Thái công Vọng Lã Thượng, là bậc thượng nhân[1] ở vùng Đông Hải. Tổ tiên của ông từng làm đến chức Tứ nhạc[2], giúp vua Vũ trị thủy thổ rất có công lao. Khoảng giữa thời Ngu Thuấn và Hạ Vũ, được phong ở ấp Lã, có khi được phong ở ấp Thân, họ Khương thị. Đến thời nhà Hạ và nhà Thương, con cháu ngành thứ ở hai ấp Thân, Lã vẫn tiếp tục được phân phong, nhưng cũng có người trở thành dân thường, Thượng là hậu duệ của họ vậy. Ông vốn họ Khương thị, nhân dùng tên ấp phong làm họ nên gọi là Lã Thượng.
Đại để Lã Thượng từng rất khốn cùng, đến già mới nhận việc câu cá gặp được Tây bá nhà Chu[3]. Tây bá khi sắp đi săn, bói quẻ, quẻ bói rằng: “Thứ săn được chẳng phải trồng, chẳng phải ly, không phải hổ, không phải gấu; mà được người phò nghiệp bá vương.” Thế rồi Tây bá nhà Chu đi săn, quả nhiên gặp Thái công ở bờ bắc sống Vị, cùng nhau nói chuyện, cả mừng, nói: “Nghe từ tiên quân ta là Thái công nói rằng, đương có thánh nhân đến nước Chu, nhà Chu nhờ đó sẽ hưng khởi, ông đúng là người đó sao? Thái công của ta trông mong ông lâu lắm rồi.” Vì vậy mới có hiệu là “Thái công Vọng”, cho ngồi cùng xe về, tôn làm thầy.
Có người nói, Thái công học rộng hiểu nhiều, từng thờ vua Trụ. Trụ vương vô đạo, ông bỏ đi. [Thái công Vọng] du thuyết chư hầu, chưa gặp được người thích hợp, rốt cuộc về tây với Tây bá nhà Chu. Lại có người bảo, Lã Thượng là một xử sĩ[4], ẩn cư ở bãi bể. Tây bá nhà Chu bị bắt ở Dữu Lý, Tán Nghi Sinh, Hoằng Yêu vốn biết tài Lã Thượng mới mời về. Lã Thượng cũng nói: “Ta nghe nói Tây bá là người hiền năng, lại giỏi chăm người già, sao lại không đến đó?” Ba người bèn vì Tây bá mà tìm kiếm mỹ nữ, của lạ đem hiến cho vua Trụ để chuộc Tây bá. Tây bá nhờ đó thoát ra được, trở về nước. Lời truyền về lý do Lã Thượng thờ nhà Chu tuy có khác, nhưng cơ bản đều nói ông là bậc thầy của Văn vương, Vũ vương.
Tây bá nhà Chu là Cơ Xương thoát khỏi Dữu Lý trở về, cùng Lã Thượng ngầm bày mưu, sửa đức để khuynh đảo chính sự nhà Thương, những việc đó hầu hết là thuật dùng binh và kế lạ, vì vậy người đời sau khi bàn đến việc binh và việc ngầm dùng quyền mưu của nhà Chu đều quy cho Thái công là người định ra mẹo mực. Tây bá nhà Chu chấp chính công bằng, khéo xử tranh chấp giữa nước Ngu và nước Nhuế[5], vì thế các nhà thơ xưng tụng Tây bá nhận được mệnh trời, gọi là Văn vương. Chinh phạt nước Sùng, nước Mật Tu, nước Khuyển Di, ra sức xây dựng ấp Phong, Thiên hạ ba phần thì hai phần theo về nước Chu, mưu kế phần nhiều đều của Thái công.
Văn vương băng hà, Vũ vương kế vị. Năm thứ chín, [Vũ vương] muốn sửa sang cơ nghiệp của Văn vương, liền chinh phạt phía đông để xem chư hầu có theo hay không. Lúc phát binh, Thượng phụ[6] [Lã Thượng] tay trái nắm búa vàng, tay phải cầm cờ mao trắng mà thề rằng: “Thương hủy, Thương hủy[7], hãy tập hợp quân binh của các ngươi, cấp cho thuyền và mái chèo, kẻ nào đến chậm sẽ bị chém đầu?” Đoạn tiến đến Mạnh Tân. Chẳng hề hẹn trước mà tám trăm chư hầu hội hợp. Chư hầu đều nói: “Trụ, có thể đánh được rồi.” Vũ vương nói: “Chưa được.” Bèn kéo quân về, cùng Thái công làm bài “Thái thệ”[8].
Qua hai năm, vua Trụ giết Vương tử Tỷ Can, bỏ tù Cơ tử. Vũ vương định phạt Trụ, bói quẻ bằng mai rùa, hiện điềm không lành, mưa to gió lớn kéo đến. Các quan đều sợ hãi, chỉ riêng Thái công ra sức khuyến khích Vũ vương, thế là Vũ vương bèn cất quân đi. Ngày Giáp Tý, tháng Giêng năm thứ mười một, tuyên thệ ở Mục Dã, chinh phạt Trụ vương nhà Thương. Quân Trụ đại bại. Trụ vương quay đầu bỏ chạy, lên Lộc Đài, Vũ vương bèn cho đuổi theo chém chết vua Trụ. Ngày hôm sau, Vũ vương đứng trước đàn xã, quần thần dâng nước tinh khiết, Vệ Khang thúc là Phong trải chiếu hoa, Sư Thượng phụ dắt các con vật tế, Thái sử Dật đọc lời khấn cáo, cẩn cáo với thần minh tội trạng của vua Trụ. Chia tiền bạc trong Lộc Đài, phát thóc gạo trong Cự Kiều để chẩn tế dân nghèo. Tôn cao mộ của Tỷ Can, thả Cơ tử khỏi ngục tù. Dời chín đỉnh, sửa sang chính trị nhà Chu, cùng cả thiên hạ đổi mới. Phần lớn đều nhờ mưu của Sư Thượng phụ.
Bấy giờ, sau khi Vũ vương đã bình định nhà Thương, làm vua thiên hạ, phong cho Sư Thượng phụ vùng Doanh Khâu đất Tề. [Thái công] sang phía đông để đến đất Phong, vừa đi vừa nghỉ, đi rất chậm. Chủ quán trọ bảo: “Tôi nghe thời cơ khó gặp nhưng dễ mất. [Vậy mà] khách ngủ rất ngon, cơ hồ không phải người đi đến nhận nước Phong.” Thái công nghe vậy, đương đêm khoác áo lên đường, tờ mờ sáng thì đến nước Phong. Lai hầu đến đánh, tranh giành Doanh Khâu với Thái công. Doanh Khâu gần biên giới nước Lai. Người nước Lai vốn là người rợ vậy, nhân lúc loạn thời vua Trụ mà nhà Chu mới lập, chưa thể chiêu dụ được phương xa, vì thế mới tranh nước với Thái công.
Thái công đến nước Phong, sửa sang chính sự, nương theo phong tục, giảm bớt lễ nghi, mở mang việc buôn bán, thủ công, phát triển nguồn lợi nghề cá, nghề muối, vì thế nhiều người dân theo Tề, Tề trở thành nước [chư hầu] lớn. Nhằm lúc Chu Thành vương còn nhỏ, Quản thúc, Sái thúc làm loạn, các tộc rợ vùng Hoài Phố phản lại nhà Chu, Vũ vương bèn sai Thiệu Khang công truyền mệnh cho Thái công rằng: “Đông đến biển lớn, tây đến Hoàng Hà, nam đến Mục Lăng, bắc đến Vô Lệ, năm hầu chín bá[9], Sư Thượng phụ đều được chinh phạt.” Nhân thế nước Tề được quyền chinh phạt, trở thành nước [chư hầu] lớn, đóng đô ở Doanh Khâu.
Ước chừng Thái công chết lúc hơn 100 tuổi, con là Đinh công Lã Cấp lên thay. Đinh công chết, con là Ất công Đắc lên thay. Ất công chết, con là Quý công Từ Mẫu lên thay. Quý công chết, con là Ai công Bất Thần[10] lên thay.
Thời Ai công, Kỷ hầu gièm với nhà Chu, nhà Chu nấu chết Ai công rồi lập em của Ai công là Tĩnh, đó là Hồ công. Hồ công dời đô đến Bạc Cô, bấy giờ nhằm thời Chu Di vương.
Người em nhỏ cùng mẹ của Ai công là Sơn oán hận Hồ công, bèn cùng đồ đảng dẫn người ở Doanh Khâu đánh úp giết chết Hồ công rồi tự lên ngôi, đó là Hiến công. Hiến công năm đầu, đuổi hết con cái của Hồ công, nhân đó dời đô từ Bạc Cô về Lâm Truy.
Năm thứ chín, Hiến công chết, con là Vũ công Thọ lên thay. Vũ công năm thứ chín, Chu Lệ vương chạy trốn khỏi nước, trú ở đất Trệ. Năm thứ mười, vương thất [nhà Chu] rối loạn, đại thần chấp chính, gọi là “Cộng hòa”[11]. Năm thứ hai mươi tư, Chu Tuyên vương mới lên ngôi.
Năm thứ hai mươi sáu, Vũ công chết, con là Lệ công Vô Kỵ lên thay. Lệ công bạo ngược, vì vậy con của Hồ công lại trở về nước Tề, người Tề muốn lập [con của Hồ công] làm vua, bèn cùng nhau đánh giết Lệ công. Con của Hồ công cũng vì đánh nhau mà chết. Người Tề bèn lập con của Lệ công là Xích lên làm vua, đó là Văn công, rồi giết bảy mươi người can dự vào việc giết Lệ công.
Văn công đến năm thứ mười hai thì chết, con là Thành công Thoát lên ngôi. Thành công đến năm thứ chín thì chết, con là Trang Công Cấu lên ngôi.
Trang công năm thứ hai mươi tư, rợ Khuyển Nhung giết U vương, nhà Chu dời sang đất Lạc ở phía đông. Nước Tần bắt đầu được liệt vào hàng chư hầu. Năm thứ năm mươi sáu, người Tấn giết vua nước mình là Chiêu hầu.
Năm thứ sáu mươi tư, Trang công chết, con là Hy công Lộc Phủ lên ngôi.
Hy công năm thứ chín, Lỗ Ẩn công mới lên ngôi. Năm thứ mười chín, Lỗ Hoàn công giết anh mình là Ẩn công rồi tự lập làm vua.
Năm thứ hai mươi lăm, rợ Bắc Nhung chinh phạt nước Tề. Nước Trịnh sai Thái tử Hốt đến cứu nước Tề, nước Tề muốn gả con gái cho [Hốt]. Hốt nói: “Nước Trịnh nhỏ nước Tề lớn, ta không tương xứng”, đoạn từ chối việc ấy.
Năm thứ ba mươi hai, em cùng mẹ của Hy công là Di Trọng Niên chết. Con của Di Trọng Niên là Công Tôn Vô Tri được Hy Công yêu mến, ban cho bổng lộc, trang phục, người hầu hạ, nuôi nấng ngang với Thái tử.
Năm thứ ba mươi ba, Hy công chết, Thái tử Chư Nhi lên ngôi, đó là Tương công.
Trong công năm đầu, hồi trước khi còn là Thái tử, thường tranh giành với Vô Tri, đến lúc lên ngôi, bèn bãi bỏ chế độ bổng lộc, phục sức của Vô Tri, Vô Tri oán hận.
Năm thứ tư, Lỗ Hoàn công và phu nhân đến nước Tề. Tề Tương công vốn từng tư thông với Lỗ phu nhân. Lỗ phu nhân là em gái của Tương công, từ thời Hy cũng đã được gả làm vợ Lỗ Hoàn công, đến khi Hoàn công tới [nước Tề], Tề Tương công lại tư thông với nàng. Lỗ Hoàn công biết chuyện, giận phu nhân, phu nhân bèn mách với Tề Tương công. Tề Tương công và vua Lỗ cùng uống rượu, thuốc cho [vua Lỗ] say, sai lực sĩ là Bánh Sinh xốc vua Lỗ lên xe, thừa cơ bẻ (cổ) Lỗ Hoàn công, Hoàn công xuống xe thì đã chết. Người Lỗ trách nước Tề, thế là Tề Tương công giết Bành Sinh để tạ lỗi với nước Lỗ.
Năm thứ tám, [nước Tề] chinh phạt nước Kỷ, nước Kỷ phải dời đô.
Năm thứ mười hai, hồi đầu, Tương công sai Liên Xứng, Quản Chí Phủ đóng quân doanh ở đất Quỳ Khâu, hẹn mùa dưa [tháng Bảy] thì lên đường, đến mùa dưa sau thì được đổi phiên. Đóng quân được một năm, rốt cuộc đến mùa dưa mà Tương công không phái người ra thay. Có người xin ra thay, Tương công không nghe. Vì vậy, [Liên Xứng và Quản Chí Phủ] hai người tức giận, [liền] nương theo Công Tôn Vô Tri để bày mưu làm loạn. Liên Xứng có người em gái họ ở trong cung của Tương công, không được sủng ái, [Xứng] bèn sai nghe ngóng tình hình của Tương công rằng: “Việc thành công, ngươi sẽ được làm phu nhân của Vô Tri.” Tháng Mười hai, mùa đông, Tương công du ngoạn ở Cô Phần, rồi đi săn ở Bái Khâu. [Tương công] thấy con lợn lòi, kẻ tùy tùng hô là “Bành Sinh”. [Tương công] nổi giận, bắn nó, con lợn đứng thẳng như người mà rống. Tương công sợ hãi, ngã xuống xe, bị thương ở chân, rơi mất chiếc giày. [Tương công] trở về, đánh kẻ quản lý giày tên là Phất ba trăm roi. Phất rời khỏi cung. Bọn Vô Tri, Liên Xứng, Quản Chí Phủ hay tin Tương công bị thương, bèn dẫn quân đánh úp vào trong cung. Gặp kẻ quản lý giày là Phất, Phất bảo: “Tạm chớ vào làm kinh động trong cung, làm kinh động trong cung thì không dễ mà vào được.” Vô Tri không tin, Phất vạch cho xem vết roi, mới tin theo. [Bọn Vô Tri] đợi ngoài cung, sai Phất vào trước. Phất vào trước, giấu Tương công vào phía sau cánh cửa. Qua một lúc lâu, bọn Vô Tri sợ, bèn tiến vào cung. Phất ngược lại cùng người trong cung và những sủng thần tấn công bọn Vô Tri, không thắng được, đều chết cả. Vô Tri vào cung, không tìm thấy Tương công. Có kẻ thấy chân người thò ra ở khe cửa, lôi ra xem, chính là Tương công, bèn giết chết, thế rồi Vô Tri tự lập làm vua Tề.
Mùa xuân năm Hoàn công thứ nhất, vua Tề Vô Trị đến chơi Ung Lâm[12]. Người Ung Lâm từng có thù oán với Vô Tri, tới khi Vô Tri đến chơi, bèn đánh úp giết chết Vô Tri, rồi bảo các đại phu nước Tề rằng: “Vô Tri giết Tương Công rồi tự lập, chúng thần chỉ giết mình hắn. Xin các đại phu chọn lập người xứng đáng trong các công tủ lên ngôi, [chúng thần] xin được nghe theo.”
Hồi trước, Tương công chuốc say rồi giết Lỗ Hoàn công, tư thông với phu nhân của Lỗ Hoàn công, giết nhiều kẻ vô tội, dâm loạn với phụ nữ, nhiều lần khinh khi đại thần, các em trai đều sợ tai vạ đến mình, thế nên em thứ là Củ chạy sang nước Lỗ. Mẹ của công tử Củ là người con gái nước Lỗ. Quản Trọng, Thiệu Hốt phò tá công tử Củ. Em trai nữa là Tiểu Bạch chạy sang nước Cử, Bão Thúc phò tá Tiểu Bạch. Mẹ của Tiểu Bạch là người con gái nước Vệ, được Hy công rất sủng ái. Từ nhỏ Tiểu Bạch rất yêu quý và tôn kính đại phu Cao Hề. Tới khi người Ung Lâm giết chết Vô Tri, bàn chuyện lập vua mới, hai họ Cao, Quốc mới ngầm sai người sang nước Cử vời Tiểu Bạch đến trước. Nước Lỗ nghe tin Vô Tri chết, cũng sai quân đưa công tử Củ về nước, rồi sai Quản Trọng dẫn cánh quân khác chặn đường nước Cử, bắn trúng cái móc trên dây lưng của Tiểu Bạch. Tiểu Bạch giả chết, Quản Trọng sai người ruổi ngựa về báo với nước Lỗ. Nước Lỗ đưa đoàn của công tử Củ đi chậm lại, sáu ngày mới tới nước Tề thì Tiểu Bạch đã vào trước, Cao Hề lập Tiểu Bạch, đó là Hoàn công.
Hoàn công bị bắn trúng cái móc trên dây lưng, giả chết để lừa Quản Trọng, sau đó ngồi ôn xa[13] đi gấp, cũng nhờ có họ Cao, họ Quốc làm nội ứng, ông mới đến trước được lập làm vua, rồi cất quân chống nước Lỗ. Mùa thu, giao chiến với nước Lỗ ở đất Càn Thì, quân Lỗ thua chạy, quân Tề chặn đứng đường về của nước Lỗ. Nước Tề gửi thư cho nước Lỗ, bảo: “công tử Củ là anh em, không nỡ ra tay giết, mong người Lỗ tự giết Củ đi. Thiệu Hốt, Quản Trọng là kẻ thù, muốn bắt được để băm vằm bọn chúng cho hả dạ. Nếu không nghe, [nước Tề] sẽ bao vây nước Lỗ.” Người nước Lỗ lo lắng về việc đó, bèn giết công tử Củ ở đất Sênh Đậu. Thiệu Hốt tự sát, Quản Trọng xin làm tù nhân. Hoàn công lên ngôi, đem quân tấn Công nước Lỗ, định bụng giết Quản Trọng. Bão Thúc Nha nói rằng: “Thần may mắn được theo nhà vua, rốt cuộc nhà vua cũng lên ngôi. Ngôi vua tôn quý, thần không có gì khiến nhà vua tôn quý hơn được nữa. Nếu nhà vua muốn nước Tề yên trị, chỉ cần Cao Hề và Thúc Nha là đủ. Còn nếu nhà vua muốn làm bá vương, thì nhất định phải cần Quản Di Ngô. Di Ngô ở nước nào, nước đó trở nên cường thịnh, không được để mất.” Thế rồi Hoàn công nghe theo. [Hoàn công] bèn giả cách triệu Quản Trọng [để băm vằm] cho hả dạ, kỳ thực là muốn trọng dụng ông ta. Quản Trọng hiểu điều đó, cho nên xin đi. Bão Thúc Nha đón được Quản Trọng, đưa đến Đường Phụ rồi tháo bỏ gông cùm, tắm rửa trai giới sạch sẽ rồi đưa yết kiến Hoàn công. Hoàn công dùng lễ hậu đối đãi, phong làm Đại phu, giao trông coi chính sự.
Hoàn công đã có được Quản Trọng, cùng Bão Thúc, Thấp Bằng[14], Cao Hề sửa sang chính sự nước Tề, liên kết quân binh của năm nhà[15], thiết lập nguồn lợi của [kế sách] “Khinh trọng"[16], đánh cá và nấu muối, để chẩn cứu kẻ bần cùng, ban bổng lộc cho bậc hiền tài, người nước Tề đều vui mừng.
Năm thứ hai, đánh diệt nước Đàm, Đàm tử[17] chạy sang nước Cử. Trước đây, khi Hoàn công lưu vong, có qua đất Đàm, người nước Đàm vô lễ, vì thế [Hoàn công] mới đánh họ.
Năm thứ năm, [nước Tề] chinh phạt nước Lỗ, quân Lỗ thua trận. Lỗ Trang cũng xin hiến ấp Toại để cầu hòa, Hoàn công nhận lời, cùng Lễ gặp mặt ở đất Kha rồi kết minh ước. Lỗ công chuẩn bị uống máu thề, Tào Mạt dùng chủy thủ uy hiếp Hoàn công ngay trên đàn, nói rằng: “Hãy trả lại đất [ngài] đã chiếm của nước Lỗ!” Hoàn công đồng ý. Xong, Tào Mạt mới bỏ chủy thủ, lùi về vị trí bề tôi, quay mặt về hướng bắc. Sau đó Hoàn công hối hận, không muốn trả đất cho nước Lỗ mà lại muốn giết Tào Mạt. Quản Trọng nói: “Ôi, bị uy hiếp nên đã nhận lời thế mà lại bội tín đi giết [Tào Mạt], thỏa được niềm vui nhỏ mọn nhất thời vậy mà thất tín với chư hầu, mất đi sự ủng hộ của thiên hạ, không được.” Bởi thế [Hoàn công] mới đem đất đai thu được khi Tào Mạt ba lần thua trận, trả lại cho nước Lỗ. Chư hầu nghe chuyện đó, đều tin tưởng nước Tề và muốn đến quy phụ. Năm thứ bảy, chư hầu hội họp với Hoàn công ở đất Quyên, từ ấy Hoàn công bắt đầu xưng bá.
Năm thứ mười bốn, con của Trần Lệ công là Hoàn, hiệu là Kính Trọng, chạy sang nước Tề. Tề Hoàn công muốn cho làm chức khanh, [Trần Hoàn] từ chối; vì vậy cho làm quan Công chính[18]. Đó là tổ tiên của Điền Thành tử Thường vậy.
Năm thứ hai mươi ba, tộc Sơn Nhung đánh nước Yên, nước Yên cấp báo với nước Tề. Tề Hoàn công cứu nước Yên, bèn chinh phạt tộc Sơn Nhung, đến tận Cô Trúc mới rút về. Yên Trang công liền đưa tiễn Hoàn công vào tận biên cảnh nước Tề. Hoàn công nói: “Không phải thiên tử, chư hầu đưa tiễn nhau thì không vượt khỏi biên giới, ta không thể vô lễ với nước Yên được.” Thế là [Tề Hoàn công] cho chia ngòi cắt chỗ đất vua nước Yên đã vào để cho nước Yên, bảo vua nước Yên tu sửa, phục hồi nền chính sự của Thiệu công, nạp cống cho nhà Chu, giống như thời Thành Khang. Chư hầu biết việc đó, đều theo nước Tề.
Năm thứ hai mươi bảy, mẹ của Mẫn công nước Lỗ là Ai Khương, tức là em gái của Tề Hoàn công. Ai Khương thông dâm với công tử nước Lỗ là Khánh Phủ, Khánh Phủ giết Mẫn công, Ai Khương muốn lập Khánh Phủ lên ngôi, người Lỗ lại lập Hy công. Hoàn công triệu Ai Khương về, giết chết Ai Khương.
Năm thứ hai mươi tám, Vệ Văn công gặp loạn người Địch, cấp báo với nước Tề. Nước Tề thống lãnh chư hầu đắp thành Sở Khâu rồi lập Vệ quân.
Năm thứ hai mươi chín, Hoàn công cùng phu nhân là Sái cơ chơi đùa trong thuyền. Sái cơ vốn ưa nước [giỏi bơi lội], mới lay thuyền đùa giỡn Hoàn công, Hoàn công sợ hãi, bảo [Sái cơ] ngừng lại, [Sái cơ] không ngừng, [đến khi] lên khỏi thuyền, Hoàn công nổi giận, trả Sái cơ về nước, nhưng không tuyệt giao. Sái hầu cũng giận, cải giá cho Sái cơ. Hoàn công hay tin thì tức tối, dấy binh sang chinh phạt.
Mùa xuân năm thứ ba mươi, Tề Hoàn công thống lãnh chư hầu thảo phạt nước Sái, dân chúng nước Sái trốn chạy khắp nơi. Đoạn chinh phạt Sở. Sở Thành vương cất quân chất vấn: “Hà cớ gì lại xâm phạm đất đai của ta?” Quản Trọng đáp rằng: “Xưa Thiệu Khang công truyền mệnh cho tiên quân Thái công của ta rằng: 'Năm hầu chín bá, thấy được quyền chinh phạt, để giúp phò vương thất nhà Chu.' Ban cho tiên quân của ta cương giới, phía đông đến biển, tây đến Hoàng Hà, nam đến Mục Lăng, bắc đến Vô Lệ. Sở không cống cỏ bao mao[19], khiến đồ tế của thiên tử không đầy đủ, cho nên đến để trách cứ. Chiêu vương nam chinh không trở về, cho nên đến để chất vấn.” Sở vương đáp: “Cống phẩm không vào đến triều đình, quả có việc đó, là tội của quả nhân, nào dám không dâng hiến! Chiêu Dương ra đi mà không trở về, ngài nên đến bờ Hán Thủy mà hỏi[20].” Quân Tề đóng quân ở đất Hình. Mùa hạ, Sở vương sai Khuất Hoàn đem quân chống cự lại quân Tề, quân Tề lui về đóng quân ở Thiệu Lăng. Hoàn công tự khoe khoang quân mình đông với Khuất Hoàn. Khuất Hoàn nói: “Nhà vua theo đạo nghĩa thì được; bằng không, Phương Thành nước Sở sẽ làm thành, Trường Giang, Hán Thủy sẽ thành hào, nhà vua còn dám tiến nữa chăng?” [Hoàn công] bèn cùng Khuất Hoàn lập minh ước rồi rút về. [Trên đường về Hoàn công] đi qua nước Trần, Viên Đào Đồ nước Trần lừa quân Tề, dẫn đi sang phía đông, việc bị phát giác. Mùa thu, nước Tề chinh phạt nước Trần. Cùng năm ấy, nước Tấn giết Thái tử Thân Sinh.
Mùa hạ năm thứ ba mươi lăm, hội chư hầu ở Quỳ Khâu. Chu Tương vương sai Tể Khổng ban cho Hoàn công thịt tế vua Văn vương, Vũ vương, cung tên màu đỏ và xe lớn[21], miễn việc quỳ lạy. Hoàn công định chấp nhận, Quản Trọng bảo: “Không được”, bèn lui xuống quỳ lạy nhận ban thưởng. Mùa thu, [Tề Hoàn công] lại hội họp chư hầu ở Quỳ Khâu, ngày càng có vẻ kiêu ngạo, nhà Chu sai Tể Khổng đến họp. Có nhiều chư hầu chống lại. Tấn hầu bị ốm, đến sau, gặp Tể Khổng. Tể Khổng nói: “Tề hầu thật kiêu ngạo, ngài không cần phải đến họp.” [Tấn hầu] nghe theo. Năm ấy, Tấn Hiến công chết, Lý Khắc giết Hề Tề và Trác tử, Tần Mục công nhờ mối quan hệ của phu nhân [là Mục cơ] nên đưa công tử Di Ngô về nước lập làm Tấn quân. Thế rồi Hoàn công sang dẹp loạn ở nước Tấn, đến đất Cao Lương, sai Thấp Bằng lập Tấn quân, rồi mới về.
Lúc bấy giờ, nhà Chu suy vi, chỉ có Tề, Sở, Tần, Tấn là cường mạnh. Tấn mới tham dự hội minh thì Tấn Hiến công chết, trong nước có loạn. Tần Mục công ở chỗ xa xôi hẻo lánh, không tham dự hội minh cùng các nước ở Trung nguyên được. Sở Thành vương mới thu phục và chiếm được đất Kinh Man, tự [lập quốc] ở vùng Di Địch. Chỉ riêng nước Tề dự hội minh ở Trung nguyên, mà Hoàn công là người có thể phát dương chính đức của nhà Chu, vì vậy chư hầu mới tin phục mà dự hội minh. Do đó, Hoàn công tự xưng rằng: “Quả nhân nam phạt đến Thiệu Lăng, trông thấy núi Hùng Sơn; bắc chinh phạt Sơn Nhung, Ly Chi, Cô Trúc; tây chinh phạt Đại Hạ, băng qua Lưu Sa; bọc chắc chân ngựa, gắn chắc bánh xe[22], lên núi Thái Hàng, đến tận núi Ty Nhĩ[23] mới về. Chư hầu không nước nào dám trái ý quả nhân. Quả nhân dùng binh xa để hội thề ba lần, ngồi xe để hội thề sáu lần, chín lần hội họp chư hầu, một phen sửa sang thiên hạ[24]. Xưa Tam đại[25] nhận mệnh trời, có khác gì ta bây giờ? Ta muốn tế Phong ở Thái Sơn, tế Thiện ở núi Lương Phủ[26].” Quản Trọng ra sức can ngăn, Hoàn công không nghe; bèn thuyết phục Hoàn công phải có những đồ trân quý, kỳ lạ từ phương xa thì mới được làm lễ tế Phong, Hoàn công mới thôi.
Năm thứ ba mươi tám, em trai của Chu Tương vương là Đại hợp mưu với rợ Nhung, Địch để đánh nhà Chu, nước Tề sai Quản Trọng dẹp loạn người Nhung ở nước Chu. Nhà Chu muốn dùng lễ Thượng khanh để đãi Quản Trọng, Quản Trọng dập đầu đáp: “Thần là kẻ bồi thần, nào dám!” Ba lần thoái thác rồi mới chịu dùng lễ Hạ khanh để ra mắt [thiên tử]. Năm thứ ba mươi chín, em trai của Chu Tương vương là Đái chạy sang nước Tề. Nước Tề sai Trọng Tôn thỉnh cầu Chu vương, tạ tội thay cho Đái. Tương vương nổi giận, không nghe.
Năm thứ bốn mươi mốt, Tần Mục công bắt sống được Tấn Huệ công, rồi lại cho về. Năm ấy, Quản Trọng, Thấp Bằng đều qua đời. Quản Trọng bị ốm, Hoàn công hỏi rằng: “Trong các bề tôi, ai có thể làm Tướng quốc?” Quản Trọng đáp: “Biết bề tôi, không ai bằng nhà vua.” Hoàn công hỏi: “Dịch Nha thế nào?” Đáp rằng: “Giết con để làm vừa lòng nhà vua, không hợp lẽ nhân tình, không được.” Hoàn công hỏi: “Khai Phương thì sao?” Đáp rằng: “Phản bội người thân để làm vừa lòng nhà vua, không hợp lẽ nhân tình, khó gần được.” Hoàn công hỏi: “Thụ Điêu thì sao?” Đáp rằng: “Tự thiến để làm vừa lòng nhà vua, không hợp lẽ nhân tình, khó thân được.” Quản Trọng chết, nhưng Hoàn công không nghe lời của Quản Trọng, rốt cuộc vẫn thân cận và trọng dụng ba kẻ ấy, ba kẻ ấy chuyên quyền.
Năm thứ bốn mươi hai, người Nhung chinh phạt nhà Chu, nhà Chu cấp báo với nước Tề, nước Tề sai chư hầu cùng cất quân bảo vệ nhà Chu. Năm ấy, công tử Trùng Nhĩ nước Tấn đến, Hoàn công gả con gái cho.
Năm thứ bốn mươi ba, hồi trước, Tề Hoàn công có ba vị [chính thất] phu nhân là: Vương cơ, Từ cơ, Sái cơ, đều không có con. Hoàn công thích các nữ quan[27] trong cung, sủng ái rất nhiều người, [đối xử] như với phu nhân thì có sáu người: Trưởng Vệ cơ sinh ra Vô Quỷ; Thiếu Vệ cơ sinh ra Huệ công là Nguyên; Trịnh cơ sinh ra Hiếu công là Chiêu; Cát Doanh sinh ra Chiêu công là Phan; Mật cơ sinh ra Ý công là Thương Nhân; Tống Hoa Tử sinh ra công tử Ung. Hoàn công và Quản Trọng đem Hiếu công gửi gắm Tống Tương công, cho làm Thái tử. Ung Vu[28] được Vệ Cung cư[29] sủng ái, thông qua hoạn quan Thụ Điêu để dâng hậu lễ lên Hoàn công nên [Vệ Cung cơ] cũng được [Hoàn công] tin yêu, Hoàn công đồng ý lập Vô Quỷ lên ngôi[30]. Quản Trọng chết đi, cả năm công tử [còn lại] đều muốn được lên ngôi. Ngày Ất Hợi tháng Mười, mùa đông, Tề Hoàn công chết. Dịch Nha vào cung, cùng Thụ Điêu dựa vào các sủng thần ở nội cung[31] giết chết nhiều đại phu, rồi lập công tử Vô Quỷ làm vua. Thái tử Chiêu chạy sang nước Tống.
[Khi] Hoàn công ốm, năm công tử ai nấy đều tự lập bè đảng để tranh ngôi vua. Đến khi Hoàn công chết, liền đánh lẫn nhau, vì vậy trong cung trống không, chẳng ai dám khâm liệm nhập quan. Thi thể Hoàn công trên giường sáu mươi bảy ngày, giòi bọ bò ra tận cửa. Ngày Ất Hợi tháng Mười Hai, Vô Quỷ lên ngôi mới cho làm khâm liệm nhập quan rồi phát tang. Đêm ngày Tân Tỵ [mới xong việc] khâm liệm và quàn lại.
Hoàn công có hơn mười người con trai, sau này có năm người được chọn lên ngôi: Vô Quỷ lên ngôi được ba tháng thì chết, không có tên thụy; kế đến Hiếu công; tiếp đến Chiêu công; rồi Ý công; rồi Huệ công. Tháng Ba, năm Hiếu công thứ nhất, Tống Tương công thống lĩnh quân chư hầu đưa Thái tử nước Tề là Chiêu về để chinh phạt nước Tề. Người Tề lo sợ, giết vua của mình là Vô Quỷ. Người Tề định lập Thái tử Chiêu lên ngôi, thì đồ đảng của bốn công tử còn lại liền tấn công Thái tử, Thái tử chạy sang nước Tống, nước Tống bèn giao chiến với bốn công tử nước Tề. Tháng Năm, quân Tống đánh bại quân của bốn công tử rồi lập Thái tử Chiêu lên ngôi, đó là Tề Hiếu công. [Trước đây] do Tề Hoàn công và Quản Trọng gửi gắm Thái tử cho nước Tống, cho nên [nước Tống] mới sang chinh phạt [nước Tề]. Vì có nội loạn, [nên tới tận] tháng Tám Tề Hoàn công mới được chôn cất.
Năm thứ sáu, mùa xuân, nước Tề chinh phạt nước Tống, vì nước Tống không tham gia hội minh với nước Tề[32]. Mùa hạ, Tống Tương công chết. Năm thứ bảy, Tấn Văn công lên ngôi.
Năm thứ mười, Hiếu công chết, em trai của Hiếu công là Phan dựa vào công tử Khai Phương nước Vệ giết các con của Hiếu công để lên ngôi, đó là Chiêu công. Chiêu cũng là con của Hoàn công, mẹ là Cát Doanh.
Chiêu công năm đầu, Tấn Văn công đánh bại quân Sở ở Thành Bộc, rồi hội minh với chư hầu ở Tiễn Thổ, vào chầu nhà Chu, thiên tử cho nước Tấn làm bá. Năm thứ sáu, nước Địch xâm phạm nước Tề. Tấn Văn công chết. Quân Tần thua ở Hào Sơn. Năm thứ mười hai, Tần Mục công chết.
Tháng Năm năm thứ mười chín, Chiêu công qua đời, con là Xá lên ngôi vua Tề. Do mẹ của Xá không được Chiêu công sủng ái nên người trong nước không nể sợ. Kể từ sau khi Hoàn công mất, em của Chiêu công là Thương Nhân tranh ngôi vua không được nên ngầm kết giao hiền sĩ, yêu quý vỗ về trăm họ, trăm họ đều vui. Đến khi Chiêu công qua đời, con là Xá lên ngôi vua, đơn độc yếu thế, [Thương Nhân] liền tập trung đồ đảng vào tháng Mười giết Tề quân là Xá ngay trên mộ [Chiêu công], rồi Thương Nhân tự lên ngôi, đó là Ý công. Ý công là con của Hoàn công, mẹ là Mật cơ.
Mùa xuân năm Ý công thứ tư, hồi trước, khi Ý công còn là công tử, thường cùng cha của Bính Nhung đi săn, không tranh được vật phẩm săn về, đến khi lên ngôi liền chặt chân cha của Bính Nhung, rồi bắt Bính Nhung làm phu đánh xe. Vợ của Dung Chức xinh đẹp, Ý công đưa vào trong cung, cho Dung Chức làm Tham thừa[33]. Tháng Năm, Ý công du ngoạn ở Thân Trì, Bính Nhung và Dung Chức cùng tắm, đùa nhau. Chức nói: “Con của kẻ cụt chân!”, Nhung nói: “Thằng bị mất vợ!” Hai người đều thẹn sau câu nói đó, bèn sinh lòng oán hận. [Hai người] cùng bàn mưu khi theo Ý công dạo chơi trong rừng trúc, sẽ giết Ý công trên xe, vứt xác vào bụi trúc rồi bỏ trốn.
Ý công sau khi lên ngôi, kiêu ngạo, dân chúng không theo. [Do đó] người Tề phế bỏ con của Ý công rồi đón công tử Nguyên nước Vệ về, lập [Nguyên] lên ngôi, đó là Huệ công. Huệ công là con của Hoàn công. Mẹ Huệ công là người con gái nước Vệ, gọi là Thiếu Vệ cơ, vì tránh loạn nước Tề nên mới ở nước Vệ.
Huệ công năm thứ hai, rợ Trường Địch đến, Vương tử Thành Phủ đánh giết Trường Địch, chôn xác ở cửa Bắc. Triệu Xuyên nước Tấn giết vua nước mình là Linh công.
Năm thứ mười, Huệ công chết, con là Khoảnh công Vô Dã lên thay. Ban đầu, Thôi Trữ được Huệ công sủng ái, [sau khi] Huệ công chết, họ Cao, họ Quốc sợ bị bức hại bèn xua đuổi ông ta, Thôi Trữ chạy sang nước Vệ.
Khoảnh công năm đầu, Sở Trang vương mạnh lên, chinh phạt nước Trần; năm thứ hai, bao vây nước Trịnh, Trịnh bá đầu hàng, sau lại cho khôi phục nước cho Trịnh bá.
Mùa xuân năm thứ sáu, nước Tấn sai Khích Khắc đi sứ nước Tề, Tề Khoảnh công cho phu nhân ngồi trong rèm để xem. Khích Khắc bước lên điện, phu nhân bật cười. Khích Khắc nói: “Không báo được nhục này, [thề] không bước qua Hoàng Hà nữa!” Đoạn ra về, xin chinh phạt nước Tề, Tấn hầu không nghe. Sứ giả nước Tề đến nước Tấn, Khích Khắc bắt bốn sứ giả nước Tề tại Hà Nội rồi giết đi. Năm thứ tám, nước Tấn chinh phạt nước Tề, nước Tề cho công tử Cường sang làm con tin ở nước Tấn, quân Tấn rút. Mùa xuân năm thứ mười, nước Tề chinh phạt nước Lỗ, nước Vệ. Đại phu nước Lỗ, nước Vệ sang nước Tấn xin quân, đều thông qua Khích Khắc. Nước Tấn sai Khích Khắc chỉ huy Trung quân đem theo 800 chiến xa[34], Sĩ Nhiếp chỉ huy Thượng quân, Loan Thư chỉ huy Hạ quân, để cứu nước Lỗ và nước Vệ, rồi chinh phạt nước Tề. Ngày Nhâm Thân tháng Sáu, [quân Tấn] gặp quân của Tề hầu dưới núi Mỹ Kê. Ngày Quý Dậu, bày trận ở đất Yên. Phùng Sửu Phủ làm hộ vệ bên phải của Tề Khoảnh công. Khoảnh công nói: “Phóng ngựa sang trận địch, phá quân Tấn rồi sẽ cùng nhau ăn uống.” Bắn Khích Khắc bị thương, máu chảy xuống tận giày. Khắc định rút vào doanh lũy, người đánh xe nói: “Tôi mới vào trận đã bị thương hai lần, nhưng không dám kêu đau, e làm sĩ tốt sợ hãi, mong ngài cố chịu.” bèn quay lại đánh tiếp. Đánh tiếp, quân Tề nguy cấp, Sửu Phủ sợ Tề hầu bị bắt, bèn đổi chỗ, Khoảnh công làm hộ vệ bên phải, xe bị vướng vào cây nên phải dừng lại. Viên tiểu tướng nước Tấn là Hàn Quyết phục xuống trước xe của Tề hầu, nói rằng: “Vua nước thần sai thần cứu nước Lỗ, nước Vệ” để bỡn cợt. Sửu Phủ bảo Khoảnh công xuống xe lấy nước, [Khoảnh công] nhân thế trốn chạy, thoát được, về lại trong doanh quân Tề. Khích Khắc nước Tấn muốn giết Sửu Phủ. Sửu Phủ nói: “Chết thay cho vua mà lại bị giết, về sau kẻ làm bề tôi chẳng ai còn dám trung với vua nữa.” Khắc tha cho, Sửu Phủ bèn trốn được về nước Tề. Thế rồi quân Tấn đuổi theo quân Tề tới Mã Lăng. Tề hầu đề nghị dùng đồ quý báu để tạ lỗi, [nước Tấn] không nghe, nhất định đòi con gái của Tiêu Đồng Thúc[35], là người đã cười cợt Khích Khắc trước kia và bắt nước Tề phải đổi sang ruộng hướng đông[36]. Đáp rằng: “Con gái của Đồng Thúc chính là mẹ của Tề quân. Mẹ của Tề quân cũng như mẹ của Tấn quân, ngài định sắp đặt thế nào? Huống hồ ngài dựa vào nghĩa để chinh phạt vậy mà sau lại muốn làm việc bạo ngược, thế có được không?” Vì vậy [nước Tấn] mới đồng ý [nhận đồ quý báu], rồi sai trả lại các đất đã cướp của nước Lỗ, nước Vệ.
Năm thứ mười một, nước Tấn bắt đầu thiết lập lục khanh, khao thưởng chiến công ở đất Yên. Tề Khoảnh công sang chầu nước Tấn, muốn tôn Tấn Cảnh công tước vương, Tấn Cảnh công không dám nhận, đoạn [vua Tề] trở về. Sau khi về nước, Khoảnh công liền cho bỏ vườn cảnh thú nuôi, giảm nhẹ thuế khóa, chẩn tế kẻ côi cút, thăm hỏi người ốm đau, dốc kho tàng để cứu dân, dân chúng cả mừng. [Khoảnh công] dùng hậu lễ để giao đãi chư hầu. Cho tới khi Khoảnh công chết, trăm họ đều thân gần, chư hầu không đến xâm phạm.
Năm thứ mười bảy, Khoảnh công chết, con là Linh Công Hoàn lên thay.
Linh công năm thứ chín, Loạn Thư nước Tấn giết vua nước mình là Lệ công. Năm thứ mười, Tấn Điệu Công chinh phạt nước Tề, Tề Hoàn lệnh cho công tử Quang sang nước Tấn làm con tin. Năm thứ mười chín, [nước Tề] lập công tử Quang làm Thái tử, cho Cao Hậu phụ tá [Quang], rồi lệnh [hai người] hội minh với chư hầu đất Chung Ly. Năm thứ hai mươi bảy, nước Tấn sai Trung Hàng Hiến tử chinh phạt nước Tề. Quân Tề thua, Linh công chạy vào Lâm Truy. Yến Anh ngăn Linh công, Linh công không nghe theo. [Yến Anh quở] rằng: “Vua mà chả có chút dũng khí nào?” Quân Tấn bèn bao vây Lâm Truy, quân giữ thành Lâm Truy không dám ra, quân Tấn đốt thành ngoài rồi rút đi.
Năm thứ hai mươi tám, hồi trước, Linh công lấy người con gái nước Lỗ, sinh ra con là Quang, cho làm Thái tử. [Linh công lại lấy] Trọng cơ, Nhung cơ. Nhung cơ Vốn hèn kém mà được vua sủng ái, Trọng cơ sinh con trai là Nha, gửi gắm cho Nhung cơ. Nhung cơ xin [Linh công cho Nha] làm Thái tử, Linh công nghe theo. Trọng cơ nói: “Không được. [Nhà vua đã] lập Quang [làm Thái tử], liệt vào hàng chư hầu rồi, nay vô cớ phế đi, nhà vua tất phải hối hận.” Linh công nói: “Tất cả do ở ta thôi.” Đoạn dời Thái tử Quang sang phía đông, sai Cao Hậu phò tá Nha làm Thái tử. Linh công ốm, Thôi Trữ bèn đón Thái tử Quang trước đây rồi lập làm vua, đó là Trang công. Trang công giết Nhung cơ. Ngày Nhâm Thìn tháng Năm, Linh công qua đời, Trang công lên ngôi, bắt Thái tử Nha ở gò Câu Đậu, rồi giết đi. Tháng Tám, Thôi Trữ giết Cao Hậu. Nước Tấn nghe tin nước Tề có loạn, liền chinh phạt Tề, kéo tới Cao Đường.
Trang công năm thứ ba, đại phu nước Tấn là Loan Doanh trốn chạy sang nước Tề, Trang Công hậu đãi như khách. Yến Anh, Điền Văn tử can gián, nhưng Trang công không nghe. Năm thứ tư, Tề Trang công sai Loan Doanh nhân cơ hội bí mật vào Khúc Ốc nước Tấn làm nội ứng, để quân binh đánh vào theo, lên núi Thái Hàng, vào cửa Mạnh Môn. Loan Doanh thất bại, quân Tề rút về, chiếm được ấp Triều Ca.
Năm thứ sáu, trước đây, vợ của Đường công xinh đẹp, nên sau khi Đường công chết, Thôi Trữ đoạt lấy nàng. Trang công tư thông với vợ của Thôi Trữ, nhiều lần đến nhà họ Thôi, còn đem mũ của Thôi Trữ ban cho người khác. Thị tòng [thấy thế] nói rằng: “Không được.” Thôi Trữ nổi giận, nhân lúc Tề Trang công chinh phạt Tấn, muốn hợp mưu cùng nước Tấn để đánh úp nước Tề mà chưa tìm được cơ hội. Trang công từng đánh đòn tên hoạn quan Giả Cử, Giả Cử lại được cho vào hầu, giúp Thôi Trữ dò xét sơ hở của Trang công để báo oán. Tháng Năm, Cử tử vào chầu nước Tề, Tề Trang công thết tiệc ngày Giáp Tuất. Thôi Trữ thác bệnh không đến lo việc. Ngày Ất Hợi, Trang công đến thăm bệnh Thôi Trữ, đoạn đi theo vợ Thôi Trữ. Vợ Thôi Trữ vào trong nhà, cùng Thôi Trữ đóng chặt cửa không cho Trang công ra, Trang Công ôm cột nhà mà hát. Hoạn quan Giả Cử ngăn các cận thần và tùy tòng đi theo Trang công, rồi tự vào trong, đóng cửa lại. Đồ đảng của Thôi Trữ cầm binh khí từ trong nhà xông ra. Trang công lên đài cao rồi xin hòa giải, [bọn Thôi Trữ] không nghe; xin lập lời thề, [bọn Thôi Trữ] không chịu; xin tự sát ở trong miếu đường, [bọn Thôi Trữ] không chấp thuận. Chúng đều nói: “Bề tôi của nhà vua là Trữ đang bệnh nặng, không thể nghe mệnh. Nơi này gần cung vua. Bọn bồi thần đến để bắt kẻ dâm loạn, không biết mệnh lệnh nào khác [ngoài lệnh của Thôi Trữ].” Trang công trèo qua tường, bị bắn tên trúng vào đùi, Trang công rơi trở lại, bèn bị giết. Yến Anh đứng ngoài cổng nhà Thôi Trữ, nói: “Vua chết vì xã tắc thì bề tôi chết theo, bỏ trốn vì xã tắc thì bề tôi bỏ trốn theo. Nhược bằng chết vì bản thân, bỏ chạy vì bản thân thì không phải người thân tín, ai dám đi theo.” Cổng mở rồi đi vào, gối lên thây Trang công mà khóc, nhảy lên ba lần[37] rồi đi ra. Có người bảo Thôi Trữ: “Phải giết hắn đi.” Thôi Trữ nói: “Người đó được dân chúng trọng vọng, tha cho hắn để được lòng dân.”
Ngày Đinh Sửu, Thôi Trữ lập em khác mẹ của Trang Công là Chử Cữu lên ngôi, đó là Cảnh công. Mẹ của Cảnh công là con gái của Thúc Tôn Tuyên bá nước Lỗ. Cảnh công lên ngôi, lấy Thôi Trữ làm Hữu tướng, Khánh Phong làm Tả tướng. Hai Tướng quốc sợ nội loạn nổi lên, bèn cùng người trong nước thề rằng: “Ai không theo Thôi, Khánh thì chết!” Yến tử ngẩng nhìn trời cao, nói: “Anh này không làm được, chỉ theo người trung với vua, làm lợi cho xã tắc mà thôi!” Không chịu thề. Khánh Phong muốn giết Yến tử, Thôi Trữ bảo: “Đó là trung thần, tha cho ông ta đi.” Quan Thái sử nước Tề chép rằng: “Thôi Trữ thí[38] Trang công.” Thôi Trữ bèn giết đi. Người em của quan Thái sử lại viết [đúng như thế], Thôi Trữ lại giết đi. Người em út [của quan Thái sử] lại viết, Thôi Trữ đành tha cho.
Cảnh công năm đầu, hồi trước, Thôi Trữ sinh được con trai là Thành và Cương, người mẹ của chúng chết, [Thôi Trữ] mới lấy người đàn bà họ Đông Quách[39], sinh ra Minh. Người đàn bà họ Đông Quách bắt con trai của chồng trước là Vô Cữu và em trai là Yển phò tá họ Thôi. Thành mắc tội, hai người [Vô Cữu và Yển] vội trị tội, lập Minh làm con đích. Thành xin sống đến già ở ấp Thôi, Thôi Trữ đồng ý, nhưng hai người kia không nghe, nói: “Thôi là ấp của tổ tông, không được.” Thành và Cương nổi giận, bèn nói với Khánh Phong. Khánh Phong và Thôi Trữ có hiềm khích, muốn trừ khử lẫn nhau. Thành và Cương giết Vô Cữu và Yển ở trong nhà Thôi Trữ, người nhà đều bỏ chạy. Thôi Trữ nổi giận, không có ai ở cạnh, liền sai một viên hoạn quan đánh xe, gặp Khánh Phong. Khánh Phong bảo rằng: “Ta xin vì ngài mà giết chúng đi.” Đoạn sai người có thù với Thôi Trữ là Lư Bồ Miết tấn công nhà họ Thôi, giết Thành và Cương, tận diệt nhà họ Thôi, vợ Thôi Trữ tự sát. Thôi Trữ không còn chỗ nào để về, cũng tự sát. Khánh Phong làm Tướng quốc, chuyên quyền.
Tháng Mười năm thứ ba, Khánh Phong ra ngoài đi săn. Lúc trước, Khánh Phong đã giết Thôi Trữ[40], ngày càng kiêu ngạo, ham rượu, thích săn bắn, không nghe chính lệnh. [Con là] Khánh Xá nắm chính sự, đã có hiềm khích nội bộ [từ trước]. Điền Văn tử bảo Hoàn tử rằng: “Sắp có loạn rồi.” Các họ Điền, Bão, Cao, Loan cùng nhau hợp mưu diệt trừ họ Khánh, Khánh Xá sai giáp sĩ bao vây quanh cung phủ của Khánh Phong, đồ đảng bốn nhà cùng đánh phá. Khánh Phong trở về, không thể vào được, liền trốn chạy sang nước Lỗ. Người Tề trách nước Lỗ, Khánh Phong lại chạy sang nước Ngô. Nước Ngô ban cho Khánh Phong đất Chu Phương, nhóm họp người trong họ để ở, giàu có còn hơn khi ở nước Tề. Mùa thu năm ấy, người Tề cải táng cho Trang công, phơi thây [làm nhục] Thôi Trữ ở chợ để làm vui lòng dân.
Năm thứ chín, Cảnh công sai Yến Anh đi sứ nước Tấn, [Yến Anh] nói riêng với Thúc Hướng rằng: “Chính sự nước Tề rốt cuộc sẽ về tay họ Điền. Họ Điền tuy không có đức lớn nhưng đem việc công để mưu cầu cho việc nhà, có ơn đức với dân, được dân quý mến.” Năm thứ mười hai, Cảnh công sang nước Tấn, gặp Bình công, muốn cùng chinh phạt nước Yên. Năm thứ mười tám, Cảnh công lại đến nước Tấn, gặp Chiêu công. Năm thứ hai mươi sáu, [Cảnh công] đi săn ở bên ngoài thành của nước Lỗ, nhân đó vào nước Lỗ, cùng Yến Anh hỏi rõ về lễ của nước Lỗ. Năm thứ ba mươi mốt, Lỗ Chiêu công tránh họa nạn họ Quý, chạy sang nước Tề. Nước Tề muốn đem nghìn xã[41] để phong cho [Lỗ Chiêu công], Tử Gia can ngăn Chiêu công, Chiêu công bèn đề nghị nước Tề chinh phạt nước Lỗ, lấy thành Vận cho Chiêu công ở.
Năm thứ ba mươi hai, sao chổi xuất hiện. Cảnh công ngồi trên đài Bách Tẩm, than rằng: “Bề thế thay! Ai sẽ có được đài này?”[42] Quần thần đều khóc, Yến tử lại cười, Cảnh công tức giận. Yến tử tâu rằng: “Thần cười vì quần thần rất đỗi xu phụ.” Cảnh công bảo: “Sao chổi xuất hiện ở góc đông bắc, nhằm phân dã nước Tề, quả nhân lấy đó làm lo lắng.” Yến tử thưa: “Nhà vua có đài cao hào sâu, thuế liễm chỉ lo không thu được [tất cả từ dân], hình phạt chỉ e không đủ nặng [để cai trị dân], sao khách sắp xuất hiện gần, thì việc sao chổi có gì mà đáng lo?” Cảnh công hỏi: “Có phải làm lễ giải trừ không?” Yến tử đáp: “Nếu cầu cúng mà thần linh đến thì cũng có thể cầu cúng để trừ tai. Bách tính kêu khổ, oán than kể hàng vạn, mà nhà vua chỉ sai một người cầu đảo trừ tai, liệu có thể hơn được miệng của muôn người không?” Bấy giờ Cảnh công ham mê xây dựng cung thất, nuôi nhiều chó ngựa, vô cùng xa xỉ, nặng thuế má, lạm hình phạt, vì vậy Yến tử mới nhân việc này để can gián.
Năm thứ bốn mươi hai, Ngô vương Hạp Lư chinh phạt nước Sở, tiến vào Dĩnh đô.
Năm thứ bốn mươi bảy, Dương Hổ nước Lỗ tấn công vua nước mình, không thắng được, bỏ chạy sang nước Tề, xin nước Tề tiến đánh nước Lỗ. Bão tử can ngăn Cảnh công, đoạn cầm tù Dương Hổ. Dương Hổ trốn được, chạy sang nước Tấn.
Năm thứ bốn mươi tám, [Cảnh công] hội minh hữu hảo với Lỗ Định công ở Giáp Cốc. Lê Tư nói: “Khổng Khâu biết lễ nhưng nhu nhược, xin lệnh cho người Lai[43] đến tấu nhạc, thừa cơ bắt Lỗ quân, có thể đạt được ý đồ của ta.” Cảnh công lo Khổng Khâu phò tá nước Lỗ, e sẽ khiến [nước Lỗ] xưng bá, vì vậy nghe theo kế của Lê Tư. Lúc mới hội minh, tấu nhạc người Lai, Khổng tử theo bậc thềm đi lên, sai quan Hữu ty bắt người Lai chém đầu, đem lễ pháp ra trách Cảnh công. Cảnh công cả thẹn, đoạn phải trả lại các vùng đất đã chiếm của nước Lỗ để tạ lỗi, rồi bãi hội ra về. Năm ấy, Yến Anh chết.
Năm thứ năm mươi lăm, họ Phạm, họ Trung Hàng phản lại vua nước mình ở nước Tấn, bị vua Tấn đánh rất gấp, liền chạy đến [nước Tề] xin thóc. Điền Khất muốn [nhân thế] làm loạn, liên kết đảng với nghịch thần, thuyết phục Cảnh công rằng: “Họ Phạm, họ Trung Hàng nhiều lần có ơn đức với nước Tề, không thể không cứu.” [Cảnh công] bèn sai Khất chở thóc cho để cứu họ.
Năm thứ năm mươi tám, mùa hạ, con đích phu nhân Yên cơ của Cảnh công chết. Thiếp yêu của Cảnh công là Nhuế cơ sinh con trai là Thư, Thư còn nhỏ, mẹ Thư lại xuất thân thấp hèn, không có đức hạnh, các đại phu sợ [nhà vua sẽ chọn] Thư là người nối ngôi, mới thuyết phục chọn người lớn tuổi, hiền đức trong các công tử để làm Thái tử. Cảnh công già, ghét nhắc đến chuyện nối dõi, lại yêu mẹ của Thư, muốn lập Thư, nhưng lại sợ phải mở miệng nói ra điều đó, bèn bảo các đại phu rằng: “Hãy vui lên, sao phải lo nước không có vua?” Mùa thu, Cảnh công ốm, truyền mệnh cho Quốc Huệ tử, Cao Chiêu tử lập con nhỏ là Thư lên làm Thái tử, đuổi các công tử, bắt dời đến ấp Lai. Cảnh công chết đi, Thái tử Thư lên ngôi, đó là Yến Nhụ tử. Mùa đông, chưa táng [Cảnh công], nhưng các công tử sợ bị giết, đều bỏ trốn. Các công tử là anh khác mẹ của Thư là Thọ, Câu, Kiềm chạy sang nước Vệ; công tử Tư, Dương Sinh chạy sang nước Lỗ. Người nước Lai hát rằng: “Cảnh công chết chừ chửa dự tang, ba quân đại sự chừ lấy ai bàn; các con chừ, các con chừ, đồ đảng đều tan?”
Mùa xuân năm Yến Nhụ tử thứ nhất, Điền Khất giả cách phụng sự họ Cao, họ Quốc, mỗi lần vào chầu, Khất đều [ngồi ở vị trí] Tham thừa [bên phải xe], nói rằng: “Ngài được nhà vua yêu, các đại phu đều lo sợ, muốn mưu làm loạn đấy.” Rồi lại bảo các đại phu rằng: “Cao Chiêu tử đáng lo, nên [thừa lúc hắn] chưa dấy loạn, phải ra tay trước.” Các đại phu đều nghe theo. Tháng Sáu, Điền Khất, Bão Mục bèn cùng các đại phu đem quân vào cung vua, tấn công Cao Chiêu tử. Chiêu tử nghe tin, cùng Quốc Huệ tử đến cứu Yến Nhụ tử. Quân của Yến Nhụ tử thua, đồ đảng của Điền Khất đuổi theo, Quốc Huệ tử chạy sang nước Cử, [đồ đảng của Điền Khất] bèn quay lại giết Cao Chiêu tử. Yến Ngữ [con của Yến Anh] chạy sang nước Lỗ. Tháng Tám, Bỉnh Ý Tư[44] nước Tề [cũng chạy sang Lỗ]. Điền Khất đánh bại hai Tướng quốc, đoạn sai người sang nước Lỗ triệu vời công tử Dương Sinh. Dương Sinh về đến nước Tề, ngầm trốn trong nhà Điền Khất. Ngày Mậu Tý tháng Mười, Điền Khất mời các đại phu đến, nói rằng: “Mẹ của Thường có cá, đậu làm lễ tế[45], hy vọng chư vị đến cùng yến ẩm.” Trong tiệc rượu, Điền Khất để Dương Sinh vào trong bao, đặt ở giữa nhà, rồi mở bao cho Dương Sinh ra, bảo: “Đây mới chính là Tề quân!” Các đại phu đều phủ phục bái yết. [Điền Khất] định cùng các đại phu uống máu ăn thề rồi lập Dương Sinh lên ngôi, [thấy] Bão Mục say rượu, Khất liền lừa các đại phu rằng: “Ta và Bão Mục cùng mưu lập Dương Sinh.” Bão Mục nổi giận quát: “Ngài quên di mệnh của Cảnh công rồi sao?” Các đại phu nhìn nhau ra chiều hối hận, Dương Sinh tiến lên trước, dập đầu nói: “Đáng lập thì lập, không đáng lập thì thôi.” Bão Mục sợ vạ đến, mới nói lại rằng: “Đều là con của Cảnh công cả, có gì mà không được chứ.” Đoạn cùng thề, lập Dương Sinh lên ngôi, đó là Điệu công. Điệu công vào cung, sai người đày Yến Nhụ tử đến đất Thai, rồi giết ngay ở trong trướng [trên đường đi], còn đuổi mẹ của Nhụ tử là Nhuế tử đi. Nhuế tử vốn xuất thân hèn hạ mà Nhụ tử còn nhỏ, vì vậy không có quyền thế, người trong nước đều rẻ rúng.
Năm Điệu Công đầu tiên, nước Tề chinh phạt nước Lỗ, chiếm ấp Hoan, ấp Xiển. Hồi trước, Dương Sinh trốn ở nước Lỗ, Quý Khang tử đem em gái của mình gả cho [Dương Sinh]. Đến khi trở về lên ngôi, [Dương Sinh] sai người đến đón. Quý cơ và Quý Phường hầu[46] tư thông với nhau, biết rõ chuyện đó, nước Lỗ không dám cho Quý cơ về Tề, vì vậy nước Tề tiến đánh nước Lỗ, cuối cùng đón được Quý cơ. Quý cơ được sủng ái, nước Tề lại trả các đất đã xâm chiếm của nước Lỗ.
Bão tử và Điệu Công có hiềm khích, không thân thiết nhau. Năm thứ tư, nước Ngô, nước Lỗ chinh phạt phía nam nước Tề. Bão tử giết Điệu công, rồi chạy sang Ngô. Ngô vương Phù Sai khóc ngoài cửa quân doanh ba ngày, định theo đường biển vào hỏi tội nước Tề. Người Tề đánh bại, quân Ngô bèn rút. Triệu Ưởng nước Tấn chinh phạt nước Tề, tới ấp Lại rồi về. Người Tề cùng đồng thuận lập con của Điệu công là Nhâm lên ngôi, đó là Giản công.
Mùa xuân năm Giản công thứ tư, hồi trước, Giản công cùng cha là Dương Sinh đều ở nước Lỗ, [khi ấy] Giám Chỉ được sủng ái. Đến khi [Giản công] lên ngôi, sai [Giám Chỉ] coi chính sự. Điền Thành tử lo sợ, khi lên chầu thường nhìn dáo dác. Ngự Ưởng mới bảo Giản công rằng: “Điền, Giám không thể đứng cùng nhau, nhà vua nên lựa chọn.” [Giản công] không nghe. Tử Ngã[47] lên chầu vào buổi tối, bắt gặp Điền Nghịch giết người, liền bắt dẫn vào cung. Điền Thành tử đương [muốn có nước Tề nên] hòa mục [với người trong tông tộc], mới bảo Điền Nghịch giả bệnh rồi chuốc rượu cho người coi tù, chuốc cho say rồi giết người coi tù, [Điền Nghịch] trốn được ra ngoài. Tử Ngã liền mời ngành họ Điền[48] đến nhà trưởng họ Trần để giao ước cầu hòa. Trước đây, Điền Báo muốn làm gia thần của Tử Ngã, mới nhờ Công Tôn giới thiệu Báo [với Tử Ngã], sau Báo có tang nên lại thôi. Việc tang xong xuôi, [Tử Ngã] dùng Báo làm gia thần, [Báo] được Tử Ngã yêu mến. Tử Ngã bảo rằng: “Ta muốn đuổi hết ngành họ Điền đi để lập ngươi [lên làm trưởng tộc], được không?” Đáp rằng: “Tôi với ngành họ Điền là họ hàng xa. Hơn nữa, chẳng qua có vài người trái ý ngài, sao phải đuổi hết đi!” Đoạn cáo giác với Điền Thành tử. Tử Hàng bảo [Điền Thành tử] rằng: “Hắn được vua yêu, nếu không ra tay trước thì họa ắt đến ngài.” Tử Hàng vào ở trong cung của Giản công [để làm nội gián].
Ngày Nhâm Thân tháng Năm, mùa hạ, anh em Thành tử ngồi trên bến xe vào gặp Giản công. Tử Ngã ở trong trướng[49], bước ra đón, [anh em Thành tử liền] vào trong, rồi đóng cổng lại khiến Tử Ngã không vào được nữa. Đám hoạn quan [đem quân] ngăn lại, Tử Hàng giết đám hoạn quan. Giản công cùng thị thiếp đang uống rượu ở Đàn Đài, Thành tử muốn chuyển Giản công cùng thị thiếp trở vào tẩm cung. Giản công cầm qua định đâm [vì ngờ Thành tử có ý làm loạn], quan Thái sử là Tử Dư nói: “Ông ấy không làm việc bất lợi, sắp trừ hại [cho nhà vua] đấy.” Thành tử rời khỏi tẩm cung ra ở nhà kho, nghe nói Giản công còn giận, muốn bỏ trốn, bảo rằng: “Chỗ nào mà không có vua!” Tử Hàng tuốt kiếm rồi nói rằng: “Lần lữa là kẻ thù của công việc vậy. Ai không phải là dòng dõi Điền thị chứ? [Nếu ông trốn đi], ta không giết ông thì không phải với tông tộc Điền thị.” Thành tử mới thôi. Tử Ngã quay về, tụ tập đồ đảng tấn công vào các cửa lớn ngách trong cung, đều không thắng được, phải chạy ra ngoài. Điền thị [Thành tử] đuổi theo. Người ấp Phong Khâu bắt được Tử Ngã rồi báo cho Điền thị, giết Tử Ngã ở Quách Quan. Thành tử muốn giết Đại Lục Tử Phương, Điền Nghịch cầu xin [Thành tử] mới tha cho. Tử Phương viện dùng lệnh của Giản công để chặn lấy xe trên đường, ra khỏi Ung Môn. Điền Báo liền cấp xe cho, [Tử Phương] không nhận, nói: “Điền Nghịch cầu xin hộ ta, Điền Báo cấp xe cho ta, [như vậy là] ta có ý riêng với các người. Ta thờ Tử Ngã mà lại có ý riêng với kẻ thù [của Tử Ngã], còn mặt mũi nào nhìn kẻ sĩ nước Lỗ, nước Vệ nữa?”
Ngày Canh Thìn, Điền Thường bắt Giản công ở Từ Châu. Giản công bảo: “Ta sớm nghe lời Ngự Ưởng, đã không ra nông nỗi này.” Ngày Giáp Ngọ, Điền Thường giết Giản công ở Từ Châu. Điền Thường bèn lập em của Giản công là Ngạo lên làm vua, đó là Bình công. Bình công lên ngôi, Điền Thường làm Tướng quốc, thao túng chính sự nước Tề, cắt đất nước Tề từ ấp An Bình về phía đông làm ấp phong cho Điền thị.
Bình công năm thứ tám, nước Việt diệt nước Ngô. Năm thứ hai mươi lăm, [Bình công] chết, con là Tuyên công Tích lên ngôi. Tuyên công năm thứ năm mươi mốt thì chết, con là Khang công Thắc lên ngôi. Điền Hội làm phản ở huyện Lẫm Khâu.
Khang công năm thứ hai, nước Hàn, nước Ngụy, nước Triệu bắt đầu được liệt vào hàng chư hầu. Năm thứ mười chín, chắt của Điền Thường là Điền Hòa bắt đầu được liệt vào hàng chư hầu, đày Khang công đến bãi biển.
Năm thứ hai mươi sáu, Khang công chết, Lã thị liền bị dứt việc tế tự. Điền thị rốt cuộc có được nước Tề, làm Tề Uy vương, là nước hùng mạnh trong thiên hạ.
Thái sử công bàn rằng: Ta sang nước Tề, từ Thái Sơn liền đến Lang Da, phía bắc tiếp đến biển, đất đai phì nhiêu hai nghìn dặm, người dân khoáng đạt, tài trí bên trong không hiển lộ rõ ra bên ngoài, đó là thiên tính của họ vậy. Nhờ sự thánh minh của Thái công, xây dựng gốc của nước, sự thịnh trị của Hoàn công, sửa sang chính sự tốt đẹp, mới họp được chư hầu để hội minh, xưng bá, chẳng hợp lẽ lắm sao? Lớn lao thay, vốn là phong khí của nước lớn vậy![50]
[1] Ý nói là người có đạo đức, trí tuệ vượt trội hơn người.
[2] Tứ nhạc: cùng Thập nhị mục, là các chức quan phụ bật thời Đường-Ngu.
[3] Tây bá nhà Chu: tức Chu Văn vương.
[4] Người có học hành nhưng chỉ ở nhà, không chịu ra làm quan.
[5] Nước Ngu và nước Nhuế là hai nước nhỏ, tranh nhau ruộng đất, không bên nào chịu bên nào, nghe nói Tây bá nước Chu là người đức độ, công bằng, bèn sang nước Chu nhờ phân giải giúp. Đến nước Chu, thấy người cày nhường nhau bờ ruộng, phong tục tốt đẹp, thuần hậu, dân chúng kính nhường bậc tôn trưởng, chưa gặp Tây bá mà lòng đã tự thấy hổ thẹn, bèn bảo nhau: “Cái mà ta tranh giành, người nước Chu cho là điều sỉ nhục, còn đi làm gì nữa, chỉ chuốc lấy nhục nhã mà thôi”. Bèn bảo nhau trở về, từ đó giảng hòa, không còn tranh giành nhau nữa.
[6] Nguyên văn là Sư Thượng phụ, tôn xưng của Khương Thái Công Lã Vọng. Vũ vương tôn Thái công là thầy, nên gọi là Sư Thượng phụ.
[7] Thương hủy: chức quan phụ trách về thuyền bè. Đây chỉ các viên quan phụ trách về thủy quân.
[8] Thái thệ: sau thành một thiên trong Kinh Thư.
[9] Chỉ các bậc: Công, hầu, bá, tử, nam, đến các quân trưởng trong chín châu. Như vậy, nước Tề được giao đặc quyền, thay mặt thiên tử trong việc chinh phạt chư hầu.
[10] Sử ký sách ẩn chú: “Tống Trung viết rằng: Ai công hoang dâm, thích đi du hý bên ngoài, nhà chép sử (nước Tề) làm bài Hoàn thi để phóng thích ông ta”.
[11] Tức đại thần cùng hợp sức giải quyết chính sự, chứ không phải cộng hòa theo thể thức chính trị dân chủ. Chu Lệ vương vô đạo, dân chúng nổi lên chống đối, vì thế Lệ vương bỏ chạy, lưu vong đến ấp Trệ. Chính quyền do Chu Công, Thiệu Công cùng nhau chủ trì, cho nên gọi là “Cộng hòa”.
[12] Sử ký tập giải, Sử ký sách ẩn, Tả truyện, Đỗ Dự đều cho rằng: Ung Lâm 雍林 (viết cách khác là Lẫm 廪) là đại phu nước Tề ở đất Cừ Khâu.
[13] Ôn xa: là loại xe có màn che xung quanh và người ở trong xe có thể nằm được.
[14] Sử ký tập giải chú: còn viết cách khác là Băng 崩.
[15] Đây là một chế độ quân sự do Quản Trọng chế định. Căn cứ vào ghi chép trong Quốc ngữ phần “Tề ngữ” thì chế độ này quy định: 5 nhà là 1 quỹ, 10 quỹ là 1 lý, 4 lý là 1 liên, 10 liên là 1 hương. Khi xảy ra chiến tranh mỗi nhà xuất ra một lính, mỗi hương hai nghìn lính, lính của năm hương sẽ thành một quân, tổng là cả vạn người. Cả nước thiết đặt ba quân, gốc rễ cũng là từ đây mà ra, cho nên gọi là "liên kết quân binh của năm nhà”.
[16] Là “Khinh trọng pháp”, cũng gọi là “Khinh trong luận", chính sách của Quản Trọng liên quan đến tiền tệ.
[17] Quốc quân nước Đàm có tước “tử", nên Sử ký chép là Đàm tử.
[18] Công chính: chức quan trông coi các nghề, được thiết đặt tại các nước Tề, Tống, Lỗ thời Xuân Thu.
[19] Cỏ bao mao: một loại cỏ dùng trong nghi thức tế lễ của thiên tử nhà Chu.
[20] Chu Chiêu vương tuần thú phương Nam, đến Hán Thủy đi thuyền qua sông, chẳng may thuyền vỡ, Chiêu vương chết đuối, vương thất nhà Chu kiêng tránh việc đó, nên không đi báo tang cho chư hầu, chư hầu không biết nguyên do, Quản Trọng ở đây có ý trách móc nước Sở có liên quan đến cái chết của Chiêu vương. Sở vương cho rằng Chu Chiêu vương chết ở Hán, không thuộc biên cảnh nước Sở, nên không nhận tội.
[21] Nguyên văn là "đại lộ”, ý chỉ xe của chư hầu khi vào chầu thiên tử. Có sách giải thích là xe có trang trí bằng vàng.
[22] Ở đây chỉ đường đi vô cùng hiểm trở, khó khăn, nên phải cẩn thận để tránh ngựa và xe bị trơn ngã đổ xe.
[23] Cũng phiên là “Bích Nhĩ”.
[24] Xếp đặt cho Chu Tương vương làm Thái tử.
[25] Tam đại: chỉ ba triều Hạ, Thương và Chu.
[26] Tế Phong là lễ tế trời, tế Thiện là lễ tế thần đất, sông núi, đây là các lễ dành cho thiên tử, Tề Hoàn Công có ý tiếm dụng lễ dùng cho thiên tử nên Quản Trọng ra sức can ngăn.
[27] Nguyên văn là chữ nội 内. Sử ký tập giải chú là nữ quan. Tuy nhiên cũng có thuyết cho rằng nội ở đây là nữ sắc, tức Tề Hoàn công là người đam mê nữ sắc.
[28] Trong Sử ký tập giải, Giả Quy cho rằng Ung Vu, người đất Ung, tên là Vu, tự là Dịch Nha. Tuy nhiên Sử ký sách ẩn lại đưa ra giả thuyết có lẽ Ung Vu được nhắc đến ở đây là Thường vụ được nhắc đến trong Quản Tử.
[29] Tức Trưởng Vệ cơ.
[30] Bởi Dịch Nha vốn đã được Hoàn công sủng ái từ trước, vậy nên khi Dịch Nha vì Vệ Cung cơ xin lập Vô Quỷ lên ngôi thì Hoàn công liền đồng ý.
[31] Nguyên văn là Nội sủng, chỉ sáu nữ quan được Hoàn công sủng ái đối đãi như phu nhân.
[32] Lỗ Hy công năm thứ mười chín, chư hầu hội minh ở nước Tề, để ghi nhớ đức độ của Tề Hoàn công. Tuy nhiên Tống Tương công muốn thi hành đạo của bá vương, không tham gia hội minh, cho nên nước Tề mới tiến đánh.
[33] Tham thừa: Người xưa khi dùng xe, người đánh xe ngồi ở giữa, bậc tôn quý ngồi bên trái, thị vệ hoặc hầu cận ngồi bên phải, gọi là Tham thừa.
[34] Một chiến xa (thặng) phiên chế gồm 75 quân, 800 chiến xa tương đương với 6 vạn quân.
[35] Đồng Thúc là tên tự của Tiêu quân, ông ngoại của Tề hầu. Đây chỉ mẹ của Tề hầu.
[36] Ruộng theo hướng đông thì sau này, khi cần đánh Tề, xa mã nước Tấn dễ tiến sang đánh.
[37] Theo tang lễ thời Cổ, việc nhảy lên và than khóc cho người chết là để tỏ lòng thương xót, đau buồn. Phàm lúc mới chết, lúc tiểu liệm, lúc đại liệm đều khóc và nhảy lên, gọi là tam dũng (ba lần nhảy).
[38] Kẻ dưới giết người trên như con giết cha, tôi giết vua thì gọi là thí.
[39] Tức Đông Quách Khương. Khương là chị gái của Đông Quách Yển.
[40] Liền phía trên ghi là Thôi Trữ tự sát. Đây có lẽ ý nói sau khi diệt cả nhà Thôi Trữ, Thôi Trữ đã chết.
[41] Hai mươi lăm nhà là một xã. Nghìn xã tức hai vạn năm nghìn nhà.
[42] Cảnh công tự sợ mình đức bạc sẽ không thể sống lâu để hưởng phúc từ nước Tề.
[43] Chỉ người của di Lai bị nước Tề tiêu diệt.
[44] Là đại phu nước Tề.
[45] Thường tức Điền Thường, là con của Điền Khất. Theo phong tục nước Tề, phụ nữ chủ việc tế lễ. Cá, đậu ý chỉ những món đạm bạc, không phải cao lương mỹ vị.
[46] Quý Phường hầu là chú của Quý Khang tử.
[47] Tử Ngã là tên tự của Giám Chỉ.
[48] Ở đây phân biệt họ và ngành họ. Ngành họ Điền (Điền thị) là một nhánh nhỏ trong họ Trần (Trần tính). Tức là phạm vi của họ (tính) rất rộng lớn, có thể bao gồm rất nhiều ngành họ (thị) khác nhau.
[49] Chỉ nơi nghe chính sự.
[50] Quyển 32: “Tề Thái công thế gia” do Nguyễn Quang Duy dịch.