Nguyễn Công Cơ sinh và mất năm nào chưa rõ, chỉ biết ông người xã Minh Tảo, huyện Từ Liêm, nay thuộc ngoại thành Hà Nội. Năm Giáp Thân, niên hiệu Chính Hòa thứ 18 (1697), Nguyễn Công Cơ đỗ Tiến sĩ, được bổ làm quan Hiệu thảo trong phủ chúa Trịnh Căn (1682-1709). Năm 1704, nhờ có công phát giác ra mưu phản của Trịnh Luân và Trịnh Phất, triều đình xét công ban thưởng. Nguyễn Công Cơ được thăng chức Hộ bộ Tả thị lang[1]. Năm 1715, quan Hộ bộ Tả thị lang Nguyễn Công Cơ được chúa Trịnh Cương (1709-1729) cử làm Chánh sứ sang Trung Quốc.
Sinh thời, Nguyễn Công Cơ là người cương trực, hễ thấy điều sai quấy là chẳng bao giờ bỏ qua. Các quan trong phủ chúa, nhất là Nguyễn Công Hãng, vì thế mà rất ghét ông. Hai mươi năm sau vụ phát hiện ra mưu phản của Trịnh Luân và Trịnh Phất, năm Bính Ngọ (1724), Nguyễn Công Cơ lại gây chấn động cả cung vua và phủ chúa bởi một phát hiện về gian lận trong thi cử, liên quan đến nhiều bậc đại thần đương quyền. Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Chính biên, quyển 36, tờ 31) chép việc này như sau:
“Tháng 11 (năm 1724 – ND), bắt những người đã đỗ Hương cống[2] (tức Cử nhân – ND) thi lại ở lầu Ngũ Long. Nhân dịp này, Nguyễn Công Cơ được thăng làm Thiếu bảo[3].
Bấy giờ, cả đến việc thi cử phần nhiều cũng bị nạn nhũng lạm, thường hễ là con nhà quyền thế thì nhất định sẽ đỗ Hương cống chứ ít ai có tài học thực sự. Nguyễn Công Cơ tâu về việc này nên (Chúa) mới hạ lệnh bắt thi lại. Kết quả, hai mươi tám người bị buộc phải đánh hỏng, trong số này có: con trai của quan Tham tụng[4] là Lê Anh Tuấn, con trai của Huân Quận công là Đặng Đình Giám, con nuôi của quan Nội giám Thiếu bảo[5] là Đỗ Bá Phẩm và nhiều Cống sĩ[6] khác của các xứ. Những người này đều bị giao xuống Pháp đình xét hỏi để trị tội thật nặng. Triều đình nhận thấy (Nguyễn) Công Cơ là người nói thẳng nên thăng làm Thiếu bảo”.
Lời bàn
Phàm là quan, nếu có non chỗ này, yếu chỗ kia … tất tất đều có thể lượng tình mà bỏ qua được, nhưng nếu thiếu hẳn đức trung nghĩa, thì thiên hạ chưa từng dễ dãi mà tha thứ cho ai cả. Vẫn biết chân dung các chúa Trịnh vốn chẳng đẹp đẽ gì, song bất trung bất nghĩa như bọn Trịnh Luân và Trịnh Phất, bị nghiêm trị là chí phải, cương trực như Nguyễn Công Cơ mà được khen cũng là chí phải. Giữa thời đại loạn cũng có chút không hề là loạn, đại để là như việc này của Nguyễn Công Cơ.
Nạn ngoại xâm hẳn nhiên là đáng sợ, nhưng nạn đục khoét nước nhà từ bên trong cũng rất đáng sợ đó thôi. Một khi bằng cấp được coi là ân thưởng dành riêng cho con em nhà quyền thế, thì việc nước sẽ ra sao, không nói cũng rõ rồi. Trong mọi mối lo từ bên trong, chẳng có gì đáng lo bằng việc trao chính quyền cho lũ dốt nát và gian ngoan. Đôi khi,ạn quân xâm lăng chưa hẳn đã nguy hiểm bằng dăm ba tên mọt dân hại nước.
Cương trực thay. Nguyễn Công Cơ! Trên thì có các bậc Tham tụng, Quận công, Thiếu bảo … dưới thì có chư vị quan trường đã lấy đỗ Cống sĩ tứ phương, vậy mà Nguyễn Công Cơ vẫn theo phép nước mà làm, không kiêng dè nể sợ, bách quan muôn thuở, nào dễ đã có mấy ai!
❀ ❀ ❀
[1] Hộ Bộ Tả Thị Lang: Chức quan đứng hàng thứ hai của bộ Hộ. Chức này đứng sau chức Thượng thư và trên chức Hữu thị lang.
[2] Hương Cống: Cũng tức là Cống sĩ, dân gian gọi là Ông Cống. Hương cống hay Cống sĩ là tên học vị, thời Nguyễn học vị này đổi gọi là Cử nhân.
[3] Thiếu Bảo: Một trong Tam Thiếu (là Thiếu sư, Thiếu bảo và Thiếu phó). Từ thời Lý đến thời Lê sơ, Tam Thái và Tam Thiếu là hàm, cũng là chức, được ban cho các quan đầu triều. Thời Lê mạt, đây chỉ là hàm gia phong cho một số vị đại thần mà thôi.
[4] Tham tụng: Tương tự như Tể tướng, nhưng đây chỉ là quyền trao cho người có khả năng điều phối hoạt động chung của phủ chúa chứ không phải là chức. Phủ chúa Trịnh thường có hai quan là Tham tụng và Bồi tụng (thấp hơn Tham tụng một bậc) thay mặt chúa điều hành công việc chung.
[5] Nội giám Thiếu bảo: Hoạn quan, hàm Thiếu Bảo, làm việc trong phủ chúa.
[6] Cống sĩ: Cũng tức là Hương cống, dân thường gọi là ông Cống.