Sáng hôm sau, trong giờ tiếng La Tinh, cả lớp hồi hộp đến náo động làm ông giáo Rácz cũng phải nhận thấy.
Bọn con trai cựa quậy, xoay người trên ghế dài, không chịu chú ý đến bạn mình đọc bài, và không riêng cánh con trai phố Pál mà tất cả các cậu khác nữa. Có thể nói là toàn trường đều ở trong trạng thái bất bình thường này. Tin chuẩn bị tác chiến truyền đi rất nhanh trong ngôi nhà lớn và tất cả học sinh các lớp trên, lớp bảy và lớp tám, cũng rất quan tâm đến sự việc này. Bọn áo đỏ học tại trường nghiệp thực thuộc khu phố József. Do vậy mà cả trường trung học này chúc cho các cậu phố Pál chiến thắng. Hơn thế nữa, một vài cậu còn coi chiến thắng đó thể hiện danh dự của trường.
- Hôm nay các anh làm sao thế? - ông giáo Rácz nóng ruột hỏi. Đám học trò cựa quậy, đãng trí, đầu óc chúng để đi đâu ấy!
Nhưng ông không điều tra xem chúng làm sao. Ông bằng lòng với trạng thái nhốn nháo của lớp trong ngày hôm nay. Ông càu nhàu nói:
- Tất nhiên mùa xuân đến nơi rồi, mùa chơi bi, chơi bóng… lúc này học hành không hứng thú lắm! Các anh hãy coi chừng đấy!
Nhưng ông chỉ nói vậy. Ông giáo Rácz trông dữ tướng, nhưng lại là người rất dịu dàng.
- Anh ngồi xuống! - ông bảo cậu học sinh vừa trả lời xong câu hỏi, rồi ông lại tiếp tục tìm trong sổ.
Thường những lúc như thế này, lớp học lặng lẽ đến rợn người. Học sinh nín thở, lo lắng, ngay cả đứa đã chuẩn bị bài tốt cũng không yên tâm. Chúng nhìn không chớp mắt các ngón tay của ông giáo đang chậm rãi giở từng trang quyển sổ lớp nho nhỏ. Chúng cũng biết tên mình ở trang nào. Khi ông giáo giở đến trang cuối, những đứa có tên bắt đầu bằng A và B thở phào. Khi bất thình lình ông giở ngược từ cuối lên đầu sổ thì bọn có tên bắt đầu bằng R, S, T lại khoan khoái.
Lục tìm danh sách xong, ông khe khẽ gọi:
- Nemecsek!
- Không đi học ạ! - cả lớp nói oang lên. Và một giọng người phố Pál quen thuộc nói thêm: - Anh ấy ốm!
- Nó bị sao?
- Anh ấy bị cảm lạnh ạ!
Ông giáo Rácz nhìn khắp lớp rồi nói:
- Tại vì các anh không biết giữ mình!
Nhưng cánh phố Pál nhìn nhau. Chúng biết vì sao và bằng cách nào Nemecsek đã không biết giữ mình. Trong lớp, chúng ngồi cách xa nhau, người ghế đầu, người ghế thứ ba, thậm chí Csónakos ngồi ở cuối cùng nhưng có sao đâu, chúng vẫn nhìn nhau và hiểu ý nhau. Có thể đọc được trên từng nét mặt là chú Nemecsek này bị cảm lạnh trong khi làm việc gì đó rất vẻ vang. Nói đơn giản: chú Nemecsek đáng thương đã vì Tổ quốc mà bị cảm lạnh. Chú tắm ba lần, một lần vì tình cờ trong khi làm nhiệm vụ, một lần vì danh dự, một lần bị bắt ép; và đổi lấy cả thế giới này cũng không có ai khai báo cái bí mật quan trọng đó mặc dù lúc này mọi người đều biết rõ, kể cả Hội mát tít. Thậm chí Hội mát tít đã tiến hành phong trào xóa tên của Nemecsek trong sổ đen, chỉ có cái là chúng chưa thống nhất nên chữa chữ thường ra chữ in rồi mới xóa hay là xóa ngay đi không cần nghi thức gì. Kolnay là người vẫn làm chủ tịch đã nói rằng cần phải xóa thẳng không theo nghi thức nào, còn Barabás thì lẽ dĩ nhiên đã lôi kéo phe mình và thống nhất là trước hết phải trả lại sự tôn trọng đối với tên của chú bé.
Nhưng việc đó bây giờ chỉ là phụ thôi. Cuộc giáp chiến mà chiều nay phải đương đầu mới là vấn đề cần quan tâm tới. Giờ tiếng La Tinh vừa tan thì học sinh các lớp khác đã lũ lượt kéo đến vây lấy Boka; họ xin được giúp một tay. Boka trả lời mọi người:
- Rất tiếc là chúng tớ không thể chấp nhận được! Tự chúng tớ phải bảo vệ đất nước chúng tớ! Nếu bọn áo đỏ mạnh hơn chúng tớ thì chúng tớ sẽ thắng bằng sự khéo léo. Dù thế nào chăng nữa, chúng tớ cũng muốn tự mình chiến đấu thôi!
Không những học sinh các lớp khác đòi giúp một tay, mà lúc một giờ, khi các cậu qua góc cổng bên cạnh để phóng về nhà ăn cơm trưa, thì ông già bán kẹo cũng chặn lại đòi phục vụ Boka.
- Ông nhỏ ơi! - lão nói. - Nếu để tôi đến đó thì chỉ một mình tôi sẽ ném hết chúng ra!
Boka mỉm cười:
- Cứ để mặc chúng cháu, bác ạ!
Cậu cũng vội rảo bước về nhà. Trong cổng trường, học sinh cùng lớp vây quanh các bạn phố Pál và cung cấp cho họ nhiều điều bổ ích. Có những bạn dạy cách đánh gót cho từng cậu bé phố Pál. Có những người bạn xin làm do thám. Lại có những người nằn nì xin được tự do xem cuộc chiến đấu này. Nhưng không ai xin được cả. Boka đã ra pháp lệnh rất nghiêm là khi cuộc chiến đấu bắt đầu, phải đóng cổng lại và quân giữ cổng chỉ được mở cổng khi đã dồn kẻ thù chạy ra ngoài.
Tất cả những chuyện trên chỉ kéo dài một vài phút. Bọn con trai đã phóng như bay vì đúng hai giờ chúng phải có mặt ở Khu đất trống. Lúc một giờ mười lăm trường trung học đã vắng tanh. Người bán kẹo sữa cũng đã gói hàng, chỉ còn người coi trường đang đứng lặng lẽ hút thuốc lá ở trước cổng. Thỉnh thoảng ông ta lại mỉa mai mắng người bán kẹo:
- Vậy là cuộc đời của ông cũng chẳng kéo dài ở đây được mãi, chúng tôi sẽ cấm ông cùng với cái đống rác rưởi này!
Người bán kẹo chỉ nhún vai không trả lời: lão tự cho mình là ông lớn vì trên đầu có chít khăn dạ đỏ nên không thèm bắt chuyện với người coi trường. Đặc biệt lúc này lão cảm thấy người coi trường xoàng xĩnh kia nói rất đúng.
Đồng hồ chỉ hai giờ chiều. Boka xuất hiện trước cổng Khu đất trống, đầu đội mũ xanh viền đỏ, tượng trưng cho màu sắc của trẻ phố Pál. Tất cả đội quân hàng ngũ chỉnh tề đang đứng oai vệ ở giữa Khu đất trống. Ai nấy đều có mặt, chỉ vắng độc nhất có một người: Nemecsek bị ốm phải ở nhà. Thế là đúng vào ngày xung trận thì đội quân con trai phố Pál lại vắng mất lính. Những người ở đây đều là trung úy, thượng úy và đại úy. Người lính trơn hay nói đúng hơn là Nemecsek, đội quân thực sự, thì đang ốm nằm rên trên chiếc giường bé tí xíu trong một ngôi nhà có vườn ở phố Rákos.
Boka bắt đầu ngay vào công việc. Cậu lấy giọng nhà binh hô lớn:
- Nghiêm!
Mọi người đứng nghiêm. Giọng Boka âm vang:
- Tôi báo cho các cậu biết là tôi bỏ chức chủ tịch vì cái này chỉ có ích cho thời bình. Bây giờ là thời chiến, do đó tôi lấy chức tướng quân.
Lúc này mọi người đều xúc động. Đây là giây phút lịch sử hiếm có vì trong ngày chiến tranh bùng nổ, khi mối đe dọa trở nên nghiêm trọng nhất, thì Boka nhậm chức tướng quân. Sau đó cậu ta nói thêm:
- Bây giờ tôi nói lại kế hoạch tác chiến lần cuối cùng để khỏi gây ra sự nhầm lẫn!
Cậu nói lại. Mặc dù ai cũng đã thuộc lòng mọi lời trong bản mệnh lệnh quân sự, bọn trẻ vẫn hết sức chú ý.
Khi xong xuôi rồi, tướng quân ra lệnh:
- Tất cả về vị trí!
Hàng ngũ bỗng nhiên tách ra, chỉ có thằng Csele, thằng Csele diện bảnh là ở lại với Boka để làm sỹ quan tùy tùng thay Nemecsek bị ốm. Bên hông chú ta đeo một chiếc kèn đồng vàng óng mà các bạn chung tiền mua với giá một forint bốn mươi ba krajcár, trong đó có toàn bộ số tiền vốn liếng hai mươi sáu krajcár của Hội mát tít và vị thủ lĩnh đã lấy ra để sử dụng vào mục đích quân sự. Khi thổi, chiếc kèn bưu điện nhỏ này kêu đúng như kèn của các chiến binh thật sự. Theo quy định, có ba hiệu kèn. Một hiệu kèn báo tin quân địch đến, hiệu tiếp là kèn xung trận, và hiệu thứ ba báo mọi người phải chạy ngay đến chỗ tướng quân. Những hiệu kèn đó các cậu trai đã thực hành trong buổi diễn tập hôm qua.
Quân báo đã leo lên bờ rào làm nhiệm vụ. Buông chân phải xuống đường phố Pál, nó gọi to:
- Thưa ngài tướng quân!
- Sao, gì thế?
- Kính báo ngài, có một người hầu gái muốn vào Khu đất trống giao thư!
- Tìm ai?
- Cô ấy nói là tìm ngài tướng quân!
Boka đi đến bên rào.
- Cậu chú ý xem có phải quân áo đỏ cải trang để đến do thám không?
Quân báo cúi xuống đường phố, suýt nữa thì trượt chân. Lát sau nó báo cáo:
- Thưa ngài đại tướng, kính báo ngài, tôi đã nhìn kĩ. Đúng là một phụ nữ!
- Ờ, nếu đúng là một phụ nữ thì có thể vào được!
Nó ra mở cổng. Một chị bước vào, nhìn quanh Khu đất trống. Đúng thực đó là một chị hầu. Đầu không khăn, chân đi dép, chị chạy đến đây vẫn mặc bộ váy áo như khi lau dọn nhà bếp.

- Cậu Geréb bảo cháu mang thư này đến! - chị nói. - Cậu cháu nói rằng rất khẩn cấp và phải trả lời ngay!…
Boka bóc thư có đề: “Gửi ngài chủ tịch với đầy niềm hy vọng!”. Thực ra không phải là một bức thư mà là một tập giấy, trong đó có đủ giấy học sinh, giấy viết thư, một mảnh giấy viết thư của chị nó, giấp tập vẽ, đủ loại, trang nào cũng viết dày đặc. Cậu đọc nghiến ngấu.
Bức thư viết:
“Boka thân mến!
Tôi biết rằng cậu cũng chẳng vui lòng tiếp chuyện với tôi thậm chí là trên thư đâu, nhưng trước khi mãi mãi cắt đứt với các cậu, tôi cần phải làm việc cuối cùng này. Bây giờ tôi nghĩ là chẳng những bản thân mình có lỗi mà tôi cũng thấy rằng các cậu không xứng đáng với tôi đâu vì các cậu đối xử với ba tôi thật kỳ quá. Đặc biệt Nemecsek đã từ chối nói việc tôi phản bội các cậu. Ba tôi tự hào quá vì ông không biết rõ tôi phản bội, nên đã mua cho tôi cuốn sách Biển đảo rực lửa của Jules Verne, quyển truyện mà tôi đã xin từ lâu, để giải hòa. Tôi mang quyển sách tặng Nemecsek, mặc dù tôi chưa đọc, tuy tôi rất thích. Hôm nay ba tôi hỏi: ‘Sách đâu, thằng mất dạy?’ Tôi cũng chẳng biết trả lời sao cả, nên ba tôi nói: ‘Đồ ăn hại, mày lại đã bán cho hiệu sách cũ rồi. Được nhé, từ rày đừng hòng tao mua cho cái gì nữa!’ Và ông làm thế thật. Tôi không được ăn trưa, nhưng tôi chẳng ngại. Nếu Nemecsek đáng thương đã vì tôi mà chịu đựng một cách vô tội vạ thì tôi cũng sẵn sàng vì nó mà chịu đựng một chút xíu. Nhưng điều đó chỉ là phụ thôi, không phải chuyện chính mà tôi muốn nói. Hôm qua ở trường các cậu chẳng thèm nói chuyện với tôi, tôi nghĩ cách để lập công chuộc tội, cuối cùng tôi cũng nghĩ được cách. Tôi nghĩ: tôi sẽ sửa chữa lỗi lầm bằng cách như tôi đã mắc phải. Do vậy mà sau khi ăn trưa xong, tôi đến chỗ các cậu. Cậu không nhận lại. Tôi buồn rầu đi thẳng đến Vườn cỏ để dò biết cho các cậu cái gì cũng được. Ở đảo tôi bắt chước Nemecsek leo lên cái cây mà một buổi chiều nào đó nó đã thu hình ngồi trên đó, tất nhiên lúc ấy chưa có tên áo đỏ nào trên đảo cả. Mãi sau, bốn giờ chúng mới đến và mắng chửi tôi ác lắm. Trên cây tôi nghe rất rõ nhưng bây giờ tôi chẳng ngại vì chính tôi vẫn cảm thấy mình là trai phố Pál, mặc dù các cậu đuổi tôi đi, nhưng các cậu không đuổi được lòng tôi. Tôi cùng chung ý nghĩ với các cậu. Nếu cậu cười, tôi cũng không ngại, nhưng tôi sướng đến phát khóc khi Áts Feri nói: ‘Cái thằng Geréb về bên chúng nó, nó không phản bội thật đâu, vì rõ ràng là bọn phố Pál đã đưa nó sang làm do thám!’ Chúng mở cuộc họp lớn. Tôi chăm chú nghe mọi lời. Nó nói là sau khi Nemecsek đã dò la hết tất cả, bây giờ chúng sẽ chẳng đánh chiếm được nữa vì các cậu đã chuẩn bị sẵn sàng rồi. Nhưng chúng còn nặn ra cái sự xảo quyệt gì đó. Chúng nói về chuyện này rất khẽ làm tôi phải bò thấp xuống hai cành cây nữa mới có thể nghe được điều chúng nói. Tôi bò như vậy được một lúc thì chúng nghe thấy tiếng rào rào. Thằng Wendauer nói: ‘Hình như thằng Nemecsek nó lại ở trên cây?’ Nhưng đây chỉ là chuyện đùa. Rất may là chúng không nhìn lên cây, chúng không trông thấy được vì trên cây cành lá rậm rạp lắm. Vậy là chúng nó quyết định ngày mai vẫn tấn công, như Nemecsek đã nghe trộm được mà cậu đã biết. Áts Feri nói: ‘Bọn phố Pál nghĩ rằng bởi Nemecsek đã nghe thấy tất cả, nên chúng ta phải thay đổi lại kế hoạch tác chiến. Nhưng chúng ta không thay đổi lại vì chúng nó đã chuẩn bị đón ta bằng cách khác!’ Chúng quyết định như vậy. Sau đó chúng tiến hành tập dượt, còn tôi thì ngồi thu hình trên cây, nguy hiểm vô cùng vì cậu thử tưởng tượng xem sẽ có gì xảy ra nếu chúng tình cờ phát hiện thấy tôi. Khó nhọc lắm tôi mới vịn tay được vào cành. Và nếu sáu giờ rưỡi chúng nó không bỏ đi, thì tôi sẽ bị mệt lả người, rồi tôi sẽ như một quả đào chín từ trên cây lớn rụng xuống, mặc dù tôi không là đào và cây này cũng chẳng phải cây đào. Nhưng đây chỉ là chuyện đùa, còn cái chính là những điều tôi viết ở trên kia. Sau sáu giờ rưỡi thì đảo còn trơ lại, vắng tanh. Tôi cũng tụt khỏi cây và đi về nhà. Sau khi ăn tối xong tôi phải ngồi học bài tiếng La Tinh bên một ngọn nến sáng vì tôi đã bỏ mất cả buổi chiều rồi. Boka thân mến, bây giờ tôi chỉ xin cậu một việc. Cậu làm ơn hãy tin những điều tôi viết là đúng sự thực và cậu đừng nghĩ rằng đây là điều bịa đặt, rằng tôi đánh lừa các cậu với tư cách là một tên do thám của bọn áo đỏ… Tôi viết thư này bởi vì tôi muốn trở lại với các cậu, tôi muốn lập công chuộc tội. Tôi sẽ là người lính trung thành của các cậu. Tôi cũng không ngại nếu cậu cách chức thượng úy kia đi. Tôi vui lòng trở lại làm một người lính mà bây giờ các cậu lại không có lính, Nemecsek ốm rồi, chỉ còn lại con chó của lão Janó là tên lính độc nhất, nhưng nó chỉ là chó nhà binh. Còn tôi ít nhất cũng là một đứa con trai. Nếu bây giờ cậu tha thứ cho tôi một lần nữa, cậu nhận lại tôi thì ngay hôm nay tôi tới ngay và sẽ chiến đấu cùng các cậu. Tôi sẽ lập công trong trận chiến đấu ác liệt này để xóa hết mọi tội lỗi của tôi. Xin cậu nói với chị Mari rằng tôi tới hay không tới và nếu cậu nhắn là tới thì tôi tới ngay vì trong khi chị Mari đem thư đến Khu đất trống cho cậu thì tôi đứng ở đây, trong cổng nhà số 5 phố Pál chờ trả lời.
Bạn trung thành của cậu.
Geréb”
Đọc xong thư, Boka cảm thấy Geréb nói thực và như vậy là nó đã biết hối cải, có thể nhận lại được. Cậu ra hiệu cho Csele, sỹ quan tùy tùng đến.
- Hỡi tùy tùng! - cậu nói. - Hãy thổi kèn hiệu thứ ba để gọi mọi người đến với tướng quân.
- Trả lời sao, thưa cậu? - chị Mari hỏi.
- Chị Mari, xin chị chờ một tí! - tướng quân trả lời bằng giọng nhà binh.

Tiếng kèn nhỏ vang lên. Các cậu trai rụt rè ló ra khỏi đống gỗ. Chúng không hiểu có điều gì đây. Vì sao kèn lại gọi chúng đến với tướng quân? Nhưng sau khi thấy Boka đứng bình thản ở vị trí của mình, chúng mạnh dạn nhô lên và trong phút chốc toàn đội đã đứng trước mặt tướng quân với hàng ngũ nhà binh. Boka đọc thư cho chúng nghe xong, liền hỏi:
- Nhận lại nhé?
Các cậu trai rõ ràng là các bạn tốt. Tất cả đồng thanh trả lời:
- Nhận lại!
Boka quay về phía chị hầu và nói:
- Chị nói nó đến đây! Đây là câu trả lời!
Chị Mari đứng xem toàn bộ sự việc, ngắm đội quân, ngắm cái mũ xanh viền đỏ, súng ống… rồi chị quay phắt ra phía cổng nhỏ.
Khi chỉ còn các bạn với nhau, Boka quát gọi:
- Richter đâu!
Richter bước ra khỏi hàng.
- Tôi đã xếp Geréb đi với cậu! - tướng quân nói. - Cậu phải chú ý đến nó. Nếu cậu thấy nó có dấu hiệu gì khả nghi thì bắt lại ngay và giam vào lều. Tôi không nghĩ sẽ có chuyện như vậy, nhưng thận trọng vẫn hơn. Nghỉ! Hôm nay không có chiến trận như các cậu cũng thấy trong thư. Tất cả những việc chúng ta dự định hôm nay, ngày mai vẫn cứ thế mà làm. Nếu bọn chúng không thay đổi kế hoạch tác chiến thì chúng ta vẫn giữ tất cả như cũ.
Đúng lúc cậu muốn nói tiếp thì có người đạp cổng. Lúc chị hầu đi ra không ai đóng cả, Geréb nhảy qua cổng bước vào, nét mặt rạng rỡ sung sướng như người vừa tìm mãi mới có thể đặt chân được vào mảnh đất thánh. Nó bước đến bên Boka, đưa tay lên mũ chào giữa sự chú ý của mọi người. Trên đầu, nó đội chiếc mũ xanh viền đỏ của những chú bé phố Pál.
Nó chào và nói:
- Thưa tướng quân, tôi xin trình diện!
- Tốt! - Boka nói, không kiểu cách gì. - Mày được phân công đi cùng với Richter, bây giờ làm lính đã, sau này có được nhận lại chức cũ hay không còn tùy thuộc vào thái độ và công lao của mày trong các trận giáp chiến!
Sau đó cậu quay về phía đội quân:
- Còn các cậu, tôi nghiêm cấm không được bàn tán về tội trạng của Geréb. Nó muốn sửa chữa lỗi lầm, chúng ta tha thứ cho nó, không ai được xỉ vả nó một lời nào; đừng lấy khuyết điểm của nó ra chỉ trích, trách móc. Và tôi cấm cả Geréb nữa, không được nói về chuyện này vì sự việc đã xong xuôi rồi!
Tất cả lặng thinh. Mọi người nghĩ thầm: “Thằng Boka thông minh thật, nó xứng đáng làm tướng lắm!”
Lát sau, Richter bắt đầu giải thích ngay cho Geréb biết công việc của nó ngày mai ở chiến trận. Boka nói chuyện với Csele, hai đứa bàn bạc khe khẽ. Quân báo đang ngồi buông thõng chân xuống đường phố giống như người ngồi trên lưng ngựa, bỗng nhiên thụt chân vào. Nét mặt tỏ vẻ hãi hùng, nó hoảng hốt lắp bắp:
- Thưa tướng quân… giặc đến!
Nhanh như chớp, Boka nhảy tới cổng và đóng lại. Mọi người nhìn Geréb đang đứng bên Richter, mặt tái mét. Boka giận dữ quát nó:
- Cái gì đây? - Boka gầm lên.
Khó nhọc lắm Geréb mới lắp bắp được:
- Có lẽ… có lẽ chúng nó phát hiện tôi trên cây… và chúng nó muốn đánh lạc hướng…
Quân báo nhìn ra phố lát sau nhảy xuống bờ rào nhặt vũ khí lên rồi đứng vào hàng ngũ.
- Quân áo đỏ đến! - nó nói.
Boka đi tới cổng và mở ra. Cậu ta dũng cảm đứng trước cổng, hiên ngang nhìn ra đường phố. Đúng là quân áo đỏ đến thật, nhưng chỉ có ba đứa: hai anh em thằng Pásztor và Szebenics. Vừa trông thấy Boka, Szebenics đã vội rút trong túi áo vét tông ra một lá cờ trắng, rồi vẫy vẫy về phía cậu, nó kêu lên từ xa:
- Chúng tôi đi sứ đây!
Boka trở lại Khu đất trống. Cậu hơi bẽn lẽn trước mặt Geréb vì đã nghi ngờ bạn. Cậu nói với Richter:
- Thả nó ra! Chỉ có quân đi sứ giương cờ trắng đến thôi. Geréb này, cậu tha lỗi nhé!
Thằng Geréb đáng thương liền thở phào nhẹ nhõm. Suýt nữa thì nó bị oan. Còn quân báo thì bị mắng:
- Còn mày, - Boka nói nó, - mày phải nhìn kĩ xem cái gì rồi hãy kêu cứu nhé, chú lừa con nhút nhát ạ!
Rồi cậu ra lệnh:
- Đằng sau, quay! Tất cả tiến vào đống gỗ! Ngoài Kolnay và Csele ra, không ai được ở ngoài. Đi!
Đội quân bước đi hùng dũng, cùng với Geréb nhanh chóng biến sau các đống gỗ. Vừa lúc chiếc mũ xanh viền đỏ cuối cùng đi khuất thì quân sứ giả lách cách ở cổng bước vào. Sỹ quan tùy tùng mở cổng cho chúng. Chúng không mang vũ khí, Szebenics giương cờ trắng lên cao. Boka biết rõ lúc này nên xử sự thế nào. Cậu cầm thanh giáo và dựa trên rào. Cậu cũng không có vũ khí. Kolnay và Csele cũng im lặng làm theo, thậm chí Csele còn nhanh nhảu đặt cả kèn xuống đất.
Thằng Pásztor anh bước lên trước:
- Tôi có may mắn được gặp ngài thống soái không?
Csele trả lời:
- Vâng, ông ấy là tướng quân!
- Chúng tôi là sứ giả! - Pásztor nói. - Tôi là trưởng đoàn. Chúng tôi thay mặt ngài Áts Feri, thống soái của chúng tôi, đến đây để tuyên chiến!
Khi nó nhắc đến tên của chỉ huy, cả đoàn sứ giả đứng nghiêm. Theo phép lịch sự, quân của Boka cũng đưa tay lên mũ. Pásztor nói tiếp:
- Chúng tôi không muốn làm đối phương kinh ngạc. Đúng hai giờ rưỡi chiều mai, chúng tôi sẽ đến đây. Chúng tôi thông báo như vậy. Yêu cầu trả lời!
Boka cảm thấy giây phút này thật trịnh trọng. Giọng run run, cậu trả lời:
- Chúng tôi chấp nhận lời tuyên chiến. Nhưng chúng ta cần phải thống nhất với nhau. Tôi không muốn nhân chuyện này mà gây ra ẩu đả!
- Chúng tôi cũng chả muốn! - Pásztor buồn rầu nói, rồi theo thói quen nó cúi đầu xuống.
- Tôi muốn rằng, - Boka nói tiếp, - ta chỉ nên dùng ba cách chiến đấu khác nhau: bom cát, đấu vật theo quy cách và đấu giáo. Các anh không hiểu luật đó phải không?
- Vâng!
- Ai bị chấm đất cả hai vai, người đó coi như bị đánh bại và không thể đấu vật tiếp được nữa, nhưng vẫn có thể chiến đấu bằng hai cách kia được. Có đồng ý thế không?
- Đồng ý!
- Không được dùng giáo để đánh, đâm nhau. Phải đấu!
- Vâng, phải thế!
- Và hai không được tấn một, nhưng từng nhóm có thể tấn công lẫn nhau được. Có nhận không?
- Nhận!
- Thế thì chẳng có gì cần nói nữa!
Boka chào. Đoàn sứ giả đáp lễ. Pásztor còn nói thêm:
- Tôi phải hỏi một điều: chủ tướng chúng tôi ủy nhiệm cho chúng tôi việc hỏi thăm Nemecsek. Chúng tôi nghe nói anh ta ốm, và nếu anh ta ốm thì chúng tôi cũng được ủy nhiệm đến thăm anh ta vì lần trước ở chỗ chúng tôi, anh ta tỏ ra rất dũng cảm, chúng tôi rất trân trọng kẻ thù như thế!
- Bạn ấy ở phố Rákos, số nhà 3. Bạn ấy ốm nặng!
Đến đây chúng lặng lẽ chào. Szebenics lại giương cao cờ, Pásztor quát: “Đi”. Đoàn sứ giả kéo nhau ra cổng. Ra đến phố, chúng còn nghe thấy tiếng vang lanh lảnh của chiếc kèn mà tướng quân triệu tập quân mình đến để kể sự tình cho họ nghe.
Đoàn sứ giả vội vã diễu về phố Rákos. Chúng dừng bước trước ngôi nhà Nemecsek ở và hỏi cô bé đang đứng trong cổng:
- Có đúng Nemecsek ở ngôi nhà này không?
- Đúng! - cô bé trả lời rồi dẫn chúng vào căn nhà đất nghèo nàn của gia đình Nemecsek. Bên cửa sổ ra vào treo một tấm bảng sắt tây có đề: “Thợ may Nemecsek András!”.
Chúng bước vào chào hỏi. Chúng nói vì sao chúng đến. Mẹ của Nemecsek là một người đàn bà tóc hung vàng, nghèo khổ, gầy gò, dáng nho nhỏ, rất giống con trai, hay nói đúng hơn, con trai rất giống bà. Bà dẫn chúng vào buồng mà chú lính đang nằm. Ở đây Szebenics cũng giương cao ngọn cờ trắng và Pásztor cũng bước lên trước:
- Áts Feri gửi lời chào thăm mày và chúc mày chóng khỏi!
Mặt mày xanh xao, tóc rối bù, chú bé tóc hung đang gối đầu nằm trên giường bệnh nghe xong liền nhỏm dậy. Chú sung sướng mỉm cười và câu hỏi đầu tiên của chú là:
- Khi nào chiến tranh sẽ bùng nổ?
- Ngày mai!
Nét mặt Nemecsek buồn xỉu.
- Thế thì tao không ở đấy được rồi! - chú rầu rĩ nói.
Nhưng đoàn sứ giả không trả lời. Chúng lần lượt bắt tay Nemecsek rồi thằng Pásztor dữ tướng, mặt lộ vẻ ảm đạm, cảm động nói:
- Mày tha thứ cho tao nhé!
- Tao tha lỗi! - chú bé tóc hung khe khẽ nói và bắt đầu ho. Chú nằm trở lại, Szebenics sửa lại gối dưới đầu chú. Sau đó Pásztor nói:
- Thôi, bây giờ chúng tao đi đây!
Người cầm cờ trắng giương cao. Cả ba đứa đi ra nhà bếp. Ở đây mẹ Nemecsek vừa khóc vừa nói:
- Các cháu… các cháu đều là những đứa con trai tốt bụng… Các cháu rất thương mến con trai tội nghiệp của tôi. Vậy… vậy… bây giờ cả ba cháu mỗi người nhận một chút kẹo sô cô la…

Các đoàn viên trong đoàn sứ giả nhìn nhau. Kẹo sô cô la là một món ăn có sức quyến rũ. Nhưng Pásztor vẫn bước lên và lúc này, chỉ lúc này là nó không cúi đầu xuống mà ngẩng đầu khoe mái tóc nâu đỏ xinh xinh của nó rồi kiêu hãnh nói:
- Nhưng chúng cháu không đáng được ăn kẹo sô cô la! - Rồi nó nói với đồng bọn: - Bước!
Và cả bọn kéo nhau đi.