1. TỰ XƯNG LÀ THANH LIÊM

Mưu Trí Chốn Quan Trường

Lượt đọc: 121 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương IX LÀM BỪA CHẲNG KỂ GÌ ĐẾN PHẢI TRÁI!

❊ ❊ ❊

Giao phong trong chốn quan trường, trước hết là phải có "lý". Dựa vào lý mà biện bác, nhằm bảo vệ mục đích của mình.

Người biện bác mạnh là những người có quyền có thế và nhờ có biện bác mạnh mà đoạt được cái lý.

Trong chốn quan trường thời cổ, quyền lực là tất cả. Mất quyền là mất hết! Người có quyền thường chẳng coi pháp luật ra gì, hay làm những điều xằng bậy. Khi bị người khác công kích thì thường biện bác mạnh để giữ lấy cái lý của mình.

Vì vậy, biện bác mạnh mẽ thường là một loại thủ đoạn trong lúc giao phong ở chốn quan trường của những người có quyền thế.

Đối với các vị tham quan, thơ cổ đã có câu: "Tam niên thanh tri phủ, thập vạn tuyết hoa ngân"14. Trong chốn quan trường, không mấy người thừa nhận mình là một tham quan. Loại người tham lam biển lận thường là những kẻ ra sức vơ vét tài sản, tiền bạc cho đầy túi tham của mình. Mặt khác lại cố thoa son trát phấn, giả bộ là người thanh bạch, liêm khiết, hy vọng giữ được tiếng thơm ở đời. Nhưng biện pháp này thường có kết quả ngược lại. Thực đúng là: "Đất này không có vàng bạc ba trăm lạng, Vương Nhị cách tường kia biết trộm gì đây!".

Khổng Tường Hi là anh em cọc chèo với Tưởng Giới Thạch, là chồng của Tống Ái Linh. Trong chốn quan trường, họ Khổng là một trong số hàng ngàn hàng vạn những viên tham quan. Dưới thời chính phủ Quốc dân Nam Kinh, Khổng là bộ trưởng Tài chính, thống đốc ngân hàng trung ương, chủ quản tài sản quốc gia.

Từ đầu những năm 30, thông qua việc in tiền, phát hành công trái, thu mua vũ khí bên quân đội, Khổng Tường Hi đã thu về được một khoản lợi nhuận kếch sù. Trong đó, chỉ tính riêng khoản chỉnh lý công trái, Khổng đã thu tới 3 ngàn vạn đồng.

Trước hết người ta phao tin: mục đích chỉnh lý công trái là để cắt giảm tiền lời. Lập tức rất nhiều người đem bán phiếu công trái đi, giá trái khoán hạ thấp chưa từng thấy. Họ Khổng liền cho người bí mật mua về tất cả những trái khoán đó. Chờ khi giá cả thị trường chứng khoán tăng vọt lên, mới đem bán lại bằng hết. Khổng Tường Hi là người có quyền về tài chính quốc gia, nắm vững thời hạn phát hành, lưu thông và thu hồi trái khoán, có thể tạo nên những biến động lớn trên thị trường chứng khoán, ngồi mà hốt bạc trong những khâu then chốt như vậy!

Sau khi cuộc kháng chiến bắt đầu, tiền giấy của chính phủ ngày càng mất giá. Người ta đua nhau tìm mua ngoại tệ. Đồng bảng Anh, đồng đôla Mỹ, giá trao đổi và giá trên thị trường chợ đen chênh nhau lớn. Do giới tài chính Trung Quốc có đại biểu tham dự việc khởi thảo quyết định về giá cả trong thị trường ngoại hối ở tô giới Thượng Hải, nên một người như Khổng Tường Hi, Hành chính viện trưởng kiêm bộ trưởng Tài chính thì dễ dàng qua bọn họ mà nắm được tình hình giá cả. Đầu tháng 8 năm 1939, Khổng phu nhân Tống Ái Linh đã sai khiến bọn tay chân, trong một lần mua tới bốn vạn bảng Anh trên thị trường ngoại hối Thượng Hải.

Đầu năm 1943, chính phủ Quốc dân dùng một ức trong số năm ức đô la vừa vay được của Mỹ, giúp cho việc phát hành "Mỹ kim công trái". Khi công trái bán được khoảng năm ngàn vạn đô la thì Khổng Tường Hi hạ lệnh ngừng tiêu thụ. Một nửa số công trái còn lại họ Khổng mua bằng hết với giá trao đổi. Chờ khi giá cả trên thị trường ngoại hối nâng cao lại đem ra bán. Khổng thu được một khoản lợi nhuận kếch sù. Đó là chuyện vụ "Mỹ kim tham ô án" sôi động một thời.

Bởi vậy, trong con mắt quảng đại nhân dân quần chúng, Khổng Tường Hi ngang bằng với sự "thâm ô", "giàu có và quyền thế".

Năm 1929, trong lần gặp mặt hàng năm của hội kinh tế học Trung Quốc, nhà kinh tế học Mã Dần Sơ đã hỏi thẳng Khổng Tường Hi, chỉ trích ông này lợi dụng lúc đất nước còn khó khăn để phát tài, phát lộc. Vào năm sau, cũng trong một lần gặp mặt, Mã Dần Sơ lại đề xuất nên trưng thu thuế tài sản của những người giầu lên trong lúc đất nước còn khó khăn. Và trước hết nên bắt đầu từ những nhà giầu có, quyền thế trong họ Khổng, họ Tống. Rất nhiều tham chính viên trong Tham chính hội Quốc dân cũng đề xuất: "Chi viện kháng chiến bằng tiền của, bằng sức lực". Các nhà giầu có, quyền thế trong hai họ Khổng, họ Tống cần bỏ tiền ra chi viện kháng chiến.

Tháng 12 năm 1941, mở đầu từ các trường học ở miền Tây nam, Côn Minh xảy ra cuộc "vận động chống Khổng, lật đổ Khổng" với qui mô lớn. Thậm chí trong đảng, trong đoàn thể còn đòi bãi miễn Khổng Tường Hi - Tham chính viên Quốc dân Hoàng Viêm Bồi, Phó Tư Niên, trong hội nghị Tham chính còn chất vấn về "Mỹ kim tham ô án", đòi phải truy cứu trách nhiệm.

Có một lần, con người quyền cao chức trọng nhưng nổi tiếng xấu xa đó, đến báo cáo tại ban huấn luyện cán bộ đoàn trung ương, đã tự xưng mình là liêm khiết.

Chủ đề báo cáo của Khổng Tường Hi là "kinh tế" thời chiến và hiệu suất hành chính". Nội dung báo cáo thể nào cũng liên quan tới những tình cảm chân chính chống Nhật để giáo dục thanh niên. Khi giảng giải tới đoạn "người có tiền giúp tiền, người có sức giúp sức" thấy một tay ông ta sờ bụng, một tay sờ vào túi tiền, miệng cao giọng nói:

Trước khi ra làm quan, ta nhờ buôn bán mà có được nhiều tiền! Có người bảo ta giàu có và quyền hành, có kẻnói ta lợi dụng đất nước khó khăn mà làm giàu! Thực là phỉ báng lắm lắm! Ta đâu có giàu sang và quyền thế? Ta tuy quản về tài chính nhưng lại rất thanh bạch. Chưa bao giờ lấy tiền công bỏ vào túi riêng!

Trong đoàn khi đó có không ít những thanh niên nhiệt tình yêu nước và hăng hái chống Nhật. Từ lâu, họ đã chán ghét cảnh giàu sang quyền thế trong hai họ Khổng và Tống. Khi nghe Khổng Tường Hi bộc bạch những là "đất này không có vàng bạc ba trăm lạng" thì trong đám người nghe đã xuất hiện cảnh tượng náo loạn. Lời nghị luận, tiếng cười nhạt; người đả kích, kẻ huýt sáo, đâu đâu cũng có. Buổi nói chuyện của Khổng Tường Hi không sao tiếp tục được nữa! Ông ta lẳng lặng rời khỏi ban huấn luyện.

Trong chốn quan trường, các quan lại bênh nhau là chuyện thường thấy.

Trong lúc Khổng Tường Hi bị nhân sĩ các nơi chỉ trích, thì Tưởng Giới Thạch, người cầm đầu của bốn đại gia tộc đã đứng ra bao che cho họ Khổng. Tưởng Giới Thạch nói:

- Mã Dần Sơ mắng Khổng Tường Hi là mắng ta.

Rồi hạ lệnh bắt và giam lỏng Mã Dần Sơ. Họ Mã giận quá, chửi rủa Tưởng Giới Thạch:

- Anh hùng dân tộc cái gì! Chỉ là anh hùng trong xó bếp!

Ngày mùng 1 tháng 11 năm 1943, trong buổi kỷ niệm mười năm ngày Khổng Tường Hi làm bộ trưởng Tài chính, Tưởng Giới Thạch có lời mừng:

Ra sức giúp rập, cùng nhau trị nước. Gặp lúc khó khăn, nhiệm vụ nặng nề - Trước ngày chiến tranh, trong lúcchiến tranh, cách tân chu đáo, ra sức cần mẫn, hết cảnh gian nan. Hai mươi năm tới, tóc mai điểm bạc, tiếp tục hợp sức, đất nước vinh quang. Dưới thì thương dân, hết lòng phò trên, tự cường không nghỉ...

Tống Tử Văn cũng công nhiên biện hộ cho Khổng Tường Hi:

Từng trải qua công việc ở bộ Tài chính, bỉ nhân biết rõ có nhiều người không thấy hết những khó khăn của nền tài chính trong chiến tranh. Lúc thường, công việc tài chính sa sẩy thì thất bại đó chỉ thuộc về cá nhân người phụ trách. Nhưng thời chiến, công việc tài chính mà hỏng thì đấy không chỉ là thất bại của một cá nhân, một chính phủ mà còn là sự diệt vong của một dân tộc một đất nước. Vì vậy, trong sáu, bảy năm kháng chiến, Khổng bộ trưởng quả là vất vả. Ông phấn đấu hết mình, nhằm khắc phục mọi khó khăn, đưa nền kinh tế chiến tranh luôn luôn tiến tới. Thành tựu đó là một cống hiến cực kỳ to lớn cho dân tộc, đất nước. Là một chiến tích xuất sắc trong lịch sử.

Tống Tử Văn và Khổng Tường Hi là hai chuyên gia giầu sụ trong chính phủ Tưởng Giới Thạch và cũng là một đôi mâu thuẫn kịch liệt. Trong chính phủ Quốc dân, thường là Tống Tử Văn xuống thì Khổng Tường Hi lên, và ngược lại. Năm 1933, Tống Tử Văn từ chức bộ trưởng Tài chính trong chính phủ Quốc dân thì họ Khổng lên thay. Tống Tử Văn chuyển sang phụ trách công tác ngân hàng Trung Quốc. Tống Tử Văn nghĩ rằng mình bị hạ bệ là có bàn tay của họ Khổng, nên luôn luôn tìm cách chống lại Khổng Tường Hi. Họ Tống vay một số tiền lớn của Mỹ nhưng không cho Khổng Tường Hi biết. Có một số việc họ Tống để cục trưởng cục nghiệp vụ ngân hàng trung ương thay mặt mà không hề hội báo với Khổng Tường Hi.

Năm 1944, họ Khổng bị hạ bệ, thì Tống Tử Văn lại lên thay.

Nhưng trước tình hình có liên quan đến danh dự của bốn đại gia tộc, thì Tống Tử Văn liền gạt mâu thuẫn sang bên, để sẵn sàng ca ngợi Khổng Tường Hi.

Trong buổi lễ kỷ niệm, Hà Ứng Khâm, bộ trưởng quân chính Quốc dân đảng, kiêm tham mưu tổng trưởng trong hội đồng quân sự, cũng hết lời ca ngợi họ Khổng:

Sau cuộc kháng chiến đến nay đã có sáu năm và bốn tháng. Khi chiến tranh bắt đầu, kẻ thù căn cứ vào nền kinh tế và tình hình vũ lực của ta khi đó mà đoán rằng chúng ta chỉ có thể cầm cự được khoảng một năm rưỡi! Chẳng ngờ sau đó, nền tài chính của chúng ta trở nên phát đạt. Bộ Tài chính với kế sách của Khổng bộ trưởng, đã chu cấp đầy đủ cho nhu cầu của kháng chiến, góp phần làm cho tình hình quân sự của chúng ta trở nên ổn định. Cuộc chiến tranh hiện đại cực kỳ tốn kém, kinh tế vô cùng quan trọng. Chiến tranh cần lương thảo đạn dược. Không thứ gì là không cần đến tài chính. Kháng chiến thắng lợi, công đầu thuộc về ngành tài chính. Cuộc kháng chiến của Trung Quốc từ yếu thành mạnh, chuyển bại thành thắng, bề ngoài tưởng chừng đó là kết quả của tướng sĩ hy sinh xương máu ngoài mặt trận, có biết đâu, tài chính mới là nhân tố quyết định quan trọng. Trước mắt, lục quân địch còn sa lầy ở nước ta khoảng hơn trămvạn, một phần năm số không quân bị ta khống chế. Chúngđều có thể bị ta tiêu diệt bất kể lúc nào. Có những thànhtích trên đều do nền tài chính của chúng ta có biện pháp, góp phần làm nên sức mạnh về quân sự. Đây là công trạng lớn lao của Khổng bộ trưởng. Ngày nay các tướng sĩ ở tiền phương, quân nọ ngựa khỏe, quân nhu đầy đủ. Tất cả là nhờ ở Khổng bộ trưởng. Xin được thay mặt cho chiến sĩ lục, hải, không quân trong cả nước gửi tới ngài bộ trưởng ngàn vạn lần kính trọng và biết ơn!

Qua miệng Hà Ứng Khâm: "Khổng bộ trưởng", đối với cuộc kháng chiến ở Trung Quốc đã có cái gọi là "công huân trác việt", không chỉ có tướng sĩ toàn quốc, mà ngay cả toàn thể dân tộc Trung Hoa cũng đáng phải cảm tạ ông ta. Nhưng nếu không có nhân dân cả nước, kiều bào hải ngoại thắt lưng buộc bụng, góp của góp công thì không biết "Khổng bộ trưởng" vớ bẫm kia "cho" được cái gì đây? Và tình hình trước mắt chúng ta rồi sẽ ra sao?

Hà Ứng Khâm mở miệng tán dương, tâng bốc bợ đỡ chắc không ngoài mục đích để lấy lòng tứ đại gia tộc kia.

Nhưng hàng loạt những vết nhơ nọ của Khổng Tường Hi thì không những nhân dân cả nước bất mãn, mà ngay nước Mỹ cũng không hài lòng. Chính phủ Mỹ chỉ trích nặng nề Khổng Tường Hi và yêu cầu Tưởng Giới Thạch phải thay ngựa.

Năm 1944, Tưởng Giới Thạch đã tìm cớ miễn các chức bộ trưởng Tài chính, viện phó viện Hành chính, thống đốc ngân hàng trung ương của Khổng Tường Hi. Từ đó về sau họ Khổng không làm thêm một chức vụ gì nữa.

Quan tham thường không ưa người khác bảo mình tham. Càng tham càng thích rêu rao là mình mẫu mực. Và những kẻ thường dây máu ăn phần cũng hùa nhau lên tiếng thanh minh: "người đó đúng là vị quan thanh liêm!". Trên thực tế thanh hay đục, liêm hay tham, nhân dân sẽ nhìn ra hết!

2. MUỐN CHE ĐẬY CÁI ĐÃ RÕ MƯỜI MƯỜI

Tháng 2 năm 1931, với một thủ đoạn bất thường, bất cần luật pháp, chủ tịch chính phủ Quốc dân Tưởng Giới Thạch đã bắt giam viện trưởng viện Lập pháp là Hồ Hán Dân. Một hành động hết sức xem thường chính thể Quốc dân. Thử xem Tưởng Giới Thạch giải thích như thế nào về hành động phi pháp đó?

Vào hôm Hồ Hán Dân bị áp giải đến Thang Sơn, Tưởng Giới Thạch lệnh cho các tờ báo lớn đều đăng tin viện trưởng viện Lập pháp Hồ Hán Dân đã xin từ chức. Báo nói Hồ Hán Dân vì bất đồng ý kiến với Tưởng Giới Thạch, đã bực tức nêu ra vấn đề từ chức và lánh cư ở Thang Sơn.

Hôm sau, trong buổi lễ kỷ niệm hàng năm của chính phủ Quốc dân, Tưởng Giới Thạch có bài nói chuyện, chỉ trích Hồ Hán Dân phạm bốn sai lầm lớn:

Thứ nhất, giải thích sai lầm di chúc của thủ tướng.

Đồng chí Hồ Hán Dân không đếm xỉa gì đến ý kiến của đảng, của quốc dân. Cá nhân kiên quyết chống lại ước pháp, không quán triệt ý kiến của Tôn Trung Sơn. Lúc sinh thời, có đến chín phần mười chủ trương của thủ tướng thỏa hiệp với ý kiến của Hồ Hán Dân.

Thứ hai, qua danh nghĩa viện Lập pháp hòng nắm đại quyền.

Muốn lấy quyền của viện trưởng viện Lập pháp để tùy tiện hủy bỏ luật pháp hoặc đề ra điều luật mới.

Thứ ba, phản đối việc soạn thảo ước pháp.

Đưa tới việc tranh cãi cần ước pháp hay không cần ước pháp, gây cho đảng và nhà nước những khó khăn khôn lường.

Thứ tư, nói năng quá mức làm xao xuyến lòng người.

Tưởng Giới Thạch còn nói bừa rằng: Hồ Hán Dân thừa biết nếu xin từ chức thì trung ương sẽ không duyệt, vì tình cảm đồng chí, vì nghĩ đến công lao của ông ta trong những năm tháng ở cạnh Tôn Trung Sơn, nên đã cáo bệnh mà từ quan.

Trong bữa tiệc chiêu đãi toàn thể các ủy viên viện Lập pháp, Tưởng Giới Thạch giải thích về quá trình "từ chức" của Hồ Hán Dân:

Ước pháp là vấn đề mấu chốt cực kỳ lớn lao liên quan tới sự tồn vong của đảng, của Trung Quốc. Hồ Hán Dân cho rằng hội nghị Quốc dân không nên xây dựng ước pháp. Nhiều đồng chí trung ương bất mãn vô cùng! Nhiều chủ trương của Hán Dân, ta đã có phần thỏa hiệp. Nhưng đối với những chủ trương quan hệ đến phương châm đại chính, đến chủ nghĩa thì quyết không thể được. Hán Dân vì chính kiến bất đồng mà cáo ốm từ quan. Đó chính là thái độ của một nhà chính trị!

Họ Tưởng mong muốn toàn thể ủy viên lập pháp "thông cảm" cho vấn đề này, không nên vì tình cảm mà để hỏng việc lớn.

Đồng thời, ban chấp hành trung ương Quốc dân đảng cũng thông điện khắp trong ngoài nước, nhằm giải thích hai nguyên nhân dẫn tới việc từ chức của Hán Dân. Một là quá lao lực sinh nhiều bệnh, không thể đảm nhiệm được công việc nặng nề. Hai là, ý kiến đồng chí Hồ về vấn đề khởi thảo ước pháp trong hội nghị Quốc dân khác với ý kiến trung ương, nên bực bội và xin từ chức.

Tin tức Hồ Hán Dân bị giam lỏng truyền ra ngoài. Tuy Tưởng Giới Thạch đã nhiều lần giải thích, nhưng tình hình khắp nơi trong cả nước vẫn hết sức xôn xao! Dư luận trong và ngoài nước không ngớt lời chỉ trích Tưởng Giới Thạch là độc tài. Các phe phái khác, nhân dịp này, giương cao ngọn cờ chống Tưởng, kéo nhau xuống miền nam, tụ tập ở Quảng Châu. Ngay như kẻ thù luôn luôn chống đối Hồ Hán Dân là Uông Tinh Vệ cũng lập tức phát biểu "Tuyên ngôn quan trọng về việc bắt giam Hồ Hán Dân", chỉ trích Tưởng Giới Thạch "vừa mở tiệc mời khách, vừa rút súng bắt người. Là chủ tịch chính phủ Quốc dân nhưng lại hành động như một tên địa chủ ác bá, một viên quan chó trong Thanh phong kiếm. Thật không ai sánh kịp!" Họ Uông cũng từ Hương Cảng đáp đến Quảng Châu gia nhập đoàn người chống Tưởng.

Các ủy viên chấp hành trung ương đảng khóa I, II và III thuộc phái chống Tưởng, ủy viên giám sát, phái Uông Tinh Vệ, phái Hồ Hán Dân, phái Tây Sơn hội nghị, Quế hệ, gạt bỏ những hiềm khích cũ, tập trung về Quảng Châu, tổ chức một liên minh chống Tưởng rộng lớn hơn so với liên minh chống Tưởng sau đại chiến ở Trung Nguyên năm 1930.

Họ Tưởng muốn che đậy cái đã rõ mười mười, chẳng khác gì tự bố một phiến đá đập vào chân mình.

3. ĐẤU PHÁP CỦA TƯỞNG GIỚI THẠCH, LÝ TÔNG NHÂN

Chính quyền một đất nước qua nhiều thời đại đều nhờ vào "phép tắc" để duy trì. Trong chốn quan trường cũng phải có phép tắc. Nhưng mọi người thường hay quên rằng: phép tắc phục vụ con người. Người định ra phép tắc. Chỉ có con người mới giải thích được nó.

Con người vì địa vị khác nhau mà sinh ra khác nhau. Vì thế, họ hiểu biết và giải thích về phép tắc cũng khác nhau. Cái chính là xem xem họ có nắm được quyền lực chấn chính hay không?

Ý chí của những người nắm được quyền lực chân chính là "phép tắc". Lời nói của họ cũng có "tiếng vang lớn". Dù họ có làm điều bậy bạ đi nữa thì cũng có thể bảo đấy là lý, là "phép tắc". Còn những người hữu danh vô thực, thì dù nói có hay, có lý có cứ thì cuối cùng vẫn phải thất bại thảm hại.

Cuộc đấu tranh xung quanh chức vụ "tổng thống" của Tưởng Giới Thạch và Lý Tông Nhân là như vậy.

Tháng 1 năm 1949, đại quân giải phóng đến gần Trường Giang, sau khi Tưởng Giới Thạch cầu xin "viện trợ của Mỹ" không xong, Quế hệ vào cung, buộc Tưởng phải phát thông điện "cầu hoà" và tuyên bố từ chức. Phó tổng thống Lý Tông Nhân lên thay, tiến hành hòa đàm với Trung Cộng. Cũng như hai lần từ chức trước kia, họ Tưởng coi như "đã giải tỏa xong trách nhiệm chính trị" nhanh chóng rời khỏi Nam Kinh, trở lại quê nhà Khê Khẩu, Phụng Hóa, Triết Giang. Hoàn toàn thoát ra "ngoài vòng chính trị".

Nhưng thực chất thì họ Tưởng không chịu rời bỏ quyền lực của mình. Trấn Khê Khẩu vẫn là nơi đi về của các yếu nhân quân, chính Quốc dân đảng. Qua điện đài, họ Tưởng vẫn ra lệnh đều đặn cho quân lính Quốc dân đảng ở khắp các nơi. Trên danh nghĩa là thủ lĩnh của đảng, họ Tưởng vẫn khống chế nhiều mặt trong công tác quân, chính, đảng.

Sau khi lên thay tổng thống, Lý Tông Nhân hiểu rất rõ: Chừng nào mà Tưởng Giới Thạch chưa đi thì ông ta chẳng có một chút tác dụng nào cả. Mong muốn thoát khỏi tình cảnh đó, và giành được quyền lực từ tay họ Tưởng, Lý Tông Nhân không tiếc một thứ gì, hòng buộc được họ Tưởng phải ra nước ngoài.

Một mặt. Lý Tông Nhân yêu cầu nước Mỹ giúp ngăn trở họ Tưởng "can dự việc chính quyền". Mặt khác họ Lý viết thư gửi Tưởng Giới Thạch nói rõ: nếu họ Tưởng không ngừng việc làm trên, thì Lý sẽ "quyết tâm rút lui, để cảm tạ nhân dân cả nước". Đồng thời, yêu cầu Trương Trị Trung, và nguyên lão Quốc dân đảng Ngô Thiết Thành, là những người cùng quan điểm, đi Khê Khẩu khuyên Tưởng ra nước ngoài.

Tưởng Giới Thạch nghĩ dụng tâm của Lý Tông Nhân như vậy là đầy ác ý, nên vừa nhìn thấy Trương Trị Trung và Ngô Thiết Thành, họ Tưởng đã nói ngay:

- Các ông đến khuyên ta ra nước ngoài, thì báo chí đã đăng hết cả rồi! Buộc ta từ chức thì còn được, chứ buộc ta "mất mạng" thì đừng hòng! Sau khi từ chức ta trở thành người dân bình thường. Đi đâu, ở đâu mà chẳng được. Huống hồ đây lại là quê hương của ta!

Nói đến vậy thì Lý Tông Nhân còn biết làm gì họ Tưởng nữa!

Quốc, Cộng hòa đàm đến giai đoạn then chốt. Đại biểu Trung cộng đưa ra bản "hiệp định hòa bình trong nước" vừa được sửa chữa lần cuối. Lý Tông Nhân không dám tự quyết, một mặt cho người đưa tài liệu về Khê Khẩu, mặt khác triệu tập hội nghị tướng lĩnh Quế hệ để bàn bạc. Một người quân quyền rất mạnh như Bạch Sùng Hi phản đối ngay. Ông ta nói:

- Nếu Trung cộng kiên trì vượt sông, không nhận nghị hòa, không ngồi hòa đàm thì chúng ta nhất định phải đầu hàng vô điều kiện.

Tưởng Giới Thạch cũng cho rằng "bản hiệp định sửa chữa lần cuối" là buộc chúng ta phải đầu hàng vô điều kiện!.

Thấy không mặc cả được với Trung cộng, không thể "chia sông để trị", không giữ được một nửa giang sơn cho Quốc dân đảng, nên Lý Tông Nhân từ chối ký tên vào bản hiệp định hòa bình. Hội nghị hòa đàm giữa hai bên bị phá vỡ. Lập tức quân giải phóng nhân dân mở chiến dịch vượt sông.

Tưởng Giới Thạch cảm thấy vương triều sắp sửa diệt vong, nên đã nhanh chóng kết thúc cuộc sống "ẩn cư" ở Khê Khẩu, trở lại chiến trường chính trị, mà thực ra, ông ta cũng chưa hề xa rời nó bao giờ.

Ngày 22 tháng 4, Tưởng Giới Thạch bay đến bên hồ Tây Tử, Hàng Châu. Với danh nghĩa thủ lĩnh của Quốc dân Đảng, cho triệu Lý Tông Nhân, Hà Ứng Khâm, Bạch Sùng Hi, Trương Quần, Vương Thế Kiệt và Ngô Trung Tín để bàn bạc tìm đối sách. Hội nghị quyết định:

Chính phủ có duy nhất một con đường là chống Cộng đến cùng. Về mặt chính trị, phấn đấu xây dựng một liên hợp các nhân sĩ tự do, dân chủ trong cả nước. Về mặt quân sự, Hà Ứng Khâm kiêm chức bộ trưởng quốc phòng, chỉ huy thống nhất hải, lục, không quân. Phải có biện pháp khẩn cấp để tăng cường sự đoàn kết trong đảng, thúc đẩy mối quan hệ giữa đảng và chính quyền. Vì vậy, phải thành lập "một ủy ban đặc biệt" ở trong đảng và Tưởng Giới Thạch là người chủ trì quan hệ giữa đảng và chính quyền với tư cách là thủ lĩnh của đảng.

Trong thời gian hội nghị, Lý Tông Nhân có ý nói với Tưởng Giới Thạch:

- Lúc đầu ngài đưa tôi ra là để tiến hành hòa đàm. Ngày nay việc đó đã thất bại, Nam Kinh sắp thất thủ. Bây giờ ngài tính xem nên làm thế nào?

Tưởng Giới Thạch mỉm cười, nói:

- Ông cứ lãnh đạo tiếp tục. Ta luôn luôn ủng hộ ông. Đừng nản lòng!

- Nếu ngài vẫn muốn bỉ nhân tiếp tục làm việc, thì không khi nào bỉ nhân dám từ nan. Nhưng hiện nay chính quyền ba bè bảy mối, một nước ba vua (trước đây, Tưởng Giới Thạch ngồi sau rèm thao túng, Tôn Khoa viện trưởng viện Hành chính dời viện về Quảng Châu. Từ đó Quốc dân đảng hình thành cục diện chia cắt, một nước ba vua: Tưởng, Lý và Tôn) thì liệu có ai làm việc được không? Bỉ nhân lãnh đạo thế nào được?

Tưởng Giới Thạch mỉm cười nhạt, nhưng bề ngoài vẫn tỏ ra thành khẩn, nói:

- Ông làm thế nào cũng được! Bao giờ ta cũng ủng hộ ông!

Được họ Tưởng hứa hẹn như vậy, Lý Tông Nhân còn biết nói gì nữa. Ngay hôm đó, ông ta trở về Nam Kinh.

Nam Kinh sắp thất thủ. Vốn định bay đến Quảng Châu thì nay Lý Tông Nhân lại bay tạm về Quế Lâm, vẫn với mục đích tăng thêm áp lực buộc Tưởng trao lại quyền hành.

Tưởng Giới Thạch không ngờ Lý Tông Nhân lại làm như vậy. Nếu bản thân đến Quảng Châu tham chính thì lại không hợp, vì vậy, Tưởng phải cử mấy vị nguyên lão Quốc dân đảng, Cư Chính, Diêm Tích Sơn, Lý Văn Phạm theo Bạch Sùng Hi bay đi Quế Lâm hộ giá. Ba người cho biết: trước khi lên đường họ đã được Tưởng Giới Thạch hứa sẽ không can dự chính quyền trong vòng năm năm.

Sau đó, Trần Tế Đường, Chu Gia Hoa cũng đến Quế nhằm khuyên can. Hai vị Trần, Chu cho biết Tưởng hứa trao trọn đại quyền các mặt: Quân, Chính và Tài. Không thao túng từ hậu trường nữa!

Lý Tông Nhân thừa cơ đặt giá luôn:

Đi Quảng Châu điều hành công việc thì được. Nhưng Tưởng tiên sinh cần phải giữ lời hứa.

Thứ nhất, Bộ quốc phòng phải có toàn quyền chỉ huy. Tưởng tiên sinh không chỉ huy ở sau rèm!

Thứ hai, việc bổ nhiệm, bãi miễn quan lại do tổng thống, viện trưởng viện Hành chính tiến hành theo hiến pháp. Tưởng tiên sinh không can dự.

Thứ ba; các cơ cấu xí nghiệp, vật giá trung ương đều do ban chủ quản trong viện Hành chính trông nom. Không một ai được thao túng. Tiền bạc của cải trong ngân hàng trung ương phải được xuất, giúp ngành quân chính chỉ dùng.

Thứ tư, các cấp chính quyền phải theo đúng qui định của hiến pháp. Phân cấp chịu sự phụ trách của tổng thống và các viện trưởng. Không được nghe theo sự chỉ đạo của bất kỳ ai. Cơ quan chính phủ Quảng Châu phải thi hành trước tiên.

Thứ năm, Quốc dân đảng phải tuân theo qui định của một chính đảng bình thường. Giáo dục đảng viên tuân theo pháp luật. Không can dự vào công việc của chính quyền, khống chế chính quyền.

Thứ sáu, hi vọng Tưởng tiên sinh đi phỏng vấn các nước Âu, Mỹ...

Tưởng Giới Thạch xem xong sáu yêu cầu của Lý Tông Nhân thì tỏ vẻ bực bội. Lập tức phúc đáp ngay:

Điều một, họ Lý thay chức tổng thống, có quyền căn cứ vào hiến pháp mà điều chỉnh nhân sự về quân chính. Những người khác không được vi phạm.

Điều hai, lúc tại chức, để tài sản quốc gia khỏi rơi vào tay Cộng đảng, ta từng ra lệnh đem tiền bạc trong quốc khố chuyển đến địa điểm an toàn. Sau khi rút lui, chưa kịp làm tiếp việc đó. Mọi việc xuất nhập thu chi phải tuântheo qui chế bình thường. Bộ tài chính, ngân hàng trung ương đều có sổ sách rõ ràng, có thể xem xét. Không người nào được can thiệp vô lý, chỉ tiêu bừa bãi.

Điều ba, việc phân phối đồ quân giới do Mỹ viện trợ, bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm. Nhưng tổng thống vẫn phải để mắt tới. Cũng nên qua sổ sách mà xem xét. Riêng số súng đạn từ Đài Loan chuyển vào vẫn thuộc quyền hạn của chính phủ, phải do chính phủ xử lý.

Điều bốn, bộ quốc phòng chỉ huy, điều động quân đội. Những kẻ vi phạm mệnh lệnh đều bị xử theo pháp luật là điều đương nhiên.

Điều năm, hội nghị Hàng Châu ngày 22 tháng 4 quyết định thành lập ủy ban đặc biệt. Khi đó có Lý tổng thống tham dự. Mọi người cùng nhau thảo luận đề cương, không thấy ai có ý kiến phản đối. Ngày nay muốn hủy bỏ nghị quyết đó, cần phải được thường vụ trung ương xem xét. Riêng nền chính trị dân chủ và nền chính trị của chính đảng có những phần khác biệt không thể coi ngang bằng mà xem xét!

Còn đối với việc ra nước ngoài, Tưởng cũng rất phẫn nộ:

- Nếu Trung Chính không phục chức nữa sẽ lập tức ra nước ngoài. Nhưng điều này còn nhiều việc cần phải bàn. Trung Chính xả thân hơn 40 năm vì cách mạng, nguyện suốt đời phấn đấu cho nền độc lập, tự do của đất nước. Chỉ cần Trung Quốc còn có một mảnh đất tự do, giữ được chủ quyền và độc lập thì Trung Chính bất tín sẽ không có chỗ đứng chân.

Một lần khác Tưởng lại thể hiện:

- Ngày nay đất nước gặp lúc khó khăn nguy cấp, mà Đức Lân huynh đối với Trung Chính lại xa cách vời vợi, thì đúng sai, ai cũng tỏ. Người ủng hộ chính phủ trước đây được coi là kẻ phá rối chính phủ, khiến Trung Chính chỉ còn biết cao chạy xa bay, không màng tới chính sự nữa!

Câu nói cuối cùng của Tưởng coi như lời giải đáp cho Lý Tông Nhân. Họ Lý liền bay đi Quảng Châu, hòng thể hiện thế lực của "đảng quốc" trong 5 phút cuối cùng.

Sau khi Lý Tông Nhân bay đi Quảng Châu lập chính phủ thì Tưởng Giới Thạch đã nuốt lời, vẫn lấy danh nghĩa là thủ lĩnh của đảng để lôi kéo, khống chế chính phủ Quảng Châu.

Lý Tông Nhân vô cùng bực tức. Sau khi Thượng Hải thất thủ, Lý dứt khoát gọi điện cho Tưởng, mời ông ta về Quảng Châu "chủ trì chính cục".

- Ta là một tổng thống đã từ chức, lẽ thường không nên dính dáng đến chính sự nữa! Nên để mọi việc cho Lý tổng thống xử lý... Nhưng nghĩ tới lời dặn của thủ tướng lúc sinh thời: "nghỉ ngơi nhưng không quên nhiệm vụ, lúc ngọt bùi, đắng cay phải cùng nhau chia sẻ". Bây giờ đất nước gặp lúc nguy nan, khó khăn nhất! Với danh nghĩa là thủ lĩnh của đảng, ta phải đứng ra lãnh đạo quân dân quyết tử chiến với đảng Cộng sản.

Ngày 14 tháng 7, họ Tưởng từ Đài Bắc bay đi Quảng Châu và với danh nghĩa là thủ lĩnh của đảng triệu tập họp. Ngày 16, trong đảng thành lập một ủy ban đặc biệt. Hội nghị qui định: ủy ban là một cơ cấu đứng trên hiến pháp, một cơ quan quyền lực tối cao trong thời điểm đặc biệt. Mọi đường lối của chính phủ trước hết phải được trình và thông qua trước ủy ban đặc biệt mới có hiệu lực. Tưởng Giới Thạch với cương vị là một thủ lĩnh của đảng kiêm luôn chức chủ tịch ủy ban đặc biệt. Một lần nữa họ Tưởng từ hậu trường bước ra võ đài chính trị với đầy đủ quyền lực quân chính, đảng trong tay. Sau đó, lại với danh nghĩa là chủ tịch, họ Tưởng cho triệu tập hội nghị quân sự ở Hạ Môn. Mệnh lệnh được ban hành trong quân đội.

Tưởng Giới Thạch không giữ lời hứa: trong vòng năm năm không can dự chính sự. Liệu Lý Tông Nhân còn cách nào hơn là rời bỏ Quảng Châu?

Để được danh chính ngôn thuận, Tưởng Giới Thạch lại bày ra cái gọi là "dân ý" yêu cầu Tưởng nhận lại chức "tổng thống", buộc Lý Tông Nhân phải thoái vị vào lúc gay cấn nhất. Ngày mùng 1 tháng 11, trên tờ "Trung ương nhật báo" của Quốc dân đảng, ngay trang đầu đăng tin "Nhân dân Xuyên, Khang trung thành, cảm kích điện mời thủ lĩnh về Du lãnh đạo". Ngày 31 tháng 10 đã đăng điện mới của hơn hai trăm người đại biểu cho ý dân Xuyên, Khang, Du mời Tưởng nhanh chóng về Du để cùng mưu quốc sự.

Đồng thời với lúc đó, thuyết khách của họ Tưởng luôn luôn vào ra chỗ ở của Lý Tông Nhân, khuyên Lý tham gia "khuyên tiến". Ngô Trung Tín là người tiên phong tích cực nhất.

Lý Tông Nhân tức giận lắm! Ông ta nói với Tín:

- Lễ Khanh huynh, khi trước Tưởng tiên sinh muốn rút, đề cử đệ ra thay. Bấy giờ đệ đã kiên quyết từ chối! Ngay huynh khi đó cũng khuyên đệ không nên từ nan. Về sau Tưởng tiên sinh lại thọc gậy bánh xe nơi hậu trường, làm cho tình hình càng thêm rối ren. Bây giờ các huynh lại đến bảo đệ khuyên tiến. Thật đệ chẳng còn mặt mũi nào mà làm như vậy. Tưởng tiên sinh muốn ra phục chức thì cứ ra chứ có sao!

Lý Tông Nhân không muốn viết "lời khuyên tiến" cho họ Tưởng. Sau khi Quảng Châu, Quế Lâm thất thủ liền bay đi Hương Cảng.

Tưởng Giới Thạch vẫn chưa cam tâm, liền đem chức "Hành chính viện trưởng" mê hoặc Bạch Sùng Hi của Quế hệ để họ Bạch tiếp tục bảo Lý Tông Nhân "khuyên tiến".

Căn cứ vào "pháp luật", Lý Tông Nhân đã trả lời Bạch Sung Hi:

Không có căn cứ nào để phục chức. Lý do là: người từ chức trở thành dân thường thì quyết không thể khôi phục lại chức vụ mình đã bỏ.

Bỉ nhân thay thế, không phải thay thế cá nhân thủ lĩnh, mà là thay thế chức vụ tổng thống.

Theo hiến pháp, khi khuyết vị vì tử vong thì phải thay thế. Thủ lĩnh không tử vong, chắc phải có lý do gì đó không điều hành được chức vụ, vì thế mới phải thay thế.

Tổng thống rút lui thì Viện trưởng Hành chính thay thế, Ba tháng sau tổ chức bầu lại. Tổng thống tiền nhiệm không được phép ra thay thế.

Trong tình thế "Quốc quân" bại trận như băng tan núi lở, Lý Tông Nhân cảm thấy việc nước không còn cơ cứu vãn. Vừa tránh được Tưởng Giới. Thạch bức phải khuyên tiến, vừa bảo đảm an toàn (Tưởng từng phái người tìm cách giết Lý), Lý Tông Nhân tuyên bố đi Mỹ "chữa bệnh".

Tưởng Giới Thạch không ngờ Lý Tông Nhân lại bỏ ra nước ngoài vào lúc này. Vừa kinh dị vừa vội vã, Tưởng cử các "nguyên lão" thăm hỏi, khuyên can, hứa sẽ giao lại "toàn bộ quyền lực" cho họ Lý, mong Lý đem thuốc quay lại Đài Loan.

Lý Tông Nhân kiên quyết từ chối.

Tưởng Giới Thạch quyết định chính thức đánh bài ngửa với Lý.

Ngày 27 tháng 11, Tưởng triệu tập hội nghị các ủy viên thường vụ ban chấp hành trung ương đảng. Tưởng Giới Thạch tuyên bố trước hội nghị:

Về quan hệ đối ngoại, vấn đề quan trọng nhất là vấn đề địa vị đại biểu của chính phủ Quốc dân trong Liên hiệp quốc. Nếu Lý Tông Nhân ở Cảng lâu dài, không chủ trì chính phủ, ta lại không "nhận chức làm việc" thì khi chính phủ các nước bang giao, cho rằng nước ta là vô chính phủ, không có nguyên thủ, họ không thể không nghĩ tới việc thừa nhận chính quyền Bắc Kinh (Ngày mùng 1 tháng 10, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã được thành lập). Ngoài ra, đối nội còn có tác dụng ổn định nhân tâm. Ngày nay cả nước, nhân tâm dao động. Như ở Vân Nam, Lư Hán từng nói rõ: Lý thì ra nước ngoài, tổng thống Tưởng lại không chịu "phục chức", đất nước không người lãnh đạo, chúng ta còn hi vọng cái gì nữa! Vì thế, phải "nhận chức làm việc" ngay! Chỉ có thời gian là phải nghiên cứu thêm.

Tưởng Giới Thạch nêu ra những vấn đề hết sức cấp bách. Hội nghị trung ương quyết định: "Tưởng phục chức" và chỉ trích Lý Tông Nhân "rời bỏ nhiệm vụ". Đồng thời báo để Lý Tông Nhân biết: "trước mắt tình thế đất nước là nghiêm trọng, chiến tuyến miền Tây Nam đang nguy khốn, đầu não không thể thiếu người chủ trì. Mong muốn đồng chí Tông Nhân, người thay mặt tổng thống về trung ương điều hành công việc. Vạn nhất vì bệnh tật không cho phép, thì xin mời thủ lĩnh nhận lại chức vụ tổng thống.

Lý Tông Nhân bình tĩnh trả lời ban thường vụ trung ương đảng:

- Lý mỗ có đầy đủ địa vị "pháp thống" nên không thể tuân thủ nghị quyết của trung ương.

Sau khi biết rõ thái độ của Lý Tông Nhân, họ Tưởng không lùi mà tiến. Bằng giọng lưỡi của "Chúa cứu thế", ông ta nói với Diêm Tích Sơn và Trương Quần:

Ngày nay đất nước nguy khốn, ngàn cân treo sợi tóc, không thể không cứu. Có được danh chính ngôn thuận, thì quyết tâm "nhận chức làm việc". Không cần biết tới thành bại, lợi lộc ra sao!

Ngày mùng 5 tháng 12, trong lúc đang giương cờ gióng trống chuẩn bị cho họ Tưởng "nhận chức làm việc", Lý Tông Nhân lên máy bay sang Mỹ. Trước khi đi, Lý điện cho "Hành chính viện trưởng" Diêm Tích Sơn:

Bệnh dạ dày của bỉ nhân thêm nặng, không thể không sang Mỹ điều trị. Phải mất một tháng mới về được. Trong thời hạn ngắn ngủi đó, mọi việc quân chính ở trung ương, huynh cứ điều hành bình thường. Đối với những vấn đềquyết sách trọng đại, huynh cứ điện trao đổi với bỉ nhân vậy.

Lý Tông Nhân cứ thế ra đi, không thanh minh từ chức, cũng không nói lời rút lui. Với một vị trí bấp bênh như vậy, họ Tưởng hết sức tức giận, lên tiếng chửi đổng: "đồ con khẹc!".

Tưởng Giới Thạch quyết không chịu.

Sau khi lui ra Đài Loan, dưới sự chỉ đạo của Tưởng, trước hết "đại biểu toàn quốc" đã quyết nghị: "đất nước nguy nan", không thể một ngày vắng chủ, phải mời họ Tưởng phục chức tổng thống. Tiếp đó, ủy ban đặc biệt của trung ương đảng, "giám sát viện" liên tiếp thông điện buộc Lý Tông Nhân phải nhanh chóng trở về Đài Loan.

Từ bên kia đại dương Lý Tông Nhân điện về phúc đáp: Bệnh tình cần tĩnh dưỡng. Vả còn chờ có viện trợ Mỹ. Công việc chưa dứt, nên tạm chưa về Đài Loan!

Ở Đài Loan, Tưởng Giới Thạch khống chế để dư luận chỉ trích bức điện trả lời của Lý Tông Nhân, và mời Tưởng ra nhận chức "tổng thống".

Ngày 14 tháng 2 năm 1950, "Giám sát viện" điện chỉ trích sai lầm sao nhãng "quốc sự" của Lý Tông Nhân, chất vấn Lý Tông Nhân về Đài Loan hay từ chức? Đồng thời còn yêu cầu "đại hội Quốc dân" hạch tội họ Lý. Cùng hôm đó, ủy ban đặc biệt của trung ương đảng cũng gửi điện đến Lý Tông Nhân:

Nhân dân cả nước đều cho rằng chức quyền tổng thống và nguyên soái là không thể thiếu. Chính phủ càng không thể thiếu người cầm đầu. Nếu trước ngày viện Lập pháphọp, ông có thể trở về Đài Loan chủ trì chính sự thì thực là hợp! Nay lúc cần thiết lại không về được! Các đồng nghiệp cho rằng thời cục nguy cấp, cần phải mời thủ lĩnh, theo quyết nghị của hội nghị lâm thời ban chấp hành trung ương đảng ngày 27, tháng 11 (năm 1929), tiếp tục giữ chức tổng thống.

Lý Tông Nhân vẫn không về Đài Loan. Ông ta nói với mọi người rằng:

- Đài Loan là thiên hạ của riêng Tưởng tiên sinh. Họ Tưởng có toàn quyền sinh sát! Như vậy, mình về Đài Loan có khác gì chui đầu vào rọ! Họ Tưởng nhất định buộc mình phải "khuyên tiến". Chờ khi họ Tưởng đã yên vị thì tính mệnh mình sẽ ra sao? Đó là điều mà bất kỳ ai cũng đoán được. Trước đây, Tưởng tiên sinh đã hận mình lắm. Một khi đã mất tự do, thì e mình có muốn thành một Trương Hán Khanh thứ hai cũng chẳng xong!

Tưởng Giới Thạch thừa biết Lý Tông Nhân sẽ không về Đài Loan. Nhưng vẫn khống chế dư luận đòi hỏi điều đó với mục đích làm các giới ở Đài Loan không tin tưởng họ Lý, tạo điều kiện để ông ta phục chức hợp với ý dân! Lý Tông Nhân không về Đài Loan là điều rất hay. Vừa tránh được rất nhiều phiền hà, vừa có tự do về mọi mặt. Còn Tưởng Giới Thạch thì bắt đầu khuếch khoác:

- Có lẽ ta phải ra làm việc mới được! Nếu như năm ngoái ta không từ chức thì không thể có hiện tượng chỉ trong vòng một năm mà toàn bộ lục địa coi như mất sạch! Hậu quả việc ta từ chức là như vậy đó. Nhìn thấy mà đau lòng! Lúc này, tình thế đất nước thật nguy cấp, nếu mình vẫn bỏ trách nhiệm về quân sự về chính trị thì chỉ ba tháng nữa thôi Đài Loan chắc cũng chẳng còn. Mình ra làm việc thì Đài Loan còn có hi vọng.

Thế rồi, vào ngày 21 tháng 2, Lý Tông Nhân nhận được một thông điệp cuối cùng của ủy ban đặc biệt trung ương đảng: "Nội trong ba ngày phải về Đài Loan, bằng không thì coi như đã vứt bỏ chức quyền "tổng thống"".

Đương nhiên là Lý Tông Nhân không nghe theo thời gian biểu do Tưởng sắp đặt.

Ngày 23 tháng 2, ủy ban thường vụ trung ương Quốc dân đảng quyết nghị: mời Tưởng thủ lĩnh nhanh chóng khôi phục lại chức tổng thống. "Viện Lập pháp" Đài Loan cũng nhất trí thông qua quyết nghị mời Tưởng Giới Thạch khôi phục lại chức tổng thống.

Ngày mùng 1 tháng 3, Tưởng Giới Thạch danh chính ngôn thuận đăng cơ lần nữa ở Đài Loan. Hôm đó, ông ta phát biểu lời "phục chức" rất đĩnh đạc.

Trung Chính thân theo cách mạng đã hơn 40 năm. Vinh nhục, sinh tử từng đã nếm trải. Tiến hay thoái, đều theo ý kiến quốc dân. Ngày nay, đất nước lâm nguy, chịu sự ủy thác của toàn thể quân dân đồng bào, không thể chối từ - Ngày mùng 1 tháng 3 lại phục chính làm việc, cùng nhau góp sức, khôi phục đại lục, xây dựng lại một nước Trung Quốc mới theo chủ nghĩa Tam dân.

Đồng thời, Tưởng Giới Thạch điện gửi Lý Tông Nhân, mong Lý vẫn là "phó tổng thống" làm chuyên sứ cho Tưởng để tranh thủ ngoại viện.

Lý Tông Nhân bực tức vô cùng. Lập tức cho mở tiệc chiêu đãi các ký giả ngay trên đất Mỹ. Bắt đầu một cuộc tọa đàm công khai:

Lý ta vẫn là "tổng thống nước Trung Hoa Dân quốc", khoảng gần tháng nữa ta sẽ về "nước" lãnh đạo công việc "lật Tưởng".

Đồng thời, gửi điện cho Tưởng Giới Thạch, dẫn điều thứ 49 trong "hiến pháp" Quốc dân đảng và trách mắng Tưởng là "hoang đường, miệt thị":

Khuyết tổng thống thì có phó tổng thống kế vị cho đến hết nhiệm kỳ tổng thống. Khi khuyết tổng thống và phó tổng thống thì viện trưởng viện Hành chính thực hiện chức quyền đó. Và theo điều thứ 30 của hiến pháp qui định, triệu tập đại hội quốc dân lâm thời bầu bổ sung tổng thống và phó tổng thống với thời hạn cho đủ nhiệm kỳ của tổng thống.

Lý Tông Nhân căn cứ vào "pháp luật" để chất vấn:

- Tưởng Giới Thạch, không biết ông căn cứ vào "gia pháp" nào đề "phục chức" như vậy?

Câu hỏi đã đánh trúng điểm yếu. Tưởng Giới Thạch cảm thấy như có ngọn dao kề cổ! Tưởng liền giật dây để "Quốc dân đại hội đại biểu" là Hồ Trung Ngô liên danh với. 711 người khác yêu cầu "Quốc dân đại hội" bãi miễn chức vụ "phó tổng thống" của Lý Tông Nhân, với ba tội lớn:

Một là: Từ khi Lý Tông Nhân "thay chức tổng thống" đã "kêu gọi hòa bình bừa bãi, lại đau ốm liên miên, khiến đất mất quân tan". Đại lục lần lượt mất sạch. "Nói là tuần thú, nhưng bỏ sang Mỹ... mấy lần tháo chạy bỏ mặc nhândân đất nước!" Mắc tội "sao nhãng chức trách làm cho đất nước khốn đốn". Đó là lý do để bị bãi miễn.

Hai là: Ở bên ngoài, Lý "với chức quyền là một nguyên thủ, nhưng lại thiếu trách nhiệm, coi việc nước như trò đùa". Lý đã phạm pháp, mất chức". Cần phải bãi miễn Lý.

Ba là: nay Tưởng đã phục chức. Chức "thay tổng thống của "Lý cần phải vứt bỏ". Ngày nay một "tổng thống", một "thay tổng thống" chứng tỏ Lý đã phá hoại "pháp thống", làm dao động nhân tâm, "phụ lòng quốc dân". Cần phải bãi miễn Lý.

Nhưng có một bộ phận "đại biểu" phản đối, nên đề nghị của Tưởng không được chấp nhận.

Tưởng Giới Thạch quyết không cam chịu. Tháng 1 năm 1952, Tưởng lại thao túng Kim Duy Hệ và 92 "ủy viên giám sát" đề xuất án: "Hỏi tội Lý Tông Nhân phạm pháp mất chức". Bản án này được "Giám sát viện", đại hội thẩm tra dựng lên, và giao cho thư ký "đại hội quốc dân chuyển "Viện Lập pháp". "Viện Lập pháp" y "pháp" cho triệu tập "Quốc dân đại hội". Nhưng lúc bấy giờ số lượng đại biểu không đủ như "luật pháp qui định", nên không thể triệu tập đúng kỳ hạn. Cho mãi đến cuối năm 1953, "Lập pháp viện" thi hành lệnh của Tưởng, và bằng những biện pháp bất thường mới gom đủ số đại biểu theo "luật định" và khai mạc hội nghị lần thứ hai "Quốc dân đại hội" khóa I vào ngày 19 tháng 2, năm 1954.

"Quốc dân đại hội" lại điện cho Lý Tông Nhân trở về Đài Loan trả lời trước "Giám sát viện".

Sau khi nhận điện, Lý Tông Nhân cho rằng việc đề xuất và thông qua bản án trên là phi pháp.

Ngày mùng 5 tháng 2, Lý Tông Nhân gửi văn hàm bác bỏ đến Tưởng Giới Thạch:

Theo điều 90 của hiến pháp, xác định con số nhân viên giám sát là 223 người. Lại theo điều 100 của hiến pháp, án chất vấn tổng thống và phó tổng thống phải được quá bán tổng số các ủy viên giám sát quyết nghị và đề xuất với Quốc dân đại hội. Con số quá bán phải là 113 người. Ngày 11 tháng giêng năm ngoái chỉ có 93 ủy viên của viện đến họp. Theo luật định thì còn thiếu 20 người nữa! Ngô huynh đã phạm pháp, để ra việc chất vấn đối với bỉ nhân. Với đủ các lý do, nào là một số ủy viên chưa chọn được, một số ủy viên chưa báo kịp, có người thì vắng mặt v.v... để tự ý giảm số ủy viên xuống còn 160 người! Hiến pháp đã qui định rõ số người, có thể tùy ý giảm bớt hay sao? Cậy quyền, vứt bỏ pháp luật đến thế là cùng!

Tưởng Giới Thạch vẫn chẳng đoái tới. Trong lúc Lý Tông Nhân chưa kịp về Đài Loan biện giải, ông ta đã thao túng phiên họp thứ 6, "Quốc dân đại hội" kỳ 2 khóa I bãi miễn chức "phó tổng thống" của Lý Tông Nhân vì "vi phạm hiến pháp, bội ước lời thề" và thông qua án hặc tội Lý Tông Nhân "phạm pháp mất chức" do "Giám sát viện" đề xuất.

Đến đây, cuộc đấu tranh vì chức vụ "tổng thống" giữa Tưởng Giới Thạch và Lý Tông Nhân coi như mới kết thúc.

Người dịch: Ông Văn Tùng
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.