Một Họa Sĩ Phù Thế

Lượt đọc: 15 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
THÁNG MƯỜI MỘT NĂM 1949 (1)

❊ ❊ ❊

Hồi ức về lần đầu tiên tôi gặp tiến sĩ Saito vẫn còn rõ mồn một, và do vậy tôi khá tự tin về mức độ chính xác của ký ức ấy. Chuyện hẳn đã xảy ra cách đây mười sáu năm, vào sau hôm tôi chuyển vào nhà mới. Tôi nhớ đó là một ngày hè sáng sủa, và tôi đang sửa hàng rào bên ngoài, hoặc có lẽ đang gắn cái gì đó lên cổng vào, và chào hỏi những người hàng xóm mới. Rồi đến một lúc, khi lưng của tôi đang quay ra đường, tôi nhận thấy ai đó đang đứng sau mình, dường như đang quan sát tôi làm việc. Tôi quay lại thấy một người đàn ông trạc tuổi mình đang thích thú quan sát tên của tôi mới được khắc lên cột cổng.

“Vậy ra ông là ông Ono,” ông ta nói. “Ồ, quả là một vinh dự thật sự. Một vinh dự thật sự vì một người ở địa vị như ông làm hàng xóm chúng tôi. Bản thân tôi cũng có chút dính dáng đến giới mỹ thuật. Tôi là Saito, ở Đại học Hoàng thành.”

“Tiến sĩ Saito sao? Đây quả là một đặc ân. Tôi đã nghe về tiếng tăm ông, thưa ông.”

Tôi tin chúng tôi đã nói chuyện thêm một lát ở ngoài cổng nhà tôi, và tôi dám chắc là mình không nhầm khi nhớ rằng tiến sĩ Saito, vào dịp đó, đã vài lần nhắc đến tác phẩm và sự nghiệp của tôi. Và trước khi ông tiếp tục đi xuống đồi, tôi nhớ ông nhắc lại những lời đại để như: “Thật là vinh dự lớn được có họa sĩ như ông làm hàng xóm của chúng tôi, ông Ono.”

Sau đó, tiến sĩ Saito và tôi luôn chào nhau đầy cung kính mỗi khi chúng tôi tình cờ gặp mặt. Tôi đồ rằng đúng là, sau cuộc gặp gỡ đầu tiên đó – cho đến những sự kiện gần đây đã khiến chúng tôi trở nên thân thiết hơn – chúng tôi hiếm khi dừng lại trò chuyện lâu hơn. Nhưng ký ức về cuộc gặp gỡ đầu tiên đó, và về việc tiến sĩ Saito nhận ra tên tôi đề trên tấm biển ngoài cổng, vẫn đủ rõ ràng để tôi tự tin khẳng định rằng con gái lớn nhà tôi, Setsuko, đã nhầm lẫn, ít nhất là trong một vài điều con bé cố ám chỉ vào tháng trước. Ví dụ như, thật khó có chuyện tiến sĩ Saito lại không biết về tôi trước khi việc mai mối hôn nhân năm ngoái buộc ông phải tìm hiểu.

Bởi lần về thăm nhà năm nay quá ngắn, và bởi con bé dành thời gian ở nhà mới của Noriko và Taro ở quận Izumimachi, chuyến đi bộ của tôi cùng Setsuko sáng hôm ấy qua công viên Kawabe thực ra là cơ hội duy nhất để tôi có cuộc trò chuyện đúng nghĩa với con bé. Nên chẳng ngạc nhiên khi sau này, thỉnh thoảng tâm trí tôi lại hồi tưởng về cuộc trò chuyện đó, và tôi không cho là vô lý nếu giờ tôi thấy mình mỗi lúc một thêm bực bội vì một số điều con bé nói với tôi ngày hôm ấy.

Tuy vậy, lúc bấy giờ tôi không ngẫm nghĩ sâu xa lời nói của Setsuko, vì tôi nhớ mình đang có tâm trạng khá tốt, hạnh phúc vì lại được ở cùng con gái mình, và khoan khoái dạo bộ trong công viên Kawabe, một cái thú lâu rồi tôi không được hưởng. Chỉ mới một tháng trước, hẳn bạn còn nhớ, trời vẫn còn nắng, dù lá đã rụng rồi. Setsuko và tôi đang tản bộ trên con đường rộng có những hàng cây chạy xuyên giữa công viên, và bởi chúng tôi đến sớm khá lâu trước giờ hẹn gặp Noriko và Ichiro chỗ cạnh tượng Thiên hoàng Đại Chính, chúng tôi bước thong thả, thỉnh thoảng dừng lại chiêm ngưỡng cảnh sắc mùa thu.

Có lẽ bạn sẽ đồng ý với tôi rằng công viên Kawabe là nơi đáng thưởng ngoạn nhất trong các công viên thành phố; đặc biệt, sau một hồi dạo bộ trên những con phố nhỏ chật ních người ở quận Kawabe, ta sẽ nhận ra niềm khoan khoái tột cùng khi thấy mình đang ở trên một trong những con đường dài thoáng đãng với những hàng cây rợp bóng. Nhưng nếu bạn là người mới đến thành phố, và không biết về lịch sử công viên Kawabe, thì có lẽ tôi cũng nên giải thích ở đây tại sao công viên này luôn nhận được niềm quan tâm đặc biệt từ tôi.

Đây đó quanh công viên, chắc chắn bạn sẽ nhớ mình đã đi qua những vạt cỏ biệt lập, không cái nào lớn hơn khoảnh sân trường, có thể nhìn thấy qua những rặng cây khi bạn bước trên một trong những con đường ấy. Như thể những người quy hoạch công viên đã trở nên bối rối và bỏ dở kế hoạch, hoặc đã làm nửa vời. Thực là điều này cũng không phải là sai. Vài năm trước, Akira Sugimura – người chủ căn nhà mà tôi đã mua lại ít lâu sau khi ông mất – đã có một kế hoạch tham vọng nhất liên quan đến công viên Kawabe. Tôi biết ngày nay ít ai còn nhắc đến cái tên Akira Sugimura, nhưng tôi xin nói rằng cách đây không quá lâu, ông ấy dứt khoát là một trong những người có ảnh hưởng nhất ở thành phố. Tôi nghe nói có lúc ông sở hữu bốn căn nhà, và cứ đi quanh thành phố này một lúc thể nào ta cũng bắt gặp một công ty này hay công ty nọ thuộc quyền sở hữu hoặc có liên hệ chặt chẽ với Sugimura. Rồi, vào độ năm 1920 hay 1921, khi đương ở đỉnh cao thành công, Sugimura đã quyết định đặt hết gia sản vốn liếng vào một canh bạc là dự án sẽ giúp ông để lại dấu ấn vĩnh viễn lên thành phố này và cư dân nơi đây. Ông lên kế hoạch cải tạo công viên Kawabe – lúc bấy giờ còn là một nơi buồn tẻ không ai đoái hoài – thành một tụ điểm văn hóa của thành phố. Không chỉ diện tích được mở rộng để có thêm nhiều không gian tự nhiên cho người dân thư giãn, công viên đã trở thành nơi tọa lạc nhiều trung tâm văn hóa hoành tráng – một bảo tàng khoa học tự nhiên; một nhà hát kabuki cho trường Takahashi, ngôi trường gần đây đã mất đi khuôn viên của họ ở phố Shirahama vì hỏa hoạn; một nhà hát hòa nhạc phong cách châu Âu; và ngoài ra, điều này có hơi lập dị, còn có một nghĩa trang cho mèo chó trong thành phố. Tôi không thể nhớ ông còn có dự tính gì khác, nhưng dứt khoát đó là một kế hoạch tham vọng hoàn toàn. Sugimura hy vọng không chỉ làm biến đổi quận Kawabe, mà còn làm thay đổi cán cân văn hóa của thành phố, mang lại một điểm nhấn mới cho mạn Bắc dòng sông. Như tôi đã nói, đấy chẳng gì hơn nỗ lực của một người muốn để lại dấu ấn vĩnh viễn lên bản sắc của thành phố này.

Dường như việc xây dựng công viên đang diễn ra thì dự án gặp phải những khó khăn tài chính ghê gớm. Tôi không rõ chi tiết vụ việc, song kết quả là “những trung tâm văn hóa” của Sugimura không bao giờ được dựng nên. Bản thân Sugimura mất rất nhiều tiền, và không bao giờ lấy lại được ảnh hưởng trước đây của mình nữa. Sau chiến tranh, công viên Kawabe chịu sự quản lý trực tiếp của chính quyền thành phố, và họ đã xây dựng những con lộ có hàng cây. Những gì còn lại hôm nay từ dự án của Sugimura là những vạt cỏ trống trơn kỳ quặc, nơi lẽ ra là những bảo tàng và nhà hát của ông.

Tôi đã kể từ trước rằng những cuộc tiếp xúc của tôi với gia đình Sugimura sau khi ông mất – vào đúng dịp tôi mua căn nhà cuối cùng của ông – không phải kiểu khiến tôi đặc biệt có thiện cảm với ký ức về con người này. Tuy nhiên, mỗi khi thấy mình tản bộ quanh công viên Kawabe ngày nay, tôi bắt đầu nghĩ về Sugimura và những dự định của ông, và tôi thú nhận là mình bắt đầu cảm thấy chút ngưỡng mộ nhất định với con người này. Vì quả thực, một người khao khát vượt lên trên cái tầm thường để trở thành cái gì đó phi thường, người đó chắc chắn đáng được ngưỡng mộ, dù cho cuối cùng ông ấy đã tán gia bại sản vì những tham vọng của mình. Hơn nữa tôi có niềm tin rằng Sugimura không chết như một người bất hạnh. Vì thất bại của ông không hề giống những thất bại kém cỏi của hầu hết những đời tầm thường, và một người như Sugimura hẳn phải biết điều đó. Nếu người ta thất bại chỉ ở những thứ người khác không có can đảm hay ý chí để thực hiện, thì khi nhìn lại cuộc đời mình, ta sẽ tìm thấy trong cái nhìn đó một sự an ủi – quả vậy, một niềm thỏa nguyện sâu sắc.

Nhưng tôi không định ngẫm ngợi về Sugimura. Như tôi nói, nhìn chung tôi khá thích cuộc dạo bộ trong công viên Kawabe cùng Setsuko ngày hôm đó, dù cho một vài nhận xét của con bé – mà ý nghĩa của chúng, phải đến sau này ngẫm lại, tôi mới hiểu được hoàn toàn. Dù sao chăng nữa, cuộc trò chuyện của chúng tôi chấm dứt khi đang đi lưng chừng con đường, chúng tôi thấy tượng Thiên hoàng Đại Chính sừng sững không xa, chính là nơi chúng tôi dự định gặp Noriko và Ichiro. Lúc tôi đang đưa mắt nhìn những hàng ghế đặt chung quanh tượng thì bỗng nghe tiếng một cậu bé kêu lên: “Ông kìa!”

Ichiro chạy lại chỗ tôi, tay nó dang ra như thể đón trước một cái ôm sắp sửa. Nhưng khi đến cạnh tôi, nó bỗng khựng lại, trên mặt hiện nét nghiêm nghị, và chìa tay ra để tôi bắt.

“Chúc ông một ngày tốt lành!”, nó nói, cung cách như doanh nhân.

“Xem nào, Ichiro, cháu quả đang lớn thành một người đàn ông rồi đấy. Cháu bao nhiêu tuổi rồi nhỉ?”

“Cháu nghĩ là tám tuổi. Ông đi lối này ạ. Cháu có vài chuyện muốn thảo luận với ông.”

Mẹ thằng bé và tôi đi theo đến ghế Noriko đang ngồi. Con gái út nhà tôi mặc chiếc váy sáng màu trước giờ tôi chưa từng nhìn thấy.

“Trông con thật hớn hở đấy, Noriko,” tôi nói với con bé. “Hình như khi một đứa con gái thoát ly khỏi gia đình này thì ngay lập tức chẳng còn nhận ra nó nữa.”

“Một phụ nữ không nhất thiết phải ăn mặc ủ ê chỉ vì cô ấy đã lấy chồng.” Noriko nói, nhưng dẫu vậy con bé dường như hài lòng trước lời khen ngợi của tôi.

Như tôi nhớ, chúng tôi ngồi một lát dưới tượng Thiên hoàng Đại Chính và trò chuyện một lúc. Lý do bốn chúng tôi gặp nhau trong công viên là bởi hai con gái tôi muốn cùng đi mua vải, và do đó đã đồng ý đưa Ichiro đến cửa hàng ăn trưa, rồi buổi chiều sẽ dẫn thằng bé vào phố chơi. Ichiro nhấp nhổm muốn đi, và liên tục huých tay tôi khi chúng tôi đang nói chuyện, nó bảo:

“Ông ơi, cứ để phụ nữ huyên thuyên với nhau đi. Chúng ta có chuyện phải lo.”

Ông cháu tôi vào khu bách hóa trễ hơn giờ ăn trưa thông thường một chút, và tầng hàng ăn giờ không còn đông nữa. Ichiro thong thả chọn lựa các món ăn đủ loại bày trong các ngăn, rồi đến một lúc nó quay sang bảo tôi:

“Ông ơi, ông đoán xem cháu thích ăn món gì nào.”

“Hừm. Ông không biết, Ichiro à. Bánh nướng à? Hay kem?”

“Rau chân vịt! Rau chân vịt cho ta sức mạnh!” Nó ưỡn ngực lên và gồng bắp tay.

“Ông hiểu rồi. Xem nào, suất ăn trẻ em ở đây có rau chân vịt.”

“Suất ăn trẻ em là dành cho con nít mà.”

“Có lẽ thế, nhưng vẫn rất ngon đấy. Ông cũng sẽ gọi suất ăn này.”

“Được thôi. Vậy cháu cũng sẽ gọi suất ăn trẻ em. Hai ông cháu cùng ăn. Nhưng ông bảo họ cho thật nhiều rau chân vịt nhé!”

“Được thôi, Ichiro.”

“Ông ơi, ông nên thường xuyên ăn rau chân vịt đi. Nó giúp ông có sức mạnh đấy.”

Ichiro chọn cho chúng tôi một bàn cạnh dãy cửa sổ rộng, và trong khi đợi bữa trưa, nó cứ áp mặt vào kính để quan sát con phố lớn tấp nập ở cách bốn tầng dưới kia. Tôi đã không gặp Ichiro kể từ khi Setsuko về thăm nhà một năm trước – nó không có mặt ở lễ cưới của Noriko vì bị sốt virus – và tôi ngạc nhiên thấy trong một thời gian như thế mà cháu mình lớn thêm nhiều quá. Nó không chỉ cao hơn hẳn, mà cung cách xử sự đã điềm tĩnh hơn và bớt trẻ con hơn. Đặc biệt là cặp mắt nó dường như già dặn hơn nhiều.

Kỳ thực, hôm ấy khi tôi quan sát Ichiro lúc nó áp mặt vào kính để nhìn đường phố bên dưới, tôi có thể thấy nó đang trở nên giống cha nó nhường nào. Cũng có những nét của Setsuko, nhưng chủ yếu là trong những thói riêng, cũng như trong một vài thói quen biểu cảm. Và dĩ nhiên, tôi cũng bị ngạc nhiên bởi sự tương đồng giữa Ichiro và con trai tôi, Kenji, ở vào độ tuổi ấy. Tôi thú nhận mình đã cảm thấy một niềm an ủi lạ kỳ khi thấy được con cháu thừa hưởng những nét từ các thành viên khác trong gia đình, và tôi hy vọng cháu mình sẽ giữ được những nét ấy khi nó trưởng thành sau này.

Dĩ nhiên, không phải khi còn trẻ chúng ta mới cởi mở đón nhận những di sản nho nhỏ này; một giáo viên hay một sư phụ mà ta rất mực ngưỡng mộ trong những năm đầu tuổi trưởng thành sẽ để lại dấu ấn, và quả thực, dù rất lâu sau khi người ta đánh giá lại, thậm chí chối bỏ những lời răn dạy ấy, thì những nét nhất định sẽ vẫn tồn tại, như cái bóng của ảnh hưởng thuở nào, và sẽ ở lại suốt cuộc đời mình. Ví dụ, tôi nhận ra một vài thói nết của tôi – cách tôi làm cử chỉ bàn tay khi giải thích gì đó, những biến điệu trong giọng nói khi tôi cố tỏ vẻ mỉa mai hoặc sốt ruột, thậm chí cả những cách nói tôi ưa dùng mà mọi người nghĩ là của tôi – tôi biết rằng tất cả chúng là những nét tôi thu nhận từ thầy Mori, người từng là sư phụ của tôi. Và có lẽ sẽ không phải là tự huyễn thái quá nếu tôi cho rằng nhiều học sinh của tôi đến lượt họ cũng sẽ thừa hưởng những nét nho nhỏ như vậy từ tôi. Hơn nữa, tôi cũng hy vọng rằng dù họ có xét lại thế nào về những năm tháng theo học tôi, thì hầu hết sẽ vẫn hàm ơn vì phần lớn những gì họ học được. Chắc chắn, về phần mình, dù thầy cũ của tôi, Seiji Moriyama, hay “thầy Mori” như chúng tôi vẫn gọi thầy, có những khiếm khuyết hiển nhiên, nhưng dẫu cho những chuyện đã xảy ra giữa chúng tôi sau này, tôi luôn công nhận rằng bảy năm sống ở tư dinh của thầy ở miền trung du tỉnh Wakaba thuộc vào những quãng thời gian mang tính quyết định nhất đối với sự nghiệp của tôi.

Ngày nay, khi tôi cố hình dung lại hình ảnh dinh thự của thầy Mori, tôi hay nhớ lại một khung cảnh đặc biệt vừa ý khi nhìn từ con đường núi dẫn đến ngôi làng gần nhất. Khi người ta đi trên con đường ấy, tòa dinh thự sẽ xuất hiện ngay thung lũng bên dưới, một hình chữ nhật bằng gỗ tối màu nằm giữa những rặng tuyết tùng lênh khênh. Ba gian dài của tòa dinh thự nối với nhau tạo thành ba cạnh của hình chữ nhật bao lấy sân trong cạnh thứ tư là hàng rào gỗ sam và cổng, nên khoảng sân hoàn toàn khép kín, và người ta có thể mường tượng rằng vào thời xưa, khi cánh cửa nặng nề đã khép chặt, muốn vào được quả là nhiệm vụ không dễ dàng đối với những vị khách không mời.

Tuy nhiên, kẻ xâm phạm ngày nay sẽ chẳng gặp mấy khó khăn. Bởi tư dinh của thầy Mori đang trong tình trạng đổ nát đáng kể, dù ở trên con đường đó nhìn xuống ta sẽ không thể nhận thấy điều này. Từ con đường ấy, người ta không thể đoán được bên trong căn nhà là những căn phòng với giấy dán tường sờn rách, những sàn trải chiếu mòn vẹt, nhiều chỗ người ta phải đi lại cẩn thận nếu không muốn bị sụt chân. Kỳ thực, khi tôi cố nhớ lại bức tranh tòa dinh thự nhìn ở một góc gần hơn, thì thứ nảy ra trong trí tôi là những mái ngói vỡ, lớp mắt cáo mục trên cửa, và hàng hiên bục vỡ. Những mái nhà liên tục có những chỗ dột mới, và sau một đêm mưa, mùi gỗ ẩm và lá mục xâm chiếm mọi căn phòng. Và có những tháng côn trùng và sâu bướm từng đàn bay vào bám lên phần mộc của ngôi nhà, đào vào từng kẽ nứt, đến mức người ta sợ chúng sẽ khiến nơi này sập xuống mãi mãi.

Trong những phòng đó, chỉ có hai hoặc ba phòng là còn ở tình trạng gợi nhớ về vẻ huy hoàng mà tòa dinh thự từng sở hữu. Một phòng như vậy, nơi luôn đầy ánh sáng trong trẻo suốt cả ngày, được dành cho những dịp đặc biệt, và tôi nhớ thỉnh thoảng thầy Mori lại triệu tập các môn đồ của thầy – mười người chúng tôi – vào căn phòng ấy mỗi khi thầy hoàn thành một bức tranh mới. Tôi nhớ trước khi bước vào trong, mỗi người sẽ dừng lại ở ngưỡng cửa và xuýt xoa ngưỡng mộ bức tranh đặt ở giữa sàn. Trong khi đó thầy Mori có lẽ sẽ ngắm nghía một cái cây hoặc nhìn ra cửa sổ, dường như không biết chúng tôi đến. Một lát sau, tất cả chúng tôi ngồi xuống sàn chung quanh bức tranh, chỉ trỏ cho nhau bằng giọng xì xào: “Xem cách thầy phủ màu góc kia kìa. Thật xuất chúng!” Nhưng sẽ không ai nói: “Thưa thầy, quả là một bức tranh tuyệt bích,” vì không hiểu sao, quy ước chung của những dịp thế này là chúng tôi sẽ xử sự như thể thầy của mình không hiện diện.

Thường một bức tranh mới sẽ thể hiện một sáng tạo đột phá nào đó, và một cuộc tranh luận say sưa nhất định sẽ nảy sinh giữa chúng tôi. Ví dụ, tôi nhớ có lần chúng tôi vào phòng và thấy bức tranh một phụ nữ đang quỳ được vẽ từ một điểm nhìn đặt cực kỳ thấp – thấp đến mức chúng tôi dường như ở dưới sàn nhìn lên cô ta.

“Rõ ràng,” tôi nhớ có người đã khẳng định, “góc vẽ thấp thế này tạo cho phụ nữ một phẩm cách mà nếu vẽ khác đi cô ta không thể có. Thật là một thành tựu kinh ngạc. Vì ở mọi góc nhìn khác, cô ta trông lại có vẻ thương thân. Chính sự căng này tạo cho bức tranh một sức mạnh tinh tế.”

“Có thể là như thế này,” người khác nói. “Người phụ nữ quả có một vẻ đường hoàng nào đó, nhưng khó mà nói rằng cái vẻ đó đến từ góc nhìn thấp. Có vẻ như rõ ràng thầy đang nói với chúng ta điều gì đó xác đáng hơn. Thầy đang nói rằng góc nhìn đó có vẻ thấp chỉ bởi chúng ta đã trở nên quen thuộc với một tầm mắt nhất định. Rõ ràng thầy mong muốn giải phóng chúng ta ra khỏi thói quen tùy tiện và hạn chế như vậy. Thầy đang nói với chúng ta, ‘không phải lúc nào cũng nhìn sự vật từ những góc độ nhàm chán quen thuộc’. Thế nên bức tranh mới truyền cảm hứng như vậy.”

Rồi chúng tôi nhanh chóng to tiếng phản bác nhau bằng những giả thiết về chủ đích của thầy Mori. Và dù đang tranh luận, chúng tôi vẫn liên tục nhìn trộm về phía thầy, còn thầy thì không tỏ bất cứ dấu hiệu gì cho thấy thầy đồng tình với giả thiết nào. Tôi nhớ thầy chỉ đứng đó ở cuối căn phòng, tay khoanh lại, mắt nhìn ra khoảng sân qua những song cửa, vẻ khoan khoái hiện lên trên gương mặt. Sau khi nghe chúng tôi tranh luận một lúc, thầy quay lại và nói: “Có lẽ giờ thầy muốn ở lại đây một mình. Còn một vài việc thầy cần phải làm.” Nghe vậy, chúng tôi túa ra khỏi phòng, một lần nữa thì thầm ngưỡng mộ về bức tranh mới.

Khi tôi kể lại chuyện này, tôi hiểu rằng có thể bạn sẽ cảm thấy lối cư xử của thầy Mori phần nào ngạo mạn. Nhưng có lẽ sẽ dễ hiểu hơn thái độ cảnh vẻ ông thể hiện vào những dịp như vậy, nếu ta đặt mình vào vị trí của một người luôn được kẻ khác ngước nhìn và hâm mộ. Bởi một người thầy dứt khoát không muốn lúc nào cũng chỉ bảo và lên lớp học trò của mình; trong nhiều tình huống, tốt hơn là im lặng để cho họ có cơ hội tranh luận và suy ngẫm. Như tôi nói, bất cứ ai ở vị thế có ảnh hưởng lớn thì đều sẽ hiểu được điều này.

Dù sao thì hệ quả vẫn là những tranh luận về tác phẩm của thầy có thể kéo dài cả tuần không dứt. Vì không có bất cứ lời giải thích nào từ chính thầy Mori, chúng tôi có xu hướng trông vào một người trong nhóm, một họa sĩ tên là Sasaki, anh ta lúc bấy giờ chiếm địa vị hàng đầu trong đám môn đồ của thầy Mori. Mặc dù như tôi đã nói, một số cuộc tranh luận có thể kéo dài rất lâu, nhưng một khi Sasaki rốt cuộc cũng đưa ra nhận định của mình, thì cuộc tranh cãi sẽ chấm dứt ở đó. Tương tự, nếu Sasaki có ý kiến rằng tranh của một người là “phản bội” thầy của chúng tôi theo bất cứ lối nào, thì điều đó luôn dẫn đến sự đầu hàng ngay lập tức của kẻ phạm tội – họ sẽ từ bỏ bức tranh ấy, hoặc trong một số trường hợp, là đốt nó đi cùng thứ đồ thải khác.

Kỳ thực, theo như tôi nhớ, Rùa, vài tháng sau khi chúng tôi cùng nhau đến dinh thự ấy, đã liên tục phải hủy tác phẩm của mình trong những hoàn cảnh tương tự. Bởi trong khi tôi có thể dễ dàng thích nghi với lề lối ở đó thì bạn tôi hết lần này đến lần khác vẽ ra những tác phẩm thể hiện những yếu tố rõ ràng đi ngược lại với những nguyên tắc của thầy chúng tôi, và tôi nhớ mình đã nhiều lần đứng ra biện hộ cho cậu ta trước các đồng nghiệp mới, giải thích rằng cậu ta không chủ định phản bội thầy Mori. Thường trong những ngày ban đầu ấy, Rùa sẽ tìm đến tôi với một vẻ khổ sở và dẫn tôi đi xem một tác phẩm dở dang nào đó của cậu ta, và nói với giọng khe khẽ: “Ono này, anh nói thử xem, thế này đã giống như thầy chúng ta vẽ chưa?”

Đôi khi đến cả tôi cũng trở nên cáu kỉnh khi phát hiện cậu ta đã vô ý sử dụng một vài bút pháp rành rành là khiêu khích. Vì nắm bắt được những ưu tiên của thầy Mori không hề khó khăn. Cái mác “Utamaro hiện đại” thường được gán cho thầy chúng tôi vào thời bấy giờ, và mặc dầu danh hiệu này được trao quá dễ dãi cho bất kỳ họa sĩ cứng tay nào chuyên vẽ chân dung những kỹ nữ, nhưng nó cũng đúc kết khá tốt những mối bận tâm của thầy Mori. Vì thầy Mori đang chủ ý “hiện đại hóa” truyền thống Utamaro; trong nhiều tác phẩm nổi bật của thầy – “Cột trống”, ví dụ vậy, hay “Sau khi tắm” – người phụ nữ được nhìn từ phía sau theo phong cách Utamaro kinh điển. Nhiều mô típ kinh điển như vậy cũng trở đi trở lại trong tác phẩm của thầy: người phụ nữ giơ khăn tắm che mặt, người phụ nữ chải mái tóc dài. Và Mori sử dụng triệt để kỹ thuật truyền thống là biểu lộ cảm xúc thông qua những thứ vải vóc mà người phụ nữ cầm hoặc khoác lên, thay vì qua nét mặt. Nhưng đồng thời, tác phẩm của thầy lại chứa đầy ảnh hưởng từ châu Âu, mà những người ngưỡng mộ trung thành hơn của Utamaro sẽ coi đấy là hành động đốt đền; ví dụ, từ lâu thầy đã thôi sử dụng nét viền đen truyền thống để định hình, thay vào đó thầy ưa sử dụng các khối màu của châu Âu, với ánh sáng và sắc độ để tạo ra ấn tượng ba chiều. Và chắc chắn là thầy đã học hỏi người châu Âu cho mối bận tâm cốt lõi nhất của thầy: sử dụng những màu dịu. Thầy Mori mong muốn gợi lên một bầu không khí đêm u sầu nào đó bao quanh người phụ nữ của mình, và qua những năm tháng tôi theo học thầy, thầy đã thử nghiệm vô số các màu sắc nhằm nắm bắt được cảm giác về ánh sáng đèn lồng. Vì lẽ đó, tác phẩm của thầy Mori có một dấu hiệu đặc trưng đấy là một chiếc đèn lồng luôn xuất hiện đâu đó trong tranh, không trực tiếp thì cũng gián tiếp. Chậm lĩnh hội yếu lĩnh nghệ thuật của thầy Mori có lẽ là phẩm chất điển hình của Rùa, đến nỗi ngay cả khi đã ở dinh thự được một năm, cậu ta vẫn dùng những màu tạo ra hiệu ứng sai lệch, rồi cứ thắc mắc tại sao mình lại bị cáo buộc là phản bội dù cậu ta đã nhớ đưa một chiếc đèn lồng vào tác phẩm của mình.

Bất chấp mọi lời biện hộ của tôi, những người như Sasaki không đủ kiên nhẫn trước những khó khăn của Rùa, và đôi khi bầu không khí nhăm nhe trở nên thù nghịch đối với bạn tôi chẳng kém những gì cậu ta từng trải qua hồi ở công ty của thầy Takeda. Và rồi – tôi tin là chuyện này xảy đến trong năm thứ hai của chúng tôi ở dinh thự – một thay đổi xảy đến với Sasaki, một thay đổi khiến anh ta chịu sự thù nghịch hà khắc và độc địa hơn bất cứ điều gì anh ta từng hướng vào Rùa.

Ta biết rằng, trong một nhóm môn đồ thường sẽ có một nhân vật thủ lĩnh – người mà khả năng của họ được thầy giáo chọn ra làm tấm gương để những trò khác noi theo. Và chính người học trò đầu đàn này, với tư cách là người nắm bắt thấu đáo nhất ý tưởng của thầy, anh ta sẽ đóng vai trò, như Sasaki đã từng, làm người chủ chốt diễn giải những ý tưởng đó cho những học trò ít kinh nghiệm hoặc kém năng lực hơn. Nhưng cũng bởi lý do ấy, chính người học trò đầu đàn này là người thấy được những khiếm khuyết trong tác phẩm của thầy, hoặc không thì cũng dễ hình thành những quan điểm riêng của mình bất đồng với quan điểm của thầy giáo. Dĩ nhiên, về lý thì người thầy tốt nên biết chấp nhận xu hướng này – mà quả thực, còn phải chào đón nó như một tín hiệu rằng ông ta đã dẫn dắt học trò đến thời khắc trưởng thành. Tuy nhiên, trên thực tế, những cảm xúc ở người thầy có thể rất phức tạp. Thỉnh thoảng, khi người ta dưỡng dục một học trò tài năng tốn nhiều thời gian và công sức, thì họ khó mà coi sự chín muồi của tài năng đó là gì khác ngoài sự bội phản, và sẽ khó tránh khỏi việc nảy sinh những tình cảnh đáng tiếc.

Chắc hẳn, điều chúng tôi làm với Sasaki sau cuộc tranh luận của anh ta với thầy chúng tôi là không xác đáng, và việc hồi tưởng những chuyện như vậy cũng chẳng đem lại ích lợi gì. Tuy nhiên, tôi vẫn có những ký ức sống động về cái đêm hôm đó, khi Sasaki cuối cùng đã rời bỏ chúng tôi.

Hầu hết chúng tôi đã lên giường. Tôi còn nằm thao thức trong bóng đêm ở một trong những căn phòng xiêu vẹo ấy, thì nghe tiếng Sasaki gọi ai đó dưới hiên. Anh ta dường như không nhận được câu trả lời từ người đó, và cuối cùng có tiếng vách cửa đóng lại, và có tiếng chân Sasaki đến gần hơn. Tôi nghe anh ta dừng ở một phòng khác và nói gì đó, nhưng một lần nữa anh ta dường như chỉ được đáp lại bằng im lặng. Bước chân anh ta đến gần hơn nữa, rồi tôi nghe anh ta kéo vách cửa phòng sát phòng tôi.

“Nhiều năm qua cậu và tôi là bạn thân,” tôi nghe anh ta nói. “Chẳng lẽ cậu không nói với tôi dù chỉ một lời ư?”

Không có lời đáp từ người kia. Đoạn Sasaki nói:

“Cậu không cho tôi biết các bức tranh ở đâu ư?”

Vẫn không lời đáp. Nhưng khi tôi nằm đó trong bóng tối, tôi có thể nghe tiếng chuột chạy hối hả dưới ván sàn của phòng bên cạnh, và với tôi dường như âm thanh này chính là một câu trả lời.

“Nếu cậu thấy chúng quá chướng mắt,” Sasaki tiếp tục nói, “thì cậu giữ lại chúng cũng chẳng để làm gì. Nhưng chúng lại có ý nghĩa rất lớn với tôi lúc này. Tôi mong có thể mang chúng theo, dù là đến đâu đi chăng nữa. Ngoài chúng ra tôi không cần gì khác.”

Một lần nữa, lời đáp chỉ là tiếng chuột chạy, rồi một quãng im lặng kéo dài. Quả thật, quãng im lặng dài quá, khiến tôi nghĩ có lẽ Sasaki đã bước vào bóng đêm và tôi không còn nghe tiếng anh ta nữa. Nhưng rồi tôi lại nghe anh ta nói tiếp:

“Những ngày qua, những người kia đã làm những điều khủng khiếp với tôi. Nhưng điều làm tôi tổn thương nhất là cậu không chịu nói lấy một lời động viên tôi.”

Tiếp tục im lặng. Đoạn Sasaki nói: “Giờ cậu sẽ không nhìn tôi và cầu chúc cho tôi sao?”

Cuối cùng, tôi nghe tiếng cửa đóng lại, và tiếng bước chân của Sasaki xuống hiên nhà, rồi đi qua sân.

Sau khi Sasaki ra đi, anh ta hầu như không được nhắc đến trong tư dinh, và trong một vài dịp hiếm hoi chuyện ấy xảy ra, anh ta bị gọi là “phản đồ”. Quả thật, khi hồi tưởng lại những gì một đôi lần xảy ra trong những cuộc cãi cọ lỗ mãng mà chúng tôi vẫn hay lao vào, tôi lại nhớ ký ức về Sasaki có thể khiến chúng tôi bực bội đến nhường nào.

Trong những ngày ấm áp hơn, do chúng tôi thường để mở cửa phòng, vài người chúng tôi tụ tập trong một phòng sẽ bắt gặp một nhóm khác cũng tụ tập tương tự ở một phòng thuộc cánh nhà đối diện. Tình huống này nhanh chóng dẫn đến việc một người sẽ gọi với qua sân bằng một câu khiêu khích dí dỏm, và chẳng bao lâu, cả hai nhóm sẽ tập trung ngoài hiên phòng mình, rồi buông lời xúc xiểm nhau. Kể lại thì nghe có vẻ ngớ ngẩn, nhưng quả là có cái gì đó nơi kiến trúc tòa dinh thự và vọng âm nó tạo ra khi một người ở cánh nhà này hét sang cánh nhà đối diện, nó khích chúng tôi lao vào những cuộc tranh cãi trẻ con này. Những lời thóa mạ đúng là đủ kiểu, ví dụ như đùa cợt về sự nam tính của ai đó, hoặc về một bức tranh ai đó vừa hoàn thành – nhưng hầu hết chúng đều không có ý làm tổn thương, và tôi nhớ rất nhiều câu đối đáp kỳ khôi khiến cho cả hai phe đỏ mặt vì cười. Quả thực, xét tổng thể thì ký ức của tôi về những cãi cọ qua lại đó lột tả khá đầy đủ sự gần gũi như trong gia đình nhưng cũng đầy ganh đua giữa chúng tôi trong những năm lưu lại dinh thự. Tuy nhiên, khi một đôi lần cái tên Sasaki được xướng lên trong những cuộc đấu khẩu này, mọi chuyện đột ngột vượt ra ngoài tầm kiểm soát, đám môn đồ chúng tôi không còn nề hà chi nữa mà lao thẳng ra ẩu đả ở giữa sân. Chẳng bao lâu chúng tôi hiểu ra rằng so sánh ai đó với “phản đồ”, dù chỉ là trêu chọc, cũng không bao giờ được coi là đùa vui.

Từ những ký ức đó bạn có thể thấy rằng lòng sùng kính của chúng tôi với thầy và với những nguyên tắc của thầy là tuyệt đối và quyết liệt. Với một cái nhìn hồi cố – khi mà những khiếm khuyết trong lời răn dạy của thầy đã trở nên rành rành – ta dễ dàng phê phán một người thầy đã khuyến khích một bầu không khí như thế. Nhưng một lần nữa, bất kỳ ai mang những tham vọng tầm cỡ, bất kỳ ai có thể đạt được điều gì lớn lao, và cảm thấy nhu cầu phải truyền đạt ý tưởng của mình một cách tỉ mỉ nhất có thể, thì người ấy sẽ thấy cảm thông với cách mà thầy Mori tiến hành mọi việc. Bởi dù lúc này xét theo sự nghiệp của thầy, nói thế này có vẻ hơi xuẩn ngốc, nhưng nguyện vọng của thầy Mori không gì hơn chính là thay đổi bản dạng của thứ hội họa đang được thực hành trong thành phố của chúng tôi. Chính với cái mục tiêu đó, ông đã dành rất nhiều thời gian và tiền của để nuôi dưỡng các học trò, và có lẽ đấy cũng là điều quan trọng cần lưu ý khi phán xét về thầy giáo cũ của tôi.

Ảnh hưởng của ông với chúng tôi, dĩ nhiên, không chỉ giới hạn trong lãnh địa hội họa. Chúng tôi sống suốt từng ấy năm gần như hoàn toàn tuân theo những giá trị và lối sống của ông, và hệ quả là chúng tôi dành nhiều thời gian khám phá chốn “phù thế” của thành phố – thế giới đêm của khoái lạc, vui chơi và say sưa, tạo thành tấm toan cho mọi bức tranh của chúng tôi. Giờ tôi luôn cảm thấy một niềm hoài nhớ nhất định khi nhớ về trung tâm thành phố vào những ngày xưa ấy; những đường phố không ngập trong tiếng ồn xe cộ, và những nhà máy chưa tước đi của không khí ban đêm hương hoa từng mùa. Sào huyệt yêu thích của chúng tôi là một quán trà nhỏ cạnh bờ kênh trên phố Kojima, tên là “Thủy Đăng” – bởi quả thực, khi đến gần quán ấy người ta có thể thấy những ngọn đèn soi bóng xuống dòng kênh. Chủ quán là bạn cũ của thầy Mori, tức là chúng tôi luôn được thết đãi hào phóng, và tôi còn nhớ nhiều đêm khó quên ở đó, hát hò và uống rượu cùng những nàng ca kỹ. Một tụ điểm khác chúng tôi thường lui tới là quán mái vòm ở phố Nagata, nơi bà chủ quán cứ nhắc đi nhắc lại không biết mệt mỏi với chúng tôi rằng nhiều năm trước, khi bà còn làm geisha ở Akihara, thầy Mori đã chọn bà làm mẫu cho loạt tranh khắc gỗ hết sức được ưa chuộng. Độ sáu hay bảy thiếu nữ phục vụ trong quán vòm ấy, và sau một thời gian, mỗi chúng tôi đều có riêng cho mình một cô để cùng đối tẩu và qua đêm.

Những cuộc vui của chúng tôi cũng không chỉ giới hạn ở các cuộc phiêu lưu vào thành phố. Thầy Mori dường như có một danh sách dài vô tận những người quen từ thế giới giải trí, hay các gánh diễn rong đói kém gồm toàn những diễn viên, những vũ công và nhạc công cứ kéo mãi đến dinh thự để được đón tiếp như những bạn bè lâu ngày gặp lại. Lúc ấy rất nhiều rượu sẽ được mang ra, những vị khách của chúng tôi sẽ hát hò và nhảy múa suốt đêm, và chẳng bao lâu sau ai đó sẽ được cử đi đánh thức người bán rượu ở làng gần nhất để mà lấy thêm. Một vị khách thường lệ hồi bấy giờ là nghệ sĩ hài độc thoại tên là Maki, một con người bệ vệ vui tính, có thể khiến tất cả chúng tôi cười lăn cười bò lúc này rồi liền đó lại khóc lóc thảm thiết, qua cách ông diễn những câu chuyện cổ. Nhiều năm sau, tôi bắt gặp Maki vài lần ở Migi-Hidari, và chúng tôi sẽ kinh ngạc hồi tưởng lại những đêm ở dinh thự. Maki tin là ông nhớ nhiều bữa tiệc như thế liên tục thâu đêm sang ngày rồi thông đến tận đêm hôm sau. Dù chuyện đó tôi không được chắc chắn cho lắm, tôi phải thừa nhận là có những hồi ức về dinh thự của thầy Mori vào những buổi ban ngày, khắp nơi bừa bộn với những cơ thể ngái ngủ hay kiệt quệ, một số ngã vật ngoài sân, mặc ánh nắng trút thẳng lên mình.

Tuy nhiên, có một đêm như thế đã lưu lại sống động hơn hẳn trong ký ức tôi. Tôi nhớ mình đang đi bộ đơn độc ở giữa sân, khoan khoái thưởng thức khí trời đêm trong lành, được tạm thời thoát khỏi những cuộc chè chén say sưa. Tôi nhớ đã đi bộ đến cửa nhà kho, và trước khi bước vào, tôi liếc ra sau nhìn về phía căn phòng nơi bạn bè tôi và khách khứa đang mua vui với nhau. Tôi có thể nhìn thấy nhiều bóng người đang nhảy múa sau rèm giấy, giọng một ca kỹ bồng bềnh đến tai tôi qua màn đêm.

Tôi đã tìm đến nhà kho vì đó là một trong những chốn hiếm hoi trong dinh thự mà ta có thể ở đó bao lâu tùy ý mà không bị quấy rầy. Tôi hình dung trong những ngày đã qua, khi dinh thự còn nuôi những hộ vệ và gia nhân, căn phòng từng được sử dụng để chứa vũ khí và áo giáp. Nhưng khi tôi bước vào trong đêm hôm đó và thắp đèn lồng treo trên cửa, tôi thấy sàn nhà cơ man là đồ vật đủ loại, đến nỗi muốn vượt qua chỗ bừa bộn đó ta buộc phải nhón chân nhảy cái một; khắp nơi là những chồng giấy toan cũ được buộc dây, những giá vẽ gãy, đủ loại bình và lọ lô nhô đầu hoặc cán cọ. Tôi chật vật mãi mới đến được một chỗ trống trên sàn nhà mà ngồi xuống. Tôi nhận thấy chiếc đèn treo trên cửa đang khiến cho mọi vật quanh tôi sinh ra những cái bóng quá khổ; nó gây một ấn tượng rùng rợn, như thể tôi đang ngồi giữa nghĩa trang thu nhỏ quái dị.

Tôi cho là mình hẳn đã chìm vào trong những suy nghĩ của bản thân, vì tôi nhớ đã giật mình bởi tiếng cánh cửa nhà kho mở ra. Tôi ngước lên thấy thầy Mori đứng ở cửa, liền vội vàng nói: “Thầy ạ.”

Có lẽ đèn lồng trên cửa không đủ ánh sáng chiếu vào chỗ tôi ngồi, hay có lẽ đơn giản là khuôn mặt của tôi chìm trong bóng tối. Dù thế nào thì thầy Mori cũng nhòm tới và hỏi:

“Ai thế? Ono à?”

“Quả vậy, là con thưa thầy.”

Ông tiếp tục nhìn chăm chú một lát. Rồi, gỡ đèn xuống khỏi rầm phòng và cầm trước mặt, ông bắt đầu bước về phía tôi, thận trọng băng qua những đồ vật trên sàn. Khi ông bước, ngọn đèn trên tay ông khiến những cái bóng chung quanh tôi chuyển động. Tôi vội vã gạt đồ đạc để lấy chỗ cho ông, nhưng trước khi tôi kịp làm thế, thầy Mori đã ngồi xuống trên chiếc rương gỗ cũ kỹ cách tôi một đoạn. Ông cất tiếng thở dài đoạn nói:

“Ta ra ngoài hít thở chút không khí trong lành, và ta thấy ánh đèn ở đây. Bóng tối ở khắp nơi, ngoại trừ ngọn đèn này. Và ta tự nhủ, lúc này nhà kho khó có thể là nơi cho những cặp tình nhân lẩn trốn. Dù ở đó là ai, người ấy hẳn đang trong tâm trạng cô đơn.”

“Con nghĩ mình đã ngồi đây trong cơn mơ màng thưa thầy. Con không định ngồi lại đây lâu như vậy.”

Ông đặt đèn xuống sàn bên cạnh, và từ chỗ tôi ngồi, tôi chỉ có thể thấy đường viền thân hình ông. “Một trong những vũ nữ ấy có vẻ đã chú ý đến trò từ trước,” ông nói. “Cô ấy sẽ thất vọng nếu thấy con biến mất vào lúc này.”

“Con không muốn tỏ ra khiếm nhã với khách khứa, thưa thầy. Cũng như thầy, con chỉ ra ngoài tìm chút không khí trong lành thôi.”

Chúng tôi yên lặng một lúc. Bên kia sân, tiếng các đồng bạn chúng tôi đang hát hò vỗ tay vẳng đến.

“Này, Ono,” cuối cùng thầy Mori nói, “con nghĩ sao về người bạn cũ Gisaburo của ta? Một con người đặc sắc.”

“Quả vậy, thưa thầy. Chừng như ông ấy là một quý ông rất nhã nhặn.”

“Có thể giờ ông ấy ăn mặc rách rưới, nhưng có thời ông ấy là một nhân vật nổi tiếng. Và như tối nay chúng ta đã được chứng kiến, ông ấy vẫn còn giữ được ngón nghề xưa.”

“Quả vậy.”

“Vậy thì Ono. Điều gì khiến con lo lắng vậy?”

“Khiến con lo lắng ư, thưa thầy? Chao, chẳng có gì đâu ạ.”

“Có lẽ nào con cảm thấy điều gì đó hơi xúc phạm nơi Gisaburo bạn cũ của ta chăng?”

“Không hề, thưa thầy.” Tôi cười lúng túng. “Chao ôi, không hề. Một quý ông hết sức quyến rũ.”

Trong một lúc, chúng tôi nói về những chuyện khác, bất cứ điều gì nảy ra trong đầu. Nhưng khi thầy Mori quay lại đề tài những “mối lo lắng” của tôi, khi đã rõ ràng là ông đã định tâm ngồi đây đợi cho tới khi tôi bộc bạch tâm tình, cuối cùng tôi nói:

“Gisaburo quả thực là một quý ông tốt bụng. Ông ấy và những vũ nữ đã rất tử tế vì giúp chúng ta tiêu khiển. Nhưng con không khỏi nghĩ, thưa thầy, chúng ta được họ ghé thăm quá thường xuyên trong mấy tháng qua.”

Thầy Mori không đáp, nên tôi tiếp tục:

“Xin thầy tha lỗi, thưa thầy, con không có ý coi thường Gisaburo và các bạn ông ấy. Nhưng nhiều lúc con hơi bối rối. Con bối rối về việc những họa sĩ chúng ta lại dành quá nhiều thời gian đàn đúm với những người như Gisaburo.”

Tôi tin rằng ở thời điểm này, thầy tôi đứng lên và tay cầm đèn, ông bước trên sàn đi về phía tường hậu nhà kho. Bức tường lúc nãy còn chìm trong bóng tối, nhưng khi ông giơ đèn lên, ba bản in mộc, treo thứ tự từ trên xuống, được chiếu sáng rõ mồn một. Mỗi bức tranh họa một geisha đang sửa mái tóc, họ ngồi trên sàn và góc nhìn là từ phía sau. Thầy Mori nghiền ngẫm những bức tranh một lúc, ông dịch đèn từ bức tranh này sang bức tranh kế. Đoạn ông lắc đầu và lầm bầm một mình: “Sai lầm chí tử. Sai lầm chí tử vì những quan tâm vặt vãnh.” Vài giây sau, ông nói tiếp, vẫn nhìn bức tranh: “Nhưng người ta luôn cảm thấy một niềm trìu mến với những tác phẩm đầu tay của mình. Có lẽ một ngày nào đó con sẽ cảm thấy như vậy đối với những tác phẩm con đã vẽ ở đây.” Rồi ông lại lắc đầu, vừa nói: “Nhưng đây là những bức tranh hỏng chí tử, Ono à.”

Người dịch: Triều Dương
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.