Chiến Trận

Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG I

❊ ❊ ❊

Vienne, năm 1809

Sáng thứ ba, ngày 16 tháng 5 năm 1809, một chiếc 1 xe ngựa được một toán kị binh hộ tống từ lâu đài Schönbrunn đi ra chậm rãi lăn bánh dọc theo hữu ngạn sông Danube. Đó là một chiếc xe bình thường như mọi chiếc xe khác, màu ôliu, không mang phù hiệu. Suốt dọc con đường chiếc xe đi qua, những người nông dân Áo bỏ những chiếc mũ đen rộng vành xuống, thái độ dè dặt và không mấy tôn trọng, bởi vì họ biết rõ đám sĩ quan đang ngồi trên lưng những con ngựa Ả Rập kia, lũ ngựa bờm dài và rậm buông rủ xuống hai bên cổ chạy nước kiệu đều đặn; họ ngồi trên những bộ yên phủ da báo, quân phục kiểu Hungari màu hắng pha hồng điều, đính đầy vàng, chiếc lông cò vắt vẻo trên mũ shako. Những chàng kị binh trẻ này thường tháp tùng Berthier, Tham mưu trưởng lực lượng quân chiếm đóng đến khắp mọi nơi trong thành phố.

Qua cửa kính xe hạ thấp, một bàn tay thò ra khỏi ống tay áo vẫy vẫy. Ngay lập tức, quan giám mã Caulaincourt kìm cương con tuấn mã ngay sát cánh cửa xe, hai đầu gối kẹp chặt sườn ngựa. Bằng những cử chỉ rất điệu nghê, tay nâng cao mũ bicorne[1] và đôi găng tay, ông ta rút một tấm bản đồ vùng ngoại ô thành Vienne được gấp nhỏ đính trên một chiếc khuy áo vét, cung kính cúi chào rồi trao cho người ngồi trong xe. Chiếc xe dừng lại sát mép bờ sông, nước đục ngầu chảy xiết.

Một thân binh đầu đội khăn bước ra khỏi vị trí dành cho cần vụ. Anh ta tháo vội chiếc ghế dùng làm bậc lên xuống đặt vào vị trí, mở cửa xe rồi gập người khúm núm cúi chào. Hoàng đế vừa xuống xe vừa đội chiếc mũ lông hải li đỏ hoe lên đầu. Ngài ném chiếc áo choàng redingot bằng dạ xám Louviers lên bộ áo quần lính ném lựu của mình. Chiếc quần cụt đầy những vết mực, vì lẽ Ngài có thói quen lau ngòi bút vào đó: thông thường, hàng ngày trước các cuộc thao diễn thênh thang ngoài phố, Ngài phải ký rất nhiều sắc lệnh và mọi loại giấy tờ, bởi vì Ngài muốn tự mình quyết định tất cả mọi việc, từ việc phân phối những đôi giày golliot[2] mới cho đội Vệ binh cho tới việc cấp phát những bồn chứa nước được sản xuất tận Paris, và hàng nghìn những vấn đề khác đôi khi không dính dáng gì đến cuộc chiến tranh mà Ngài đang tiến hành tại nước Áo này.

Napoléon bắt đầu phát phì. Chiếc áo gi-lê vải chéo pha len bao chặt lấy cái bụng căng tròn, cổ rụt tới mức tạo cho người ta có cảm giác là Ngài không còn cổ và vai. Đôi mắt dửng dưng của Ngài chỉ rực lửa mỗi khi tức giận mà thôi. Ngày hôm đó, Ngài gắt gỏng, miệng mím chặt. Khi biết chắc nước Áo đã tái vũ trang nhằm chống lại Ngài, chỉ trong vòng năm ngày, Ngài đã gấp rút kéo quân từ Valladolid về Saint-Cloud, làm mệt lử không biết bao nhiêu là chiến mã. Từ những thất bại quân sự ở Tây Ban Nha và rút kinh nghiệm ngay từ sự khinh suất mới này, Ngài đã ngủ mười tiếng mỗi đêm, hai tiếng trong phòng tắm do đó đã nhanh chóng lấy lại sự dẻo dai và sức lực của mình.

Berthier cũng từ trên xe ngựa bước xuống đi đến chỗ Napoléon lúc này đang ngồi trên một gốc dẻ sồi bị cưa cụt. Hai người đàn ông vóc dáng gần như nhau, cùng đội một kiểu mũ, nhìn từ xa, rất dễ nhầm lẫn, chỉ có khác là vị tham mưu trưởng có mái tóc dày xoăn tít, gương mặt hơi thô và thiếu cân đối. Cả hai cùng nhìn xuống dòng sông Danube.

– Thưa Bệ hạ, Berthier vừa cắn móng tay vừa nói, vị trí bắc cầu đã được xác định sau khi khảo sát kỹ lưỡng.

– Dĩ nhiên, phải khảo sát cho thật kỹ! - Hoàng đế trả lời, tay vê thuốc nhét vào tẩu.

– Dùng khinh khí cầu[3] tiếp tục thăm dò độ sâu…

– Đấy là trách nhiệm của ông.

– … phải xác định cường độ dòng chảy…

– Việc của ông mà!

Vẫn như mọi khi, trách nhiệm của Berthier là phải vâng lời. Trung thành tuyệt đối, gương mẫu trước mọi người, ông đoán trước được ý đồ của thượng cấp rồi định liệu mọi việc và thực hiện cho bằng được ý nguyện của vị thống soái. Điều đó làm cho ông có được những quyền hạn to lớn, nhưng nhiều người cho rằng sự tận tụy của ông là có dụng ý vụ lợi và ông phải chịu không ít đố kị.

Trước mặt hai người, dòng sông Danube chia nhánh, nước chảy chậm hơn, những hòn đảo xanh biếc với những đồng cỏ mênh mông tít tắp, cây cối um tùm rậm rạp, những cánh rừng gỗ sồi tán lá xum xuê, những cây du, cây liễu cành lá buông rủ thướt tha. Giữa bờ sông và đảo Lobau - hòn đảo lớn nhất, là một hòn đảo nhỏ có thể dùng làm điểm tựa cho cây cầu họ sắp xây dựng. Phía bên kia sông, chỗ lối vào đảo Lobau là một dải đồng bằng hẹp trải dài đến tận các làng Aspern và Essling, nơi có những tháp chuông nhà thờ nhô lên giữa những cụm cây. Tiếp đến là đồng bằng rộng mênh mông, cây cối xanh mướt, được tưới tắm bởi một con suối thường cạn vào tháng Năm; xa xa, phía bên trái là vùng đồi rừng Bisamberg, quân Áo đã lui về hạ hại tại đó sau khi đốt phá sập những cây cầu.

Những cây cầu! Đã bốn năm rồi kể từ ngày Hoàng đế tiến vào thành Vienne. Ngày đó, ngài được coi như một vị cứu tinh, dân thành Vienne đã nghênh đón, chào mừng đoàn quân của Ngài. Còn lần này, tới những thị trấn nhỏ phòng thủ sơ sài, Ngài cũng phải vây hãm suốt ba ngày liền, thậm chí còn dội pháo trước khi quân đồn trú tháo chạy.

Toan tính thứ nhất vượt sông Danube gần vị trí cây cầu Spitz bị phá sập bất thành. Năm trăm khinh binh thuộc sư đoàn Saint-Hilaire do Rateau và Poux chỉ huy đã đặt chân xuống hòn đảo Shwartze-Laken, nhưng không nhận được một mệnh lệnh tác chiến nào chính xác, cũng không có sự phối hợp nào cả. Cho nên, họ bố trí lực lượng dự bị rất cẩu thả tại một ngôi nhà lớn, xem như một pháo đài có thể bảo vệ cho những đội quân khác tập kết vào vị trí đó. Do cẩu thả nên hậu quả là nửa số người này đã bị giết, số khác thì bị thương hoặc bị bắt bởi tiền quân đối phương mai phục bên phía tả ngạn, những người sáng nào cũng hát vang bài quốc ca Áo của Ngài Haydn để kích động tinh thần yêu nước của người dân thành Vienne.

Lần này, đích thân Hoàng đế trực tiếp chỉ huy cuộc chiến. Ngài dự tính sẽ tiêu diệt đạo quân của Quận công Charles hiện thời đã mạnh hơn trước, nhằm triệt tiêu khả năng liên kết với lực lượng bộ binh của Quận công Jean đang từ Ý hành quân cấp tốc tới. Để đạt được mục tiêu này, mạn phía tây, Hoàng đế đã ém đạo quân của Davout với các kị binh trong thế trận phòng thủ. Ngài quan sát bên dòng sông, vùng đồng bằng Marchfeld rộng mênh mông chạy tít tắp tới tận cao nguyên Wagram.

Một thượng sĩ vẻ mặt chất phác, cúc áo cài lệch, bộ ria trắng vểnh cong, trong tư thế không đúng quân lệnh gọi Hoàng đế ầm ĩ:

– Thưa Hoàng đế! Ngài quên tôi rồi ư? Thưởng huân chương cho tôi đi chứ?

– Huân chương gì? Napoléon mỉm cười hỏi lại. Đây là nụ cười đầu tiên từ tám ngày nay của Ngài.

– Ôi, huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh chứ còn gì nữa! Lẽ ra tôi đã nhận được phần thưởng đó từ lâu rồi! Thưa Bệ hạ.

– Tham chiến lâu chưa?

– Rivoli! Saint-Jean-d’Acre! Austerlitz! Eylau!

– Berthier…

Vị Tham mưu trưởng cầm bút chì ghi tên người lính mới được ban thưởng. Tên anh ta là Roussillon. Khi Berthier ghi xong tên của người lính thì cũng là lúc Hoàng đế đứng lên, ném chiếc rìu Ngài vừa dùng đẽo thân cây xuống đất.

– Ta muốn chiếc cầu phải được bắc xong vào cuối tuần này. Hãy bố trí một số lữ đoàn kị binh ở khu làng này, chỗ kia kìa.

– Làng Ebersdorf, Berthier nói, tay chỉ vị trí khu làng trên bản đồ.

– Bredorf[4] nếu cậu muốn, với ba sư đoàn thiết kị. Bắt đầu ngay đi!

Không bao giờ Hoàng đế trực tiếp ra lệnh hoặc quở trách sĩ quan hay binh lính mà bao giờ cũng thông qua Berthier. Trước khi bước lên chiếc xe thùng Berthier gọi một sĩ quan tùy tùng mặc trang phục màu đỏ tía:

– Này, Lejeune, anh cùng với ngài Công tước Rivoli giải quyết việc đó nhé.

– Vâng, thưa ngài, viên sĩ quan trẻ trả lời. Lejeune là một Đại tá công binh trẻ tuổi, da tóc đều màu nâu, phía bên trái vầng trán có một vết sẹo giống như một vết rạch kéo dài.

Lejeune leo lên chú ngựa Ả Rập của mình, thắt lại dây lưng lụa màu vàng đen, phủi bụi trên tấm áo nẹp bằng lông, nhìn xe Hoàng đế chuyển bánh theo sau là đám tùy tùng. Lejeune đi chậm lại. Bằng đôi mắt nhà nghề của mình, anh quan sát, nghiên cứu kỹ lưỡng sông Danube và những hòn đảo bị dòng nước tàn phá. Anh đã từng tham gia xây dựng cầu tàu trên sông Pô bằng những phiến gỗ, những mỏ neo, những bè gỗ giữa gió mưa sóng dữ. Còn bây giờ, làm thế nào để có thể bắc được chiếc cầu phao giữa dòng nước lũ chảy xiết xoáy tung bọt này đây?

Nhánh lớn của sông Danube chảy dọc theo hòn đảo Lobau từ phía nam và xuôi về phía bờ bên kia nơi cần phải tới. Anh lo lắng, nghi ngại những đầm lầy, những vũng bùn đen bóng mang hình những doi cát được hình thành theo mực nước của dòng sông.

Lejeune giật cương con tuấn mã hướng về phía thành Vienne. Gần ngôi làng Ebersdorf, anh nhìn thấy một cái vịnh nhỏ được một con suối bao bọc, chỗ này có thể tập kết ụ nổi và thuyền bè; sau lùm cây kia sẽ cất giấu những bộ khung sườn cầu, dây chão, xích sắt, cọc chống, xà gồ, cả một công trường xây dựng có thể được giấu kín tại đây. Ngay lập tức, Lejeune phi ngựa về phía thị trấn nơi đạo quân của Công tước Rivoli[5] đang đồn trú. Công tước Rivoli là một kiếm thủ xuất sắc, thường được Napoléon gọi thân mật là người anh họ của ta, là một kẻ hám danh, bất chấp luật pháp, nói năng bỗ bã nhưng bù lại, đó là một chiến lược gia tuyệt vời, đang nắm trong tay lực lượng bộ binh do Tướng Augereau[6] hung dữ huấn luyện đã từng làm nên chiến tích lẫy lừng trong cuộc vượt cầu Arcole trước đây.

Người đó chính là Masséna.

* * *

Cánh quân của Lannes gồm 3 sư đoàn kị binh được bố trí trong khu thành cổ. Lực lượng của Masséna cắm chốt sát với vùng ngoại ô, ở chỗ bình địa, tại đó, Thống chế chiếm giữ một lâu đài nhỏ với những tháp chuông kiến trúc theo kiểu baroque. Một số quý tộc thành Vienne đã phải bỏ lâu đài lại, để lùi về vùng xa chiến sự yên ổn hơn hoặc đến trại của Quận công Charles. Khi vào đến sân chính của lâu đài, vẫn như mọi khi, Lejeune không cần phải xuất trình giấy tờ, bởi chỉ có các sĩ quan tùy tùng của Berthier mới có quyền mặc quần màu đỏ, nó được sử dụng như một loại giấy thông hành: có nhiệm vụ chuyển các mệnh lệnh, chỉ thị của Tổng tham mưu, có nghĩa là của chính Napoléon. Nhưng, những bộ quần áo ấy dưới con mắt của đám lính binh nhì thì lại là những đặc ân và họ tỏ thái độ không mấy thiện cảm. Tay long kị binh được Lejeune giao trông coi con ngựa sang trọng thì thèm khát liếc trộm bộ bàn đạp và chiếc yên cương mạ vàng. Khắp xung quanh, những người lính ăn mặc lôi thôi, lếch thếch đã khuân những bộ ghế catet, ghế tựa từ những căn phòng trải thảm ở tầng trệt ra bày trên vỉa hè. Một vài người, bề ngoài như những tên cướp biển, mồm ngậm tẩu thuốc nhỏ dài ngoẵng bằng đất nung, đi vênh vang phía trước trại lính đóng quân ngoài trời, nơi quân lính đang duy trì ngọn lửa trại bằng những mảnh gỗ mun xẻ ra từ đâu đó và cả những cây vĩ cầm. Một số người thì cùng uống rượu từ một cái thùng tô nô to tướng bằng những ống hút, họ xô đẩy nhau, cười đùa, thề bồi rồi phim cả rượu vào nhau. Một số khác la hét ầm ĩ, chạy đuổi theo đàn ngỗng làm cho chúng bay nháo nhác; họ thi tài, đánh cuộc nhau chặt đứt cổ ngỗng khi chúng đang bay, chưa kịp chạm chân xuống mặt đất bằng những nhát gươm bén ngọt. Những con ngỗng bị chặt đứt cổ lập tức bị đem quay ngay trên ngọn lửa, để nguyên cả ruột, lông ngỗng bay trắng xóa cả một vùng, đám lính vơ từng vốc phủ vào mặt nhau như trẻ con.

Trong những ngôi nhà, lính đánh thuê đùa ác xé toạc các bức chân dung gia đình; các bức tranh bằng vải toan bị xé nát treo lủng lẳng trông thật thảm hại. Phía trước cầu thang bằng đá hoa cương, một xạ thủ pháo binh cải trang thành đàn bà, thu mình trong bộ váy khiêu vũ, bắt chước giọng đàn bà chỉ đường cho Lejeune. Đám lính quậy phá vây xung quanh cười ngặt nghẽo, quần áo của họ cũng lôi thôi, lếch thếch, người thì đội một bộ tóc giả đầy bụi bặm, rủ lòng thòng xuống tận trán, người thì mặc chiếc áo redingot lấp lánh những sắc màu nâu đỏ lưng áo bị rách được khâu lại rúm ró; một người nữa găm đầy trên chiếc mũ cảnh sát nào thìa, nào cốc bạc moi ra từ chiếc thùng to vừa bị đập vỡ toác. Chán ngấy trước cảnh tượng đó, Lejeune bĩu môi leo lên tầng trên, nơi có căn phòng dành riêng cho Thống chế, ủng nghiến lạo xạo trên những mảnh gốm vụn. Từ phòng khách nhìn ra hướng ban công có những hàng cột chạm tượng người bán thân, Lejeune trông thấy nhiều sĩ quan, cùng với lính hầu cận, giám sát viên mặc thường phục, vừa khua môi múa mép vừa lựa chọn trong đống đồ đạc nào chân nến, nào lọ pha lê trao cho gia nhân của họ bao gói lại nhét vào những chiếc két nhét đầy rơm rạ. Trên ghế sofa, một Đại tá chỉ huy khinh kị binh đang trêu ghẹo cô con gái của một chủ trang trại láng giềng. Cũng như các chị em khác, cô bị trưng dụng vào phục vụ cho một đại đội kị binh. Một hầu phòng tay đeo găng trắng nhoài người trên một chiếc dầm gỗ màu hồng cố tìm cách tháo bộ đèn chùm. Lejeune nắm lấy chân anh ta.

– Đây không phải nhiệm vụ của con, thưa ngài. Người hầu phòng rối rít thanh minh về việc ăn cắp của mình.

Bất ngờ, Lejeune tung một cú đá, hất tung chiếc dầm lên làm cho tên hầu treo lơ lửng cùng với bộ đèn chùm, hắn chân tay khua loạn xạ, miệng kêu ầm ĩ. Mọi người cười ầm lên, vỗ tay tán thưởng Lejeune; nhưng rồi chợt nhận ra bộ sắc phục dành cho những người làm việc ở Bộ tham mưu mà anh đang mặc, một viên tướng cấp lữ đoàn đi đến trao cho anh một chén rượu Đức, cùng lúc đó, hai cánh cửa mở toang.

Masséna trong bộ áo choàng và giày hàm ếch đi vào phòng khách quát tướng lên:

– Các người có thể khép bớt mõm lại một chút được không, lũ chấy rận này!

Chột mắt, bộ mặt dày, mũi khoằm, tóc rậm, đen nhánh cắt theo kiểu Hoàng đế Titus, Thống chế Masséna có giọng nói sang sảng, nhìn thấy Lejeune, nhân vật đáng kính nhất giữa đám đông ồn ào, ông ta liền cất giọng gọi anh:

– Lại đây, Đại tá.

Nói rồi ông ta quay tấm lưng gù quay lại phòng mình, theo sau là sứ giả của Hoàng đế. Đến chỗ ngoặt một hành lang, Masséna đột ngột dừng lại phía trước chiếc đồng hồ quả lắc to lù bằng vàng, màu đỏ chót có chạm trổ những thiên thần mũm mĩm vỗ tay vào những chiếc cồng nhỏ.

– Anh thấy cái đó thế nào?

– Về tình hình lúc này ư, thưa ngài Công tước?

– Ồ không, cái quả lắc kia, cái đồng hồ quả lắc kia kìa!

– Thoáng nhìn qua thì cũng biết đó là một kiệt tác, thưa Ngài. Lejeune đáp.

– Julien!

Một người hầu trong trang phục đỏ thắm từ nơi nào đó đột ngột xuất hiện.

– Julien, Masséna gọi, mang cái này đi.

Masséna chỉ chiếc đồng hồ và người kia cẩn thận ôm lấy, vừa bê đi vừa thở hổn hển vì chiếc đồng hồ quá nặng. Vào đến phòng, Masséna ngồi xuống bên mép giường có màn che bằng nhung rồi lên tiếng:

– Này, chàng trai, có mệnh lệnh gì thế?

– Cần phải bắc một chiếc cầu phao trên sông Danube cách Vienne sáu ki-lô-mét về hướng đông nam.

Masséna bao giờ cũng thản nhiên trước mọi nhiệm vụ. Ở tuổi năm mươi mốt, ông đã từng chịu đựng đủ mọi thứ, đã nếm trải mọi vinh quang và cay đắng. Người ta biết đến ông như là một kẻ cắp, nói về ông như là một kẻ hay thù hiềm, nhưng lần này Hoàng đế vẫn còn cần đến cái tài năng xuất chúng về khoa học vũ khí của ông. Thông thường, Thống chế khinh khi những biệt danh được đặt cho ông như “gã thộn của Berthier” hoặc là “cáo đội lốt hùm”, bởi vì ông là con trai của một người bán dầu ôliu vùng Nice, một thời từng tham gia buôn lậu. Không phải ông sinh ra là để làm Thống chế, hay để làm Công tước, ông không giống như những kẻ khốn nạn được nhặt ra từ trong giới chức nhà băng hoặc trong giới quý tộc, những Hầu tước, những kẻ tự phụ hợm mình nhét đủ loại sáp tóc, dầu xức và những đồ vệ sinh trong túi đạn, những kẻ như Flahaut, Pourtalès, Colbert, Nicolales, Girardin, Montesquiou, Périgord… Ông không coi Lejeune là một trong số họ, mà coi anh như một nhà Quý tộc đúng nghía nằm trong bè nhóm này, dù rằng, cũng giống như họ, Lejeune được đào tạo những phép xã giao, lễ nghi của giới Quý tộc tại nhà Gardel, một người thầy dạy balê của nhà hát Opéra. Hơn nữa, Lejeune còn là một họa sĩ có tài được Bệ hạ đánh giá cao.

– Anh đã xác định được các vị trí bắc cầu chưa? Masséna hỏi.

– Thưa Công tước, rồi ạ.

– Kết quả thế nào? Khoảng cách bắc cầu là bao nhiêu?

– Khoảng tám trăm mét.

– Có nghĩa là phải có tám chục chiếc thuyền để làm điểm tựa cho sàn cầu…

– Tôi đã dự kiến được một con suối, thưa ngài Công tước, tại đó, chúng ta có thể thu xếp làm nơi tập kết phương tiện một cách an toàn.

– Thế còn ván sàn, cứ cho là chín ngàn tấm… để có được chừng đố thôi thì đã phải chặt cả một cánh rừng rồi, mà ở xứ sở nghèo nàn này thì đào đâu ra cơ chứ?

– Nhưng vẫn phải có bốn ngàn cái xà, chừng khoảng đó, và ít nhất phải có chín ngàn mét dây chão thật chắc. 

– Ừ, lại còn mỏ neo nữa.

– Hoặc phải dùng thùng câu của dân chài lèn chặt đá thả xuống thay mỏ neo cũng được, thưa ngài Công tước.

– Dùng thùng câu của dân chài à, này Đại tá, chúng ta phải hết sức tiết kiệm đấy nhé.

– Tôi sẽ cố gắng.

– Thôi được, hãy trưng dụng tất cả những thứ nổi được trên mặt nước cho tôi.

Lejeune chuẩn bị đi thì Masséna lại nói tiếp:

– Này, Lejeune, hãy sục sạo khắp mọi nơi rồi cho tôi hay…

– Thưa Công tước, có chuyện gì à?

– Có tin nói rằng những người thành Gênes[7] đã bỏ vào nhà băng ở Vienne hàng trăm triệu. Chuyện đó đúng không?

– Tôi chưa biết chuyện đó.

– Hãy xác minh đi, tôi đề nghi hãy xác minh kỹ đi.

Một người nằm co ro trong tấm chăn dạ. Lejeune nhìn thấy một mớ tóc màu sáng lòi ra. Masséna nheo mắt cười ranh mãnh, rồi giật tung tấm chăn thêu phủ trên giường, nắm búi tóc của một người đàn bà đang ngái ngủ dựng dậy:

– Này, Đại tá, kịp thời báo cáo cho tôi số tiền bọn dân thành Gênes cất giấu, tôi sẽ cho anh con nhỏ này. Đây là vợ góa của một thằng biệt kích gốc đảo Corse đã bị mổ bụng tuần trước, cô ả này rất ngoan và lịch duyệt như một nữ Công tước!

Lejeune đánh giá rất thấp truyền thống văn hóa quán rượu này và điều đó thể hiện rõ trên vẻ mặt dửng dưng của anh. Masséna thấy thế cho rằng loại thanh niên nhút nhát này thật sự không phải là những người lính. Ông ta buông người đàn bà xuống đống đệm bằng gối lụa, nói giọng cộc lốc:

– Thôi, đến chỗ Daru xem sao.

Bá tước Daru là người chịu trách nhiệm quản lý tài sản của Hoàng đế. Ông ta lập đại bản doanh bên mé tòa lâu đài Schönbrunn, kề cận Hoàng đế, chỉ cách Vienne nửa dặm. Ông xử lý công việc bằng những mệnh lệnh phát ra từ cửa miệng nanh nọc để quản lý đám dân sự, bởi vì đây không phải đơn vị quân đội đi theo Napoléon, mà là một bọn du thủ du thực, với 5 tiểu đoàn hậu cần, điều khiển 2500 xe quân trang, quân dụng và đội quân làm bánh, xây lò, thợ nề, tất cả hoặc hầu như mọi ngành nghề do 96 nhóm trưởng đỉều khiển: những con người này phụ trách nhà ở, thức ăn cho súc vật, ngựa nghẽo, xe cộ, bệnh viện, tiếp tế, tất tần tật. Daru ắt phải biết mò đâu ra thuyền bè.

Lejeune đi qua một chiếc cầu rộng được trang trí bằng những bức tượng hình nhân sư hướng vào thành Vienne, rồi qua một hàng chấn song sắt cao được hai cột tháp màu hồng làm trụ có gắn những đôi cánh bằng chì bảo vệ. Anh đi thẳng vào khu vực sân vuông của lâu đài Schönbrunn. Tòa lâu đài này, trước đây gia đình Habsboug thường lưu trú vào mùa hè, mà không cần quá nhiều nghi thức rối rắm, dưới bóng cây râm mát trong công viên, rất nhiều sóc dạn dĩ, chạy nhảy khắp mọi nơi. Một đám tùy tùng và binh lính thuộc các tiểu đoàn Cận vệ đi lại lộn xộn, Lejeune nhằm một họa sĩ đeo ngù vai len màu xanh hỏi:

– Ông Daru ở đâu? Lejeune hét vào tai người hạ sĩ.

– Đằng kia lòa, thưa Đại tá, phía bên trái hàng cột sau cái hồ lớn.

Đó là một cung điện thành Vienne, có nghĩa là vừa hoa mỹ, phô trương, vừa kín đáo, kiến trúc theo kiểu baroque, vừa khắc khổ, bắt chước cung điện Versailles, màu đất son, nhưng nhỏ hơn một chút và cũng đặc biệt hơn. Lejeune tìm được Daru đang khua chân múa tay giữa một đám người; ông ta đang chửi một tay quản lý đội mũ lò xo, nhìn thấy Lejeune như mang đến thêm một nỗi lo âu, phiền nhiễu, ông ta tự hỏi: lại sắp yêu sách cái gì nữa đây? Trong bộ áo dài hẹp tà cài khuy phía trước là một cái bụng bự, đuôi áo hớt, Daru hai tay chống nạnh:

– Chào ngài Bá tước, Lejeune nói và xuống ngựa.

– Đi thẳng vào vấn đề đi! Bệ hạ lại muốn tôi làm cái điều không thể làm được phải không?

Daru dằn rõ từng âm tiết, như người vùng Midi thường làm, lời nói như có tiếng nhạc.

– Chỉ cần tám chục chiếc thuyền thôi, thưa Bá tước.

– Hứ, chỉ thế thôi à? Tôi vẽ ra từng ấy chiếc chắc? Quân đội sắp dạo chơi trên sông Danube à?

– Dùng làm phao cho một cây cầu thôi mà.

– Ôi, chuyện ấy đáng ngờ đấy! (Rồi nói với mọi người xung quanh:) Lại còn đứng như phỗng cả ở đấy à, không có việc gì làm nữa hả? (Sau đó, khi mọi người tản đi, với vẻ mặt nghiêm trọng) Thưa Đại tá, thành Vienne không còn thuyền bè gì nữa cả. Không còn một chiếc nào nữa! Bọn Áo không đến nỗi quá ngu đần đâu! Bọn nó đã đánh đắm phần lớn thuyền bè, hoặc là đem hết xuống phía hạ lưu tới tận Presbourg để tránh bị tịch thu. Bọn đấy không điên đâu. Bọn nó đâu muốn chúng ta hiện diện bên tả ngạn sông Danube này.

Daru cầm tay Lejeune dẫn vào một căn phòng bừa bộn những két, đồ đạc chất đống. Ông ta đặt chiếc mũ phớt có phù hiệu lên trên bàn, gầm ghè đuổi hai cấp phó khốn khổ đang ngủ gà ngủ gật ra ngoài rồi đổi giọng như một kịch sĩ từ tức giận sang ủ rũ mệt mỏi vờ vĩnh:

– Lộn xộn quá, Đại tá ạ, lộn xộn quá! Chả có kế hoạch gì cả! Tôi lúc nào cũng chỉ gặp rắc rối thôi, tôi ấy mà! Sự phong tỏa đáng nguyền rủa đang ch�ơi lại chúng ta, tôi thề với anh như vậy đấy.

Thực tế, Hoàng đế đã quyết định trong vòng ba năm phải cô lập được nước Anh bằng cách cấm vận tất cả hàng hóa của họ vào lục địa, nhưng điều đó không ngăn cản được bọn buôn lậu: những chiếc áo capotes của quân đội bằng da được dệt ở Leeds và giày dép vùng Northampton vẫn được lén lút nhập khẩu; nước Anh tiếp tục chế ngự thương mại quốc tế còn chính châu Âu bị kết án là bế quan tỏa cảng, thi hành chính sách tự cung tự cấp. Tự nhiên lại thiếu cả đường, rồi thuốc nhuộm màu chàm để nhuộm vải may quân phục cho quân đội. Daru than phiền:

– Binh lính của chúng ta ăn mặc lôi thôi quá, mặc bất cứ thứ gì vớ được trong làng hoặc sau mỗi trận đánh. Trông chả ra giống gì. Cứ như một gánh hát rong rách rưới! Lính tráng khoác cả những chiếc vét màu xám tước đoạt được của bọn Áo, rồi chuyện gì sẽ xảy ra nữa đây? Anh không biết à? Tôi sẽ nói cho anh hay, Đại tá ạ, tôi sẽ nói cho anh hay… (ông ta thở dài sườn sượt) Ngay vết thương đầu tiên, dù nhẹ thôi, trên nền vải màu sáng, máu sẽ loang ra đỏ lòe, ai nhìn cũng phát kinh, chỉ một vết xước nhẹ thôi là có thể làm ta lầm tưởng đó là một nhát kiếm đâm vào ổ bụng, vết máu đó nó làm nao núng tinh thần binh lính, nó gieo rắc vào họ nỗi sợ hãi ghê gớm, nó làm họ tê liệt mất sức chiến đấu! (đột nhiên, Daru nói giọng kẻ bán quần áo:) Trong khi đó, trên nền vải màu xanh, một màu xanh đậm đẹp đẽ, những vết bẩn thỉu đó khó có thể nhìn thấy được, cho nên, không làm cho binh lính quá sợ hãi…

Bá tước Daru buông mình xuống chiếc ghế bành cũ kỹ, làm chiếc ghế oằn lên kêu răng rắc, ông ta vừa gập chiếc bản đồ tham mưu lại vừa tiếp tục bài diễn văn của mình:

– Bệ hạ muốn trồng cây cải làm thuốc nhuộm gần Toulouse, Albi, Florence… Tốt thôi. Trước đây ở những vùng này nó mọc rất tốt, nhưng chúng ta không còn thời gian nữa. Anh có nhìn thấy bọn lính mới tuyển kia không? Số tân binh năm ngoái, bên cạnh đấy, nay đã có dáng cựu binh rồi! Theo đuổi công cuộc chiến tranh, chúng ta tuyển mộ cả trẻ con, bắt chúng làm người lớn, Đại tá ạ… (ông ta nhìn bản đồ rồi một lần nữa lại đổi giọng) Thế anh muốn dựng cây cầu đó ở đâu?

Lejeune chỉ hòn đảo Lobau trên tấm bản đồ trải rộng. Daru thở mỗi lúc một mạnh hơn:

– Chúng tôi sẽ lo chuyện đó, Đại tá ạ.

– Chóng vánh chứ?

– Sẽ hoàn thành một cách nhanh nhất có thể.

– Ngoài ra, cần rất nhiều dây chão, xích sắt…

– Dễ thôi, nhưng tôi dám chắc rằng từ sáng, anh chưa có cái gì dằn bụng.

– Đúng vậy.

– Thế thì tranh thủ tận dụng tài nghệ bọn đầu bếp của tôi đi. Hôm nay, họ đã ninh món thịt sóc, cũng như hôm qua thôi, và ngài mai cũng vậy; không tồi lắm đâu, hơi giống món thịt thỏ một chút. Mà sao trong công viên này lại nhiều sóc thế không biết! Rồi thì sẽ phải ngốn đến cả hổ, cả kanguru ở vườn thú của lâu đài nữa cũng nên! Điều đó hứa hẹn vài cảm xúc cho cái dạ dày vốn đã bị làm cho chán ngấy của chúng ta… Anh lên chỗ ngài Beyle đi, văn phòng ở ngay phía trên, còn tôi, tôi phải đi đây, bệnh viện không còn đủ chỗ nữa, thức ăn cho vật nuôi thiếu thốn và rồi còn những chiếc thuyền bè đáng nguyền rủa của anh nữa… Ôi, như nhà thơ Horace, Horace thân yêu của ta đã nói, một tâm hồn được chuẩn bị tốt hy vọng sẽ tìm được hạnh phúc trong nỗi bất hạnh.

– Còn điều cuối cùng đây, thưa Bá tước.

– Nói đi.

– Hình như những người thành Gênes…

– À không, thưa Đại tá! Xin để cho tôi yên với cái gọi là hàng trăm triệu kia đi! Anh là người thứ ba mà Masséna phái đến để nắm tình hình về vấn đề đó đấy! Tất cả những gì mà tôi đã tìm thấy, ngoại trừ những khẩu súng trong kho quân cụ, chính là cái này…

Daru lấy giày đá vào một chiếc két gỗ. Những đồng florin Áo bung ra vương vãi khắp mặt đất.

– Chúng ta có được tất cả những thứ này nhờ vào sự tỉ mỉ của ngài Savary đấy, Daru giải thích. Đó là những đồng tiền giả. Tôi dùng để trả tiền cho những nhà cung cấp bản địa. cầm lấy vài bó đi.

* * *

– Henri!

– Louis-François!

Louis-François Lejeune và Henri Beyle, lúc này chưa đổi tên là Stendhal, quen nhau từ chín năm nay; dạo đóng quân ở Milan, họ đã từng đánh nhau vì một cô nàng người Lombardie trâng tráo. Lejeune đã chiến thắng còn Henri thì kín đáo vui sướng chấp nhận sự thua cuộc; Henri thích cái việc bất thành kia hơn vì chẳng biết cô gái Ý xinh đẹp kia có chấp nhận mình không? Vì Henri tự thấy mình xấu xí quá, vẻ xấu xí đó làm anh thiếu tự tin, nhút nhát, bất chấp bộ quần áo màu xanh của đội long kị binh số sáu và chiếc mũ có bờm chít khăn thằn lằn anh đang đội. Sau này họ gặp lại nhau ở Paris trong một cuộc chơi xổ số tại Palais-Royal, rồi cùng dạo chơi trên những đại lộ Paris, đến nhà Véry, ăn sò giá mười xu một chục bên những ngọn nến màu vàng. Lejeune đã bỏ tiền thết đãi. Henri, do đã rời quân ngũ nên không còn một xu dính túi, lợi dụng bữa thết đãi đó để ngấu nghiến hết một con gà mái tơ. Lejeune chuẩn bị trở lại trung đoàn đang đóng tại Hà Lan; Henri thì hình dung sẽ trở thành chủ đồn điền ở Louisane, chủ nhà băng hay một kịch sĩ danh tiếng nhờ vào các nữ diễn viên…

Bây giờ họ lại gặp nhau trước cổng thành Vĩenne, ngẫu nhiên do công việc đưa đẩy. Một người ngạc nhiên còn người kia thì không: lúc này Lejeune đã là một Đại tá, chuyện tất nhiên thôi bởi anh đã chọn binh nghiệp và kiên trì theo đuổi nó. Còn Henri? Giờ đây là một thanh niên hai mươi sáu tuổi, da sáng, miệng mỏng dính tựa như không có môi, mắt màu hạt dẻ, tóc cắt cao lù xù trên một cái trán rộng. Lejeune rất ngạc nhiên hỏi Henri làm gì tại phòng quản lý này.

– A! Louis-François, tớ cần phải sống giữa những sự kiện vĩ đại để tìm kiếm hạnh phúc chứ.

– Chỉ huy ở đây à?

– Cấp phó thôi, chỉ là cấp phó thôi.

– Sao Daru lại bảo tớ tới gặp chỉ huy Beyle.

– Ông ta tốt thế, chắc là ông ấy đang bị ốm rồi.

Bá tước Daru không tôn trọng Henri lắm; ông ta luôn coi Henri là kẻ lơ đễnh, cư xử với anh bằng thái độ thô lỗ cộc cằn, giao cho Henri những công việc độc hại và chả mấy lợi lộc.

– Mệnh lệnh truyền đạt cho tớ thế nào? Henri hỏi bạn trong niềm vui hội ngộ và lo lắng đón nhận nhiệm vụ mới.

– Chả có gì nhiều lắm đâu: cậu phải cho tớ món thịt sóc nấu xốt của Bá tước Daru.

– Lạy chúa! Cậu thích món đó à?

– Không!

Henri cài lại khuy áo, cầm lấy chiếc mũ đính phù hiệu ba màu và lợi dụng cơ hội trời cho chuồn khỏi văn phòng. Khi đi qua phòng bên cạnh, Henri báo cho đám thư ký và các nhân viên văn phòng rằng ngày hôm nay anh bận công việc nên không trở về. Bộ sắc phục của Lejeune đang mặc không làm cho mọi người chú ý, và họ cũng không thắc mắc tại sao anh lại xuất hiện ở đây. Và họ cũng không coi bộ quân phục đó như một cái gì đáng kính. Ra đến ngoài, Lejeune hỏi:

– Cậu làm việc ăn ý với đám cạo giấy này chứ?

– Ồ không! Louis-François, tớ thề với cậu đó. Bọn chúng thô lỗ, ngu ngốc, mánh khóe, và vô nghĩa lắm…

– Kể cho tớ nghe nào.

– Chúng ta đi đâu bây giờ?

– Tớ đã trưng dụng một ngôi nhà trong thành cổ, tớ ở đó với Périgord.

– Vậy à, thế thì chứng ta cùng di, nếu cậu không ngại bộ quần áo dân sự tớ đang mặc và con ngựa của tớ: này cho cậu biết, đó là một con ngựa giống percheron[8] chính cống đấy.

Trên đường đến chuồng ngựa, họ kể cho nhau nghe rất nhiều chuyện, nhất là về Henri: Henri không từ bỏ sân khấu; ngay khi có thể, bất kể ở đâu, ngay cả lúc ngồi trên xe hơi, anh cũng nghiên cứu Shakespeare, Gozzi và Crébillion-con, nhưng viết kịch thì không đủ sống mà Henri lại không muốn nhờ vả gì vào gia đình nữa. Tuy nhiên, Henri chấp nhận sự bảo hộ của Daru, một người bà con xa. Là thành viên thuộc Cục hậu cần của Đế chế, Henri hy vọng kiếm được một chân công chức nào đó trong Hội đồng Nhà nước, vị trí đó tự nó không phải một nghề nghiệp nhưng lại là một giai đoạn nhằm hướng tới các công việc sau này, quan trọng trước tiên là kiếm được tiền. Trong thời gian hai năm ở Đức vừa qua, Henri đã chia số thời gian đó cho các lĩnh vực hành chính, sân khấu, săn bắn và các cô gái.

– Tại Brunswick, Henri nói, tớ đã học để bớt tính nhút nhát và học cách đi săn.

– Cậu bắn tốt đấy chứ?

– Chuyến đi săn vịt trời đầu tiên, tớ đã mang về hai con quạ!

– Không săn được thằng Áo nào à?

– Tớ chưa tham gia một trận đánh đích thực nào cả, Louis-François ạ. Trận Iéna cách đây mấy ngày, tớ cũng bỏ lỡ. Trước trận Neubourg, tớ ngỡ là nghe thấy tiếng pháo nổ, nhưng té ra, đó chỉ là cơn giông.

Tuy nhiên, Henri đã từng hiện diện trong cuộc vượt cầu Ebersberg khi thành phố bị thiêu trụi hoàn toàn; chiếc xe của anh chạy ngang qua những xác chết không còn mặt mũi; dưới bánh xe, anh nhìn thấy ruột, gan, phèo, phổi phọt ra; để tạo vẻ tự tin và rắn rỏi, Henri đã kiếm chuyện nói liên tục để dằn cơn buồn nôn đang trào lên một cách khủng khiếp. Lúc này, họ đã đến dãy chuồng ngựa thuộc Cục quân nhu. Lejeune kêu to, ngạc nhiên:

– Kia là ngựa của cậu đấy à?

– Ừ, phải rồi, con ngựa họ giao cho tớ đấy, tớ đã nói với cậu rồi còn gì.

– Cậu có lý đấy: chỉ còn thiếu mỗi nước là cho nó cái cày nữa thôi!

Quần áo, ngựa nghẽo của họ thật khác nhau, nhưng bất chấp cái cọc cạch, khôi hài đó, hai người bạn nhằm hướng thành Vienne lên đường, từ xa, họ nhìn thấy thành lũy, tháp chuông của nhà thờ Saint-Etienne.

* * *

Vienne có hai vòng thành. Vòng thành thứ nhất là một lũy đất được đắp lên làm mốc giới cho những thị trấn đông đúc dân cư, những ngôi nhà ngói đỏ thấp san sát bên nhau; vòng thành thứ hai khép khu thành cổ vào giữa bằng một bức tường vững chắc có bố trí hào rộng, hố sâu và các pháo đài, lỗ châu mai, những con đường có mái che, nhưng rồi dân thành Vienne không còn sợ người Thổ Nhĩ Kỳ cũng như đám phiến quân người Hungari, họ đã tự do xây khách sạn, cửa hàng suốt tuyến lũy, và họ đã trồng cả cây cối trên những triền dốc thành những con đường đi dạo.

Lejeune và Beyle vượt qua dưới gầm một cổng thành lớn rồi rảo bước trong những con phố cổ ngoằn ngoèo, giữa những dãy nhà kiến trúc ô hợp, cái thì dài hun hút, cái thì xây từ thời trung đại, cái thì tạo dáng theo lối kiến trúc baroque, được sơn bằng những màu sắc dịu kiểu Ý, trên bậu cửa sổ trưng đầy hoa và lồng chim. Quang cảnh người qua đường không làm họ vui vẻ cho lắm: khắp mọi nơi chỉ toàn những sắc lính.

Với tư cách một người chiến thắng, Henri nhìn những tốp lính đi tản bộ khắp thành Vienne, anh coi đó là một hình ảnh xấu xa. Napoléon để lại cho họ trong thời gian bốn, năm ngày cái thành phố chỉ rộng bằng một khu phố Paris, vì vậy họ tận dụng cơ hội này để tìm kiếm mọi thứ tiêu khiển. Có người nói binh lính như một bầy chó săn. Cả nghìn lần, họ đã mạo hiểm với cái chết, hoặc với những mánh khóe xấu xa, họ bỏ lại phía sau những xác chết bạn bè, những kẻ đui mù, què cụt, mất tay, mất chân, nhưng nỗi sợ hãi biện minh cho sự phóng đãng này chăng? Đám long kị binh dùng dây thả những đồ đạc ăn cắp xuống giữa phố trong khi bọn cò mồi, tụi đồng phạm đe dọa chủ nhân của những đồ đạc bị đánh cắp. Hành động này làm tha hóa cả một đám dân chúng thành phố mà trong bản chất sâu xa vốn rất dịu dàng ôn hòa. Một tên lính thiết kị đội mũ sắt, tùm hum trong chiếc măng tô Áo, ném xuống đất nào quần áo diễn viên, nào kèn, nào áo lông chụp giật được, hắn hi vọng có thể rao bán và kiếm được ít tiền. Một số quầy hàng xuất hiện trên con phố nhỏ, đám trộm cướp này bày la liệt những thứ cướp được, nào vòng thủy tinh, vòng ngọc, nào váy, bình bánh thánh, ghế, gương, những bức tượng sứt mẻ và đám người chen lấn, xô đẩy nhau như trong một khu chợ Ả Rập ở Cairo, chúng nói tới hai chục ngôn ngữ và đến từ hai mươi nước khác nhau để rồi hòa trộn thành một quân đội ngang ngược; Ba Lan có, Đức có, Bavière có, Florence có, mà người ta gọi là một thứ quân đội tạp nham, một kỵ binh Mamluk[9] của Kirmann chỉ còn mỗi chiếc quần cụt ống phồng là còn mang nguồn gốc Ả Rập mà thôi, bởi vì anh ta sinh ra ở Saint-Ouen. Có những mớ đồ đạc bày ngay trên quảng trường và cả ở những giao lộ. Lính bộ binh đi những đôi ghệt màu xám cài khuy cao nằm thu lu, ngáy như sấm rền trong những đống rạ phía sân trước nhà thờ. Một số binh lính mặc quần áo màu tối đang hối thúc những con ngựa đen, rồi một nhóm lính mang súng cạc bin đi bộ đang lăn những thùng rượu vang Riesling. Một vài khinh binh mặt nhăn nhó vừa đi vênh vang trước những quán cà phê vừa ăn thịt bò luộc, chúng hãnh diện với những chiếc quần cụt màu xanh da trời, áo gi-lê đỏ nhuộm bằng rễ cây thiến, vói mảnh chiếu đan nặng trịch khoác ngoài cùng như một thứ khiên đỡ những nhát gươm và trên chiếc mũ shako, một túm lông xác xơ phất phơ bay. Một khinh binh từ cổng đi ra, trên tay cầm một xâu xúc xích; anh ta lảo đảo mấy bước rồi tựa vào tường đái tồ tồ.

– Nhìn kìa! Lejeune nói với bạn. Cứ như là ở Vérone ấy…

Anh giơ tay chỉ một vòi nước, một ngôi nhà nhỏ hẹp, dải ánh sáng hoe vàng chia cắt mặt tiền của một quảng trường nhỏ. Lejeune dường như không thích nhìn một cảnh tượng nào khác. Anh không phải là một sĩ quan bình thường như mọi sĩ quan khác. Từ nơi đồn trú cho đến các chiến dịch, anh mang về rất nhiều kí họa và những bức họa rất nổi tiếng. Chính Napoléon, khi đang còn là Tổng tài đã mua của Lejeune bức họa trận đánh Marengo do chính Ngài chỉ huy. Tại Lodi, Somo-Sierra, Ngài ra trận như đứng làm mẫu của bức tranh sắp họa. Những nhân vật thể hiện rất sinh động được dùng làm nền, như cuộc tấn công vào tu viện Santa Engrada ở Saragosse nơi mà hai bên tàn sát lẫn nhau ở ngay trước mặt Đức Mẹ Đồng Trinh bằng đá trắng. Cái giữ lại trong sự sáng tạo đó chính là tác phẩm được Ả Rập hóa, mái vòm được mô tả tỉ mỉ, tháp vuông, bầu trời. Bức tranh mô tả trận Aboukir đượm một thứ ánh sáng sắc màu sống sượng trên bán đảo, thứ nhiệt năng làm cho những sắc màu xám, vàng run rẩy. Louis-François không nhìn những người tính trong cơn say chuếnh choáng, mà chiêm ngưỡng những đường nét của cung điện Pallavincini và mảng tường phía trước cung điện Trautson, nó gợi lại hình dáng cung điện Palladio. Tình yêu muôn thuở về cái đẹp đưa Louis-François đến với Henri Beyle, và tình thân của họ cũng nảy sinh từ đó mà cuộc chiến cũng như sự xa cách không bao giờ chia cắt được.

– Chúng ta đến nơi rơi, Lejeune nói khi họ vào đến khu phố thanh nhã nhất Jordangasse.

Đột nhiên, khi đến chỗ ngoặt một con phố, con ngựa của Lejeune bỗng chồm lên. Đằng kia, trước ngôi nhà màu hồng, một đám long kị binh đang ra vào nhộn nhịp, trên tay chúng ôm từng súc vải, chén đĩa, bình lọ, thịt hun khói, chất đống lên một chiếc xe cũ rích của quân đội. “A, lũ bẩn thỉu!”, Lejeune thét lên, thúc ngựa nhảy xổ vào giữa đám trộm cướp. Quá ngạc nhiên, bọn chúng làm rơi chiếc két sắt vỡ toang. Một gã trong bọn chúng bị rơi mất mũ vì trận xô đẩy nhau, một tên khác bị quăng vào tường. Henri thúc ngựa, tiến lại gần. Lúc này, Lejeune vẫn trên lưng ngựa, nhưng đã có mặt ngay trước tiền sảnh đang vung tay giơ chân phân phát roi ngựa và giày đinh.

– Thành phố là của chúng ta, thưa ngài sĩ quan! - Một tên lính thiết kị mặc áo capote cắt may bằng len thô theo kiểu áo của tu sĩ Tây Ban Nha nói. Hắn cuỗm từ giày đinh thúc ngựa đến giày dép bằng cói đan và có vẻ quyết tâm theo đuổi mớ của cải ăn cướp được.

– Nhưng không phải là ở ngôi nhà này! Lejeune thét lên.

– Tất cả thành phố chứ ngài Sĩ quan!

– Cuốn xéo khỏi đây ngay nếu không tao đập vỡ sọ mày ra!

Lejeune cầm chắc khẩu súng ngắn trong tay, chĩa vào trán kẻ xấc láo, gã này không những không sợ hãi mà còn cười cợt:

– Nào, bắn đi Đại tá!

Lejeune nện một nòng súng rất mạnh vào hắn, rồi một cú khác cũng không kém trúng vào má, làm gãy ba chiếc răng, máu me nhoe nhoét, và rồi anh rút phắt kiếm ra, nhưng những người xung quanh đã vây bọc lấy Lejeune, giữ chặt cổ tay anh.

– Cuốn xéo ngay! Cuốn xéo ngay! Lejeune hét tướng lên, giọng khản đặc.

– Nếu ra mặt trận, ông Sĩ quan ạ, đừng bao giờ xoay lưng lại phía tôi đấy! Tên tính cao lớn quai hàm tứa máu gầm lên.

– Biến ngay ra ngoài đi! Biến ra ngoài mau lên! Lejeune vừa nói vừa quất roi lung tung lên đầu, lên lưng những ai ở cạnh.

Đám tính tráng trộm cướp bỏ vị trí bị tàn phá ra đi, để lại phần lớn chiến lợi phẩm cướp được. Chúng leo lên ngựa hoặc bám vào những chiếc xe cà khổ đang chuẩn bị khởi hành. Tên tính thiết kị cao lớn mặc quân phục màu nâu, xưng danh là Fayolle giơ nắm đấm dứ dứ, vừa đi vừa ngoác mồm ra chửi.

Lejeune giận run lên, cuối cùng anh nhảy xuống đất, buộc ngựa vào chiếc vòng ở cửa mở ra thềm cầu thang. Một Thiếu úy tóc tai bù xù, không mặc áo vét, buông mình trên chiếc ghế băng nhỏ, thở hổn hà hổn hển. Đó là người lính hầu cận của Lejeune; anh ta đã không thể nào can thiệp chống lại được đám lính tráng tham lam khùng điên kia. Henri gặp lại hai người tại căn phòng hẹp dài ngoẵng và trang bị rất sơ sài.

– Bọn chúng đã leo lên các tầng trên à?

– Vâng, thưa Đại tá.

– Thế cô Krauss thế nào?

– Hiện đang ở cùng với các em gái và người quản gia, thưa Đại tá.

– Thế Périgord có ở đấy không?

– Trên phòng ông ấy ở tầng một, thưa Đại tá.

Lejeune leo vội lên chiếc cầu thang chính dốc đứng, theo sau là Henri, trong khi đó người sĩ quan cần vụ nhặt nhạnh số thực phẩm mà đám long kị binh bỏ lại.

– Périgord!

– Vào đi, ông bạn của tôi. Một giọng nói vang lên trong dãy hành lang trống trơn.

Lejeune và liền đó là Henri bước vào một phòng khách rộng không còn một thứ đồ đạc nào nữa, phía trước một cái giá gương đứng khung màu gụ, Edmond de Périgord trong chiếc quần màu đỏ, cởi trần, đang chải bộ ria với sự giúp sức của một gia nhân béo múp míp, má xệ, đội tóc giả, mặc chế phục đeo quân hiệu bạc.

– Périgord! Cậu để cho đám ác ôn vào nhà cướp bóc đấy à?

– Lũ súc sinh ấy cần phải xả hơi một chút trước khi nhảy vào lửa…

– Xả hơi!

– Đúng là một sự xả hơi theo lối thú vật. Họ đói khát, ông bạn yêu quý của tôi ạ. Họ không giàu có gì và họ biết chắc rằng họ đã bị kết án tử hình rồi.

– Bọn chúng có leo lên tầng cô Krauss không?

– Yên tâm đi Louis-François! Périgord vừa nói vừa kéo người đồng nghiệp của mình vào phòng đợi ở tầng một. Có hai lính long kị đang phơi xác trên chiếc cầu thang thứ hai dẫn lên các tầng trên.

– Bọn thộn đó muốn khoắng một ít của cải ở tầng trên, Périgord nói giọng mệt mỏi. Tôi đã cấm nhưng bọn chúng cố tình xông vào…

– Thế cậu đã giết bọn chúng à?

– Ồ không, tôi không nghĩ như vậy. Bọn chúng đã hứng trọn một chiếc ghế bay vào mặt. Tin tôi đi, ông bạn ạ, mấy chiếc ghế đó nặng khủng khiếp. Kết cục là chúng bị ngã và bị vặn gãy cổ, tôi chưa đến gần nên chưa biết rõ thế nào. Nhưng mà tôi sẽ cho dọn đi ngay bây giờ.

– Cám ơn.

– Có gì đâu, ông bạn yêu quý. Sự tao nhã tự nhiên của tôi đối với phụ nữ cũng nhiều đấy.

Henri ngạc nhiên đôi chút trước khung cảnh anh vừa chứng kiến, rồi lại tiếp tục đi theo người bạn lúc này đang chạy trên cầu thang rồi theo lối hành lang tới một cánh cửa dày, Lejeune vừa gõ cửa vừa gọi:

– Tôi đây, Đại tá Lejeune đây…

Périgord lồng vội chiếc áo ngủ dài tay bằng lụa gấm, chạy đến chỗ hai người, một bên ria mép của anh ta dựng lên. Trong lúc Lejeune gõ cửa đứng chờ thì Périgord nói chuyện với Henri cứ như trong một đêm biểu diễn ở Trianon:

– Cướp phá là một phần của chiến tranh, anh có tin thế không?

– Tôi không muốn tin chuyện đó, Henri nói.

– Anh nhớ câu chuyện về người cựu binh Antoine chỉ huy chiến dịch Arméni chứ ? Ông ta đã chặt chân bức tượng nữ thần Anaïtis bằng vàng rồi mang luôn cái chân đi. Sau khi rời quân ngũ, ông ta bán lại cái chân nữ thần đó, rồi mua cho mình một ngôi nhà ở Bologne, rồi đất, rồi nô lệ… Anh bạn của tôi ơi, có bao nhiêu lính lê dương La Mã trở về cùng với vàng ăn cắp được ở phương Đông? Thứ của cải đó giúp cho công nghiệp và nông nghiệp vùng đồng bằng sông Pô phát triển đó. Hai mươi năm sau trận Actium, cái vùng đó trở nên thịnh vượng…

– Thôi đủ rồi Périgord, Lejeune nói. Chấm dứt cái câu chuyện lịch sử của ông được rồi đấy!

– Đó chính là vùng Pline đấy.

Cuối cùng, cửa mở, trước cửa là một người đàn bà có tuổi đeo dải băng trắng. Vốn sinh ra ở Strasbourg nên Lejeune nói được tiếng Đức, anh và bà quản gia nói với nhau bằng thứ ngôn ngữ này nên chỉ có Đại tá hiểu được và cảm thấy yên tâm; Lejeune ra hiệu cho, Henri đi theo mình vào phòng.

– Thôi anh vào đi, Périgord nói. Quần áo của tôi lôi thôi, bất tiện quá, vả lại, tôi vừa trình diện ban nãy rồi.

* * *

Anna Krauss, mười bảy tuổi, tóc rất đen và mắt rất xanh. Cô gập quyển sách dường như đang đọc lại, ngẩng lên khi hai người tiến đến bên cô, cô ngồi bên mép ghế sofa để xỏ chân vào đôi xăng đan kiểu La Mã rồi nhẹ nhàng đứng lên. Chiếc váy dài bằng vải percale[10] mịn màng của Ân Độ, mỏng tang và được thêu hoa nhài; một chiếc kẹp giả cổ giữ ngay ngắn chiếc áo đăng ten trên bờ vai tròn trịa; đôi bàn tay không trang sức, dáng ngồi chênh vênh nhưng vững chãi, thân hình mảnh mai nhưng cặp mông chắc lẳn; khi đứng ngược sáng, những đường cong mềm mại của cơ thể cô gái hiện rõ qua làn áo váy mỏng manh, cô gái nổi bật như một bức họa phúng dụ lạc lõng giữa cuộc chiến tranh tàn khốc. Lejeune nhìn cô gái, mắt đẫm lệ, anh đã rất lo lắng sợ hãi. Họ nói với nhau bằng tiếng Đức, giọng nói thì thào đủ cho hai người nghe. Henri lùi lại sau một chút, mồ hôi túa ra đầm đìa hai bên thái dương, hai má như có lửa đốt, mắt nhìn không chớp. Người anh nóng rực, rồi lại lạnh toát. Henri đứng không dám cựa quậy, ngây người chiêm ngưỡng Anna Krauss; gương mặt hình ô van kiểu Ý của nàng rất giống một bức họa màu phấn của Rosalbe Carriera mà mới đây anh đã được chiêm ngưỡng tại nhà một người sưu tập tranh ở Hambourg; anh đánh giá rất cao bức tranh, nhưng ở đây sự mịn màng cửa làn da cô gái lúc này là hiện thực, dù ánh sáng mặt trời luồn qua cửa kính đã làm dịu bớt sự mịn màng đó.

Một lúc sau, Lejeune quay lại phía Henri, dịch cho anh ta nghe cuộc đối thoại. Dù Henri đã hai năm ở Brunswick, nhưng ở đó mọi người đều nói tiếng Pháp với anh, còn với những người hầu, Henri chỉ cần ra hiệu khi yêu cầu một việc gì đó và không cần phải nghe trả lời. Henri không làm sao quen được với thứ ngôn ngữ trúc trắc khó hiểu đó.

– Tớ nói với nàng rằng thứ Sáu này tớ sẽ đến chỗ những người làm cầu trên sông Danube, rồi sau đó đến làm việc ở Bộ Tham mưu, để lập đồn trên đảo Lobau.

– Ừ, Hènri đáp.

– Tớ cũng nói với nàng là trong khi tớ đi vắng, cần phải có ai đó thật tin cậy để bảo vệ ngôi nhà đề phòng đám du đãng mà quân đội ta mang theo có khả năng quay lại…

– Bọn du đãng, à… ừ.

– Tớ nói với nàng cậu sẽ đến ở đây bởi vì cậu, cậu ở lại Vienne mà.

– Ơ

– Cậu không đồng ý à, Henri?

– Đồng ý.

– Không thể để cô ấy ở một mình ở thành phố bị chiếm đóng nhốn nháo này!

– Không thể…

Henri không tìm ra từ để diễn đạt đành phải nhắc lại, nhấn mạnh vào đầu mỗi câu nói của bạn.

– Cậu có nhiều đồ đạc lắm không?

– Đồ đạc…

– Henri, cậu có nghe tớ nói không đấy?

Anna Krauss cười rất tự nhiên, phải chăng cô gái muốn nhạo báng anh chàng cao lớn mặt mày đang đỏ rựng này? Có chút âu yếm nào trong sự nhao báng đó không? Một chút thiện cảm nào không? Nàng có yêu Lejeune không? Lejeune nắm lấy vai Henri lắc lắc.

– Cậu ốm đấy ư?

– Ốm ư?

– Giá mà cậu nhìn được mặt cậu lúc này nhỉ!

– Không, không, ổn mà…

– Thế thì trả lời tớ đi chứ, cái thằng ngớ ngẩn này! Cậu có nhiều hành lý không?

– Một quyển Ngữ pháp tiếng Ý của Vénéroni-Gattel, cuốn Homère của Bitanbé, Condorcet, Cuộc sống của Alfieri, hai ba bộ quần áo, rồi ít đồ vặt vãnh…

– Tuyệt! Bảo gia nhân cửa cậu mang tất cả những thứ đó lại đây vào sáng mai.

– Thằng ấy nó đã bỏ rơi tớ rồi.

– Không có tiền trả à?

– Ít tiền quá.

– Thôi, tớ sẽ thu xếp chuyện đó.

– Cần phải thuyết phục Daru đồng ý.

– Rồi ông ta sẽ đồng ý thôi. Thế cậu chấp nhận chứ?

Tất nhiên rồi Louis-François…

Lejeune lược dịch lại đoạn trao đổi đó cho Anna Krauss nghe, hình như Anna chỉ nắm được những điểm cơ bản thôi rồi vỗ tay tán thưởng như trong một buổi hòa nhạc. Henri, vẫn đứng bất động, trong thâm tâm quyết định sẽ học nghiêm chỉnh môn tiếng Đức, bởi vì từ nay, anh đã có một lý do xác đáng cho việc đó. Rồi Anna Krauss nói với Henri bằng thứ ngôn ngữ khó hiểu, anh chỉ phân biệt được trong lời nói đó một sự hài hòa của âm thanh còn ý nghĩa thì đành chịu.

– Louis-François, nàng nói cái gì thế?

– Nàng mời chúng ta uống trà.

* * *

Đêm đã khá khuya, vì Lejeune nhận được mệnh lệnh phải về Schönbrunn ngay với Berthier, nên Henri chấp nhận lời mời của Périgord đi dạo một vòng thành Vienne; thực ra thì anh hi vọng moi được một vài chi tiết về đời tư của Anna, bởi đó là điều duy nhất ám ảnh trong đầu anh suốt từ chiều. Lejeune trao cho người bạn một bó tiền giả Daru biếu. Nhờ thế, Henri mới mời được Périgord, một kẻ lắm lời, nhưng thông thuộc đường phố và cư dân ở đây vì đã có thời gian lưu lại thành phố này, cả hai đi đến quán cà phê Hugelmann nằm bên bờ sông Danube với những cây cầu bị phá sập. Không có một bóng người ra tắm sông, mặc dù thời tiết nóng bức, không có xà lan, không có thủy thủ Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng có nhiều binh lính. “Trong thời bình, Périgord nói, những chiếc thuyền buồm màu sắc sặc sỡ sẽ đưa anh đi dạo chơi trên sông, nhưng bây giờ một số thuyền bè bị chúng ta trưng dụng, số còn lại thì bị bọn Áo đánh đắm”. Henri coi thường tay chơi bi-a người Hungari nổi tiếng trong quán cà phê, y vừa được mọi người vỗ tay tán thưởng. Giữa thời điểm chiến tranh rối bời mà hắn vẫn có thể thọc hàng giờ liền những viên bi mà không hề mất một điểm nào, những trò chơi đó cuối cùng làm cho hai người bạn Pháp của chúng ta mệt mỏi; họ đành rời quán cà phê đi về hướng Prater gần đó, nằm trong thị trấn Léopold.

Périgord mặc một chiếc áo lông có dải màu vàng óng, ống quần cụt đen nhét vào trong ủng và để tránh những sự cười cợt ngô nghê dành cho mình, anh cho Henri mượn một con ngựa ngon lành. Gần đây, ở Tây Ban Nha, một số ngựa tốt của anh đã bị bắt trộm, cho nên Périgord phải giao việc trông coi ngựa cho một anh lính rất trẻ, còn họ thì ngồi nhấm nháp mấy con tôm. Ngoan ngoãn, cậu lính trẻ kiên nhẫn chờ đợi họ.

– Rất tốt! Périgord khen ngợi người lính trông ngựa. Tên cậu là gì?

– Khinh binh Padaris, thưa ngài, thuộc sư đoàn 3 của Tướng Molitor và thực thi những mệnh lệnh trực tiếp của Thống chế Masséna!

Périgord nhét mấy đồng florin vào chiếc áo vareuse của người lính rồi nói với Henri lúc này có vẻ như đang suy nghĩ một điều gì đó rất hệ trọng, như có một mối lo đè nặng:

– Gia nhân của tôi sẽ đến lấy đồ đạc của anh vào ngày mai, anh Beyle ạ, đừng lo lắng gì cả.

– Anh quen Anna Krauss à?

– Tôi ở nhà cô ta từ ba ngày nay, à không, hai thôi, cuối cùng thì kẻ tò mò như tôi và trong hắng như cô ấy thì…

– Gia đình cô ta thế nào?

– Ông bố là một nhạc công. Một người gần gũi với ông Haydn.

– Giờ ông ta ở đâu?

– Ông ấy đi theo triều đình François d’Autriche lánh nạn đâu đó ở Bohême, có người nói vậy, nhưng mà chả biết có chắc chắn không.

– Thế còn mẹ cô ấy?

– Tôi nghĩ bà ấy mất rồi. Bà ấy bị bệnh phổi.

– Như vậy cô Krauss ở lại Vienne một mình thôi à?

– Cùng với mấy cô em gái và bà quản gia già.

– Ông bố đã bỏ rơi cô ấy giữa lúc cuộc chiến ác liệt thế này sao?

– Anh bạn thân mến ơi, dân thành Vienne không coi cái gì là quan trọng cả. Thế này nhá: vì thấy ngày thứ Hai thì buồn thảm, làm phí hoài cả ngày Chủ nhật, nên họ biến ngày thứ Hai thành ngày nghỉ. Sáng kiến không tồi đấy chứ, có phải không nào?

– Anh có tin Lejeune đang si tình không?

– Về dân thành Vienne ư?

– Ồ không, về cô gái này cơ.

– Tôi không rõ lắm, nhưng những triệu chứng thì không dối lừa, luôn bồn chồn, luôn lo lắng, đôi khi gần như ngất xỉu. Với anh cũng vậy, thực tế thì, cô ta đã tạo ra được những lo âu, phập phồng, hồi hộp.

– Đừng có nói về tôi, thưa anh…

– Thôi, thôi, thôi! Anh chẳng thể làm được cái gì ở đó cả đâu, tôi cũng vậy, nhưng chiến trận hứa hẹn nhiều điều tốt đẹp hơn giữa hai anh, hơn cả giữa chúng tôi và quân đội của Quận công Charles! Anh thấy đấy, cái mà tôi không thích, hoàn toàn không thích, trong mọi cuộc chiến tranh, chính là sự bẩn thỉu, ăn mặc xộc xệch, bụi bặm, thô lỗ, những vết thương lở loét. Nhưng một khi trở về nguyên vẹn, đúng vậy, người lính sẽ nổi bật trong những quán bar, khiêu vũ với những nàng Công tước rởm hoặc là với những cô chủ nhà băng đích thực…

Họ đi trên những lối mòn đầy cát ở Prater. Những cây lớn đã bị chặt trụi để dựng tuyến phòng thủ tạm bợ. Trên những thảm cỏ là những chòi canh, những ngôi nhà nhỏ, những lều trại, những ki-ốt của Hoa kiều, một ngôi nhà nghỉ Thụy Sĩ, những cái lều hoang, một nơi giải trí ngổn ngang đồ đạc mà một bộ phận dân cư pha tạp đến từ trên khắp hành tinh thường lui tới; tại đây, đàn ông, đàn bà thành Vienne sát cánh bên những người Bohème, Ai Cập, Codắc, Hy Lạp; Hoàng đế François cũng thường xuyên đến đây dạo chơi và không mang theo tùy tùng, Ngài ngả mũ chào các thần dân của mình như một nhà tư sản. Buổi tối, vào mùa hè, côn trùng từng đám tấn công. Périgord tếu táo kể: “Một ngườỉ Đức mới đây giải thích cho tôi hay rằng nếu không có những con côn trùng đó thì tình yêu sẽ gây nên nhiều tai họa ở đây”.

Họ đi chầm chậm trước một ngôi nhà lưu động, nơi đang diễn ra một cảnh diễn lạ lùng với các vai được phân đều cho những con rối và những người lùn, phía đối diện là khán đài đầy lính Pháp và quân đồng minh đang ngồi bệt dưới đất, trong đám lính tráng ấy, phần đông không hiểu gì về nội dung lời thoại, nhưng thưởng thức vở diễn bằng cách nhận biết qua diễn xuất của diễn viên, những người bằng xương bằng thịt và những diễn viên bằng gỗ .

– Họ diễn vở gì vậy? Henri hỏi.

– Họ diễn kịch Shakespeare, anh bạn thân mến ạ. Cứ nhìn cái chú nhỏ với bộ râu giả và vương miện bằng bìa các tông kia kìa, chú ta nổi tiếng trong món độc thoại đó: “Ta lo sợ cái gí? Lo sợ chính ta ư? (Périgord đọc và diễn lại cảnh đó:) Ta đơn thương độc mã ư ? Richard yêu Richard. Đây: Tôi là tôi. Có kẻ ám sát ở quanh đây ư? Không. Mà có: là tôi. Vậy nên hãy đi đi! Ta cũng phải chạy trốn ư? Nếu ta trả thù chính ta ư? Than ôi, ta yêu ta. Vì mọi điều tốt đẹp mà ta đã làm cho ta ư? Ồ không, ta hận ta vì mọi điều ghê tởm mà ta đã phạm phải!”.

– Còn tôi, Henri thở dài, tôi hận tôi vì không biết tiếng Đức!

– Yên tâm đi anh bạn thân mến của tôi ạ, tôi lắp bắp mấy câu đó nhưng cái tiêu đề của vở kịch được ghi rõ dưới tấm quảng cáo kia. Tôi còn thuộc lòng cả Richard III[11] kia mà.

Trên sân khấu, những thằng lùn và những con rối vùng vẫy xung quanh một cái ngai bằng gỗ sơn. Périgord nói thêm:

– Hồi V, cảnh 3.

* * *

Tại lâu đài Schönbrunn, trong phòng khách Laques, trên các bức tường trang trí đầy hoa và chim được dát vàng lộng lẫy, Napoléon đang vục tay vào trong chiếc hộp đựng thuốc lá bằng đồi mồi, lấy thuốc nhét vào tẩu. Trong bộ quần áo ngủ bằng vải mềm trắng, một chiếc khăn madras[12] cuốn tròn quanh đầu như kiểu khăn choàng bằng vải vùng Antilles, Ngài đang nghiên cứu bản đồ. Những chiếc đinh ghim có màu sắc khác nhau chỉ rõ vị trí hiện tại của các đơn vị, vị trí các kho lương thực thực phẩm, kho thức ăn gia súc hay kho giày dép và các dàn pháo…

– Ông Constant!

– Người hầu phòng số một, cao lớn, mí mắt sụp, liền lướt đến nhẹ như bay. Hoàng đế chỉ chiếc cốc và người hầu rót đầy rượu vang nguyên chất.

– Đưa món thịt gà của ta lại đây, ông Constant.

– Xin chờ một phút, thưa Bệ hạ.

– Lại chờ.

– Thưa Bệ hạ…

– Cái thằng Roustan quỷ quái lại ăn món thịt gà của ta giống đêm hôm trước rồi sao?

– Không, thưa Bệ hạ, món thịt gà đó đã được đậy cẩn thận trong chiếc giỏ liễu và tôi đã khóa rất cẩn thận rồi ạ…

– Sao nữa?

– Thưa Bệ hạ, Vương công Neuchâtel, ngài Tham mưu trưởng…

– Nói đơn giản xem nào ông Constant! Berthier làm sao?

– Ông ấy đang đợi Bệ hạ…

– À, ông già thô lỗ đó, là ta cho gọi đấy. Bảo ông ấy vào đi và nhớ cả món thịt gà của ta nữa!

Đĩnh đạc trong bộ quân phục lộng lẫy, được Lejeune theo sau tháp tùng, Tham mưu trưởng Berthier bước vào phòng, đặt chiếc mũ bicorne lên giá. Hoàng đế quay lưng về phía họ. Hai người nghe Napoléon đánh giá tình hình, ban hành mệnh lệnh, như đang độc thoại:

Hạm đội Anh đã có mặt ngoài khơi vịnh Naples rồi, bọn Tyrol thì nổi loạn, Vương công Eugène gặp một số khó khăn tại vương quốc Italy do ông ta cai quản, còn Giáo Hoàng thì trở nên bướng bỉnh. Đội quân thiện chiến nhất của chúng ta thì bị sa lầy ở Tây Ban Nha. Liệu ta có thể tin vào sự trung lập của Nga Hoàng về lâu dài không? Người Anh cung cấp tài chính cho những cuộc nổi loạn khắp mọi nơi. Tại Pháp, vẫn những tư tưởng chống đối, nhưng sự chỉ trích đã không còn chứa đựng những lời hỗn xược nữa. Talleyrand và Fouché, than ôi, những con người có khả năng đó, lại có mưu đồ thay thế ta bằng con rối Murat, nhưng ta sẽ kìm giữ chúng cũng như những kẻ khác bằng sự sợ hãi và bằng quyền lợi! Ngân khố tụt thấp, lính đào ngũ gia tăng rất nhiều, bọn hiến binh thì xích cổ bọn lính mới để đưa chúng tới các doanh toại và nơi đồn trú. Chúng ta thiếu hạ sĩ quan, cần phải thu nạp chúng ngay tại cổng trường trung học…

Hoàng đế xé một tỏi gà mà Constant vừa đặt xuống chiếc bàn màu đen rồi đưa lên miệng nhai ngấu nghiến, mỡ túa ra đầy cằm, vừa ăn vừa làu bàu:

– Các ông nghĩ gì về bức tranh thảm hại này ?

– Thật bất hạnh, bức tranh đó lại chính xác, thưa Hoàng đế! - Berthier đáp.

– Ái chà, cái đó thì ta quá biết rồi còn gì! Tà cần phải tìm ngay cái tay tham tàn Masséna và cưỡng bức cả Lannes nữa, lão ta đang hi vọng nghỉ ngơi trong những lâu đài của mình! Cầm mẩu xương gà trong tay, Napoléon chỉ hòn đảo Lobau trên tấm bản đồ lớn:

– Trong ba ngày nữa, chúng ta phải cắm chốt trên hòn đảo bẩn thỉu này. Cầu đường sao rồi?

– Cây cầu này sẽ được bắc qua sông Danube, Lejeune trả lời, vì Bệ hạ quyết định như vậy mà.

– Tốt, thứ Sáu, quân khinh kị binh của Molitor sẽ dồn về đây, dọn sạch đám tính Áo đần độn đang đồn trú trong những khu vực đó đi. Hãy lường trước cho đủ số lượng thuyền bè. Cùng thời gian đó đưa nguyên vật liệu đến Bredorf…

– Ebersdorf chứ, thưa Bệ hạ, Berthier chữa lại.

– Cẩn thận coi chừng cái mông của ông ấy! Ta đã hỏi ý kiến các ông rồi phải không? Ta nói đến cái gì rồi nhỉ?

– Bệ hạ đang nói về trang thiết bị, thưa Bệ hạ.

– Ừ, ngay lập tức phải bắc cầu treo trên nhánh sông chính nối đảo Lobau với phía bờ bên chúng ta. Kị binh của Lasalle lập tức phải tăng cường cho quân của Molitor khi số này vượt sông sang bờ trái chiếm hai khu làng.

– Essling và Aspem.

– Ừ thì thế nếu ông thích thế, Berthier! Đêm thứ Bảy, cây cầu lớn và một cái khác sẽ nối từ đảo vào bờ trái cần phải được xây dựng và đảm bảo chắc chắn .

– Tất cả sẽ được làm như vậy, thưa Bệ hạ.

– Chủ nhật, lúc hừng đông, lực lượng của chúng ta sẽ đến cắm chốt trong các khu làng bị tàn phá mà ta không hình dung được nó sẽ thế nào, lập phòng tuyến ở đó và chờ đợi. Quận công Charles sẽ nhận ra chúng ta và lão ta sẽ bừng tỉnh. Lão nghĩ ta là một kẻ ngu ngốc mới cho dồn hết quân xuống phía bờ sông. Lão quyết định tấn công. Masséna sẽ đón chào Charles bằng đại bác. Cùng với Lannes, Lasalle và Espagne, ông Berthier, ông chịu trách nhiệm thọc sâu vào trung tâm quân Áo, chia cắt lực lượng của chúng ra làm hai. Trong khi đó, Davout sẽ vượt cầu lớn với lực lượng dự bị, tăng cường thêm cho cuộc tấn công của các ông và chúng ta sẽ nghiến nát đám coglioni[13] này!

– Mong sao được như vậy, thưa Bệ hạ.

– Cuộc chiến sẽ là như vậy. Ta đã nhìn thấy nó và ta muốn như thế. Anh không nhận thấy thế sao, Lejeune?

– Tôi nghe Bệ hạ lập luận như thần và trong khi nghe, tôi đã học được rất nhiều điều.

Hoàng đế vung một cái tát rất mạnh vào má Lejeune, thể hiện sự hài lòng về câu trả lời hoàn toàn thực lòng chứ không phải một sự xỏ xiên. Bệ hạ rất ghét sự suồng sã và các ý kiến đóng góp, Ngài chỉ muốn đám sĩ quan cũng như những triều thần của mình luôn biết im lặng vâng lời. Lannes, Augereau là những người duy nhất dám nói chuyện thẳng thắn với Bệ hạ. Nếu không, Ngài đã thiết lập một vương triều gồm toàn những Vương công giả và Công tước rởm, những kẻ thỏa hiệp thô lỗ, xảo quyệt. Ngài chỉ đòi hỏi những kẻ dưới quyền biết luồn cúi để rồi ban thưởng cho lâu đài, tước vị và vàng bạc. Constant đi díu hai chân vào nhau ngay trước cửa phòng khách, làm cho Napoléon chú ý. Ngài càu nhàu:

– Cái vũ điệu mới này là cái gì vậy hả, ông Constant?

– Thưa bệ hạ, cô Krauss đã đến…

– Nói cô ta cởi quần áo ra rồi đợi ta…

Nghe cái tên Krauss, Lejeune cảm thấy không thể làm tròn bổn phận được nữa rồi. Cái gì vậy? Anna đến lâu đài Schönbrunn ư? Qua đêm trên giường của Hoàng đế ư? Không, không thể như thế được. Việc này có vẻ không phù hợp với Bệ hạ chút nào cả. Lejeune nhìn Hoàng đế ăn nốt miếng thịt gà rồi lau miệng lau tay vào tấm ri đô. Lejeune có thể làm gì được bây giờ đây? Chẳng làm được gì cả. Napoléon đã ra hiệu cho họ buổi làm việc kết thúc, nhưng cả Berthier và Lejeune cứ đứng đực ra như đám tay sai hèn hạ. Cuối cùng Lejeune vội xin phép trở về Vienne.

– Đi đi con trai của ta, Berthier trả lời như một ông bố. Còn đủ thời gian đấy, nhưng mà không nên phung phí sức lực, chúng ta đang cần có sức khỏe dẻo dai cho cuộc đấu.

Lejeune chào rồi đi ra rất nhanh. Berthier nhìn thấy Lejeune nhảy lên mình ngựa, thúc ngựa lao như bay. “Tuần tới chúng ta có còn sống sót nữa không đây?” Vị Tham mưu trưởng suy nghĩ.

Lejeune phi ngựa về tới ngôi nhà màu hồng ở khu phố Jordangasse. Anh nhảy bổ lên phòng Anna Krauss, đi thẳng vào phòng mà không gõ cửa, anh nín thở lặng lẽ tiến sát đến tận bên chiếc giường hình dáng như chiếc quách. Anna Krauss đang mơ màng trong giấc ngủ. Anna đang nằm đây, rạng ngời dưới ánh trăng hạ huyền, điềm nhiên và như đang mỉm cườỉ. Lejeune nghe rõ nhịp thở rất đều đặn của nàng. Anna bật ra một tiếng rên khe khẽ, duỗi chân vươn mình một chút nhưng không tỉnh giấc. Lejeune đẩy một chiếc ghế lại bên giường, xúc động nhìn nàng ngủ. Mãi về sau, anh mới biết cô gái đến thăm Hoàng đế hôm đó có họ là Kraus nhưng chỉ có một chữ s, còn tên riêng lại là Eva; đó là cô con nuôi của một ủy viên Hội đồng chiến tranh; một buổi sáng, trong lúc qua sân cung điện, Hoàng đế đã chú ý đến cô gái đó vì trong số rất nhiều phụ nữ với trang phục đủ sắc màu sống động, chỉ có mình cô ta bận quần áo màu đen như một điềm gở.

* * *

Henri cũng không thể nào nhắm mắt được trong căn phòng trọ ngoài thị trấn cùng với một phụ tá khác. Anh chàng này ngáy ầm ĩ. Dưới ánh nến, Henri chuẩn bị một chiếc hòm bằng da để ngày mai di chuyển đồ đạc. Anh lật giở từng trang của mỗi quyển sách trước khi xếp vào hòm và tình cờ lật đúng vào toang nói về Vụ chìm tàu của Alberti: “Chúng tôi không biết là chúng tôi phải đổi về hướng nào trong khoảng không mênh mông của biển cả, nhưng hình như có điều kì diệu là chúng tôi đã có thể thở được, đầu đã ngoi được lên khỏi mặt nước”. Những dòng chữ được viết ra từ thời Phục hưng này sao mà tương ứng tuyệt vời với hoàn cảnh của anh hiện nay đến thế. Lúc nãy, cùng với Périgord cầm đuốc đi tản bộ trong khu hầm mộ của nhà thờ Augustin, anh phát hiện ra những xác chết xếp chồng lên nhau, đứng ngồi, khô cong và nguyên vẹn một cách kì lạ, không hề bị thối rữa và cả hai đều nghĩ đến ông vua xứ Naples[14] đã thường xuyên nhổ nước bọt vào kẻ thù bị ướp xác, được sắp xếp như những con rối ở đây, vào cái thời mà một tay tên là Visconti đã huấn luyện chó ngao chuyên xé xác người, khi ở Ý bỗng dưng xuất hiện có người mọc nanh vuốt. Cuối cùng, Henri buông mình thư giãn trên tấm đệm thiu thiu ngủ được một lúc trước hừng đông, vẫn mặc nguyên cả quần áo, trong giấc ngủ, hình ảnh Anna Krauss dịu dàng luôn ám ảnh.

❀ ❀ ❀

[1] Mũ bicorne: loại mũ nhọn hai đầu.

[2] Golliot: một loại giày ống thấp dùng cho binh lính thời Napoléon.

[3] Khinh khí cầu: Đây chỉ một loại dụng cụ dùng khí cầu để đo độ sâu của lòng sông, hồ.

[4] Napoléon đôi lần nhầm lẫn Ebersdorf với Bredorf (Breddorf), hai thị trấn này đều thuộc Rotenburg—Đức.

[5] André Masséna: Công tước Rivoli (Duc de Rivoli), Hoàng tử Essling (Prince d’Essling) là một Thống chế của Napoleon. Được nhiều nhà sử học coi là một trong những chỉ huy bộ binh xuất sắc nhất trong lịch sử quân sự Pháp. Masséna có biệt danh là “đứa con yêu quý của chiến thắng” (I’Enfant chéri de la Victoire).

[6] Pierre Augereau: một Thống chế của Napoléon.

[7] Gênes: Tên một thành phố thuộc Italy (tiếng Itaty là Genova).

[8] Percheron: là một giống ngựa kéo xe có nguồn gốc ở các thung lũng sông Huisne ở miền tây nước Pháp, một phần của tỉnh Perche cũ mà từ đó các giống ngựa có tên của nó.

[9] Mamluk nghĩa là “tài sản” hay “nô lệ” của một vị vua; cũng chuyển tự thành mamluq, mameluk, mamaluke, marmeluke hay mamluke. Là một người lính nô lệ cải sang Hồi giáo và phục vụ các khalip Hồi giáo trong suốt thời kỳ Trung Cổ. Qua thời gian, họ trở thành một lực lượng quân sự mạnh mẽ thường đánh bại các đội quân Thập tự chinh châu Âu. Suốt thời đại Napoleon, có một quân đoàn Mamluk đặc biệt trong quân đội Pháp. Napoléon viết rằng ông đã mua từ các thương gia Syria khoảng 2000 chiến binh Mamluk những người mà ông định lập thành một biệt đội đặc biệt.

[10] Percale: tên một loại vải bông mịn, chất lượng cao

[11] Richard III: Tên vở kịch của Shakespeare mà đoàn múa rối đang diễn.

[12] Madras: một loại khăn đội đầu của phụ nữ.

[13] Tiếng Italy nghĩa là “khốn khiếp”.

[14] Ý chỉ vua Ferdinand I of Naples.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.