Thùy

Lượt đọc: 16 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 1
VÀO ĐỜI

❊ ❊ ❊

-Mẹ ơi! Mẹ ơi! Cứu con với! Con không đi đâu, không đi đâu .... âu...

Ngồi phía sau chiếc xe đạp Thống Nhất cũ kỹ Thùy quay đầu lại gào khóc kêu cứu. Bố mẹ và các em đứng trước cửa nhà giơ tay vẫy vẫy, thỉnh thoảng người mẹ lấy cánh tay áo lau nước mắt, nhưng hình như không một ai để ý đến lời kêu khóc thảm thiết của cô. Ánh nắng bắt đầu chói chang của buổi sáng cuối hè miền trung du, Thùy một tay bám chặt yên xe đạp, một tay quệt nước mắt, miệng mếu máo, chú Sinh nói vọng lại:

-Nín đi cháu, ngồi yên, đường mấp mô dễ đổ xe lắm.

Thùy có nghe thấy gì đâu, vừa khóc vừa lấy tay chùi nước mắt, cố quay đầu nhìn về phía sau. Đi được một đoạn khá xa, người đàn ông tay lái loạng choạng trên con đường đất gồ ghề, đột nhiên chiếc xe đổ xuống vệ đường.

Giật mình, Thùy tỉnh hẳn, thấy mình rơi xuống đất từ trên chiếc giường đơn làm bằng hai tấm gỗ xẻ kê trên đôi niễng trong phòng rất hẹp của dãy nhà tập thể nữ. Hóa ra sáng nay chú Sinh lai Thùy, ngồi phía sau giãy giụa xe bị đổ đã trở thành cơn ác mộng.

Lồm cồm đứng dậy, Thùy nằm xuống tấm gỗ, kéo chiếc chăn chiên cũ đắp lên người cho đỡ lạnh, nước mắt đầm đìa, khóc không ra tiếng, đôi vai gày rung lên theo tiếng nấc. Trời tối đen như mực, thỉnh thoảng tiếng chim ‘Bắt Cô Trói Cột’ từ cánh rừng vọng lại làm Thùy càng thêm sợ. Mấy hôm trước thôi, Thùy còn là cô bé hồn nhiên vui vẻ, chạy nhảy, cười đùa với lũ bạn cùng phố, với Hồng đứa em gái đáng yêu là như vậy, đột nhiên đêm nay Thùy nằm một mình, co quắp trên tấm ván cứng, lạnh ngắt như nền xi măng, không cha mẹ, không người thân, buồng bên toàn những người xa lạ lớn tuổi. Chao ôi! Thùy không biết phải làm gì những ngày sắp tới. Mẹ ơi! Mẹ ơi. Thùy chìm trong giấc ngủ cùng với tiếng nấc, tiếng van xin cầu cứu vô vọng.

 

                                                                                              *

Tốt nghiệp lớp 10 phổ thông, Thùy nộp đơn xin thi vào trường Đại học Tổng hợp Hà nội, nhưng không nhận được giấy báo tuyển sinh, trong khi lũ bạn cùng lớp đã có, Thùy đến Ủy Ban Hành Chính thị xã, nơi Thùy nộp đơn, hỏi lý do. Bước vào văn phòng thấy người đàn ông lớn tuổi trong bộ quần áo bộ đội bạc màu, Thùy chào lễ phép:

-Chào chú, cho cháu hỏi ai là người thường trực văn phòng ạ?

-Chú đây, cháu có việc gì?

-Thưa chú, cháu nộp đơn xin thi đại học nhưng không nhận được giấy báo tuyển sinh, bạn cháu ai cũng có.

Người đàn ông chỉ chiếc ghế đối diện, nói:

-Cháu ngồi xuống, nói họ tên và địa chỉ để chú kiểm tra hồ sơ.

-Dạ, cháu Lê thị Thùy....

Người đàn ông mở tủ hồ sơ lấy ra một chiếc cặp đặt lên bàn, kiểm tra chồng hồ sơ, lúc sau, ông cầm một hồ sơ xem xét rất kỹ, nói:

-Cháu là Lê thị Thùy con ông Lê văn Lân phải không?

-Dạ phải, thưa chú.

Nhìn Thùy rất kỹ, với giọng nói khá buồn, ông bảo:

-Rất tiếc thành phần gia đình cháu là tư sản dân tộc nên cháu không đủ tiêu chuẩn xét duyệt dự thi đại học.

-Dạ thưa chú, bố cháu là thợ may của công ty liên doanh thị xã, sao lại là tư sản được?

-Theo hồ sơ, trước khi sát nhập, gia đình cháu có ba máy khâu và hai người làm thuê, vì thế khi thị xã phát

động phong trào cải tạo tư bản tư doanh, gia đình cháu thuộc thành phần tư sản dân tộc.

-Thưa chú, chuyện ấy cháu có liên quan gì đâu, chuyện của bố cháu. Cháu từ nhỏ chỉ biết đi học sao thành phần của cháu lại là tư sản?

-Văn bản giấy tờ rõ ràng nên ban tuyển sinh thị xã không xét duyệt cháu. Cháu thông cảm, chú chỉ là nhân viên thường trực văn phòng ủy ban thôi.

Nghe người đàn ông giải thích, Thùy bàng hoàng không tin vào tai mình nữa, có nghĩa là con đường học vấn chấm dứt từ hôm nay. Đứng lên không vững, Thùy phải chống tay xuống mặt bàn, lê từng bước ra khỏi cửa ủy ban, đầu óc quay cuồng. Thùy gần như khuỵu xuống, choáng váng, mắt hoa, tự nhiên nước mắt lăn xuống hai gò má. Thùy bám vội cánh cửa, loạng choạng bước ra khỏi văn phòng UBHC thị xã. Trời ơi, bố Thùy chỉ là người thợ may có ba chiếc máy khâu và hai người em họ từ quê ra giúp việc mà trở thành Tư Sản Dân Tộc!!! Thành phần bất hảo của chính quyền chuyên chính vô sản cần phải loại bỏ. Cánh cửa vào đời của Thùy đã đóng sập ở tuổi trăng tròn, sắp bước sang mười sáu!

Năm 1958, Thùy mới tám tuổi, đi học về, trông thấy mấy chiếc xe ba gác và hơn chục người ồn ào trước cửa nhà, người ta khênh ba máy khâu của bố để lên ba chiếc xe, mọi người xúm vào đẩy đi, Thùy lạ lắm, tự hỏi “Bố bán máy khâu?” nhưng không dám nói. Bữa cơm trưa hôm ấy thật buồn, bố bảo, ba chiếc máy khâu nhà ta

bị xung công đưa vào Công ty liên doanh may mặc của thị xã, từ nay phải đến công ty làm việc. 

Năm ấy toàn tỉnh và thị xã rầm rộ chương trình cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, xóa bỏ tất cả phương thức làm ăn cá thể, tất cả các ngành nghề thủ công trong thị xã phải sát nhập thành công ty hay xí nghiệp liên doanh hoặc hợp tác xã, bố Thùy trở thành công nhân công ty liên doanh may mặc thị xã từ năm 1958, nhưng thành phần tư sản dân tộc họ quy kết gia đình từ sau ngày miền Bắc giải phóng 1954 vẫn chưa xóa. Hôm nay, tháng 6 năm 1966, trong lý lịch của Thùy vẫn còn nguyên thành phần tư sản dân tộc, chính Thùy cũng không hiểu tư sản dân tộc là gì một cách rõ ràng. Bố ngày ngày đến công ty liên doanh làm, mẹ ở nhà chăm sóc chị em Thùy, đi chợ, nấu cơm, trồng rau, nuôi gà lợn có bóc lột ai đâu. Môn chính trị lớp 10, thầy Hoàng giảng sự khác nhau giữa chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản ở những điểm cơ bản Thùy học:

Chủ nghĩa cộng sản không có người bóc lột người, không có chủ và tớ, mọi người lao động đều bình đẳng.

Tất cả tư liệu sản xuất là của công, của tập thể, của nhà nước, không thuộc bất cứ cá nhân nào.

Thầy Hoàng giảng nhiều lắm, nhưng Thùy chỉ hiểu lờ mờ ba chiếc máy khâu của gia đình mua dần từ nhiều năm, từ thời Pháp thuộc, trước khi Thùy ra đời, từ nay không còn của gia đình nữa mà của tập thể, của công ty liên doanh do ông Mai từ UBHC thị xã cử xuống làm chủ nhiệm, nhưng không phải là người làm nghề may mặc. Trong bản lý lịch, tất cả học sinh cấp III đều phải ghi thành phần ‘Tiểu tư sản học sinh’, Thùy đã từng thắc mắc với thầy Hoàng, thầy giải thích, các em là tiểu tư sản vì có kiến thức, khác với công nhân và nông dân, họ mới là người vô sản chân chính, không có bất cứ thứ gì trong tay kể cả kiến thức. Thùy không hiểu tại sao lại thế, vô lý, nhưng sự thật vẫn là sự thật.

Bước chậm chạp trên con đường về, hai hàng nước mắt sầu tủi theo nhau chảy xuống, đầu óc Thùy quay cuồng, không biết sẽ nói thế nào với bố mẹ đây. Nói sự thật có làm bố mẹ đau lòng, các em có thể phải thôi học, vì nếu tiếp tục đi học cũng chẳng có tương lai. Nghe Thùy kể lại sự việc buổi sáng ở UBHC thị xã, bố Thùy thở dài, trầm ngâm một lúc, chậm rãi, ông nói:

-Bố bất lực không giúp gì được các con. Thôi, đừng buồn nữa, mọi việc để bố mẹ lo.

Nói xong, kéo Thùy vào sát người, lấy tay ôm đầu Thùy áp vào ngực an ủi.

Thùy lại vui chơi với bạn cùng phố những trò chơi ô quan, đánh chắt, đánh chuyền, nhảy dây, hồn nhiên của cô bé ngây thơ miền trung du sắp bước sang tuổi mười sáu. Mấy hôm trước, bố mẹ gọi Thùy vào buồng riêng, nói:

-Con à, chú Sinh có quen một bác làm việc ở trường đại học tỉnh nhà, xin cho con vào làm phòng thư viện của nhà trường, công việc không vất vả, không cần bằng cấp, nhà mình đông người, việc làm của bố ngày một ít, kinh tế nhà ta khó khăn lắm. Vậy con đi làm đỡ đần gia đình, giúp bố mẹ nuôi các em được không?

Ngạc nhiên, nhưng Thùy không biết trả lời bố mẹ như thế nào, đành vâng lời cho phải đạo làm con. Đi làm kiếm tiền giúp đỡ gia đình nghĩa là thế nào? Ngày ngày Thùy cũng sẽ như bố, đến một nơi nào đó làm, trưa về ăn cơm, nghỉ trưa rồi lại đi, đến chiều lại về. Ngày mai lại tiếp tục như ngày hôm trước và cuối tháng Thùy sẽ nhận được tiền công đưa cho bố. Nghĩ thế, Thùy thấy cũng hay hay, hai bố con cùng đi làm, cuối tháng đều có tiền. Nhưng Thùy biết làm gì đâu ngoài việc cắp sách đến trường, chơi với bạn bè, trông em, vậy công việc ấy có dễ, có vất vả, nặng nhọc không?

Trưa hôm qua chú Sinh đưa Thùy đến văn phòng của trường Đại học Sư phạm Việt Bắc, đạp xe xa lắm, qua biết bao con đường đất gồ ghề, qua nhiều đồi đầy cây cọ, đến một dãy nhà vách đất thô sơ lợp mái cọ. Dựng xe bên cạnh cánh cửa liếp, hai chú cháu bước vào. Sau khi chào hỏi mọi người, chú nói với người phụ nữ những gì Thùy không rõ. Chú Sinh dặn dò trước khi ra về:

-Cháu ở lại đây chăm chỉ làm việc, nghe lời các bác, các cô các chú, đến ngày sinh nhật cháu, chú sẽ đón cháu về thăm nhà.

Nói xong, chú vỗ vỗ vào vai Thùy, chào mọi người, lấy xe đạp đi về. Thùy chẳng mong gì hơn ngoài việc được về thăm bố mẹ, các em, sống trong căn nhà vách đất ba gian hai trái, lợp lá gồi bên đường quốc lộ, với

hàng cây bàng xum xuê tỏa bóng mát những trưa hè, đùa vui với lũ bạn, với Hồng đứa em gái kém ba tuổi chơi chắt, chơi chuyền, ú tim, bịt mắt bắt dê. Hôm nay Thùy phải xa tất cả, đến một nơi xa lạ, sống với những người lớn tuổi không quen biết. Thùy hoang mang, lo lắng không biết sẽ ra sao. Một người phụ nữ khoảng ngoài ba mươi tuổi cười rất tươi, đến gần vui vẻ bắt tay Thùy đưa vào trong, chỉ chiếc ghế đối diện trước bàn làm việc bảo ngồi xuống, mở tủ hồ sơ lấy cặp tài liệu để trước mặt. Nét mặt vui, giọng nhẹ nhàng ấm áp làm Thùy cảm thấy yên tâm, đỡ lo lắng:

- Nào ta làm quen nhau nhé, cô là Mai, trưởng phòng tổ chức và hành chính. Cháu tên gì, bao nhiêu tuổi nói cho cô biết.

Thùy ngập ngừng, từ từ trả lời từng câu hỏi, vừa nói vừa quan sát, nhìn vẻ mặt dịu hiền, Thùy dần dần bớt căng thẳng, thoải mái hơn. Vẫn nét mặt vui vẻ, Mai nói:

-Bắt đầu từ hôm nay, cháu là nhân viên hợp đồng tạm tuyển của nhà trường, làm tạp vụ phòng thư viện, công việc sẽ do các anh chị đồng nghiệp chỉ dẫn. Lương khởi điểm 28 đồng một tháng, tiền ăn hàng tháng 15 đồng, ngoài ra không phải đóng bất cứ loại tiền gì nữa. Vì nhà trường đang trong thời kỳ xây dựng lán trại còn bề bộn lắm, nơi ăn chốn ở gặp nhiều khó khăn, cháu thông cảm. Sau sáu tháng, nếu làm tốt, đủ tiêu chuẩn cháu sẽ được biên chế chính thức, lương sẽ tăng là 36 đồng một tháng, khó khăn gì cứ tìm cô. Cháu có gì cần hỏi thêm không?

-Dạ, không cô.

Theo Mai, Thùy đến một khu nhà vách đất lợp lá gồi còn thơm mùi lá, móc túi lấy chìa mở khóa một buồng nhỏ, chừng hơn mười mét vuông, phía trong trống trơn, ngoài hai tấm phản bằng gỗ mới xẻ kê trên hai chiếc niễng làm bằng bốn cọc tre và chiếc hòm gỗ đặt trên giá cũng làm bằng bốn cọc tre sát ngay hai tấm gỗ làm giường. Thùy bước vào buồng, Mai tự tay trải chiếc chiếu một còn mới lên hai tấm gỗ, mỉm cười, nói nhỏ:

-Đây là buồng riêng của cháu, đi khóa về mở, khu tập thể phụ nữ của nhà trường, cần gì cứ tìm cô, cháu yên tâm chứ.

Mai nói xong giao chìa khóa, bước ra khỏi căn phòng, Thùy đặt túi đồ quần áo xuống tấm gỗ, nhìn xung quanh hoang mang. Trời ơi, mình đang ở đâu đây? Đây là đâu? Buồng ở như thế này, gắn bó suốt đời với mình ư? Thùy không biết tâm trạng ra sao nữa, hai hàng nước mắt tự nhiên ứa ra. Ngẩn ngơ như người mất hồn, ngồi trong phòng khá lâu, suy nghĩ miên man, Thùy đứng lên sắp xếp quần áo cho vào hòm gỗ, bước ra cửa phòng, nhìn xung quanh. Phía trước là đồi cọ, phía sau cũng đồi cọ, xung quanh chỉ thấy cây cọ và đồi cọ, dọc theo thung lũng mấy dãy nhà vách đất lợp lá cọ cách nhau mươi mét. Một con đường mòn xung quanh nối khu nhà này sang khu nhà khác, nhiều bụi cây ven đường có hoa rừng sặc sỡ nhưng Thùy không biết hoa gì.

Lững thững đi dọc con đường mòn xem xét xung quanh. Thùy nhớ lời Mai, nhà trường mới thành lập, nhưng phải đi sơ tán gấp, chia làm nhiều cơ sở, mọi việc mới mẻ và bề bộn, các khoa phòng chưa làm xong lán trại, cán bộ nhân viên hầu hết đều ở nhờ nhà người dân địa phương. Sinh viên thành lập từng tổ nhóm san nền, vào rừng kiếm bương tre, lá gồi làm lán trại và phòng học. Đột nhiên một người phụ nữ từ phía dãy nhà bên đi ra nhìn thấy Thùy cười, hỏi:

-Em mới về công tác à? Thùy nhìn chị, mỉm cười:

-Vâng, em là nhân viên mới chị ạ. Người phụ nữ đến gần, hỏi:

-Em ở bộ phận nào?

-Em bên thư viện.

-Ôi, cùng bộ phận với chị rồi. Em ở dãy nhà kia phải không?

-Vâng.

-Em tên gì? Chị là Nga.

-Em tên Thùy.

-Sắp đến giờ cơm trưa rồi. Em biết nhà ăn ở đâu không?

-Dạ, không.

-Đi với chị.

Thùy đi theo Nga về nhà. Vừa đi Nga vừa hỏi:

-Em có bát đũa chưa? Thùy cười gượng:

-Chưa, chị ạ.

-May quá chị có bát đũa không dùng đến, em cầm lấy sử dụng.

-Em mượn chị, mấy hôm nữa đi chợ em mua. Cười hiền lành, Nga nói:

-Chợ xa lắm em ơi, năm ngày mới có một phiên. Coi như là quà tặng em buổi đầu ta làm quen với nhau.

Nét mặt Thùy rạng rỡ:

-Vâng, em cám ơn chị.

-Khách sáo thế em.

Nhà ăn tập thể đơn sơ, rộng chừng 20 mét vuông, bốn bức vách làm bằng nứa đan cao hơn một mét, lợp lá gồi, có vài dãy bàn ghế. Mặt bàn bằng mảnh ván xẻ bào sơ qua, ghế ngồi là những chiếc ghế dài cũng bằng ván xẻ. Đây là bữa cơm tập thể đầu tiên đời công nhân viên chức Thùy không bao giờ quên.

Một chiếc bát nhỏ đựng cơm kèm theo chiếc bánh bao bột mỳ luộc, bát đựng canh đu đủ xanh nấu muối và một đĩa nhỏ có vài thìa tép khô rang, lọ muối màu vàng vàng do pha i-ốt phòng chống bướu cổ để trên bàn ăn. Thùy rất ngạc nhiên lần đầu tiên nhìn thấy bánh bao bột mỳ luộc mà không hấp như mẹ vẫn làm và các cửa hàng ăn mậu dịch bán, nhưng khi người ta đói, ăn gì cũng thấy ngon, bữa cơm đạm bạc nhưng Thùy cảm thấy ngon miệng vì đói và bên cạnh có Nga, người phụ nữ mới quen nhưng dịu dàng, ân cần, thấy đỡ cô đơn, buồn tủi. Vừa ăn, Nga vừa nói chuyện về công việc, sinh hoạt của tổ. Nga bảo:

-Tổ chị em mình cả em nữa là ba người, anh Minh tổ trưởng. Nhà trường mới thành lập, lại trong thời kỳ phải đi sơ tán gấp. Công việc bề bộn lắm, sách báo chất thành đống cao ngất. Chị em mình phải tập trung giải quyết đống sách này theo sự phân công của anh Minh.

Ăn xong, Nga đưa Thùy về kho sách. Nhìn từng đống sách chồng chất cao như núi, Thùy hoang mang lo lắng, không biết mình sẽ làm thế nào, làm gì với những chồng sách khổng lồ này và có làm được không? Nào là sách chuyên môn của các khoa ngành, sách tham khảo, tài liệu, báo, tạp chí tiếng Việt, tiếng nước ngoài (phần lớn tiếng Nga, tiếng Trung). Mọi người phải sắp xếp theo chuyên đề: sách khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, chính trị, triết học, tâm lý học v…v... vào sổ ghi danh mã số, từ đó tùy theo số lượng chia ra đưa về thư viện các khoa trong trường. Vì sơ tán thành nhiều cơ sở, các khoa phải trú ở nhiều nơi khác nhau, gần nhất cũng gần chục cây số. Gồm khoa Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Sử, Địa … đây chính là cái nôi đào tạo giáo viên cấp III tương lai của Khu tự trị Việt Bắc.

Ngoài công việc làm trong phòng thư viện Trung tâm của trường, hàng tháng phải lên huyện mua, nhận sách, tạp chí đem về thư viện Trung tâm, sau đó mới phân chia đưa về cơ sở các khoa. Nhìn đống sách cao ngất, Thùy lo lắng, “không biết khi nào mới làm xong?” Nhưng Minh tổ trưởng, chừng ba mươi tuổi, người Hà nội, dịu dàng, tận tình chỉ dẫn, Minh còn trong ban chấp hành đoàn của nhà trường, mặc dù những ngày đầu Thùy chưa quen, không những thế, tâm trạng lo lắng nên làm chưa tốt. Trước kia sống với gia đình, Thùy thường giúp bố đơm cúc, thùa khuy, vắt gấu áo quần, trông em, giúp mẹ nấu cơm, nhưng vẫn có thời gian chơi với bạn bè, các em, không phải lo nghĩ, nay đã là nhân viên của cơ quan nhà nước, người lớn còn gì nữa, làm gì có chuyện nhảy dây, chơi ú tim! Nghĩ miên man, Thùy cảm thấy vui vui, cố gắng không muốn làm phiền lòng Minh và Nga. Rất may tiếp thu nhanh, chăm chỉ, sau vài tuần dưới sự hướng dẫn nhiệt tình Thùy đã quen dần với công việc, nỗi nhớ nhà cũng vơi dần không như những ngày đầu mới đến.

                                                                                                  *

Hôm nay Nga và Thùy ra bưu điện huyện nhận sách, hai người đi từ sáng sớm, lấy sách xong, rẽ qua chợ tìm cửa hàng ăn trước khi về. Phố huyện vắng vẻ, các gia đình đi sơ tán, nhà nhà cửa đóng then cài, cửa hàng thực phẩm, hàng ăn mậu dịch đóng cửa, đi loanh quanh chợ, may quá Nga thấy một quán bán nước ở góc cuối chợ.

Gọi là quán cho lịch sự, chứ nó giống như túp lều chăn vịt ngoài đồng Thùy đã nhìn thấy gần nhà. Bốn cái cọc, vài lá gồi làm mái che mưa nắng, dốc về phía sau tựa vào gốc cây bàng, xung quanh không có vách, rộng chừng dăm mét vuông, bên trong quán, một cái chõng bằng tre bày dăm chiếc bát sành úp, vài lọ kẹo lạc, kẹo bột, kẹo kéo, ít khoai lang, dăm củ sắn luộc cùng chiếc dành tích đựng nước chè tươi ủ nóng. Phía sau một bà quần đen, áo nâu sồng, răng đen, bỏm bẻm nhai trầu, trên năm mươi tuổi, ngồi trên chiếc ghế con bán hàng. Phía trước chõng, một cái ghế dài bằng mảnh ván xẻ bào sơ qua. Trông thấy, người đàn bà niềm nở mời khách:

-Mời hai cô vào xơi nước, ăn quà. Nước chè tươi mới hãm, thơm ngon lắm.

Không cần mời đến câu thứ hai, hai người ngồi xuống ghế, lấy nón quạt cho ráo mồ hôi, chọn dăm củ khoai, vài miếng sắn luộc. Ăn xong, uống bát nước chè tươi nóng, Thùy thấy đỡ mệt, phải chăng từ sáng sớm đi hơn chục cây số đường mòn không một hạt cơm, hụm nước nên bây giờ sau khi ăn thấy tỉnh táo hơn.

Bà hàng nước gợi chuyện:

-Các cô từ đâu đến, không phải người vùng này? Nga cười:

-Bác tinh thế, chúng cháu trong khu sơ tán, hôm nay lần đầu ra huyện ta lĩnh sổ sách.

Uống ngụm nước chè tươi, Nga hỏi thêm:

-Bà con phố huyện ta đi sơ tán hết hả bác?

-Dạo này máy bay Mỹ qua đây thường xuyên, lãnh đạo huyện thông báo bà con sơ tán hết rồi.

-Sao bác không đi sơ tán?

-Tôi già rồi, sơ tán lấy gì mà sống? Quán nước xì xằng tạm nuôi cái thân già này.

-Các anh, các chị nhà ta đâu?

-Tôi có hai thằng đều nhập ngũ cả rồi. Con gái út mới gả chồng huyện bên. Nhà còn một mình, đành bám trụ vậy. Ai nuôi mình mà sơ với cả tán, tôi nói thế có phải không hai cô?

Nga nhìn Thùy, rồi mỉm cười nói:

-Bác nói chí phải, ở đâu cũng cần ăn. Thôi, chúng cháu xin phép bác, đường còn xa lắm.

Nga và Thùy trả tiền xong, xóc lại quang gánh, đồ đạc lên đường. Nắng bắt đầu gay gắt, đi được hơn cây số, Thùy hạ đôi quanh gánh xuống vệ đường, thở hổn hển, mồ hôi chảy dòng dòng xuống má, chị Nga cười:

-Con gái mười bẩy bẻ gẫy sừng trâu, xem ra em chị bẻ cọng rơm không xong.

Vuốt mồ hôi trên mặt, Thùy cười bẽn lẽn:

-Em mới mười sáu thôi, chị ơi! Nga cười:

-Ừ, thể nào người mảnh khảnh như cây sậy, may có mái tóc dài bù lại, chốc nữa qua cầu, không khéo gió thổi em gái chị bay xuống suối ấy chứ.

Hai người vừa đi vừa nói chuyện quên quãng đường dài, gần đến cầu treo, Nga nói:

-Cẩn thận Thùy, cầu treo lắc lư lắm đấy.

-Vâng, em biết rồi.

Chiếc cầu bắc qua con suối dài chừng hơn năm mươi mét, thành cầu hai bên bằng sợi cáp đôi, buộc chằng xuống nhiều sợi cáp dưới sàn cầu rỉ sét. Mặt cầu bằng những thanh gỗ cũng buộc bằng nhiều sợi cáp, nhiều thanh đã mọt, rộng chừng ba mét, chỉ đủ cho bốn người đi lại. Mỗi lần bước chân đặt xuống, cầu lắc lư, tròng trành thử sự gan dạ và dũng cảm người bộ hành. Lần đầu tiên trong đời Thùy gánh nặng trên vai đi lên chiếc cầu treo bắc qua con suối, nhìn xuống, con suối dưới cầu sâu chừng mươi mét, nước chảy xiết đã thấy sờ sợ, nổi gai ốc, thầm nghĩ, nhỡ bước phải thanh gỗ mọt nó gãy, rơi tòm xuống thì... Thùy không dám nghĩ thêm nữa. Liếc nhìn Nga bình thản dẵm lên từng thanh gỗ kêu cót két, hai tay cầm chiếc ghi đông đẩy xe đạp có hai bao tải sách to tướng, Thùy cảm thấy xấu hổ, cố gắng lấy hết can đảm và nghị lực bước từng bước chậm chạp lên mặt cầu. Chiếc đòn gánh bằng đoạn hóp trên vai phải như muốn ấn xuống, toàn thân Thùy nghêng ngả theo nhịp bước. Không những thế, đôi quang gánh có bao tải đựng sách đầy ắp, dài lê thê gần sát mặt đất, lệt xệt, lắc lư trông vừa buồn cười, vừa tội nghiệp. Nga quay lại nhìn, nói:

-Thôi, để chị gánh cho, em thồ chiếc xe đạp này, chứ đường xa gần chục cây số, tối cũng không về đến nhà.

Nghe Nga nói, Thùy không biết nên như thế nào, thấy ngượng, nhưng đi còn run sợ huống chi trên vai hai bao tải sách nặng trĩu. Khó nghĩ quá! Nga biết ý, đứng lại đợi, khi Thùy đi đến gần, bảo:

-Em đặt quang gánh xuống, hai tay cầm ghi đông dắt xe qua cầu, chị gánh cho. Cái vai học trò này chưa quen, phải tập dần, sau này mới đủ sức gánh vác công việc cơ quan và chồng con chứ.

Bẽn lẽn, mặt đỏ lên không biết vì mệt hay xấu hổ khi Nga gọi là cô bé còm nhom và chuyện chồng con, Thùy đặt quang gánh xuống, lấy vạt áo lau mồ hôi, nhìn Nga với ánh mắt cảm ơn, hai tay cầm chiếc ghi đông xe đạp buộc hai bao tải sách nặng đẩy đi. Hai người vừa đi vừa nói chuyện, khi đi qua hết cầu một đoạn, đột nhiên tiếng máy bay phản lực Mỹ gầm lên vụt qua, sát khe núi, tránh tầm súng cao xạ, lướt qua đầu, xé toạc khoảng trời yên tĩnh. Nga bỏ quang gánh chạy xuống nấp vào bụi cây bên đường, Thùy vẫn cố gắng dắt chiếc xe đạp thồ sách, Nga gọi to:

-Bỏ xe chạy nhanh xuống đây, Thùy ơi!

-Không, em sợ hỏng và mất sách.

-Sách với vở gì, mạng mình là chính. Vứt xe xuống, máy bay nó quay lại bắn tên lửa chết cả lũ bây giờ.

Bấy giờ Thùy mới bỏ chiếc xe đạp thồ sách xuống vệ đường, vội chạy theo Nga, cả hai ngồi im, lát sau lại nghe tiếng ầm ầm như tiếng sấm, ngửng đầu nhìn thấy ba chiếc máy bay phản lực in cờ Hoa Kỳ vút qua, hướng về phía Hà Nội. Đây là tỉnh trung du tiếp giáp Hà nội, không phải khu công nghiệp hay khu đầu não của chính phủ, vì thế máy bay thường xuyên bay qua, rất ít khi bị oanh tạc. Chờ một lúc khá lâu, Nga bảo:

-Lần sau khi thấy máy bay em bỏ hết tìm chỗ ẩn nấp trước, nhớ chưa? Thôi, chắc nó không quay lại nữa, ta đi thôi.

Nga xếp lại quang gánh, Thùy không dựng được xe đạp thồ đầy sách vì quá nặng, phải nhờ Nga giúp mới dựng được xe. Cuối cùng hai người cũng về cơ sở, đặt gánh sách xuống, Nga lấy nón vừa quạt, vừa nói:

-Ấy thế mà mệt ra phết, thở không ra hơi nữa. Hôm nay chị em mình hoàn thành nhiệm vụ, nghỉ ngơi tắm rửa, ngày mai ta mới soạn số sách này em nhé.

-Vâng.

                                                                                             *

Sáng nay Thùy thức giấc sớm hơn mọi ngày. Chú gà trống của chị hàng xóm cất tiếng gáy to, đánh thức làm tan biến giấc mơ đẹp của Thùy đang vui chơi cùng các em. Thùy chợt nhớ đến công việc ngày hôm nay phải làm. Hôm qua Minh nói với Nga và Thùy:

-Ngày mai ba chị em mình phải xử lý núi sách chiếm chỗ trong kho lâu quá rồi.

Thùy đến phòng thư viện trước giờ mươi phút, Nga và Minh đã có mặt, vì buồng Minh ở gần thư viện. Ba người bắt tay vào công việc, không ai muốn nhìn thấy nó nằm chềnh ềnh ở trong kho mãi. Trước tiên sách, tài liệu tạp chí, báo … xếp để riêng. Sách chia theo bộ môn: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, chính trị triết học, đường lối chính sách của Đảng, nhà nước, sách văn học nghệ thuật, sách thiếu nhi để riêng. Nhưng Thùy thấy sách thiếu nhi rất ít, có lẽ không phù hợp với nhà trường toàn sinh viên lớn tuổi. Mấy ngày liên tục phân chia tổng quát, ba người cũng thấy nhẹ nhõm phần nào. Từng chồng sách được phân chia chất cao lên theo từng bộ môn, Thùy phải kiểm tra ghi số lượng, tên sách giống nhau chia ra đưa về thư viện các khoa trong trường. Khoa nào cũng tương đối đầy đủ các thể loại phục vụ cho học tập, giảng dạy, nghiên cứu, tham khảo, tạp chí, sách văn học nghệ thuật. Những sách, tài liệu có số lượng ít lưu giữ lại trong Thư viện Trung tâm nhà trường.

Thùy ít tuổi, lại nhỏ bé nên được Minh và Nga ưu tiên không phải bê vác, vận chuyển những chồng sách to, dầy, bìa cứng rất nặng, phải gắng sức mới bê được hai, ba cuốn đặt nơi quy định. Thùy được bố trí công việc nhẹ nhàng ghi nhận tạp chí, báo hàng ngày, hàng tuần giao cho các phòng ban, bộ phận khu vực Trung tâm. Minh và Nga chịu trách nhiệm sách tiếng nước ngoài, chủ yếu tiếng Nga và tiếng Trung. Sau một thời gian đống sách cao như núi đã được xếp gọn gàng theo đúng quy định. Thùy chịu trách nhiệm phần tiếng Việt, ghi vào sổ lưu trữ trong thư viện Trung tâm.

Từ đó, công việc chính của Thùy ghi chép, không phải đi xuống các phòng ban. Nguyên tắc ghi vào sổ: tên sách, tác giả, năm xuất bản, giá tiền, ngày nhập, số lượng… Thùy ghi chép cẩn thận không để nhầm lẫn, sai sót. Minh nhắc Thùy, “Đây là công việc nhẹ và sạch sẽ, cố làm cho tốt.” Thùy không muốn làm anh chị không vui vì được tin tưởng. Chú Sinh và bố đã căn dặn, đi làm phải cố gắng làm tốt công việc được giao, mới được nhận vào biên chế, thành nhân viên chính thức, có tiền lương lâu dài giúp bố mẹ và các em. Minh nói “từ danh sách số lượng đã có, mới đề xuất kế hoạch mua, nhập sách phù hợp với điều kiện nhà trường.”

Sách để trong kho lâu ngày bám đầy bụi do chuyển nhượng từ thư viện Hà Nội, hoặc từ nơi khác, ngoài ra phòng kho nhỏ, cộng thêm khí hậu địa phương vùng núi dễ bị ẩm, mốc, mối mọt, chuột gặm nên nhiều sách bị rách, mất góc, mất trang, có lỗ thủng phải vứt bỏ. Găng tay không có, khẩu trang cũng không, phải dùng khăn quàng cổ che miệng tránh hít phải bụi bẩn, hơi mốc. Sau một ngày làm việc, người và tay ngứa ngáy khó chịu, không khí ngột ngạt, ai cũng hắt hơi liên tục, mới đầu xấu hổ, sau quen, nhìn nhau cười. Giải quyết xong núi sách trong kho, Thùy bắt đầu vào công việc chính. Tuy đã hủy bỏ số sách hỏng, nhưng khi vào sổ vẫn còn sót lại nhiều cuốn không được tốt, Thùy xin ý kiến Minh xử lý.

Nga thường xuyên động viên, cả hai coi Thùy như đứa em, khiến Thùy nghĩ đến gia đình.

Thùy có người anh hơn ba tuổi, nhưng được mẹ thương, chiều chuộng nhất. Là em, nhưng Thùy phải làm nhiều việc nhất, còn anh suốt ngày lêu lổng với bạn. Thỉnh thoảng Thùy cũng theo anh đi chơi. Một lần anh dắt đi, mải chơi quên về nấu cơm, anh không bị mắng, lại còn được mẹ cho phép đánh Thùy vì tội không nấu cơm. Lần ấy, Thùy bị anh kéo cánh tay qua hàng rào nứa chảy máu, đau lắm, nhưng không dám khóc, không dám mách bố, sợ bị anh trả thù khi bố không có nhà. Im lặng, nhưng luôn tự hỏi, tại sao anh lại được mẹ yêu quý bênh vực, còn mình phải chịu oan ức? Bố đi làm từ sáng sớm, tối mới về, hàng ngày Thùy mang cơm trưa cho bố mà không dám kể tội anh đánh. Sau này Thùy mới hiểu, phong tục tập quán phong kiến của người Việt thời bấy giờ trọng nam khinh nữ. Con gái thường ví ‘vịt giời’, lớn lên lấy chồng, bay đi, không giúp đỡ cha mẹ. Con trai đầu lòng sau này thờ cúng tổ tiên, chỗ dựa của cha mẹ, nên được cưng chiều. Đầu óc Thùy miên man nhớ lại những kỷ niệm vui buồn tuổi ấu thơ, có lúc ngẩn người, Nga nhìn thấy, nghĩ, chắc Thùy nhớ nhà. Minh hứa làm tốt công việc, khi nào có xe ô tô về thị xã lấy sách sẽ cho Thùy đi cùng, ghé thăm gia đình. Thùy yên tâm, vui vẻ làm việc, được khen chữ viết đẹp, ghi chép cẩn thận rõ ràng. Đôi khi Nga cho Thùy củ sắn, khoai lang luộc. Buổi sáng thường không có gì ăn nên với Thùy sắn, ngô, khoai ngon lắm, ngon hơn cả bánh xôi khúc hồi ở nhà bố mua. Thùy ước gì Nga là chị gái, thay thế ông anh lười biếng được mẹ nuông chiều, hay bắt nạt và đánh Thùy. Nghĩ vậy Thùy tự cười: “Ngớ ngẩn thật!”

Ngồi viết liên tục, các ngón tay tê mỏi, nhất là mùa đông, gió lạnh, giá rét, mặc dù mặc áo len, kèm theo áo trấn thủ bố may cho, Thùy vẫn rét run, tay cóng khó viết đẹp, được giải lao bằng cách làm việc cùng Minh chia sách về các khoa. Nhà trường sơ tán ra nhiều khu vực, các khoa cách nhau có nơi hơn mười cây số, khi Thư viện trung tâm chia xong sách, thông báo, họ cho người đến lấy về.

Số sách, tạp chí hỏng, mối mọt, rách, Minh xin ý kiến lãnh đạo tiêu hủy, đem ra sân đốt. Những ngọn lửa hồng nổ tí tách làm dịu đi không khí lạnh nơi rừng núi, hơ hai bàn tay trên ngọn lửa bập bùng cảm thấy dễ chịu những ngày đông giá lạnh. Công việc hàng ngày trôi qua đều đều như vậy với Thùy.

Tuần làm việc sáu ngày, sáng đi tối về căn phòng bé nhỏ, Thùy thích nghi dần với nếp sống mới. Những buổi tối họp công đoàn, thanh niên, mỗi khi phát động phong trào thi đua ai cũng hăng hái tham gia. Ngày đầu đi họp, Thùy chưa hiểu ngượng ngùng, bỡ ngỡ, ngồi im lắng nghe mọi người phát biểu, thảo luận. Pao người Tày, bí thư chi đoàn, giới thiệu với mọi người, “đồng chí Thùy nhân viên mới, hôm nay tham gia sinh hoạt đoàn thanh niên chúng ta”. Thùy xấu hổ, e thẹn, cúi đầu không dám nhìn. Sau buổi họp, Pao gặp Thùy nói chuyện với tư cách bí thư , giải thích về quyền lợi và nghĩa vụ của thanh niên đối với Đoàn thanh niên Lao động.

-Em tuổi trẻ, nhân viên mới, nên tham gia mọi tổ chức của nhà trường như công đoàn, thanh niên, phụ nữ.

Nét mặt nghiêm nghị, Pao nói với giọng quan trọng:

-Em mười sáu tuổi chưa là đối tượng cảm tình Đoàn, phải cố gắng phấn đấu nhiều hơn, vì anh biết gia đình em có vấn đề, không thuộc thành phần cơ bản.

Lại thành phần gia đình! Nghe Pao nói mấy từ này, Thùy cảm thấy buồn, ớn lạnh, chả nhẽ thành phần tư sản dân tộc sẽ theo mãi suốt đời sao? Pao nói nhiều, nhưng Thùy không nghe được gì nữa, chỉ thấy hoang mang chán nản, miệng luôn luôn “vâng, vâng” cho lễ phép. Cuối cùng Pao bảo:

-Thùy yên tâm, tất cả đoàn viên trong chi đoàn luôn luôn bên cạnh và giúp đỡ, có thắc mắc gì cứ mạnh dạn hỏi anh.

Nghe Pao nói vậy, từ đó Thùy suy nghĩ nhiều về tổ chức đoàn thanh niên, nhưng vẫn băn khoăn về thành phần gia đình, bản thân. Các bạn cùng lớp phổ thông đều được kết nạp đoàn, (hồi ấy Thùy nghĩ do ít tuổi), có phải vì không là đoàn viên nên đơn xin thi đại học không đủ tiêu chuẩn? Thùy cảm thấy lẻ loi cô độc, cánh cửa vào đời khép kín chăng?

Nga nhận thấy Thùy gần đây ít nói cười, nên bảo Thùy Chủ nhật đến chơi ăn cơm với gia đình, muốn nhận lời nhưng e ngại. Nga vui vẻ nói:

-Em đến chơi với bé Lan, chắc con bé vui lắm đấy. Khoảng 10 hay 11 giờ Chủ nhật này, em nhớ đến nhé.

Nhìn thấy Thùy, bé Lan cười lộ mấy cái răng sún, khoanh tay:

-Em chào cô Thùy... chào chị Thùy ạ! Thùy ngạc nhiên:

-Chào bé Lan! Sao em biết tên chị? Cứ gọi là chị cho thân nhé, em út của chị cũng năm, sáu tuổi bằng tuổi em thôi.

Lan cười, nhay nháy mắt.

-Mẹ nói, em ngoan nên hôm nay có chị Thùy đến chơi.

Thùy vui khi thấy bé Lan luôn mồm gọi:

-Chị Thùy ơi ra đây. Chị Thùy ơi nhanh lên...

Lâu lắm Thùy mới được vui đùa với trẻ em như những ngày ở nhà, nhưng lại muốn giúp việc trong bếp, Nga cười:

-Thôi chơi với bé Lan cũng là giúp chị rồi. Nga khoe:

-Hôm qua anh Quang câu được con cá chép to,  để dành đãi khách đấy.

Thùy cười:

-Em được anh chị chiêu đãi thế còn gì bằng.

Thấy Nga nấu món riêu cá, Thùy chợt nhớ đến những ngày ở nhà. Sáng sớm hay theo mẹ đi chợ thị xã, thời kỳ chiến tranh chợ họp rất sớm, từ ba bốn giờ sáng, những chiếc đèn bão, đèn dầu trong chợ trông từ xa thật vui mắt như những ngôi sao lấp lánh giữa đêm khuya. Người từ khắp nơi đổ về đông dần, người mua kẻ bán ồn ào chen chúc nhau phiên chợ của miền trung du. Các bà bán thịt thường đến sớm, tiếng dao phay chặt thịt, chặt xương bôm bốp, chan chát xuống cái thớt to, Thùy đi qua nghe rờn rợn, sởn da gà. Hầu hết người bán rau, gà, vịt, cá là nông dân quanh vùng, chăn nuôi trồng trọt tự sản tự tiêu, vì cần tiền mua đồ dùng cần thiết như quần áo, cuốc xẻng nên đem ra chợ bán những thứ nuôi trồng. Thùy thích nhất quầy hàng tạp hóa có những chiếc lược ngà, lược sừng, cặp tóc hình con bướm thật xinh. Lướt qua khu bán hoa tươi đủ màu sắc thật đẹp mắt. Thùy và mẹ thường đi sớm mua tôm cá vì bố thích ăn hải sản. Ngoài cá rán, cá kho với riềng thơm nức mũi, nhưng riêu cá nấu với quả me thêm ít rau thì là, rau sà-lát, rau mùi, món ăn khoái khẩu nhất của bố. Có lần bố nói đùa:

-Có cá đổ vạ cho cơm, hôm nay nếu có thủng nồi trôi rế không phải tại tôi đâu đấy nhé.

Nghĩ đến đây, tự nhiên Thùy thương bố nhiều lắm, nhớ nhà, nhớ bố da diết.

Mấy tháng Thùy ăn cơm tập thế đã quen, nhưng vẫn nhớ bữa cơm gia đình. Hôm nay ăn cơm cùng Quang, Nga và bé Lan, Thùy cảm thấy ấm cúng nên ăn ngon miệng, chuyện trò vui vẻ cộng với tiếng cười, tiếng nói líu lo của Lan, Thùy như được sống lại cảnh sinh hoạt cùng cha mẹ và các em.

Thùy chợt nghĩ đến cuộc sống hiện tại. Họp chi đoàn sao không có mặt Nga nhỉ? Thùy tò mò hỏi:

-Chị ơi, anh Minh là cán bộ đoàn thanh niên phải không?

Nga bình thản trả lời:

-Tất nhiên rồi, còn sinh hoạt trong tổ đối tượng đảng nữa. Vì vậy mới được làm tổ trưởng. Người lãnh đạo phải là đảng viên hoặc ít nhất cũng ban chấp hành đoàn. Anh chị đây vô đảng, vô đoàn dù có thâm niên gì chăng nữa vẫn chỉ là nhân viên quèn đi làm kiếm sống.

Nga nhìn Thùy âu yếm:

-Em còn trẻ, chưa lập gia đình, nên tham gia mọi tổ chức đoàn thể, cố gắng phấn đấu mới có triển vọng sau này. Em vẫn đi họp thanh niên đấy chứ?

Nét mặt buồn, Thùy khẽ nói:

-Vâng, chị. Anh Pao, bí thư chi đoàn bảo, em khó được kết nạp đoàn vì gia đình có vấn đề, không phải là thành phần cơ bản.

Nga nhìn sang chồng, Quang vô tư nói:

-Không có vấn đề gì quan trọng đâu, em cứ làm tốt công việc, tham gia đầy đủ các hoạt động của nhà trường, vui vẻ hòa đồng với mọi người. Em không phải lo nghĩ cho mệt, trong cơ quan ta rất nhiều người không phải đảng viên, đoàn viên vẫn sống vui vẻ hạnh phúc, mai kia em sẽ hiểu. Thôi ta ăn kẻo nguội, mất ngon.

Nghe Quang nói vậy, Thùy cũng yên tâm hơn, không nghĩ nhiều nữa, nhưng cảm thấy những người lớn tuổi trong các phòng ban ở khu trung tâm có gì đó nên họ ít nói, kín đáo, thật khó hiểu, quá phức tạp. Thùy tự nhủ phải cẩn thận giữ gìn, khéo léo cư xử với mọi người.

                                                                                                 *

Hàng tuần chỉ ngày Chủ nhật được nghỉ, vì vậy không có nhiều thời gian, công việc bề bộn, vệ sinh cá nhân, giặt quần áo, ngoài ra thỉnh thoảng Thùy cùng mấy chị trong khu tập thể đi chợ huyện cách năm sáu cây số, năm ngày mới có một phiên, nhiều người tranh thủ mua gạo nếp, nấm hương, mộc nhĩ, đồ dùng của phụ nữ. Không những thế, Chủ nhật phải đi lấy củi nộp nhà bếp theo quy định 30 kg một tháng, không đủ sẽ bị cắt cơm. Động chạm vào dạ dày, ai cũng phải cố nộp đủ tiêu chuẩn. Củi không dễ kiếm, đi xa, vào rừng, nhiều khi phải chặt cây khô bằng rìu, đối với người gầy, bé nhỏ như Thùy càng khó khăn hơn. Nhiều chị rất cố gắng, nhưng vẫn không đủ nộp, các chị bàn nhau rủ thanh niên trong trường đi lấy cùng để họ giúp, có nam giới khỏe mạnh, nhanh nhẹn dễ kiếm được đủ tiêu chuẩn.

Có chị xúi Thùy hỏi các anh ở bộ phận khác, Thùy nhỏ bé, ít tuổi chắc họ dễ nhận lời giúp đỡ hơn.

Từ tuổi thiếu niên, Thùy bước sang tuổi thanh niên quá vội vàng do hoàn cảnh bắt buộc. Một cô bé gầy nhom tuổi mười lăm, sinh ra trong gia đình không giàu cũng không nghèo, hàng ngày sau buổi học nhà trường, Thùy giúp bố thùa khuy, đơm cúc, vắt gấu áo quần, trông em, vui chơi với bạn bè, vô tư, đột nhiên phải xa gia đình, xa tất cả người thân đi làm kiếm sống, tự lập, không nơi nương tựa, non nớt trong suy nghĩ, phải cố gắng thích nghi với cuộc sống mới, hoàn cảnh mới. Những người trong nhà trường đều lớn tuổi, bậc cha chú, cô dì, trong đó nhiều người có vợ con sống trong trường hay ở quê làm ruộng. Hè và những ngày lễ, tết Nguyên đán được nghỉ, họ về quê thăm gia đình ở Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Yên Bái, Tuyên Quang... thuộc khu tự trị Việt Bắc, một số ít quê Hà Nam, Thái Bình, Nam Định. Thị xã nơi gia đình Thùy sống, đi chợ mới nhìn thấy người Tày, Nùng, nhưng ở trường Sư phạm Việt Bắc có rất nhiều người dân tộc thiểu số khác nhau từ các tỉnh miền núi về đây làm việc và học tập. Những ngày lễ hội, tết hay liên hoan văn nghệ, họ mặc trang phục truyền thống sắc màu dân tộc, hoa văn trên vạt áo, tay áo, quàng khăn thổ cẩm, những chiếc vòng bạc đeo ở cổ tay, vòng cổ, xà tích bạc và chiếc khăn Piêu của chị em dân tộc Thái đen trông thật đẹp, duyên dáng cùng với chiếc đàn then của người Tày, Nùng vang lên giai điệu trầm bổng đều đều như tiếng thì thầm của đôi trai gái giữa đêm khuya dưới gốc cọ, đồi chè của núi đồi miền trung du trùng trùng điệp điệp và tiếng khèn í lên ộ xuống như những con đường mòn vắt qua dốc núi cao, lởm chởm mỏm đá tai mèo, quê hương của các chàng trai dân tộc H’Mông vùng biên, vừa thổi vừa nhảy theo nhịp điệu khèn ngày lễ hội.

Ngoài hoạt động các đoàn thể công đoàn, thanh niên, phụ nữ, Thùy còn phải tham gia tập dân quân tự vệ như những người lính trên chiến trường. Cũng lăn, lê, bò toài, tập bắn súng, tập đi đều, đằng sau quay, nghiêm, nghỉ... theo điều lệnh của chỉ huy. Khoác khẩu súng trường trên vai, báng súng gần như chạm đất, nặng quá sức trong buổi tập quân sự theo tiếng hô của chỉ huy mà Thùy không dám kêu ca. Sau mỗi buổi tập, quần áo lấm lem, ướt đẫm mồ hôi Thùy nằm lăn ngay trên giường vì quá mệt, nhưng cũng thấy vui vui, nhớ đến những ngày xưa theo anh và lũ bạn chơi trò đánh trận giả. Súng là những cành cây khô, cái gậy, ấy thế cũng chạy, cũng bò, cũng hò hét xung phong và bắn ‘pằng pằng’ bằng mồm. Giờ đây, hàng tuần tập quân sự của đội dân quân tự vệ cơ quan, sẽ được bắn súng thật, đạn thật, Thùy đã thành dân quân tự vệ của nhà trường.

Đi lấy củi nộp nhà bếp, Thùy đúng là cô gái thị thành, cầm dao quắm, cái rìu không xong, lóng ngóng, khi chặt cành cây không chính xác, nham nhở như cóc gặm. Tân, Thái hai chàng trai người dân tộc, quen làm nương rẫy nên công việc chặt cây, bổ củi, vác gỗ đối với các anh thật nhẹ nhàng, nhanh gọn. Thùy chỉ nhặt cành cây khô xếp thành đống. Những cây khô to, Tân, Thái mang rìu chặt thành từng khúc, vác về. Có sự hỗ trợ của hai anh nên đám phụ nữ hàng tháng đạt chỉ tiêu nộp nhà bếp, bù lại công các anh, nhóm phụ nữ chịu trách nhiệm cơm nắm muối vừng và nước vối đem theo phục vụ cả tổ. Anh Tân, dân tộc Mèo, Tuyên Quang, nhân viên hành chính, có chiếc mũi hếch to tướng, hay pha trò, khi cười chiếc mũi đã hếch lại càng hếch lên, rất ngộ nghĩnh, không ai nhịn được cười.

Ngày ở nhà, bố giao cho ba anh em chiếc xe bò mượn hàng xóm đi vào rừng, xa gần mười cây số kiếm củi, từ hồi anh Chính mười sáu, Thùy mười ba và Hồng mười tuổi, cơm nắm muối vừng, ấm nước vối đem theo. Đi từ sáng đến tối mịt mới về, ba anh em cũng kiếm được gần xe bò, đủ cho mẹ đun một tháng. Tuy mệt rã rời, quá vất vả nhưng được bố mẹ khen cũng vui vui.

Sau một thời gian, Đoàn thanh niên giao cho Thùy phụ trách đội thiếu nhi, con cán bộ nhân viên nhà trường, lứa tuổi từ sáu đến mười hai. Thùy thích lắm, vui chơi với trẻ thoải mái coi như em, chúng vô tư, không khó hiểu như người lớn. Thùy lập bảng kế hoạch sinh hoạt vui chơi giải trí, dạy hát, dạy múa, họp nhóm, họp tổ, đôi khi còn giúp những em học chưa tốt làm bài tập của nhà trường. Các em quý và nghe lời Thùy, coi như chị cả. Từ khi thành lập, cha mẹ các em yên tâm làm việc, thành tích ấy chi đoàn đánh giá tốt, Thùy được nêu gương. Chính vì thế, tháng sau xe đi thị xã lấy sách, Thùy được về thăm gia đình. Không niềm vui gì bằng khi nghe tin ấy, Thùy chuẩn bị đi chợ huyện mua vài thứ về làm quà cho bố mẹ và các em. Nghĩ đến ngày được gặp bố mẹ, các em, Thùy tưởng tượng mọi người ngắm nghía Thùy, xem lớn chừng nào, chắc bố sẽ hỏi nhiều lắm, sống ra sao, công việc có phù hợp với sức khỏe không... Thùy sẽ khoe với bố, tham gia dân quân tự vệ, vào công đoàn, sắp được kết nạp đoàn viên thanh niên, được tin tưởng giao phụ trách thiếu nhi của trường. Bố vui vì Thùy mua được phong thuốc lào thơm ngon nhất, đưa tiền lương dành dụm tuy ít ỏi, chút trầu cau tươi biếu mẹ và túi kẹo bánh cho các em. Thùy tự hào lắm vì bây giờ đã đi làm, có lương, giúp phần nào cho gia đình, chắc chúng vui vì có chị đi làm, về chơi mua quà cho chúng.

Trong khi xử lý đống sách tồn trong kho, hàng tháng ba người vẫn phải luân phiên ra huyện mua và lấy thêm sách mới. Có tháng Thùy đi cùng Nga, có tháng không phải đi, làm việc trong thư viện. Minh nói phải kết hợp mọi việc tốt, thư viện mới sớm đi vào hoạt động. Số sách đã nhập vào sổ rõ ràng, phân chia theo bộ môn, nội dung sách. Thư viện Trung tâm bắt đầu chính thức hoạt động, quy định giờ mở cửa các ngày trong tuần, nội quy mượn và trả sách phục vụ cho sinh viên, cán bộ, nhân viên làm việc trong khu trung tâm. Cán bộ, giảng viên và sinh viên các khoa nơi khác đến chỉ được mượn sách, tạp chí hai ngày, thứ Tư và thứ Sáu trong tuần.

Sơ tán trong rừng, không có điều kiện đóng giá sách bằng gỗ như quy định. Lãnh đạo đồng ý cho sử dụng bương, tre, giang, nứa, những vật liệu trong rừng tạo thành những giá sách. Phòng mượn sách diện tích nhỏ hẹp, chứa khoảng sáu, bẩy giá sách. Tuy giá sách bằng bương, tre, giang, nứa, thật đơn sơ, giản dị, mộc mạc, thơm mùi tre nứa man mát dễ chịu, trông cũng thật đẹp. Công việc của Thùy, thủ thư cho mượn sách, theo đúng quy định thủ tục mượn và thu hồi sách. Giảng viên, sinh viên, cán bộ các khoa phòng mượn sách phải có giấy giới thiệu và chứng minh thư. Thời gian mượn hai tuần, hết hạn phải trả hoặc đến gia hạn, nếu mất, hỏng phải bồi thường theo từng mức độ. Thủ thư phải chấp hành nghiêm túc thủ tục quy định. Nghe cũng thấy kỳ kỳ, có người nghĩ đơn giản, một cuốn sách to tát gì mà quan trọng hóa đến thế. Trong hoàn cảnh hiện tại của nhà trường, mọi người phải có ý thức xây dựng, bảo vệ, vì vậy trong các cuộc họp công đoàn, thanh niên, nhà trường thường xuyên nhắc nhở ý thức bảo vệ tài sản của công.

Thùy nhỏ bé, ít tuổi đôi khi bị giáo viên, sinh viên trêu chọc, coi thường. Thùy biết vị trí, thân phận cố gắng cư xử với thái độ ôn hòa, thân thiện. Thùy nhớ mãi một chuyện xảy ra, hôm ấy đang sắp xếp số sách độc giả mới trả lên giá sách trong kho, một tiếng động mạnh từ bên ngoài khiến Thùy giật mình. Minh đi công tác, bé Lan ốm, Nga không đi làm, thư viện chỉ có một mình, Thùy cảm thấy lo lo, kém tự tin, hơn nữa xung quanh thư viện vắng vẻ, những cây cọ già cao to, cành lá xum xuê, mỗi khi có cơn gió thổi mạnh, cành lá cọ đập vào nhau tạo nên âm thanh rào rào, ầm ầm như tiếng thác nước  từ trên cao đổ xuống, Thùy cảm tưởng như nước sắp tràn vào kho, làm ướt sách. Có lúc gió thổi nhè nhẹ, vi vu như ru người ta vào giấc ngủ, không có tiếng người, tạo nên khung cảnh thật yên tĩnh kỳ lạ giữa ban ngày nơi đồi núi.

Đột nhiên có tiếng ‘bốp, bốp’ đập mạnh xuống bàn bên ngoài phòng, Thùy giật mình, vội bước nhanh ra xem. Một người đàn ông khoảng ba mươi tuổi, đứng sừng sững trước bàn viết của Thùy, tay lật giở từng trang trong quyển danh mục sách cho mượn. Nét mặt lạnh lùng, ông ta ngẩng lên nhìn Thùy, nhìn xung quanh không thấy ai, nói to, giọng trầm trầm:

-Cô là người làm việc ở đây à? Thùy cố lấy bình tĩnh, trả lời:

-Thưa chú! Vâng. Chú mượn sách hay cần gặp ai?

-Tôi muốn mượn ít tài liệu.

-Dạ, chú làm ơn cho cháu xem giấy giới thiệu? Mặt ông ta cau có:

-Phải có giấy giới thiệu mới được mượn? Tôi là cán bộ giảng dạy ở khoa Toán.

Thùy bình tĩnh:

-Chú làm ơn đọc kỹ tờ giấy dán bên kia về quy định thủ tục mượn sách, ngày giờ mở cửa. Chú là cán bộ phải có giấy giới thiệu chứng thực người của khoa.

-Vậy cậu Minh, cô Nga đâu?

-Dạ, anh Minh và chị Nga có việc ra ngoài rồi.

Ông ta đập mạnh quyển danh mục xuống bàn với vẻ mặt khó chịu.

-Vậy hôm khác tôi đến, chào cô.

-Dạ, chào chú.

Ông ta bước nhanh ra cửa, miệng lẩm bẩm, Thùy hú vía, như trút được gánh nặng. Mấy hôm sau, Thùy kể lại cho Nga, chị không nói gì, chỉ cười, cười như nắc nẻ, Thùy không hiểu sao lại cười. Sau này mới biết, ông ta lấy cớ mượn sách đến tán gẫu vì thích Nga. Trong khu trung tâm, rất ít cán bộ nhân viên các phòng ban mượn sách, Thùy nghĩ, tại sao nhỉ? Hình như họ không có thời gian đọc sách, tài liệu, vì cuộc sống quá khó khăn, thiếu thốn nơi sơ tán, hết giờ làm việc, vội vàng lo lắng việc riêng của gia đình. Những người có vợ con sống trong khu tập thể, gian nhà quá chật hẹp, nhất là gia đình đông con càng khó khăn hơn. Nếu chỉ một người đi làm, gánh nặng đè lên vai, họ cố gắng làm tròn trách nhiệm công việc được giao, sau đó lo chuyện gia đình. Những người có vợ con sống ở quê rảnh rỗi hơn, thỉnh thoảng đến thư viện mượn sách báo đọc giải khuây. Đa số người đến thư viện là sinh viên và giảng viên các khoa, nét mặt họ thường lạnh lùng, khinh khỉnh, tiết kiệm cả nụ cười. Thùy nghĩ, do hoàn cảnh chiến tranh, sách, tài liệu nghiên cứu thiếu thốn, không như những ngày hòa bình, họ sống học tập, làm việc tại Hà Nội nên thế chăng? Thùy không quan tâm thái độ của họ, mỗi người có nhiệm vụ riêng, miễn sao làm tốt công việc được giao. Tuy nhiên, trước ánh mắt khinh bạc, chạm vào lòng tự trọng, Thùy quyết tâm phấn đấu để một ngày nào đó được ngồi trên chiếc ghế giảng đường đại học, trở thành người trí thức như họ.

Tiếp xúc với sinh viên mượn sách, hoặc người đến giúp các thủ thư viện dưới khoa lên lấy sách về cơ sở, thường thường họ nhiều hơn Thùy vài tuổi, ai cũng vui tươi, ánh mắt tràn đầy niềm tin và ước mơ. Sau bốn năm đèn sách, họ sẽ là thày cô giáo của các trường phổ thông trung học trong khu tự trị Việt Bắc. Nghĩ đến, Thùy buồn lắm, chỉ vì thành phần gia đình Thùy buộc phải đánh mất ước mơ, chắc gì sức học của họ đã hơn. Thùy muốn biết cuộc sống của người sinh viên, học tập vất vả ra sao, niềm tin và hy vọng của họ là gì sau khi tốt nghiệp. Sinh viên thường mượn sách chuyên môn, số ít mượn sách văn học nghệ thuật. Sau một thời gian, quan hệ giữa Thùy và các sinh viên đồng cảm, thân mật hơn, đa số xuất thân tầng lớp lao động, dân nghèo, con em cán bộ đảng viên dân tộc ít người các ty ngành -thành phần cơ bản như theo cách gọi của chính quyền vô sản-, của các tỉnh trong khu tự trị, một số rất ít người Kinh, nhưng sinh sống lâu đời trong các thị xã, thị trấn của khu, đôi khi họ là học sinh kém ở các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nội.... không đủ điểm vào các trường đại học ở Hà Nội. Trước mặt Thùy, họ kiêu hãnh, dù sao cũng khoác chiếc áo sinh viên đại học, còn Thùy chỉ là nhân viên thư viện, thái độ ấy càng thúc đẩy quyết tâm một ngày nào đó Thùy cũng được khoác chiếc áo sinh viên như họ.

 

Chiều qua lúc ăn cơm, Lý và Hợi nói với Thùy:

-Ngày mai ba chị em mình đi kiếm thêm củi để đun nấu và sưởi, mùa đông sắp đến rồi em à.

-Vâng, hai chị bảo sao em nghe vậy.

Thùy chưa biết lo xa như các chị. Trên đường về, Minh đi theo mấy chị em, nói với Lý:

-Ngày mai mấy giờ đi kiếm củi, cho tôi đi cùng cho vui.

Hợi nhìn Minh cười, nói chen vào:

-Kiếm củi có gì vui đâu. Pao, Thái cũng lên tiếng:

-Mấy giờ ngày mai xuất phát? Chúng tôi đi cùng nhé.

Về đến phòng ngủ, không biết Lý nói gì với Hợi, hai người khúc khích cười mãi.

Thời tiết hôm nay như chiều lòng người. Sáng sớm lớp sương trắng mỏng tan nhanh, dự báo một ngày nắng đẹp, không u ám như hôm qua. Ba chị em quần áo gọn gàng, đeo túi dệt thổ cẩm mua ở chợ huyện, trong túi có lương thực đem đi ăn trưa, tay cầm dao, mấy anh thanh niên đã đứng chờ ở dưới chân đồi từ khi nào. Minh, trai Hà Nội, mệnh  danh thư sinh Thủ đô, vậy mà hôm nay cũng có mặt sớm.  Mọi người gật đầu chào nhau rồi rảo bước đi về phía rừng. Mấy chị bàn nhau, không cần tìm cây gỗ to nữa, tháng này đã nộp đủ cho nhà bếp, chỉ kiếm cành củi khô nhỏ không phải bổ, chặt vất vả, lại dễ đun nấu, vì không có Tân bầu không khí có phần trầm lắng, thiếu người pha trò như mấy lần trước.

Hợi cất tiếng hát khe khẽ. Chị quê Nam Định, y tá của trạm xá trung tâm, làm việc trước Thùy hai tháng, hơn Thùy vài tuổi, nước da nâu nâu, không biết có phải vì nắng gió đồng bằng sông Hồng nên chị có nước da ấy mà nhiều người nói thế, rất ít khi thấy chị cười, ít nói, nhưng hiền lành. Hợi hát chèo hay lắm, nhất là Chầu văn, bảo, ở quê tham gia đội văn nghệ xã. Vậy sao trước đông người, Hợi hay đỏ mặt xấu hổ không chịu hát? Ai cũng khen chị hát hay, nhưng không thấy anh nào để ý, gần gũi nói chuyện, Thùy thích đi cùng Hợi hơn. Lý hơn Thùy mười tuổi, Thùy cảm thấy chị hơi khó tính, không cởi mở, khó gần, hay vì là y sỹ trạm xá trưởng?

Không hiểu sao, Thùy đi hướng nào, Minh cũng đi theo, sao không đi cùng Pao, Lý? Thùy muốn nói chuyện riêng với Hợi nhưng Minh cứ bám theo sau. Thùy không thích, nhưng có phải chỉ vì Hợi vui và hát khe khẽ suốt buổi nên anh ta đi theo? Gần trưa, mỗi người cũng kiếm được một bó to kềnh. Thùy và Hợi đang loay hoay tìm dây rừng buộc thành hai gánh củi cho dễ đem về, Pao trông thấy chạy đến giúp, Minh gạt tay, nói:

-Cậu yên tâm, để tôi buộc giúp hai cô này. Cậu đến đằng kia giúp bà Lý.

Pao cười:

-Đúng rồi, mọi người nhanh tay về nghỉ sớm. Tối nay còn sinh hoạt chi đoàn.

Nghĩ đến tối nay phải họp thanh niên, Thùy thấy sao sao ấy, nhưng phải đi. Lại phải ngồi lắng nghe bí thư chi đoàn nói dài dằng dặc về chủ trương, chính sách, đường lối kế hoạch lặp đi lặp lại, nghe phát chán, nhìn sang bên cạnh, mấy anh chị đoàn viên đều ngủ gật. Thùy đang miên man nghĩ lung tung thì có người cầm bàn tay Thùy. Giật mình, Thùy rút nhanh tay, ngửng nhìn, hóa ra Minh, Thùy không hiểu. Minh làm như vô tình, không biết gì, nhưng mặt anh đỏ ửng. Ông này điên hay dở hơi mà cầm tay người ta giữa ban ngày ban mặt? Mai kia mình lại bị ghép cho cái tội thiếu đứng đắn, quan hệ với người đàn ông có vợ, rồi lại nhắc đến thành phần gia đình, Thùy không thích, không vui.

Từ sau ngày đi lấy củi, Thùy bắt đầu cảm giác là lạ, không được tự nhiên như mọi khi đến làm việc, nhất là phải đối diện với tổ trưởng Minh. Phải chú ý tránh xa, nhưng thật khó khăn khi phải làm việc dưới quyền anh ta. Vừa tập trung làm việc, vừa cố gắng sao không bị chê trách. Tâm trí căng thẳng, không biết tâm sự cùng ai. Thùy tìm niềm vui để quên đi khi sinh hoạt cùng các em thiếu niên, dạy các em hát, múa. Những lúc bên các em, Thùy mới được cười vui vẻ, thoải mái, không nghĩ gì đến thư viện nữa. Có lúc Thùy muốn nói chuyện với Hợi mong góp ý. Nhưng từ sau ngày đi lấy củi, Hợi hay nhắc đến Minh, khen tốt bụng, ga lăng. Thùy nghĩ, im lặng là tốt nhất, giữ kín trong lòng không tâm sự với ai về việc Minh đã cầm tay. Thùy càng bức xúc, khó chịu, căng thẳng, tìm cách tránh mặt, Minh lại luôn tìm cách đến gần.

-Cô Thùy kiểm tra lại tài liệu này xem có nhầm lẫn gì không?

Minh nói với giọng khó chịu. Thùy đang chăm chú tìm xem sai sót, cảm thấy sau lưng mình nong nóng, quay lại, Minh đứng sát ngay sau lưng, Thùy từ từ kéo ghế ra xa. Mặt nóng bừng, run run, không biết nên làm thế nào bây giờ, nghĩ thầm: “Chị Nga ơi, cứu em…” Minh vẫn đứng đó, cúi người xuống sát đầu, nhanh trí Thùy nói:

-Em xin lỗi, cho phép em đi vệ sinh.

Minh lùi lại, rồi đi vào phía bên trong kho sách. Hôm nay, Thùy mong sao cho nhanh hết giờ làm việc.

Ngày hôm sau, vừa bước chân vào cửa, chưa kịp treo túi, Minh nói:

-Cô Thùy, hôm nay cô có nhiệm vụ sắp xếp lại số sách trên giá cho đúng vị trí.

-Vâng, em làm ngay bây giờ.

Tổ trưởng Minh tìm mọi cách tiếp cận, không cho Thùy ngồi yên. Khi bảo kiểm tra số sách, đi mua, đi nhận sách mới, hình như anh ta cố tình bới việc, xoay Thùy như chong chóng, nhưng không hề động đến Nga. Nga nghĩ đơn giản, cho đó là cách hướng dẫn, tập cho Thùy quen công việc. Nhưng thực ra chỉ có hai người biết và tự hiểu. Mấy ngày trước, Minh đưa cuốn truyện mới, nói Thùy phải đọc trước để giới thiệu với độc giả. Tối về phòng, trước khi ngủ, Thùy tranh thủ nhìn lướt qua. Một tờ giấy từ trong sách rơi ra. “Em Thùy…” lá thư ghi tên mình. Hai trang giấy viết tương đối dài, nhìn nhanh cuối thư ký tên “Anh Minh, mong chờ tin của em...”

Nhìn vội ra ngoài cửa như sợ có ai ngó vào, Thùy từ từ đọc xem thư viết những gì? Đây là lần thứ hai nhận được thư nam giới. Lần trước, cậu bạn học cùng lớp viết thư ngỏ ý có cảm tình đặc biệt, bố bắt được mắng, cấm không cho đi học cùng nhau nữa. Bố nói “Đang tuổi đi học, phải tập trung học cho giỏi, không được quan hệ vớ vẩn.” Lần này ở đây, đã đi làm, được tự do, sao lại thấy run sợ, Thùy ước gì có bố ở bên. Đêm ấy Thùy nghĩ lung tung, ngày mai sẽ thế nào khi giáp mặt với Minh? Nhưng bắt buộc vẫn phải đến thư viện làm việc, Thùy ngủ thiếp đi trong lo lắng, sợ hãi.

Không biết Minh nghĩ gì, sáng khi gặp, anh gật đầu chào như không có chuyện gì xảy ra, nói với Thùy:

-Cô Thùy chuẩn bị ngày mai cùng tôi theo xe ô tô của trường về thị xã mua sách. Sau đó cô được ghé thăm nhà hai tiếng, chiều tối ta trở về trường.

Tin vui này thật bất ngờ khiến Thùy quên chuyện lá thư. Mấy tuần trước Thùy đã mua chuẩn bị quà cho gia đình. Nga vui lắm khi thấy Thùy sung sướng.

Hơn nửa năm Thùy chưa được gặp cha mẹ và các em, bị cuốn hút vào công việc, cùng bao nhiêu thay đổi, Thùy quen dần với cuộc sống mới. Nỗi nhớ được giấu kín, không còn vẻ mặt ướt át trẻ con như những ngày mới vào làm.

Chiếc xe tải Giải Phóng cũ kỹ của trường hôm nay chú Phước lái, anh Tuyên phụ xe, Thùy được ưu tiên ngồi trên ca-bin cạnh tài xế. Phước người miền Nam, khoảng gần bốn mươi tuổi, mười lăm năm trong nghề, tính tình vui vẻ, hay nói, kể chuyện vui suốt đọc đường. Quãng đường 50 km không thấy dài như ngày chú Sinh đạp xe đèo Thùy đưa lên trường nhận việc. Đường nhiều ổ gà, mấp mô, xe xóc, người ngồi trong nghiêng ngả theo xe, có lúc chồm lên, giật xuống như bị tra tấn. Minh ngồi thùng xe phía sau chắc bị tung lên tung xuống vì nghe tiếng kêu oai oái. Xe đi qua hai con suối, nước không sâu lắm, nhưng toàn sỏi, đá gập ghềnh, Thùy nghĩ thầm “xuống đi bộ lội qua suối thoải mái hơn ngồi trên xe.”

Con đường đất hẹp xuyên qua nhiều cánh rừng, tiếng cành cây xòe ra hai bên đường quẹt mạnh vào thùng xe nghe rờn rợn. Đêm qua mưa to, đường đất nhiều đoạn lún sụt thành hố sâu, lầy lội, đất sét bám đầy lốp xe, gặp ổ trâu, một bánh xe trước tụt xuống, nhiều lần Phước rú ga, bánh xe quay tít không qua được hố sâu. Xe bị chết máy, tất cả phải xuống đẩy xe, Tuyên dùng tay quay ma- ni-ven (manivene) quay nhiều lần mới nổ máy. Mỗi lần Phước rú ga, mọi người đồng thanh kêu to: “Cố lên, cố lên nào…” Sau nhiều lần cố sức, chiếc xe tải cũng vượt qua được hố bùn. Ai cũng thở phào, chân tay lấm lem, nhưng mừng ra mặt, lên xe. Phước cười nói:

-Mong sao hôm nay trời nắng đẹp cả ngày, đường sẽ khô nhanh, tối về sẽ không bị khổ như thế này nữa. Từ bây giờ, sắp rẽ vào đường quốc lộ, bằng phẳng hơn, mọi người yên tâm.

Thùy lên tiếng:

-Chú ơi, mình cố gắng về sớm. Cháu sợ đi đêm như thế này nguy hiểm lắm.

-Yên tâm đi, nhóc con.

Thùy không vui khi Phước gọi nhóc con, từ đó im lặng không nói gì nữa.

Đã hết đọan đường rừng, xe chạy sang đường quốc lộ rải nhựa, hai bên những cánh đồng lúa xanh ngát bắt đầu trổ bông. Xa xa thấp thoáng những đồi chè trải dài trông mướt mắt. Mặt trời bắt đầu lên cao, báo hiệu một ngày nắng đẹp, Thùy ngắm nhìn ruộng lúa nhấp nhô, bồng bềnh lên xuống như những đợt sóng uốn mình theo chiều gió. Không khí thật dễ chịu, thoáng mát hơn ở thị xã. Chắc giờ này bố đi làm, các em đi học, mẹ đang làm gì nhỉ? Nghĩ đến chiều nay được ghé thăm nhà, cảm giác lâng lâng khó tả ập đến, Thùy sung sướng. Em Hồng viết thư kể cho Thùy mấy tháng trước, cả nhà cũng đi sơ tán. Bà con trong phố phải thực hiện lệnh của UBHC, nhưng không thể kéo dài được. Sơ tán ở nhờ nhà họ hàng hay người quen thân gặp rất nhiều khó khăn cảnh ăn nhờ ở đậu, sinh hoạt thiếu thốn, đi chưa được hai tuần mọi người lũ lượt trở về. Lần này, UBHC yêu cầu các gia đình phải đào hầm trú ẩn theo quy định, người dân tiếp tục sống và làm việc, nhưng trong tư thế sẵn sàng khi có còi báo động của ban phòng không tỉnh và thị xã. Mọi người đã thích nghi với hoàn cảnh thời chiến, công ty của bố không đi sơ tán. Thùy tự hỏi, các bạn cùng phố có đứa nào đỗ đại học, trung cấp hay chuyển đi đâu không? Nhớ các bạn, nhưng giờ đã đi làm, thành người lớn rồi, Thùy nghĩ lan man tự nhiên tủm tỉm cười một mình.

Xe vào thị xã, qua phố Đầu Cầu, bon bon qua ngã tư, lướt qua dẫy cây bàng quen thuộc trước cửa nhà Thùy, nhưng xe vẫn chạy đến cửa hàng sách trung tâm. Thị xã giờ đây vắng vẻ, yên tĩnh, ít người đi lại, hai bên đường rất nhiều hầm trú ẩn cá nhân và tập thể ngụy trang rất khéo, cảnh tượng của chiến tranh hiện rõ trước mắt Thùy. Cửa hàng sách gần chợ, xe đến nơi mới gần 10 giờ sáng, phiên chợ vắng vẻ, vài gánh rau tươi, dăm bà bán tôm cá, quầy thịt chỉ còn hai. Một cảm giác buồn ập đến, khi Thùy nghĩ đến những phiên chợ đông vui tấp nập, ồn ào ngày xưa.

Minh và Thùy xuống xe vào cửa hàng sách đúng giờ hẹn. Phước và Tuyên lái xe đi lấy hàng nơi khác, hẹn chiều quay lại đón. Minh trao đổi với cửa hàng trưởng, Thùy đi từ từ ngắm hiệu sách, khoảng mười lăm phút sau Minh gọi vào trong kho. Ở nhà, Thùy đã lên danh sách, số lượng cần bổ xung. Hai người cùng kiểm tra chéo, tránh không để sai sót dù nhỏ. Vì mỗi đợt đi thị xã rất khó khăn, phải viết giấy báo cáo, trình bầy lý do thật cần thiết. Ban lãnh đạo nhà trường xét duyệt, đồng thời chờ kết hợp lấy một số hàng khác. Điều động một chuyến xe chờ đợi rất lâu mới được giải quyết, vì thế trước khi đi Minh nhắc Thùy phải thật cẩn thận.

Khoảng 2 giờ chiều, công việc mua, giao, ký nhận sách xong, Minh đồng ý cho về thăm nhà hai tiếng, Thùy háo hức kiểm tra túi quà đem về cho gia đình. Từ cửa hàng sách cách nhà khoảng một cây số, quá phấn khởi và hồi hộp, Thùy đi thật nhanh gần như chạy cho kịp thời gian. Đầu tiên ghé vào công ty của bố, từ bên ngoài Thùy đã nhận ra bố đang đo áo cho khách. Bố Thùy là thợ cả, giàu kinh nghiệm, có thâm niêm tay nghề lâu năm, công việc chính tiếp khách hàng, đo cắt quần áo sau đó giao cho thợ may. Ngoài nhận may đo, công ty còn trưng bày các loại vải, giá tiền đồng thời giới thiệu, gợi ý khách hàng mua và may loại hàng như thế nào phù hợp sở thích. Phía bên trong xưởng có hơn chục thợ may đang bận làm việc, Thùy bước nhanh, rồi đứng sừng sững trước cửa, mọi người ngạc nhiên ngẩng đầu lên nhìn. Thùy nhớ mãi lúc bố trông thấy, ông ngừng tay, mắt mở to chăm chăm nhìn rồi nói:

-Ôi, con gái tôi…vào... vào đây con …

Mọi người đang làm đều đứng lên chạy ùa đến vây quanh, tranh nhau hỏi, ai cũng vui mừng khen, chững chạc hơn khi còn ở nhà. Trong hoàn cảnh chiến tranh đánh phá ác liệt, chuyện hợp tan, còn mất, vui buồn có thể xảy ra với các gia đình bất cứ lúc nào. Gặp nhau, dịp may hiếm có, ông cảm động quá không nói được gì, chỉ ngắm nhìn con gái đang được mọi người tíu tít hỏi không kịp trả lời. Lúc sau, mọi người trở vào tiếp tục làm việc, Thùy đến trước mặt đưa gói quà một lạng thuốc lào Tiên Lãng sợi vàng óng, cảm động ông cầm tay Thùy, giọng run run:

-Con sống ở trên đó có ổn không? Ăn không được hay sao mà gầy thế. Lần sau về không phải tiết kiệm tiền mua quà cho bố nữa. Không có bố mẹ, con phải nhớ chú ý giữ gìn sức khỏe…

Thấy mắt bố ươn ướt, Thùy không biết đáp lời thế nào, gật đầu, khẽ thưa:

-Vâng, bố.

Tiếng đồng hồ quả lắc của cửa hàng đánh chuông vang to “Boong... boong...”, ngước lên nhìn kim đồng hồ chỉ 2.30 phút. Thời gian không còn nhiều, sao nhanh thế vậy nhỉ? Thùy xin phép bố và chào các cô chú về thăm mẹ và các em. Thùy bước nhanh ra cửa, cảm giác vừa vui vừa buồn lẫn lộn ập đến, qua phố Trưng Vương, giờ không còn nhiều quầy bán hàng bầy trước cửa, chỉ còn lác đác vài quầy dọc phố, đi dưới hàng cây nhãn trước kia Thùy và các bạn thường chơi đùa, trèo hái trộm khi mùa nhãn chín rộ. Kia rồi, cuối dẫy bàng cành lá xum xuê, xòe to phủ bóng mát dọc phố là mái nhà thân thương của gia đình, còn mươi bước nữa, Thùy đi như chạy. Cánh cửa vẫn mở như ngày xưa, nhìn vào mẹ và các em đang ngồi quanh mâm cơm. Thùy kêu to:

-Mẹ ơi, các em ơi !…

Hai đứa em nhỏ nhìn thấy chạy nhanh ra ôm lấy Thùy. Mẹ Thùy cười, vui lắm, mắng yêu hai em rồi giục Thùy đi rửa tay ngồi xuống ăn cơm. Bây giờ Thùy mới thấy đói, từ 6 giờ sáng chưa có tí gì vào bụng. Lâu lắm, nay mới được ngồi bên mâm cơm cùng mẹ và các em. Trên mâm một đĩa rau khoai lang luộc chấm tương, bát nước rau lang đánh dấm cà chua, đĩa cà chua xào trứng (món sang trọng nhất trên mâm), một đĩa to đựng bánh bao bột mỳ không có nhân. Từ khi có chiến tranh, lương thực rất thiếu, vì thế tiêu chuẩn gạo phân phối không đủ, nhà nước bán bột mỳ hay ngô thay gạo là tình hình chung của cả nước. Để bữa ăn đỡ ngán, thị xã có cơ sở chế biến bột mỳ thành mỳ sợi, hoặc bánh mỳ bán cho nhân dân. Mẹ Thùy khéo tay làm bánh bao, nhìn vừa đẹp và dễ ăn hơn hẳn nắm mỳ luộc ở bếp nhà trường. Mấy cô cấp dưỡng của trường không chịu cải tiến, thay đổi cách nấu, thiếu tận tình làm việc, cốt làm cho xong, mong hết giờ. Bánh bao mẹ làm không nhân thịt, không trộn đường hay mật nhưng ăn rất ngon. Cuộc sống khó khăn, gian khổ đã rèn cho con người có sức chịu đựng như vậy. Mâm cơm thời chiến đơn giản nếu không muốn nói quá nghèo khổ, tuy vậy gia đình Thùy còn khá hơn nhiều gia đình khác, bánh bao không nhân cũng không đủ. Vừa ăn, vừa nhìn các em thấy chúng lớn hơn, khác nhiều, Thùy cảm thấy nghèn nghẹn trong cổ họng, thương các em, chúng không kêu ca, đòi hỏi gì. Thùy bảo các em:

-Các em ngoan, ăn xong chị có quà thưởng. Quay sang mẹ, Thùy nói với vẻ tự hào:

-Con được lĩnh lương rồi mẹ ạ, từ nay con sẽ giúp đỡ bố mẹ nuôi các em. Nhìn các em vậy con thương bố mẹ và các em nhiều lắm.

Mẹ nhìn Thùy với ánh mắt âu yếm hiếm khi thấy. Ăn xong, Thùy gọi các em đến bên mẹ, đưa gói kẹo vừng cho mẹ chia đều cho các em, hai ki lô gạo nếp mua ở chợ huyện, loại nếp nương ngon ngày nay người ta gọi đặc sản, cùng mấy chục đồng tiền lương để dành đem về. Mấy đứa em tranh nhau hỏi:

-Chỗ chị làm có nhiều người không? Rừng có thú dữ không? Chị ngủ một mình có sợ ma không? Thư viện chị làm có nhiều sách cho trẻ con không? Họ có bắt nạt chị không?

Đang vui thì đứt dây đàn, chợt có tiếng còi xe ô tô bên ngoài tuýt...tuýt… xe nhà trường đến đón, đã hết giờ thăm rồi. Thùy không muốn xa mẹ và các em, nhưng bắt buộc phải trở về, bịn rịn chia tay nhau. Tiếng Minh từ bên ngoài gọi vọng vào:

-Nhanh lên cô Thùy ơi …

Cậu em út khóc đòi đi theo, mẹ vừa lau nước mắt vừa giục Thùy nhanh chân ra xe đừng để mọi người phải đợi. Vậy là hết hai tiếng được ghé thăm bố mẹ và các em. Tất cả trôi quá nhanh như một giấc mơ đẹp, nhưng ngắn ngủi. Suốt đọc đường về, Thùy trầm ngâm không nói, chìm trong suy nghĩ, đến nỗi Phước hỏi chuyện thăm nhà cũng không nghe thấy.

Từ sau ngày về ghé thăm gia đình, Thùy ít nói, ít cười hơn, Nga nhận thấy có gì khiến Thùy thay đổi. Minh nói với Nga:

-Cô Thùy nhớ nhà nên vậy thôi.

Thời gian thăm nhà quá ít, nhưng đã lưu lại trong Thùy bao điều suy nghĩ. Hình ảnh các em trong bữa ăn trưa đạm bạc, càng nghĩ càng thương nhớ các em, ám ảnh tâm trí. Thùy đã quên chuyện lá thư, thầm cảm ơn Minh đã cho ghé thăm nhà, nhưng khiến Thùy bất an, lo lắng. Hàng ngày giáp mặt, làm việc cùng phòng, tuy hết sức cố gắng không làm phật ý, nhưng Minh bắt đầu sai bảo Thùy những việc linh tinh, giọng nói thường gắt gỏng, không vui vẻ, hay vặn vẹo: “Sao cô làm thế này? Sao cô không tập trung làm? Buồn ngủ hay sao?” thái độ Minh đã đưa Thùy trở về nỗi ám ảnh ngày nhận được thư.

Hôm nay, thứ hai ngày đầu tuần, hết giờ làm, trên đường đến nhà ăn tập thể như thường lệ, Thùy gặp Nhiên, cô bạn gái lớn hơn Thùy một tuổi, văn thư trong khoa Sử. Biết nhau mấy tháng nay, Nhiên quê Yên Bái, gia đình nghèo không thế tiếp tục đi học, có người quen giới thiệu đến trường xin việc làm phụ giúp cha mẹ và em trai mười tuổi đang đi học. Được nhận vào làm việc ở đây không dễ chút nào, nhưng Nhiên người Tày, được nhận ngay, do chính sách ưu tiên con em người dân tộc, tính tình vui vẻ, thân thiện dễ gần. Ngay từ ngày đầu tiếp xúc Thùy và Nhiên trở nên đôi bạn thân thiết, mến nhau. Gặp Nhiên, Thùy vui lắm, rủ đi cùng ăn trưa, vừa đi vừa chuyện trò tíu tít như đôi chim.

Bước chân vào trong nhà ăn, mọi người gật đầu chào nhau, mấy thanh niên tò mò nhìn theo bước đi cô bạn mới, có nước da trắng hồng của người vùng cao, rất ưa nhìn. Thấy Thùy và cô bạn mới, cô Nhàn cấp dưỡng cười trêu:

-A, cháu gái tôi có khách, lần sau nhớ báo cơm trước nhé. Hôm nay ưu tiên cho hai cháu đấy.

Thùy và Nhiên nhanh nhảu đáp:

-Dạ, chúng cháu cảm ơn cô nhiều, nếu không đủ cơm chia cho mọi người, chúng cháu ăn chung một xuất cũng được.

Tiếng ai đó nói chen vào:

-Chị Nhàn ơi, lấy xuất cơm của tôi chia cho hai bạn kia nhé.

Mọi người cười ồ, không khí trong phòng ăn nhộn nhịp hẳn lên. Minh ngồi ở góc cuối bàn, nhưng không cười, không nói, im lặng.

Ăn xong đi về thư viện, hôm nay Nhiên đến nhận tài liệu và sách đem về thư viện khoa Sử. Minh không có mặt, hai đứa nói chuyện thoải mái. Chị Nga giao tài liệu và sách cho Nhiên ký nhận, Nhiên vào trong kho giúp Thùy xếp lại sách, hai đứa thì thầm to nhỏ với nhau.

Thùy kể cho bạn nghe lá thư của Minh, chuyện cầm tay hôm đi lấy củi, Nhiên cười khúc khích, Thùy không hiểu sao bạn cười.

-Cậu ngạc nhiên và thấy lạ phải không?

-Tớ cũng nhận được thư của Minh gửi tháng trước. Thùy tròn mắt nhìn, Nhiên bình thản nói tiếp:

-Cũng kẹp trong một cuốn sách đưa riêng cho tớ, buồn cười vì những lời trong thư gửi hai đứa mình giống hệt nhau. Lần sau mình ra trung tâm, đem cho cậu xem chắc sẽ cười vỡ bụng. À, cậu có nhớ Trâm không? Chị nhân viên đánh máy khoa Văn người thâm thấp ấy?

-Có, Trâm hai má lúm đồng tiền chứ gì?

-Ừ, Trâm cũng nhận được thư lão Minh gửi, cũng viết “anh viết thư cho em trong khi những hạt mưa đang rơi lộp bộp trên những tàu lá sắn”, thư của tớ lão ta viết mưa rơi lộp bộp trên tàu lá chuối, còn của cậu mưa rơi lộp bộp trên tàu lá cọ...”

Thùy bật cười:

-Tay này hâm hâm chắc?

-Chập dây thì chắc rồi. Thùy thắc mắc hỏi ngay:

-Vậy sau khi nhận thư, Nhiên thấy thế nào? Có trả lời không? Có sợ không?

-Không sợ, trả lời hay không là quyền tớ, nhưng với Thùy khác đấy, làm việc cùng bộ phận, lại dưới quyền, hàng ngày giáp mặt nhau, kể cũng khó.

Đứng lặng yên giữa dòng suối trong vắt, mát rượi, tay cầm mấy con trai vừa nhặt lên, Thùy chăm chú nhìn chiếc lá đang từ từ trôi theo dòng nước lặng lẽ, lấp lánh dưới ánh nắng trưa cuối hè. Xa xa, những cây cọ bình thản đứng vững vàng qua bao mùa mưa nắng. Hình như chúng đang cười với Thùy? Tàu lá xòe rộng, sáng bóng dưới ánh mặt trời, rung rinh theo gió như vẫy gọi, gợi nhớ tới mấy câu của Minh viết trong thư gửi cho Thùy: “Đêm nay ngoài trời mưa rơi lộp bộp trên tàu lá cọ…”. Lúc này đây không mưa, nhưng có nắng, không có chút cảm tình với Minh nên không biết viết trả lời thế nào, Thùy đã im lặng, lảng tránh, trong cùng thư viện ngày ngày chạm mặt thật bực bội, khó xử vô cùng, nhất là từ khi Minh bắt gặp Thùy và Nhiên đang thì thầm chợt im bặt khi nhìn thấy Minh bước vào, cộng với thái độ của Thùy thời gian qua khiến Minh thêm nghi ngờ.

Nhớ lại cách đây hai tháng, như bao nhiêu ngày,

Thùy đang nói chuyện với cô Nhàn cấp dưỡng, sau bữa cơm trưa. Hai cô cháu vui vẻ cười nói như mọi khi, Minh đi ngang qua không chào cô Nhàn, nhìn Thùy nét mặt hầm hầm nói:

-Cô Thùy, tôi có chuyện muốn gặp cô ngay bây giờ.

Nói rồi Minh bước đi thẳng. Vội chào Nhàn, Thùy rảo bước theo sau Minh, đi được mươi mét, đến đoạn đường rẽ về thư viện, Minh đứng lại đối mặt Thùy, nói nhanh:

-Phòng tổ chức quyết định điều chuyển cô vào làm việc trong khoa Văn.

Không tin ở tai mình, Thùy ngạc nhiên hỏi lại:

-Sao gấp thế anh Minh? Lý do vì sao em có thể biết được không? Đã có giấy quyết định chưa?

-Nếu cô không tin lên phòng tổ chức sẽ biết.

Minh biến sắc mặt không trả lời. Thùy sững người, trống ngực đập thình thình, muốn hỏi thêm, nhưng Minh đã vội vàng đi nhanh về phía thư viện. Thùy chạy nhanh lên quả đồi phía bên trái, hướng phòng tổ chức. Trong đầu ngổn ngang bao câu hỏi, thắc mắc, vậy mà khi gặp ở nhà ăn mấy ông còn nói cười vui vẻ, không nói gì với Thùy.

Cho đến hôm nay, Thùy đã sống và làm việc trong khoa Văn được hai tháng. Đột ngột di chuyển vào khoa Văn làm việc, Thùy không kịp chuẩn bị. Mấy chị em trong khu tập thể ai cũng thấy bất ngờ. Lý buồn nhưng im lặng, Hợi tối hôm đó sang ngủ với Thùy. Suốt đêm không ai ngủ, thì thầm tâm sự, thỉnh thoảng nghe tiếng nấc, tiếng sụt sịt. Thùy xoay người bên phải, bên trái, mắt nhìn lên trần nhà, thấy rõ con thạch thùng tắc lưỡi ‘tiếc quá, tiếc quá’. Thời gian qua, có các chị quý mến, giúp đỡ, nay phải xa đến một nơi khác lạ, Thùy sẽ nhớ các chị nhiều lắm.

Nghe tin Thùy chuyển vào khoa Văn, Nga sững sờ nhìn Thùy ái ngại:

-Có điều gì đó tôi thấy nghi nghi, không hiểu … Thùy nghe Nga nói nhưng không để tâm. Tin việc chuyển vào khoa Văn có lý do chính đáng, Thùy vui vẻ ra đi không mảy may nghi ngờ. Cơ sở mới chưa có phòng riêng cho nhân viên nữ, lãnh đạo khoa cũng bất ngờ, chưa chuẩn bị kịp. Tuy nhiên họ rất vui vẻ đón nhận cô nhân viên mới từ trung tâm chuyển vào, sắp xếp cho Thùy đến ở nhờ gia đình người địa phương gần khoa Văn.

Chị Khương góa chồng bẩy năm nay, mẹ chồng gần sáu mươi và con gái tên Tý, khoảng tám hay chín tuổi. Ba người phụ nữ, ba thế hệ sống nương tựa bên nhau trong căn nhà sàn dân tộc Tày.

Từ khi trong nhà có thêm người, Tý vui vẻ, hay nói cười hơn trước. Mỗi khi cười lộ rõ núm đồng tiền xinh xinh hai bên má trông rất đáng yêu. Buổi tối bốn người phụ nữ ngồi quây quần bên bếp lửa giữa nhà. Bà mẹ già bỏm bẻm nhai trầu im lặng suốt buổi, thỉnh thoảng cũng thấy Khương ăn trầu. Đi làm từ sáng sớm đến mặt trời lặn, hai sương một nắng phơi lưng ngoài nương rẫy, vất vả nuôi mẹ chồng và con gái, Khương có nước da màu nâu, nét mặt nghiêm nghị ít nói. Thời gian đầu Thùy cũng e ngại tiếp xúc. Vốn sinh ra trong gia đình nề nếp, chị của ba em nhỏ, Thùy nhanh chóng hòa nhập với mọi người trong gia đình ngay từ tuần đầu. Đi đâu Tý cũng đi theo, Thùy dạy thêm cho Tý học, đùa vui, cười thân mật. Khương yên tâm đi làm, hỏi chuyện Thùy và cười nhiều hơn. Khương mới ba mươi, cuộc sống vất vả đã cướp đi tuổi thanh xuân, sau khi về làm dâu. Cưới xong hai tuần, chồng nhập ngũ, xa nhà ròng rã bao năm. Một lần được về phép trước khi đi B, vào Nam chiến đấu, bé Tý ra đời là kết quả của lần duy nhất đó.

Đi làm về sớm, Thùy tranh thủ giặt quần áo, thấy có bộ quần áo bẩn của Tý để góc nhà Thùy giặt luôn. Khương từ ngoài cổng đi làm nương về, trên vai vác cày, tay dắt con trâu theo sau, ống quần xắn bên thấp bên cao, cười hỏi:

-Cô đi làm về rồi à? Để quần áo cái Tý đấy cho tôi, không phải giặt đâu cô.

Khương cười, hai hàm răng đen đều đặn như hạt na. Chắc hồi trước Khương cũng là một trong những cô gái xinh nhất làng, Thùy nghĩ thầm.

-Không sao đâu, nhân tiện em giặt luôn cho Tý cũng nhanh, ở nhà em vẫn thường giặt quần áo cho các em, chị rửa chân tay rồi ăn cơm, bà nấu xong rồi.

Thùy biết mẹ chồng Khương đã chuẩn bị xong cơm tối, chờ con dâu đi làm về. Tối nay cũng như nhiều tối khác, cả nhà ngồi quanh bên bếp lửa, nhưng hôm nay thấy có mấy ống giang dựng đứng cạnh bếp, Thùy thấy lạ hỏi:

-Bà và chị Khương ơi! Mấy khúc giang này để làm gì đấy?

Bà mẹ ngước mắt nhìn sang con dâu, Khương chưa kịp trả lời, Tý đã nhanh nhảu đáp:

-Chị Thùy ơi, bà và mẹ em bảo tối nay cho chị ăn thử cơm lam đấy. Hôm qua mẹ em vừa giã xong mấy cân gạo nếp nương, ngon lắm chị ạ.

Thùy ngả đầu vào vai bà cảm động, nhìn Khương nói:

-Cháu chưa được ăn cơm lam bao giờ. Lần đầu tiên được nghe tên món ăn này, cháu cảm ơn bà, cảm ơn chị Khương và bé Tý nữa.

Tý chăm chăm nhìn vào mấy khúc giang cạnh bếp, luôn miệng hỏi:

-Được chưa mẹ?

-Chín chưa mẹ? Sao lâu thế?

-Cho con hai khúc, cho chị Thùy hai khúc mẹ nhé?

Mong chờ mãi cơm lam cũng phải chín. Khương cẩn thận gắp từng khúc ống giang ra xa bếp, dùng dao khẽ tách ống ra làm hai, một đoạn cơm được bọc trong lớp màng xốp màu trắng mềm mỏng rơi ra khỏi ống giang. Khương lấy khăn lót tay cầm khúc cơm lam vừa chín mời mẹ chồng ăn. Tý ngồi bật dậy hỏi:

-Phần của con đâu mẹ?

-Từ từ ai cũng có phần.

Khương lần lượt lấy từng khúc cơm lam đưa cho Thùy, Tý, nhìn Thùy khẽ hỏi:

-Cô Thùy ăn thử, xem khác với cơm nếp không?

Lần đầu tiên Thùy được ăn món đặc biệt, khác lạ này. Nếu còn ở nhà khi nào mới biết thế nào là cơm lam, rồi chợt nghĩ đến bố, mẹ và các em chưa bao giờ được ăn, đang nghĩ miên man giật mình khi nghe Khương hỏi.

-Dạ, thơm ngon lắm.

Khi vừa đưa lên miệng, một mùi hương thơm nhẹ khác lạ thoảng qua từ những hạt gạo trắng, tròn tròn ngâm trong nước suối chảy từ trên nguồn. Hạt gạo chín, nở quện chặt lấy nhau, ngoan ngoãn cuộn tròn trong lớp màng xốp mỏng màu trắng của ống giang, tạo thành thanh cơm lam tròn dài mềm mại, thơm ngát hấp dẫn. Phải chăng được kết lại từ sự mộc mạc, tinh khiết của hương rừng, sương núi mà thiên nhiên ban tặng cho những bàn tay lao động cần cù. Thùy đón nhận hương vị đặc biệt thắm đượm trong cơm và thầm biết ơn núi rừng, biết ơn những người con của núi rừng. Mọi người vừa ăn vừa chuyện trò vui vẻ, một buổi tối ấm cúng đậm tình gia đình, đây là kỷ niệm Thùy không bao giờ quên.

Bên ngoài gió lạnh thổi ào ào, luồn qua khe liếp rít lên từng đợt, thỉnh thoảng con tắc kè tắc lưỡi ‘tắc kè, tắc kè...’ trên góc mái nhà càng thêm buồn, lạnh lẽo. Khương nhắc Thùy:

-Cô Thùy nhớ lấy quần áo hơ lên trên lửa cho ấm, giết những con bọ gà, con rệp không khi ngủ chúng cắn. Đêm nay rét đấy, tôi đã lót thêm ít lá chuối khô dưới chiếu cho cô rồi.

Thùy đáp:

-Vâng ạ.

Bà và Tý đã ngủ từ lâu. Một đêm nữa xa nhà, đêm đầu mùa đông giá rét ở nhà người lạ, nhưng cảm nhận được tình thương ấm áp của mọi người trong gia đình. Thùy thấy gắn bó, gần gũi và làm sao quên được lần đầu bị ốm khi mới chuyển đến. Chuyển vào vùng này, xa trung tâm hơn chục cây số, đúng ngày có đợt gió bấc đầu mùa tràn về. Tối hôm đó, Thùy đau mỏi toàn thân, thấy lành lạnh, thỉnh thoảng rùng mình, húng hắng ho, đắp chăn vẫn thấy rét. Sáng không thấy Thùy đi làm, Khương gọi không trả lời nên vào đánh thức, nhìn thấy mặt Thùy đỏ bừng, sờ trán nóng hầm hập, Khương gọi mẹ chồng:

-Cô Thùy chắc bị cúm rồi mẹ, con nấu bánh đúc trừ ma cho cô ấy.

Lúc sau Thùy thấy một đĩa bánh đặt trên bàn thờ, thắp ba nén hương cắm lên trên, hai chén nước, Khương hai tay chắp lại, đầu cúi xuống thành kính, miệng lẩm bẩm khấn:

Tôi lạy ông Cúm bà Co Ông ở xứ Nghệ, ông bò tới đây Khôn thiêng có mâm cỗ này Ông ăn cho sạch, ông rày tha tôi.

Khi ba nén nhang đã tàn, Khương vái tạ, cầm chén nước dội xuống đất, lấy đĩa bánh đúc đưa cho Thùy, nói:

-Cô Thùy chịu khó ăn hết, ngủ một giấc, rồi bệnh sẽ hết.

Khương khuyên Thùy không đi làm, sai Tý vào trong khoa Văn báo với người phụ trách. Không biết đĩa bánh đúc, câu thần chú đó có linh nghiệm hay không, hay chỉ bị cảm lạnh, sau khi ăn xong ngủ một giấc dài, Thùy hết sốt, hôm sau đi làm.

Đang quen dần với gia đình Khương, lãnh đạo khoa lại chuyển Thùy sang ở với gia đình chị Lưu, nhân viên cấp dưỡng khoa Văn. Một lần nữa chia tay bịn rịn, Tý khóc không muốn chị Thùy chuyển đi nơi khác.

-Chị hứa sẽ thỉnh thoảng đến thăm bà và mẹ con Tý. Khoác túi quần áo lên vai, Thùy từ từ rời bàn tay bé nhỏ của Tý, chào bà và Khương vừa đi vừa quay đầu lại vẫy tay từ biệt.

                                                                                            *

Gian nhà lá của mẹ con Lưu rộng khoảng hai mươi mét vuông, bên phải bốn tấm gỗ ghép lại kê trên đôi niễng thành hình chiếc giường đôi cho Lưu và bé Nga, sát bên, hai tấm gỗ ghép lại thành chiếc giường một nhỏ gọn dành cho Thùy. Góc bên trái gian nhà chỗ nấu ăn, -gọi là bếp- có chum to chứa nước, hai chậu sắt tráng men, mấy cái nồi gang to nhỏ, vài viên gạch xếp lại thành ông đồ rau đun nấu, bên ngoài dăm bó củi khô xếp gọn. Thùy nghĩ thầm “đây là nơi ở mới, không biết mình còn phải chuyển đi nơi nào nữa không?”

Từ nhà Lưu đến phòng làm việc khoảng hai mươi phút, qua một quả đồi, gần hơn khi ở nhà Khương. Mặt trời vừa lắp ló sau dãy núi phía xa, Lưu chuẩn bị đi làm, chắc ở nhà bếp nhận giao thực phẩm mới. Thùy lấy chiếc túi vải bước nhanh ra cổng, nghĩ đến đống sách nằm bất động lâu nay trong phòng văn thư, tranh thủ đến sớm bắt tay vào kế hoạch.

Sương sớm dầy đặc phủ kín như dải lụa trắng vắt ngang dẫy núi trước mặt, Thùy bước nhanh theo con đường mòn nhỏ hướng về phía quả đồi chìm trong màn sương như mây mù, ẩm ướt, lành lạnh. Sương lửng lơ trước mặt, nhìn không rõ lối đi, không sờ được nhưng như có gì đó đang đè nặng trên đầu, Thùy cảm thấy nghẹt thở. Gấu và ống quần bắt đầu thấm ướt vì lớp sương đọng trên thảm cỏ hai bên đường mòn, Thùy rùng mình thấy lạnh, co người lại trong chiếc áo khoác mỏng, tiếp tục bước. Đi hết quả đồi, ông mặt trời tươi cười chào đón chiếu ánh nắng dọi vào hai má còn ướt đầm sương, Thùy lấy tay xoa xoa gạt sương trên mí mắt, vuốt hai má cho ấm, rảo bước tiến về nơi làm việc.

Khoa Văn, một trong ba khoa của trường sơ tán phía nam của xã, một bản trong rừng sâu thiếu thốn mọi thứ, cơ sở vật chất quá đơn giản đến mức tối thiểu, thư viện chung với phòng tạp vụ. Thiếu người, nhân viên kiêm luôn mấy công việc. Phòng, ban phân tán nhỏ cách xa nhau, vì thế Trâm, nhân viên đánh máy chữ kiêm văn thư, tạp vụ, công việc quá bận không có thời gian giải quyết đống sách trong khoa. Biết nhau từ khi Thùy làm ngoài trung tâm, hai người rất vui khi được làm việc gần nhau. Trâm nói rõ tình hình khó khăn, cùng nhau tìm hướng giải quyết, sẽ không bị khiển trách về đống sách ùn đọng. Thùy đến sớm sắp xếp đống sách, phân loại, vào sổ. Tất cả làm lại từ đầu, trình tự như ở trung tâm được Minh, Nga hướng dẫn. Sau hai tuần, sách, tài liệu, báo tạp chí được sắp xếp trên ba giá sách. Thùy có một nơi làm việc gọn gàng xinh xắn, sau mấy tuần thu dọn, thư viện đi vào hoạt động. Lãnh đạo khoa, giảng viên, sinh viên phấn khởi, mọi người bắt đầu mượn, trả sách thường xuyên. Ngoài trung tâm không cử người vào kiểm tra hay giúp đỡ, tổ trưởng Minh không đến lần nào, Thùy không còn nghĩ sẽ trở về làm việc ngoài trung tâm. Công việc ở đây Thùy thấy vui, có ý nghĩa, giúp ích cho mọi người, hai đứa sẽ tranh thủ sang khoa Sử thăm Nhiên. Hôm qua Lưu đã nói trước, Chủ nhật này đi bắt con trai ở suối, Thùy mong đợi ngày đó.

Không biết con suối bắt nguồn từ đâu, Thùy đứng nhìn dòng suối lặng lẽ chảy. Xung quanh những cây cọ cao to, tán lá xòe rộng màu xanh biếc, mọc sát nhau tạo nên bóng mát rộng lớn. Ánh nắng mặt trời xuyên qua kẽ lá lấp lánh, khung cảnh thoáng mát, đẹp thêm khi có suối uốn lượn trong khu rừng. Con suối rộng hơn một mét rưỡi, nước trong vắt có thể nhìn rõ những viên sỏi đá nằm dưới đáy. Nước chảy qua một phiến đá to trồi hẳn lên nghe rõ tiếng róc rách, hoà cùng tiếng gió luồn qua khóm trúc bên cạnh. Cây cọ nghiêng mình soi bóng xuống dòng nước làm duyên. Mấy chú cá con bơi lượn, lác đác vài bụi cây dây leo quấn vào nhau, len lỏi trong bụi hoa mua màu tím nhạt. Khi nhìn thấy rất nhiều con trai đang nằm yên dưới lòng suối Thùy mừng quá gọi Lưu đến nhanh, xắn cao ống quần bước xuống, nước ngang bắp chân. Lưu đi bắt vài lần có kinh nghiệm, nói với Thùy:

- Chúng nằm la liệt dưới suối, không phải vội em ạ, không cần cúi nhặt sẽ mỏi lưng, ướt ống tay áo. Em dùng chân quắp chúng dễ dàng hơn.

Nghe thì lạ, nhưng nhìn Lưu vừa nói vừa dùng ngón chân bắt trai, trông gọn nhẹ như đang đứng chơi. Các chú trai ngẩng đầu kiêu hãnh bị mấy ngón chân Lưu quắp chặt từng con, từng con đưa lên dễ dàng. Thùy làm theo cười thích thú khi chân Thùy cũng bắt đầu quặp được chúng. Những con trai nằm dọc theo suối, có chỗ túm tụm lại tha hồ bắt. Chưa được một tiếng, hai chị em nhặt gần đầy hai rổ.

Lưu người vùng biển Hải Hậu, Nam Định, kể chuyện ngày còn ở nhà ra bãi bồi cào cát từ sáng sớm, bằng chiếc cào tre gắn móc sắt, suốt ngày mới được rổ nghêu, sò. Công việc vất vả lại tùy thuộc vào thủy triều, không ngờ lên rừng lại có nhiều con trai sống ở suối như thế này. Lưu nói với Thùy:

- Mình nhặt thêm một lúc nữa rồi về, chiều nay chị em mình có món canh ngon. Mấy lần trước không có nhiều như hôm nay, mình về sớm em nhé.

Lần đầu tiên đi bắt con trai, lội suối mát trong rừng, trải nghiệm thực tế vừa thích vừa có ý nghĩa hơn các trò chơi đùa nghịch với các bạn khi còn ở nhà với gia đình. Thùy nghĩ sẽ viết thư kể cho bố mẹ và các em biết. Lần sau Thùy sẽ rủ Trâm đi cùng, không biết Trâm đi bắt lần nào chưa nhỉ. Tiếng Lưu gọi đi về, nấn ná ngâm chân trong dòng suối mát lạnh, Thùy như luyến tiếc chưa muốn ra về.

Sáng hôm sau đi làm, định sẽ khoe với Trâm việc bắt được nhiều con trai, nhưng mãi không thấy Trâm đến. Trâm bị ốm, trưa đi ăn cơm nghe mấy người nói. Hết giờ làm, Thùy không về nhà Lưu, đến nhà thăm Trâm xem tình hình thế nào. Trâm ở cùng với Huệ phòng giáo vụ, Huệ đi công tác vắng. Đến nơi thấy có mấy người phụ nữ ở đó. Người ngồi ở ghế, người ngồi cạnh giường Trâm.

Nét mặt ai cũng rối bời, lo lắng, Thùy đến gần giường, Trâm lên cơn sốt, run cầm cập trong chăn. Thỉnh thoảng lên cơn co giật, hai hàm răng đập vào nhau, mồ hôi đầm đìa. Hai người phụ nữ ôm ghì chặt Trâm nhưng vẫn không bớt cơn co giật. Khoảng mười lăm phút sau hết cơn, Trâm mệt rã rời, mặt mày xanh xám trên giường. Một bà khoảng bốn mươi tuổi nói:

-Theo tôi, vào trong làng tìm thầy lang bốc thuốc lá cây cho cô ấy uống.

Một chị mặc bộ quần áo chàm, nói:

-Bệnh sốt rét, co giật thế này bắt con giun đất, đốt thành than, hòa với nước uống sẽ khỏi!

Người bảo uống thuốc tây, gọi y sĩ trạm xá, mỗi người mỗi ý, không biết nghe ai. Thùy hỏi một người ngồi cạnh:

-Trâm bị lâu chưa chị?

-Ngày hôm qua cô Trâm kêu mệt mỏi không muốn ăn, khát nước, nằm ngủ ly bì. Sau đó lên cơn sốt kêu rét nhưng người nóng đổ mồ hôi, giật từng cơn.

Thùy chưa thấy người ốm như thế bao giờ, lúng túng không biết nói gì, nhìn ra cửa thấy trưởng phòng hành chính và chị Lý, y sỹ của trường bước vào. Lý đến gần giường Trâm, đo nhiệt độ, lấy ống nghe khám cho Trâm, nói:

-Yêu cầu mọi người yên lặng cho bệnh nhân được yên tĩnh. Tôi quyết định chuyển bệnh nhân ra trạm xá

ngoài trung tâm nằm điều trị. Mọi người chuẩn bị đòn, võng khiêng bệnh nhân giúp chúng tôi.

Thùy nói với y sĩ Lý và xin phép trưởng phòng cho đi theo Trâm chăm sóc, giúp đỡ. Mọi người nhanh chóng kiếm võng, đòn khiêng, cử bốn thanh niên khỏe mạnh thay nhau khiêng cáng.

Con đường từ khoa Văn ra trung tâm trường mười hai cây số. Ngày trước thấy gần, hôm nay đi mãi vẫn chưa đến. Tiếng rên của Trâm trong võng mỗi lúc nhiều hơn. Hai thanh niên khiêng hai đầu đòn bước nhịp nhàng, cẩn thận, mồ hôi nhễ nhại, đi được vài cây số hai người khác thay phiên khênh. Con đường nhỏ chạy ngoằn ngoèo qua mấy quả đồi, xuyên qua đường rừng hai hàng cây rậm rạp, mọi người bảo nhau cẩn thận chú ý quan sát xung quanh. Thùy không thấy mệt, đi bên cạnh võng lo lắng mỗi khi nghe tiếng rên của bạn, võng rung lên khi Trâm lên cơn co giật, vất vả cho đoàn người khiêng cáng. Thùy lo lắng cho Trâm vô cùng, cầu mong không bị bệnh gì nguy hiểm. Thùy chỉ có hai người bạn gái gần gũi, thân thiết, tuổi còn trẻ, cả ba đều xa nhà, xa gia đình.

Nhớ mãi trưa hôm đó, ba đứa ngồi bên nhau, tay cầm thư. Người nọ đọc cho người kia nghe, rồi cùng nhau phá lên cười. Nhiên cười khúc khích:

-Không biết ông Minh nghĩ thế nào mà sao chép thành ba lá thư gần như giống nhau, gửi cho tụi mình ở trong cùng cơ quan. Ông này dở hơi, cám để trên vung, buồn cười nhỉ.

Hôm đó ba đứa được một trận cười đau cả bụng. Bây giờ Trâm nằm trong trạm xá hơn một ngày, y sỹ Lý thăm khám cho thuốc điều trị, cơn sốt đã giảm, hết cơn co giật, nhưng rất mệt. Thùy nấu cháo thịt lợn băm bón từng thìa cho Trâm, động viên an ủi sẽ khỏi nhanh thôi. Nhiên nghe tin ra trung tâm thăm. Thùy và Nhiên gặp nhau nhìn Trâm ái ngại, cố giấu vẻ lo lắng. Mới hai ngày mà Trâm đã gầy, da xanh, trông khác hẳn.

Nga nghe mọi người bàn tán về bệnh sốt rét, sơ tán sống trong rừng, khi có người mắc bệnh sốt rét khiến ai cũng lo lắng, muốn tìm hiểu. Nga nghe Thùy hiện đang ở trạm xá, hỏi Minh gặp Thùy chưa và gợi ý cùng nhau đi gặp. Minh lúng túng, ấp úng trả lời:

-Chị đi trước, tôi ngại sợ bị lây bệnh.

Nga đi một mình. Nghe thấy tiếng Nga hỏi thăm bên ngoài, Thùy vui mừng chạy nhanh ra kêu to:

-Chị Nga ơi! Sao biết em ở đây?

Nga cười vui khi nhìn thấy Thùy và Nhiên. Ba người cùng đi vào trong phòng thăm Trâm. Tuy mới gặp Trâm hai lần, nhưng Nga đã có cảm tình với Trâm và Nhiên, với ba cô gái trẻ tuổi hồn nhiên này. Trâm vừa ăn xong bát cháo thịt và uống thuốc, đang ngồi tựa lưng vào thành giường. Nét mặt Trâm mừng rỡ thấy Nga đến thăm, giọng xúc động nói:

-Ôi, chị Nga, em phải nằm đây buồn quá chị ơi. Em nhớ nhà và lo bệnh nữa.

-Hôm nay chị mới biết tin đến thăm em. Em sẽ hết bệnh, yên tâm em ạ. Các bạn luôn ở bên em, chịu khó ăn, uống thuốc đầy đủ sẽ nhanh được trở về khoa làm việc. À này, chị rủ anh Minh cùng đi thăm Trâm, nhưng Minh nói sợ bị lây nên từ chối.

-Thùy và Nhiên cười khúc khích, Trâm đang mệt cũng bật cười. Nga ngạc nhiên, nhìn ba người thắc mắc. Nhiên ghé vào tai Nga nói:

-Chắc ông Minh xấu hổ không dám gặp mặt tụi em rồi.

Nga nói to:

-Tại sao lại xấu hổ?

Nhiên nhanh miệng trả lời:

-Chị không biết chuyện ông Minh viết ba lá thư cho ba đứa chúng em. Ba thư rất giống nhau chị ơi! Ông ấy tán cả ba đứa chúng em bằng nội dung một lá thư.

Nga tròn đôi mắt ngạc nhiên, lúc sau nói nhỏ:

-Bây giờ chị hiểu rồi. Khi có quyết định đột ngột chuyển Thùy vào làm khoa Văn, chị có linh cảm cái gì đó không bình thường. À ra thế, tức không được ăn thì đạp đổ, tìm cách đẩy Thùy đi cho bõ ghét đây mà.

Bốn chị em nói chuyện vui vẻ, lúc sau Nga từ biệt mọi người vì đến giờ đi làm. Thùy nói với hai bạn muốn tranh thủ đến thăm vài gia đình cô chú và các em thiếu nhi nhân tiện ra trung tâm. Nhiên ở lại với Trâm, chiều Nhiên phải trở về khoa Sử làm việc.

Bệnh của Trâm giảm nhiều, chị Lý nói ngày mai sẽ cho xuất viện, Trâm mừng hiện rõ ra nét mặt. Trâm hết sốt, tỉnh táo, ăn ngủ trở lại bình thường. Sáng mai Thùy và Trâm trở về khoa Văn.

-----

Sau ngày đi thăm Trâm, gặp Thùy và Nhiên ở trạm xá, biết rõ chuyện về Minh và ba lá thư cho ba cô gái. Nga suy nghĩ nhiều, có điều gì đó không an tâm, bây giờ chỉ còn Nga làm việc với Minh ở thư viện. Minh viết thư tỏ tình với ba cô gái trong khi đã có vợ con, vi phạm đạo đức người đoàn viên thanh niên.

Mấy hôm nay, Nga suy nghĩ lung lắm, im lặng hay nói với cấp trên? Nói cho ai, với ai, họ có tin không? Bức xúc mấy ngày liền, Nga tìm Mai tâm sự, hàng xóm và cũng trong ban lãnh đạo nhà trường, đồng thời là phụ nữ chắc sẽ hiểu và cho ý kiến:

Chị Mai, em định im lặng, nhưng em rất bức xúc, áy náy và lo ngại.

Mai nhẹ nhàng hỏi:

Có điều gì nói ra sẽ thấy dễ chịu hơn em ạ.

Chị biết Minh tổ trường phòng thư viện nơi em làm việc.

Chị biết, nhưng làm sao? Có việc gì à? Nga bình tĩnh nói:

Vừa qua Minh đề nghị chuyển cô Thùy vào khoa Văn làm việc là có vấn đề cá nhân, theo em nghĩ. Tình hình đang bình thường, đột xuất Minh đưa ra lý do thư viện khoa Văn cần người có kinh nghiệm vào giúp đỡ. Minh tốt nghiệp trung cấp thư viện, lại là tổ trưởng trong khi đó cô Thùy mới được vào biên chế, Minh phải có kinh nghiệm hơn, tại sao lại cử cô Thùy đi? Không một ai biết vì lý do gì.

Mai bắt đầu chú ý lắng nghe.

Cô Thùy vào làm trong khoa Văn đã hơn sáu tháng, Minh không hề quan tâm, không vào kiểm tra, giúp đỡ. Tổ trưởng cử nhân viên vào xây dựng, cùng cố cơ sở sao lại vô tâm như vậy được? Chị thấy em nghĩ có đúng không?

Nga tiếp tục giải thích:

Một vấn đề nữa cũng tương đối tế nhị chị ạ. Minh đã có gia đình, vậy lại viết thư tỏ tình với ba cô gái, Thùy, Trâm và Nhiên ở khoa Sử. Hôm em đi thăm Trâm nằm ở trạm xá mới rõ sự thể.

Mai thắc mắc hỏi:

Thái độ ba cô thế nào? Nga nói thêm:

Ba cô nhận được ba lá thư gần giống nhau từ lời văn, cách viết như sao chép. Nhưng ba cô không ai trả lời, tìm cách lảng tránh không tiếp xúc với Minh. Cô Thùy, nhân viên dưới quyền của Minh nên khó cư xử. Không đạt được ý muốn cá nhân, Minh đã tìm cách đẩy Thùy đi thật xa cho bõ ghét. Hiện nay chỉ có em và Minh làm việc cùng phòng, em cũng cảm thấy lo ngại chị ạ.

Tâm sự và câu chuyện Nga kể khiến Mai suy nghĩ. Là đảng ủy viên, trưởng phòng tổ chức, hành chính, kiêm phó thư ký công đoàn đại diện cho tiếng nói của chị em phụ nữ và nhân viên, Mai quyết định đưa việc này ra Đảng ủy và ban lãnh đạo nhà trường xem xét, xử lý.

Đêm hôm qua Thùy ngủ ngon quá. Mặt trời lên cao, ánh nắng xuyên vào giữa nhà, Thùy vẫn say sưa trong giấc điệp. Hôm nay Chủ nhật được nghỉ nên bộ não đã cho phép Thùy được tự do phá lệ.

Tiếng chị Lưu bên ngoài cửa:

Cô Thùy ơi! Hôm nay nắng đẹp chị em mình đi lấy măng là may mắn em ơi. Mau dậy nhanh lên rừng thôi.

Thùy giật mình tỉnh giấc. Mấy ngày ở trạm xá chăm sóc, lo lắng Trâm nên ngủ không được. Về nhà nằm trên chiếc giường của mình, mọi lo lắng đã qua Thùy thấy thật thoải mái.

Em dậy ngay đây, chị ơi.

Thùy bước nhanh đi rửa mặt, đánh răng, mong mãi được đi lấy măng nên nhanh chóng sẵn sàng đi cùng Lưu.

Hai người rời nhà lúc 7 giờ sáng. Lưu dậy nấu cơm từ sớm cho bé Nga ăn, rồi gửi hàng xóm trông giúp. Vợ chồng Tân - Lê cũng đi, lần trước đi cùng Lưu, còn Thùy lần đầu tiên.

Bốn người vừa đi vừa nói chuyện, Thùy hăng hái đi trước.

Chị ơi, đông người đi vui chị nhỉ. Lưu đáp:

Đúng rồi, vui và còn giúp nhau em ạ. Trên đường vào rừng đôi khi gặp bất trắc, để anh Tân đi trước.

Nghe nói vậy, Thùy không hiểu. Lê giải thích:

Nếu đang đi bất thình lình rắn trong bụi bên đường bò ra, em có sợ không?

Thế à, chắc em chết ngất. Anh Tân nhắc mọi người:

Đêm qua mưa, cây cối ẩm ướt sẽ có nhiều vắt đấy, mọi người chú ý cẩn thận.

Lại có con vắt nữa, có to không anh Tân?

Vừa hỏi xong, thấy Tân lấy bàn tay phải túm nhanh vào vành tai, giật mạnh ra đưa cho Thùy xem, một con

vật nhỏ màu đen xẫm, khoảng đốt ngón tay ngọ ngậy cái đầu trong ngón tay Tân. Nó bám rất chặt, kéo mạnh mới giật nó ra được, vành tai Tân rơm rớm máu. Thấy vậy, Thùy bắt đầu run sợ, lùi lại phía sau.

Sau hơn một tiếng đồng hồ, bốn người đến khu rừng có nhiều cây mai, cây giang, nứa, bương mọc thành từng bụi. Phải đi từ từ, tìm kỹ mới nhìn thấy một, hai cái chồi non nhú lên trên mặt đất bằng gang tay. Sau mưa chúng mọc lên nhiều nhưng còn nhỏ, thấp, nhìn kỹ mới thấy. Dụng cụ Thùy đem theo con dao nhọn, to bản và dầy. Riêng Tân có chiếc thuổng xinh xinh của bộ đội, ngắn chắc chắn. Trông thấy ngọn măng chồi lên, Tân dùng thuổng bới, đào đất xung quanh một vùng rộng, củ măng lộ ra được đoạn dài anh dùng thuổng chém ngang, lấy tay bẻ gẫy.

Lưu, Lê nói Thùy phải chú ý, khi thấy chồi măng nhớ ngẩng lên nhìn trên đầu, tránh cành gai và lá cây bên trên có thể vắt bám nhiều. Thùy tìm kiếm, ngó nhìn các khóm cây, thấy ngọn măng gọi Tân, Lưu, Lê đến. Có ngọn mập, mọc cao một chút Thùy cũng hăm hở đào, bới làm theo các anh chị.

Măng mai tuy mập, to, nhưng mới nhô lên khỏi mặt đất một đoạn ngắn rất khó lấy. Vì thế tay phải khỏe, như Tân có chiếc thuổng chắc chắn mới đào được sâu, rộng xung quanh. Mầm mai rất chắc, cắm sâu rộng trong đất, măng mai cùi dày, nhiều thịt, giòn và rất ngọt. Ngoài măng giang, măng bương, măng tre, măng nứa cũng ngon, giòn, mỗi thứ có hương vị khác nhau.

Gần trưa, ai cũng được một gùi đeo sau lưng, Tân được nhiều nhất. Lưu, Lê, Tân gọi Thùy nghỉ tay ăn cơm. Lưu lấy gói cơm nắm cùng muối vừng trong túi dết, Lê nói:

Hai cô sang đây ăn cùng với anh chị, có món thịt hộp Việt Minh ngon lắm.

Thùy không tin vào tai, hỏi lại:

Chị Lê ơi! Thịt hộp Việt Minh anh chị mua ở đâu thế?

Tân cười:

Dân Việt Bắc không biết món thịt hộp Việt Minh thật lạc hậu quá xá đấy.

Lưu và Thùy đến chỗ Tân và Lê rồi cười gượng, nói:

Chúng em không biết thật, cho tụi em ăn thử nhé.

Lê lấy ống bương mở nắp cho Lưu và Thùy xem. Lưu kêu to:

Giời ạ! Thịt ba chỉ băm nhỏ, rang mặn với muối ớt, anh chị giới thiệu nghe như món đặc sản đóng hộp không bằng.

Lê cười:

Đóng bằng hộp bương, không bằng hộp sắt tây. Tân nói:

Hai cô có biết sao lại có tên thịt hộp Việt Minh

không?

Tụi em không biết, anh kể đi. Vừa ăn Tân chậm rãi kể:

Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, cán bộ đi công tác đường xa, đề phòng thiếu thực phẩm, trước khi đi mua thịt ba chỉ, thái nhỏ rang khô với muối ớt đựng trong ống bương, đến bữa nếu có măng hay rau kiếm được trên rừng, lấy một ít thịt bỏ vào nấu thành món canh, bữa cơm có canh thịt và thịt rang mặn, sang quá còn gì nữa. Sau này nhiều người còn sáng chế nhiều món ăn tên nghe rất lạ ‘Gà rang chó khóc’ ‘Sườn Việt Minh’. Vậy thế nào là Gà rang, Sườn rang chó khóc?

Tân nuốt xong miếng cơm, cười:

Chó nuôi chỉ được chủ cho ăn xương, làm gì được ăn thịt, ấy thế trong chiến khu khi giết gà hay mua sườn lợn người ta băm thật nhỏ không chừa một tí xương nào, rang mặn với muối ớt ăn dần. Chó chỉ chờ có xương, bây giờ đến xương chủ cũng xơi tất. Chó không khóc thì cười à?

Nghe Tân kể, Lưu, Thùy mồm chữ O mắt chữ A, Thùy hỏi:

Sao anh biết nhiều chuyện thâm cung bí sử thế? Lê cười:

Các cô không nghe người ta gọi anh ấy là ông ‘biết tuốt’ là gì.

Tân cười:

Thôi, đừng có khéo nịnh nhé, chốc nữa lại bắt anh mang vác hết! Khôn vừa thôi, để dành người khác một tí chứ.

Bốn người vừa ăn vừa nói chuyện vui vẻ. Lát sau Tân nói:

Chúng ta chuẩn bị về cho sớm, chiều trong rừng tối nhanh lắm, trên đường về mình vẫn kiếm thêm.

Thùy đào được năm củ măng giang, một củ măng mai và dăm măng nứa, vui lắm. Nghĩ đến Trâm vừa ốm dậy, không rủ đi cùng được, thật tiếc quá.

Sau mấy ngày ốm nằm trạm xá, Trâm trở về khoa Văn, ở tuổi trẻ ‘bẻ gẫy sừng trâu’, sức khỏe hồi phục nhanh chóng, Trâm đi làm bình thường. Hai cô bạn làm chung trong phòng hành chính tình cảm thêm gắn bó, Trâm không cảm thấy lẻ loi như trước, vì trong phòng mọi người đều có gia đình. Nay có Thùy, khi công việc đánh máy, giấy tờ chuyển đưa cho cán bộ làm xong, Trâm chạy sang bộ phận thư viện vì thích đọc sách, xem truyện từ ngày đi học phổ thông. Nhà Trâm đơn chiếc, một mẹ một con không có điều kiện học tiếp. Hết lớp 7, Trâm xin học lớp văn thư đánh máy ba tháng. Tốt nghiệp, rất may xin được làm ở khoa Văn, công việc tạp vụ, linh tinh ngoài việc đánh máy, nhưng Trâm không nản, chăm chỉ, có tinh thần trách nhiệm, được cán bộ và anh chị em trong khoa quý mến. Sách trong thư viện nhiều, hấp dẫn, lôi cuốn, có thời gian rảnh

Trâm chạy sang thư viện với Thùy.

Hai người ríu rít bên nhau, tâm sự chuyện gia đình, suy nghĩ thầm kín, thân nhau như chị em ruột. Thùy hướng dẫn Trâm một số việc trong thư viện. Thùy quản lý thư viện có trách nhiệm, gắn bó với công việc, cũng được cán bộ nhân viên trong khoa Văn tin cậy. Thư viện hoạt động nề nếp, sôi động, Thùy quên hết chuyện cũ, không có ý nghĩ trở về trung tâm làm việc nữa. Hai người bàn nhau mấy ngày tới sang khoa Sử thăm Nhiên.

Biết việc làm sai trái của Minh sau khi Nga tố cáo, Mai quyết định đưa ra cuộc họp Đảng ủy và lãnh đạo nhà trường. Tập thể nhất trí nhận xét, đây là hành động vi phạm đạo đức của người cán bộ đoàn, đoàn viên thanh niên, viết thư tán tỉnh yêu đương với các cô gái chưa chồng trong khi đã có vợ con, không đạt yêu cầu, lạm dụng quyền hạn phụ trách, xử lý sai trái với nhân viên dưới quyền. Đảng ủy, Ban giám đốc và Ban chấp hành đoàn nhà trường quyết định khai trừ Minh ra khỏi đoàn, cảnh cáo toàn trường. Câu chuyện lan ra, mọi người trong trung tâm biết chuyện ba lá thư, đi đâu, gặp ai Minh cũng bắt gặp ánh mắt khinh bi, lời xì xầm to nhỏ, liếc nhìn.

Quá xấu hổ, Minh viết đơn xin thôi việc, với lý do, vợ gần ngày sinh nở muốn chăm sóc vợ con, nhà trường chấp thuận, Minh về Hà nội.

Thùy ơi! Đang làm gì đấy? Có người đến mượn sách

này.

Thùy đang thu dọn, sắp xếp sách, tài liệu, như cơn gió lốc, Trâm chạy ùa vào vừa nói, suýt va phải anh thanh niên khoảng ba mươi tuổi, Trâm sững người, lắp bắp:

Em... em xin lỗi anh. Người thanh niên mỉm cười:

Không sao, chắc cô đang vội, tôi cũng đến mượn sách.

Hai người cùng bước vào trong thư viện. Nghe tiếng gọi biết ngay cô bạn Trâm. Thùy ở trong buồng, bên các giá sách, bước nhanh ra vừa đúng lúc Trâm và người thanh niên đi vào. Nhận ra độc giả quen, Thùy chào:

Dạ, em chào thầy... ạ. Em chào anh Nam.

Chào Thùy, anh đến trả sách và mượn cuốn khác.

Trâm cầm cuốn truyện xem, nhưng tai vẫn lắng nghe đối thoại của hai người.

Vậy anh tìm đi, nếu không thấy ghi tên, số sách, em ghi nhận tìm cho anh sau, bây giờ em vào sổ sách anh trả hôm nay trước.

----

Ngày Chủ nhật nghỉ, ai cũng có việc riêng, mẹ con Lưu đi thăm bạn, Thùy rủ Trâm sang khoa Sử thăm Nhiên. Hai người đi qua một khu rừng cọ như bao rừng cọ khác nằm trong vùng trường sơ tán. Vừa đi vừa nói chuyện, ngắm nhìn, Thùy nhận ra điểm khác với mấy

nơi Thùy đã đến. Ở đây có nhiều cây cọ to, già cỗi, cành lá rụng hoặc bị chặt để lại những đoạn cành khô bọc xung quanh thân cây, Thùy chỉ tay nói với Trâm:

Trâm ơi, nhìn các gốc vỏ khô bọc xung quanh cây cọ, Trâm có nghĩ gì không?

Mình không nghĩ gì cả. Sao, Thùy nhìn thấy gì à?

Thùy tiến đến một gốc cây, chỉ vào những vỏ khô nói:

Theo mình, vỏ khô này cũng làm củi đốt được, sao mình cứ phải đi tìm đâu xa.

Ừ nhỉ, tuần tới tụi mình đi chặt những vỏ cây khô này Thùy nhé. Lại còn những chùm quả cọ tím đen kia nữa. Có ăn được không nhỉ?

Thùy nhớ ngày ở nhà Khương, có lần Khương bảo,  người dân lấy quả cây cọ về ăn. Quả cọ trông giống quả trám đen, tuy ăn không ngon, không bùi, nhưng có thể làm thức ăn, Thùy sẽ lấy ăn thử.

Qua hết đồi cọ trước mặt hiện ra một bãi sim rất nhiều sim chín, hai người mừng quá. Thùy chợt nhớ lại ngày còn học lớp 7, lớp 8, mải hái sim với bạn đi học muộn, không cần hỏi thày cô cũng biết lý do, vì hai bên mép màu tím của sim viền quanh miệng. Vừa hái sim vừa ăn Thùy, Trâm không quên hái thêm cho Nhiên.

Nhiên sống trong dẫy nhà tập thể nữ khoa Sử, mọi người đi chơi hết, xung quanh vắng vẻ. Ba cô bạn có dịp

tự do thoải mái cười đùa, buôn dưa lê bán dưa chuột. Hôm nay Nhiên sẽ khao bạn món măng đắng xào tỏi, món ăn ngon của người địa phương. Đang nói chuyện vui chợt Nhiên nói:

Thùy, Trâm ơi! Có tin sốt dẻo cho hai người đây. Thùy và Trâm cùng nhau lên tiếng:

Tin gì? Có nóng hôi hổi vừa thổi vừa nghe không đấy?

Nhiên tự nhiên ra vẻ trầm ngâm, im lặng, tủm tỉm cười, khiến Thùy và Trâm thêm nóng ruột. Nhìn Thùy và Trâm thấy hai người chăm chú chờ đợi, Nhiên cười vang, nói to:

Nghe tin này nhất định hai cậu không thể tin! Hai hôm trước, mình có việc ra trung tâm, gặp chị Nga cho biết tin về tay Minh, tổ trưởng của Thùy hồi trước ấy.

Thùy, Trâm nóng ruột hơn:

Sao? Anh ta làm sao?

Tay Minh nghỉ việc ở thư viện, chuyển về Hà Nội

rồi.

Nhiên vừa dứt lời, Thùy, Trâm sững người. Sau khi Nhiên nói lý do Minh thôi việc, ba cô phá lên cười giòn giã. Bữa cơm trưa vui và ngon miệng vì tin mới nhận được hay bữa cơm xum họp của ba bạn thân cùng cảnh ngộ xa nhà? Măng đắng hôm nay món ăn đầu tiên trong đời Thùy, nhưng không đắng như tên gọi, giống như các

loại măng khác, củ to mập, chắc như măng mai. Khi ăn giòn giòn, đăng đắng, tê tê một chút ở đầu lưỡi, với Thùy cảm nhận khi nuốt trôi qua họng thấy thơm ngon, khác lạ, hồi còn ở nhà đi chợ với mẹ không thấy bán. Trên đường về khoa Văn, Thùy rủ Trâm tuần tới sẽ cùng nhau đi chặt vỏ cây cọ khô về làm củi.

Đang lúi húi trong kho sách, Trâm gọi Thùy ra nhận thư từ trung tâm gửi vào. Thùy rất mừng, nghĩ “chắc thư của bố mẹ và các em”. Nhưng không, giấy quyết định của Ban giám hiệu nhà trường thuyên chuyển Thùy về Thư viện trung tâm làm việc. Một lần nữa lại tạm biệt, lại chia tay, Thùy không biết buồn hay vui nữa? Buồn có lẽ phải xa Trâm, xa mẹ con Lưu, xa cán bộ nhân viên khoa Văn bấy lâu nay Thùy gần gũi, gắn bó. Thùy không biết lãnh đạo khoa Văn sẽ giao thư viện cho ai? Hy vọng Trâm sẽ được giao công việc này.

Ban lãnh đạo khoa Văn quyết định giao cho Trâm chịu trách nhiệm thư viện sau khi Thùy chuyển ra trung tâm. Trâm bịn rịn không muốn xa Thùy, hai người đang làm việc gần nhau nay bất ngờ chuyển đi, làm sao tránh khỏi buồn rầu, nhưng không dám chống lại lệnh của lãnh đạo. Ngày hôm nay phải bàn giao công việc cho Trâm, trong đầu Thùy mung lung bao suy nghĩ. Thùy nhắc Trâm cẩn thận số sách giấy tờ, làm tròn tốt công việc được giao, hẹn gặp nhau trên trung tâm. Trâm thầm nghĩ bữa măng đắng thật sự đắng với bạn.

Ngày mai mới đi ra trung tâm, Thùy đến thăm và tạm biệt gia đình Khương. Trời về chiều rét đậm, từng làn gió lạnh lướt qua má, mũi tê buốt, quấn kín khăn quàng cổ, Thùy cắm cúi bước về phía nhà Khương, chợt có tiếng gọi:

-Chị Thùy, có phải chị Thùy không?

Thùy giật mình ngẩng nhìn, nhận ra Tý, nói:

-Em chóng lớn quá, biết đi chăn trâu rồi. Mẹ về chưa em? Chị đến thăm bà và mẹ con em đây.

Tý vui lắm, chạy đến cầm tay Thùy:

-Tối nay chị ăn cơm ở nhà em nhé, chắc bà đang nấu cơm rồi.

-Chị nhớ bà, nhớ Tý và mẹ Tý lắm nhưng chị bận, ngày mai chuyển ra làm ở trung tâm rồi.

Gần đến cổng, Tý kêu to:

-Bà ơi, chị Thùy đến chơi, bà thổi nhiều cơm không? Bà từ trong bếp chậm rãi bước ra, miệng nhai trầu, nhìn Thùy vui vẻ đáp:

-Ai chứ, với cô Thùy lúc nào cũng có cơm ăn. Vào nhà đi cháu, bên ngoài rét lắm.

Vừa đúng lúc Khương đi làm đồng về, chân lấm đầy bùn đất.

-Thùy vào nhà đi em, hôm nay chị đi tát nước, trời không mưa mấy ngày ruộng thiếu nước, phải thay phiên nhau đi tát.

Đã lâu, nay mới được ăn cơm cùng mẹ con Khương, có món măng xào tỏi nhưng thêm lá xương xông, mùi vị thơm khác lạ. Bé Tý nhanh nhảu khoe:

-Bà và mẹ ơi, chị Thùy phải chuyển ra làm ngoài trung tâm rồi, con sẽ nhớ chị Thùy nhiều lắm.

Thùy bùi ngùi, bịn rịn khó nói khi phải xa bà, Khương và bé Tý. Cách nhau hơn chục cây số, không biết khi nào trở về đây thăm mọi người. Thùy hứa có dịp vào khoa Văn sẽ đến thăm.

                                                                                  *

Thùy bất ngờ đứng trước mặt, Nga ngạc nhiên kêu lên:

-Kìa Thùy, ra trung tâm từ khi nào?

-Chị Nga, tình hình đã xảy ra như thế nào? Chị nói rõ nhé, em thấy không an tâm.

Nga vui vẻ hỏi thăm Thùy, báo tin vui sắp tới thư viện sẽ bổ xung thêm người về làm việc, hiện tại có mình Nga sau khi Minh chuyển về Hà nội.

Bước nhanh lên quả đồi ngày trước Thùy ở, tâm trạng nôn nao, khó tả. Ngày đầu tiên lên trường làm việc, đây là nơi Thùy sống một mình sau khi rời gia đình. Cũng từ nơi đây, Thùy đã phải chuyển đi mấy nơi, bây giờ trở về sống như những ngày đầu. Gần lên đến nhà tập thể, Thùy lớn tiếng gọi:

-Chị Lý, chị Hợi ơi! Em Thùy đây, trở về ở với các chị.

Lý, Hợi vội vàng chạy ra, ba người ôm nhau mừng rỡ, người hỏi, nói, cười tíu tít, không biết trả lời thế nào. Tối hôm đó Thùy ngủ ngon, được về sống bên các chị Lý, Hợi trong nhà tập thể trung tâm như ngày trước.

Như trước, Thùy dậy sớm chuẩn bị đi làm, tâm trạng thấy khang khác, có lẽ vì không có Minh, thấy yên tâm, không hồi hộp lo lắng, sợ phải chạm mặt Minh nữa. Gần 7 giờ sáng Thùy đi xuống dốc rẽ về hướng thư viện. Nga đang mở cửa, cảnh vật không thay đổi, nhưng sự yên tĩnh, vắng lặng kỳ lạ, Thùy cầm chiếc phất trần bằng lông gà phủi lớp bụi trên giá sách, sách, bàn làm việc của hai người, nói với Nga:

-Giờ có hai chị em mình, cũng có khác chị nhỉ. Nga cười:

-Tuần trước một mình trong thư viện chị cũng thấy buồn và hơi sợ, nên hiểu, thông cảm với em thời gian vừa qua.

-Chuyện cũ cho qua đi chị ạ. Những ngày tháng trong khoa Văn em quen dần và đã quên hết. Biết tin anh Minh chuyển về Hà nội em cũng bất ngờ. Em đã từng nghĩ không về thư viện trung tâm. Thời gian sống với mọi người trong khoa Văn em học hỏi thêm nhiều điều chị ạ.

Nga trao đổi tình hình công việc hiện tại, hứa cùng nhau làm tốt dù không còn tổ trưởng Minh. Hai người bắt đầu một ngày vui vẻ đầy niềm tin, có bóng người bước vào cửa thư viện, “ai đến sớm vậy nhỉ”? Thùy nghĩ thầm. Hai người cùng ngẩng lên nhìn. Nhận ra Nam, Thùy cười, chào:

-Chào thầy Nam! Thầy đến mượn sách sớm thế? Nam đỏ mặt:

-Chào hai cô! Hôm qua tôi đến thư viện khoa Văn trả sách biết Thùy chuyển ra trung tâm làm.

Nga nhìn Thùy, nhìn Nam như hiểu ra, cười nói:

-Vậy từ nay thầy đừng đến thư viện khoa Văn nữa, đến thư viện trung tâm thầy ạ.

Nam trả lời vô tư:

-Vâng, tôi dạy ở khoa Hóa, ra trung tâm gần và tiện hơn. Vả lại thư viện trung tâm nhiều sách, tài liệu hơn thư viện khoa Văn.

Tối họp đoàn thanh niên, Thùy gặp lại mọi người trong chi đoàn, sống lại như thời gian trước, nhưng giờ Thùy đã bình tâm, biết suy nghĩ. Suốt buổi họp, Thùy im lặng nhưng bình thản không mặc cảm khó chịu như thời gian đầu. Phải chăng Thùy đã hiểu và chấp nhận số phận, hoàn cảnh.

Mấy ngày sau thư viện trung tâm có độc giả thường xuyên đến mượn sách - Nam, giảng viên khoa Hóa. Thùy nhận thấy Nam có cảm tình đặc biệt đối với mình, mỗi khi Nam đến, Nga tìm cách tránh mặt để Thùy và Nam tự nhiên hơn. Nam sinh trưởng ở Hà Nội, gia đình cách mạng, khá giả, tốt nghiệp tiến sĩ ở Nga, thuộc tuýp người được rất nhiều cô gái ngưỡng mộ. Trong trường rất nhiều sinh viên nữ vây quanh, nhưng không hiểu sao Nam lại để ý đến Thùy, nhân viên bình thường, không bằng cấp. Trở về nếp hoạt động của trung tâm, Thùy tiếp tục phụ trách đội thiếu niên như trước. Sinh hoạt với các em đều đặn, dạy hát, dạy múa, giúp đỡ các em trong học tập. Thùy nhiệt tình, hăng say hoạt động với đội thiếu niên, Ban giám hiệu trường biểu dương, khen ngợi thành tích.

Từ ngày có Thùy về làm việc, độc giả đến mượn sách nhiều hơn, công việc rất bận, nhưng vẫn chưa thấy nhân viên mới đến nhận công tác như thông báo. Vì vậy Nga và Thùy phải sắp xếp, bố trí lịch làm việc thật khoa học phù hợp với thực tế. Thư viện mở cửa đều đặn, bổ xung thêm sách mới. Kế hoạch làm việc bàn bạc thống nhất, Thùy tiến bộ nhiều trong nghiệp vụ, có nhiều sáng kiến cải tiến trong công việc. Quan hệ giữa Thùy và Nam ngày càng thân thiết. Nam thường xuyên đến thư viện, không phải mượn sách mà gặp Thùy, biết hoàn cảnh trớ trêu, Nam quyết tâm hơn. Có lần Nam mạnh dạn nói với Thùy suy nghĩ của mình:

-Thùy, tôi biết em là người ham học, nhưng vì hoàn cảnh phải đi làm sớm. Tôi nghĩ thế này, Thùy suy nghĩ xem thế nào.

-Anh góp ý cho em việc gì? Em làm gì sai trái?

-Không phải. Theo tôi, em nên đi học đại học. Em tuy đã nghỉ nhiều năm, bị hụt kiến thức, nhưng bây giờ em học ôn lại chương trình phổ thông, tuổi còn trẻ, nộp đơn xin thi đại học vẫn kịp. Ý của em thế nào?

-Thực ra em cũng từng suy nghĩ như anh, nhưng bỏ học quá lâu, quên hết không đủ sức thi.

-Em yên tâm, anh sẽ giúp. Anh sẽ tìm đủ sách luyện ôn thi đại học, em muốn thi hệ nào, tự nhiên hay xã hội, để anh tìm sách.

Biết Nam quan tâm, thực sự muốn giúp đỡ, tuy trước đó Thùy vẫn có ý nghĩ phải học lên như chúng bạn. Mình đã bị tụt lùi lại phía sau mấy năm nay rồi, nhưng chưa quyết tâm, chỉ thoáng nghĩ trong đầu, nay Nam góp ý như vậy, Thùy cảm động càng quý mến Nam nhiều hơn. Đêm ngủ suy nghĩ rất nhiều, quyết định sẽ nói với Nam ý định của mình. Tuần trước, chú Đức ở phòng tổ chức có nói với Thùy:

-Cháu cố gắng làm việc thật tốt, phấn đấu mọi mặt, nếu nhà trường có chỉ tiêu kế hoạch đào tạo cán bộ, công tác đủ bốn năm trở lên sẽ cử cháu đi học thêm.

Nghe vậy, biết vậy, nhưng Thùy không dám mong ước xa xôi. Trong đầu luôn ám ảnh ‘thành phần gia đình’, không phải con em dân tộc thiểu số, không có điểm nào để ưu tiên. Vì thế ngày qua ngày trôi đi không hy vọng. Thùy gặp mấy người bạn cùng học cấp III hiện đang học khoa Lý trong trường, thỉnh thoảng đến chơi, các bạn động viên gợi ý Thùy thi vào khoa Lý của trường.

Bố Thùy cũng muốn Thùy học nghề sư phạm:

-Thùy à, bố không đồng ý con xin thi vào Đại học Xây dựng, Đại học Giao thông, thân con gái nên suy nghĩ kỹ trước khi quyết định.

Câu nói của bố vẫn in mãi trong đầu Thùy, nay có bạn đang học khoa Lý trường sư phạm mình đang làm việc, thuận lợi nhiều bề. Nam biết và tìm sách bộ môn Tự nhiên cho Thùy. Bỏ học thời gian dài, Nam nhắc Thùy phải sắp xếp lịch cho khớp dành nhiều thời gian cho việc ôn chương trình phổ thông. Nam đến giúp Thùy vào buổi trưa, tuần hai ngày. Thầy nhiệt tình, chu đáo, trò chăm chỉ, cố gắng. Sợi dây vô hình đã gắn kết hai người với nhau hơn. Thầy Nam vừa bận rộn soạn bài và giảng trên lớp, vừa ra trung tâm giúp Thùy. Mọi người trong khoa và trung tâm ai cũng nhận ra quan hệ của hai người. Một nam, một nữ chưa vợ chưa chồng, yêu nhau chuyện bình thường. Nhưng thói đời vẫn vậy, chuyện thị phi bất cứ đâu cũng không bao giờ tránh khỏi. Người vui, mừng cho Thùy - đẹp đôi ủng hộ -, kẻ xì xào, bàn tán, dèm pha. Thùy tập trung tám giờ làm việc ở thư viện, chăm chỉ học ôn ngoài giờ làm. Thời gian còn lại tham gia sinh hoạt công đoàn, thanh niên, hoạt động của đội thiếu niên, không để ý đến những lời bàn tán xung quanh. Nhưng cái gì đến sẽ đến, chị Nga, chị Hợi  và vài cô nhân viên ở trung tâm nói đến tai Thùy. Sinh viên, cán bộ khoa Hóa cũng biết, xầm xì to nhỏ và Nam cũng nghe thấy những câu nói vô duyên.

-Đoàng hoàng một cán bộ giảng dạy đại học lại thích một cô nhân viên không bằng cấp.

-Trai Hà nội, gái miền núi.

-Trèo cao ngã đau, quá chênh lệch trình độ, mắt kém hay sao, bao nhiêu sinh viên nữ xinh đẹp học giỏi sao không nhìn thấy.

Mới đầu, Thùy để ngoài tai. Nghĩ “mình đã có gì với thầy Nam đâu, thầy giúp mình học thôi, đàng hoàng đứng đắn, học công khai”, nhưng lâu dần khiến Thùy thấy khó chịu. Ý nghĩ mặc cảm xưa kia lại trỗi dậy. Có lần chứng kiến thái độ, ánh mắt của sinh viên đến thư viện mượn sách, Thùy hiểu là sự ganh tỵ, mỉa mai, khinh thường của họ. Cảm thấy bị xúc phạm, như có vật gì chèn ép lên ngực rất khó thở. Nga biết thông tin về Nam nói với Thùy:

-Thùy ơi, trưa hôm qua thầy Nam có ra trung tâm không em?

- Dạ, không chị ạ, theo lịch thầy đến giúp em trưa hôm qua đấy.

-Chị nghe phong phanh thầy Nam bị khiến trách gì đó.

      Thùy bắt đầu lo lắng cho Nam, lo ngại cho bản thân. Nam là đảng viên, trong chi ủy của khoa, bị phê bình quan hệ nam nữ với cô gái thành phần gia đình tư sản, quan hệ như vậy là thứ ‘tình yêu phi chính trị, phi giai cấp’, chệch với đường lối, nguyên tắc của Đảng. ‘Đảng đã đem cương lĩnh đè lên trái tim Nam, bắt tình yêu ngược  xuôi theo điều lệ đảng.’* Các hoạt động của Nam đã bị theo dõi đưa ra bằng chứng trong cuộc họp chi ủy. Một người nói Thùy không tin, nhưng hai, ba rồi nhiều người bắt đầu góp ý với Thùy. Cảm giác bị xa lánh, đối xử khác biệt, nhất là khi bị khinh thường đã tác động mạnh đến lòng tự trọng của Thùy. Tuần trước có người mới đến - một cô gái học lớp sơ cấp thư viện của tỉnh - được nhận vào làm từ lâu nay mới đến làm việc, vì gia đình có công với cách mạng. Nga bảo Thùy:

-Cố gắng ôn tập thi đại học em ạ, có như vậy cuộc sống sẽ tươi sáng hơn.

Suy nghĩ trăn trở nhiều đêm, nghĩ đến những dư luận của mọi người, nghĩ đến Nam, Thùy thương cho bản thân làm gì nên tội? Nghĩ đến gia đình, nghĩ đến sau này sẽ ra sao? Sau vài buổi trưa Nam thất hẹn, Thùy thất vọng đi đến quyết định, không cần Nam, tránh không muốn gây khó khăn, phức tạp thêm cho Nam, mặc dù mỗi khi nghĩ đến nghẹn tức trong họng, như đã bị xúc phạm. Biết không phải do lỗi của Nam thất hứa, nhưng là đảng viên phải tuân theo cương lĩnh, đường lối của Đảng. Thùy tiếp tục ôn thi, quyết tâm hơn cho dù không có Nam giúp đỡ. Ý nghĩ phải thay đổi, phải học thôi thúc, tạo động lực cho Thùy thời gian sau này. Công việc trong thư viện ngày càng tiến triển, ba chị em đoàn kết giúp đỡ nhau, Nga làm tổ trưởng, Thùy được bầu là lao động tiên tiến trong năm. Ban Giám hiệu khen ngợi Thùy thành tích trong công tác phụ trách thiếu niên, hoàn thành chỉ tiêu xuất sắc của Thư viện, có mối quan hệ quần chúng tốt. Các chị trạm xá cũng động viên khuyến khích Thùy tập trung cố gắng học. Nhiều lần nhìn thấy Nam đến thư viện, Thùy tránh mặt, sau đó không thấy Nam ra trung tâm nữa. Nghe sinh viên kháo nhau thầy Nam bị chi bộ phê bình, kiểm điểm, Thùy nghĩ quyết định của mình là đúng.

Thời gian trôi đi tùy theo suy nghĩ của từng người, với Thùy đó là sự mong chờ, hy vọng và quyết tâm. Thùy có ý định chờ dịp xin học ngành Thư viện và nói nguyện vọng với phòng tổ chức, chú Đức phó phòng nhiệt tình ủng hộ.

Tối nay Thùy hồi hộp, vui mừng khi được thông báo Chi đoàn thanh niên tổ chức lễ kết nạp Thùy. Kết nạp Đoàn đó là điều bình thường đối với thanh niên, nhưng với thành phần gia đình tư sản, tiểu tư sản thật khó khăn, cao xa đối với chế độ chuyên chính vô sản. Tiêu chuẩn nộp đơn thi trung cấp chuyên nghiệp, đại học ngoài thành phần gia đình cơ bản, thanh niên phải là đoàn viên, những người không đoàn thể không được xét duyệt.

Sau mấy năm làm việc, từ một cô gái tuổi học trò, vô tư, ngây thơ trong trắng, do hoàn cảnh xã hội, điều kiện gia đình đã xô đẩy Thùy sớm bước vào đời. Chập chững từng bước, từng bước Thùy trưởng thành theo năm tháng, búp mầm tre bé nhỏ ngày nào, nay lớn dần thành cây tre dẻo dai, vươn mình đứng vững trong khu rừng đầy chông gai và rắn độc. Năm sau, nhà trường có chỉ tiêu bồi dưỡng nâng cao trình độ cho cán bộ công nhân viên chức, Đảng ủy, Ban giám hiệu nhà trường đánh giá thành tích mọi mặt của Thùy trong nhiều năm làm việc, giao cho phòng tổ chức ra quyết định cử Thùy đi học khóa chuyên tu trường Lý luân - Nghiệp vụ Hà Nội. Thùy hơn 5 năm bỏ học đi làm nhưng cố gắng ôn tập, các môn thi   Thùy làm trọn vẹn, chờ ngày báo kết quả.

Ghi chú * Theo ý thơ thi sĩ Lê Đạt

“Một bài thơ cũ”

Nhưng mang bục công an máy móc

Đặt giữa trái tim người Bắt tình cảm ngược xuôi

Theo đúng luật đi đường nhà nước

 Có thể gây rất nhiều chua sót ngoài đờ

 

Tác giả Vietnamthuquan.eu - NXB: Nhân Ảnh 2025
Nguồn: Việt Nam Thư Quan
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.