Cuộc Phiêu Lưu Kỳ Lạ Của Arsène Lupin, Tên Trộm Hào Hoa

Lượt đọc: 238 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6
Bộ Bảy Cơ

❊ ❊ ❊

Người ta vẫn thường hỏi tôi câu hỏi này: “Làm thế nào mà anh quen biết Arsène Lupin?”

Mối giao tình của tôi với Arsène Lupin vốn là điều ai cũng rõ. Những chi tiết tôi thu thập được về con người đầy bí ẩn ấy, những sự thật không thể chối cãi mà tôi đưa ra, những bằng chứng mới mà tôi hé lộ, cùng cách giải thích của tôi về một số hành động mà công chúng chỉ thấy được lớp vỏ bên ngoài mà không tài nào thấu hiểu được nguyên nhân bí mật hay cơ chế ẩn giấu đằng sau – tất cả những điều đó đã thiết lập nên, nếu chưa gọi là sự gắn bó thắm thiết, thì ít ra cũng là mối quan hệ hữu hảo cùng những sự tin tưởng đều đặn.

Nhưng rốt cuộc, làm sao tôi quen được hắn? Tại sao tôi lại được chọn làm người ghi chép tiểu sử cho hắn? Tại sao lại là tôi mà không phải một ai khác?

Câu trả lời rất đơn giản: tình cờ chính là kẻ đã định đoạt sự lựa chọn ấy, chứ tài năng của tôi không hề được cân nhắc. Chính sự tình cờ đã đưa đẩy tôi vào con đường của hắn. Cũng thật ngẫu nhiên khi tôi trở thành một phần trong một trong những cuộc phiêu lưu kỳ lạ và bí ẩn nhất của hắn; và thật tình cờ, tôi lại hóa thành một diễn viên trong vở kịch mà chính hắn là vị đạo diễn tài ba – một vở kịch vừa mơ hồ vừa rắc rối, ngập tràn những biến cố ly kỳ đến mức bản thân tôi cũng cảm thấy có chút ngượng ngùng khi bắt tay vào việc mô tả lại.

Hồi màn đầu tiên diễn ra vào đêm đáng nhớ ngày 22 tháng 6, quãng thời gian mà người ta đã bàn tán quá nhiều. Phần tôi, tôi quy trách nhiệm cho thái độ bất thường mà mình đã vướng phải trong dịp ấy cho trạng thái tâm lý khác lạ khi tôi đặt chân về nhà. Hôm đó, tôi đã dùng bữa tối với vài người bạn tại nhà hàng Cascade, và suốt cả buổi tối, giữa lúc chúng tôi phì phèo khói thuốc và dàn nhạc tấu lên những khúc waltz u sầu, thứ duy nhất chúng tôi trò chuyện cùng nhau chỉ là những vụ án mạng, những vụ trộm cắp, cùng những âm mưu đen tối và rùng rợn. Đó luôn là khúc dạo đầu tồi tệ cho một giấc ngủ đêm.

Gia đình Saint-Martin rời đi trên một chiếc xe hơi. Jean Daspry – con người đáng yêu và bất cẩn ấy, sáu tháng sau, đã thiệt mạng một cách đầy bi thảm ở biên giới Ma-rốc – Jean Daspry và tôi đi bộ trở về qua đêm tối ấm áp. Khi chúng tôi đến trước ngôi nhà nhỏ nơi tôi đã thuê sinh sống suốt một năm trời ở Neuilly, nằm trên đại lộ Maillot, anh ấy quay sang tôi và hỏi:

– Cậu có sợ không?

– Ý kiến gì kỳ cục vậy!

– Nhưng ngôi nhà này thật cô quạnh... chẳng có hàng xóm... xung quanh toàn đất trống... Thật đấy, tôi không phải kẻ hèn nhát, thế mà ngộ ghê —

– Chà, phải công nhận là lời động viên của cậu nghe thật phấn khởi làm sao.

– Ồ! Tôi nói thế theo thói quen thôi. Bọn nhà Saint-Martin đã làm tôi ám ảnh với những câu chuyện về tướng cướp và kẻ trộm của họ mất rồi.

Chúng tôi bắt tay nhau và chúc ngủ ngon. Tôi rút chìa khóa ra rồi mở cửa.

– Chà, lạ thật, – tôi lẩm bẩm, – Antoine lại quên thắp nến rồi sao.

Rồi tôi chợt nhớ ra Antoine không có nhà; tôi đã cho cậu ta nghỉ phép ngắn ngày. Ngay lập tức, tôi cảm thấy ngột ngạt đến khó chịu trước bóng tối và sự tĩnh mịch của màn đêm. Tôi rón rén bước lên lầu, nhanh chóng hết mức có thể để về đến phòng mình; sau đó, trái với thói quen thường ngày, tôi xoay chìa khóa rồi cài then cửa lại.

Ánh nến đã kéo can đảm trở lại trong tôi. Dù vậy, tôi vẫn cẩn thận rút khẩu súng lục ra khỏi bao – một thứ vũ khí lớn và có uy lực mạnh – rồi đặt nó ngay cạnh giường. Thận trọng thế là tôi thấy yên tâm hẳn. Tôi nằm xuống và, như mọi khi, với tay lấy một cuốn sách trên bàn cạnh giường để đọc cho dễ ngủ. Và rồi, một bất ngờ lớn giáng xuống đầu tôi. Thay vì chiếc dao rọc giấy mà tôi vẫn dùng để đánh dấu trang từ hôm trước, tôi lại tìm thấy một phong bì được niêm phong kín bởi năm dấu sáp đỏ. Tôi vồ lấy nó với vẻ đầy sốt sắng. Nó được gửi cho tôi, trên phong bì có đề dòng chữ: “Khẩn.”

Một bức thư! Một bức thư gửi cho riêng tôi! Rốt cuộc ai đã đặt nó vào đây? Trong cơn thấp thỏm, tôi xé toạc phong bì và đọc:

“Từ khoảnh khắc anh mở bức thư này, bất luận chuyện gì xảy ra, bất luận anh nghe thấy âm thanh gì, tuyệt đối không được nhúc nhích, không được cất lên một tiếng kêu. Bằng không, anh cầm chắc cái chết.”

Tôi không phải là kẻ hèn nhát, và cũng chẳng thua kém bất kỳ ai trong việc đối mặt với hiểm nguy thực tế hay mỉm cười trước những hiểm họa tưởng tượng do trí óc thêu dệt nên. Nhưng, xin nhắc lại, tâm trạng tôi lúc đó đang rơi vào một trạng thái kỳ quặc, với màng thần kinh căng như dây đàn bởi những câu chuyện suốt buổi tối hôm ấy. Hơn thế nữa, chẳng phải trong hoàn cảnh hiện tại của tôi đang ẩn chứa một điều gì đó vô cùng bất ngờ và mờ ám, đủ sức làm lung lay cả những tâm hồn dũng cảm nhất hay sao?

Những ngón tay run rẩy của tôi siết chặt tờ giấy, và tôi đọc đi đọc lại những lời đe dọa ấy: “Không được nhúc nhích, không được cất lên một tiếng kêu. Bằng không, anh cầm chắc cái chết.”

– Vớ vẩn! – tôi thầm nhủ. – Chỉ là một trò đùa thôi; tác phẩm của một tên ngốc nghếch thích cười đùa nào đó mà thôi.

Tôi suýt bật cười – một tiếng cười thật giảng hòa và sảng khoái. Nhưng cái gì đã ngăn tôi lại chứ? Nỗi sợ hãi ám ảnh nào đang bóp nghẹt cổ họng tôi thế này?

Ít nhất, tôi phải thổi tắt ngọn nến chứ. Không, tôi không tài nào làm nổi. “Không được nhúc nhích, bằng không anh cầm chắc cái chết,” đó là những gì hắn đã viết.

Những lời tự ám thị kiểu này thường có sức mạnh sai khiến mạnh mẽ hơn cả những thực tế rõ rành rành; nhưng sao tôi phải chống lại chúng cơ chứ? Tôi chỉ việc nhắm mắt lại là xong. Tôi liền làm thế.

Đúng lúc ấy, tôi nghe thấy một tiếng động nhỏ, nối tiếp là những tiếng lạo xạo phát ra từ căn phòng rộng mà tôi dùng làm phòng đọc sách. Giữa phòng ngủ và phòng sách của tôi có ngăn cách một căn phòng nhỏ hoặc tiền sảnh.

Sự cận kề của một hiểm họa thực sự đã kích thích tôi mạnh mẽ, dấy lên trong tôi khao khát muốn bật dậy, vồ lấy khẩu súng lục và lao thẳng vào phòng sách. Thế nhưng tôi vẫn không đứng dậy; tôi thấy một tấm rèm ở ô cửa sổ bên trái chuyển động. Không còn nghi ngờ gì nữa: tấm rèm vừa dịch chuyển. Nó vẫn đang động đậy. Và tôi thấy – ồ! Tôi thấy vô cùng rõ ràng – trong khoảng không gian hẹp giữa các lớp rèm và khung cửa sổ, một bóng người; một khối đồ sộ cản trở tấm rèm rủ thẳng xuống. Và điều chắc chắn không kém là kẻ kia cũng đang nhìn xuyên qua những mắt lưới thưa của tấm rèm để quan sát tôi. Lúc bấy giờ, tôi mới vỡ lẽ tình hình. Nhiệm vụ của hắn là canh chừng tôi trong lúc đồng bọn đang vơ vét chiến lợi phẩm. Tôi có nên đứng dậy và chộp lấy khẩu súng lục không? Thật bất khả thi! Hắn đang ở ngay đằng kia! Chỉ cần một cử động nhỏ nhất, một tiếng kêu khẽ nhất thôi là tôi sẽ nắm chắc cái chết.

Tiếp sau đó là một tiếng động khủng khiếp rung chuyển cả ngôi nhà; nối tiếp là những âm thanh nhẹ hơn, hai hoặc ba tiếng dồn dập, vang lên tựa như tiếng búa nện bật ngược trở lại. Ít nhất, đó là ấn tượng hình thành trong bộ óc đang hoang mang tột độ của tôi. Những thứ đó hòa quyện với các âm thanh khác, tạo thành một thứ tiếng ồn náo loạn thực sự, chứng minh rằng những kẻ đột nhập không chỉ gan lì mà còn cảm thấy vô cùng an toàn, chẳng mảy may lo sợ bị quấy rầy.

Hắn đã đúng. Tôi bất động tại chỗ. Đó là sự hèn nhát chăng? Không, đúng hơn là sự suy nhược, một trạng thái bất lực hoàn toàn không thể cử động bất kỳ bộ phận nào trên cơ thể, kết hợp cùng sự thận trọng; bởi vì hà cớ gì tôi phải vùng vẫy chống cự? Phía sau gã đàn ông kia còn có mười tên khác sẵn sàng lao đến ứng cứu. Chẳng lẽ tôi lại đánh đổi cả tính mạng chỉ để bảo vệ mấy bức thảm treo tường cùng dăm ba món đồ cổ vặt vãnh hay sao?

Suốt cả đêm dài, sự tra tấn ấy cứ thế đè nặng lên tôi. Một sự hành hạ không tài nào chịu nổi, một nỗi thống khổ tột cùng! Những tiếng động đã ngưng bặt, nhưng nỗi sợ chúng tái diễn cứ bủa vây tôi không dứt. Và gã đàn ông kia! Gã đàn ông đang canh gác tôi với vũ khí lăm lăm trên tay. Đôi mắt hoảng sợ của tôi cứ dán chặt về hướng hắn. Trái tim tôi thì đập loạn nhịp! Mồ hôi vã ra đầm đìa từ từng lỗ chân lông trên cơ thể!

Đột nhiên, tôi cảm thấy một sự nhẹ nhõm vô bờ; chiếc xe chở sữa có tiếng động quen thuộc với tôi vang lên dọc theo đại lộ; và đồng thời, tôi có linh cảm rằng ánh sáng của một ngày mới đang cố len lỏi qua nhữngh tấm rèm cửa sổ đã khép kín.

Cuối cùng, ánh ban mai cũng lọt được vào phòng; những phương tiện giao thông khác lần lượt chạy qua đại lộ; và tất cả những bóng ma của màn đêm đều tan biến. Khi ấy, tôi từ từ và cẩn trọng đưa một cánh tay ra khỏi giường. Mắt tôi chằm chằm hướng vào tấm rèm, xác định chính xác vị trí mà tôi phải khai hỏa; tôi tính toán tỉ mỉ từng cử động cần thực hiện; rồi chớp nhoáng, tôi vớ lấy khẩu súng lục và bóp cò.

Tôi bật tung người khỏi giường với một tiếng thét giải thoát, lao thẳng về phía cửa sổ. Viên đạn đã xuyên thủng tấm rèm và lớp kính cửa sổ, nhưng nó chẳng chạm được vào gã đàn ông nào cả – vì một lý do rất đơn giản là chẳng có bóng ma nào ở đó hết. Không một bóng người! Thế là, suốt cả đêm dài, tôi đã bị thôi miên bởi chính nếp gấp của tấm rèm cửa. Và trong khoảng thời gian đó, lũ tội phạm... Trong cơn giận dữ điên cuồng, với một sự kích động không gì ngăn cản nổi, tôi vặn ổ khóa, mở toang cánh cửa, bước qua tiền sảnh, mở thêm một cánh cửa nữa và lao hộc tốc vào phòng sách. Nhưng sự kinh ngạc đã khựng tôi lại ngay ngưỡng cửa, thở hồng hộc, bàng hoàng, sững sờ gấp bội so với lúc phát hiện ra sự vắng bóng của gã đàn ông kia. Tất cả những món đồ mà tôi tưởng đã bị trộm sạch, từ đồ đạc, sách vở, tranh ảnh cho đến những tấm thảm cổ, tất cả đều nằm yên vị ở chỗ cũ.

Thật khó mà tin nổi. Tôi không dám tin vào mắt mình nữa. Mặc cho trận lôi đình khi nãy, mặc cho những âm thanh dọn dẹp chuyển dời ấy... Tôi đi một vòng quanh phòng, kiểm tra từng bức tường, lập lại danh mục kiểm kê trong đầu về tất cả những món đồ quen thuộc. Chẳng thiếu một thứ gì. Và điều làm tôi hoang mang hơn cả, là chẳng có lấy một manh mối nào về những kẻ đột nhập, không một dấu hiệu, không một chiếc ghế bị xê dịch, không một vết chân lưu lại.

– Thôi nào! Thôi nào! – tôi tự nhủ, hai tay ôm lấy cái đầu đang quay cuồng, – chắc chắn là mình chưa đến mức phát điên! Rõ ràng là mình có nghe thấy tiếng động cơ mà!

Từng li từng tí một, tôi tiến hành kiểm tra căn phòng thật kỹ lưỡng. Nhưng hoàn toàn công cốc. Trừ phi tôi có thể coi đây là một phát hiện: Dưới một tấm thảm Ba Tư nhỏ, tôi tìm thấy một lá bài – một lá bài tây thông thường. Đó là con bảy cơ; nó chẳng khác gì bất kỳ con bảy cơ nào trong bộ bài chơi của Pháp, chỉ có một điểm ngoại lệ vừa nhỏ vừa kỳ lạ thế này: Phần chóp ngoài cùng của mỗi dấu cơ màu đỏ đều bị thủng một lỗ, tròn và đều đặn như thể được đâm bằng một mũi giùi.

Chẳng còn gì khác. Một lá bài và một bức thư được tìm thấy kẹp trong sách. Nhưng chừng đó chẳng phải đã đủ để khẳng định rằng tôi không hề trở thành món đồ chơi trong một giấc mơ đấy ư?

Suốt cả ngày hôm đó, tôi tiếp tục công cuộc lục soát trong phòng sách. Đó là một căn phòng rộng, rộng hơn mức cần thiết cho nhu cầu của một ngôi nhà như thế, và cách trang trí của nó đã minh chứng cho thứ gu thẩm mỹ kỳ quái của vị chủ nhân khai sáng ra nó. Sàn nhà là một bức tranh khảm mosaic gồm những viên đá đa màu sắc, tạo thành các họa tiết đối xứng lớn. Những bức tường cũng được phủ một lớp mosaic tương tự sắp xếp theo từng ô panel, nào là các điển tích theo phong cách Pompeii, các tác phẩm phối cảnh Byzantine, cho đến những bức bích họa thời Trung cổ. Một vị thần Bacchus đang cưỡi trên một chiếc thùng rượu. Một vị hoàng đế đội vương miện vàng, để râu dài thướt tha và tay phải lăm lăm thanh gươm.

Khá cao phía trên, theo kiểu cách của một xưởng họa sĩ, có một ô cửa sổ lớn – cũng là ô cửa sổ duy nhất trong phòng. Vì ô cửa sổ ấy luôn mở vào ban đêm, nên rất có thể những kẻ lạ mặt đã đột nhập qua đường đó nhờ sự trợ giúp của một cái thang. Nhưng một lần nữa, chẳng có lấy một bằng chứng nào. Chân thang đáng lẽ phải để lại vài dấu vết trên khoảng đất mềm ngay dưới cửa sổ; thế nhưng lại chẳng có gì cả. Cũng không có bất kỳ vết chân nào ở bất kỳ góc nào trong sân.

Tôi hoàn toàn không có ý định báo cảnh sát, bởi vì những sự kiện bày ra trước mắt tôi quá sức vô lý và mâu thuẫn. Họ sẽ cười vào mặt tôi mất. Tuy nhiên, vì lúc bấy giờ tôi đang là một phóng viên trong ban biên tập tờ ‘Gil Blas’, tôi đã viết một bài thuật lại thật dài về cuộc phiêu lưu của mình và nó được đăng tải lên báo vào hai ngày sau đó. Bài báo thu hút được một vài sự chú ý, nhưng chẳng có ai thèm coi đó là chuyện nghiêm túc cả. Họ xem nó như một tác phẩm hư cấu hơn là một câu chuyện có thật ngoài đời. Gia đình Saint-Martin thì được dịp trêu chọc tôi. Riêng Daspry, người vốn có hứng thú với những vụ việc kiểu này, đã đến gặp tôi, nghiên cứu kỹ lưỡng vụ việc nhưng rốt cuộc cũng chẳng đưa ra được kết luận nào.

Vài buổi sáng sau đó, chuông cửa reo lên, và Antoine bước vào thông báo có một quý ông muốn gặp tôi. Ông ta nhất quyết không chịu xưng tên. Tôi bảo Antoine dẫn khách lên phòng. Đó là một người đàn ông khoảng bốn mươi tuổi với làn da ngăm đen, các đường nét linh hoạt, và bộ trang phục chỉnh tề nhưng đã sờn cũ, phảng phất một thứ gu thẩm mỹ tương phản kỳ lạ với phong thái có phần thô lỗ của ông ta. Không cần lờiào đầu rào cuối, ông ta cất giọng khàn khàn – thứ âm thanh càng làm tôi thêm nghi ngờ về địa vị xã hội của hắn:

– Thưa ông, trong lúc ngồi quán cà phê, tôi có cầm đọc một số tờ ‘Gil Blas’ và đọc được bài viết của ông. Nó làm tôi vô cùng hứng thú.

– Cảm ơn ông.

– Và thế là tôi có mặt ở đây.

– À!

– Đúng vậy, để trò chuyện với ông. Tất cả những sự việc được ông kể lại trong đó đều hoàn toàn chính xác chứ?

– Hoàn toàn chính xác.

– Vâng, nếu vậy, có lẽ tôi có thể cung cấp cho ông vài thông tin.

– Rất hoan nghênh; xin mời ông tiếp tục.

– Không, chưa phải lúc này. Trước hết, tôi phải chắc chắn rằng mọi chuyện đúng y như những gì ông đã thuật lại cái đã.

– Tôi đã lấy danh dự ra để đảm bảo với ông rồi. Ông còn muốn bằng chứng nào nữa đây?

– Tôi phải ở lại căn phòng này một mình.

– Tôi không hiểu ý ông lắm, – tôi ngạc nhiên lên tiếng.

– Đó là một ý tưởng bất chợt lóe lên trong đầu tôi khi đọc bài báo của ông. Một vài chi tiết cho thấy sự trùng hợp kỳ lạ với một vụ án khác từng lọt vào tầm ngắm của tôi. Nếu tôi nhầm, tôi sẽ không nói thêm lời nào nữa. Và cách duy nhất để xác minh sự thật là tôi phải ở lại căn phòng này một mình.

Ẩn sau đề nghị này rốt cuộc là thứ gì? Về sau, tôi mới nhớ ra rằng gã đàn ông đó vô cùng căng thẳng; nhưng đồng thời, dẫu có chút ngạc nhiên, tôi chẳng thấy có gì gọi là bất thường ở con người hay yêu cầu mà hắn vừa đưa ra cả. Hơn nữa, sự tò mò của tôi đã bị kích thích; thế là tôi đáp lời:

– Được thôi. Ông cần bao nhiêu thời gian?

– Ồ! Ba phút – không lâu hơn đâu. Tính từ lúc này, đúng ba phút sau tôi sẽ quay lại gặp ông.

Tôi rời khỏi phòng và đi xuống lầu. Tôi rút đồng hồ ra xem. Một phút trôi qua. Hai phút. Tại sao tôi lại cảm thấy nằng nặng trong lòng thế này? Tại sao những khoảnh khắc ấy lại cứ mang vẻ nghiêm trang và kỳ quái đến thế? Hai phút rưỡi... Hai phút ba mươi lăm giây. Rồi tôi nghe thấy tiếng súng nổ.

Tôi lao hộc tốc lên lầu và xông vào phòng. Một tiếng thét kinh hoàng bật ra từ cổ họng tôi. Giữa căn phòng, gã đàn ông đang nằm nghiêng về bên trái, bất động. Máu từ vết thương trên trán hắn đang rỉ ra. Ngay sát bàn tay hắn là một khẩu súng lục, nòng vẫn còn bốc khói.

Thế nhưng, bên cạnh khung cảnh rợn ngợp ấy, sự chú ý của tôi lại bị thu hút bởi một vật khác. Cách cỗ thi thể chừng hai bước chân trên sàn nhà, tôi nhìn thấy một lá bài tây. Đó chính là con bảy cơ. Tôi nhặt nó lên. Phần chóp dưới của cả bảy dấu cơ đều bị đâm thủng một lỗ tròn nhỏ.

Nửa giờ sau, viên cảnh sát trưởng có mặt, tiếp theo là quan tòa pháp y và viên giám đốc sở An ninh, ngài Dudouis. Tôi đã cẩn thận không chạm vào cái xác. Cuộc điều tra sơ bộ diễn ra rất nhanh chóng và chẳng hé lộ điều gì. Không có bất kỳ giấy tờ nào trong túi của người quá cố; không có tên tuổi trên quần áo; không có chữ cái viết tắt nào trên khăn quấn; chẳng có lấy một thứ gì có thể cung cấp manh mối về thân phận của hắn. Căn phòng vẫn giữ nguyên vẻ ngăn nắp hoàn hảo như trước. Đồ đạc không hề bị xê dịch. Thế nhưng, gã đàn ông này rõ ràng không đến nhà tôi chỉ với mục đích tự sát, hay vì hắn thấy chỗ tôi là nơi thuận tiện nhất để kết liễu đời mình! Chắc chắn phải có một động cơ nào đó đằng sau hành vi tuyệt vọng ấy, và động cơ đó, không nghi ngờ gì nữa, chính là kết quả của một tình tiết mới nào đó mà hắn đã phát hiện ra trong ba phút đơn độc một mình.

Tình tiết đó là gì? Hắn đã nhìn thấy những gì? Bí mật kinh hoàng nào đã phơi bày trước mắt hắn? Chẳng có câu trả lời nào cho những thắc mắc ấy cả. Thế nhưng, vào phút chót, một sự việc bất ngờ đã xảy ra mà chúng tôi đánh giá là vô cùng quan trọng. Khi hai viên cảnh sát nhấc cái xác lên để đặt vào cáng, bàn tay trái của hắn vô tình bị động chạm, khiến một lá bài nhàu nát rơi ra từ đó. Trên lá bài có ghi dòng chữ: “Georges Andermatt, số 37 phố de Berry.”

Điều đó có nghĩa là gì? Georges Andermatt là một nhà tư bản giàu có ở Paris, là người sáng lập kiêm chủ tịch của Sở giao dịch kim loại, nhân vật từng tạo ra cú hích mạnh mẽ cho các ngành công nghiệp kim khí ở Pháp. Ông ta sống trong nhung lụa vương giả; sở hữu vô số xe hơi, xe ngựa và một chuồng ngựa đua đắt đỏ. Các mối quan hệ xã hội của ông ta đều thuộc tầng lớp thượng lưu chọn lọc, và phu nhân Andermatt thì nổi tiếng bởi nét kiều diễm cùng vẻ đẹp đài hác.

– Chẳng lẽ đó là tên của gã này sao? – tôi hỏi. ———————

Viên giám đốc sở An ninh cúi người quan sát thi thể.

– Không phải hắn đâu. Ngài Andermatt là một người gầy và tóc đã điểm bạc.

– Nhưng tại sao lại có tấm danh thiếp này?

– Nhà anh có điện thoại không, thưa ông?

– Có chứ, ở ngoài tiền sảnh. Xin mời đi theo tôi.

Ông ta tra danh bạ, rồi nhấc máy gọi số 415.21.

– Ngài Andermatt có ở nhà không?... Xin hãy nhắn với ông ấy rằng ngài Dudouis muốn ông ấy đến ngay số 102 đại lộ Maillot. Việc cực kỳ quan trọng.

Hai mươi phút sau, ngài Andermatt có mặt trên chiếc xe hơi của mình. Sau khi nghe giải thích về hoàn cảnh vụ việc, ông ta được dẫn vào nhìn mặt cái xác. Ông ta lộ rõ vẻ xúc động mạnh, và cất giọng trầm thấp, có vẻ như không hề muốn thốt ra:

– Etienne Varin, – ông ta nói.

– Ông quen hắn ta à?

– Không... hoặc ít ra... chỉ là quen mặt thôi. Em trai hắn...

– À! Hắn còn có một người em trai ư?

– Đúng vậy, Alfred Varin. Hắn từng đến gặp tôi một lần để bàn về chuyện làm ăn... tôi quên mất là việc gì rồi.

– Hắn ta ở đâu?

– Hai anh em chúng sống chung một chỗ – hình như là ở phố de Provence.

– Ông có biết lý do nào khiến hắn phải tự sát không?

– Không hề.

– Hắn cầm trên tay một lá bài. Đó là tấm danh thiếp in tên và địa chỉ của ông.

– Tôi không hiểu chuyện đó. Chắc chắn nó xuất hiện ở đó do một sự tình cờ nào sẽ được cuộc điều tra làm sáng tỏ mà thôi.

Một sự tình cờ vô cùng kỳ lạ, tôi thầm nghĩ; và tôi cảm nhận được những người khác cũng mang chung một ấn tượng ấy.

Tôi lại bắt gặp đúng ấn tượng đó trên các mặt báo vào ngày hôm sau, và ở tất cả những người bạn mà tôi đem vụ việc này ra bàn luận. Giữa bầu không khí bí hiểm bủa vây, sau phát hiện kép về hai con bảy cơ bị đâm thủng bảy lỗ, sau hai sự kiện khôn lường từng xảy ra tại tư dinh của tôi, tấm danh thiếp ấy hứa hẹn sẽ rọi chút ánh sáng vào vụ án. Nhờ nó, sự thật có lẽ sẽ được phơi bày. Thế nhưng, trái với kỳ vọng của chúng tôi, ngài Andermatt lại chẳng cung cấp thêm được lời giải thích nào. Ông ta nói:

– Tôi đã kể hết những gì mình biết rồi. Tôi còn có thể làm gì hơn nữa đây? Tôi vô cùng ngạc nhiên khi danh thiếp của mình lại xuất hiện ở một nơi như thế, và tôi thực tâm hy vọng điểm mấu chốt này sẽ sớm được làm sáng tỏ.

Nhưng nó đã không được làm sáng tỏ. Cuộc điều tra chính thức xác định rằng anh em nhà Varin có gốc gác Thụy Sĩ, từng có quãng thời gian lang bạt nay đây mai đó dưới nhiều cái tên khác nhau, thường xuyên lui tới các sòng bạc, giao du với một băng nhóm ngoại kiều từng bị cảnh sát truy quét sau một chuỗi các vụ trộm cắp mà sự nhúng tay của chúng chỉ được chứng minh qua việc chúng bỏ trốn. Tại số 24 phố de Provence, nơi anh em nhà Varin từng sinh sống sáu năm về trước, chẳng một ai hay biết bọn họ đã dạt đi đâu.

Tôi thú thật rằng, về phần mình, vụ án này rắc rối và bí ẩn đến mức tôi không tin bài toán này sẽ có ngày được giải đáp, thế nên tôi quyết định không phí thời gian bận tâm về nó nữa. Thế nhưng Jean-Daspry, người mà tôi hay gặp mặt vào thời điểm đó, lại ngày càng tỏ ra hứng thú sâu sắc hơn mỗi ngày. Chính anh ấy là người đã chỉ cho tôi đoạn tin vắn từ một tờ báo nước ngoài được toàn bộ giới truyền thông đăng tải lại và bình luận rôm rả. Nội dung như sau:

– “Buổi chạy thử nghiệm đầu tiên của một mẫu tàu ngầm mới, được kỳ vọng sẽ tạo ra cuộc cách mạng trong chiến tranh hải quân, sẽ diễn ra trước sự chứng kiến của vị cựu Hoàng đế tại một địa điểm được giữ bí mật cho đến phút chót. Một sự bất cẩn đã làm rò rỉ tên của nó; con tàu được gọi là ‘Bộ-bảy-cơ’.”

Bộ-bảy-cơ! Cái tên ấy mở ra một vấn đề hoàn toàn mới. Liệu có thể thiết lập được mối liên hệ nào giữa tên của chiếc tàu ngầm với những biến cố mà chúng ta vừa kể trên không? Nhưng là mối liên hệ mang bản chất gì? Những gì đã xảy ra ở đây rõ ràng chẳng thể có chút dính líu nào đến chiếc tàu ngầm cả.

– Cậu biết gì về chuyện đó nào? – Daspry bảo tôi. – Những hiệu ứng trái chiều nhất đôi khi lại xuất phát từ cùng một nguyên nhân.

Hai ngày sau, một tin tức quốc tế tiếp theo được truyền về và cho đăng tải:

– “Người ta đồn rằng các bản thiết kế của chiếc tàu ngầm mới mang tên ‘Bộ-bảy-cơ’ được soạn thảo bởi các kỹ sư Pháp, những người, sau khi mòn mỏi tìm kiếm sự hậu thuẫn từ đồng bào mình nhưng bất thành, đã quay sang thương thảo với Bộ Hải quân Anh, nhưng rồi cũng chẳng đi đến đâu.”

Tôi không muốn phơi bày quá mức trước công luận về một số vấn đề tế nhị từng châm ngòi cho biết bao làn sóng xôn xao dư luận. Thế nhưng, vì mọi hiểm họa tổn hại từ đó đến nay đều đã chấm dứt, tôi buộc phải lên tiếng về bài báo xuất hiện trên tờ Echo de France, thứ từng thu hút vô vàn lời bàn tán vào thời điểm ấy và rọi thứ ánh sáng đáng kể vào bí ẩn của Bộ-bảy-cơ. Đây là bài báo được đăng tải dưới bút danh Salvator:

“VỤ ÁN BỘ-BẢY-CƠ.

MỘT GÓC TẤM MÀN BÍ MẬT ĐƯỢC KÉO LÊN.

Chúng tôi xin được nói ngắn gọn. Mười năm trước, một kỹ sư mỏ trẻ tuổi tên là Louis Lacombe, vì muốn dành trọn thời gian và tài sản cho một số nghiên cứu nhất định, đã từ chức vị trí đương thời để thuê lại căn số 102 đại lộ Maillot, một ngôi nhà nhỏ vừa được xây dựng và trang hoàng cho một vị bá tước người Ý. Thông qua sự môi giới của anh em nhà Varin ở Lausanne – một người từng hỗ trợ các thí nghiệm sơ khai và người kia đóng vai trò là đại lý tài chính – vị kỹ sư trẻ tuổi đã được giới thiệu làm quen với Georges Andermatt, nhà sáng lập Sở giao dịch kim loại.

Sau nhiều buổi gặp gỡ, anh đã thành công trong việc lôi kéo vị ngân hàng gia rót vốn vào dự án tàu ngầm mà anh đang dày công nghiên cứu, và hai bên đã đi đến thỏa thuận rằng ngay khi phát minh được hoàn thiện, ngài Andermatt sẽ dùng tầm ảnh hưởng của mình tại Bộ Hải quân để xin phê chuẩn một chuỗi các cuộc thử nghiệm dưới sự giám sát của chính phủ. Suốt hai năm trời, Louis Lacombe là khách quen tại tư dinh của Andermatt, và anh liên tục trình lên vị chủ ngân hàng những cải tiến mà mình thực hiện trên các bản thiết kế nguyên thủy, cho đến một hôm, khi đã vô cùng mãn nguyện với sự hoàn mỹ của công trình, anh đề nghị ngài Andermatt hãy liên lạc với Bộ trưởng Bộ Hải quân. Hôm đó, Louis Lacombe đã dùng bữa tối tại nhà ngài Andermatt. Anh rời khỏi đó vào khoảng mười giờ rưỡi đêm. Và từ đó trở đi, chẳng ai còn nhìn thấy anh xuất hiện nữa.

Việc lật lại các trang báo vào thời điểm đó sẽ cho thấy gia đình của chàng thanh niên tội nghiệp đã tiến hành mọi nỗ lực điều tra có thể, nhưng hoàn toàn vô vọng; và dư luận lúc bấy giờ đều chung nhận định rằng Louis Lacombe – người vốn nổi tiếng là một kẻ lập dị và mộng tưởng – đã lủi thủi rời đi không một tiếng động đến những chân trời vô định nào đó.

Hãy cứ chấp nhận giả thuyết ấy đi – dẫu nó có phần khó tin đi chăng nữa – và cùng suy xét sang một vấn đề khác, một vấn đề tối quan trọng đối với đất nước chúng ta: Rốt cuộc các bản thiết kế của chiếc tàu ngầm đã trôi dạt về đâu? Liệu Louis Lacombe có mang theo chúng khi rời đi không? Hay chúng đã bị thiêu rụi rồi?

Sau khi tiến hành một cuộc điều tra cặn kẽ, chúng tôi hoàn toàn có cơ sở để khẳng định chắc nịch rằng các bản thiết kế vẫn còn tồn tại, và hiện đang nằm trong tay của hai anh em nhà Varin. Làm thế nào mà chúng lại tóm được món đồ ấy? Đó vẫn là một câu hỏi chưa có lời đáp; và chúng ta cũng chẳng tài nào hiểu nổi tại sao suốt thời gian qua chúng lại không chịu đem bán chúng đi cho sớm hơn. Phải chăng chúng sợ quyền sở hữu của mình sẽ bị chất vấn? Nếu đúng là thế thì nỗi sợ ấy nay đã chẳng còn, và chúng tôi xin được tuyên bố chắc chắn rằng, những bản thiết kế của Louis Lacombe giờ đây đã thuộc quyền sở hữu của một cường quốc nước ngoài, đồng thời chúng tôi cũng đang nắm trong tay những bức thư từ qua lại giữa anh em nhà Varin và đại diện của cường quốc đó. Con tàu ‘Bộ-bảy-cơ’ do Louis Lacombe sáng chế thực chất đã được chế tạo bởi nước láng giềng của chúng ta.

Liệu phát minh này có đáp ứng được những kỳ vọng tràn đầy lạc quan của những kẻ từng nhúng tay vào hành vi phản trắc ấy hay không?”

Và một lời bạt được bổ sung thêm:

“Tin mới nhận.— Phóng viên đặc phái của chúng tôi cho hay cuộc thử nghiệm sơ bộ của con tàu ‘Bộ-bảy-cơ’ đã không đạt kết quả như ý. Rất có khả năng những bản thiết kế được bán và giao dịch bởi anh em nhà Varin đã không bao gồm tài liệu tối hậu mà Louis Lacombe từng mang theo đến nhà ngài Andermatt vào ngày anh biến mất, một tài liệu không thể thiếu để thấu hiểu tường tận về phát minh này. Nó chứa đựng bản tổng kết những kết luận cuối cùng của nhà phát minh, cùng các bảng dự toán lẫn những con số không hề xuất hiện trong các giấy tờ khác. Thiếu đi tài liệu này, các bản thiết kế sẽ trở nên khuyết thiếu; ngược lại, nếu không có bản thiết kế, tài liệu kia cũng chỉ là đồ vứt đi.

Giờ chính là thời điểm hành động để đòi lại những gì thuộc về chúng ta. Đây có thể là một nhiệm vụ chông gai, nhưng chúng tôi đặt trọn niềm tin vào sự hỗ trợ từ ngài Andermatt. Sẽ là quyền lợi của ông ta khi đứng ra giải thích cho hành vi của mình, thứ vốn dĩ vô cùng kỳ lạ và bất minh từ trước tới nay. Ông ta sẽ phải giải trình không chỉ lý do tại sao bản thân lại che giấu những sự thật này vào thời điểm Etienne Varin tự sát, mà còn cả lý do vì sao ông chưa bao giờ hé lộ về sự biến mất của tập tài liệu – một sự thật mà ông thừa rõ. Ông sẽ phải nói rõ vì sao suốt sáu năm qua, ông lại thuê những tên thám thính để theo dõi nhất cử nhất động của anh em nhà Varin. Chúng tôi chờ đợi ở ông không chỉ là những lời nói suông, mà phải là hành động thực tế. Và ngay lập tức. Bằng không thì—”

Lời đe dọa được thốt lên một cách trần trụi. Nhưng rốt cuộc nó ngầm ám chỉ điều gì? Cây roi nào mà Salvator, tác giả ẩn danh của bài báo, đang giơ lên cao để uy hiếp đầu ngài Andermatt?

Một binh đoàn phóng viên đã nhắm thẳng vào vị chủ ngân hàng để vây hãm, và mười phóng viên phỏng vấn đều đồng loạt đăng tải về thái độ khinh miệt mà họ phải nhận lại. Ngay sau đó, tờ Echo de France đã dõng dạc tuyên bố lập trường của mình qua những dòng sau:

“Dù ngài Andermatt có muốn hay không đi nữa, từ nay về sau, ông ta vẫn sẽ là cộng sự của chúng ta trong sứ mệnh mà chúng ta đã dấn thân thực hiện.”

Daspry và tôi đang dùng bữa tối cùng nhau vào đúng ngày bản tuyên bố ấy xuất hiện. Buổi tối hôm đó, giữa lúc những trang báo được bày la liệt khắp mặt bàn, chúng tôi cùng nhau mổ xẻ vụ án và xem xét nó từ mọi góc độ với sự bực dọc tột độ của một kẻ đang dò dẫm bước đi trong đêm tối để rồi cứ liên tục vấp phải cùng một chướng ngại vật. Bất thình lình, chẳng mảy báo trước điều gì, cánh cửa bật mở và một người phụ nữ bước vào. Gương mặt cô ta che khuất sau một lớp mạng che mặt dày cộp. Tôi lập tức đứng dậy và tiến về phía cô ấy.

– Có phải ông là người sinh sống ở đây không? – cô ta hỏi.

– Thưa phải, thưa bà, nhưng tôi không hiểu –

– Cổng chính không hề khóa, – cô ta giải thích.

– Nhưng còn cửa tiền sảnh thì sao?

Cô ta không đáp lời, và tôi chợt mường tượng ra rằng cô ta đã sử dụng lối đi dành cho người hầu. Làm sao mà cô ta lại rành đường đi nước bước đến thế? Tiếp sau đó là một khoảng lặng đầy ngượng ngùng. Cô ta nhìn sang Daspry, buộc tôi phải làm thủ tục giới thiệu hai người với nhau. Tôi mời cô ta ngồi xuống và giải thích mục đích của chuyến ghé thăm này. Cô ta vén tấm mạng che mặt lên, và tôi trông thấy một người phụ nữ tóc nâu với các đường nét thanh tú, dù không hẳn là tuyệt sắc nhưng lại rất đỗi thu hút – chủ yếu là nhờ đôi mắt buồn thăm thẳm.

– Tôi là phu nhân Andermatt, – cô ta cất lời.

– Phu nhân Andermatt! – tôi kinh ngạc thốt lên.

Sau một khoảng lặng ngắn ngủi, cô ta tiếp tục với giọng điệu và phong thái vô cùng tự nhiên, thoải mái:

– Tôi đến gặp các anh vì vụ việc kia – các anh biết đấy. Tôi nghĩ mình có thể thu thập được chút ít thông tin —

– Lạy Chúa, thưa bà, tôi chẳng biết gì ngoài những gì đã được đăng tải trên mặt báo cả. Nhưng nếu bà có thể chỉ ra cách tôi có thể giúp được gì cho bà...

– Tôi không biết... tôi cũng chẳng rõ nữa.

Mãi đến lúc ấy tôi mới hoài nghi rằng vẻ điềm tĩnh của cô ta chỉ là vỏ bọc giả tạo, và ẩn giấu bên dưới cái vẻ ngoài thản nhiên ấy là một nỗi đau đớn xé lòng. Trong giây lát, chúng tôi chìm vào im lặng đầy ngượng ngùng. Rồi Daspry bước lên trước và cất lời:

– Bà có phiền không nếu tôi đặt ra vài câu hỏi?

– Vâng, vâng, – cô ta kêu lên. – Tôi sẽ trả lời.

– Bà sẽ trả lời... bất kể những câu hỏi đó là gì chứ?

– Vâng.

– Bà có quen biết Louis Lacombe không? – anh hỏi.

– Có, thông qua chồng tôi.

– Lần cuối cùng bà gặp anh ta là khi nào?

– Vào buổi tối anh ấy dùng bữa tối cùng vợ chồng chúng tôi.

– Vào thời điểm đó, có điều gì khiến bà tin rằng mình sẽ không bao giờ được gặp lại anh ta nữa không?

– Không. Nhưng anh ấy có nhắc đến một chuyến đi đến Nga – theo một cách rất mơ hồ.

– Thế nghĩa là bà vẫn mong sẽ gặp lại anh ta?

– Đúng vậy. Anh ấy dự định sẽ dùng bữa cùng vợ chồng tôi hai ngày sau đó.

– Vậy bà giải thích thế nào về sự biến mất của anh ta?

– Tôi không thể giải thích nổi.

– Thế còn ngài Andermatt thì sao?

– Tôi không biết.

– Mặc dù bài báo được đăng trên tờ Echo de France đã ám chỉ —

– Phải, rằng anh em nhà Varin có nhúng tay vào vụ biến mất của anh ấy.

– Đó có phải là quan điểm của bà không?

– Vâng.

– Dựa trên cơ sở nào mà bà lại củng cố nhận định đó?

– Khi rời khỏi nhà chúng tôi, Louis Lacombe có mang theo một chiếc cặp chứa toàn bộ những tài liệu liên quan đến phát minh của anh ấy. Hai ngày sau, chồng tôi, trong một cuộc trò chuyện với một trong hai anh em nhà Varin, đã phát hiện ra rằng những tài liệu đó đang nằm trong tay bọn chúng.

– Và ông ấy đã không tố giác chúng ư?

– Không.

– Tại sao lại thế?

– Bởi vì trong chiếc cặp còn có một thứ khác – một thứ ngoài những tài liệu của Louis Lacombe.

– Thứ đó là gì?

Cô ta ngập ngừng; suýt thì thốt lên thành lời, nhưng rồi cuối cùng vẫn giữ im lặng. Daspry tiếp lời:

– Tôi đoán đó là lý do tại sao chồng bà lại theo dõi sát sao nhất cử nhất động của bọn chúng thay vì báo cảnh sát. Ông ta hy vọng vừa lấy lại được các tài liệu, vừa tóm được thứ bài tẩy tai hại đang trao vào tay hai kẻ kia thứ vũ khí đe dọa phơi bày và tống tiền.

– Chống lại ông ấy, và chống lại cả tôi nữa.

– À! Chống lại cả bà nữa sao?

– Chống lại tôi, một cách đặc biệt.

Cô ta thốt lên những từ cuối cùng bằng một giọng đặc quánh. Daspry quan sát kỹ; anh đi qua đi lại vài nhịp rồi quay sang hướng cô ta mà hỏi:

– Bà từng viết thư cho Louis Lacombe chứ?

– Dĩ nhiên rồi. Chồng tôi có công việc làm ăn với anh ta —

– Ngoài những bức thư công việc đó ra, bà còn viết cho Louis Lacombe... những bức thư nào khác nữa không? Xin lỗi vì tôi cứ phải gặng hỏi, nhưng việc nắm bắt sự thật là vô cùng bắt buộc. Bà có viết những lá thư nào khác không?

– Có chứ, – cô ta đáp, đôi má ửng đỏ.

– Và những bức thư đó đã lọt vào tay anh em nhà Varin?

– Vâng.

– Ngài Andermatt có biết chuyện này không?

– Ông ấy chưa từng đọc chúng, nhưng Alfred Varin đã tiết lộ với ông ấy về sự tồn tại của chúng và đe dọa sẽ tung hê tất cả nếu chồng tôi dám có hành động chống lại hắn. Chồng tôi đã sợ hãi... sợ một vụ bê bối nổ ra.

– Nhưng ông ấy đã tìm cách lấy lại những bức thư ấy chứ?

– Tôi nghĩ là có; nhưng tôi không chắc lắm. Anh thấy đấy, sau buổi gặp gỡ cuối cùng với Alfred Varin, và sau những lời qua tiếng lại gay gắt giữa tôi với chồng khi ông ấy tra hỏi tôi – chúng tôi hiện sống với nhau như những kẻ xa lạ.

– Nếu thế, xét việc bà chẳng còn gì để mất, rốt cuộc bà còn sợ điều gì nữa?

– Giờ đây tôi có thể xem nhẹ ông ấy, nhưng tôi chính là người phụ nữ mà ông từng yêu sâu đậm, là người mà ông vẫn còn yêu – ồ, tôi dám chắc chắn điều đó lắm, – cô ta thì thầm bằng một chất giọng tha thiết, – ông ấy vẫn sẽ yêu tôi nếu như ông không để lọt vào tay lũ người đó những bức thư nguyền rủa ấy —

– Gì cơ! Chẳng lẽ hắn đã thành công?... Nhưng hai gã đó vẫn dám thách thức ông ấy cơ mà?

– Phải, và chúng lớn tiếng khoe khoang rằng mình đang cất giấu một nơi ẩn náu vô cùng an toàn.

– Vậy ư?

– Tôi tin rằng chồng tôi đã tìm ra được chỗ ẩn náu đó.

– À! Nằm ở đâu vậy?

– Ngay ở đây.

– Ở đây ư! – tôi hốt hoảng kêu lên.

– Vâng. Tôi vẫn luôn ôm nỗi hoài nghi đó. Louis Lacombe vốn là một kẻ cực kỳ khéo tay và thường tiêu khiển thời gian rảnh rỗi bằng cách tự chế tạo những chiếc két sắt cùng các loại ổ khóa. Không chừng anh em nhà Varin thừa rõ điểm này và đã tận dụng một trong những chiếc két của Lacombe để giấu kín những bức thư... và có lẽ cả những thứ khác nữa.

– Nhưng bọn chúng có sống ở đây đâu, – tôi nói.

– Trước khi các anh dọn đến đây bốn tháng trước, ngôi nhà này từng bỏ trống một thời gian dài. Và bọn chúng đinh ninh rằng sự hiện diện của anh em nhà Varin sẽ chẳng cản trở gì khi chúng muốn quay lại lấy tài liệu. Chỉ có điều chúng đã tính toán sai lầm về chồng tôi, người từng đột nhập vào đây vào đêm 22 tháng 6, cạy tung két sắt, lấy đi thứ mình tìm kiếm và để lại tấm danh thiếp nhằm thông báo cho hai gã kia hay rằng ông không còn sợ chúng nữa, và cục diện giờ đây đã đảo chiều. Hai ngày sau, sau khi đọc bài báo trên tờ ‘Gil Blas’, Etienne Varin đã tìm đến đây, ở lại căn phòng này một mình, phát hiện ra chiếc két rỗng không và... tự sát.

Sau một thoáng thinh lặng, Daspry cất lời:

– Một giả thuyết vô cùng đơn giản... Kể từ lúc đó tới nay, ngài Andermatt có đả động gì với bà không?

– Không hề.

– Thái độ của ông ấy đối với bà có thay đổi gì không? Ông ấy có vẻ ủ rũ hay lo âu hơn trước không?

– Không, tôi chẳng nhận thấy sự thay đổi nào cả.

– Thế mà bà vẫn đinh ninh rằng ông ấy đã tóm được những bức thư đó. Còn theo quan điểm của tôi, ông ấy hoàn toàn chưa cầm được chúng trong tay, và kẻ đặt chân đến đây vào đêm 22 tháng 6 cũng chẳng phải là ông ấy.

– Vậy thì là ai chứ?

– Chính là nhân vật bí ẩn đang giật dây toàn bộ vụ việc này, kẻ nắm giữ mọi đầu mối trong tay và sở hữu thứ quyền lực vô hình nhưng vươn xa tới tận cùng mà chúng ta đã cảm nhận được ngay từ bước đầu tiên. Chính hắn và đồng bọn đã đột nhập vào ngôi nhà này vào đêm 22 tháng 6; cũng chính hắn đã khám phá ra nơi cất giấu những tài liệu; chính hắn đã để lại tấm danh thiếp của ngài Andermatt; và cũng chính hắn giờ đây đang nắm giữ toàn bộ thư từ cùng bằng chứng tố cáo hành vi phản trắc của anh em nhà Varin.

– Hắn là ai chứ? – tôi sốt ruột truy vấn.

– Kẻ đứng sau những bức thư gửi cho tờ Echo de France... Salvator! Chẳng lẽ chúng ta vẫn chưa có được bằng chứng vô cùng thuyết phục đó hay sao? Chẳng phải trong các bức thư của mình, hắn đã đề cập đến một số chi tiết mà không một ai có thể tường tận, ngoại trừ kẻ đã khám phá ra những bí mật của hai gã kia hay sao?

– Thế thì, – phu nhân Andermatt lắp bắp trong nỗi hoảng sợ tột độ, – hắn cũng đang giữ những bức thư của tôi, và chính hắn giờ đây đang đe dọa chồng tôi sao. Lạy Chúa! Tôi phải làm gì bây giờ đây?

– Hãy viết thư cho hắn, – Daspry tuyên bố. – Hãy đem lòng tin tuyệt đối phó thác cho hắn. Hãy kể cho hắn nghe mọi điều bà biết và mọi thứ bà sẽ còn khám phá ra sau này. Quyền lợi của bà và của hắn là một. Hắn không hành động để chống lại ngài Andermatt, mà là chống lại Alfred Varin. Hãy tiếp sức cho hắn.

– Bằng cách nào?

– Chồng bà hiện đang giữ tập tài liệu bổ sung hoàn thiện cho các bản thiết kế của Louis Lacombe chứ?

– Vâng.

– Hãy thông báo điều đó cho Salvator, và nếu có thể, hãy kiếm tập tài liệu ấy giao cho hắn. Viết thư cho hắn ngay đi. Bà chẳng có gì để mạo hiểm cả.

Lời khuyên đó rất táo bạo, thậm chí thoạt nhìn còn vô cùng nguy hiểm, nhưng phu nhân Andermatt chẳng còn sự lựa chọn nào khác. Hơn thế nữa, như Daspry đã khẳng định, cô ta chẳng hề phải chịu rủi ro nào. Nếu gã biên thư ẩn danh kia là kẻ thù, bước đi đó cũng chẳng làm tình hình tồi tệ thêm. Còn nếu hắn chỉ là một kẻ lạ mặt đang tìm cách hoàn thành một mục đích cụ thể, hắn sẽ chỉ xem những bức thư đó mang tầm quan trọng thứ yếu mà thôi. Bất luận điều gì xảy ra, đó là phương án giải cứu duy nhất được mở ra trước mắt, và giữa lúc ngập chìm trong lo âu, cô ta chẳng còn cách nào khác ngoài việc vội vã làm theo. Cô ta rối rít cảm ơn chúng tôi và hứa sẽ giữ liên lạc thông báo tình hình.

Quả thực, hai ngày sau, cô ta đã gửi cho chúng tôi bức thư mà cô nhận được từ Salvator:

“Vẫn chưa tìm thấy những bức thư, nhưng tôi sẽ tóm được chúng. Cứ yên tâm. Tôi đang giám sát mọi thứ. S.”

Tôi săm soi bức thư. Nét chữ y hệt như mẩu giấy tôi từng tìm thấy kẹp trong cuốn sách vào đêm 22 tháng 6.

Daspry đã đoán không sai. Salvator thực sự chính là kẻ chủ mưu đằng sau toàn bộ vở kịch này.

Chúng tôi bắt đầu nhìn thấy một chút ánh sáng le lói rọi ra từ màn đêm bao trùm, và một luồng sáng bất ngờ đã soi rọi lên vài điểm; thế nhưng nhiều góc khuất khác vẫn còn chìm trong bóng tối – đơn cử như việc tìm ra hai con bảy cơ. Có lẽ tôi đã quá lo lắng không đâu về hai lá bài mang bảy vết đâm thủng từng xuất hiện trước mắt tôi trong những hoàn cảnh ly kỳ đến thế! Dù vậy, tôi vẫn không kìm được bản thân thắc mắc: Vai trò của chúng trong vở kịch này là gì? Chúng mang tầm quan trọng cỡ nào? Và kết luận nào phải rút ra từ việc chiếc tàu ngầm được chế tạo dựa trên bản thiết kế của Louis Lacombe lại mang cái tên ‘Bộ-bảy-cơ’?

Daspry chẳng mấy bận tâm đến hai lá bài kia; anh dồn toàn bộ tâm trí vào một bài toán khác mà anh cho là cấp bách hơn: anh đang ráo riết truy tìm chỗ ẩn náu trứ danh kia.

– Và biết đâu đấy, – anh thốt lên, – tôi sẽ tìm thấy những bức thư mà Salvator đã bỏ sót – có thể do bất cẩn chăng. Thật khó tin là anh em nhà Varin lại chịu dời đi khỏi một nơi mà chúng cho là bất khả xâm phạm thứ vũ khí tối quan trọng đối với chúng.

Và anh tiếp tục công cuộc lục soát. Chẳng mấy chốc, căn phòng lớn không còn giữ lại bí mật nào đối với anh nữa, thế là anh mở rộng phạm vi điều tra sang các gian phòng khác. Anh săm soi cả trong lẫn ngoài, từ những viên đá móng cho đến từng viên gạch trên tường, thậm chí còn lật tung cả những tấm ngói trên mái nhà.

Có hôm, anh mang theo xẻng và cuốc chim, đưa cho tôi cái xẻng, giữ lại chiếc cuốc, chỉ tay về phía khoảng đất trống bên cạnh và bảo: “Đi theo tôi.”

Tôi lẽo đẽo bước theo, nhưng lòng nhiệt thành thì chẳng bì được với anh. Anh chia khoảng đất hoang thành nhiều khoảnh nhỏ để lần lượt xới tung lên kiểm tra. Cuối cùng, tại một góc khuất, ở khoảng giao giữa các bức tường của hai nhà hàng xóm, một ụ đất đá nhỏ phủ đầy gai góc và cỏ dại đã thu hút ánh nhìn của anh. Anh lao vào xới tung nó lên. Tôi đành phải xắn tay áo phụ giúp. Suốt một tiếng đồng hồ dưới cái nắng như đổ lửa, chúng tôi quần quật đổ mồ hôi sôi nước mắt nhưng chẳng thu được kết quả gì. Tôi đã nản chí, thế nhưng Daspry vẫn liên tục hối thúc tôi. Sự hăng hái của anh chưa bao giờ suy giảm.

Cuối cùng, nhát cuốc của Daspry đã khơi quật lên được một vài khúc xương – tàn tích của một bộ hài cốt vẫn còn vương vãi vài mảnh vải rách rưới. Đột nhiên, tôi tái mặt đi. Tôi phát hiện cắm sâu dưới lớp đất một miếng sắt nhỏ được cắt thành hình chữ nhật, trên đó loang lổ những vết màu đỏ mà tôi phỏng đoán là vết máu. Tôi cúi người nhặt nó lên. Miếng sắt nhỏ ấy có kích thước y hệt một lá bài tây, và những vết đỏ được quét bằng sơn chì ấy sắp xếp theo một trật tự tương tự như con bảy cơ, mỗi dấu chấm đều bị đâm thủng một lỗ tròn y chang những vết đâm trên hai lá bài trước.

– Nghe này Daspry, tôi chịu đủ lắm rồi đấy. Cậu muốn ở lại thì cứ tự nhiên. Còn tôi chuồn đây.

Đó chỉ là phản ứng của một hệ thần kinh đang căng như dây đàn chăng? Hay là hậu quả của một lao động kiệt sức dưới cái chói chang của mặt trời? Chỉ biết rằng tôi run lẩy bẩy trên từng bước chân rời khỏi đó, và lê thân lên giường nằm suốt bốn mươi tám tiếng đồng hồ trong trạng thái sốt sút, mê sảng, bị ám ảnh bởi những bộ xương cứ nhảy múa quanh mình và ném những trái tim đẫm máu vào đầu tôi.

Daspry vẫn rất trung thành với tôi. Anh ghé nhà tôi mỗi ngày, ở lại ba bốn tiếng đồng hồ tá túc trong căn phòng lớn, sục sạo, gõ đập khắp nơi.

– Những bức thư đang ở đây, ngay trong căn phòng này, – thỉnh thoảng anh lại khẳng định, – chúng ở ngay đây thôi. Tôi lấy mạng sống của mình ra để đảm bảo.

Sáng ngày thứ ba, tôi gượng dậy – dẫu vẫn còn yếu nhưng đã hồi phục. Một bữa điểm tâm thịnh soạn đã vực dậy tinh thần tôi. Thế nhưng bức thư tôi nhận được vào buổi chiều hôm đó mới chính là thứ đóng góp lớn nhất giúp tôi bình phục hoàn toàn, đồng thời thắp lên trong lòng tôi một sự tò mò sống động. Nội dung bức thư như sau:

“Thưa ông,

Vở kịch mà hồi màn đầu tiên đã diễn ra vào đêm 22 tháng 6 giờ đây đang tiến dần đến hồi kết. Sức ép của hoàn cảnh buộc tôi phải đẩy hai nhân vật chủ chốt trong vở kịch ấy đối đầu trực diện với nhau, và tôi rất mong buổi gặp gỡ đó sẽ diễn ra tại tư dinh của ông, nếu ông vui lòng cho tôi mượn không gian ấy vào tối nay từ chín giờ đến mười một giờ. Sẽ là một ý kiến khôn ngoan nếu ông cho người hầu nghỉ phép vào buổi tối hôm đó, và có lẽ, ông cũng sẽ rộng lượng để trống sân khấu cho hai phe đối đầu. Ông hẳn còn nhớ vào đêm 22 tháng 6 khi tôi ghé thăm nhà ông, tôi đã đối xử vô cùng nâng niu với tài sản của ông. Tôi tin rằng mình sẽ là kẻ bất nhân nếu mảy nghi ngờ dù chỉ một giây về sự kín đáo tuyệt đối của ông trong vụ việc này. Kính thư,

SALVATOR.”

Tôi cảm thấy buồn cười trước giọng điệu tếu táo trong thư hắn, đồng thời cũng thấy thú vị trước yêu cầu mang tính kỳ quặc ấy. Toát lên từ câu chữ của hắn là một vẻ tự tin và chân thành đến dễ mến, và không có bất kỳ thứ gì trên đời này có thể xúi giục tôi lừa dối hắn hay đáp trả sự tin tưởng ấy bằng sự bội bạc.

Tôi tặng cho người hầu một tấm vé xem kịch, thế là cậu ta rời khỏi nhà lúc tám giờ tối. Vài phút sau, Daspry đến nơi. Tôi đưa bức thư cho anh đọc.

– Thế nào? – anh hỏi.

– Thì thế này, tôi đã để ngỏ cổng vườn để bất cứ ai cũng có thể bước vào.

– Còn cậu – cậu định chuồn đi đâu à?

– Không đời nào. Tôi dự định sẽ bám trụ ngay tại đây.

– Nhưng hắn bảo cậu phải rời đi cơ mà —

– Tôi mặc kệ chứ. Tôi sẽ kín tiếng, nhưng tôi quyết tâm phải tận mắt chứng kiến màn kịch hay.

– Chà! – Daspry cười lớn vang vọng, – cậu nói phải đấy, và tôi cũng sẽ ở lại cùng cậu. Tôi chẳng dại gì bỏ lỡ tiết mục này đâu.

Tiếng chuông cửa vang lên cắt ngang cuộc trò chuyện của chúng tôi.

– Đến sớm thế này cơ à? – Daspry thốt lên, – sớm hơn tận hai mươi phút! Thật khó tin!

Tôi ra mở cửa và đón vị khách bước vào. Đó chính là phu nhân Andermatt. Cô ta trông phờ phạc, căng thẳng tột độ, giọng lắp bắp thốt lên:

– Chồng tôi... sắp đến đây rồi... ông ấy có một cuộc hẹn... bọn chúng định giao nộp những bức thư cho ông ấy —

– Sao bà biết được điều đó? – tôi hỏi.

– Do tình cờ. Có một tin nhắn gửi đến cho chồng tôi trong lúc chúng tôi đang dùng bữa tối. Người hầu đã đưa nhầm nó cho tôi. Chồng tôi giật phắt lại ngay lập tức nhưng đã quá muộn. Tôi kịp đọc được nó rồi.

– Bà đã đọc nó ư?

– Vâng. Nội dung đại loại thế này: ‘Vào lúc chín giờ tối nay, hãy có mặt ở đại lộ Maillot mang theo những tài liệu liên quan đến vụ việc. Đổi lại, sẽ nhận được những bức thư.’ Thế nên, ngay sau bữa tối, tôi đã tức tốc chạy đến đây.

– Mà chồng bà không hề hay biết chứ?

– Vâng.

– Bà nghĩ sao về chuyện này? – Daspry quay sang hỏi tôi.

– Tôi nghĩ cũng giống như cậu thôi, ngài Andermatt chính là một trong những vị khách được mời đến đây.

– Vâng, nhưng với mục đích gì mới được chứ?

– Đó là điều chúng ta chuẩn bị được sáng tỏ đây.

Tôi dẫn họ tiến vào căn phòng lớn. Cả ba chúng tôi có thể nấp thoải mái phía sau tấm màng nhung che lò sưởi, vừa vặn quan sát mọi diễn biến sẽ xảy ra trong phòng. Chúng tôi an tọa tại đó, với phu nhân Andermatt ngồi ở vị trí trung tâm.

Đồng hồ điểm chín giờ. Vài phút sau, chiếc cổng vườn cọt kẹt chuyển động trên những bản lề. Tôi thú thực rằng tâm trạng lúc bấy giờ đang vô cùng hồi hộp dao động. Chìa khóa giải mã bí ẩn sắp được vén màn. Những biến cố chấn động của mấy tuần qua sắp được giải thích, và ngay trước mắt tôi, trận chiến cuối cùng chuẩn bị diễn ra. Daspry chộp lấy tay phu nhân Andermatt và căn dặn:

– Không một lời, không một cử động! Bất kể bà nhìn thấy hay nghe thấy điều gì, hãy giữ im lặng tuyệt đối!

Một bóng người bước vào. Đó là Alfred Varin. Tôi nhận ra ngay lập tức nhờ ngoại hình giống hệt người anh em quá cố Etienne của hắn ta. Vẫn cái dáng đi lừ đừ ấy; vẫn gương mặt xám ngoét trơ xương phủ kín một bộ râu đen sì.

Hắn bước vào với sự căng thẳng tột độ của một kẻ quen sống trong nỗi sợ bị giăng bẫy và mai phục; một kẻ luôn đánh hơi và tìm cách né tránh chúng. Hắn đảo mắt quan sát căn phòng, và tôi có cảm giác bức tường lò sưởi được che đậy bởi tấm màng nhung đã không lọt nổi vào mắt xanh của hắn. Hắn cất ba bước tiến về hướng chúng tôi, thì bỗng có thứ gì đó khiến hắn khựng lại, xoay người bước về phía bức tượng vị vua mosaic cổ xưa với bộ râu dài và thanh gươm rực rỡ, rồi chăm chú săm soi nó tường tận, trèo lên một chiếc ghế để dùng những ngón tay dò dẫm theo đường viền bờ vai cùng phần đầu, đồng thời sờ nắn một vài vị trí trên khuôn mặt. Đột nhiên, hắn nhảy phốc khỏi chiếc ghế và lùi ra xa. Hắn vừa nghe thấy tiếng chân người bước tới gần. Ngài Andermatt xuất hiện ở khung cửa.

– Là anh! Chính là anh! – vị chủ ngân hàng giận dữ thốt lên. – Có phải anh là kẻ đã lừa tôi đến đây không?

– Tôi ư? Đời nào có chuyện đó, – Varin khăng khăng phủ nhận bằng thứ giọng khàn đợt, giật cục khiến tôi liên tưởng đến người em trai quá cố của hắn, – ngược lại, chính bức thư của ông mới là thứ lôi kéo tôi đến đây đấy chứ.

– Bức thư của tôi ư?

– Một bức thư có chữ ký của ông, trong đó ông đề nghị —

– Tôi chưa bao giờ viết thư cho anh cả, – ngài Andermatt khẳng định.

– Ông không hề viết thư cho tôi sao!

Bản năng mách bảo Varin phải lập tức cao chạy xa bay, không phải để đề phòng vị chủ ngân hàng, mà là để cảnh giác trước kẻ thù vô hình đã giăng bẫy lừa hắn vào tròng này. Thêm một lần nữa, hắn liếc nhìn về phía chúng tôi, rồi quay người rảo bước ra cửa. Nhưng ngài Andermatt đã nhanh chân chắn ngang đường đi của hắn.

– Này, mày định đi đâu đấy, hả Varin?

– Vụ này có gì đó mờ ám tôi không thích chút nào. Tôi về nhà đây. Chào buổi tối.

– Đứng lại đó một phút!

– Chẳng có lý do gì phải đứng lại cả, thưa ngài Andermatt. Tôi chẳng có gì để nói với ông hết.

– Nhưng tao thì có khối chuyện để nói với mày đấy, và đây là thời điểm không thể thích hợp hơn để làm điều đó.

– Tránh đường cho tôi đi.

– Không, mày không đi đâu được hết.

Varin khựng lại trước thái độ kiên quyết của vị chủ ngân hàng, lẩm bẩm:

– Được rồi, thế thì nói nhanh lên cho tôi nhờ.

Có một điều khiến tôi vô cùng kinh ngạc; và tôi dám chắc hai người đồng hành cùng tôi cũng trải qua cảm giác hệt vậy. Tại sao Salvator lại không có mặt ở đây? Chẳng lẽ hắn không phải là một nhân vật thiết yếu trong buổi họp mặt này sao? Hay hắn hài lòng với việc để cho hai kẻ thù tự xâu xé lẫn nhau? Dù thế nào đi nữa, sự vắng mặt của hắn vẫn là một sự hụt hẫng lớn, dẫu nó chẳng làm suy giảm sức nặng kịch tính của tình huống lúc bấy giờ.

Sau một thoáng ngưng, ngài Andermatt tiến sát lại gần Varin, trừng mắt đối chất trực diện:

– Giờ đây, sau ngần ấy năm trôi qua và khi mày chẳng còn phải sợ hãi điều gì nữa, mày có thể trả lời ta một câu thành thật: Mày đã làm gì Louis Lacombe rồi?

– Câu hỏi quái gì thế hả! Cứ như thể tôi tường tận về hắn lắm vậy!

– Mày thừa biết rõ là đằng khác! Mày và anh trai mày là những kẻ kè kè bên cạnh hắn, thậm chí suýt sống chung nhà với chính căn nhà này. Mày nắm rõ mọi kế hoạch và công trình của hắn. Và vào đêm cuối cùng ta còn nhìn thấy Louis Lacombe, lúc ta từ biệt anh ta ngay ngưỡng cửa nhà mình, ta đã tận mắt thấy hai bóng người lủi thủi khuất dạng trong bóng râm của hàng cây. Ta sẵn sàng lấy danh dự ra thề về điều đó.

– Rồi sao, điều đó thì dính líu gì đến tôi chứ?

– Hai kẻ đó chính là mày và anh trai mày.

– Bằng chứng đâu?

– Bằng chứng rõ ràng nhất là hai ngày sau đó, chính mày là kẻ đã đem những giấy tờ cùng bản thiết kế thuộc về Lacombe ra trước mặt ta và gạ bán chúng. Làm thế nào mà những tài liệu đó lại rơi vào tay mày được?

– Tôi đã nói với ông rồi đấy, thưa ngài Andermatt, chúng tôi nhặt được chúng trên bàn làm việc của Louis Lacombe vào buổi sáng sau ngày anh ta biến mất.

– Mày đang nói dối!

– Chứng minh đi.

– Pháp luật sẽ chứng minh điều đó.

– Sao lúc ấy ông không lôi pháp luật ra mà giải quyết?

– Tại sao ư? À thì... tại vì..., – vị chủ ngân hàng lắp bắp, lộ rõ chút bối rối.

– Ông thừa rõ mà, thưa ngài Andermatt, nếu ông nắm trong tay dù chỉ chút chắc chắn về tội ác của chúng tôi, lời đe dọa nhỏ nhoi đó đã chẳng thể khiến ông chùn bước.

– Lời đe dọa nào? Mấy bức thư đó á? Mày tưởng tao thèm bận tâm đến mấy thứ thư từ đó dù chỉ một giây chắc?

– Nếu ông chẳng màng gì đến những bức thư ấy, sao lúc trước ông lại hào phóng vung hàng ngàn franc để chuộc lại chúng? Và sao ông lại sai người truy lùng tôi cùng anh trai mình như săn thú hoang thế?

– Là để lấy lại các bản thiết kế.

– Vớ vẩn! Ông thèm thuồng những bức thư đó cơ. Ông thừa biết rằng ngay khi tóm được chúng trong tay, ông có thể tố giác chúng tôi bất cứ lúc nào. Ồ không, tôi đời nào chịu nhả chúng ra đâu!

Hắn cười lớn sảng khoái, nhưng rồi đột ngột khựng lại và gằn giọng:

– Thôi đủ rồi đấy! Chúng ta cứ nhai đi nhai lại mãi một chuyện cũ rích. Chẳng đi đến đâu cả. Cứ để mọi thứ nguyên trạng thế này thì hơn.

– Chúng ta sẽ không để mọi thứ nguyên trạng thế này đâu, – vị chủ ngân hàng lạnh lùng tuyên bố, – và vì mày đã khơi mào nhắc đến những bức thư, ta xin nói cho mày hay, mày đừng có mòng bước chân ra khỏi ngôi nhà này cho đến khi giao nộp hoàn toàn những bức thư đó ra đây.

– Thích thì tôi đi, ai cản được nào.

– Mày không đi đâu hết.

– Cẩn thận cái mồm đấy, thưa ngài Andermatt. Tôi cảnh cáo ông —

– Tao đã bảo là mày không được bước chân đi đâu cả.

– Để xem thế nào nào! – Varin gào lên trong cơn thịnh nộ đến mức phu nhân Andermatt không kìm được mà phát ra một tiếng kêu hoảng hốt. Hắn chắc hẳn đã nghe thấy tiếng động đó, nên lập tức định xông lên cạy cửa thoát thân. Ngài Andermatt liền lao tới chặn hắn lại. Ngay khoảnh khắc ấy, tôi thấy hắn thọc tay vào túi áo khoác.

– Lần cuối cùng nhé, tránh đường cho tôi đi, – hắn gầm lên.

– Đưa thư đây trước đã!

Varin rút ra một khẩu súng lục, chĩa thẳng vào ngài Andermatt và gằn giọng:

– Đồng ý hay không?

Vị chủ ngân hàng nhanh chóng khom người né tránh. Tiếng súng nổ đanh gọn vang lên. Khẩu súng lập tức rơi khỏi tay Varin. Tôi kinh ngạc sững sờ. Phát súng vừa nổ ngay sát bên cạnh tôi. Chính Daspry là kẻ đã bóp cò bắn hạ khẩu súng trên tay Varin. Chớp mắt một cái, Daspry đã đứng chắn giữa hai người, đối mặt với Varin, anh nhếch mép cười khẩy:

– Mày gặp may đấy, bạn tôi ạ, quá may mắn luôn. Tôi chỉ nhắm vào bàn tay và đánh rơi khẩu súng của mày thôi đấy.

Cả hai người bọn họ đều trân trân nhìn anh với vẻ ngỡ ngàng. Sau đó, anh quay sang vị chủ ngân hàng và điềm đạm cất lời:

– Xin lỗi ông nhé, ngài đây, vì đã lanh chanh nhúng tay vào chuyện làm ăn của ông; nhưng thực tình mà nói, ông chơi một ván bài quá ư tồi tệ. Hãy để tôi cầm mấy lá bài này thay cho.

Quay ngoắt lại hướng Varin, Daspry tiếp tục:

– Giờ là chuyện riêng giữa hai chúng ta thôi đấy, chiến hữu ạ, và hãy chơi đẹp vào nhé, làm ơn đấy. Chủ bài là cơ, và tôi chọn con bảy.

Nói đoạn, Daspry giơ cao trước cặp mắt đang lác cả đi của Varin miếng sắt nhỏ được khắc họa bảy dấu cơ đỏ rực. Đó là một đòn giáng chí mạng đối với Varin. Với sắc mặt tái mét, đôi mắt tráo trược trố lên cùng vẻ thống khổ tột cùng, gã đàn ông dường như chết lặng như bị thôi miên trước khung cảnh ấy.

– Mày... mày là ai? – hắn lắp bắp hỏi.

– Là kẻ thích lo chuyện bao đồng của người khác, bươi móc cho đến tận cùng gốc rễ.

– Mày muốn gì đây?

– Thứ mà mày mang đến đây tối nay.

– Tôi mang cái quái gì tới đây cơ chứ.

– Có chứ, mày có mang chứ, bằng không mày đã chẳng mò mặt tới đây. Sáng nay, mày nhận được một lời mời đến đây lúc chín giờ tối, kèm theo yêu cầu mang theo toàn bộ số tài liệu đang nằm trong tay chúng mày. Và giờ mày đã có mặt ở đây. Đâu, tài liệu đâu rồi?

Ẩn chứa trong giọng điệu và phong thái của Daspry là một quyền uy khiến tôi không sao tài nào hiểu nổi; bởi bình thường anh ta vốn rất hòa nhã và ôn hòa cơ mà. Bị khuất phục hoàn toàn, Varin đưa tay thọc vào túi áo và lẩm bẩm:

– Tài liệu đây.

– Đủ hết chứ?

– Đủ.

– Toàn bộ những thứ mày vơ vét từ Louis Lacombe rồi sau đó bán lại cho Thiếu tá von Lieben chứ?

– Vâng.

– Đây là bản sao hay bản chính?

– Tôi giữ bản chính.

– Mày muốn ra giá bao nhiêu cho chúng?

– Một trăm ngàn franc.

– Mày điên thật rồi, – Daspry cười nhạt. – Bộ thiếu tá chỉ cho mày vỏn vẹn có hai mươi ngàn thôi mà, và số tiền đó chẳng khác nào ném tiền qua cửa sổ, vì con tàu đó đã thất bại thảm hại trong các cuộc thử nghiệm sơ bộ cơ mà.

– Bọn họ không hiểu nổi các bản thiết kế đó.

– Bản thiết kế vốn chẳng hề hoàn chỉnh.

– Thế sao anh còn đòi hỏi chúng làm gì?

– Bởi vì tôi thích thế. Tôi ra giá năm ngàn franc – không hơn một xu.

– Mười ngàn. Thiếu một xu tôi cũng không bán.

– Chốt đơn, – Daspry phán, rồi quay sang ngài Andermatt:

– Phiền ngài ký một tấm séc đúng với số tiền vừa thỏa thuận nhé.

– Nhưng mà... tôi làm gì có sẵn —

– Séc của ông á? Nó ở đây này.

Ngài Andermatt trố mắt kinh ngạc cầm lấy cuốn séc mà Daspry vừa chìa ra.

– Của tôi cơ mà, – ông ta hụt hẫng thốt lên. – Sao nó lại nằm ở đây được thế này?

– Đừng có dài dòng vô ích nữa thưa ngài, xin vui lòng đặt bút ký đi thôi.

Vị chủ ngân hàng rút bút máy, điền thông tin vào tờ séc rồi ký tên. Varin chường tay ra chớp lấy nó.

– Hạ tay xuống, – Daspry chặn lại, – vẫn còn một món nữa cơ mà. – Đoạn, anh quay sang vị chủ ngân hàng: – Ông vừa đòi một xấp thư cơ mà, đúng không?

– Đúng vậy, một tập thư.

– Chúng đâu rồi, Varin?

– Tôi không giữ.

– Chúng đâu rồi, hửm?

– Tôi chịu. Anh tôi là người quản lý chúng mà.

– Chúng được giấu ngay trong căn phòng này.

– Nếu thế thì anh thừa biết chúng nằm ở đâu rồi còn gì.

– Sao tôi lại phải biết nhỉ?

– Chẳng phải anh là kẻ đã tìm ra nơi ẩn náu đó sao? Trông anh tỏ ra rành mạch cơ hồ như... Salvator vậy.

– Những bức thư không nằm trong chỗ ẩn náu đó.

– Có chứ.

– Mở nó ra xem đi.

Varin nhìn anh với ánh mắt đầy thách thức. Chẳng phải Daspry và Salvator chính là một người hay sao? Mọi dấu hiệu đều quy về một mối đó. Nếu đúng là vậy, Varin chẳng có gì để mất khi vạch trần một chỗ ẩn náu vốn đã bị phơi bày.

– Mở ra đi, – Daspry nhắc lại.

– Tôi không có con bảy cơ.

– Có chứ, nó đây này, – Daspry nói, trao miếng sắt cho hắn. Varin lùi lại vì sợ hãi và kêu lên:

– Không, không, tôi không làm đâu.

– Tùy mày, – Daspry đáp gọn lỏn, rồi tiến về phía bức tượng vị vua có râu, trèo lên ghế và áp con bảy cơ vào phần dưới của thanh gươm sao cho các cạnh của miếng sắt khớp hoàn toàn với hai mép kiếm. Sau đó, với sự trợ giúp của chiếc giùi đục được anh chọc lần lượt vào từng lỗ trong số bảy lỗ trên lá bài, anh ấn mạnh vào bảy viên đá mosaic nhỏ. Đến khi anh ấn vào viên đá thứ bảy, một tiếng lách cách vang lên, và toàn bộ phần thân trên của bức tượng Vị vua xoay tròn trên một trục xoay, hé lộ một khoang trống lớn được bọc thép bên trong. Đó đích thực là một chiếc két chống cháy.

– Mày thấy chưa Varin, két trống rỗng.

– Thấy rồi đấy. Thế thì anh tôi đã mang những bức thư đi nơi khác rồi.

Daspry bước xuống ghế, áp sát Varin và tuyên bố:

– Giờ thì đừng có giở trò mèo với tao nữa. Vẫn còn một chỗ ẩn náu khác. Nó nằm ở đâu?

– Làm gì có chỗ nào nữa.

– Mày đang cần tiền đúng không? Muốn bao nhiêu?

– Mười ngàn.

– Thưa ngài Andermatt, những bức thư đó có đáng giá mười ngàn franc đối với ngài không?

– Có chứ, – vị chủ ngân hàng kiên quyết đáp.

Varin đóng két lại, nhặt con bảy cơ lên rồi ốp nó trở lại vị trí cũ trên thanh gươm. Hắn đâm chiếc giùi vào từng lỗ trong bảy lỗ. Lại âm thanh lách cách quen thuộc vang lên, nhưng lần này, điều kỳ lạ là chỉ có một phần nhỏ của chiếc két xoay trên trục, hé lộ một chiếc két siêu nhỏ được thiết kế âm sâu bên trong cánh cửa của chiếc két lớn. Tập thư được cất gọn gàng tại đây, buộc băng vải và niêm phong cẩn thận. Varin trao xấp tài liệu cho Daspry. Anh quay sang vị chủ ngân hàng hỏi:

– Tờ séc xong chưa thưa ngài Andermatt?

– Rồi.

– Và ngài cũng đã mang theo tài liệu tối hậu nhận được từ Louis Lacombe – thứ hoàn thiện các bản thiết kế tàu ngầm chứ?

– Có.

Giao dịch hoàn tất. Daspry đút túi tài liệu cùng những tờ séc, rồi chìa tập thư về phía ngài Andermatt.

– Thứ ngài tìm kiếm đây, thưa ngài.

Vị chủ ngân hàng chần chừ trong giây lát, như thể ông ta sợ hãi khi phải chạm vào những lá thư nguyền rủa từng khiến mình nhọc công săn đuổi. Rồi với một cử động đầy sốt ruột, ông ta chộp lấy chúng. Ngay sát cạnh tôi, một tiếng rên rỉ bật lên. Tôi siết chặt tay phu nhân Andermatt. Bàn tay cô ta lạnh ngắt.

– Tôi tin rằng, thưa ngài, – Daspry nói với vị chủ ngân hàng, – công việc làm ăn của chúng ta đã kết thúc. Ồ không cần cảm ơn đâu. Tôi chỉ tình cờ làm một việc tốt nhờ sự ngẫu nhiên mà thôi. Chúc ngủ ngon.

Ngài Andermatt lủi thủi rời đi. Ông ta mang theo những bức thư do chính vợ mình viết cho Louis Lacombe.

– Tuyệt diệu! – Daspry phấn khích reo lên. – Mọi thứ đều đang diễn ra theo ý chúng ta. Giờ thì chúng ta chỉ việc khép lại phi vụ nhỏ này thôi, chiến hữu ạ. Mày giữ tài liệu chứ?

– Đang ở đây – đủ hết không thiếu một thứ.

Daspry kiểm tra kỹ lưỡng rồi nhét chúng vào túi.

– Rất tốt. Mày đã giữ đúng lời hứa, – anh khẳng định.

– Nhưng mà —

– Nhưng nhị gì nữa?

– Còn hai tấm séc? Còn tiền thù lao của tôi? – Varin sốt sắng đòi hỏi.

– Chà, mặt dày thật đấy hả bạn tôi. Sao mày dám mở miệng đòi hỏi thế nhỉ?

– Tôi chỉ đòi những gì mình xứng đáng được nhận thôi.

– Lại đi đòi tiền công cho việc trả lại những món đồ mày ăn trộm ư? Nực cười thật đấy!

Varin phát điên lên được. Hắn run rẩy vì tức giận; đôi mắt vằn lên những tơ máu.

– Tiền... hai mươi ngàn franc đó... – hắn lắp bắp.

– Không đời nào! Tôi còn đang túng tiền đây này.

– Tiền đâu!

– Thôi nào, tỉnh táo lại đi và đừng có kích động. Chẳng có ích gì đâu.

Daspry tóm chặt lấy cánh tay hắn mạnh đến mức Varin phải thét lên vì đau đớn. Daspry tiếp lời:

– Giờ thì mày có thể xéo được rồi. Hít thở chút khí trời sẽ làm mày tỉnh táo hơn đấy. Hay mày muốn tôi dẫn đường cho nhỉ? Ồ phải, hay là chúng ta cùng nhau ra bãi đất hoang gần đây, rồi tôi sẽ chỉ cho mày xem một ụ đất đá nhỏ, dưới đó có —

– Xạo đấy! Toàn đồ bị đặt!

– Ồ không, sự thật rành rành ra đấy chứ. Miếng sắt nhỏ có bảy dấu chấm đó xuất phát từ chính nơi đó. Louis Lacombe vẫn luôn mang theo nó bên mình, và mày đã chôn nó cùng với cái xác – kèm theo một số thứ khác chắc chắn sẽ cực kỳ thú vị khi trình diện trước tòa án đấy.

Varin đưa hai tay ôm mặt, rên rỉ:

– Thôi được rồi, tôi thua. Đừng nói nữa. Nhưng tôi muốn hỏi anh một câu. Tôi rất muốn biết —

– Gì thế?

– Có một chiếc tráp nhỏ bên trong chiếc két lớn phải không?

– Chuẩn xác.

– Nó có ở đó vào đêm 22 tháng 6 không?

– Có chứ.

– Trong đó đựng những gì vậy?

– Toàn bộ những gì anh em nhà Varin tống vào đó – một bộ sưu tập kim cương và ngọc trai vô cùng xinh xắn lượm lặt nhặt nhạnh khắp nơi bởi hai gã trộm nhà mi.

– Và anh đã lấy nó ư?

– Dĩ nhiên rồi. Mày trách tôi à?

– Tôi hiểu rồi... chính sự biến mất của cái tráp đó đã đẩy anh tôi đến con đường tự sát.

– Có lẽ thế. Sự bốc hơi của tập thư vớ vẩn đó chưa đủ sức làm động lực. Nhưng còn cái tráp chứa tài sản... Cần hỏi gì nữa không?

– Thêm một điều nữa: Tên thật của anh là gì?

– Mày hỏi thế để nuôi mộng báo thù chứ gì.

– Chứ sao! Sông có khúc người có lúc. Hôm nay anh ở trên đỉnh.

– Ngày mai —

– Sẽ là tôi.

– Mong là được như vậy. Tên tôi á?

– Arsène Lupin.

– Arsène Lupin!

Gã đàn ông lảo đảo lùi lại, tựa như vừa hứng chịu một cú giáng trời giáng. Hai từ đó đã tước đoạt sạch sành sanh mọi hy vọng cuối cùng của hắn.

Daspry cười lớn rồi bảo:

– À! Mày cứ ngỡ một gã Durand hay Dupont nào đó có thể dàn xếp nổi một vụ ra trò thế này chắc? Không đời nào, nó đòi hỏi sự mưu mẹo và quỷ quyệt của chính Arsène Lupin. Và giờ khi đã biết danh tính của tao, cứ việc đi chuẩn bị kế hoạch báo thù đi. Arsène Lupin sẽ chờ mày.

Đoạn, anh đẩy phắt gã Varin đang ngơ ngác mất hồn ra khỏi cửa.

– Daspry! Daspry! – tôi hớt hải vén màng gọi lớn. Anh chạy thốc về phía tôi.

– Gì thế? Có chuyện gì vậy?

– Phu nhân Andermatt ngất rồi.

Anh vội vã tiến lại gần, dùng muối hít sơ cứu cho cô ta, và trong lúc chăm sóc, anh quay sang hỏi tôi:

– Ơ hay, nguyên nhân do đâu vậy?

– Do những lá thư của Louis Lacombe mà cậu vừa tống vào tay chồng cô ấy chứ sao.

Anh vỗ đét vào trán kêu lên:

– Bộ cô ấy nghĩ tôi có thể làm ra loại chuyện khốn nạn thế sao!... Nhưng đương nhiên là cô ấy phải nghĩ thế rồi. Đúng là cái đồ ngốc nghếch như tôi!

Phu nhân Andermatt lúc này đã tỉnh lại. Daspry rút từ trong túi ra một tập thư nhỏ y hệt như cái mà ngài Andermatt đã mang đi.

– Thư của bà đây, thưa bà. Đây mới chính là những bức thư gốc đích thực.

– Nhưng... thế còn những bức kia?

– Mấy bức kia cũng là nội dung đó thôi, do chính tay tôi viết lại và trau chuốt từng câu chữ cẩn thận. Chồng bà sẽ chẳng bới ra được điểm gì bất ổn đâu, và sẽ đời nào nghi ngờ vụ tráo đổi này vì chúng được lấy ra khỏi két ngay trước mặt ông ta mà.

– Nhưng còn nét chữ thì sao —

– Trên đời này chẳng có nét chữ nào là không thể bắt chước cả.

Cô ta rối rít cảm ơn anh với đúng những từ ngữ mà một người cùng đẳng cấp xã hội sẽ dùng, khiến tôi suy ra rằng cô ta đã không chứng kiến màn đối đầu cuối cùng giữa Varin và Arsène Lupin. Thế nhưng màn hé lộ đầy bất ngờ ấy lại khiến tôi vô cùng ngượng ngùng bối rối. Lupin! Người bạn cùng câu lạc bộ của tôi hóa ra lại chính là Arsène Lupin. Tôi không sao tài nào tin nổi điều đó. Thế nhưng anh vẫn điềm nhiên thản nhiên nói:

– Cậu có thể nói lời tạm biệt với Jean Daspry được rồi đấy.

– Hả!

– Phải, Jean Daspry chuẩn bị đi một chuyến xa dài đây. Tôi sẽ tống cổ hắn sang Ma-rốc. Ở trỏng, có lẽ hắn sẽ tìm được một cái chết xứng tầm với mình. Phải nói thêm là tôi rất kỳ vọng điều đó.

– Nhưng Arsène Lupin vẫn ở lại chứ?

– Ồ! Chắc chắn rồi. Arsène Lupin mới chỉ đang đặt chân ở ngưỡng cửa sự nghiệp của mình thôi, và hắn còn đang mong đợi —

Bị sự tò mò thúc giục, tôi ngắt lời anh, lôi anh ra xa tầm nghe của phu nhân Andermatt và gặng hỏi:

– Có phải cậu tự mình khám phá ra chiếc két nhỏ đó không – cái két giấu mấy bức thư ấy?

– Đúng vậy, sau vô vàn phen vất vả. Tôi tìm thấy nó vào chiều hôm qua trong lúc cậu đang ngủ say sưa. Chúa mới biết mọi thứ đơn giản đến nhường nào! Nhưng những thứ đơn giản nhất lại thường là thứ hay lọt qua khỏi tầm quan sát của chúng ta nhất. – Rồi giơ con bảy cơ ra trước mặt tôi, anh nói thêm: – Dĩ nhiên là tôi đã đoán ra rằng, để mở được chiếc két lớn, lá bài này phải được ốp chính xác vào thanh gươm của vị vua mosaic.

– Cậu đoán ra bằng cách nào hay vậy?

– Đơn giản lắm chứ bộ. Nhờ nguồn tin riêng, tôi đã nắm được chi tiết đó từ lúc đặt chân đến đây vào tối 22 tháng 6 —

– Sau khi rời khỏi tôi —

– Đúng thế, sau khi lái câu chuyện của chúng ta hướng sang những chủ đề về tội phạm và trộm cắp nhằm chắc chắn làm bộ thần kinh của cậu suy kiệt đến mức chẳng dám lê chân khỏi giường, để mặc tôi thoải mái hoàn thành công cuộc lục soát mà không bị ai quấy rầy.

– Kế hoạch đó đã thành công mỹ mãn.

– Thì đấy, lúc đặt chân đến đây tôi đã thừa biết có một chiếc tráp được cất giấu trong két có khóa mật mã, và con bảy cơ chính là chiếc chìa khóa của ổ khóa ấy. Tôi chỉ việc ốp lá bài vào đúng vị trí vốn dĩ dành cho nó. Dành ra một tiếng đồng hồ săm soi là tôi tìm ra vị trí đó ngay.

– Một tiếng đồng hồ ư!

– Quan sát kỹ gã khảm mosaic đó đi.

– Vị hoàng đế già á?

– Vị hoàng đế già đó chính là hiện thân y xì đúc của lá Già cơ trên mọi bộ bài tây thông thường.

– Chuẩn quá nhỉ. Nhưng sao con bảy cơ lúc thì mở két lớn, lúc lại mở két nhỏ được hay thế? Và sao trong lần đầu tiên cậu chỉ mở két lớn? Ý tôi là vào đêm 22 tháng 6 ấy.

– Tại sao ư? Bởi vì tôi luôn đặt con bảy cơ theo cùng một hướng. Tôi chưa từng đảo chiều vị trí của nó. Thế nhưng, ngày hôm qua, tôi nhận ra rằng nếu lật ngược lá bài lại, xoay đầu nó xuống dưới, thì cách sắp xếp của bảy dấu cơ trên bức tranh mosaic sẽ bị thay đổi.

– Quỷ thật!

– Đương nhiên là quỷ thật rồi! Nhưng ngặt nỗi con người ta phải chịu khó suy nghĩ mấy cái đó chứ.

– Vẫn còn một chuyện nữa: Cậu đâu hề hay biết câu chuyện về những bức thư đó cho đến tận khi phu nhân Andermatt —

– Nhắc đến chúng trước mặt tôi á? Không. Bởi vì trong két sắt, ngoài chiếc tráp ra, tôi chẳng tìm thấy thứ gì khác ngoài xấp thư từ của hai gã kia vạch trần âm mưu phản trắc của chúng liên quan đến các bản thiết kế.

– Thế hóa ra cậu tình cờ bị dẫn dụ tìm hiểu về lịch sử của hai anh em nhà Varin, rồi mới lùng sục các bản thiết kế cùng tài liệu liên quan đến tàu ngầm ư?

– Hoàn toàn do tình cờ ngẫu nhiên thôi.

– Thế mục đích cậu lục tìm chúng để làm gì?

– Lạy Chúa! – Daspry cười vang, – sao cậu lại tò mò tột độ thế cơ chứ!

– Đề tài này cuốn hút tôi quá mà.

– Được rồi, lát nữa thôi, sau khi tôi tiễn phu nhân Andermatt ra xe và tống đi một mẩu chuyện ngắn gửi báo Echo de France, tôi sẽ quay lại và kể cho cậu nghe tất cả.

Anh ngồi xuống phăm phăm viết một trong những bài báo ngắn gọn, sắc sảo từng dùng để khuấy động và phủ bóng bí ẩn lên công chúng. Hỏi sao mà toàn thế giới lại không chấn động bởi hiệu ứng sau bài báo đó cơ chứ?

“Arsène Lupin đã giải quyết trọn vẹn bài toán mới đây được đặt ra bởi Salvator. Sau khi thâu tóm toàn bộ tài liệu cùng bản thiết kế gốc của kỹ sư Louis Lacombe, anh đã giao phó chúng vào tay Bộ trưởng Bộ Hải quân, đồng thời đứng tên đầu bảng trong danh sách quyên góp gây quỹ nhằm trao tặng quốc gia chiếc tàu ngầm đầu tiên được chế tạo từ những bản thiết kế đó. Mức đóng góp của anh là hai mươi ngàn franc.”

– Hai mươi ngàn franc! Chính là những tấm séc của ngài Andermatt sao? – tôi kinh hãi thốt lên sau khi đọc xong tờ báo trên tay anh.

– Chuẩn không cần chỉnh. Việc Varin phải dùng tiền chuộc lại lỗi lầm phản trắc của mình là hoàn toàn xứng đáng.

Và đó chính là cơ duyên đưa tôi đến với Arsène Lupin. Đó là cách tôi thấu triệt rằng Jean Daspry, thành viên câu lạc bộ của tôi, hóa ra lại chính là tên trộm hào hoa Arsène Lupin. Cũng từ đó, tôi thiết lập nên mối quan hệ bằng hữu vô cùng tốt đẹp với nhân vật lừng danh ấy, và nhờ vào sự tin tưởng mà anh đã ưu ái ban ơn, tôi trở thành người ghi chép tiểu sử vô cùng khiêm nhường và trung thành của anh.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.