gian, mà từ cái Thời gian tưởng tượng nơi chúng ta đặt không chỉ một mà là vài chuyến du ngoạn cùng lúc, những chuyến đi chẳng làm chúng ta mệt nhọc là bao vì chúng chỉ là những khả năng — cái Thời gian tự tái thiết lập một cách hiệu quả đến mức người ta có thể trải qua nó lần nữa ở thành phố này sau khi đã trải qua nó ở thành phố khác — và cống hiến cho chúng một số ngày lịch thực tế vốn là chứng nhận cho tính xác thực của những gì ta làm vào những ngày ấy, bởi vì những ngày độc nhất vô nhị đó bị tiêu tốn qua việc sử dụng, chúng không quay trở lại, người ta không thể sống lại chúng ở đây khi đã sống chúng ở nơi khác; tôi cảm thấy rằng chúng đang vội vã bận rộn với sứ mệnh trỗi dậy từ cái Thời gian lý tưởng ấy — nơi chúng vẫn chưa thực sự tồn tại — để hướng tới tuần lễ sẽ bắt đầu bằng ngày thứ Hai mà người thợ giặt sẽ mang trả lại chiếc áo ghi-lê trắng bị tôi làm dính mực, hai Thành phố Nữ hoàng mà chẳng bao lâu nữa tôi sẽ có thể, bằng thứ hình học say đắm nhất, khắc ghi những mái vòm và ngọn tháp của chúng lên một trang đời của chính mình. Nhưng tôi vẫn chỉ đang trên đường đi đến đỉnh cao tối thượng của hạnh phúc; tôi thực sự chạm đến nó cuối cùng (bởi vì phải đến lúc ấy sự khải thị mới bùng nổ trong tôi rằng trên những con đường lát đá khua vang, nhuốm đỏ bởi ánh sáng phản chiếu từ các bích họa của Giorgione, tuần tới ở Venice sẽ không có những người đàn ông "oai nghiêm và đáng sợ như biển cả, khoác trên mình bộ áo giáp lấp lánh sắc đồng bên dưới những nếp áo choàng đỏ như máu" đi dạo như tôi đã tưởng tượng bất chấp bao lời nhắc nhở; mà chính tôi có thể là nhân vật nhỏ bé mà trong một bức ảnh phóng lớn nhà thờ St. Mark được người ta cho tôi mượn, nhiếp ảnh gia đã khắc họa đang đội mũ phớt, đứng trước hiên vòm), khi tôi nghe thấy cha tôi nói: "Trời chắc vẫn còn khá lạnh ở Đại Vận Hà đấy; dù làm gì thì làm, đừng quên mang theo áo khoác đại hàn và bộ đồ dày nhé." Ngay trước những lời ấy, tôi được nâng bổng lên một thứ trạng thái ngất ngây; một điều mà trước đó tôi từng cho là bất khả, tôi cảm nhận được rằng mình thực sự đang thâm nhập vào giữa những "khỏang đá thạch anh tím, giống như một rạn san hô ở Ấn Độ Dương"; bằng một nỗ lực cơ bắp tối thượng, vượt xa sức lực thực sự của mình, lột bỏ khỏi bản thân như một chiếc vỏ ốc chẳng còn tích sự gì thứ không khí trong căn phòng của chính mình đang bao bọc lấy tôi, tôi thay thế nó bằng một lượng không khí Venice tương đương, thứ bầu không khí miền biển ấy, không thể tả xiết và kỳ lạ như bầu không khí của những giấc mơ mà trí tưởng tượng của tôi đã cô đọng lại trong cái tên Venice; tôi có thể cảm nhận được một sự rũ bỏ thể xác kỳ diệu đang diễn ra bên trong mình; nó đồng thời đi kèm với cái cảm giác buồn nôn mơ hồ mà người ta cảm nhận khi bị viêm họng nặng; và họ đã phải đặt tôi lên giường với một cơn sốt dai dẳng đến mức bác sĩ không chỉ đảm bảo với bố mẹ tôi rằng một chuyến đi đến Florence và Venice vào mùa xuân đó là điều hoàn toàn không thể, mà còn cảnh báo họ rằng, ngay cả khi tôi đã bình phục hoàn toàn, tôi cũng phải từ bỏ mọi ý định du lịch trong ít nhất một năm, và phải tránh xa bất cứ thứ gì có thể khiến tôi phấn khích.

Và hỡi ôi, ông ấy cũng cấm tuyệt đối, một cách dứt khoát, việc để tôi được đến nhà hát để thưởng thức diễn xuất của Berma; nữ nghệ sĩ siêu việt mà thiên tài của bà từng được Bergotte ca ngợi, lẽ ra đã có thể — bằng cách giới thiệu cho tôi một điều gì đó khác có lẽ cũng quan trọng và đẹp đẽ không kém — an ủi tôi vì đã không được đến Florence và Venice, vì không được đến Balbec. Bố mẹ tôi đành phải bằng lòng với việc gửi tôi đến đại lộ Champs-Elysées mỗi ngày, dưới sự giám sát của một người sẽ đảm bảo tôi không bị mệt mỏi; người đó không ai khác chính là Françoise, người đã bước vào phục vụ gia đình chúng tôi sau khi dì Léonie qua đời. Việc đi đến Champs-Elysées đối với tôi thật không thể chịu nổi. Phải chi Bergotte từng miêu tả nơi này trong một cuốn sách của ông, chắc chắn tôi đã khao khát được nhìn ngắm và tìm hiểu nó, giống như rất nhiều thứ khác mà một hình ảnh giả lập đã len lỏi vào trí tưởng tượng của tôi từ trước. Điều đó giữ cho mọi thứ được ấm áp, khiến chúng sống dậy, trao cho chúng cá tính, và khi ấy tôi sẽ tìm kiếm đối trọng của chúng trong thực tế, nhưng ở khu vườn công cộng này chẳng có gì gắn kết với những giấc mơ của tôi cả.

* * *

Một hôm, khi đã cảm thấy mệt mỏi với góc quen thuộc bên cạnh những con ngựa gỗ, Françoise đã dẫn tôi đi dạo — băng qua biên giới được canh gác đều đặn bởi những ụ đất nhỏ của những người bán kẹo gừng — sang những vùng đất lân cận nhưng xa lạ ấy, nơi gương mặt của những người qua đường thật lạ lẫm, nơi chiếc xe dê đi ngang qua; rồi cô đi ra để đặt đồ đạc lên một chiếc ghế tựa lưng quay về phía bụi cây nguyệt quế; trong lúc đứng chờ cô, tôi rảo bước trên bãi cỏ rộng, với lớp cỏ ngắn thưa thớt đã phai màu vì nắng, bị lấn át ở phía cuối bởi bức tượng trỗi dậy từ một đài phun nước, trước mặt là một cô bé tóc hung đang chơi cầu lông; thì bỗng từ lối đi, một cô bé khác, đang mặc áo choàng và cất vợt cầu lông, cất giọng lanh lảnh gọi lớn: “Tạm biệt Gilberte, tớ về nhà đây nhé; đừng quên tối nay sau bữa tối tụi tớ sang nhà cậu đấy.” Cái tên Gilberte lướt qua sát bên tôi, gợi lên hình ảnh về cô bé một cách mạnh mẽ hơn rất nhiều bởi vì nó không chỉ đơn thuần nhắc đến cô, như người ta nói về một người vắng mặt, mà được hướng thẳng đến cô; nó lướt qua tôi như thế, mang theo hành động, có thể nói như vậy, với một sức mạnh gia tăng theo đường cong của quỹ đạo và khi tiến gần đến mục tiêu; mang theo trong làn gió của nó — tôi có thể cảm nhận được — sự thấu hiểu, ấn tượng về người mà nó hướng đến, thứ không thuộc về tôi mà thuộc về người bạn đã gọi cô ấy, mọi thứ mà trong lúc thốt lên những từ đó, cô bé đang mồi nhẩm hoặc hình dung rõ nét trong ký ức của mình về sự thân thiết hằng ngày của họ, về những chuyến thăm viếng lẫn nhau, về sự tồn tại vô danh ấy, càng trở nên xa vời, càng gây cho tôi nhiều đau đớn hơn khi nó lại quá đỗi quen thuộc, quá dễ bảo đối với cô bé may mắn này, kẻ đã để lời nhắn của mình lướt qua tôi mà tôi chẳng thể nào thấu thấu được bề mặt của nó, kẻ đã tung nó vào không trung bằng một tiếng kêu vô tư lự: thả trôi trong bầu không khí làn hương thơm tuyệt diệu mà lời nhắn ấy đã chắt lọc được, bằng cách chạm chính xác vào một số điểm vô hình trong cuộc đời của tiểu thư Swann, từ buổi tối sắp tới, như nó vốn thế sau bữa tối, tại nhà của cô bé — tạo nên, trên hành trình thiên đàng của nó giữa đám trẻ và những người vú em, một đám mây nhỏ, được tô màu tuyệt đẹp, giống như đám mây cuồn cuộn trên một khu vườn của Poussin, phản chiếu chi tiết, như một đám mây trong nhà opera, tràn ngập xe chiến và ngựa ngọc, sự hiện diện của đời sống thần linh; cuối cùng, gieo rắc lên bãi cỏ rách rưới ấy, ngay tại nơi cô đứng (vừa là một mảnh cỏ héo úa vừa là một khoảnh khắc trong buổi chiều của nữ vận động viên xinh đẹp, người vẫn tiếp tục đánh và bắt quả cầu của mình cho đến khi một nữ gia sư đội chiếc mũ lông chim xanh gọi cô đi) một dải ánh sáng kỳ diệu nhỏ bé, mang màu hoa vòi voi, trải dài trên bãi cỏ giống như một tấm thảm mà tôi chẳng tài nào thấy chán khi bước đi qua lại với đôi bước chân ngập ngừng, mang nỗi hoài niệm và phàm tục, trong lúc Françoise hô lớn: “Nào, cài áo vào xem nào, rồi đi thôi!” và tôi lần đầu nhận ra ngôn từ của cô thật bình dân làm sao, và rằng hỡi ôi, cô chẳng có chiếc lông chim xanh nào trên mũ cả.

Liệu cô bé có quay lại Champs-Elysées nữa không? Ngày hôm sau cô không có mặt; nhưng tôi đã gặp lại cô vào những ngày tiếp theo; tôi dành toàn bộ thời gian để quẩn quanh khu vực cô đang chơi đùa cùng bạn bè, đến mức có một lần, khi họ thiếu người để chơi trò cướp cờ, cô đã sai một người bạn đến hỏi xem tôi có muốn gia nhập đội của họ không, và từ hôm đó trở đi, tôi chơi cùng cô mỗi khi cô đến. Nhưng điều này không diễn ra mỗi ngày; có những hôm cô bị cản trở không thể đến do những buổi học, lớp giáo lý, một bữa tiệc trưa, bởi toàn bộ cuộc sống tách biệt với cuộc sống của tôi ấy — thứ cuộc đời mà chỉ mới hai lần, được cô đọng lại trong cái tên Gilberte, tôi đã cảm thấy lướt qua quá đỗi đau đớn ở con đường mòn hoa táo gai gần Combray và trên bãi cỏ của Champs-Elysées. Vào những ngày như thế, cô sẽ báo trước cho chúng tôi biết rằng chúng tôi sẽ không gặp được cô; nếu là do bận học, cô sẽ nói: “Buồn quá cơ, tớ không sang ngày mai được đâu; các cậu cứ việc chơi vui vẻ ở đây mà không có tớ nhé,” với vẻ mặt tiếc nuối phần nào an ủi tôi; ngược lại, nếu cô được mời đi dự tiệc, và tôi không biết điều đó nên hỏi xem cô có sang chơi với chúng tôi không, cô sẽ đáp: “Tớ mong là không lắm ấy chứ! Tớ mong mẹ cho tớ sang nhà bạn cơ.” Nhưng vào những ngày đó, ít nhất tôi còn biết chắc rằng mình sẽ không được gặp cô, trong khi vào những ngày khác, chẳng báo trước một lời, mẹ cô sẽ chở cô đi chơi đâu đó, và hôm sau cô sẽ nói: “Ồ có chứ! Tớ đi chơi với mẹ mà,” cứ như đó là điều tự nhiên nhất trên đời chứ không phải là tai họa lớn nhất đối với một ai khác. Lại có những ngày thời tiết xấu mà cô gia sư vì sợ mưa cho chính mình đã không đưa Gilberte ra Champs-Elysées.

Và thế là, nếu bầu trời có vẻ mờ mịt, từ sáng sớm tôi đã không ngừng chất vấn nó, quan sát mọi điềm báo. Nếu tôi thấy người phụ nữ ở tòa nhà đối diện, ngay bên cửa sổ, đang đội mũ, tôi sẽ tự nhủ: “Bà ấy đang đi ra ngoài; vậy chắc chắn là thời tiết có thể ra ngoài được. Tại sao Gilberte lại không thể làm như bà ấy nhỉ?” Nhưng bầu trời tối sầm lại. Mẹ tôi bảo rằng trời có thể tạnh ráo trở lại, chỉ cần một khoảng nắng là đủ, nhưng khả năng cao là trời sẽ mưa; và nếu trời mưa, việc ra Champs-Elysées còn có ích gì chứ? Và cứ thế, từ giờ ăn sáng, đôi mắt đầy lo âu của tôi chẳng rời khỏi bầu trời đầy mây và trắc trở ấy. Trời vẫn âm u. Bên ngoài cửa sổ, chiếc ban công chuyển màu xám xịt. Đột ngột, trên lớp đá lạnh ngắt ấy, tôi không hẳn nhìn thấy một màu sắc ít tiêu cực hơn, mà tôi cảm nhận được như thể một nỗ lực hướng tới một màu sắc ít tiêu cực hơn, nhịp đập của một tia nắng do dự đang chật vật giải phóng ánh sáng của nó. Chỉ một lát sau, chiếc ban công đã nhợt nhạt và rực rỡ như một vũng nước đọng lúc bình minh, và hàng ngàn cái bóng từ phần khung sắt của lan can đã đổ dồn xuống đó. Một luồng gió thổi tan chúng đi; hòn đá lại tối sầm lại; nhưng như những sinh vật đã được thuần hóa, chúng quay trở lại; chúng bắt đầu mờ ảo sáng lên, và qua một trong những chuỗi crescendo liên tục — giống như trong âm nhạc, ở phần cuối của khúc dạo đầu, đưa một nốt nhạc duy nhất lên đến cực điểm fortissimo, khiến nó lướt qua nhanh chóng mọi giai đoạn trung gian — tôi thấy nó đạt đến thứ vàng cố định, bất biến của những ngày đẹp trời, nơi những cái bóng cắt nét sắc lẹm của phần sắt uốn trên lan can hiện lên đen nhánh hệt như một thảm thực vật kỳ quái, với sự tinh tế trong việc khắc họa từng chi tiết nhỏ nhất dường như cho thấy sự tỉ mỉ đầy chủ ý, sự mãn nguyện của một nghệ sĩ, và với biết bao độ nổi, một lớp nhung mịn màng trong sự tĩnh lặng của khối màu u buồn và hạnh phúc ấy, đến mức quả thực những chiếc bóng to lớn và rậm rạp nằm phản chiếu trên cái hồ nắng chan hòa ấy dường như nhận thức được rằng chúng chính là những bảo chứng cho hạnh phúc và sự bình yên trong tâm hồn.

Dây thường xuân ngắn ngủi, tàn lụi, loài thực vật leo trèo thoáng qua, nhạt nhẽo nhất và u ám nhất đối với nhiều tâm trí trong số những loài bò trên tường hay trang trí cửa sổ; đối với tôi lại là loài thân thương nhất trong tất cả, kể từ ngày nó xuất hiện trên ban công của chúng tôi, tựa như cái bóng của sự hiện diện của Gilberte — người có lẽ đã có mặt ở Champs-Elysées, và ngay khi tôi đến nơi sẽ chào tôi rằng: “Bắt đầu ngay thôi nào. Cậu về đội của tớ nhé.” Mỏng manh, bị thổi bay bởi một hơi thở, nhưng đồng thời lại hài hòa, không phải với mùa mà với giờ giấc; một lời hứa về niềm vui tức thời mà ngày mới sẽ từ chối hoặc hoàn thành, và qua đó là niềm vui tức thời tối cao, niềm vui được yêu và được yêu; mềm mại hơn, ấm áp hơn trên đá thậm chí cả rêu phong; tràn trề sự sống, chỉ cần một tia nắng là đủ để sinh ra nó, và sinh ra niềm vui, ngay giữa lòng mùa đông.

Và vào những ngày khi mọi thảm thực vật khác đã biến mất, khi những chiếc áo giáp da màu xanh lục che phủ thân những cây cổ thụ bị che khuất bên dưới lớp tuyết; sau khi tuyết đã ngớt rơi nhưng bầu trời vẫn còn quá nhiều mây để tôi có thể hy vọng rằng Gilberte sẽ mạo hiểm bước ra ngoài, thì bỗng nhiên — truyền cảm hứng cho mẹ tôi thốt lên rằng: “Nhìn kìa, trời tạnh hẳn rồi đấy; mẹ nghĩ con có thể thử ra Champs-Elysées xem sao” — trên tấm thảm tuyết bao trùm lấy chiếc ban công, mặt trời đã xuất hiện và đang khâu những đường chỉ vàng, với những miếng thêu đắp bằng bóng râm đậm. Hôm đó chúng tôi chẳng tìm thấy ai ở đó cả, hoặc giả là một cô bé đơn độc đang chuẩn bị ra về, người đã quả quyết với tôi rằng Gilberte không đến. Những chiếc ghế, bị bỏ rơi bởi hội đồng các nữ gia sư uy nghi nhưng tẻ nhạt, đứng trống hoác. Chỉ có gần bãi cỏ, một người phụ nữ không rõ tuổi tác đang ngồi — người đến vào mọi điều kiện thời tiết, luôn ăn mặc theo một phong cách y hệt, lộng lẫy và u ám — mà vào thời kỳ đó, để được làm quen với bà, tôi sẵn sàng hy sinh, nếu có thể, tất cả những cơ hội lớn nhất trong cuộc đời tương lai của mình. Bởi vì Gilberte vẫn thường đến nói chuyện với bà mỗi ngày; cô thường hỏi thăm bà về "người mẹ kính yêu nhất" của bà, và tôi thợ rằng, nếu tôi quen biết bà, tôi sẽ trở thành một người hoàn toàn khác đối với Gilberte, một kẻ quen biết những người thuộc thế giới của bố mẹ cô ấy. Trong lúc các cháu của bà chơi đùa cùng nhau ở một khoảng cách gần, bà ngồi đọc tờ báo Débats, thứ mà bà gọi là "Tờ Débats cũ của tôi!" giống như cách nói quen thuộc đầy quý tộc khi bà nhắc đến viên cảnh sát trưởng hay người cho thuê ghế, rằng "Bạn cũ cảnh sát trưởng của tôi đây," hay "Bà quản lý ghế và tôi là những người bạn lâu năm."

Françoise thấy trời quá lạnh để đứng lì một chỗ, thế là chúng tôi đi bộ ra cầu Pont de la Concode để ngắm dòng sông Seine đóng băng, nơi mọi người, thậm chí cả trẻ em, đều không chút sợ hãi bước lên đó hệt như đang đi trên lưng một con cá voi khổng lồ, mắc cạn, không tấc sắt trong tay và sắp sửa bị xẻ thịt. Chúng tôi quay trở lại Champs-Elysées; tôi bắt đầu phát ốm vì đau khổ giữa những con ngựa gỗ bất động và bãi cỏ trắng xóa, bị mắc kẹt trong chiếc lưới của những lối đi màu đen đã được dọn sạch tuyết, trong khi bức tượng đứng phía trên nắm giữ trong tay một dải băng tuyết dài rủ xuống dường như giải thích cho cử chỉ của nó. Bản thân bà cụ nọ, sau khi đã gấp tờ Débats lại, cất tiếng hỏi giờ một cô vú em đang đi ngang qua, đoạn cảm ơn bằng câu: “Bạn tốt quá đi mất!”, rồi nài nỉ người lao công hãy bảo các cháu của bà chạy lại đây vì bà thấy lạnh, nói thêm rằng: “Ngàn lần cảm ơn nhé. Thật phiền anh quá!” Bỗng nhiên bầu trời bị xé đôi: giữa khu múa rối và bầy ngựa gỗ, đối diện với đường chân trời đang mở ra, tôi vừa nhìn thấy, như một dấu hiệu kỳ lạ, chiếc lông chim xanh của tiểu thư. Và giờ đây Gilberte đang chạy hết tốc lực về phía tôi, rạng rỡ và hồng hào bên dưới chiếc mũ viền lông thú, bừng tỉnh bởi cái lạnh, bởi sự đến muộn, bởi niềm háo hức được chơi đùa; ngay trước khi đến bên tôi, cô trượt chân trên một mảng băng và, hoặc để lấy lại thăng bằng, hoặc vì điều đó trông có vẻ duyên dáng, hoặc giả vờ như đang trượt patin, cô mỉm cười tiến đến với đôi tay dang rộng, hệt như muốn ôm chầm lấy tôi. “Bravo! bravo! tuyệt vời lắm; phải gọi là đỉnh cao mới đúng chứ, giống như cách cậu hay nói — 'thể thao' chắc là từ tớ nên dùng, chỉ là tớ già khú đế rồi, một người phụ nữ của trường phái cũ thôi,” bà cụ thốt lên, gửi gắm lời cảm ơn thay cho khu Champs-Elysées câm lặng đến Gilberte vì đã cất công đến đây mà không để thời tiết dọa cho sợ chạy mất dép. “Cháu giống như ta vậy, trung thành bằng mọi giá với Champs-Elysées thân yêu của chúng ta; chúng ta là hai tâm hồn dũng cảm! Cháu chắc sẽ không tin đâu nếu ta nói với ta yêu nơi này, ngay cả trong hoàn cảnh thế này. Lớp tuyết này (ta biết, cháu sẽ cười ta thôi), nó khiến ta liên tưởng đến bộ lông chồn ermine đấy!” Và bà cụ bắt đầu bật cười.

Ngày đầu tiên trong số những ngày ấy — thứ mà lớp tuyết, biểu tượng của những thế lực có thể tước đoạt khỏi tôi cảnh tượng được ngắm nhìn Gilberte, đã ban cho nó nỗi buồn của một ngày ly biệt, gần như mang vẻ bề ngoài của một ngày chuẩn bị lên đường, bởi vì nó thay đổi hình dáng bên ngoài và suýt chút nữa cấm đoán việc sử dụng khung cảnh quen thuộc cho những cuộc tao ngộ duy nhất của chúng tôi, giờ đây đã bị biến đổi, bị che đậy, giống như được trùm những tấm vải bạt chống bụi — ngày hôm ấy, dẫu vậy, vẫn đánh dấu một bước ngoặt trong tiến trình tình yêu của tôi, bởi vì nó mang ý nghĩa, theo một cách nào đó, là nỗi buồn đầu tiên mà cô sẽ chia sẻ cùng tôi. Chỉ có hai chúng tôi đại diện cho nhóm nhỏ của mình, và việc được ở một mình với cô như thế không chỉ giống như sự khởi đầu của một sự thân mật, mà còn từ phía cô — như thể cô đến đó hoàn toàn chỉ vì muốn làm tôi vui, và trong điều kiện thời tiết thế này — nó khiến tôi cảm động sâu sắc chẳng khác nào việc cô từ chối một buổi tiệc được mời dự để đến với tôi ở Champs-Elysées; tôi nuôi dưỡng niềm tin lớn hơn vào sức sống, vào tương lai của một tình trạng tình bạn có thể vẫn tràn trề sự sống giữa bầu không khí tê liệt, cô độc và điêu tàn của cảnh vật xung quanh; và trong lúc cô thả những viên đạn tuyết xuống cổ áo tôi, tôi mỉm cười đầy trìu mến với điều mà tôi cho là vừa thể hiện sự ưu ái mà cô dành cho tôi khi dung túng tôi làm bạn đồng hành trong vùng đất mới lạ, lạnh giá này, vừa là một thứ lòng trung thành mà cô gìn giữ với tôi qua những giông bão cuộc đời. Ngay sau đó, lần lượt từng người một, như những chú chim sẻ rụt rè nhảy nhót, bạn bè của cô xuất hiện, đen đũa trên nền tuyết. Chúng tôi chuẩn bị chơi và, vì ngày hôm nay bắt đầu bằng bao muộn phiền này định mệnh sẽ kết thúc trong niềm vui, khi tôi bước đến trước lúc trận đấu bắt đầu để gặp cô bạn có giọng nói lanh lảnh mà tôi từng nghe vào ngày đầu tiên gọi tên Gilberte, cô bé ấy liền bảo tôi: “Không, không, tớ chắc là cậu thích ở bên đội của Gilberte hơn; hơn nữa, nhìn kìa, cậu ấy đang ra hiệu cho cậu đấy.” Quả thực cô đang gọi tôi băng qua bãi cỏ phủ tuyết để sang đội của cô, để ‘vào trận’, nơi ánh nắng mặt trời, bằng cách rắc lên đó một thứ ánh sáng hồng hào, ánh lụa là đã phai màu theo năm tháng, đã biến nó thành một Miền Đất Vải Vàng.

Ngày hôm nay, khởi đầu với biết bao hoài nghi lo lắng, ngẫu nhiên lại là một trong số ít những ngày mà tôi không quá mức khốn khổ.

Bởi vì, dẫu tôi không còn nghĩ đến điều gì khác ngoài việc làm sao để không bỏ lỡ một ngày nào mà không được nhìn thấy Gilberte (đến mức có một lần, khi bà ngoại không về nhà kịp giờ ăn tối, tôi không thể kìm nén phản xạ bản năng rằng nếu bà bị xe tông ngoài đường và thiệt mạng, tôi sẽ không được phép ra Champs-Elysées chơi trong một thời gian; khi người ta yêu, người ta chẳng còn chút tình yêu nào sót lại cho ai khác), thì những khoảnh khắc tôi ở bên cô — thứ tôi đã khắc khoải chờ đợi suốt cả đêm lẫn sáng, thứ khiến tôi rung lên vì kích động, thứ mà tôi sẵn sàng hy sinh mọi thứ trên đời — hoàn toàn chẳng phải là những khoảnh khắc hạnh phúc; tôi thừa hiểu điều đó, bởi vì chúng là những khoảnh khắc duy nhất trong đời tôi mà tôi tập trung sự chú ý tỉ mỉ, không chút lơ đễnh, thế nhưng tôi lại chẳng tài nào tìm thấy trong đó lấy một nguyên tử niềm vui. Toàn bộ thời gian xa cách Gilberte, tôi đều muốn gặp cô, bởi vì do cứ liên tục tìm cách hình dung gương mặt cô trong tâm trí, cuối cùng tôi lại chẳng thể làm được điều ấy, và chẳng biết chính xác tình yêu của mình đang hướng về điều gì. Hơn nữa, cô chưa từng nói với tôi rằng cô yêu tôi. Trái lại, cô thường khoác lác rằng cô quen biết những cậu bé khác mà cô thích hơn tôi, rằng tôi là một người bạn đồng hành tốt, luôn sẵn lòng chơi cùng mặc dù tôi quá đãng trí, không đủ tập trung vào trò chơi. Thêm vào đó, cô thường thể hiện những dấu hiệu lạnh lùng bề ngoài đối với tôi, điều lẽ ra có thể làm lung lay niềm tin của tôi rằng mình là một sinh vật khác biệt đối với cô, nếu niềm tin ấy được xây dựng trên một thứ tình yêu mà Gilberte dành cho tôi, chứ không phải, như thực tế đang diễn ra, trên tình yêu mà tôi dành cho cô, thứ giúp nó củng cố sức chống chọi trước những đợt tấn công của sự hoài nghi bằng cách bắt nó phụ thuộc hoàn toàn vào cách thức mà tôi buộc phải suy nghĩ về Gilberte bởi một mệnh lệnh nội tại. Thế nhưng cảm xúc của tôi đối với cô, tôi chưa từng dám dùng lời để thổ lộ với cô lần nào. Dĩ nhiên, trên từng trang của những cuốn vở bài tập, tôi đều viết nguệch ngoạc tên và địa chỉ của cô hết lần này đến lần khác, nhưng trước cái nhìn của những dòng chữ mơ hồ mà tôi có thể vạch ra ấy — trong khi cô chẳng cần phải bận tâm gì đến tôi — tôi lại cảm thấy nản lòng, bởi vì chúng không nói với tôi về Gilberte, người thậm chí sẽ chẳng thèm nhìn đến chúng, mà nói về khao khát của chính tôi, thứ mà chúng dường như phơi bày trước mắt tôi trong sắc thái thực sự của nó, như một điều gì đó hoàn toàn mang tính cá nhân, phi thực tế, tẻ nhạt và vô tích sự. Điều quan trọng nhất là chúng ta được gặp nhau, Gilberte và tôi, và có cơ hội để cùng nhau thú nhận tình yêu mà cho đến lúc đó vẫn chưa chính thức (có thể nói thế) bắt đầu. Chắc chắn rằng những lý do khác nhau khiến tôi sốt ruột muốn gặp cô sẽ có vẻ bớt cấp bách hơn đối với một người trưởng thành. Khi cuộc sống tiếp tục trôi đi, chúng ta tích lũy được ngần ấy sự khôn khéo trong việc nuôi dưỡng những niềm vui của mình, đến mức chúng ta tự mãn với niềm vui rút tỉa từ việc nghĩ về một người phụ nữ, hệt như cách tôi nghĩ về Gilberte, mà không cần bận tâm xác định xem hình ảnh đó có tương ứng với thực tế hay không — và với niềm vui được yêu cô ấy, mà không cần phải chắc chắn rằng cô ấy cũng yêu mình; hoặc giả chúng ta từ bỏ niềm vui tỏ bày đam mê của mình với cô ấy, nhằm bảo vệ và khuếch đại niềm đam mê mà cô ấy dành cho chúng ta, giống như những người làm vườn Nhật Bản, để thu hoạch được một đóa hoa hoàn hảo, sẵn sàng hy sinh những đóa còn lại. Nhưng vào giai đoạn tôi đem lòng yêu Gilberte, tôi vẫn tin rằng Tình yêu thực sự tồn tại, tách biệt khỏi chúng ta; rằng nó cho phép chúng ta, tối đa là vượt qua những trở ngại trên đường đi, ban phát cho chúng ta những ơn phước của nó theo một trật tự mà chúng ta không có quyền tự ý thay đổi dù chỉ một chút; tôi có cảm giác rằng nếu tôi, bằng sáng kiến của riêng mình, thay thế sự ngọt ngào của một lời thú nhận bằng một vẻ giả vờ dửng dưng, tôi không chỉ tước đoạt bản thân khỏi một trong những niềm vui mà tôi hằng mơ ước nhất, mà tôi còn đang tự tay tạo ra, bằng ý chí tự do của mình, một thứ tình yêu nhân tạo và vô giá trị, chẳng có chút liên hệ nào với sự thật, thứ mà tôi lẽ ra phải khước từ việc bước theo những con đường bí ẩn và đã được định sẵn của nó.

Nhưng khi tôi đến Champs-Elysées — và, như thoạt nhìn có vẻ thế, ở vào vị thế có thể đối đầu với tình yêu của mình, để bắt nó trải qua những biến đổi cần thiết, với nguyên nhân sống động và độc lập của nó — ngay khi tôi xuất hiện trước mặt Gilberte Swann ấy — người mà sự hiện diện của cô từng được tôi trông đợi để hồi sinh những hình ảnh mà trí ốm yếu của tôi đã đánh mất và chẳng thể tìm lại được, người mà tôi từng chơi cùng ngày hôm qua, và vừa được thúc đẩy để chào hỏi rồi nhận ra bởi một bản năng mù quáng hệt như bản năng khi chúng ta đi đường, đặt chân này lên trước chân kia mà chẳng có thời gian để suy nghĩ mình đang làm gì — thì ngay lập tức, mọi chuyện biến đổi hệt như thể cô và cô bé từng truyền cảm hứng cho những giấc mơ của tôi là hai con người hoàn toàn khác nhau. Ví dụ, nếu tôi lưu giữ trong ký ức qua đêm trước hai đôi mắt rực lửa phía trên đôi má bầu bĩnh và hồng hào, thì gương mặt của Gilberte giờ đây lại mang đến cho tôi (và một cách đầy điểm nhấn) thứ gì đó mà tôi hoàn toàn không hề ghi nhớ: một sự sắc sảo và kéo dài nhất định của chiếc mũi, khi kết hợp tức thì với một số đặc điểm khác trên gương mặt cô, đã mang tầm quan trọng của những đặc điểm được dùng trong sinh học để định nghĩa một loài, và biến cô thành một cô bé thuộc tuýp người có gương mặt góc cạnh. Trong lúc tôi đang chuẩn bị tận dụng khoảnh khắc được mong chờ từ lâu này, và đắm mình vào ấn tượng về Gilberte mà tôi đã chuẩn bị sẵn trong đầu nhưng nay chẳng tài nào tìm lại được nữa, đến mức có thể bảo đảm rằng trong suốt những giờ phút dài dằng dặc phải ở một mình, tôi thực sự có cô trong tâm trí, rằng tôi thực sự đang vun đắp tình yêu dành cho cô, giống như một cuốn sách lớn dần lên khi người ta viết nó — thì cô ném về phía tôi một quả bóng; và, giống như triết gia theo chủ nghĩa duy tâm — kẻ có thân xác vẫn tiếp nhận thế giới bên ngoài trong khi trí tuệ từ chối tin vào thực tại của nó — chính cái bản ngã từng khiến tôi chào cô trước khi nhận diện ra cô lại thúc giục tôi bắt lấy quả bóng mà cô tung tới (cứ như cô là một người bạn đồng hành mà tôi đến để chơi cùng chứ không phải là một tâm hồn tri kỷ mà tâm hồn tôi đã hợp nhất), khiến tôi, vì phép lịch sự, cho đến lúc cô phải ra đi, buông ra hàng ngàn lời chào hỏi tầm phã và xã giao với cô, qua đó ngăn cản tôi cả việc giữ lấy sự tĩnh lặng — nơi tôi có thể cuối cùng đặt tay lên ý tưởng không thể thiếu nhưng đã trốn chạy ấy — lẫn việc thốt ra những lời lẽ có thể tạo ra bước tiến dứt khoát trong hành trình tình yêu của chúng ta, điều mà tôi luôn buộc phải trông chờ vào buổi chiều hôm sau. Tuy nhiên, đôi khi cũng có những phát triển mới. Một hôm, chúng tôi cùng Gilberte đến quầy của người bán hàng quen thuộc của riêng chúng tôi — người luôn đặc biệt tử tế với chúng tôi, bởi vì đây là nơi ông Swann thường sai người đến mua bánh gừng; vì lý do sức khỏe (ông mắc chứng bệnh chàm gia truyền và chứng táo bón của các nhà tiên tri), ông tiêu thụ loại bánh này với số lượng lớn — Gilberte mỉm cười chỉ cho tôi thấy hai cậu bé trông giống hệt cậu họa sĩ nhỏ và cậu nhà tự nhiên học trong những cuốn truyện tranh thiếu nhi. Bởi vì một đứa nhất quyết không chịu nhận chiếc gậy kẹo màu đỏ vì thích màu tía hơn, trong khi đứa kia, nước mắt rưng rưng, từ chối quả mận mà vú em đang mua cho nó, bởi vì — như cuối cùng nó giải thích bằng giọng đầy đam mê: “Con muốn quả mận kia cơ; quả đấy có con giun trong đó!” Tôi mua hai viên bi giá một xu. Với đôi mắt ngưỡng mộ, tôi nhìn những viên bi mã não sáng lấp lánh và bị giam cầm bên trong một chiếc bát, những viên bi mà tôi thấy thật quý giá bởi vì chúng trong trẻo và tươi cười hệt như những cô bé, và bởi vì mỗi viên có giá tận năm xu. Gilberte, người được cho tiền tiêu vặt nhiều hơn tôi rất nhiều, hỏi tôi viên nào đẹp nhất. Chúng trong suốt, mang vẻ lỏng lẻo hệt như chính sự sống. Tôi không hề muốn cô phải hy sinh dù chỉ một viên trong số đó. Tôi ước gì cô có thể mua hết chúng, giải thoát cho tất cả. Dù vậy, tôi chỉ vào một viên có cùng màu với mắt cô. Gilberte cầm lấy nó, xoay đi xoay lại cho đến khi nó lóe lên một tia vàng, âu yếm nó, trả tiền chuộc cho nó, nhưng ngay lập tức trao lại cho tôi kẻ bị bắt giữ ấy, nói rằng: “Cầm lấy đi; nó dành cho cậu đấy, tớ tặng cậu đấy, giữ lấy để làm kỷ niệm về tớ nhé.”

Một lần khác, vẫn bị ám ảnh bởi khao khát được thưởng thức diễn xuất của Berma trong dòng kịch cổ điển, tôi đã hỏi cô xem cô có bản sao của một cuốn sách nhỏ trong đó Bergotte bàn về Racine hay không, thứ hiện đã ngưng xuất bản. Cô bảo tôi hãy cho cô biết chính xác tựa đề của nó, và tối hôm đó tôi đã gửi cho cô một bức điện tín nhỏ, viết trên phong bì cái tên Gilberte Swann, thứ mà tôi đã bao lần nguệch ngoạc trên những cuốn vở bài tập của mình. Hôm sau, cô mang đến cho tôi một gói quà được buộc bằng dải ruy băng hồng và niêm phong bằng sáp trắng: cuốn sách nhỏ mà cô đã xoay sở tìm được. “Cậu thấy đấy, đúng thứ cậu hỏi tớ rồi nhé,” cô nói, rút từ trong chiếc múp của mình ra bức điện tín mà tôi đã gửi. Nhưng trên phần địa chỉ của bức thư khí động học — thứ mà chỉ mới hôm qua thôi chẳng là gì cả, chỉ đơn thuần là một ‘mẩu xanh’ tôi viết, và sau khi người đưa thư giao nó cho người gác cổng của Gilberte và một người hầu mang lên phòng cho cô, đã trở thành một thứ vô giá trị hay tầm thường, một trong những ‘mẩu xanh’ mà cô nhận được trong ngày — tôi khó lòng nhận ra những nét chữ nguệch ngoạc, phù phiếm của chính mình bên dưới những vòng dấu bưu điện được đóng lên đó, những dòng ghi chú bằng bút chì được thêm vào bởi người phát thư, những dấu hiệu của hiện thực hóa hữu hiệu, những con dấu của thế giới bên ngoài, những dải băng tím biểu trưng cho chính sự sống — lần đầu tiên đến để kết duyên, để nâng đỡ, để nuôi dưỡng, để làm rạng rỡ giấc mơ của tôi.

Và có một ngày khác cô bảo tôi: “Cậu biết đấy, cậu có thể gọi tớ là ‘Gilberte’; dù sao đi nữa, tớ cũng sẽ gọi cậu bằng tên riêng. Ngớ ngẩn quá khi không làm thế.” Dù vậy, cô vẫn tiếp tục dùng đại từ lịch sự ‘vous’ khi xưng hô với tôi trong một thời gian, và khi tôi lưu ý cô về điều này, cô mỉm cười, rồi sáng tác, cấu trúc một câu giống như những câu được đặt trong sách ngữ pháp của các ngoại ngữ với không mục đích nào khác ngoài việc dạy chúng ta cách sử dụng một từ mới, kết thúc nó bằng tên thánh của tôi. Và khi tôi nhớ lại, sau đó, những gì mình từng cảm nhận vào thời điểm ấy, tôi có thể phân biệt được ấn tượng về việc đã được giữ lấy, trong giây lát, ngay trong khoang miệng cô, chính bản thân tôi, trần trụi, không còn mang bất kỳ phẩm chất xã hội nào vốn thuộc về những người bạn khác của cô và, khi cô dùng họ của tôi, thuộc về bố mẹ tôi — những phụ kiện mà đôi môi cô — qua nỗ lực mà cô thực hiện, hơi giống phong cách của cha cô, nhằm phát âm những từ mà cô muốn trao cho một giá trị đặc biệt — có vẻ như đang lột bỏ, đang tước đoạt khỏi tôi, hệt như người ta lột vỏ một quả trái cây để chỉ đưa phần ruột vào miệng, trong khi ánh mắt cô, điều chỉnh theo cùng một mức độ thân mật mới như lời nói của cô, cũng hướng về tôi trực diện hơn, không giấu giếm ý thức, niềm vui, thậm chí cả sự biết ơn mà nó cảm nhận, đi kèm theo một nụ cười.

Nhưng vào đúng khoảnh khắc đó, tôi chẳng thể nào trân trọng nổi giá trị của những niềm vui mới mẻ này. Chúng không được ban tặng bởi cô bé mà tôi yêu dành cho tôi — kẻ yêu cô — mà bởi người kia, cô bé mà tôi từng chơi cùng, dành cho cái bản ngã thứ hai của tôi, kẻ chẳng sở hữu ký ức về Gilberte thực sự, cũng chẳng giữ nổi một trái tim kiên định — thứ duy nhất có thể thấu hiểu giá trị của một hạnh phúc mà chỉ riêng nó từng khát khao. Ngay cả sau khi đã trở về nhà, tôi vẫn không nếm trải được chúng, bởi vì mỗi ngày, cái mệnh buộc thúc đẩy tôi hy vọng rằng vào ngày mai tôi sẽ đạt đến sự chiêm nghiệm trong sáng, bình yên và hạnh phúc về Gilberte — rằng cuối cùng cô sẽ thú nhận tình yêu dành cho tôi, giải thích cho tôi những lý do buộc cô phải che giấu nó bấy lâu — chính cái mệnh buộc ấy lại ép buộc tôi xem quá khứ là vô nghĩa, chỉ nhìn về phía trước, chỉ cân nhắc những lợi thế nhỏ nhoi mà cô vừa ban tặng không phải tự thân chúng và như thể chúng tự đủ đầy, mà giống như những nấc thang mới để tôi đặt chân lên, những thứ sẽ cho phép tôi tiến thêm một bước nữa và cuối cùng vươn tới hạnh phúc mà tôi vẫn chưa từng gặp mặt.

Nếu đôi khi cô thể hiện cho tôi thấy những dấu hiệu tình cảm ấy, cô cũng khiến tôi phiền lòng bởi dường như chẳng vui vẻ gì khi gặp tôi, và điều này thường xảy ra vào chính những ngày mà tôi đặt nhiều kỳ vọng nhất cho sự hiện thực hóa những giấc mơ của mình. Tôi chắc chắn rằng Gilberte sẽ đến Champs-Elysées, và tôi cảm thấy một niềm phấn khích dường như chỉ là sự dự báo trước của một hạnh phúc lớn lao khi — bước vào phòng khách buổi sáng để hôn má Mẹ, người đã diện đồ sẵn sàng để ra ngoài với những lọn tóc đen được búi dựng công phu, và đôi bàn tay đẹp đẽ, bầu bĩnh, trắng trẻo vẫn thơm ngát mùi xà phòng — tôi được báo hiệu, bằng việc nhìn thấy một cột bụi đứng lơ lửng trong không khí phía trên cây đàn piano, và bằng việc nghe thấy tiếng một chiếc đàn thùng quay tay đang phát ra bên dưới cửa sổ khúc *En revenant de la revue*, rằng mùa đông đã đón nhận, cho đến tận khi màn đêm buông xuống, một chuyến viếng thăm bất ngờ và rực rỡ từ một ngày xuân. Trong lúc chúng tôi đang dùng bữa trưa, bằng cách mở toang cửa sổ, người phụ nữ ở tòa nhà đối diện đã đuổi biến đi mất, chỉ trong chớp mắt, khỏi cạnh chiếc ghế của tôi — để quét một mạch qua toàn bộ chiều rộng phòng ăn — một tia nắng vừa nằm dài nghỉ trưa ở đó để rồi quay lại tiếp tục giấc ngủ một lát sau. Ở trường, trong giờ học lúc một giờ, ánh mặt trời làm tôi phát ốm vì thiếu kiên nhẫn và chán chường khi nó thả xuống một dòng suối vàng bò lê lết đến tận mép bàn học, tựa như một lời mời đến bữa tiệc mà tôi không thể tự mình đến kịp trước ba giờ, cho đến khoảnh khắc Françoise đến đón tôi ở cổng trường, và chúng tôi rảo bước hướng về Champs-Elysées qua những con phố được trang hoàng bởi ánh nắng, đông đúc người qua đường, nơi những chiếc ban công được tách rời bởi ánh nắng và trở nên bồng bềnh, dường như lơ lửng trước những ngôi nhà hệt như những đám mây vàng. Hỡi ôi! Ở Champs-Elysées, tôi chẳng tìm thấy bóng dáng Gilberte đâu cả; cô vẫn chưa đến. Bất động trên bãi cỏ được nuôi dưỡng bởi ánh mặt trời vô hình — thứ nơi này nơi khác thắp lên ngọn lửa ở chóp của một ngọn cỏ, trong khi những con chim bồ câu sà xuống đó mang vẻ bề ngoài của những tác phẩm điêu khắc cổ đại vừa được chiếc cuốc của người làm vườn cạy lên bề mặt của một mảnh đất thiêng — tôi đứng với đôi mắt dán chặt vào đường chân trời, mong chờ từng khoảnh khắc được nhìn thấy bóng dáng Gilberte xuất hiện sau bóng dáng của cô gia sư, đằng sau bức tượng dường như đang giơ cao đứa trẻ trên tay — đứa trẻ mà bức tượng ôm trong ngực và đang lấp lánh dưới dòng chảy ánh sáng — để nhận lấy phước lành từ mặt trời. Bà cụ đọc báo Débats vẫn ngồi trên chiếc ghế của mình, ở vị trí quen thuộc, vừa mới chào một nhân viên công viên bằng cái vẫy tay thân thiện cùng lời thốt lên: “Hôm nay trời đẹp làm sao!” Và khi người phụ nữ thu tiền ghế bước đến để thu đồng xu, với vô vàn điệu bộ và sự làm hàng, bà cất chiếc vé vào trong găng tay, hệt như một bó hoa mà để tỏ lòng biết ơn người hiến tặng, bà đã tìm kiếm vị trí duyên dáng nhất trên cơ thể mình. Khi tìm được rồi, bà thực hiện một chuyển động tròn bằng cổ, chỉnh lại chiếc khăn boa, và găm vào người thu tiền, khi chỉ cho cô ta thấy phần đầu giấy màu vàng nhô ra qua cổ tay trần, nụ cười mê hoặc mà một phụ nữ dùng để nói với một chàng trai trẻ, chỉ vào ngực mình: “Cậu thấy đấy, tôi đang đeo hoa của cậu đấy!”

Tôi kéo lê Françoise trên đường hướng về phía Gilberte, đi tuốt tới tận Khải Hoàn Môn; chúng tôi không gặp cô, và tôi đang quay trở lại bãi cỏ với niềm tin chắc mẩm rằng cô sẽ không đến nữa thì, trước những con ngựa gỗ, cô bé có giọng nói lanh lảnh lao bổ vào tôi: “Nhanh lên, nhanh lên, Gilberte đến đây được một khắc rồi đấy. Cậu ấy chuẩn bị về rồi kìa. Bọn tớ đang đợi cậu để lập đủ đội chơi cướp cờ đấy.”

Trong lúc tôi đang đi lên đại lộ Champs-Elysées, Gilberte đã đến từ phía đường Rue Boissy-d'Anglas, khi tiểu thư tranh thủ thời tiết đẹp để đi làm việc vặt của riêng cô; và ông Swann thì đang đến để đón con gái mình. Và thế là đó là lỗi tại tôi; lẽ ra tôi không nên rời khỏi bãi cỏ; bởi vì người ta chẳng bao giờ biết chắc chắn từ hướng nào Gilberte sẽ xuất hiện, liệu cô sẽ đến sớm hay muộn, và sự căng thẳng kéo dài này càng làm cho không chỉ toàn bộ Champs-Elysées và toàn bộ quãng thời gian buổi chiều trở nên ấn tượng hơn — giống như một không gian và thời gian rộng lớn mênh mông, tại mọi điểm và mọi khoảnh khắc mà sự xuất hiện của bóng dáng Gilberte là điều khả dĩ — mà còn cả chính bóng dáng ấy nữa, bởi vì đằng sau sự xuất hiện đó, tôi linh cảm thấy ẩn giấu lý do tại sao cô lại bắn mũi tên vào trái tim tôi lúc bốn giờ thay vì hai giờ rưỡi; đội chiếc mũ sang trọng để đi trả thiệp thay vì chiếc mũ lưỡi trai giản dị dành cho trò chơi; trước quán cà phê Ambassadeurs chứ không phải giữa hai rạp múa rối; tôi chạm trán với một trong những bận rộn mà ở đó tôi không được phép đi theo Gilberte, những bận rộn buộc cô phải ra ngoài hoặc ở nhà, tôi đang tiếp xúc với sự kỳ bí trong cuộc sống chưa được biết tới của cô. Chính sự kỳ bí này cũng là điều khiến tôi bối rối khi, chạy theo tiếng gọi của cô bé giọng lanh lảnh để bắt đầu trò chơi mà không chần chừ thêm, tôi nhìn thấy Gilberte — người vốn nhanh nhẹn và tự nhiên khi ở bên chúng tôi — lại cúi chào đầy nghi thức trước bà cụ đọc báo Débats (người đáp lại bằng câu: “Nắng đẹp quá! Cứ như có đám cháy đang bùng lên vậy”), trò chuyện với bà bằng một nụ cười rụt rè, với một vẻ gượng gạo gợi nhắc tôi về một Gilberte khác mà cô phải là khi ở nhà với bố mẹ, hoặc với bạn bè của bố mẹ, đi trả thiệp, trong tất cả những phần còn lại của sự tồn tại mà tôi không tài nào với tới. Nhưng về sự tồn tại đó, không ai mang lại cho tôi ấn tượng mạnh mẽ bằng ông Swann, người đến đón con gái muộn hơn một chút. Đó là bởi vì ông và phu nhân Swann — chừng nào con gái còn sống chung với họ, chừng nào việc học, trò chơi, những mối quan hệ bạn bè của cô còn phụ thuộc vào họ — chứa đựng đối với tôi, hệt như Gilberte, thậm chí còn hơn cả Gilberte, đúng với tư cách là những chủ thể nắm giữ quyền lực tối cao đối với nguồn cội của cô, một phẩm chất chưa được xác định, không thể với tới của sức hấp dẫn u sầu. Mọi thứ liên quan đến họ đều là đối tượng cho sự bận tâm thường trực của tôi, đến mức vào những ngày mà — như ngày hôm nay — ông Swann (người mà tôi đã thấy rất nhiều lần ngày xưa, trước khi ông khơi gợi sự tò mò của tôi, khi ông vẫn còn giữ quan hệ tốt đẹp với bố mẹ tôi) đến đón Gilberte ở Champs-Elysées, một khi nhịp đập tim từng bị kích thích bởi sự xuất hiện của chiếc mũ phớt xám và chiếc áo choàng trùm đầu của ông đã lắng xuống, cảnh tượng về ông vẫn gây ấn tượng mạnh với tôi hệt như khi đối diện với một nhân vật lịch sử mà người ta vừa nghiên cứu qua một loạt sách vở, và mọi chi tiết nhỏ nhất trong đời sống của họ đều được học hỏi với niềm nhiệt thành. Mối quan hệ của ông với Bá tước xứ Paris, điều mà khi nghe bàn tán ở Combray tôi thấy chẳng có gì quan trọng, nay bỗng trở thành một điều gì đó kỳ diệu trong mắt tôi, như thể chưa từng có ai khác trên đời biết đến Hoàng tộc Orleans; chúng đặt ông tách biệt nổi bật giữa nền phông tầm thường của những người qua đường thuộc đủ mọi tầng lớp đang cản trở lối đi cụ thể ấy ở Champs-Elysées, giữa số đông mà tôi ngưỡng mộ việc ông hạ mình hòa lẫn vào mà không đòi hỏi bất kỳ sự tôn kính đặc biệt nào — điều mà ngẫu nhiên là chẳng ai trong số họ thèm màng tới, sâu sắc biết bao lớp ngụy trang ẩn dật mà ông khoác lên mình.

Ông đáp lại một cách lịch sự những lời chào hỏi của đám bạn Gilberte, thậm chí cả của tôi, dù cho ông không còn giữ quan hệ tốt với gia đình tôi nữa, nhưng không hề tỏ ra là mình biết tôi là ai. (Điều này nhắc nhở tôi rằng ông từng liên tục nhìn thấy tôi ở vùng quê; một ký ức mà tôi vẫn giữ lại nhưng che giấu đi, bởi vì kể từ khi tôi gặp lại Gilberte, Swann đã trở thành đối với tôi trước hết là cha của cô, chứ không còn là ông Swann ở Combray nữa; vì những ý tưởng mà giờ đây tôi gán cho tên ông đã khác với hệ thống ý tưởng từng bao hàm nó trước kia, thứ mà tôi hoàn toàn không sử dụng đến nữa khi có dịp nghĩ về ông, ông đã trở thành một con người mới, một người khác; dẫu vậy tôi vẫn gắn kết ông bằng một sợi chỉ nhân tạo, thứ cấp và chéo ngang, với vị khách cũ của chúng ta; và vì chẳng còn thứ gì có giá trị đối với tôi ngoại trừ mức độ mà tình yêu của tôi có thể thu lợi từ đó, nên tôi đã nắm bắt lại những năm tháng — với một cơn co thắt hổ thẹn và hối tiếc vì không thể xóa nhòa chúng khỏi trí nhớ — khi mà trong mắt chính ông Swann này, kẻ đang đứng trước mặt tôi lúc này ở Champs-Elysées, và may mắn thay, có lẽ Gilberte vẫn chưa hề nhắc đến tên tôi, tôi đã bao lần vào buổi chiều tối tự biến mình thành trò cười bằng cách sai người gọi Mẹ lên phòng để chúc ngủ ngon, trong khi bà đang uống cà phê cùng ông và bố tôi cùng ông bà nội quanh chiếc bàn trong vườn.) Ông bảo Gilberte rằng cô có thể chơi thêm một ván; ông có thể đợi trong mười lăm phút; và rồi, ngồi xuống hệt như bất kỳ ai khác trên một chiếc ghế sắt, trả tiền vé bằng chính bàn tay mà Philippe VII từng nắm giữ nhiều lần trong tay mình, trong lúc chúng tôi bắt đầu trận đấu trên bãi cỏ, xua đuổi đàn chim bồ câu — những thân hình xinh đẹp, óng ánh (có hình dáng giống như trái tim và, chắc chắn rồi, là những đóa hoa tử đinh hương của vương quốc có cánh) tìm kiếm nơi trú ẩn như trong vô vàn chốn linh thiêng, con thì đậu trên chiếc bồn đá lớn, nơi chiếc m chiếc mỏ của nó khi khuất dạng bên dưới vành bồn đã trao cho nó vai trò, ấn định mục đích dâng hiến cho chú chim loại quả hay hạt mà nó có vẻ đang mổ xấy dồi dào, con khác đậu trên đỉnh bức tượng, thứ dường như đội lên đầu nó một trong những vật trang phẩm bằng men nhiều màu làm phá vỡ sự đơn điệu của hòn đá trong một số tác phẩm kinh điển và mang một thuộc tính mà khi vị nữ thần mang nó, biến cô thành, giống như một tên thánh khác của người trần thế, một vị thần mới.

Vào một trong những ngày nắng đẹp nhưng chẳng hề hiện thực hóa những hy vọng của tôi, tôi đã không có đủ dũng khí để che giấu sự thất vọng của mình trước mặt Gilberte.

“Tớ có bao nhiêu là điều muốn hỏi cậu cơ,” tôi nói với cô; “tớ tưởng hôm nay sẽ mang lại ý nghĩa biết bao cho tình bạn của chúng ta. Thế mà cậu vừa đến đã lại đi ngay rồi! Cố gắng ra sớm vào ngày mai nhé, để tớ có thể nói chuyện với cậu.”

Gương mặt cô bừng sáng và cô nhảy cót lên vì sung sướng khi đáp lại rằng: “Ngày mai á, cậu cứ xác định đi, bạn thân mến ơi, tớ không ra đâu!

“Trước hết tớ có một bữa tiệc trưa lớn; rồi buổi chiều tớ sang nhà một người bạn để ngắm vua Theodosius đến từ cửa sổ nhà cậu ấy; chẳng phải tuyệt lắm sao? — và rồi, ngày kia, tớ đi xem vở *Michel Strogoff*, và sau đó chẳng mấy chốc sẽ là Giáng sinh và kỳ nghỉ Năm mới! Có lẽ họ sẽ đưa tớ đi nghỉ đông ở miền Nam, vùng Riviera; chẳng phải tuyệt lắm sao? Dù tớ sẽ nhớ cây thông Noel ở đây lắm; dẫu sao thì, nếu tớ ở lại Paris, tớ cũng chẳng ra đây đâu vì phải đi trả thiệp cùng mẹ. Tạm biệt nhé — bố đang gọi tớ kìa.”

Tôi thẫn thờ trở về nhà cùng Françoise qua những con phố hãy còn vương vấn ánh nắng vui tươi, hệt như buổi chiều của một ngày lễ hội khi cuộc vui đã tàn. Tôi lê lết từng bước chân.

“Cháu chẳng ngạc nhiên chút nào,” Françoise nói, “tiết trời dạo này chẳng đúng lúc đúng mùa gì cả; ấm quá mức cho phép. Ối chao là ối chao, nghĩ đến bao nhiêu là người bệnh tật khốn khổ ngoài kia kìa; cứ như thể ở trên trời kia, mọi thứ cũng đang rối tung cả lên rồi ấy.”

Tôi tự lẩm bẩm trong cổ họng, cố nén những tiếng nấc nghẹn ngào, những lời mà Gilberte vừa thốt lên để bày tỏ niềm sung sướng vì không phải quay trở lại Champs-Elysées trong một thời gian dài. Nhưng ngay lúc ấy, thứ sức hút mà nhờ đó, chỉ bằng hành động suy nghĩ, tâm trí tôi đã tràn ngập hình bóng cô ngay khi nghĩ đến cô, vị thế ưu quyền — độc nhất vô nhị dẫu có đớn đau — nơi tôi bị trói buộc một cách bất khả kháng đối với Gilberte bởi sự co thắt của một vết sẹo trong tâm trí, đã bắt đầu bồi đắp vào chính dấu hiệu dã dửng dưng ấy một sắc thái lãng mạn, và giữa những dòng nước mắt, đôi môi tôi lại vẽ nên một nụ cười — thứ thực ra chỉ là phác thảo rụt rè của một nụ hôn. Và khi đến giờ người đưa thư đến, tối hôm đó cũng như mọi tối khác, tôi tự nhủ: “Mình sắp nhận được thư của Gilberte rồi, cậu ấy sắp nói cho mình biết rằng cậu ấy chưa từng ngừng yêu mình, và giải thích cho mình lý do bí ẩn đã buộc cậu ấy phải che giấu tình yêu ấy với mình bấy lâu, phải ra vẻ như có thể hạnh phúc mà không cần gặp mình; lý do khiến cậu ấy phải khoác lên hình hài của cô Gilberte kia, kẻ vốn chỉ là một người bạn đồng hành.”

Mỗi buổi tối, tôi lại tự lừa dối mình bằng cách tưởng tượng ra bức thư này, tin rằng mình thực sự đang đọc nó, tự đọc thầm từng câu từng chữ một. Đột nhiên tôi khựng lại, đầy hoảng hốt. Tôi nhận ra rằng, nếu tôi thực sự nhận được một bức thư từ Gilberte, nó chắc chắn không thể là bức thư này, bởi vì chính tôi vừa mới nhào nặn ra nó. Và kể từ khoảnh khắc đó, tôi lại chật vật giữ cho tâm trí mình thật trong sạch khỏi những từ ngữ mà tôi từng ao ước cô viết cho mình, vì sợ rằng, bằng cách tự tay lựa chọn chúng trước, tôi sẽ vô tình loại trừ chính những từ ngữ đích xác ấy — những từ thân thương nhất, được khao khát nhất — ra khỏi biên độ của những sự kiện có khả năng xảy ra. Ngay cả khi, bằng một sự trùng hợp bất khả thi đi nữa, đó chính xác là bức thư do chính tôi phát minh ra mà Gilberte gửi đến cho tôi đi nữa, nhận ra tác phẩm của chính mình trong đó, tôi cũng chẳng có nổi ấn tượng rằng mình đang đón nhận một thứ không bắt nguồn từ bản thân, một thứ thực sự, một điều mới mẻ, một niềm hạnh phúc bên ngoài tâm trí tôi, độc lập với ý chí của tôi, quả thực là một món quà từ tình yêu.

Trong lúc chờ đợi, tôi đọc lại một trang sách — dù không được viết riêng cho tôi bởi Gilberte, nhưng dẫu sao cũng đến từ cô — trang sách của Bergotte viết về vẻ đẹp của những huyền thoại cổ xưa mà Racine đã khai thác làm nguồn cảm hứng, thứ mà (cùng với viên bi mã não) tôi luôn giữ trong tầm với. Tôi vô cùng cảm động trước sự tử tế của cô bạn khi đã kiếm hộ tôi cuốn sách ấy; và hệt như cách mọi người buộc phải tìm kiếm một lý do nào đó cho niềm đam mê của mình, đến mức họ vui mừng khôn xiết khi phát hiện ở sinh linh mình yêu những phẩm chất (được học qua sách vở hoặc qua trò chuyện) xứng đáng khơi gợi tình yêu của đàn ông, để rồi họ đồng hóa chúng qua sự bắt chước và nhào nặn nên những lý do mới cho tình yêu của mình, ngay cả khi những phẩm chất ấy trái ngược hoàn toàn với những gì tình yêu vốn tìm kiếm khi còn tự phát — giống như cách Swann trước thời của tôi từng tìm cách thiết lập nền tảng thẩm mỹ cho vẻ đẹp của Odette — tôi, kẻ từng đem lòng yêu Gilberte thủa ở Combray vì toàn bộ những yếu tố ẩn khuất trong cuộc đời cô mà tôi hằng muốn lao đầu vào khám phá, nay đã trải qua một cuộc tái sinh, vứt bỏ sự tồn tại riêng biệt của bản thân như một thứ chẳng còn quan trọng nữa, tôi xem như một đặc ân vô giá việc Gilberte có thể một ngày nào đó trở thành người hầu khiêm nhường, người cộng tác tử tế và an ủi cho chính sự tồn tại quen thuộc đến nhàm chán, đáng khinh của tôi, kẻ vào những buổi tối sẽ giúp tôi trong công việc, sẽ đối chiếu giúp tôi các văn bản của những cuốn sách hiếm. Còn về phần Bergotte, vị lão ông khôn ngoan vô tận, tựa như thần linh ấy — vì cớ ông mà tôi từng đem lòng yêu Gilberte trước cả khi gặp mặt — thì giờ đây, chính vì Gilberte mà tôi yêu quý ông hơn hết. Với niềm hân hoan chẳng kém những trang viết ông bàn về Racine, tôi nghiên cứu lớp vỏ bọc, được gấp lại dưới những con dấu sáp trắng lớn và buộc bằng những lớp ruy băng hồng dềnh dàng, thứ mà cô đã dùng để mang những trang sách ấy đến cho tôi. Tôi hôn viên bi mã não, thứ vốn là phần tuyệt vời nhất trong trái tim tình yêu của tôi, phần không phù phiếm mà chung thủy, và, dù được tô điểm bởi vẻ đẹp huyền bí từ cuộc đời Gilberte, vẫn sống cận kề bên tôi, ngự trị trong căn phòng của tôi, chia sẻ chiếc giường của tôi. Nhưng vẻ đẹp của hòn đá ấy, và cả vẻ đẹp của những trang sách Bergotte mà tôi rất vui khi được gắn kết với ý tưởng về tình yêu của mình dành cho Gilberte, như thể trong những khoảnh khắc tình yêu ấy dường như chẳng còn tồn tại, chúng mang lại cho nó một dạng thức nhất quán nào đó, hóa ra đều có trước tình yêu ấy, chẳng hề giống nó chút nào; các thành phần của chúng đã được định hình bởi tài năng của nhà văn, hoặc bởi các quy luật địa chất, từ trước khi Gilberte biết đến tôi; chẳng có gì trong cuốn sách hay hòn đá thay đổi dù Gilberte có yêu tôi hay không, và do đó chẳng có gì cho phép tôi đọc ra trong đó một thông điệp hạnh phúc. Và trong lúc tình yêu của tôi, cứ mãi ngóng trông ngày mai mang đến lời thú nhận tình yêu từ Gilberte, lại tự tay phá hủy, tháo gỡ từng buổi tối công việc dở dang của ban ngày, thì ở một góc khuất u tối nào đó trong bản ngã của tôi lại có một người thợ dệt vô hình không hề bỏ mặc những sợi chỉ đứt lìa nằm đó, mà thu gom và sắp xếp lại chúng, chẳng màng đến việc làm hài lòng tôi hay lao động vì lợi ích của tôi, theo một trật tự hoàn toàn khác mà cô áp đặt lên mọi tác phẩm của mình. Không chút bận tâm đặc biệt nào đến tình yêu của tôi, chẳng thèm mở đầu bằng việc quyết định rằng tôi được yêu, cô đặt cạnh nhau những hành động của Gilberte từng khiến tôi thấy khó hiểu cùng những lỗi lầm mà tôi từng xí xóa. Rồi từng thứ một, chúng bắt đầu mang một ý nghĩa. Sự sắp xếp mới mẻ này như muốn nói với tôi rằng, khi tôi nhìn thấy Gilberte thay vì đến với tôi ở Champs-Elysées, lại đi dự tiệc, hoặc đi làm việc vặt cùng cô gia sư, khi tôi thấy cô chuẩn bị cho một chuyến vắng nhà kéo dài suốt kỳ nghỉ Năm mới, tôi đã sai lầm khi nghĩ, khi thốt lên rằng: “Đó là vì cậu ấy phù phiếm,” hay “dễ bị dắt mũi.” Bởi vì cô ấy đã chẳng còn là bất cứ điều gì trong số đó nếu cô thực sự yêu tôi, và nếu cô bị buộc phải tuân lệnh thì điều đó chắc chắn đã đi kèm với sự tuyệt vọng trong tim hệt như những ngày tôi không được gặp cô. Sự sắp xếp ấy còn cho tôi thấy rõ hơn nữa rằng rốt cuộc tôi phải biết cảm giác yêu là thế nào, từ khi tôi yêu Gilberte; nó thu hút sự chú ý của tôi vào nỗi lo âu thường trực muốn ‘làm mã’ trước mặt cô, khiến tôi tìm cách thuyết phục Mẹ mua cho Françoise một chiếc áo mưa và chiếc mũ lông chim xanh, hay tuyệt vời hơn nữa là thôi đừng cử đi cùng tôi đến Champs-Elysées một người hầu khiến tôi thấy hổ thẹn khi xuất hiện cùng (đáp lại tất cả những điều đó, Mẹ bảo tôi rằng tôi đã đối xử bất công với Françoise, rằng cô là một người phụ nữ tuyệt vời và tận tụy với tất cả chúng tôi) và cả cái nhu cầu độc tôn, duy nhất muốn được nhìn thấy Gilberte — kết quả là tôi chẳng thể nghĩ đến điều gì khác ngoài việc làm sao tìm ra thời điểm cô sẽ rời Paris và đi đâu, cảm thấy rằng vùng đất hấp dẫn nhất trên đời cũng chỉ là chốn lưu đày nếu cô không có mặt ở đó, và chỉ xin được phép ở lại mãi mãi ở Paris miễn là được nhìn thấy cô ở Champs-Elysées; và sự sắp xếp ấy chẳng mấy khó khăn để tôi nhận ra rằng cả nỗi lo âu lẫn nhu cầu của tôi đều chẳng thể được biện minh bởi bất kỳ điều gì trong hạnh kiểm của Gilberte. Trái lại, cô thực sự yêu quý cô gia sư của mình, chẳng màng bận tâm đến việc tôi có thể chọn nghĩ gì về điều đó. Việc không đến Champs-Elysées nếu phải đi mua sắm cùng cô Mademoiselle, hay việc cảm thấy vô cùng thú vị nếu phải đi đâu đó cùng mẹ, đối với cô là những điều hết sức tự nhiên. Và ngay cả khi cô từng cho phép tôi trải qua kỳ nghỉ ở cùng một địa điểm với cô đi nữa, khi đến lúc phải chọn lựa địa điểm ấy, cô sẽ cân nhắc mong muốn của bố mẹ, muôn vàn trò vui khác nhau mà cô được nghe kể, chứ chẳng đời nào chọn nơi mà gia đình tôi đang định gửi tôi đến. Khi cô quả quyết với tôi (như đôi khi vẫn thế) rằng cô ít thích tôi hơn một số người bạn khác, ít thích hơn ngày hôm qua bởi vì sự bất cẩn của tôi đã khiến đội của cô thua cuộc, tôi sẽ cầu xin cô tha thứ, tôi sẽ khẩn nài cô chỉ bảo tôi phải làm gì để cô lại bắt đầu thích tôi nhiều bằng hoặc hơn những người khác; tôi hy vọng được nghe cô nói rằng tôi đã ở vị thế đó rồi; tôi nài nỉ cô; hệt như thể cô có thể tự do thay đổi tình cảm dành cho tôi theo ý cô hay ý tôi muốn, để làm tôi vui, chỉ bằng những lời cô sẽ thốt lên, tùy theo cách cư xử tốt hay xấu của tôi. Phải chăng khi ấy tôi vẫn chưa nhận thức được rằng thứ tình cảm tôi dành cho cô chẳng phụ thuộc vào hành động của cô hay khao khát của chính tôi?

Cuối cùng, sự sắp xếp mới do người thợ dệt vô hình vạch ra cho tôi thấy rằng, nếu chúng ta bắt gặp bản thân đang hy vọng những hành động của một kẻ từng khiến ta lo âu hóa ra không phải là chân thật, thì chúng vẫn để lại phía sau một thứ ánh sáng mà những niềm hy vọng của chúng ta bất lực trong việc dập tắt — một thứ ánh sáng mà chúng ta phải cậy nhờ hơn là cậy nhờ vào hy vọng để đặt ra câu hỏi, đâu sẽ là hành động của kẻ đó vào ngày mai.

Trước những lời khuyên mới này, tình yêu của tôi lắng nghe và thấu hiểu; chúng thuyết phục nó rằng ngày mai sẽ chẳng khác gì những ngày đã qua; rằng tình cảm của Gilberte dành cho tôi — đã quá lâu đời để có thể thay đổi — chính là sự thờ ơ; rằng trong tình bạn của tôi với Gilberte, chỉ có một mình tôi yêu. “Đúng thế thật,” tình yêu đáp lại, “chẳng còn gì có thể vực dậy từ tình bạn ấy nữa đâu. Nó sẽ chẳng thay đổi nữa đâu.” Và thế là ngay ngày hôm sau (trừ khi tôi chờ đợi một ngày lễ chính thức, nếu có dịp nào đó sắp tới, một lễ kỷ niệm, năm mới chẳng hạn, một trong những ngày không giống như những ngày khác, nơi thời gian bắt đầu lại từ đầu, vứt bỏ di sản của quá khứ, khước từ di sản đau thương của nó), tôi sẽ khẩn nài Gilberte chấm dứt tình bạn cũ và cùng tôi đặt những nền móng cho một tình bạn mới.

* * *

Tôi luôn giữ bên mình một tấm bản đồ Paris, bởi vì có thể nhìn thấy vẽ trên đó con đường nơi vợ chồng ông bà Swann sinh sống, nó dường như chứa đựng một kho báu bí mật. Và để làm vừa lòng bản thân, cũng như một dạng lòng trung thành mang tính hiệp sĩ, trong bất kỳ mối liên hệ nào hoặc chẳng có chút liên quan nào đi nữa, tôi vẫn thường lặp đi lặp lại cái tên con phố ấy cho đến khi cha tôi — không được tường tận bí mật tình yêu của tôi như mẹ và bà ngoại — phải thốt lên rằng: “Nhưng sao lúc nào con cũng nhắc đến con phố đó thế? Có gì tuyệt vời ở đó đâu cơ chứ. Đó là một con phố tuyệt vời để sinh sống bởi vì nó chỉ cách khu rừng Bois vài phút đi bộ thôi, nhưng ngoài kia còn có cả tá những con phố y chang như thế.”

Tôi nỗ lực hết sức để đưa cái tên Swann vào các cuộc trò chuyện với bố mẹ; dường như trong thâm tâm, tôi chưa bao giờ ngừng lẩm bẩm nó; nhưng tôi cũng cần phải được nghe âm thanh tuyệt mỹ của nó, và tự chơi bản hợp âm ấy — thứ âm thanh không thành lời vốn chẳng tài nào làm tôi thỏa mãn. Hơn nữa, cái tên Swann ấy, thứ mà tôi đã quen thuộc từ lâu, giờ đây lại trở thành (như đôi khi xảy ra với những người mắc chứng mất ngôn ngữ đối với những từ ngữ thông thường nhất) cái tên của một thứ gì đó hoàn toàn mới mẻ. Nó hiện diện mãi trong tâm trí tôi, thế nhưng tâm trí lại chẳng tài nào quen nổi với nó. Tôi phân tích nó, tôi đánh vần nó; chính tả của nó mang đến cho tôi sự ngạc nhiên. Và cùng với sự quen thuộc ấy, nó đã đánh mất đi sự ngây thơ vốn có. Niềm vui mà tôi rút tỉa từ âm thanh của cái tên ấy khiến tôi cảm thấy tội lỗi đến mức tôi có cảm tưởng như những người khác có thể đọc được suy nghĩ của mình, và sẽ đổi chủ đề nếu tôi cố gắng lái câu chuyện theo hướng đó. Tôi quay trở lại với những chủ đề vẫn giúp tôi giữ được sự kết nối với Gilberte, tôi nhai đi nhai lại những từ ngữ cũ kỹ, và dẫu biết rằng chúng chỉ là những từ ngữ — những từ ngữ thốt lên trong sự vắng mặt của cô, thứ mà cô chẳng thể nghe thấy, những từ ngữ chẳng có chút công đức tự thân nào, chỉ lặp lại những sự kiện đích thực nhưng bất lực trong việc thay đổi chúng — thế nhưng tôi vẫn có cảm giác rằng bằng cách cọ xát, bằng cách khuấy động mọi thứ liên quan đến Gilberte theo cách này, tôi có lẽ sẽ khơi gợi được từ đó một điều gì đó mang lại cho tôi hạnh phúc. Tôi lại kể cho bố mẹ nghe rằng Gilberte rất quý cô gia sư của mình, hệt như thể lời khẳng định ấy khi được lặp lại đến lần thứ một trăm cuối cùng sẽ tạo ra hiệu lực khiến Gilberte bất ngờ xông vào phòng, đến sống với chúng tôi mãi mãi. Tôi từng ca ngợi bà cụ đọc báo Débats (từng ám chỉ với bố mẹ rằng bà ít nhất phải là góa phụ của một vị Đại sứ, nếu không thực sự là một Điện hạ) và tôi tiếp tục bàn luận không ngừng về vẻ đẹp, sự lộng lẫy, sự quý phái của bà, cho đến ngày tôi nhắc đến chuyện qua những gì tôi nghe Gilberte gọi, bà hình như chính là một bà Blatin.

“Ồ, giờ thì mẹ biết con đang nói đến ai rồi đấy,” mẹ kêu lên, trong khi tôi cảm thấy mặt mình đỏ bừng vì hổ thẹn. “Cẩn thận đấy! Cẩn thận đấy! — như lời ông con hay nói. Và hóa ra người mà con nghĩ là tuyệt vời thế lại là bà ta ư? Chà, bà ta hoàn toàn kinh khủng, và từ trước tới nay vẫn thế. Bà ta là góa phụ của một gã thừa phát lại. Con không thể nhớ nổi đâu, hồi con còn nhỏ, mẹ từng gặp bao nhiêu rắc rối để né tránh bà ta ở các lớp thể dục của con, nơi bà ta cứ luôn cố bám lấy mẹ — dĩ nhiên lúc đó mẹ đâu có quen biết người ta — để bảo rằng con ‘đẹp trai quá mức cho một đứa con trai’. Bà ta luôn có một khao khát điên cuồng muốn làm quen với mọi người, và hẳn phải điên thật rồi, như mẹ vẫn luôn nghĩ, nếu thực sự quen biết gia đình Swann. Bởi vì dẫu cho bà ta có xuất thân từ tầng lớp hạ tiện đi chăng nữa, mẹ chưa từng nghe ai nói điều gì sai trái về phẩm hạnh của bà ấy. Nhưng lúc nào bà ta cũng tự ép mình áp sát những kẻ xa lạ. Thật sự mà nói, bà ta là một người phụ nữ kinh khủng, vô cùng thô tục, hơn nữa lúc nào cũng gây ra những tình huống khó xử.”

Về phần Swann, trong những nỗ lực bắt chước ông, tôi dành toàn bộ thời gian khi ở bàn ăn để dùng ngón tay vuốt dọc theo sống mũi và dụi mắt. Cha tôi sẽ thốt lên rằng: “Thằng bé này đúng là đồ ngốc nghếch, nó càng lúc càng trở nên không thể chịu nổi.” Hơn tất cả mọi thứ, tôi ước gì mình có thể hói đầu được như Swann. Ông hiện lên trong tôi như một sinh vật kỳ diệu đến mức tôi thấy không thể tin nổi việc những người tôi quen biết và thường xuyên gặp gỡ lại cũng quen biết ông, và rằng trong dòng đời tấp nập ai đó có thể va phải ông bất cứ lúc nào. Và rồi có một lần Mẹ, trong lúc kể cho chúng tôi nghe — như bà vẫn làm vào mỗi bữa tối — rằng bà đã đi đâu và làm gì vào buổi chiều hôm đó, chỉ bằng câu nói: “À nhân tiện, đố con mẹ vừa nhìn thấy ai ở trung tâm mua sắm Trois Quartiers — ngay quầy bán ô — Swann đấy!” đã khiến một đóa hoa huyền bí bùng nở giữa câu chuyện của bà (với tôi vốn là một hoang mạc khô cằn). Thật là một sự thỏa mãn u sầu biết bao khi biết rằng, vào chính buổi chiều hôm đó, luồn lách giữa dòng người với vóc dáng siêu nhiên của mình, Swann đã đi mua một chiếc ô. Giữa muôn vàn sự kiện trong ngày, lớn hay nhỏ, nhưng đều tầm phào như nhau, chỉ có sự kiện duy nhất đó khơi dậy trong tôi những rung động kỳ lạ vốn luôn làm tình yêu của tôi dành cho Gilberte sục sôi. Cha tôi phàn nàn rằng tôi chẳng có chút hứng thú với bất cứ điều gì, bởi vì tôi không chịu lắng nghe khi ông đang nói về những diễn biến chính trị có thể nối tiếp chuyến viếng thăm của vua Theodosius — vị vua hiện đang có mặt ở Pháp với tư cách là khách của quốc gia và (như người ta đồn đoán) là đồng minh. Thế mà tôi lại quan tâm đến mức độ dữ dội làm sao để biết liệu Swann có mặc chiếc áo khoác trùm đầu của ông ấy hay không!

“Con có nói chuyện với ông ấy không?” tôi hỏi.

“Sao lại không chứ,” mẹ đáp, người dường như luôn sợ rằng nếu bà thừa nhận chúng tôi không có quan hệ thân thiết nhất với Swann, mọi người sẽ tìm cách giảng hòa giữa hai bên nhiều hơn mức bà mong muốn, xét đến sự tồn tại của phu nhân Swann — người mà bà không muốn quen biết. “Chính ông ấy đã đến và bắt chuyện với mẹ. Mẹ nào có thấy ông ấy đâu.”

“Thế là nhà mình không cãi vã gì à?”

“Cãi vã? Cái gì khiến con nghĩ nhà mình cãi vã thế hả?” mẹ phản ứng nhanh chóng, hệt như thể tôi vừa giáng một cú nghi ngờ vào câu chuyện giả tưởng về mối quan hệ thân thiện của bà với Swann, và đang lên kế hoạch ‘gắn kết họ lại với nhau’.

“Ông ấy có thể giận mẹ vì chẳng bao giờ mời ông ấy đến nhà.”

“Đâu phải ai cũng bắt buộc phải mời đến nhà mình, con biết đấy; có bao giờ ông ấy mời mẹ đến nhà ông ấy đâu? Mẹ đâu có quen vợ ông ấy.”

“Nhưng ngày xưa ông ấy vẫn hay đến Combray mà.”

“Mẹ tưởng thế chứ! Ngày xưa ông ấy hay đến Combray, còn bây giờ, ở Paris, ông ấy có nhiều việc quan trọng hơn để làm, và mẹ cũng vậy. Nhưng mẹ hứa với con là tụi mẹ trông chẳng giống người đang cãi nhau chút nào đâu. Tụi mẹ bị bắt đứng chờ ở đó một lúc lâu trong lúc người ta mang gói đồ đến cho ông ấy. Ông ấy hỏi thăm về con đấy; ông ấy bảo mẹ rằng con đã chơi đùa với con gái ông ấy —” mẹ tiếp tục nói, khiến tôi kinh ngạc trước sự mặc khải trọng đại về sự tồn tại của chính mình trong tâm trí Swann; hơn thế nữa, sự tồn tại của tôi dưới một hình hài hoàn toàn đầy đặn, vật chất đến mức khi tôi đứng trước mặt ông, run rẩy vì tình yêu ở Champs-Elysées, ông đã biết tên tôi, biết mẹ tôi là ai, và đã có thể hòa quyện vào vai trò bạn chơi của con gái ông một số sự kiện liên quan đến ông bà nội tôi cùng những mối quan hệ của họ, nơi chúng tôi sinh sống, một số chi tiết về cuộc sống quá khứ của chúng tôi, tất cả những điều mà có lẽ chính tôi cũng chẳng biết. Nhưng Mẹ dường như chẳng hề chú ý đến bất kỳ điều gì đặc biệt hấp dẫn ở cái quầy hàng ở Trois Quartiers nơi bà đã hiện diện trước mắt Swann, vào khoảnh khắc ông nhìn thấy bà, như một con người cụ thể với những ký ức chung đủ sức thúc đẩy ông bước đến và bắt chuyện.

Cả bà lẫn bố tôi đều không có vẻ gì là muốn nhắc đến gia đình của Swann, ông bà nội của Gilberte, hay dùng danh xưng nhà môi giới chứng khoán nữa — những chủ đề mà chẳng có gì khác mang lại cho tôi niềm vui sắc bén đến thế. Trí tưởng tượng của tôi đã cô lập và tôn thánh hóa trong Paris xã hội một gia đình nhất định, hệt như cách nó tách biệt trong Paris kiến trúc một ngôi nhà nhất định, nơi trên hiên vòm nó từng chạm trổ điêu khắc và biến những khung cửa sổ thành những báu vật. Nhưng những món đồ trang trí ấy chỉ có một mình tôi là nhìn thấy. Giống như cách bố mẹ nhìn nhận ngôi nhà nơi Swann sinh sống chẳng khác gì những ngôi nhà khác được xây cùng thời kỳ quanh khu vực Bois, gia đình của Swann cũng nằm trong mắt họ cùng một hạng mục với bao gia đình môi giới chứng khoán khác. Phán xét của họ có phần thuận lợi ít nhiều tùy thuộc vào mức độ gia đình đó chia sẻ những phẩm chất chung của phần còn lại vũ trụ, và chẳng có gì ở đó mà họ có thể gọi là độc nhất vô nhị. Mặt khác, những gì họ thực sự trân trọng ở nhà Swann lại được tìm thấy với mức độ tương đương hoặc thậm chí lớn hơn ở những nơi khác. Và thế là, sau khi thừa nhận ngôi nhà có vị trí đẹp, họ sẽ tiếp tục bàn về một ngôi nhà khác có vị trí đẹp hơn nhưng chẳng liên quan gì đến Gilberte, hoặc về những nhà tài phiệt lớn hơn ông nội của cô; và nếu họ từng có vẻ, dù chỉ trong chốc lát, đồng tình với tôi, đó là một sự nhầm lẫn sẽ được đính chính ngay lập tức. Bởi vì để nhận ra trong toàn bộ môi trường xung quanh Gilberte một phẩm chất không thể định nghĩa tương ứng, trong thang đo cảm xúc, với thứ được gọi là tia hồng ngoại trong thang đo màu sắc, người ta cần phải có một giác quan tri giác bổ sung — thứ mà tình yêu đã ban tặng cho tôi trong một thời gian ngắn; và bố mẹ tôi lại thiếu mất điều đó.

Vào những ngày Gilberte cảnh báo rằng cô sẽ không đến Champs-Elysées, tôi sẽ cố gắng sắp xếp những buổi đi dạo sao cho có thể đưa tôi đến một dạng tiếp xúc nào đó với cô. Thỉnh thoảng tôi dẫn Françoise thực hiện một cuộc hành hương đến ngôi nhà nơi gia đình Swann sinh sống, bắt cô lặp đi lặp lại không dứt mọi điều cô đã nghe được từ người gia sư liên quan đến phu nhân Swann. “Hình như bà ấy đặt niềm tin rất lớn vào các huy hiệu thiêng liêng. Bà ấy sẽ chẳng đời nào dám bắt đầu một chuyến đi nếu nghe thấy tiếng chim cú kêu, hay tiếng mọt gỗ gõ trong vách, hoặc nếu nhìn thấy mèo lúc nửa đêm, hay nếu món đồ đạc trong nhà phát ra tiếng cót két. Ồ vâng, bà ấy là một người phụ nữ vô cùng sùng đạo đấy ạ!” Tôi yêu Gilberte điên cuồng đến mức nếu trên đường đi, tôi bắt gặp người quản gia già của họ đang dắt chó đi dạo, cảm xúc sẽ khiến tôi chết trân tại chỗ, tôi sẽ đăm đăm nhìn vào hàng ria mép trắng của ông với đôi mắt tan chảy vì đam mê. Và Françoise sẽ kéo tôi bừng tỉnh bằng câu: “Lại bị cái gì thế hả cậu chủ?” rồi chúng tôi tiếp tục hành trình cho đến khi tới cổng nhà họ, nơi một người gác cổng — chẳng giống bất kỳ người gác cổng nào khác trên đời, và thấm đẫm từ từng sợi tết trên bộ đồng phục cùng thứ sức mạnh u sầu tương tự mà tôi từng cảm nhận thấy ẩn giấu trong cái tên Gilberte — nhìn tôi hệt như thể ông biết tôi là một trong những kẻ mà sự bất xứng tự nhiên sẽ vĩnh viễn ngăn cản họ thâm nhập vào những bí mật của cuộc sống bên trong, thứ mà ông có nhiệm vụ canh gác, và nơi những khung cửa sổ tầng trệt dường như nhận thức được việc khép lại một cách đầy bảo bọc, với sự tương đồng nhỏ hơn rất nhiều — giữa những chiếc rèm musơlin uốn lượn cao quý — với bất kỳ khung cửa sổ nào khác trên đời so với ánh mắt liếc nhìn của Gilberte. Những ngày khác, chúng tôi đi dọc các đại lộ, và tôi chốt chặn ở góc đường Rue Duphot; tôi nghe nói người ta thường thấy Swann đi ngang qua đó trên đường đến nha sĩ; và trí tưởng tượng của tôi đã tách biệt cha của Gilberte khỏi phần còn lại của nhân loại đến mức độ ấy, sự hiện diện của ông giữa đám đông những con người bằng xương bằng thịt đã đưa vào giữa họ một yếu tố kỳ diệu đến mức ngay trước khi chúng tôi đến quảng trường Madeleine, tôi đã run lên vì xúc động khi nghĩ rằng mình đang tiếp cận một con đường mà từ đó sự hiện hữu siêu nhiên ấy có thể bất ngờ xuất hiện mà không báo trước vào bất kỳ lúc nào.

Nhưng thường xuyên nhất, vào những ngày tôi không gặp Gilberte, do nghe nói phu nhân Swann đi dạo hầu như mỗi ngày dọc theo lối đi Allée des Acacias, quanh hồ lớn, và ở lối đi Allée de la Reine Marguerite, tôi sẽ dẫn đường cho Françoise hướng về phía rừng Boulogne. Đối với tôi, nơi đây giống như một trong những khu vườn bách thú nơi người ta thấy tập hợp đủ loại thực vật và những hiệu ứng phong cảnh đối lập; nơi từ một ngọn đồi người ta đi qua một hang động, một bãi cỏ, những khối đá, một dòng suối, một chiến hào, một ngọn đồi khác, một đầm lầy, nhưng biết rằng chúng chỉ có mặt để cho phép hà mã, ngựa vằn, cá sấu, thỏ, gấu và diệc tung tăng vui đùa trong một khung cảnh tự nhiên hoặc nên thơ; nơi này, rừng Bois, phức hợp không kém, hợp nhất một đám đông những thế giới nhỏ bé, khác biệt và tách rời — đặt một sân khấu được trang trí bằng những cái cây đỏ, những cây sồi Mỹ, giống như một khu rừng thí nghiệm ở Virginia, bên cạnh một khu rừng thông ven hồ, hoặc bên cạnh một lùm cây trong rừng từ đó sẽ bất ngờ xuất hiện, trong lớp áo choàng lông thú uyển chuyển, với đôi mắt to tròn đầy cầu khẩn của một con thú câm lặng, một người đi bộ đang vội vã — chính là Khu vườn của Phụ nữ; và hệt như đại lộ hoa sim trong sử thi *Aeneid*, được trồng cho niềm vui của họ bằng những loài cây chỉ có một loại duy nhất, lối đi Allée des Acacias đông đúc những Người đẹp nổi tiếng đương thời. Giống như khi ở một khoảng cách xa, cảnh tượng mỏm đá nhô ra nơi nó lao mình xuống hồ nước khiến những đứa trẻ biết rằng chúng sắp được chiêm ngưỡng chú hải cẩu phải vỡ òa vì sung sướng, thì từ rất lâu trước khi tôi đến được đại lộ keo, hương thơm của chúng lan tỏa khắp nơi sẽ khiến tôi cảm nhận được rằng mình đang đến gần sự hiện diện vô song của một nhân cách thực vật, mạnh mẽ và dịu dàng; rồi khi tôi đến gần, cảnh tượng những cành cây cao nhất của chúng, tán lá khẽ rung rinh trong vẻ duyên dáng tự nhiên, đường viền điệu đà, cấu trúc mỏng manh, nơi hàng trăm đóa hoa được đặt lên hệt như những tập đoàn côn trùng quý giá có cánh đang rung rập; và cuối cùng chính cái tên của chúng, mang tính nữ, uể oải và quyến rũ, đã làm tim tôi đập rộn ràng, nhưng với một niềm khao khát xã hội, giống như những điệu waltz nhắc nhở chúng ta về tên của những vũ công xinh đẹp được gọi lớn lên khi họ bước vào phòng khiêu vũ. Người ta từng bảo tôi rằng tôi sẽ gặp ở đại lộ ấy một số phụ nữ thời trang, dẫu không phải tất cả đều có chồng, vẫn liên tục được nhắc đến gắn liền với phu nhân Swann, nhưng thường là bằng những cái tên nghề nghiệp của họ — những cái tên mới của họ, nếu có, chỉ như một dạng ngụy trang, một tấm màn mà những ai muốn nhắc đến họ đều cẩn thận kéo sang một bên để làm cho người nghe hiểu được. Nghĩ rằng Cái đẹp — trong trật tự của sự thanh lịch nữ tính — bị chi phối bởi những quy luật huyền bí mà họ đã được điểm đạo để thấu hiểu, và rằng họ có quyền năng hiện thực hóa nó, tôi chấp nhận trước khi nhìn thấy, hệt như chân lý của một sự khải thị sắp đến, sự xuất hiện trang phục của họ, của cỗ xe và ngựa, của hàng ngàn chi tiết mà ở đó tôi đặt trọn niềm tin hệt như vào một tâm hồn bên trong mang lại sự kết dính như một tác phẩm nghệ thuật cho buổi trình diễn phù du và biến đổi ấy. Nhưng chính phu nhân Swann mới là người tôi muốn gặp, và tôi chờ đợi bà đi ngang qua, xúc động sâu sắc hệt như khi đó là Gilberte — người có bố mẹ, đẫm đượm, giống như mọi thứ trong môi trường của cô, thứ sức hấp dẫn đặc biệt của chính cô, đã khơi gợi trong tôi một niềm đam mê mãnh liệt chẳng kém gì bản thân cô, thậm chí là một sự xáo trộn còn đau đớn hơn nhiều (vì điểm tiếp xúc của họ với cô chính là phần thân mật, nội tại trong cuộc đời cô bị giấu kín khỏi tôi) và hơn thế nữa, vì tôi rất nhanh chóng nhận ra, như chúng ta sẽ thấy sau này, rằng họ không thích việc tôi chơi đùa với cô, cái cảm giác tôn kính mà chúng ta luôn dành cho những kẻ nắm giữ, và thực thi không chút kiềm chế, quyền lực có thể giáng cho chúng ta một đòn tổn thương.

Tôi dành vị trí hàng đầu, trong trật tự của giá trị thẩm mỹ và sự vĩ đại xã hội, cho sự giản dị, khi tôi nhìn thấy phu nhân Swann đi bộ, trong chiếc váy ‘polonaise’ bằng vải trơn, chiếc mũ nhỏ trên đầu được trang trí bằng một chiếc lông cánh trĩ, một bó hoa violet trước ngực, vội vã rảo bước dọc lối đi Allée des Acacias hệt như đó chỉ là lối tắt ngắn nhất để về nhà, và đáp lại bằng một cái liếc nhìn nhanh chóng sự lịch thiệp của những người đàn ông ngồi trên cỗ xe — những người nhận ra bóng dáng bà từ xa, đang ngả mũ chào và tự nhủ với nhau rằng chưa từng có ai diện đồ đẹp bằng bà. Nhưng thay vì sự giản dị, chính sự phô trương mới là thứ tôi phải xếp ở vị trí hàng đầu nếu — sau khi tôi ép buộc Françoise, kẻ đã không thể trụ nổi nữa và phàn nàn rằng đôi chân của cô đang ‘khuỵu xuống’ dưới thân người, phải đi dạo lên xuống cùng tôi thêm một giờ nữa — tôi cuối cùng nhìn thấy, xuất hiện từ cổng Porte Dauphine, hiện hình cho tôi một phẩm giá hoàng gia, cuộc diễu hành của một vị quốc vương, một ấn tượng mà chưa từng có Nữ hoàng thực tế nào sau này có thể mang lại cho tôi, bởi vì khái niệm của tôi về quyền lực của họ đã bớt mơ hồ hơn, và dựa dẫm nhiều hơn vào kinh nghiệm — được chuyên chở bởi chuyến bay của một cặp ngựa chiến sừng sỏ, mảnh mai và cân đối hệt như ta thấy trong các bức vẽ của Constantin Guys, cõng trên bọc xe của nó một tên đánh xe khổng lồ, mặc áo lông thú hệt như một gã Cossack, và bên cạnh hắn là một gã tiểu đồng tí hon, giống như Toby, “con hổ của cố Beaudenord,” tôi nhìn thấy — hay đúng hơn tôi cảm nhận những đường nét của nó được khắc sâu lên trái tim mình bởi một nhát dao sắc bén và chí mạng — một cỗ xe victoria vô song, được đóng hơi cao và hé lộ, qua sự cực kỳ hiện đại của các trang bị, hình dáng của một thời đại trước, sâu thẳm bên trong là phu nhân Swann đang ngả người thờ thững, mái tóc giờ đây đã hoàn toàn nhợt nhạt với một nhúm tóc bạc, được thắt quanh bởi một dải hoa hẹp, thường là hoa violet, từ đó rủ xuống những chiếc khăn voan dài, một chiếc ô che nắng màu tử đinh hương trên tay, trên môi là nụ cười mập mờ mà trong đó tôi chỉ đọc được sự ân chuẩn từ ái của Bệ hạ, dẫu cho đó trước hết là nụ cười cám dỗ của một cô đào hạng sang, được bà duyên dáng ban phát cho những người đàn ông đang cúi đầu chào mình. Nụ cười ấy thực ra đang nói với người này: “Ồ vâng, tôi nhớ chứ, rất rõ nữa; thật tuyệt vời!” với người kia: “Tôi ước gì mình được thế! Thật đáng tiếc thay!”, với người thứ ba: “Được chứ, nếu anh thích! Tôi chỉ phải xếp hàng trong một phút thôi, rồi ngay khi có thể tôi sẽ tách ra.” Khi những kẻ lạ mặt đi ngang qua, bà vẫn để lại vương vấn trên đôi môi một nụ cười lười biếng, hệt như thể bà đang mong đợi hoặc nhớ nhung một người bạn nào đó, khiến họ phải thốt lên: “Người phụ nữ gì mà đẹp thế!”. Và chỉ đối với một số người đàn ông nhất định, bà mới dành một nụ cười chua chát, gượng gạo, rụt rè và lạnh lùng mang ý nghĩa: “Được rồi, lão dê già ạ, tôi biết anh sở hữu cái lưỡi sắc như dao cạo, chẳng tài nào giữ mồm giữ miệng nổi một giây. Nhưng anh tưởng tôi thèm quan tâm đến những gì anh nói chắc?” Coquelin đi ngang qua, vừa trò chuyện vừa bước trong một nhóm bạn đang lắng nghe, và với một cái vẫy tay rộng lớn cất tiếng chào sân khấu đến những người trên xe. Nhưng tôi chỉ nghĩ đến phu nhân Swann, và vờ như chưa nhìn thấy bà, bởi vì tôi biết rằng khi đến khu bắn bồ câu, bà sẽ bảo người đánh xe ‘tách ra’ và dừng cỗ xe lại để có thể đi bộ quay về. Và vào những ngày tôi cảm thấy mình có đủ dũng khí để bước đi sát bên bà, tôi sẽ kéo Françoise đi theo hướng đó; cho đến khoảnh khắc tôi nhìn thấy phu nhân Swann, lê thê kéo theo phía sau chiếc đuôi dài của chiếc váy màu tử đinh hương, ăn mặc — theo cách quần chúng tưởng tượng các nữ hoàng ăn mặc — trong những bộ xiêm y lộng lẫy chẳng người phụ nữ nào khác dám mặc, thỉnh thoảng hạ mi mắt xuống để ngắm nghía phần cán của chiếc ô che nắng, chẳng thèm đếm xỉa gì đến những kẻ qua đường, hệt như thể điều quan trọng đối với bà, mục đích duy nhất khi có mặt ở đó, chính là để tập thể dục, mà chẳng hề nghĩ rằng mình đang bị chú ý và mọi ánh nhìn đều đổ dồn về phía bà. Thỉnh thoảng, tuy nhiên, khi ngoảnh lại gọi chú chó cưng của mình, bà sẽ liếc một cái thật nhanh, gần như vô hình, quét một vòng xung quanh.

Ngay cả những kẻ không quen biết bà cũng được cảnh báo bởi một điều gì đó ngoại lệ, vượt ra khỏi mức bình thường ở bà — hoặc có lẽ bởi một gợi ý thần giao cách cảm giống như thứ có thể khuấy động một đám đông ngu muội chìm vào sự cuồng nhiệt vỗ tay khi Berma ‘siêu việt’ — rằng bà phải là một nhân vật nổi tiếng nào đó. Họ sẽ hỏi nhau: “Cô ta là ai thế?”, hoặc đôi khi tra khảo một người qua đường đang đi ngang, hoặc ghi nhớ lại cách ăn mặc của bà để xác định danh tính của bà sau đó trong tâm trí của một người bạn hiểu biết hơn họ, kẻ sẽ lập tức khai sáng cho họ. Một cặp đôi khác, dừng chân ngả ngớn trong bước đi, trao đổi với nhau:

“Cậu biết người đó là ai không? Phu nhân Swann đấy! Chẳng gợi cho cậu chút ấn tượng nào à? Odette de Crécy ấy chứ ai?”

“Odette de Crécy! Chà, tớ cứ nghĩ mãi. Đôi mắt to buồn bã ấy... Nhưng mà này, cậu biết đấy, cô ta đâu còn trẻ trung gì như trước nữa phải không? Tớ nhớ là tớ từng có cô ta vào ngày MacMahon lên nắm quyền.”

“Tớ sẽ không nhắc lại chuyện đó với cô ta đâu nếu tớ là cậu. Giờ đây cô ta là phu nhân Swann, vợ của một quý ông thuộc Câu lạc bộ Jockey, bạn thân của Thân vương xứ Wales. Dẫu sao đi nữa, ngoài chuyện đó ra thì cô ta vẫn tuyệt vời chán.”

“Ồ, nhưng cậu lẽ ra nên quen biết cô ta hồi đó; Chúa ơi, cô ta đẹp lắm! Cô ta sống trong một ngôi nhà nhỏ kỳ quặc với vô số đồ đạc Trung Hoa. Tớ nhớ là tụi tớ cứ bị quấy rầy mãi bởi tiếng rao của mấy đứa bán báo bên ngoài; cuối cùng cô ta bắt tớ phải đứng dậy và đi ra.”

Mặc những ký ức ấy, tôi vẫn có thể cảm nhận xung quanh bà tiếng thì thầm không rõ ràng của sự nổi tiếng. Trái tim tôi nhảy mộng lên vì thiếu kiên nhẫn khi nghĩ rằng chỉ còn vài giây nữa là tất cả những con người này — giữa họ tôi lấy làm tiếc vì không tìm thấy một gã chủ ngân hàng da màu nào đó, kẻ (hoặc ít nhất tôi cảm thấy thế) có sự khinh miệt đối với tôi — sẽ được nhìn thấy chàng thanh niên vô danh, kẻ mà nãy giờ họ chẳng thèm liếc mắt lấy một lần, đang ngả mũ chào (dù không quen biết bà, sự thật là vậy, nhưng tôi nghĩ mình đủ thẩm quyền vì bố tôi quen chồng bà và tôi là bạn chơi của con gái bà) người phụ nữ mà tiếng tai về nhan sắc, sự tai tiếng và sự thanh lịch mang tầm vóc toàn cầu ấy. Nhưng lúc này tôi đã ở sát bên phu nhân Swann; tôi giật phăng chiếc mũ ra với một cử chỉ hào phóng, kéo dài đến mức bà không thể kìm nén một nụ cười. Mọi người bật cười. Còn về phần bà, bà chưa từng nhìn thấy tôi đi cùng Gilberte, bà không biết tên tôi, nhưng tôi đối với bà — giống như một trong những người gác rừng ở Bois, hay người chèo thuyền, hoặc bầy vịt trên hồ mà bà ném cho những mẩu bánh mì — chỉ là một trong số những nhân vật phụ, quen thuộc, vô danh, thiếu vắng cá tính cá nhân hệt như một gã nhân viên hậu đài trong nhà hát, xuất hiện trong những chuyến đi dạo hằng ngày của bà.

Vào một số ngày khi tôi lỡ mất cơ hội gặp bà ở lối đi Allée des Acacias, tôi lại may mắn chạm trán bà ở Allée de la Reine Marguerite, nơi những người phụ nữ muốn được ở một mình, hoặc ra vẻ muốn được ở một mình, thường lui tới; bà sẽ chẳng ở một mình lâu đâu, vì chẳng mấy chốc sẽ bị bắt kịp bởi một gã đàn ông nào đó, thường đội chiếc mũ phớt ‘ngói’ xám, kẻ mà tôi không quen biết, và sẽ trò chuyện cùng bà một lúc trong khi hai cỗ xe của họ lững thững bò theo sau.

* * *

Cái cảm giác về sự phức tạp của khu rừng Boulogne từng biến nơi đây thành một chốn nhân tạo và, theo nghĩa động vật học hay thần thoại của từ này, một Khu vườn, đã bị tôi bắt lấy lại, vào năm này, khi tôi băng qua nó trên đường đến Trianon, vào một trong những buổi sáng đầu tháng Mười một khi ở Paris, nếu chúng ta ở trong nhà, vì quá gần gũi nhưng lại bị ngăn cản không được chứng kiến khung cảnh biến đổi của mùa thu — thứ đang trôi qua rất nhanh đến hồi kết thúc mà không có sự trợ giúp của chúng ta — chúng ta cảm thấy một nỗi tiếc nuối những chiếc lá rụng hóa thành cơn sốt, thậm chí có thể giữ chúng ta thức trắng đêm. Vào căn phòng khép kín của tôi, chúng đã lơ lửng trôi dạt vào đó từ cả tháng nay, được triệu hồi bởi khao khát được nhìn ngắm chúng, luồn lách giữa những suy nghĩ của tôi và đối tượng bất kỳ mà tôi đang cố gắng tập trung vào, xoay tít trước mặt tôi hệt như những đốm nâu đôi khi, bất kể chúng ta đang nhìn vào cái gì, dường như cũng đang nhảy múa hoặc bơi lội trước mắt chúng ta. Và vào buổi sáng hôm đó, không nghe thấy tiếng mưa rơi như những ngày trước, nhìn thấy nụ cười của thời tiết đẹp ở các góc của tấm rèm cửa được kéo hé, hệt như từ khóe của một bờ môi đang khép hờ có thể lọt ra bí mật của niềm hạnh phúc, tôi cảm thấy rằng mình thực sự có thể nhìn thấy những chiếc lá vàng ấy, với ánh sáng chiếu xuyên qua chúng, trong vẻ đẹp tối thượng của chúng; và chẳng thể kiềm chế bản thân khỏi việc đi ngắm những cái cây cũng giống như, vào thời thơ ấu khi gió gào thét trong ống khói, tôi chẳng thể cưỡng lại khao khát được ghé thăm biển cả, tôi đã đứng dậy rời khỏi nhà để đến Trianon, băng qua khu rừng Boulogne. Đó là thời điểm và mùa trong năm mà khu rừng Bois có lẽ hiện lên đa hình nhất, không chỉ bởi vì nó bị chia cắt nhiều nhất lúc đó, mà còn bởi vì nó bị chia cắt theo một cách khác. Ngay cả ở những khu vực không có cây cối, nơi chân trời rộng lớn, rải rác đây đó trên nền của một khối cây cối tối tăm và xa xôi, nay đã trụi lá hoặc vẫn giữ nguyên tán lá mùa hè, một hàng cây dẻ kép đỏ cam dường như, giống như trong một bức tranh vừa mới phác thảo, là thứ duy nhất được vẽ cho đến lúc đó bởi một họa sĩ chưa hề đặt chút màu nào lên phần còn lại, và đang hiến dâng tu viện của mình, giữa ban ngày, cho sự vận động ngẫu nhiên của những hình bóng con người sẽ được thêm vào bức tranh sau đó.

Xa hơn một chút, tại một nơi mà những cái cây vẫn còn xanh mướt, chỉ có một cái cây đơn độc, nhỏ bé, cằn cỗi, bị đốn ngọn, nhưng bướng bỉnh trong sự kháng cự của mình, đang quăng quật trong gió một mái bờm đỏ xấu xí. Nơi khác nữa, người ta lại có thể nhìn thấy sự thức tỉnh đầu tiên của mùa xuân của những chiếc lá này, và những chiếc lá của dây leo giả ampelopsis, một phép màu tươi cười, giống như một nhánh cây táo gai đỏ nở hoa vào mùa đông, vào đúng buổi sáng hôm đó đã ‘bung nở’ hoàn toàn, có thể nói thế, thành những đóa hoa. Và khu rừng Bois mang cái vẻ tạm bợ, dang dở, nhân tạo của một khu vườn ươm hoặc một công viên nơi — hoặc cho một mục đích thực vật nào đó hoặc để chuẩn bị cho một lễ hội — người ta đã cắm vào giữa những cái cây thuộc giống thông thường, những thứ chưa hề bị nhổ bật rễ và bứng đi nơi khác, một vài mẫu vật hiếm hoi, với tán lá kỳ dị, dường như đang dọn sạch một khoảng trống xung quanh mình, nhường chỗ, tạo không gian, tỏa ra ánh sáng. Thế là, đó là thời điểm trong năm khi rừng Boulogne trưng bày nhiều đặc điểm tách biệt hơn, tập hợp nhiều yếu tố rõ rệt hơn trong một tổng thể tổng hợp so với bất kỳ thời điểm nào khác. Đó cũng là thời điểm trong ngày. Ở những nơi cây cối vẫn giữ được lá, chúng dường như đã trải qua một sự biến đổi về chất kể từ thời điểm chúng bị chạm vào bởi ánh sáng mặt trời — vẫn, vào giờ này buổi sáng, gần như nằm ngang, hệt như nó sẽ lại thế, vài giờ sau đó, vào khoảnh khắc khi, ngay lúc hoàng hôn bắt đầu, nó sẽ bùng cháy lên như một ngọn đèn, chiếu rọi ra xa trên những chiếc lá một thứ ánh sáng ấm áp và nhân tạo, và thêu dệt nên ngọn lửa cho vài nhánh cao nhất của một cái cây vốn vẫn giữ nguyên không đổi, một ngọn nến u buồn không thể cháy dưới chỏm lửa rực cháy của nó. Tại một điểm nọ, ánh sáng trở nên đặc quánh như một bức tường gạch, và giống như một mảnh gạch ốp tường Ba Tư màu vàng, được khảm hoa văn màu xanh, phết thô kệch lên bầu trời là những chiếc lá của cây dẻ; ở điểm khác, nó cắt đứt chúng khỏi bầu trời nơi chúng vươn những ngón tay vàng cong queo của mình. Nửa chừng thân cây được phủ bới dây nho dại, ánh sáng đã ghép và làm nở hoa, quá rói mắt để có thể phân biệt rõ ràng, một bó hoa khổng lồ, dường như là hoa đỏ, có lẽ là một giống cẩm chướng mới. Các phần khác nhau của khu rừng Bois, rất dễ nhầm lẫn vào mùa hè trong sự dày đặc và đơn điệu của sắc xanh vạn vật, giờ đây đã được phân định rõ ràng. Một vệt sáng cho thấy lối tiếp cận gần như mọi khu vực trong số đó, hoặc cách đó là một khối tán lá lộng lẫy nổi bật phía trước nó hệt như một lá cờ chiến hiệu. Tôi có thể phân biệt được, hệt như trên một bản đồ màu, Armenonville, Pré Catalan, Madrid, Trường đua ngựa và bờ hồ. Đây đó lại xuất hiện một công trình vô nghĩa nào đó, một hang động giả, một cối xay gió, thứ mà những cái cây nhường chỗ bằng cách dạt ra xa hoặc được nâng đỡ trên nền cỏ xanh mềm mại của một bãi cỏ mượt mà. Tôi có thể cảm nhận rằng khu rừng Bois không thực sự là một khu rừng, rằng nó tồn tại vì một mục đích xa lạ với đời sống của những cái cây; cảm giác thăng hoa của tôi không chỉ đến từ sự ngưỡng mộ sắc thu mà còn từ một khao khát thể xác. Nguồn cội dồi dào của một niềm vui mà trái tim cảm nhận trước tiên mà không ý thức được nguyên nhân của nó, không hiểu rằng nó xuất phát từ một xung lực bên ngoài nào cả! Thế là tôi ngắm nhìn những cái cây với một khao khát chưa được thỏa mãn vượt qua cả chúng và, mà chẳng cần tôi hay biết, hướng thẳng đến kiệt tác của những người phụ nữ dạo chơi xinh đẹp mà những cái cây bao khung trong vài giờ mỗi ngày. Tôi rảo bước về phía lối đi Allée des Acacias. Tôi băng qua những lùm cây trong rừng nơi ánh sáng buổi sáng, phá vỡ chúng thành những phân đoạn mới, cắt tỉa và xén gọn những cái cây, kết hôn những thân cây khác nhau, kết thành những bó hoa từ cành của chúng. Nó sẽ khéo léo kéo về phía mình một cặp cây; tận dụng khéo léo chiếc đục sắc bén của ánh sáng và bóng tối, nó sẽ cắt đứt khỏi mỗi cái cây một nửa thân và cành của nó, và, dệt lại hai nửa còn lại, sẽ biến chúng thành hoặc một trụ cột bóng râm duy nhất, được xác định bởi ánh sáng xung quanh, hoặc một bóng ma lộng lẫy duy nhất có đường viền nhân tạo, rung rinh được bao bọc trong một mạng lưới bóng tối mực đen. Khi một tia nắng vàng óng những cành cao nhất, chúng dường như — đẫm ướt và vẫn nhỏ giọt với thứ độ ẩm lấp lánh — đã trỗi dậy một mình từ bầu không khí lỏng, xanh lục ngọc lục bảo mà toàn bộ lùm cây chìm ngập trong đó hệt như bên dưới đáy biển. Bởi vì những cái cây vẫn tiếp tục sống bằng sức sống của chính chúng, và khi chúng chẳng còn chút lá nào, sức sống ấy lại bừng sáng rực rỡ hơn từ lớp nhung xanh phủ kín thân chúng, hoặc trong lớp men trắng của những quả cầu tầm gửi rải rác lên tận những cành cao nhất, tròn vo hệt như mặt trăng và mặt trời trong bức bích họa ‘Sáng thế’ của Michelangelo. Nhưng, bị ép buộc trong ngần ấy năm trời, bởi một dạng thức quá trình ghép cành, phải chia sẻ cuộc đời của nhân loại mang tính nữ, chúng gợi nhắc tôi đến hình dáng của nàng nữ thần cây dryad, người phụ nữ thượng lưu xinh đẹp, rảo bước nhanh nhẹn, rực rỡ sắc màu, kẻ được che chở bởi những cành cây của chúng khi cô đi ngang bên dưới, và buộc phải thừa nhận, hệt như chính chúng thừa nhận, sức mạnh của mùa trong năm; chúng gợi nhắc tôi về những ngày hạnh phúc khi tôi còn trẻ và tràn đầy đức tin, khi tôi hăng hái rảo bước đến những nơi mà những kiệt tác của sự thanh lịch nữ tính sẽ hiện hình trong giây lát bên dưới những tán cây vô thức, dung túng. Nhưng vẻ đẹp mà những cây thông và cây keo của khu rừng Boulogne khao khát, đáng lo ngại hơn ở khía cạnh đó so với những cây dẻ và tử đinh hương của Trianon mà tôi sắp đến xem, không cố định ở một nơi nào đó bên ngoài bản thân tôi trong những di tích của một thời kỳ lịch sử, trong các tác phẩm nghệ thuật, trong một ngôi đền tình yêu nhỏ bé nơi chất đống một vật hiến tế bằng những chiếc lá mùa thu có gân vàng. Tôi đã đến bờ hồ; tôi bước đi cho đến tận khu vực bắn bồ câu. Ý tưởng về sự hoàn mỹ mà tôi mang trong mình đã được tôi trao tặng, vào thời gian khác ấy, cho chiều cao của một cỗ xe victoria, cho sự thanh mảnh dốc đứng của những con ngựa ấy, cuồng nhiệt và nhẹ nhàng như những con ong bắp cày trên cánh, với đôi mắt vằn máu giống như những con chiến mã tàn nhẫn của Diomedes, thứ mà giờ đây — bị đánh gục bởi khao khát được nhìn ngắm lại những gì tôi từng yêu, nồng nhiệt chẳng kém khao khát từng đẩy tôi, nhiều năm trước, dạo bước dọc theo những lối đi tương tự — tôi muốn thấy được tái hiện trước mắt mình vào khoảnh khắc khi người đánh xe khổng lồ của phu nhân Swann, được giám sát bởi một tên tiểu đồng chẳng lớn hơn nắm đấm, và non nớt hệt như thánh George trong bức tranh, nỗ lực kìm hãm sự nồng nhiệt của những đôi cánh bay lượn đầu nhọn bằng thép mà chúng đang sấm sét lao dọc mặt đất. Hỡi ôi! Giờ đây chẳng còn gì ngoài những chiếc ô tô được điều khiển bởi một gã thợ máy có râu mép, với một tên gia nô cao lớn lừng lững đứng bên cạnh. Tôi muốn giữ trước đôi mắt thịt của mình, để có thể biết rằng chúng thực sự đáng yêu hệt như trong đôi mắt ký ức, những chiếc mũ nhỏ, vành mũ thấp đến mức trông chẳng khác nào những vòng hoa quấn quanh trán phụ nữ. Tất cả các chiếc mũ giờ đây đều vô cùng to lớn; phủ đầy trái cây và hoa cỏ cùng đủ loại chim chóc. Thay vì những bộ váy tuyệt đẹp trong đó phu nhân Swann rảo bước như một Nữ hoàng, nay xuất hiện những chiếc áo dài Hy Lạp-Saxon, với những nếp gấp kiểu Tanagra, hoặc đôi khi, theo phong cách Directoire, những lớp vải voan ‘Liberty’ rải rác hoa hệt như những tờ giấy dán tường. Trên đầu của những quý ông lẽ ra có thể đủ tiêu chuẩn dạo bước cùng phu nhân Swann ở lối đi Allée de la Reine Marguerite, tôi chẳng tìm thấy chiếc mũ ‘ngói’ xám nào của ngày xưa, hay bất kỳ loại mũ nào khác. Họ đi dạo trong rừng mà không đội mũ. Và nhìn thấy tất cả những yếu tố mới mẻ này của buổi diễn, tôi không còn giữ được đức tin — thứ khi áp dụng vào chúng sẽ mang lại cho chúng sự nhất quán, tính thống nhất, sự sống; chúng trỗi dậy trong một trình tự tản mác trước mắt tôi, ngẫu nhiên, không thực tế, chẳng chứa đựng trong bản thân một vẻ đẹp nào mà đôi mắt tôi có thể nỗ lực, như trong những ngày xưa cũ, để chiết xuất từ chúng và cấu thành một bức tranh. Chúng chỉ đơn thuần là những người phụ nữ, mà trong sự thanh lịch của họ tôi chẳng có chút niềm tin nào, và trang phục của họ đối với tôi thật vô nghĩa. Nhưng khi một niềm tin vụt tắt, vẫn tồn tại sau nó — ngày một nồng nhiệt hơn, nhằm ngụy trang cho sự vắng mặt của năng lực truyền tải thực tại cho những hiện tượng mới, năng lực giờ đã mất đi — một sự gắn bó sùng bái đối với những điều cũ kỹ mà niềm tin của chúng ta vào chúng đã từng thổi hồn vào, hệt như thể trong niềm tin đó chứ không phải trong bản thân chúng ta mới là nơi ngự trị của ngọn lửa thần thánh, và hệt như thể sự hoài nghi hiện tại của chúng ta có một nguyên nhân ngẫu nhiên — sự ra đi của các vị thần.

“Ồ, thật kinh khủng!” tôi tự lẩm bẩm với chính mình: “Liệu có ai thực sự tưởng tượng rằng những chiếc ô tô này thanh lịch bằng cỗ xe ngựa hai con ngày trước không? Tôi dám cá là có đấy. Tôi già quá rồi — nhưng tôi vốn chẳng được sinh ra cho một thế giới nơi phụ nữ tự xiềng xích bản thân trong những trang phục thậm chí chẳng được làm bằng vải. Tôi rảo bước giữa những cái cây này để làm gì nếu chẳng còn lại chút dấu vết nào của hội đồng từng hội họp bên dưới tán lá ngả đỏ mỏng manh, nếu sự tầm thường và ngớ ngẩn đã soán ngôi thứ tuyệt diệu từng được những cành cây ấy bao khung? Ồ, thật kinh khủng! Niềm an ủi của tôi là nghĩ về những người phụ nữ tôi từng quen biết trong quá khứ, giờ đây khi chẳng còn tiêu chuẩn nào sót lại về sự thanh lịch. Nhưng làm sao những kẻ ngắm nhìn đám sinh vật khủng khiếp này lê lết bước đi, bên dưới những chiếc mũ chất đống chiến lợi phẩm từ chuồng chim hay luống hoa — làm sao họ có thể tưởng tượng ra vẻ đẹp từng hiện diện khi ngắm nhìn phu nhân Swann, đội chiếc mũ trùm đầu màu tử đinh hương ôm sát, hoặc chiếc chiếc mũ nhỏ từ đó vươn thẳng đứng một đóa diên vĩ duy nhất phía trên đầu?” Liệu tôi có bao giờ có thể làm họ hiểu được cảm xúc từng dâng trào trong tôi vào những buổi sáng mùa đông, khi tôi gặp phu nhân Swann đi bộ, trong chiếc áo khoác lông rái cá, với chiếc mũ len từ đó chìa ra hai chiếc lông gà gác ngang như chiếc lưỡi dao, nhưng đồng thời cũng được bao bọc bởi cái ấm áp có chủ đích, nhân tạo từ chính ngôi nhà của bà, thứ được gợi ý bởi chẳng gì khác hơn ngoài bó hoa violet bị bóp nát trước ngực, với sự nở hoa rực rỡ và xanh thẳm nổi bật giữa bầu trời xám xịt, cái lạnh cắt da, những cành cây trần trụi, mang lại hiệu ứng tuyệt diệu là sử dụng mùa và thời tiết thuần túy như một bối cảnh, và thực sự sinh sống trong một bầu không khí của con người, trong bầu không khí của người phụ nữ này, hệt như những đóa hoa nhìn qua cửa sổ khép kín ngắm nhìn lớp tuyết rơi trong những chiếc bình và chậu hoa ở phòng khách cạnh lò sưởi bọc lụa? Nhưng sẽ chẳng đủ đối với tôi nếu chỉ có trang phục vẫn y hệt như trong những năm tháng xa xôi ấy. Bởi vì sự gắn kết bó buộc những phần khác nhau của một ấn tượng chung — những phần mà ký ức của chúng ta lưu giữ trong một tổng thể cân bằng, nơi chúng ta không được phép trừ bỏ hay khước từ bất kỳ phân đoạn nào — tôi rất muốn có thể dành phần còn lại của ngày bên một trong những người phụ nữ ấy, bên tách trà, trong một ngôi nhà nhỏ với những bức tường sơn tối màu (như tường nhà Swann vẫn thế vào năm sau khi phần đầu tiên của câu chuyện này kết thúc) nơi ánh lửa cam, ngọn lửa đỏ bập bùng, ánh chớp hồng và trắng của những đóa cúc họa mi trong chạng vạng một buổi chiều tháng Mười một sẽ rực sáng, trong những khoảnh khắc tương tự như (như chúng ta sẽ thấy) tôi đã chẳng tài nào khám phá ra những niềm vui mà mình hằng khao khát. Nhưng giờ đây, dẫu chẳng dẫn đến đâu, những khoảnh khắc ấy vẫn đập vào mắt tôi như thể chúng đủ đáng yêu tự thân chúng. Tôi tìm cách tái ngộ chúng hệt như trong ký ức. Hỡi ôi! Giờ đây chẳng còn gì ngoài những căn hộ được trang hoàng theo phong cách Louis XVI, toàn màu sơn trắng, với hoa cẩm tú cầu bằng men xanh. Hơn nữa, mọi người giờ đây không quay trở lại Paris cho đến tận muộn màng hơn rất nhiều. Phu nhân Swann hẳn đã viết thư cho tôi từ một vùng quê rằng bà sẽ không có mặt ở thị trấn trước tháng Hai, nếu tôi yêu cầu bà tái thiết lập những yếu tố của ký ức ấy — thứ mà tôi cảm thấy thuộc về một kỷ nguyên xa xôi, một mốc thời gian mà tôi bị cấm leo ngược lại con đường dốc định mệnh ấy — những yếu tố của nỗi khát khao ấy đã tự thân trở nên xa vời chẳng kém gì niềm hạnh phúc mà nó từng theo đuổi một cách vô vọng. Và tôi cũng sẽ cần phải có cùng những người phụ nữ ấy, những kẻ mà trang phục từng thu hút tôi bởi vì, vào thời điểm tôi vẫn còn đức tin, trí tưởng tượng của tôi đã cá nhân hóa họ và gán cho mỗi người một huyền thoại. Hỡi ôi! Trong đại lộ keo — lối đi hoa sim — tôi thực sự đã gặp lại một số người trong số họ, đã già đi, nay chỉ còn là những bóng ma ủ rũ của những gì họ từng là, lang thang qua lại, tìm kiếm tuyệt vọng không biết của ai qua những lùm cây kiểu Virgil. Họ đã trốn chạy từ lâu, và tôi vẫn đứng đó vô ích chất vấn những con lối đi vắng bóng người. Gương mặt mặt trời bị che khuất. Thiên nhiên bắt đầu thống trị trở lại khu rừng Bois — nơi đã biến mất mọi dấu vết của ý tưởng rằng đây là Khu vườn Elysée của Phụ nữ; phía trên chiếc cối xay gió giả, bầu trời thực sự xám ngịt; gió làm nhăn mặt nước hồ Grand Lac thành những gợn sóng nhỏ hệt như một hồ nước thực sự; những con chim lớn lướt nhanh qua rừng Bois hệt như trên một khu rừng thực sự và với những tiếng kêu chói tai đậu lần lượt lên những tán sồi lớn — dưới chiếc vương miện mang phong cách Druid của chúng, và với sự uy nghi mang phong cách Dodona, dường như đang tuyên bố sự trống rỗng hoang vắng của khu rừng xa lạ này, và giúp tôi hiểu được sự nghịch lý biết bao khi tìm kiếm trong thực tế những bức tranh được cất trữ trong ký ức của chính mình, thứ mà tất cả chắc chắn phải đánh mất đi vẻ đẹp xuất phát từ chính ký ức và từ việc chúng không bị nắm bắt bởi các giác quan. Thực tại mà tôi từng quen biết nay không còn tồn tại nữa. Chỉ cần phu nhân Swann không xuất hiện, trong cùng bộ trang phục và vào cùng khoảnh khắc đó, là toàn bộ đại lộ đã thay đổi. Những nơi chúng ta từng quen thuộc giờ đây chỉ thuộc về thế giới không gian nhỏ bé mà chúng ta vạch ra trên đó vì sự tiện lợi của chính mình. Chưa từng có nơi nào trong số đó vượt quá một lát mỏng, kẹp giữa những ấn tượng tiếp giáp cấu thành cuộc đời chúng ta vào thời điểm đó; ký ức về một hình dáng cụ thể chẳng qua chỉ là sự tiếc nuối cho một khoảnh khắc cụ thể; và những ngôi nhà, con đường, đại lộ cũng phù du chẳng kém gì, hỡi ôi, những năm tháng trôi qua.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.