Exodus - Đường Về Đất Hứa

Lượt đọc: 396 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần Năm
L

❊ ❊ ❊

VỚI CÁNH PHƯỢNG HOÀNG NOME (ALASKA)

THÁNG MƯỜI 1948.

Tất cả phi cơ của công ty Arctic Cercle Airways trước sau chỉ có ba chiếc phi cơ chở hàng mua từ kho thặng dư phế thải của quân đội mà Stretch Thompson đã mua trả góp.

Cựu phi công chiến đấu ở Alaska, Stretch đã nổi tiếng là một anh chàng giầu óc tưởng tượng, nhất là cần tránh thứ tạp dịch buồn chán các công việc đều đều. Trong những chuyến bay đêm, chàng đã có thì giờ để suy nghĩ đến các vấn đề không vui do việc giải ngũ sau này đặt ra. Một tối kia, chàng đã tìm ra giải pháp:

Cua!

Dọc theo các bờ biển có hàng triệu con cua vua rất to khoẻ, có nhiều con có tới 40 phân đường kính. Một người khôn khéo chắc hẳn phải tìm được cách làm cho các nhà tiêu thụ khoái khẩu với cái thứ thịt trắng và chắc, mà nghĩ cho kỹ, đâu có thua sút gì tôm hùm của tiểu bang Maine. Chỉ có việc lượm thứ của trời cho lúc nhúc ấy, chèn nước đá vào rồi chuyên chở - dĩ nhiên là bằng máy bay rồi - về Hoa kỳ. Một chút quảng cáo nữa là các nhà buôn sẽ đổ xô tới thứ thức ăn trời cho này. Và trong vài năm, chàng sẽ giàu - chàng, Strech Thompson, Vua của cua Vua.

Chắc đã có một trục trặc nào đó trong vụ tính toán này, có lẽ tại nhân loại chưa được tiến hóa lắm để thưởng thức món ăn bắc cực này. Dù thế nào chăng nữa, việc bảo trì phi cơ, xăng nhớt và tiền công cho phi công cứ nhất định vượt quá tổng số thu do việc bán cua mang lại. May thay, Stretch lại không phải là người chịu thua nghịch cảnh. Nhờ có mồm mép khác thường và tính toán khôn khéo, chàng đương đầu được với bầy chủ nợ mà vẫn duy trì được, với sự tăng cường bằng giây kẽm, vải đeo dính và các lời chửi thề tùm lum, ba phi cơ vẫn còn trong tình trạng bay được. Và cứ đều đều, vào lúc trời tối sầm, thì lại có một chuyến chở mướn công cao cứu vãn.

Một yếu tố may mắn khác, đó là sự chung thủy của phi công trưởng (và thường cũng là phi công duy nhất), anh chàng Foster Mac Williams, một tay nghệ sĩ đích thực trong việc điều khiển cái cán chổi. Tài khéo léo của Foster đã nổi danh đến nỗi không ai dám nhận lời cá với anh chàng như sau: cá một trăm đôla thôi, chàng sẽ đáp được chiếc C 47 xuống đầu một khối băng sơn dù trong tình trạng say rượu gần chết đi nữa. Nhưng bất hạnh thay là Foster Mac Williams lại có một tâm hồn lang thang: nếu chàng mê bay, thì chàng lại rất kinh hãi những phi trình ấn định trước cùng các thời biểu phải tôn trọng. Đến nỗi rằng chưa bao giờ chàng quyết định được đến làm cho một công ty hàng không lớn. Ngược lại, các phi trình bất nhất, các phi vụ thường là nguy hiểm của Arctic Cercle Airways lại hoàn toàn vừa với ý chàng.

Một ngày nọ, khi chàng tiến vào hăng ga ở đầu phi đạo, trụ sở và bất động sản duy nhất của công ty, Stretch Thompson nhìn chàng với vẻ suy tư.

- Này cụ, cụ có khoái sống trong một xứ nhiều mặt trời hơn - và đồng thời nhận đủ tất cả số lương chưa được lãnh cho tới giờ không?

- Này bồ Stretch, bồ vẫn nhăn nhó đều đều đó phải không?

- Lần này tôi không có đùa đâu, thưa cụ. Truyện làm ăn cẩn thận đấy.

- Bồ không bán tống bán tháo cái đại công ty này rồi chứ?

- Cụ đoán sao mà hay vậy.

MacWilliams có vẻ sững sờ ngạc nhiên:

- Này ai có thể gồng lên mà mua những con chim cu về già của chúng ta vậy.

- Tôi không có yêu cầu người mua mô tả lại tiểu sử. Tôi chỉ biết ngân phiếu thơm lắm và tính tôi thì dễ, thế là hài lòng rồi.

Foster MacWilliams xoa cằm:

- Vụ này có vẻ tới đúng lúc đấy, bồ Stretch. Tôi cũng bắt đầu ngấy lạnh sương mù và cua rồi. Theo như bồ tính, bồ thiếu tôi bao nhiêu tất cả?

- Tính cả tiền thưởng, chắc không xa bốn ngàn đô là mấy.

- Một khoảng xinh đấy chứ? Với khoản này, tôi sẽ có thể tặng tôi một chầu rượu chè gái ghiếc từ đây xuống tới Nam Mỹ. Lý do là tại lúc này tôi đang khoái xuống cái miền đó. Hình như thiên hạ trả công khá lắm cho những tên chuyên chở chất nổ băng qua dẫy Andes.

Stretch nói:

- Nhưng hiện có một trục trặc nhỏ, cụ Foster.

- Tôi nghĩ rằng chắc hẳn là phải có trục trặc.

- Tôi đã phải ký thuận sẽ trao ba chiếc máy già của chúng ta tại sân bay của người mua. Tôi đã tìm thấy người lái chiếc số 1 và chiếc số 2... còn mỗi chiếc số 3 là chưa có ai.

- Điều đó có nghĩa là bồ lại trông cậy ở tôi một lần nữa rồi đó. Xong rồi. Chúng ta phải trao chiếc phi cơ vừa bay vừa ho hen của chúng ta ở xó nào đây.

- Israel.

- Israel? Chỗ nào vậy? Chưa bao giờ nghe ai nói tới cái tên này cả.

Stretch gật gù:

- Tôi cũng thế cụ ạ. Tôi đang kiếm cái tên đó trên bản đồ thì cụ tới.

Cả hai người chúi mũi vào bản đồ thế giới, dò từ trên xuống dưới từ trái sang phải. Sau một giờ đồng hồ, cả hai người bỏ cuộc.

Foster lắc đầu:

- Thiên hạ dỡn với bồ rồi bồ ơi.

Họ đi làm một chầu khắp các quán rượu ở Nomé, nhưng ngoại trừ một ông quản gia phát biểu rằng “cái tên đó có nhắc tới một cái gì đó”, còn không được ai nghe nói đến cái xứ mang tên Israel bao giờ. Sau cùng, vào lúc hàng quán đóng cửa, có người đề nghị hãy tới đánh thức hiệu sách duy nhất trong thị trấn Nomé dậy mà hỏi.

Chủ hiệu sách hét lên:

- Israel hả? Đó là tên mới của Palesline, ngu ơi là ngu! Có vậy mà các anh tưởng hay lắm, đến đấm cửa nhà người ta vào lúc nửa đêm như vậy.

Trở về hăng-ga, hai người lại dò tìm trên bản đồ thế giới. Sau cùng Stretch khám phá ra một cái xứ nhỏ xíu. Foster làm một điệu bộ ra vẻ buồn tiếc, lầu nhầu:

- Này, hấp dẫn đấy chứ? Đất với nước gì mà chỉ to hơn một tảng băng lớn mà thôi. Tôi dám bay băng qua luôn mà không biết lắm!

Ba tuần sau, Foster MacWilliams đáp chiếc máy bay số 3 của nguyên công ty Arctic Airways xuống phi trường Lydda. Stretch Thompson, tới từ tám ngày trước, đang chờ sẵn để lôi chàng về một văn phòng cửa có đề:

Palestine Central Airways: S. Thompson, Tổng Giám đốc.

- Chuyến đi vui chứ? Tôi rất khoái được gặp cụ đó, cụ Foster ạ.

- Xong rồi. Này, đang lúc bồ vui vẻ thơ thới hân hoan, bồ hãy tử tế làm ơn thanh toán tất cả số lương bồ còn thiếu tôi đi. Tôi định “vi hành” sang Paris vui chơi trong một tháng trước khi đi Rio.

- Có ngay, Tấm séc của cụ đã sẵn sàng từ lâu rồi, trong tủ sắt kia.

Foster nhìn tấm séc, mắt xoe tròn.

- Bốn ngàn năm trăm đô. Lạ quá ta...

- Năm trăm đô phụ trội ấy, đó là để chứng tỏ rằng tên Stretch Thompson này không phải là thứ không có nghĩa với bạn.

- Bồ quả là một vĩ nhân đấy... từ xưa tôi vẫn ca bạn như thế mà.

- Vậy hả? Này, cụ Foster, chỗ này là nơi hấp dẫn đấy. Toàn dân Do thái không thôi - cụ tin tôi đi, đổi hẳn không khí xứ Alaska được. Cụ có thấy tấm biển đề cửa văn phòng không? Chính tôi tìm ra cái tên hay như thế đó: Palestine Central Airways. Được chứ? Cụ biết không, dân ở đây chẳng có bao kinh nghiệm trong việc tổ chức một công ty hàng không cỡ quốc tế, họ đã yêu cầu tôi giúp cho họ một tay và tôi không nỡ từ chối. Nhưng tôi nói với họ ngay tại chỗ rằng: “Nếu quí vị muốn có một công ty hoàn hảo, quí vị phải có được một phi công trưởng hoàn hảo - và tôi hiện lại đang có được một tay phi công hữu hạng nhất chưa từng thấy từ xưa nay”.

Foster vội vã đứng ngay dậy:

- Tôi sẽ cố gắng lại chào bồ trước khi ra đi...

- Cái gì mà cuống lên thế? Đâu có lửa cháy ở đây phải không?

- Tôi đã đang trên đường đi Paris rồi...

- Tôi có một đề nghị với cụ...

- Chắc chắn là tôi không thích cái gọi là đề nghị ấy của bồ đâu.

- Thì ít nhất cụ cũng làm một đường lịch sự tối thiểu để nghe tôi nói cho xong đã chứ.

- Tôi sẵn lòng nghe bồ thật kỹ, nhưng nói trước cho bồ biết là không thuyết được tôi đâu. Tôi sẽ đi Paris, nếu cần bơi qua biển cũng bơi!

- Được rồi, được rồi. Bây giờ, cụ nghe đây. Như tôi vừa nói đó, ở đây toàn Do Thái không. Thế mà họ lại còn cho là chưa nhiều. Chính vì thế họ mới mua công ty của chúng ta - để chuyên chở thêm nhiều Do Thái nữa về đây. Hình như có cả trăm cả ngàn Do-thái khác trên khắp thế giới đang sốt ruột chờ đợi người tới đón họ về. Việc của chúng ta là chuyên chở họ. Cụ hiểu rõ chứ... hàng trăm phi vụ, tầu đầy nứt người và những kẻ ở đây cứ trả tiền đều đều, đếm đầu hành khách mà trả tiền mặt... Trước kia bọn mình giữa đêm bò dậy đi bay với số tiền công còn mạt hơn thế nhiều. Cụ Foster, cụ ở lại với tôi đi, tôi bảo đảm là cụ sẽ lăn trên đống vàng. Nói thế nào nhỉ... cụ sẽ tắm trong vàng luôn! Cụ biết tôi đó... tôi đâu phải là kẻ không biết ăn ở phải đạo với anh em...

- Tôi thích tắm trong một đại khách sạn ở Paris hơn. Tôi... thôi, chào bồ Stretch. Khi nào tôi tới Rio, sẽ gửi thư về hỏi thăm cố tri.

- Thưa ông MacWilliams, xin lĩnh ý ông. Rất hân hạnh đã được gặp ông.

- Kìa bồ... bồ giận tôi rồi đó...

- Đâu có gì. Khi tôi nghĩ đến những thời gian thích thú chúng ta đã sống với nhau ở Nomé...

- Quả là những thời gian đáng ghi nhớ vì đó là những lúc bị lạnh làm nứt nẻ tùm lum. Nhưng đó cũng không phải là lý do để bồ nhăn nhó với tôi thế. Bồ làm như bồ bị ai đâm cho một nhát dao vào lưng không chừng.

- Cụ nói thế cũng gần đúng đó. Thú thật với cụ, tôi đang kẹt cứng. Tôi vừa nhận được điện tín khẩn: có một nhóm Do Thái đang đợi mốc meo trong một xó gọi là Aden, cần đi tìm mang họ về đây gấp. Hai chàng phi công mà tôi đã kiếm được lại cho tôi rơi rồi.

- Bồ đừng có trông ở tôi. Tôi xin nhắc với bồ là tôi sắp đi Paris mà.

- Xong rồi, em sẽ đi Paris. Ở vị trí của cụ, chắc tôi cũng làm như thế. Hai chú phi công mà tôi nói với cụ ấy... khi hai chú biết đi cái phi vụ này dám bị tụi Ả-rập nó quạt cho dăm ba băng kẹo đồng, hai chú chàng đã dông thiệt lẹ...

Foster đã ra đến cửa, đột nhiên quay lại. Stretch nói tiếp:

- Tôi không thể trách cứ gì được hai chú đó. Dĩ nhiên là các phi vụ đó nguy hiểm hơn việc chuyên chở chất nổ băng qua dẫy Andes rồi...

Foster liếm môi. Stretch hiểu rằng ông bạn đã cắn câu rồi, cắn luôn cả mồi lẫn lưỡi câu.

- Này Stretch ạ, tôi sẵn lòng đi cái phi vụ đó cho bồ, chỉ đề gỡ kẹt cho bồ thôi nghe. Và đúng một vụ đó thôi. Trong thời gian đó, bồ gắng mà kiếm lấy những tên phi công nào không có vướng dây thun trong cổ nghe. Rồi, bây giờ cái xó có tên Aden nằm ở đâu đây?

- Tôi cũng cóc biết nữa. Mời cụ theo tôi, chúng ta lùng bản đồ coi.

*

Khi cất cánh rời phi trường Lydda, Foster Mac Willlams, phi công trưởng của hãng Palestine Central Airways, không ngờ là mình đã khai nguyên cho một câu truyện phiêu lưu không kém gì “Ngàn lẻ một đêm”.

Truyện phiêu lưu này bắt nguồn từ hơn ba ngàn năm về trước, nói cho chính xác, thì bắt nguồn từ thời nữ hoàng Saba. Vào thời đó, phần phía nam bán đảo Arabie còn là một xứ phì nhiêu. Các dân cư, chuyên viên trong nghệ thuật xây cất đập nước, bình chứa và giữ nước, đã làm miền này thành cả một khu vườn tuyệt đẹp,

Sau chuyến nữ hoàng Saba tới viếng thăm hoàng đế Salomon, một nhóm người Hébreu đến lập nghiệp tại Saba để thiết lập những đường giây thương mại băng qua sa mạc và dọc theo Hồng hải. Số dân này phát triển thịnh vượng trong nhiều thế kỷ. Các dân Do thái này, dù vẫn qui tụ thành từng làng, đã hoà nhập với đời sống địa phương đến nỗi về sau có nhiều ngưòi trở thành cố vấn có ảnh hưởng ở triều đình.

Rồi đến những năm khủng khiếp, cát xâm chiếm tất cả, tàn phá tất cả đất đai mầu mỡ. Các ouadi khô héo dần, nước mưa tan biến qua các khe đất nứt nẻ. Dưới ánh mặt trời chói chang, cuộc chiến đấu kiếm nước trở thành tranh đấu để sống còn. Vương quốc Saba và các quốc gia kế cận tan rã thành muôn vàn bộ lạc vừa nghèo vừa hận thù, luôn gây chiến với nhau.

Khi đợt sóng Hồi giáo đầu tiên bị càn quét trên thế giới, không ai nghĩ tới chuyện tấn công những người Do thái ở Saba. Mọi người tôn trọng họ, để mặc họ sống theo tập tục tôn giáo của họ. Mahomed cũng đã từng ra lệnh là phải đối xử tử tế với người Do thái.

Nhưng sự bình đẳng dành cho người Do thái, than ôi, đã rất chóng qua. Cũng như trong tất cả các xứ Hồi giáo khác, những người Do thái của cựu vương quốc Saba, bây giờ trở thành Yemen, bị coi như là những kẻ “bất tuân đạo”. Nhưng dẫu sao sự khinh bỉ của dân Ả rập dành cho các dân Do thái này vẫn hàm chứa một bao dung. Trong các quốc gia Ả rập, các cuộc bạo hành Do thái chưa bao giờ có tính cách tổ chức diệt chủng như ở Âu châu. Chỉ xẩy ra vài vụ tàn sát bùng lên như lửa rơm rồi tàn ngay.

Ngược lại, lại có đủ thứ cấm đoán và hạn chế để đưa người Do Thái xuống hàng công dân bậc nhì. Một người Do Thái không được quyền cất cao giọng trước một người Hồi giáo, không được cất nhà cao hơn các nhà Hồi giáo kế cận, không được chạm tới hay vượt qua phía tay mặt người hồi giáo. Họ cũng bị cấm không được đi lạc đà vì như vậy đầu họ sẽ cao hơn đầu người Hồi giáo đi bộ. Trong hầu hết các thành phố, ngưồi Do Thái phải sống trong các mellah, một thứ ghetto kiểu Đông phương.

Trong khi toàn thể nhân loại tiến triển thì vùng Yemen vẫn cứ bất biến, sơ khai, xa xôi cách trở, như ở ngoài thời gian, Một sa mạc rừng núi hoang dã, chỉ có những con đường mòn cho lạc đà. Một miền duyên hải không thể ở nổi, và phía trong nội địa, là các biên thùy không ai buồn vạch cho chính xác. Không nhà thương, không trường học, không báo chí và không cả máy điện thoại nữa. Dân chúng thất học đúng trăm phần trăm.

Iman, dòng dõi của Mahomed và đại diện của đấng Allah, cai trị với quyền hành tuyệt đối. Nếu ông kiểm soát việc lấy vàng và sản xuất cà-phê, các nguồn tài nguyên duy nhất của cái xứ khốn kiếp này, ông chẳng mang lại cho thần dân điều gì hết, đến cả một nền hành chánh tối thiểu cũng không. Chủ nhân ông độc ác và sở hữu hàng mấy trăm nô lệ, ông xử án tùy hứng, lúc thì ra lệnh cắt mũi một gái điếm, lúc thì ra lệnh chặt tay một tên ăn trộm. Ông lo lắng là làm sao đừng để bất cứ một nền văn minh nào xâm nhập vào cái vương quốc ghê khiếp của ông.

Đối với dân Do Thái, Iman giữ thái độ truyền thống của bạo chúa khoan dung.

Ông không hề muốn đuổi họ đi: thủ công nghiệp cha truyền con nối từ nhiều thế kỷ, dân Do Thái là những thợ kim hoàn, thuộc da, thợ mộc, đóng giầy hảo hạng, sử dụng các phương pháp mà đa số người Ả-rập không sao học nổi. Dĩ nhiên là những kẻ hữu ích đáng được hưởng một sự che chở tối thiểu.

Sự kiện khó tin là các người Do Thái xứ Yemmen, mặc dù bị cô lập với thế giới bên ngoài hơn ba ngàn năm, vẫn giữ được cho mình là Do Thái. Mặc dầu nếu chịu cải đạo sang Hồi giáo, đời sống họ sẽ dễ chịu hơn nhiều. Nhưng họ vẫn cứ ngoan cố bám lấy kinh Torah, luật giáo đường, ngày sabbat cùng tất cả mọi ngày lễ khác. Đây quả là một chiến công phi thường trong một xứ không biết tới máy in, tất cả mọi sách vở đều phải chép bằng tay. Để bảo vệ niềm tin của tổ tiên, họ chống lại tất cả mọi áp lực. Khi Iman bắt tất cả những trẻ con mồ côi trong các làng theo đạo Hồi, thì dân Do Thái cưới vợ gả chồng cho chúng ngay sau khi bố mẹ chết, bất kể bao nhiêu tuổi, bởi thế có những đứa bé mới có vài tháng đã có vợ hay có chồng rồi.

Xét về phương diện thể xác, y phục, tinh thần, các Do Thái Yemen đầu thế kỷ 20 giống hệt như các bậc tiên tri trong Cựu Ước. Vẫn theo chế độ đa thê, họ mang bùa phép để tránh tà ma, gió độc. Còn về Kinh Thánh, thì theo ý họ, bản văn ra sao thì theo đúng như vậy, không được cắt nghĩa biện giải chi hết: mỗi lời mỗi chữ ra sao thì phải hiểu nguyên văn và cụ thể như thế.

Suốt ba mươi thế kỷ, họ không ngừng hướng về Jérusalem. Kiên nhẫn, có một lòng chung thủy tuyệt đối, họ tin tưởng rằng đấng Vĩnh cửu rồi sẽ ra dấu cho họ thức tỉnh. Thỉnh thoảng, một nhóm nhỏ rời bỏ được Yemen để “trở về” Palestine để rồi thành lập ở đó một cộng đồng sơ khai nhỏ bé.

Rồi tới một ngày kia, đấng Vĩnh cửu đã ban dấu hiệu như các nhà tiên tri đã từng hứa hẹn từ xưa.

Sự kiện khá kỳ dị là mọi sự bắt đầu từ việc Iman gửi một đoàn quân Yemen nhỏ bé sang chiến đấu cùng quân Ai-Cập để chống lại Quốc gia Israel mới thành lập. Không có sự can thiệp có tính cách lý tưởng này của Iman, chắc những người Do Thái Yemen chẳng bao giờ biết được quốc gia họ đã phục sinh. Ngay lập tức, các rabbin tuyên bố rằng đức vua David đã trở lại Jérusalem và chính toàn dân Do Thái Yemen cũng sắp được trở về “Vùng Đất Hứa”, trên những cánh chim phụng hoàng.

Vị Đại Rabbin xin được Iman cho tiếp kiến để yêu cầu quốc vương này cho phép người Do Thái rời Yemen. Iman bĩu môi: vì đủ lý do chính trị và kinh tế, ông thích giữ người Do Thái ở lại hơn. Vị rabbin đề nghị quốc vương nên đọc lại vài chương trong cuốn Exodus của kinh Cựu ước.

Sau khi nghe theo lời khuyên này, Iman chìm đắm vào một suy tư dài và đau đớn. Mười tai ách của Ai-cập... mới vài tháng trước đây một trận dịch đậu lào đã giết chết một phần tư dân số. Không còn ngờ gì nữa, đây là cảnh cáo thứ nhất của đấng Allah,

Ông cho rằng thận trọng hơn nên để cho người Do-thái ra đi, dĩ nhiên là với một số điều kiện nhường lại cho ông mọi nhà cửa ruộng nương và gia súc, trả một sắc thuế tính theo đầu người, phải lưu lại mấy trăm tay thợ khéo léo nhất trong mọi nghề.

Sau đó là cuộc di dân của người Do Thái Yemen. Mang theo một ít của cải họ có thể để trên lưng - của cải mà dân du mục Bédouin - sa mạc - viện cớ là tiền mãi lộ tước đoạt hết ngay - họ lên đường tiến về thuộc địa Aden của Anh quốc, địa điểm giao liên giữa Đông và Tây, nơi tập họp của mọi đoàn người từ nội địa tiến ra. Bị bất ngờ, người Anh mới đầu tự hỏi không biết họ phải làm gì đây với đám người như ở trong thời kinh thánh tiến ra này. Sau cùng, xúc động vì niềm tin ngây thơ cùng sự khốn cùng của đám người Do thái này, người Anh thuận cho phép họ được cắm trại trên lãnh thổ của thuộc địa trong khi chờ đợi Israel cho người đến tìm họ. Quả thực vậy, làm thế nào xua đuổi những kẻ đáng thương quần áo tơi tả, gần chết đói chết khát, mất hết sạch gia sản mà vẫn còn tập họp theo từng làng, với những thùng đựng thánh tích của các giáo đường nghèo nàn của họ.

Đoàn cán bộ chí nguyện đầu tiên của Israel thành lập một trại tạm trú ở gần cảng Aden. Nhưng chưa chi trại nơi này đã đầy tràn trước làn sóng của những di dân khác tới. Các khó khăn bao hàm trong tổ chức loại này bây giờ còn tăng gấp bội lên vì sự kiện các dân Do thái Yemen này, một đám dân bán khai, không biết tới cả một vòi nước, ống tháo nước, bóng điện ra làm sao. Trong khoảng thời gian có vài ngày mà phải cố bắt kịp sự chậm tiến kỹ thuật tới ba ngàn năm, họ sợ từ chiếc xe hơi đến ống chích. Phụ nữ la hét kinh hoàng khi các y sĩ cùng các nữ điều dưỡng định lột bỏ những quần áo rách rưới đầy chấy rận của họ. Họ cũng không chịu để cho ai chẩn bệnh, vùng vẫy chống thuốc chủng, nhẩy xổ vào các người trợ y đang bế con họ - những đứa quá thiếu ăn - tới phòng thuốc.

May mắn thay là các dân Israel, chính họ, họ cũng thuộc Kinh thánh, nên đã khám phá ra rất nhanh cách giải quyết các vấn đề này. Chỉ việc chọn trong Kinh Thánh những đoạn thích hợp rồi đưa cho các rabbin Yemen coi. Thế là xong. Bởi vì cái đó “đã ghi trong Thánh Kinh”, thì các dân Do thái Yemen nghiêng mình tuân theo ngay.

Việc phi cơ đến gây ra cả một sự sôi nổi. Nhóm di dân thứ nhất, được đưa đến phi đạo, khám phá ra ngay cánh chim phượng hoàng vẽ trên thân tầu. Có nhiều cái gật đầu tán thành: quả đúng là Thượng đế đã gửi cái này tới, như Ngài đã từng loan báo qua bậc tiên tri Isaia. Nhưng khi người ta yêu cầu họ lên tầu, họ lại từ chối: vị rabbin của họ vừa nhớ ra rằng hôm đó là ngày thứ bẩy ngày sabbat. Trưởng trại dù cố hết sức mà cắt nghĩa rằng còn cả hàng ngàn người nữa đang đợi đến lượt ra đi, không thể để chim phượng hoàng này đợi tới một ngày, cũng vẫn vô ích. Họ ngồi xổm xuống dưới đôi cánh lớn của con chim bạc rồi tuyên bố rằng họ không có nhúc nhích đi đâu hết cho tới khi hết ngày sabbat. Họ đã kiên nhẫn chờ được ba ngàn năm, thì chờ thêm một ngày nữa cũng không sao hết.

Foster MacWilliams, sau khi ném một cái nhìn lơ đãng lên những hành khách kỳ dị này, phải cố lắm mới nén được một câu chửi thề rồi phóng lẹ về Aden kiếm một chầu giải khát.

Sáng ngày hôm sau, miệng còn khô cứng và mắt nặng trĩu, chàng trở lại phi đạo đúng lúc để thấy các Do thái Yemen lên máy bay. Mỗi người, đàn ông cũng như đàn bà, đều cẩn thận mang theo một chai nước - của cải duy nhất của họ trên thế gian này. Chàng buột miệng:

- Mẹ kiếp! Cái tên khốn kiếp Stretch...

Một giọng con gái cất lên phía sau làm chàng quay vội lại:

- Thưa có phải ông trưởng phi cơ MacWilliams đấy không ạ?

Sững sờ, chàng ngắm nghía một thiếu nữ cao lớn (thân thể có trước có sau đàng hoàng và có đúng chỗ đúng lúc, chàng phải nhận là như thế), mặc một bộ đồ xanh áo liền quần của cơ khí viên và đi dép da.

- Tên tôi là Hannah. Tôi được trao nhiệm vụ đi cùng với ông để lo cho hành khách.

- A! Thế... rất hân hạnh được biết cô.

Nàng cười, để lộ hàm răng trắng ngà không một vết gợn:

- Ông có chỉ thị nào đặc biệt cho tôi không? Vì đây là lần đầu tiên tôi hộ tống cho một chuyến như thế này...

- Không... không đâu. Cô chỉ việc thu xếp sao cho những con khỉ nhỏ xấu òm này đừng xâm nhập vào phòng lái là đủ. Dĩ nhiên là điều cấm đoán này không hề áp dụng cho cô. Ngược lại là khác... cô càng vào thăm tôi nhiều, tôi càng bằng lòng. Tiện đây, tên tôi là Foster...

Chàng nhìn đoàn người Yemen:

- Nhưng... hình như họ không ít đi được chút nào. Chúng ta mang theo chuyến này bao nhiêu đấy?

- Gì cơ?... Theo danh sách của tôi, bốn trăm người.

- Cái gì? Cô điên rồi cô ơi. Không bao giờ máy bay cất cánh nổi với số người như thế, phải bỏ bớt đi hẳn một nửa.

- Không được đâu. Tôi xin ông đấy... ngày nào cũng có thêm rất nhiều người đến. Và người Anh thì cứ đòi hỏi là chúng tôi phải đưa họ đi cho nhanh, càng nhanh bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu.

Foster cầu nhầu. Chàng cố nhớ lại những con số ấn định trọng lượng chuyên chở được của máy bay. Không còn ngờ gì nữa, chắc chắn là sắp vượt giới hạn an toàn rồi... Đúng vào lúc đó, chàng phạm lầm lỗi là nhìn vào đôi mắt của Hannah. Thôi cũng được... chàng tính toán lại, ăn gian tí chút, tự thuyết phục rằng với một chút may mắn, chàng cũng có thể lôi được máy bay cất cánh.

Chàng lầu nhầu:

- Thôi cũng được! Dẫu sao, đây cũng là chuyến bay đầu tiên và chuyến chót luôn của tôi trên lộ trình này.

Khi chàng lên tầu, chàng suýt lùi lại trước một mùi hôi thối nồng nặc. Hannah thấy mặt chàng tái đi. Nàng vội cắt nghĩa:

- Chúng tôi không có đủ thì giờ tẩy uế cho tất cả mọi người. Và vì chúng tôi lại không biết rõ ngày giờ có phi cơ đến...

Trong thân tàu, các dân Yemen bị nhồi nhét đúng như cá hộp.

Muốn tới phòng lái, Foster phải hất ra nhiều người, gạt nhiều cánh tay sang một bên, đồng thời cố gắng chận cơn buồn nôn đang dâng lên. Ngồi được xuống ghế phi công, chàng vội mở cửa kính ngang, vừa cố giữ đầu thò ra ngoài, vừa cho phi cơ rồ ga trên phi đạo lấy đà cất cánh. Một cơn buồn nôn ngắn, dữ dội... Phi cơ chạy nhanh hơn... Foster cảm thấy một cơn co thắt dạ dầy, sau cùng... mũi phi cơ cất lên ... rồi sau nữa các bánh xe rời mặt đất cách cuối phi đạo có vài thước. Foster há miệng cắn thẳng vào một trái chanh. Dần dần, trong không khí mát lành hơn, cơn buồn nôn dịu dần. Sau khi bay vòng eo biển, chàng cho phi cơ hướng về phía nam Hồng hải, ở đúng giữa khoảng cách từ Arabie Séoudite phía đông và Ai-cập phía tây.

Hannah đẩy cửa buồng lái. Nàng cũng tái xanh.

- Ông có thể làm cho phi cơ bớt lắc lư không ... họ đang nôn mửa hết ...

- Cô đi mở hết các quạt và ống thông hơi. Tôi sẽ cố bay cao một chút. Khí lạnh sẽ làm cho họ dễ chịu hơn.

Cô gái biến mất. Sau chừng nửa giờ, nàng lại trở vào.

- Bây giờ họ lại rét run lên cầm cập.

- Nếu tôi làm cho họ ấm lại, họ lại sẽ nôn mửa. Tùy ý cô chọn lựa.

Hannah đồng ý.

- Ông có lý... Thôi, cứ để họ run tốt hơn,

Nàng lại ra. Lần này chưa đến một phút, nàng đã quay lại:

- Họ đốt một đống lửa để sưởi.

- Mẹ kiếp.

Để cho hệ thống tự động điều khiển phi cơ, Foster chạy vội vào khoang tầu. Một đám lửa đang cháy vui vẻ ngay giữa sàn. Tức giận, chàng lấy chân dập tắt.

- Cô có biết tiếng của tụi man ri mọi rợ này không?

- Biết chứ, tiếng hébreu.

- Bây giờ cô cầm lấy micro và báo cho họ biết là kẻ nào nhúc nhích, tôi sẽ quăng xuống biển ngay lập tức.

Dân Yemen, chưa bao giờ nghe máy phóng thanh, sợ hãi co rúm người lại, kinh khiếp nhìn lên trần phi cơ. Foster ngạc nhiên hỏi:

- Họ sợ cái gì vậy?

- Họ tưởng tiếng nói từ vách trần thốt ra ấy là tiếng của Thượng đế.

- Tốt quá. Cô đừng có cải chính nghe cô.

Chàng trở lại phòng lái. Trong nhiều gỉờ liền, không có một biến cố nào nữa quấy rầy chàng, ngoại trừ một lần Hannah vào loan báo có một vụ sinh nở.

- Ô,g đừng lo, mẹ tròn con vuông rồi.

Một lát sau nàng mang vào cho chàng một ly đồ uống nóng và hai người nói chuyện với nhau. Sau khi đã hỏi nàng về dân Do Thái xứ Yemen và chiến tranh Palestine, liền hỏi một câu trực tiếp hơn.

- Cô Hannah ạ ... tại sao cô lại để bị lôi cuốn vào câu chuyện này mới được chứ? Dù thiên hạ có trả công hậu đến mấy, thì một công việc như thế này cũng đáng gấp đôi như thường.

Hannah cười:

- Mọi người đâu có trả lương cho tôi. Mọi người chỉ định tôi làm việc này. Có lẽ tôi sẽ ở lại với dân Do Thái Yemen đi chuyến này để giúp họ làm một cái làng, nhưng cũng có thể tôi lại ra đi kiếm họ thêm...

- Tôi chẳng hiểu gì hết.

- Khó cắt nghĩa lắm. Tiền bạc đối với chúng tôi không có ý nghĩa gì nhiều. Trái lại, mang những kẻ đáng thương này về tổ quốc quả là một nhiệm vụ cao đẹp. Rõ ràng đây là hoàn cảnh hoàn toàn đặc biệt...

Foster nhún vai. Xét cho cùng, chàng cóc cần. Chàng sắp chuồn sang Paris đến nơi rồi...

Chàng chỉ bờ biển thẳng ngay phía trước.

- Chúng ta bay đến Israel rồi!

- Tôi phải loan báo cho họ biết. Họ chờ đợi giây phút này từ bao ngàn năm rồi...

- Họ sẽ đập vỡ máy bay của chúng ta mất... để tôi đi cho, tốt hơn.

Chàng lại để cho hệ thống tự động điều khiển phi cơ rồi bước ra khoang tầu. Ngay từ những lời của Hannah, cả một cơn vui mừng điên cuồng xâm nhập các dân Yemen. Các tiếng la hét vui mừng, những vòng tay ôm cuồng nhiệt - vài người còn phác một điệu vũ nữa. Một phụ nữ Yemen già nắm lấy tay Foster hôn lia lịa. Chàng cố gỡ mới ra thoát được những cánh tay muốn ôm lấy mình để trở lại phòng lái. Hai giờ sau, khi phi cơ hạ xuống phi đạo Lydda, chàng nghe thấy tiếng hát của người Yemen cất lên át cả tiếng động cơ đang giảm dần tốc độ.

Lắc đầu, chàng đứng nhìn họ bước khỏi thân tầu, quỳ xuống vừa khóc nức nở vừa hôn đất phi đạo. Hannah nói:

- Thôi, xin chào ông Foster. Chúc ông vui vẻ ở Paris.

Foster đứng nhìn nàng len vào hàng ngũ những người di dân cùng với các thiếu nữ khác giống nàng một cách lạ lùng. Chàng giật mình khi nghe thấy tiếng Stretch.

- Chào cụ! Phi cơ bay vững chứ?

- Như chim phụng hoàng vậy. Một chuyến đi không có chuyện gì rắc rối cả.

Khi Strech lôi đi, Foster còn ngoái lại. Hannah cười với chàng, vẫy tay. Chàng cũng làm như thế. Stretch nói:

- Cụ có thể đi Paris được rồi đó. Tôi đã kiếm được phi công...

- Cũng được, càng tốt. Nhưng này bồ.. .trong trường hợp bồ bị kẹt... tôi sẽ gỡ cho bồ lần nữa, nhưng một lần. ..thực đó, lần chót nữa thôi.

Stretch gật đâu:

- Để tôi coi nào... tôi có thể dàn xếp vụ này đấy. Cụ sẽ thử dùm tôi chiếc phi cơ tôi mới tậu.

Strech khoái trí nghĩ thầm: “Bồ sẽ tiếp tục với tôi bồ ơi. Bồ Foster ơi, phen này tôi nắm được bạn rồi và sẽ nắm chắc đó nghe”.

Chiến dịch “Tấm thảm thần” đã mở đầu như vậy. Stretch Thompson, ông vua thất sủng của loài cua Alaska đã tỏ ra là một tay tổ chức hữu hạng. Chàng mướn thêm nhiều phi công Hoa-kỳ nữa, những tay cựu trào đã từng chứng tỏ khả năng trong “Cầu không vận Bá-linh”(cầu không vận Bá linh: Quân Nga phong tỏa Bá linh sau đệ nhị thế chiến để cưỡng ép Anh, Pháp, Mỹ phải rời bỏ thủ đô này. Bên Đồng minh, nhất là Mỹ, đã động viên phi cơ để tiếp tế cho Bá linh trong một thời gian dài, sau đó, Nga đành bỏ phong tỏa.).

Chàng tìm mua những máy bay cũ kỹ, sửa chữa vá víu lung tung, nhưng vẫn cứ tiếp tục bay được. Còn về Foster Mac Williams, phi công trưởng của công ty và là cũng tay chuyên môn về đường bay Aden. Chàng không bao giờ được biết tới những lạc thú của Paris. Sau khi chở người Do thái Yemen sau cùng về xứ, chàng lo việc di tản những Do Thái Irak, làm việc tối tăm mặt mũi - có thể nói chưa có phi công dân sự nào lại làm việc nhiều đến như thế. Trong khoảng thời gian ba năm, chàng bay hơn bốn trăm phi vụ, mang chừng năm mươi ngàn người Do Thái trở về quê cha đất tổ. Sau mỗi chuyến bay, chàng đều chỉ trời chỉ đất mà thề rằng đây sẽ là chuyến bay chót, rằng chàng chán ngấy đến mang tai lỗ mũi rồi... cứ thế cho tới khi chàng cưới Hannah làm vợ và vợ chồng dọn tới cư ngụ trong một căn nhà xinh xắn ở Tel- Aviv.

“Tấm thảm thần” vẫn tiếp tục. Các phi cơ mang những người Do Thái từ Kurdistan và tận cùng Thổ-nhĩ-kỳ về, rồi lại tới Aden để hồi hương cả một bộ lạc bị bỏ quên sống lùi xùi trong vùng núi Hadramout, mới biết tin thành lập nước Israel và đã lập tức lên đường ngay tiến ra biển.

Các con dân Israel từ các trại di dân Pháp, Ý, Nam-tư, các quốc gia miền Balkan và Bắc Âu ùn ùn kéo về. Từ các mellah Bắc Phi và các thành phố Nam Phi, từ Trung hoa, Ân-độ, Úc-đại- lợi, Gia-nã-đại, Anh quốc... Bằng phi cơ, bằng tầu thủy, từ bẩy mươi tư quốc gia khác nhau trên thế giới, người Do Thái đổ xô về vùng đất mà chữ “Do-thái” không còn là một lời chửi rủa.

Người dịch THẾ UYÊN
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Leon Uris

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.