Người Nhật đã biến mất khỏi thị trấn của chúng tôi. Những ngôi nhà của họ bị bít kín, và giờ đây hoàn toàn trống rỗng. Những hộp thư của họ bắt đầu bị tràn. Những tờ báo không người nhận bay tứ tung, tạo ra cảnh bừa bãi trước cổng và trong vườn nhà họ. Những chiếc xe bỏ không đứng im lìm trên các lối đi dẫn vào nhà. Cỏ dại mọc tua tủa trên các thảm cỏ. Những bông hoa tulip héo rũ trong những mảnh sân sau. Những con mèo lạc đi lang thang. Những chiếc quần, những tấm áo của mẻ giặt cuối cùng vẫn được treo y nguyên trên dây phơi. Trong một căn bếp - bếp nhà Emi Saito - chiếc điện thoại màu đen vẫn đổ chuông liên hồi.
Ở Phố Chính, những tiệm giặt của họ vẫn đóng cửa im ỉm. Những tấm biển đề hai chữ Cho thuê được treo bên ngoài những ô cửa. Những tấm hóa đơn chưa thanh toán và những tờ biên nhận bay lả tả trong gió. Cửa hàng hoa của Murata giờ đây trở thành cửa hàng hoa của Kay. Khách sạn Yamato đã được đổi tên thành khách sạn Thiên Đường. Cuối tuần này nhà hàng Fuji sẽ mở cửa trở lại dưới sự quản lý của một ông chủ mới. Quán bi-da của Mikado vẫn đóng cửa. Cơ sở kinh doanh của Imanashi đã ngừng hoạt động. Cửa hàng rau quả của Harada cũng đóng cửa, và trên cánh cửa của cửa hàng có treo một tấm biển những chữ viết tay mà không ai trong chúng tôi có thể nhớ đã nhìn thấy ở đâu đó rồi - Thượng Đế sẽ ở bên bạn cho đến khi chúng ta gặp lại nhau. Và tất nhiên chúng tôi không thể không tự hỏi: Ai đã treo tấm biển ấy lên đó? Một trong số họ, những người ra đi chăng? Hay một trong số chúng tôi, những người ở lại? Và nếu tấm biển đó là do một người trong chúng tôi đã treo lên, thì người đó là ai? Chúng tôi tự hỏi khi áp mặt lên cửa kính, nhìn vào khoảng không gian tối om ở bên trong, nửa mong rằng ông Harada sẽ bất ngờ xuất hiện trong chiếc tạp dề màu xanh lục đã bạc từ phía sau chiếc bàn quầy, đon đả mời chúng tôi mua măng tây, mua dâu tây loại thượng hạng và những cành bạc hà tươi, nhưng cửa hàng hoàn toàn trống rỗng, chẳng có gì để nhìn cả. Những chiếc giá để hàng trống không, trơ trọi. Sàn nhà được quét dọn dẹp ngăn nắp và sạch sẽ từ bao giờ. Người Nhật đã đi thật rồi.
Ông thị trưởng đã quả quyết với chúng tôi rằng không có gì phải lo lắng hết. “Người Nhật hiện đang ở một nơi an toàn”, đó là lời ông ấy nói được trích dẫn từ báo Star Tribune sáng nay. Ông ấy không được phép tiết lộ nơi đó là nơi nào. “Nếu tôi tiết lộ nơi họ đang ở thì sự an toàn của họ sẽ bị đe dọa”. Nhưng nơi nào có thể an toàn hơn nơi này cơ chứ, vài người trong chúng tôi hỏi.
Tất nhiên người ta đồn đoán và đưa ra đủ mọi giả thuyết. Có lẽ người Nhật đã bị đưa tới những vùng thâm canh củ cải đường ở đâu đó - Montana hoặc Dakotas chẳng hạn, nơi các nông dân cần thêm lao động để giúp họ thu hoạch hoa màu trong vụ hè thu. Hoặc có lẽ ở một thành phố xa xôi nào đó người Nhật giả làm những người Trung Quốc mới đến sinh sống để không ai biết họ thực sự là ai. Có lẽ họ đang ở trong tù. “Nêu ý kiến của cá nhân tôi ư?” Một y tá quân đội về hưu đã từng làm việc trong lực lượng hải quân nói. “Tôi nghĩ họ đang ở ngoài biển, trên một con tàu chạy ngoằn ngoèo qua những quả ngư lôi. Họ được dồn lên tàu và được đưa về Nhật trong thời gian chiến tranh”. Một giáo viên ở một trường trung học nói rằng đêm nào cô cũng thao thức trong nỗi lo sợ trước điều tồi tệ nhất có thể xảy ra: họ bị nhốt trong những chiếc xe chở gia súc và họ sẽ không quay trở lại nữa, hoặc có lẽ họ bị đẩy lên một chiếc xe buýt không có cửa sổ và chiếc xe đó cứ chạy miết, không có ngày mai, không có tuần tới, hoặc họ được lệnh đi hàng một dọc theo một cây cầu gỗ và khi đến được đầu cầu bên kia thì tất cả họ biến mất. “Tôi luôn nghĩ đến những khả năng đó”, cô nói, “và tôi sẽ luôn nhớ - họ đã biến mất”.
Bạn có thể vẫn nhìn thấy những tờ thông báo được đóng đinh trên những cột điện thoại ở các góc đường, nhưng những tờ thông báo đó dần dần cũng bắt đầu phai màu, rách nát, và sau khi những cơn mưa nặng hạt của mùa xuân xuất hiện vào tuần trước thì chỉ những chữ to màu đen ở trên đầu những bản thông báo - Những hướng dẫn dành cho tất cả mọi người Nhật - là vẫn còn đọc được. Nhưng thực sự những bản thông báo ấy nói gì không người nào trong chúng tôi còn có thể nhớ được nữa. Một người đàn ông lờ mờ nhớ được một thông báo về việc cấm nuôi thú cưng và một thông báo nói về địa điểm khởi hành. “Tôi nghĩ đó là một địa điểm ở West Fifth Street”, ông nói. Nhưng không chắc lắm. Một người hầu bàn ở quán Blue Ribbon Dinner nói đã vài lần cô cố đọc bản thông báo buổi sáng nhưng cô không thể đến gần để đọc. “Tất cả các cột điện thoại đều được vây quanh bởi đám đông những người Nhật”, cô kể với chúng tôi. Điều khiến cô ngạc nhiên là tất cả mọi người đều lặng lẽ, không hề gây ồn ào. Họ bình tĩnh lắm. Cô nói, một số người Nhật lặng lẽ gật đầu. Những người khác tiếp nhận thông báo. Không ai nói một lời. Nhiều người trong số chúng tôi thừa nhận rằng mặc dù hàng ngày chúng tôi đi qua những bảng thông báo đó nhưng không một ai trong chúng tôi dừng lại đọc chúng. “Thông báo dành cho người Nhật chứ có phải cho chúng tôi đâu”, chúng tôi nói. “Tôi vội lắm, làm gì có thời gian để đọc”. “Tôi không thể hiểu được những bản thông báo đó nói gì bởi vì chữ nhỏ quá”.
Chính những đứa con của chúng tôi là những người bị tác động nhiều nhất bởi sự biến mất của người Nhật. Chúng hay cãi lời chúng tôi hơn trước. Chúng không chịu làm bài tập về nhà. Chúng lo âu. Chúng trở nên ồn ào, nhặng xị. Ban đêm những đứa can đảm nhất hoảng sợ khi đèn tắt. “Mỗi lần con nhắm mắt lại là con lại thấy họ”, một đứa trẻ nói. Một đứa khác đặt ra các câu hỏi. Nó hỏi rằng phải đi đâu để có thể tìm thấy họ? Nơi họ đến có trường học không? Nó nên làm gì với chiếc áo len của Lester Nakano? “Nên giữ chiếc áo lại hay vứt nó đi?” Ở trường tiểu học Lincoln toàn bộ học sinh lớp Hai tin rằng những bạn học người Nhật của chúng đã bị lạc trong rừng sâu. “Các bạn ấy ăn quả sồi, lá cây và có bạn quên mang áo khoác nên bị lạnh”, một bé gái nói. “Bạn ấy run cầm cập và khóc rấm rứt. Hoặc cũng có thể bạn ấy đã chết rồi”. “Bạn ấy chết rồi”, đứa bé trai ngồi bên cạnh nói. Giáo viên của những đứa trẻ ấy nói việc khó nhất trong ngày của họ bây giờ là điểm danh. Cô chỉ vào ba cái bàn trống: Oscar Tajima, Alice Okamoto, và người học trò cưng của cô, Delores Niwa. “Thật ngại”. Mỗi buổi sáng cô gọi tên các học trò người Nhật vắng mặt, nhưng tất nhiên, không có tiếng thưa. “Vậy nên ngày lại ngày tôi đánh dấu sự vắng mặt của chúng. Tôi còn có thể làm gì được nữa?” “Thật đáng xấu hổ”, người làm nhiệm vụ dẫn học sinh sang đường nói. “Chúng là những đứa trẻ ngoan ngoãn. Tôi nhớ chúng”.
Tuy nhiên trong cộng đồng của chúng tôi cũng có những người cảm thấy thoải mái khi thấy người Nhật biến mất. Bởi vì những người đó đã đọc những câu chuyện trên báo, đã nghe những lời đồn không hay về người Nhật, họ biết rằng vũ khí bí mật được giấu trong những hầm chứa lương thực của những người nông dân Nhật tại những thị trấn cách không xa thị trấn của chúng tôi, và mặc dù chúng tôi muốn tin rằng hầu hết, nếu không muốn nói là tất cả, người Nhật ở thị trấn của chúng tôi đều là những công dân tốt, đáng tin cậy, chúng tôi cũng không thể chắc chắn về sự trung thành tuyệt đối của họ. “Có quá nhiều điều về họ mà chúng tôi không biết”, một bà mẹ của năm đứa con nói. “Điều đó khiến tôi cảm thấy không được thoải mái. Tôi luôn cảm thấy như thể họ đang cố giấu giếm điều gì đó”. Khi được hỏi anh có cảm thấy an toàn khi sống ở nhà đối diện với gia đình Miyamoto ở bên kia đường hay không, một người công nhân tại một nhà máy sản xuất đá lạnh đáp: “Thực sự là không”. Anh giải thích, anh và vợ của anh luôn thận trọng trước những người Nhật bởi vì: “Chúng tôi không chắc chắn lắm. Có những người tốt, có những người xấu, tôi cho là vậy. Ai biết đâu mà lần”. Nhưng hầu hết chúng tôi đều nhận thấy thật khó để tin rằng những người hàng xóm cũ của mình lại có thể trở thành mối đe dọa đối với cộng đồng. Một người phụ nữ từng cho gia đình Nakamuras thuê nhà nói rằng họ là những người thuê nhà tốt bụng nhất mà bà từng biết. “Họ thân thiện. Lịch sự. Họ ăn ở rất sạch sẽ”. “Họ không sờ mó vào bất kỳ cái gì. Thậm chí một cái lọ hoa họ cũng không chạm tay vào”.
Chúng tôi bắt đầu nghe nói rằng đèn vẫn sáng trong một số ngôi nhà của người Nhật, hoặc nghe kể về những con vật đáng thương. Một con chim hoàng yến xác xơ thoáng hiện qua khung cửa sổ ở mặt trước căn nhà của gia đình Fujimoto. Một con cá chép chết nổi trong ao của nhà Yamaguchi. Và đâu đâu cũng có những con chó bị chủ bỏ lại. Chúng tôi mang cho những con vật đáng thương đó những bát nước, những mẩu bánh mỳ, những mẩu thức ăn thừa, thậm chí có người bán thịt mang cho chúng những mẩu thịt bê tươi. Con chó nhà Koyama chỉ hít ngửi một lát rồi lịch sự bỏ đi chỗ khác. Con chó nhà Ueda chạy sang nhà chúng tôi, và trước khi chúng tôi có thể giữ nó lại, nó đã chạy vụt ra khỏi cổng trước. Con chó nhà Nakanishi - một con chó sục giống Scốt-len trông giống hệt con chó đen mang tên Fala của Tổng thống - nhe hàm răng trắng nhởn ra, không cho chúng tôi đến gần. Nhưng những con chó khác chạy đến mừng chúng tôi, mặc dù chúng không quen biết chúng tôi, và theo chúng tôi về nhà, và trong vài ngày chúng tôi đã tìm được chủ mới cho chúng. Một gia đình nói rằng họ muốn nuôi một con chó Nhật. Vợ của một người lính trẻ vừa mới được gọi nhập ngũ mang Duke, con chó săn thỏ màu nâu vàng về nuôi và kể từ đó nó cứ bám gót cô nửa bước không rời. “Bây giờ con chó này là bảo vệ của tôi đấy”, cô nói. “Tôi và nó hợp nhau lắm”. Thỉnh thoảng, vào lúc nửa đêm, cô có thể nghe thấy tiếng con chó rên ư ử trong giấc ngủ và cô tự hỏi không biết có phải nó đang mơ thấy chủ cũ hay không.
Thế rồi chúng tôi mau chóng phát hiện ra rằng vài người Nhật vẫn còn ở lại với chúng tôi. Ông Hideo Kodama, một chủ chứa bạc vẫn đang bị giam tại nhà tù của hạt. Một phụ nữ mang thai đang nằm tại bệnh viện công cộng vì đã quá lịch sinh dự kiến những mười ngày mà chị vẫn chưa trở dạ. Đứa trẻ không muốn bị đẻ trên đường đó mà. Một phụ nữ ba mươi chín tuổi bị điên phải ở trong viện tâm thần, suốt cả ngày cứ mặc váy ngủ, đi dép lê lang thang khắp các hành lang của viện nói một mình bằng tiếng Nhật mà chẳng ai hiểu cô ta nói gì. Tiếng Anh thì cô ta chỉ biết nói từ “nước” và “về nhà”. Bác sĩ cho chúng tôi biết rằng hai mươi năm trước hai đứa con nhỏ của cô đã bị chết cháy trong một vụ hỏa hoạn trong khi cô ở ngoài cánh đồng với một người đàn ông khác. Ngày hôm sau chồng cô tự vẫn. Sau đó người tình của cô bỏ cô. “Và kể từ đó cô không còn như trước nữa”. Trong một thị trấn ở phía Nam, ở Clearview Sanitorium, một bé trai mười hai tuổi nằm li bì trên chiếc giường kê gần cửa sổ, đang chết dần vì bệnh lao cột sống. Cha mẹ của cậu bé đã đến thăm cậu lần cuối vào trước hôm họ buộc phải ra đi và giờ đây cậu chỉ còn lại một mình.
Mỗi ngày trôi qua những bảng thông báo trên các cột điện thoại lại trở nên mờ nhạt hơn. Và cho đến một buổi sáng, người ta không còn nhìn thấy bất kỳ bảng thông báo nào nữa, và chúng tôi có cảm giác thành phố trơ trụi, cứ như thể người Nhật chưa từng hiện diện ở nơi đây.
Hoa bìm bìm bắt đầu nở tràn lan trong vườn của người Nhật. Những dây kim ngân mọc đua ra dài ngoẵng. Bên dưới những hàng giậu không được xén tỉa những cái xẻng bị bỏ quên đã bắt đầu han gỉ. Một bông tử đinh hương bừng nở khoe sắc tím sẫm bên dưới ô cửa sổ nhà Oteros và ngày hôm sau đã biến mất. Một cây chanh trong vườn nhà Sawadas bị đào bật gốc. Những chiếc khóa cửa bị nạy khỏi những cánh cửa trước và cửa sau của những ngôi nhà mà người Nhật đã từng sống. Những chiếc xe hơi bị tháo các bộ phận. Những căn phòng áp mái bị lục soát. Những ống khói lò bị tháo rời. Những chiếc hộp, những chiếc rương, những chiếc hòm bị lôi ra khỏi những gian buồng kho và được chất lên những chiếc xe tải và bị chở đi trong đêm. Những nắm cửa, và những đồ lặt vặt biến mất dần. Ở Đại lộ số 3, trong một tiệm cầm đồ và những cửa hàng buôn bán đồ cũ, những món đồ của vùng Viễn Đông xuất hiện trong một thời gian ngắn trước khi chúng trở thành đồ vật của nhà chúng tôi. Một chiếc đèn lồng bằng đá xuất hiện giữa những cây đỗ quyên trong một khu vườn nổi tiếng nằm ở đường Mapleridge. Một bức tranh giấy cuộn được đưa vào thay thế một bức tranh khỏa thân trong một phòng khách ở Elm. Trong những tòa nhà nằm kề nhau, chúng tôi chợt nhận ra những tấm thảm phương Đông dưới chân mình. Và ở phía Tây thành phố giữa những bà mẹ trẻ ăn mặc hợp thời trang, những người hàng ngày hay lui tới những công viên, những chiếc trâm cài tóc hình chiếc đũa mà phụ nữ Nhật thường dùng bỗng trở thành mốt thịnh hành. “Tôi cố không băn khoăn chúng có xuất xứ từ đâu”, một bà mẹ vừa khẽ lắc chiếc xe nôi trong bóng râm ở công viên vừa nói. “Đôi khi không biết thì tốt hơn”.
Trong vài tuần một số người trong cộng đồng của chúng tôi vẫn nuôi hy vọng rằng người Nhật sẽ quay trở lại, bởi vì không ai nói rằng họ sẽ ra đi mãi mãi. Chúng tôi trông ngóng họ tại những trạm dừng xe buýt. Tại những cửa hàng hoa. Chúng tôi mong ngóng họ khi chúng tôi đi qua một tiệm sửa chữa đài ở Đại lộ số 2 nơi trước kia là cửa hàng cá của Nagamatsu. Chúng tôi thường liếc nhìn qua cửa sổ nhà mình bởi chúng tôi nghĩ, biết đâu đấy người làm vườn của chúng tôi sẽ quay trở lại, bất ngờ xuất hiện trong sân. Cũng có khả năng, dù không chắc chắn, Yoshi sẽ xuất hiện ở đó, đang thu lá khô. Chúng tôi tự hỏi liệu tất cả những gì đã xảy ra với họ có phải do lỗi của chúng tôi hay không. Đáng lẽ chúng tôi phải viết thư kiến nghị gửi Thị trưởng mới phải. Hoặc gửi Thống đốc bang. Thậm chí gửi Tổng thống. Xin hãy cho phép họ ở lại. Hoặc đơn giản chúng tôi nên gõ cửa nhà họ và đề nghị được giúp đỡ họ trong lúc khó khăn. Bây giờ, khi họ đi rồi, chúng tôi mới nghĩ “giá mà” trong tiếc nuối. Nhưng lần cuối cùng bất cứ ai trong chúng tôi gặp ông Mori tại cửa hàng bán trái cây ông cũng vẫn thân thiện và dễ mến như mọi khi. “Ông ấy không hề nói với tôi rằng ông ấy sắp phải đi”, một phụ nữ nói. Tuy nhiên, ba ngày sau ông biến mất. Một người làm việc ở quầy thanh toán của trung tâm mua bán Asssociated Market nói rằng trước ngày những người Nhật biến mất họ kéo nhau đi mua thực phẩm dự trữ “như thể không có ngày mai”. Cô ấy kể có một người phụ nữ Nhật mua tới hơn hai mươi hộp xúc xích Vienna. “Tôi không nghĩ đến chuyện hỏi bà ấy tại sao lại mua nhiều như vậy”. Tất nhiên giờ đây cô ước gì cô đã hỏi han người phụ nữ ấy một câu. “Tôi chỉ muốn biết họ có ổn không”.
Ở chỗ này, chỗ kia, từ những hộp thư nằm rải rác trong thị trấn, chúng tôi bắt đầu nhận được những lá thư đầu tiên của người Nhật gửi về. Một cậu bé ở Sycamore nhận được một bức thư ngắn của Ed Ikeda, cậu học sinh chạy nhanh nhất của trường trung học cơ sở Woodrow Wilson. Chúng tớ đang ở tại trung tâm đón tiếp. Tớ chưa bao giờ nhìn thấy nhiều người Nhật như thế này. Một số người chẳng làm gì cả, chỉ ngủ suốt cả chiều. Một cô bé ở phố Mulberry nhận được tin từ Jan, cô bạn người Nhật từng học chung lớp với mình. Họ giữ chúng tới ở đây lâu hơn nữa và sau đó sẽ đưa chúng tớ lên núi. Tớ hy vọng sẽ sớm nhận được thư của cậu. Vợ của ông Thị trưởng nhận được một tấm bưu thiếp từ người hầu gái trung thành của bà, cô Yuka, người đã xuất hiện trước cửa nhà bà vào ngày thứ hai sau khi cô đặt chân đến nước Mỹ. Cuối tháng bà đừng quên đem chăn ra phơi nhé. Vợ của một mục sư phụ tá của Giáo hội Giám lý Hợp nhất mở một lá thư được gửi tới cho chồng bà và đọc được dòng chữ, Anh yêu, em vẫn ổn, và thế là toàn bộ thế giới của bà bỗng tối sầm lại. Hatsuko là ai? Cách đó ba dãy phố có một ngôi nhà màu vàng ở Walnut, một cậu bé chín tuổi nhận được thư của người bạn thân nhất, bạn Lester - Tớ đã để quên áo len ở phòng cậu phải không? - và suốt ba đêm liền cậu không tài nào chợp mắt nổi.
Mọi người bắt đầu yêu cầu được nghe những câu trả lời. Người Nhật đến những trung tâm đón tiếp đó một cách tự nguyện hay do bị cưỡng ép? Điểm đến cuối cùng của họ là nơi nào? Tại sao họ không được thông báo trước về nơi họ sẽ đến? Ai sẽ can thiệp cho lợi ích của họ? Họ vô tội? Họ có tội? Có phải họ đã thực sự biến mất hay không? Không ai thực sự nhìn thấy họ ra đi, như vậy chẳng phải là điều kỳ cục và khó hiểu sao? Một người dân phòng nói, các vị nghĩ rằng ai đó trong chúng tôi đã nhìn thấy gì đó, nghe thấy gì đó chứ gì. “Một phát súng báo hiệu. Một tiếng khóc nức nở bị kìm nén. Một hàng dài người biến mất trong đêm”. Một người dân phòng ở địa phương nói rằng người Nhật vẫn còn ở tại nơi chúng tôi sống, và đang theo dõi chúng tôi từ những nơi bí mật, quan sát vẻ mặt của chúng tôi xem chúng tôi có đau khổ hay ân hận hay không. Hoặc cũng có thể họ đang ẩn nấp ở một nơi nào đó bên dưới những đường phố của chúng tôi và đang ủ mưu cho sự chấm hết của chúng tôi. Anh ta chỉ ra rằng những bức thư mà chúng tôi nhận được có thể là thư giả. Anh ta nói sự biến mất của người Nhật là một thủ đoạn. Anh ta cảnh báo ngày tận thế của chúng tôi còn chưa tới.
Thị trưởng đề nghị chúng tôi hãy kiên nhẫn. “Khi nào có thể chúng tôi sẽ thông báo cho người dân biết bất cứ điều gì chúng tôi có thể”, ông ấy nói. Có sự phản bội, thời gian thì không có nhiều, cần phải hành động gấp. Người Nhật đã ra đi một cách vui vẻ, theo yêu cầu của Tổng thống, chứ không phải do thù oán gì, người ta nói với chúng tôi như vậy. Tinh thần của họ vẫn vững. Khát khao của họ không thiếu. Sự tái định cư của họ đang được tiến hành theo kế hoạch. Ngài Thị trưởng nhắc chúng tôi rằng cuộc sống cũng có những lúc bất thường. Chúng tôi giờ đây là một phần của tuyến đầu và dù cần phải làm bất cứ điều gì để bảo vệ tổ quốc chúng tôi đều phải làm. “Rồi mọi người sẽ được thấy điều gì đó”, ông ta nói với chúng tôi. “Và sẽ có những điều mọi người không thấy được. Có những chuyện xảy ra. Và dù gì cuộc sống vẫn cứ tiếp diễn”.
Đợt nắng nóng đầu tiên của mùa hè đã xảy ra. Lá trên những cây mộc lan rũ xuống. Những lối đi nóng bỏng dưới nắng mặt trời. Những tiếng hò hét ngập tràn khắp không gian khi những hồi chuông cuối cùng của năm học vang lên và một lần nữa các lớp học lại sắp đóng cửa. Trái tim của các bà mẹ chất chứa nỗi thất vọng. Lại sắp mệt đây, họ rên rỉ. Vài người bắt đầu đi tìm người trông trẻ mới để trông nom những đứa con nhỏ của họ. Những người khác đăng tin tìm người giúp việc nội trợ. Nhiều người thuê người làm vườn và thuê hầu gái mới: những cô gái trẻ người Philippine khỏe mạnh, những người Hindu để râu thưa, những người Mexico béo lùn không phải lúc nào cũng đứng đắn nhưng đủ thân thiện đến từ Oaxaca - Buenos dias, Sí, cómo no? họ xì xồ - và sẵn sàng xén cỏ thuê với giá rẻ. Hầu hết họ giặt đồ ở tiệm giặt của người Trung Quốc. Và mặc dù quần áo của họ có thể không được là một cách cẩn thận, và giậu cây của họ đôi khi trở nên rậm rạp quá, họ không bận tâm, bởi vì sự chú ý của họ đã được dồn vào những chuyện khác: cuộc tìm kiếm một cậu bé mất tích tên là Henry, người được nhìn thấy lần cuối ở bìa rừng (“Cậu ấy đã đi để ở với người Nhật rồi”, các con của chúng tôi nói), chuyện bảy người lính của thành phố chúng tôi bị bắt trong trận chiến ở Corregidor, bài giảng có đầu đề là “Hitler: Napoleone của thời nay?” do Tiến sĩ Raoul Aschendorff, một người đi lánh nạn để tránh sự tàn sát của phát xít Đức, thực hiện vào bữa trưa tại Câu lạc bộ của những người hành hương, một bài giảng thu hút sự chú ý của toàn bộ khán phòng gồm toàn những người đứng nghe.
Khi chiến tranh trở nên ác liệt, càng có ít gia đình rời khỏi nhà của họ (less and less). Chất đốt được chia theo nhân khẩu. Giấy thiếc được dự trữ. Những khu vườn mang tên “Vườn chiến thắng” xuất hiện trên những ô đất trống và trong các căn bếp món thịt hầm đậu xanh nhanh chóng mất đi sự hấp dẫn của nó. Những bà mẹ dốc hầu bao của mình để ủng hộ chiến dịch quyên góp cao su.“Phải hy sinh cái gì đó chứ”, họ giải thích. Những người cha cắt dây cao, cắt những cái lốp xe treo trên cây dùng làm cái đu cho con họ xuống. Uỷ ban Cứu trợ Trung Hoa đạt được mục tiêu đề ra, mục tiêu quyên góp được mười nghìn đô la, và đích thân ngài thị trưởng của chúng tôi đã gọi điện cho phu nhân của Tưởng Giới Thạch thông báo tin tốt lành đó. Một vài đứa con của chúng tôi cố viết thư cho những người bạn Nhật Bản của chúng nhưng chúng không biết mình nên viết gì. Những đứa khác không có bụng dạ nào để viết thư báo cho những người bạn Nhật Bản biết những tin không vui. Có một thằng con trai mới vào lớp ngồi ở bàn của cậu trong lớp của cô Holden. Tớ không thể tìm thấy chiếc áo len của cậu. Hôm qua con chó của cậu bị xe cán chết rồi. Một bé gái ở North Fremont bị một người bưu tá làm nản lòng vì ông ta nói với cô bé rằng chỉ những kẻ phản bội mới đi thư từ qua lại với người Nhật.
Những người mới đến bắt đầu chuyển tới những ngôi nhà mà trước kia người Nhật đã ở. Okies và Arkies đến để làm việc phục vụ chiến tranh. Những người nông dân bị trục xuất khỏi Ozarks. Những người da đen nghèo túng đến từ miền Nam mang theo những bọc tư trang lỉnh kỉnh. Những người lang thang và những kẻ chiếm nhà bất hợp pháp. Những người nông thôn quê kệch. Những người không thuộc chủng tộc của chúng tôi. Một số người thậm chí không biết đánh vần. Họ làm việc từ mười đến mười lăm tiếng đồng hồ mỗi ngày trong những nhà máy sản xuất đạn dược. Họ sống chen chúc, ba hoặc bốn gia đình nhét nhau trong một ngôi nhà. Họ giặt đồ ở ngay trước cửa nhà trong những cái chậu giặt bé tí. Họ để mặc cho đàn bà và trẻ nhỏ đi lại nhảy nhót lung tung như những con thú hoang. Và vào những ngày cuối tuần, khi họ ngồi trước cổng của những ngôi nhà họ đang ở để hút thuốc, uống rượu cho đến tận khuya thì chúng tôi bắt đầu ước giá mà chúng tôi vẫn được sống bên cạnh những người hàng xóm Nhật Bản lịch sự, không bao giờ gây ồn ào.
Vào cuối mùa hè những tin đồn đầu tiên về những đoàn tàu hỏa bay tới tai chúng tôi từ một nơi xa xôi nào đó. Chúng là những con tàu cổ lỗ sĩ, người ta nói thế. Là di tích của một thời quá vãng. Những con tàu chạy bằng động cơ hơi nước được đốt bằng than và được trang bị những chiếc đèn dầu cũ kỹ. Mái của những toa tàu phủ đầy phân chim. Những khung cửa sổ tàu đen xì vì bồ hóng. Những con tàu ấy chạy qua hết thị trấn này đến thị trấn khác mà không dừng lại. Những đoàn tàu không có tiếng còi. Chúng chỉ chạy sau khi trời tối. Những đoàn tàu ma, những người nhìn thấy chúng nói vậy. Một số người nói rằng những con tàu ấy chạy lên những con đường dốc cao hẹp xuyên qua những vùng núi non hiểm trở của Sierra Nevadas: Altamont, Siskiyou, Shasta, Tehachapi. Có người nói rằng những con tàu ấy chạy về rìa phía tây của dãy Rockies. Một người làm nhiệm vụ ghi giờ tàu tại một nhà ga ở Truckee kể rằng ông ta đã nhìn thấy một con tàu và thấy khuôn mặt của một phụ nữ thoáng hiện ra trên con tàu ấy. “Người Nhật”, ông ta nói. Chuyện ấy xảy ra quá nhanh nên thật khó mà chắc chắn được điều đó. Nhà ga không hề được báo trước về lịch trình của con tàu. Người phụ nữ mà ông ta nhìn thấy trông có vẻ mệt mỏi. Cô ta có mái tóc đen được cắt ngắn và có khuôn mặt tròn nhỏ, chúng tôi tự hỏi không biết người phụ nữ ấy có phải là một trong những người Nhật đã từng là hàng xóm của chúng tôi hay không. Có lẽ là vợ của chủ tiệm giặt Ito. Hoặc đó là người đàn bà luống tuổi bán hoa vào những ngày cuối tuần ở góc phố Edward and State. Chúng tôi gọi bà ấy là bà bán hoa, đơn giản vậy thôi. Hoặc cũng có thể đó là một người nào đó mà chúng tôi đã gặp trên đường đi không biết bao nhiêu lần mà không hề để ý đến.
Vào mùa thu không có lễ hội mừng mùa gặt của những người theo đạo Phật ở Phố Chính nữa. Không có Lễ hội hoa cúc. Không có cuộc diễu hành của những chiếc đèn lồng bằng giấy nhấp nhô trên đường phố vào buổi tối. Không còn những đứa trẻ mặc áo kimono tay dài được may bằng vải cotton múa hát theo nhịp trống rộn ràng cho đến tận khuya. Bởi vì người Nhật đã đi rồi, nên những điều ấy không còn nữa. “Bạn lo cho họ thì hãy cầu nguyện cho họ, và bạn phải tiếp tục tiến lên phía trước”, một người về hưu đã sống ở cạnh nhà Ogata hơn mười năm nói. Mỗi khi ông cảm thấy cô đơn, ông lại đi ra ngoài, ngồi tại ghế đá ở công viên. “Tôi nghe tiếng chim hót cho tới khi tôi cảm thấy tâm trạng khá hơn”, ông nói. “Đỡ buồn tôi mới trở về nhà”. Đôi khi vài ngày trôi qua và ông hoàn toàn không nghĩ đến người Nhật. Nhưng rồi ông lại nhìn thấy một gương mặt quen thuộc trên đường phố - cô Nishikawa ở cửa hàng bán mồi câu, nhưng có điều lạ là cô không vẫy tay đáp lại lời chào của ông? - hoặc một tin đồn mới bỗng nhiên bay đến tai ông. Người ta tìm thấy những khẩu súng trường được chôn ở trong vườn mận nhà Koyanagi. Những huy hiệu Rồng Đen được phát hiện trong một ngôi nhà của người Nhật ở Oak. Hoặc ông nghe thấy tiếng bước chân vang lên phía sau ông trên lối đi nhưng khi ông quay lại ông không thấy bất cứ ai. Và hết lần này đến lần khác ý nghĩ này cứ hiện lên trong đầu ông: Người Nhật đã rời bỏ chúng tôi và chúng tôi không biết họ hiện đang ở đâu.
Khi đợt sương giá đầu tiên xuất hiện thì những khuôn mặt của người Nhật bắt đầu trở nên nhòe nhoẹt và nhạt nhòa trong ký ức của chúng tôi. Tên của họ bắt đầu trốn khỏi bộ nhớ của chúng tôi. Ông ấy tên là Kato hay Sato nhỉ? Chúng tôi không còn nhận được những bức thư của họ nữa. Con của chúng tôi, những đứa trẻ đã từng nhớ quay quắt những đứa bạn người Nhật của chúng, giờ đây không hỏi chúng tôi họ ở đâu. Những đứa con nhỏ nhất của chúng tôi hầu như không còn nhớ nổi họ nữa. “Con nghĩ là con đã từng nhìn thấy một người Nhật”, chúng nói với chúng tôi. Hoặc, “Có phải tất cả họ đều có mái tóc đen phải không ạ?” Và sau một thời gian chúng tôi nhận thấy chính bản thân chúng tôi càng ngày càng hay dùng thì quá khứ khi nhắc đến họ. Có những ngày chúng tôi quên họ đã từng sống trong cộng đồng của chúng tôi, mặc dù vào lúc đêm khuya hình ảnh của họ thường bất ngờ xuất hiện trong giấc mơ của chúng tôi. Tôi mơ thấy Elliot, con trai của người ươm cây giống. Cậu ấy bảo tôi đừng lo lắng, họ ổn cả và họ có thừa thức ăn, và còn được chơi bóng chày cả ngày. Và buổi sáng, khi thức giấc, chúng tôi cố giữ họ trong tâm trí, nhưng họ mau chóng biến mất, không còn lởn vởn trong ý nghĩ của chúng tôi nữa.
Một năm trôi qua, dường như tất cả mọi dấu vết của người Nhật đã biến mất khỏi thị trấn của chúng tôi. Những ngôi sao vàng lấp lánh trong những ô cửa sổ của chúng tôi. Những người phụ nữ trẻ đẹp góa bụa do chiến tranh đẩy những chiếc xe đẩy trong công viên. Trên những lối đi đã xuống cấp bao quanh hồ chứa nước, những con chó được xích bằng những sợi xích dài đi khệnh khà khệnh khạng. Ở khu trung tâm, tại Phố Chính, những bông hoa thủy tiên bừng nở. Khu Liberty Chop Suey chật kín những công nhân của xưởng đóng tàu đến ăn trưa. Những người lính về nghỉ phép đi vẩn vơ trên các đường phố và việc kinh doanh tại khách sạn Thiên Đường trở nên bận rộn. Tiệm bán hoa của Kay giờ đây trở thành cửa hàng mang tên Spirit của Foley. Cửa hàng rau quả của Harada giờ đây được một người đàn ông Trung Quốc tên là Wong tiếp quản, nhưng trông bề ngoài vẫn y như trước, và bất cứ khi nào chúng tôi đi bộ qua đó, không khó để hình dung rằng mọi chuyện vẫn không có gì thay đổi. Nhưng bà Harada không còn ở đây với chúng tôi nữa, và những người Nhật khác cũng đã đi rồi. Giờ đây chúng tôi hiếm khi nhắc đến họ, mặc dù những tin đồn từ bên kia núi thỉnh thoảng vẫn bay đến tai chúng tôi - những thành phố của người Nhật đã mọc lên trên các sa mạc của Nevada và Utah, người Nhật ở Idaho đã bị đưa đi nhổ củ cải đường trên những cánh đồng, và ở Wyoming người ta nhìn thấy một nhóm trẻ em người Nhật run rẩy, đói khát xuất hiện, dò dẫm đi ra từ một khu rừng vào lúc nhá nhem tối. Nhưng đó chỉ là tin đồn thôi, mà tin đồn thì không hẳn là sự thật. Tất cả chúng tôi đều biết rằng người Nhật đang ở một nơi nào đó, không phải nơi này thì là nơi khác, và có lẽ chúng tôi sẽ không còn gặp lại họ trên cõi đời này nữa.