Hiếm khi nào những người bình thường như John và tôi lại có thể thuê được một tòa dinh thự cổ kính của dòng họ cho cả mùa hè.
Một dinh thự phong cách thuộc địa, một cơ ngơi truyền đời, hay đúng hơn là một ngôi nhà ma ám, và tôi sẽ đạt đến đỉnh cao của sự viên mãn lãng mạn — nhưng thế thì quá tham lam với số phận mất rồi!
Dẫu vậy, tôi vẫn phải kiêu hãnh tuyên bố rằng nơi này có điều gì đó kỳ lạ.
Bằng không, cớ sao giá thuê lại rẻ đến thế? Và cớ sao nó lại bỏ trống suốt lâu đến vậy?
John cười nhạo tôi, dĩ nhiên rồi, nhưng chuyện đó là hiển nhiên trong hôn nhân.
John thực tế đến cực đoan. Anh chẳng có chút kiên nhẫn nào với niềm tin, vô cùng khiếp sợ sự mê tín, và cớn nhả công khai trước bất kỳ lời bàn tán nào về những thứ không thể sờ thấy, nhìn thấy hay đong đếm bằng những con số.
John là một bác sĩ, và có lẽ — (tôi chắc chắn không đời nào nói điều này với một ai bằng xương bằng thịt, nhưng đây là những trang giấy vô tri và nó mang lại sự nhẹ nhõm lớn lao cho tâm trí tôi) — có lẽ đó là một lý do khiến tôi mãi chẳng thể khá lên nhanh hơn.
Bạn thấy đấy, anh ấy không tin là tôi đang bệnh!
Và người ta có thể làm gì đây?
Nếu một vị bác sĩ có uy tín lớn, lại chính là chồng của mình, cứ quả quyết với bạn bè và họ hàng rằng thực ra chẳng có chuyện gì xảy ra với người ta ngoài tình trạng suy nhược thần kinh tạm thời — một khuynh hướng cuồng loạn nhẹ — thì người ta phải làm sao đây?
Anh trai tôi cũng là một bác sĩ, và cũng có uy tín lớn, cũng nói y như vậy.
Thế là tôi uống thuốc chứa phốt-phát hoặc phốt-phít — loại nào đi nữa cũng vậy, rồi thuốc bổ, rồi đi du lịch, hít thở không khí, tập thể dục, và tuyệt đối bị cấm “làm việc” cho đến khi khỏe lại.
Cá nhân tôi thì không đồng tình với quan điểm của họ.
Cá nhân tôi tin rằng một công việc phù hợp, có sự hào hứng và đổi mới, sẽ làm tôi tốt lên.
Nhưng người ta biết làm thế nào đây?
Tôi đã từng viết một thời gian bất chấp sự ngăn cản của họ; nhưng việc đó vắt kiệt sức lực của tôi rất nhiều — vì cứ phải lén lút như thể làm chuyện mờ ám, nếu không sẽ vấp phải sự phản đối dữ dội.
Đôi khi tôi tưởng tượng rằng trong tình trạng của mình, nếu tôi ít gặp sự phản đối hơn, có nhiều mối quan hệ xã hội và sự kích thích hơn — nhưng John lại bảo điều tồi tệ nhất tôi có thể làm là nghĩ về tình trạng bệnh của mình, và tôi thú nhận rằng điều đó luôn làm tôi cảm thấy tồi tệ.
Thế nên tôi sẽ mặc kệ nó và nói về ngôi nhà.
Quả là một nơi đẹp đẽ tuyệt vời! Nó nằm hoàn toàn cô lập, lùi sâu hẳn vào phía trong so với con đường lớn, cách ngôi làng trọn vẹn ba dặm. Nó khiến tôi liên tưởng đến những chốn đồng quê nước Anh mà ta hay đọc thấy trong sách, bởi nơi đây có những hàng rào, bức tường, những chiếc cổng có khóa, và rất nhiều ngôi nhà nhỏ riêng biệt dành cho người làm vườn và những người khác.
Có một khu vườn vô cùng tuyệt diệu! Tôi chưa từng thấy khu vườn nào như thế — rộng lớn và râm mát, ngập tràn những lối đi viền cây hoàng dương, và hai bên là những giàn nho dài che rợp bóng với những chiếc ghế dài đặt bên dưới.
Cả những nhà kính nữa, nhưng giờ chúng đều đã vỡ nát cả rồi.
Tôi tin là đã có một rắc rối pháp lý nào đó, liên quan đến những người thừa kế và đồng thừa kế; dẫu sao thì nơi này cũng đã bỏ hoang nhiều năm nay rồi.
Tôi e rằng điều đó làm mất đi vẻ u linh của ngôi nhà; nhưng tôi chẳng bận tâm — có điều gì đó kỳ lạ ẩn giấu trong ngôi nhà này — tôi cảm nhận được điều đó.
Tôi thậm chí đã nói điều đó với John vào một buổi tối trăng sáng, nhưng anh bảo cái tôi cảm thấy chỉ là một luồng gió lùa, rồi đóng sầm cửa sổ lại.
Đôi khi tôi đâm ra tức giận John một cách vô lý. Tôi chắc chắn rằng trước đây mình chưa từng nhạy cảm như thế. Tôi nghĩ đó là do tình trạng thần kinh này gây ra.
Nhưng John bảo nếu tôi cứ cảm thấy như vậy thì tôi sẽ bỏ bê việc tự kiềm chế bản thân; thế nên tôi ráng nhủ lòng phải kìm nén — ít nhất là trước mặt anh ấy — và điều đó khiến tôi vô cùng mệt mỏi.
Tôi không thích phòng của chúng tôi chút nào. Tôi muốn một căn phòng ở tầng dưới, mở ra khoảng sân hiên và có hoa hồng phủ kín khung cửa sổ, cùng những tấm rèm chintz cổ điển xinh xắn làm sao! nhưng John kiên quyết không đồng ý.
Anh nói rằng ở đó chỉ có một khung cửa sổ và không đủ chỗ cho hai chiếc giường, lại chẳng có căn phòng nào gần đó dành cho anh nếu anh ở phòng khác.
Anh rất chu đáo, yêu thương tôi, và hầu như chẳng để tôi nhúc nhích mà không có sự chỉ dẫn đặc biệt nào.
Tôi có một thời gian biểu được kê toa cho từng giờ trong ngày; anh gánh vác mọi bận tâm thay tôi, thế nên tôi cảm thấy vô ơn một cách đê tiện khi không trân trọng điều đó nhiều hơn.
Anh nói chúng tôi đến đây hoàn toàn vì lợi ích của tôi, rằng tôi sẽ được nghỉ ngơi tuyệt đối và tận hưởng bầu không khí trong lành tối đa. “Việc tập thể dục của em phụ thuộc vào sức khỏe, em yêu,” anh nói, “và chuyện ăn uống phần nào phụ thuộc vào sự thèm ăn của em; nhưng không khí thì em có thể hấp thụ suốt mọi lúc.” Thế là chúng tôi chọn căn phòng nhà trẻ ở tận trên tầng cao nhất của ngôi nhà.
Đó là một căn phòng rộng rãi, lộng gió, chiếm gần như toàn bộ diện tích sàn, với những ô cửa sổ nhìn ra đủ mọi hướng, ngập tràn không khí và ánh nắng vàng rực rỡ. Thoạt nhìn, tôi đoán nơi này từng là phòng trẻ em, sau đó chuyển thành sân chơi và phòng tập thể dục; bởi các cửa sổ đều có chấn song dành cho trẻ nhỏ, và trên tường còn có những chiếc vòng cùng đủ thứ đồ đạc khác.
Lớp sơn và giấy dán tường trông như thể vừa bị một đám học sinh nghịch ngợm quậy phá. Giấy dán tường bị bóc tróc ra thành từng mảng lớn xung quanh đầu giường của tôi, tầm với cao nhất mà tay tôi có thể chạm tới, và cả một khoảng lớn ở phía bên kia phòng sát dưới sàn nhà. Tôi chưa từng thấy loại giấy dán tường nào tệ hại hơn thế trong đời.
Một trong những họa tiết loằng ngoằng, phô trương, phạm phải mọi quy tắc thẩm mỹ.
Nó đủ tối nghĩa để làm rối loạn đôi mắt khi dõi theo, đủ rõ rệt để liên tục gây bực bội và khiêu khích sự dò xét, và khi bạn lần theo những đường cong oặt oẹo, bấp bênh ấy một đoạn ngắn, chúng bỗng tự sát — lao vút đi ở những góc độ quái dị, tự hủy hoại trong những sự mâu thuẫn kỳ quái chưa từng thấy.
Màu sắc của nó thật khó ưa, gần như gây buồn nôn; một sắc vàng âm ỉ, dơ bẩn, bị ánh nắng nhạt phai nhuộm lên một cách kỳ lạ.
Đó là một màu cam vừa đục vừa rực lên một cách nham hiểm ở vài chỗ, một thứ sắc vàng lưu huỳnh bệnh hoạn ở những chỗ khác.
Thảo nào lũ trẻ lại căm ghét nó đến thế! Chắc tôi cũng sẽ ghét cay ghét đắng nếu phải sống trong căn phòng này lâu ngày.
John đang đến kìa, tôi phải cất cái này đi thôi — anh ấy rất ghét việc tôi viết lách dẫu chỉ một chữ.
Chúng tôi đã ở đây được hai tuần, và mãi từ ngày đầu tiên ấy đến giờ tôi mới lại có cảm giác muốn viết.
Bây giờ tôi đang ngồi bên cửa sổ, tận trên căn phòng nhà trẻ gớm ghiếc này, và chẳng có gì cản trở tôi viết bao nhiêu tùy thích, ngoại trừ việc thiếu sức lực.
John vắng nhà cả ngày, thậm chí cả một số đêm khi những ca bệnh của anh gặp rắc rối nghiêm trọng.
Tôi mừng vì ca bệnh của mình không nghiêm trọng!
Nhưng những rắc rối thần kinh này thực sự gây chán nản khủng khiếp.
John không hề biết tôi thực sự phải chịu đựng những gì. Anh chỉ biết rằng chẳng có lý do gì để mà đau khổ, và điều đó làm anh thỏa mãn.
Dĩ nhiên đó chỉ là bệnh thần kinh. Việc không hoàn thành bổn phận của mình dưới bất kỳ hình thức nào cứ đè nặng lên lòng tôi mãi!
Tôi vẫn hằng mong trở thành một chỗ dựa đắc lực cho John, một chốn nghỉ ngơi và an ủi thực sự, thế mà giờ đây tôi lại hóa thành một thứ gánh nặng tương đương!
Sẽ chẳng ai tin được rằng việc làm những điều nhỏ nhặt trong khả năng — như ăn vận chỉnh tề, tiếp khách và sai vặt — lại đòi hỏi một nỗ lực lớn đến thế.
Thật may là Mary chăm sóc đứa nhỏ rất khéo. Một đứa bé cưng làm sao!
Thế mà tôi lại chẳng thể ở bên thằng bé, nó làm tôi căng thẳng quá mức.
Tôi đoán là John chưa từng biết thế nào là căng thẳng trong đời. Anh cười nhạo tôi rất nhiều về bức giấy dán tường này!
Ban đầu anh định dán lại giấy cho căn phòng, nhưng sau đó anh bảo tôi đang để cho nó lấn át mình, và không gì tồi tệ hơn đối với một bệnh nhân thần kinh là đầu hàng những ảo tưởng như vậy.
Anh nói rằng sau khi thay giấy dán tường thì sẽ đến cái giường nặng nề, rồi những ô cửa sổ có chấn song, rồi cái cổng chắn đầu cầu thang, cứ thế tiếp diễn.
“Em biết là nơi này đang làm em tốt lên mà,” anh nói, “và thực tình thì, em yêu, anh chẳng có ý định tân trang lại ngôi nhà chỉ vì một hợp đồng thuê ba tháng.”
“Vậy thì xin anh hãy cho chúng ta xuống tầng dưới,” tôi nói, “dưới đó có những căn phòng xinh xắn làm sao.”
Rồi anh ôm tôi vào lòng, gọi tôi là cô ngỗng nhỏ may mắn, và bảo nếu tôi thích anh sẽ xuống tận tầng hầm rồi quét vôi trắng luôn cho bõ ghét.
Nhưng anh hoàn toàn đúng khi nói về những chiếc giường, cửa sổ và mọi thứ khác.
Đó là một căn phòng lộng gió và thoải mái như bất cứ ai có thể mong đợi, và dĩ nhiên, tôi sẽ không ng ngốc đến mức làm anh khó chịu chỉ vì một sự thất thường nhất thời.
Thực sự là tôi bắt đầu thấy quý căn phòng lớn này rồi, ngoại trừ cái thứ giấy dán tường gớm ghiếc kia.
Từ một ô cửa sổ, tôi có thể nhìn thấy khu vườn, những giàn nho thâm u đầy bí ẩn ấy, những khóm hoa dại mọc um tùm, những bụi cây và mấy thân cây sần sùi.
Từ ô cửa sổ khác, tôi thu vào tầm mắt một khung cảnh đáng yêu của vịnh nhỏ và chiếc cầu tàu riêng thuộc về điền trang. Có một con đường nhỏ râm mát dẫn từ nhà xuống tới đó. Tôi luôn tưởng tượng mình thấy mọi người đang đi dạo trong những lối đi và giàn nho chằng chịt này, nhưng John đã cảnh cáo tôi không được phép buông xuôi theo trí tưởng tượng dù chỉ một chút. Anh bảo với sức tưởng tượng phong phú và thói quen bịa chuyện của tôi, một điểm yếu thần kinh như vậy chắc chắn sẽ dẫn đến đủ thứ ảo tưởng kích động, và tôi nên dùng ý chí cùng sự minh mẫn của mình để kìm hãm xu hướng đó. Thế nên tôi đang cố gắng.
Đôi khi tôi nghĩ rằng giá như mình đủ khỏe để viết một chút thì nó sẽ giải tỏa bớt áp lực của những ý tưởng và giúp tôi được nghỉ ngơi.
Nhưng tôi nhận ra mình rất hay mệt mỏi mỗi khi thử làm điều đó.
Thật là nản lòng khi chẳng có chút lời khuyên hay sự đồng hành nào cho công việc của tôi. John bảo khi nào tôi thực sự bình phục, chúng ta sẽ mời Cợ chồng Anh họ Henry và Julia đến thăm một thời gian dài; nhưng anh bảo thả pháo hoa vào gối của tôi còn hơn là để những con người kích thích đó lảng vảng quanh tôi lúc này.
Ước gì tôi có thể khỏe lại nhanh hơn.
Nhưng tôi không được phép nghĩ đến điều đó. Tấm giấy dán tường này trông như thể nó thừa biết nó có sức ảnh hưởng độc hại nhường nào!
Có một vết lặp lại nơi họa tiết uốnõm oều như một chiếc cổ gãy và hai con mắt lồi trừng trừng nhìn bạn ngược đầu xuống.
Tôi đâm ra tức giận thực sự trước sự xấc láo và vẻ trường tồn của nó. Chúng bò lên bò xuống, bò sang hai bên, và những con mắt ngớ ngẩn, không thèm chớp ấy hiện diện ở khắp mọi nơi. Có một chỗ mà haiổ giấy không khớp với nhau, và đôi con mắt cứ chạy ngược chạy xuôi dọc theo đường kẻ, con này nằm cao hơn con kia một chút.
Tôi chưa từng thấy sự biểu cảm nào lớn đến thế ở một vật vô tri vô giác trước đây, và tất cả chúng ta đều biết chúng có nhiều biểu cảm đến nhường nào! Hồi nhỏ, tôi từng nằm thức giấc và tìm thấy nhiều niềm vui lẫn nỗi sợ hãi từ những bức tường trống cùng đồ đạc giản dị hơn hầu hết trẻ con có thể tìm thấy trong một cửa hàng đồ chơi.
Tôi nhớ cái nháy mắt đầy thiện cảm của những núm tay nắm trên chiếc tủ chè cổ to lớn của chúng tôi hồi xưa biết bao, và có một chiếc ghế luôn mang lại cảm giác như một người bạn vững chãi.
Tôi từng cảm thấy rằng nếu bất cứ món đồ nào khác trông quá hung dữ, tôi luôn có thể sà vào chiếc ghế đó và được an toàn.
Tuy nhiên, đồ đạc trong căn phòng này không tệ hơn là sự lạc điệu, bởi chúng tôi phải mang tất cả từ dưới lầu lên. Tôi đoán khi nơi này được dùng làm phòng chơi, họ đã phải dọn sạch đồ đạc trong phòng trẻ đi, và cũng chẳng có gì lạ! Tôi chưa từng thấy sự tàn phá nào kinh khủng như những gì lũ trẻ đã gây ra ở đây.
Giấy dán tường, như tôi đã nói trước đó, bị xé rách ở vài chỗ, và nó bám dai như đỉa đói — hẳn chúng vừa phải kiên trì vừa đầy căm hận mới làm được vậy.
Rồi sàn nhà thì bị cào xước, khoét lõm và tươm vả, lớp vữa trát tường cũng bị đục khoét chỗ này chỗ nọ, và chiếc giường lớn nặng nề này, thứ duy nhất chúng ta tìm thấy trong phòng, trông như thể vừa trải qua những trận chiến tơi bời.
Nhưng tôi chẳng màng đến mấy thứ đó chút nào — ngoại trừ tấm giấy dán tường.
Em gái của John đang tới kìa. Quả là một cô bé đáng yêu, và lại vô cùng chu đáo với tôi! Tôi không được để cô ấy bắt gặp mình đang viết.
Cô ấy là một người nội trợ hoàn hảo, đầy nhiệt huyết, và chẳng mong ước nghề nghiệp nào cao sang hơn thế. Thật lòng tôi tin rằng cô ấy nghĩ chính việc viết lách đã làm tôi phát bệnh!
Nhưng tôi có thể viết lúc cô ấy ra ngoài, và ngắm nhìn cô ấy từ xa qua những khung cửa sổ này.
Có một khung cửa hướng ra con đường cái quan, một con đường uốn lượn rợp bóng mát đáng yêu, và một khung cửa khác chỉ nhìn phóng khoáng ra khoảng không gian bao la của miền quê. Quả là một vùng quê tuyệt diệu, ngập tràn những hàng cây du lớn và những thảm cỏ nhung mượt mà.
Tấm giấy dán tường này có một thứ họa tiết chìm với sắc thái khác, một thứ cực kỳ khó chịu, bởi bạn chỉ có thể nhìn thấy nó dưới những luồng ánh sáng nhất định, và lúc đó cũng chẳng rõ ràng cho lắm.
Nhưng ở những chỗ không bị phai màu, và nơi ánh mặt trời chiếu rọi vừa vặn, tôi có thể nhìn thấy một hình thù kỳ lạ, khiêu khích, vô định hình nào đó, dường như đang lủi thủi ẩn nấp đằng sau lớp họa tiết chính ngớ ngẩn và dễ thấy kia.
Em chồng đang ở trên cầu thang rồi!
Thế là ngày Quốc khánh đã qua! Mọi người đã về và tôi thì kiệt sức. John nghĩ rằng việc gặp gỡ một vài vị khách có thể làm tôi khá hơn, thế nên chúng tôi vừa mời mẹ, Nellie và bọn trẻ đến chơi trong một tuần.
Dĩ nhiên tôi chẳng phải động tay vào việc gì. Jennie lo liệu mọi thứ bây giờ.
Nhưng dù sao thì nó vẫn làm tôi mệt mỏi.
John bảo nếu tôi không mau chóng hồi sức, anh ấy sẽ tống tôi đến chỗ Weir Mitchell vào mùa thu.
Nhưng tôi hoàn toàn không muốn đến đó chút nào. Tôi có một người bạn từng rơi vào tay ông ta, và cô ấy bảo ông ta y chang như John và anh trai tôi, chỉ có điều là còn tệ hơn thế!
Hơn nữa, đi một quãng đường xa như vậy là cả một vấn đề lớn.
Tôi cảm thấy chẳng đáng để nhón tay làm bất cứ việc gì, và tôi đang trở nên cáu kỉnh và hay hờn dỗi một cách khủng khiếp.
Tôi khóc vì những chuyện không đâu, và khóc gần như suốt thời gian.
Dĩ nhiên là tôi không khóc khi có John ở đây, hay bất kỳ ai khác, mà chỉ khóc lúc một mình.
Và dạo này tôi ở một mình khá nhiều. John thường xuyên bị giữ lại thị trấn vì những ca bệnh nặng, còn Jennie thì tốt bụng và để mặc tôi một mình khi tôi muốn thế.
Thế nên tôi đi dạo một chút trong vườn hoặc dọc theo con đường nhỏ xinh xắn ấy, ngồi ngoài hiên dưới giàn hoa hồng, và nằm dài trên căn phòng này khá nhiều.
Tôi thực sự bắt đầu thấy quý căn phòng này bất chấp bức giấy dán tường. Có lẽ là vì bức giấy dán tường ấy chứ.
Nó cứ ám ảnh mãi trong tâm trí tôi!
Tôi nằm đây trên chiếc giường to lớn bất động này — tôi tin là nó đã được đóng đinh xuống sàn — và ngắm nghía bức họa tiết đó hàng giờ liền. Tôi đảm bảo với bạn là nó chẳng khác gì tập thể dục cả. Giả sử tôi bắt đầu từ dưới đáy, ở góc phòng đằng kia nơi chưa bị chạm tới, và tôi tự nhủ lòng lần thứ một nghìn rằng mình sẽ lần theo bức họa tiết vô nghĩa lý đó đến một cái kết nào đó.
Tôi hiểu một chút về nguyên lý thiết kế, và tôi biết thứ này không được sắp xếp theo bất kỳ quy luật bức xạ, hay xen kẽ, hay lặp lại, hay đối xứng nào, hoặc bất cứ thứ gì khác mà tôi từng nghe qua.
Dĩ nhiên nó được lặp lại qua các khổ giấy, nhưng ngoài ra thì không còn gì khác.
Nhìn theo một hướng, mỗi khổ giấy đứng độc lập, những đường cong và nét uốn lượn sưng phúp — một dạng “kiểu Rô-man suy đồi” mắc chứng cuồng sảng rượu chè — cứ lạch bạch bò lên bò xuống trong những cột khờ khạo đơn độc.
Nhưng mặt khác, chúng kết nối với nhau theo đường chéo, và những đường viền ngoằn ngoèo tuôn trào thành những con sóng xiên xẹo đầy kinh hoàng về mặt thị giác, giống như một đám rong biển đang ngụp lặn bơi đuổi theo nhau.
Toàn bộ bố cục cũng chuyển động theo chiều ngang nữa, ít nhất là có vẻ thế, và tôi vắt kiệt sức mình trong nỗ lực phân biệt trật tự chuyển động của nó theo hướng đó.
Người ta đã dùng một khổ giấy ngang làm diềm trang trí, và điều đó càng làm tăng thêm sự rối rắm một cách kỳ diệu.
Có một góc phòng nơi nó vẫn gần như nguyên vẹn, và ở đó, khi ánh sáng chéo phai dần và mặt trời thấp rọi thẳng vào, tôi suýt có thể tưởng tượng ra sự bức xạ sau tất cả — những hình thù quái dị vô tận dường như tụ hội quanh một tâm điểm chung và lao vút đi trong những cú lao đầu đầy hỗn loạn như nhau.
Việc dõi theo nó làm tôi mệt mỏi. Chắc tôi phải chợp mắt một lát đây.
Tôi không biết tại sao mình lại phải viết những điều này.
Tôi không muốn thế.
Tôi không cảm thấy mình đủ sức.
Và tôi biết John sẽ cho là nó ngớ ngẩn. Nhưng tôi phải bày tỏ những gì mình cảm nhận và suy nghĩ bằng một cách nào đó — thật là nhẹ nhõm biết bao!
Nhưng nỗ lực bỏ ra đang dần lớn hơn cả sự nhẹ nhõm mà nó mang lại.
Giờ đây, một nửa thời gian tôi vô cùng lười biếng, và nằm ườn ra suốt.
John bảo tôi không được để mất sức, và bắt tôi uống dầu gan cá tuyết cùng vô số thuốc bổ cùng nhiều thứ khác, chưa kể đến bia, rượu vang và thịt tái.
John tội nghiệp! Anh ấy yêu tôi rất nhiều, và rất ghét việc thấy tôi bệnh. Tôi đã cố có một cuộc trò chuyện thật nghiêm túc và hợp lý với anh ấy hôm trước, để nói cho anh biết tôi ao ước nhường nào việc anh để tôi đi thăm Cợ chồng Anh họ Henry và Julia.
Nhưng anh nói tôi không đủ sức đi, cũng chẳng đủ sức chịu đựng khi đến nơi; và tôi đã không đưa ra được một lý lẽ thuyết phục cho lắm, bởi tôi đã khóc trước khi nói xong.
Việc suy nghĩ rành mạch đang dần trở thành một nỗ lực lớn đối với tôi. Chắc chỉ vì căn bệnh suy nhược thần kinh này thôi, tôi đoán thế.
Và John thân yêu đã ôm trùm lấy tôi, bế thốc tôi lên lầu rồi đặt tôi nằm lên giường, ngồi bên cạnh và đọc sách cho tôi nghe đến mức đầu óc tôi mệt nhoài.
Anh nói tôi là cục cưng, là niềm an ủi và là tất cả những gì anh có, rằng tôi phải chăm sóc bản thân vì anh, và giữ gìn sức khỏe.
Anh bảo không ai ngoài chính tôi có thể cứu tôi khỏi tình trạng này, rằng tôi phải dùng ý chí và sự tự kiểm soát để không để bất kỳ ảo tưởng ngớ ngẩn nào cuốn đi.
Có một điều an ủi là đứa nhỏ vẫn khỏe mạnh, vui vẻ, và không phải chung đụng căn phòng nhà trẻ này với bức giấy dán tường kinh khủng.
Nếu chúng ta không dùng nó thì đứa bé diễm phúc kia đã phải ở đây rồi! Thật là một phen thoát nạn may mắn làm sao! Chứ đời nào tôi lại để đứa con của mình, một sinh linh nhỏ bé dễ bị ảnh hưởng, sống trong một căn phòng như thế này trong hàng vạn kiếp.
Tôi chưa từng nghĩ đến điều đó trước đây, nhưng thật may mắn vì rốt cuộc John vẫn giữ tôi lại đây. Bạn thấy đấy, tôi có thể chịu đựng nó dễ dàng hơn một đứa trẻ nhiều.
Dĩ nhiên tôi chẳng bao giờ nhắc đến chuyện đó với họ nữa — tôi khôn ngoan hơn thế — nhưng tôi vẫn canh chừng nó suốt.
Có những thứ ẩn giấu trong bức giấy đó mà không ai biết ngoài tôi, và cũng sẽ chẳng bao giờ biết.
Đằng sau lớp họa tiết bên ngoài ấy, những hình thù mờ ảo ngày càng trở nên rõ nét hơn.
Nó luôn mang cùng một hình dáng, chỉ là xuất hiện với số lượng rất nhiều.
Và nó giống như hình bóng một người phụ nữ đang cúi người và bò trườn ẩn dật phía sau lớp họa tiết đó. Tôi không thích nó chút nào. Tôi tự hỏi — tôi bắt đầu nghĩ — ước gì John đưa tôi rời khỏi đây!
Thật khó để trò chuyện với John về bệnh tình của tôi, bởi anh quá đỗi khôn ngoan, và bởi anh yêu tôi quá nhiều.
Nhưng tôi đã thử làm điều đó vào tối qua.
Đêm đó có trăng. Ánh trăng chiếu rọi khắp nơi, hệt như ánh mặt trời vậy.
Đôi khi tôi ghét phải nhìn thấy nó, vì nó cứ trườn bò thật chậm chạp, và luôn len lỏi qua ô cửa sổ này hay ô cửa sổ khác.
John đã ngủ say và tôi ghét phải đánh thức anh, thế nên tôi nằm im thin thít và ngắm nhìn ánh trăng hắt lên bức giấy dán tường nhấp nhô ấy cho đến khi tôi cảm thấy nổi da gà.
Hình bóng mờ ảo phía sau dường như đang lay chuyển lớp họa tiết, hệt như thể cô ta muốn trốn thoát ra ngoài.
Tôi nhẹ nhàng chồm dậy để sờ và xem bức giấy có thực sự dịch chuyển không, và khi tôi quay lại thì John đã thức giấc.
“Có chuyện gì thế, cô bé?” anh nói. “Đừng có đi lại kiểu đó — em sẽ bị cảm lạnh đấy.”
Tôi nghĩ đây là thời điểm thích hợp để nói chuyện, thế nên tôi bảo anh rằng thực sự tôi chẳng khá lên chút nào ở nơi này, và tôi ước anh đưa tôi rời đi.
“Trời ạ, em yêu!” anh nói, “hợp đồng thuê nhà của chúng ta sẽ hết hạn trong ba tuần nữa, và anh không thấy cách nào để rời đi trước thời điểm đó cả.”
“Những việc sửa chữa ở nhà chưa hoàn tất, và anh không thể nào rời khỏi thị trấn lúc này được. Dĩ nhiên nếu em gặp nguy hiểm thì anh đã có thể và sẽ làm vậy, nhưng thực sự là em đang khá lên mà, em yêu, dù em có nhìn ra hay không. Anh là bác sĩ, em yêu, và anh biết rõ. Cân nặng và sắc diện của em đang tăng lên, em ăn ngon miệng hơn. Anh thực sự cảm thấy yên tâm hơn rất nhiều về em.”
“Em chẳng nặng thêm lạng nào,” tôi đáp, “thậm chí còn sụt cân; và cảm giác thèm ăn của em có thể tốt hơn vào buổi tối khi anh có mặt, nhưng lại tệ hơn vào buổi sáng lúc anh vắng nhà.”
“Phù hộ cho trái tim nhỏ bé của em!” anh nói kèm theo một cái ôm thật chặt; “em muốn bệnh thế nào cũng được! Nhưng giờ chúng ta hãy tận dụng những giờ phút tươi đẹp này để đi ngủ, và sẽ bàn chuyện đó vào buổi sáng!”
“Và anh sẽ không rời đi sao?” tôi hỏi với giọng u sầu.
“Ơ hay, sao anh có thể chứ, em yêu? Chỉ còn ba tuần nữa thôi và sau đó chúng ta sẽ có một chuyến đi chơi nhỏ thật dễ chịu trong vài ngày trong lúc Jennie chuẩn bị nhà cửa. Thực sự là em đang khá lên đấy, em yêu!”
“Khá hơn về thể xác có lẽ thế…” — tôi bắt đầu nói, rồi ngưng bặt, bởi anh ngồi thẳng người dậy và nhìn tôi bằng một ánh mắt nghiêm khắc, đầy trách móc khiến tôi không thể thốt thêm nửa lời.
“Em yêu của anh,” anh nói, “anh cầu xin em, vì lợi ích của anh và của con chúng ta, cũng như vì chính bản thân em, đừng bao giờ để ý nghĩ đó xuất hiện trong đầu dù chỉ một giây! Không có gì nguy hiểm và mê hoặc đối với một tính cách như em hơn thế đâu. Đó là một ảo tưởng sai lầm và ngớ ngẩn. Em không thể tin tưởng anh với tư cách là một bác sĩ khi anh nói thế sao?”
Thế nên dĩ nhiên tôi không nói thêm lời nào về vấn đề đó nữa, và chẳng mấy chốc chúng tôi chìm vào giấc ngủ. Anh tưởng tôi ngủ trước, nhưng không — tôi nằm đó hàng giờ liền để tự quyết định xem bức họa tiết phía trước và hình thù phía sau thực sự chuyển động cùng nhau hay tách biệt.
Trên một bức họa tiết thế này, dưới ánh ban ngày, người ta thấy rõ sự thiếu liền mạch, sự bất chấp mọi quy luật, thứ vốn là nỗi bực dọc thường trực đối với một tâm trí bình thường.
Màu sắc đã đủ gớm ghiếc, đủ bất ổn và đủ làm người ta nổi điên rồi, nhưng họa tiết của nó mới thực sự là một sự tra tấn.
Bạn cứ nghĩ mình đã nắm bắt được nó, nhưng ngay khi bạn bắt nhịp trôi chảy vào việc dõi theo nó, thì nó lộn nhào một vòng ra phía sau và bạn lại rơi vào điểm xuất phát. Nó tát thẳng vào mặt bạn, quật ngã bạn, và giẫm đạp lên người bạn. Nó hệt như một cơn ác mộng vậy.
Họa tiết bên ngoài là một kiểu hoa văn Ả Rập sặc sỡ, gợi liên tưởng đến một thứ nấm mộc. Nếu bạn có thể tưởng tượng ra một cây nấm độc mọc thành từng khúc nối, một chuỗi nấm độc bất tận đang đâm chồi nảy lộc trong những nếp cuộn vô tận — ừm, nó đại loại là thế đấy.
Đó là, đôi khi!
Có một đặc điểm nổi bật ở bức giấy dán tường này, thứ dường như chẳng ai để ý ngoài tôi, đó là nó thay đổi theo sự biến đổi của ánh sáng.
Khi ánh nắng rọi xuyên qua khung cửa sổ phía đông — tôi luôn ngóng chờ tia nắng dài, thẳng đầu tiên ấy — nó biến đổi nhanh đến mức tôi chẳng tài nào tin nổi.
Đó là lý do tại sao tôi luôn canh chừng nó.
Dưới ánh trăng — ánh trăng chiếu rọi suốt đêm vào những ngày có trăng — tôi sẽ chẳng thể nhận ra đó là cùng một bức giấy nữa.
Vào ban đêm dưới bất kỳ thứ ánh sáng nào, trong ánh hoàng hôn, ánh nến, ánh đèn dầu, và tồi tệ nhất là dưới ánh trăng, nó biến thành những chiếc chấn song! Ý tôi là họa tiết bên ngoài ấy, và người phụ nữ ẩn sau nó hiện lên rõ mồn một không lẫn đi đâu được.
Mãi một thời gian dài tôi mới nhận ra thứ ẩn hiện phía sau đó là gì — bức họa tiết chìm mờ ảo kia — nhưng giờ thì tôi hoàn toàn chắc chắn đó là một người phụ nữ.
Vào ban ngày, cô ta trầm mặc, yên lặng. Tôi tưởng tượng chính lớp họa tiết đã kìm giữ cô ta lại nên mới im lìm đến thế. Nó thật khó hiểu làm sao. Nó giam giữ tôi trong sự tĩnh lặng hàng giờ liền.
Bây giờ tôi nằm dài ra nhiều vô kể. John bảo điều đó tốt cho tôi, và khuyên tôi nên ngủ hết mức có thể.
Thực ra, chính anh là người khơi mào thói quen đó bằng cách bắt tôi nằm nghỉ một tiếng đồng hồ sau mỗi bữa ăn.
Tôi đoan chắc đó là một thói quen rất xấu, bởi bạn thấy đấy, tôi có ngủ được đâu.
Và điều đó nuôi dưỡng sự dối trá, vì tôi đâu có nói cho họ biết là mình đang thức — ồ, không đâu!
Thực tế là, tôi đang bắt đầu cảm thấy hơi sợ John.
Đôi khi anh ấy có những biểu hiện rất kỳ quặc, và ngay cả Jennie cũng mang một ánh mắt khó giải thích.
Thỉnh thoảng tôi chợt nghĩ, tựa như một giả thuyết khoa học, rằng có lẽ nguyên nhân chính là do bức giấy dán tường này!
Tôi từng quan sát John khi anh không hề biết tôi đang nhìn, hoặc đột ngột bước vào phòng với những cái cớ vô hại nhất, và tôi đã bắt gặp anh vài lần đang chăm chú nhìn bức giấy dán tường! Cả Jennie cũng vậy. Tôi từng bắt quả tang Jennie đặt tay lên nó một lần.
Cô ta không hề biết tôi có mặt trong phòng, và khi tôi cất giọng hỏi cô ta bằng một giọng điệu điềm tĩnh, vô cùng điềm tĩnh với thái độ kiềm chế nhất có thể rằng cô ta đang làm gì với bức giấy dán tường, cô ta quay phắt lại như thể vừa bị bắt quả tang đang ăn trộm, và trông vô cùng tức giận — hỏi tại sao tôi lại hù dọa cô ta thế!
Rồi cô ta nói rằng bức giấy dán tường làm ố mọi thứ nó chạm vào, rằng cô ta đã tìm thấy những vết ố vàng trên tất cả quần áo của tôi và của John, và cô ta mong chúng tôi cẩn thận hơn!
Nghe có vẻ vô tội làm sao phải không? Nhưng tôi thừa biết cô ta đang nghiên cứu kỹ bức họa tiết đó, và tôi quyết tâm không để bất kỳ ai khám phá ra nó ngoài chính tôi!
Cuộc sống bây giờ thú vị hơn trước rất nhiều. Bạn thấy đấy, tôi có thêm những điều để trông đợi, để ngóng trông, để quan sát. Quả thực tôi ăn ngon miệng hơn, và cũng điềm tĩnh hơn trước.
John rất đỗi vui mừng khi thấy tôi tiến bộ! Hôm nọ anh cười xòa một chút và bảo hình như tôi đang phơi phới sức sống bất chấp cả bức giấy dán tường của mình.
Tôi cười trừ để lấp liếm. Tôi chẳng có ý định nói cho anh biết rằng tất cả là nhờ bức giấy dán tường — anh sẽ chế nhạo tôi mất. Thậm chí anh có thể muốn đưa tôi đi nơi khác.
Bây giờ thì tôi không muốn rời đi cho đến khi tôi tìm ra được mọi chuyện. Chỉ còn một tuần nữa thôi, và tôi nghĩ khoảng thời gian đó là đủ.
Tôi cảm thấy khỏe hơn rất nhiều! Ban đêm tôi chẳng ngủ mấy, bởi việc quan sát những diễn biến mới thật là thú vị làm sao; bù lại tôi ngủ rất nhiều vào ban ngày.
Vào ban ngày, mọi thứ thật mệt mỏi và rắc rối.
Luôn có những chồi non mới mọc lên trên đám nấm độc ấy, cùng những sắc thái vàng mới xuất hiện khắp nơi. Tôi không sao đếm xuể nổi, mặc dù tôi đã cố gắng hết sức tận tâm.
Thứ màu vàng của bức giấy dán tường này mới kỳ lạ làm sao! Nó khiến tôi liên tưởng đến tất cả những thứ màu vàng mà mình từng thấy trong đời — không phải những thứ tươi đẹp như hoa củ bơ, mà là những thứ màu vàng cũ kỹ, dơ bẩn và tồi tệ.
Nhưng còn một điều nữa về bức giấy dán tường này — chính là mùi hương! Tôi đã nhận ra nó ngay khoảnh khắc chúng tôi bước chân vào phòng, nhưng vì có quá nhiều không khí và ánh nắng nên nó không đến nỗi tệ. Giờ thì chúng ta đã trải qua một tuần sương mù và mưa gió, và dù các cửa sổ có mở hay không, mùi hương đó vẫn cứ hiện diện ở đây.
Nó len lỏi khắp mọi ngóc ngách trong ngôi nhà.
Tôi nhận ra nó đang lảng vảng trong phòng ăn, lúi húi trong phòng khách, ẩn nấp nơi hành lang, rình rập tôi trên cầu thang.
Nó bám vào cả mái tóc tôi.
Ngay cả lúc tôi ra ngoài cưỡi ngựa, nếu tôi bất chợt quay đầu lại và đánh úp nó — thì cái mùi hương ấy lại xuất hiện!
Đúng là một thứ mùi kỳ lạ! Tôi đã dành hàng giờ liền để cố gắng phân tích nó, xem nó có mùi giống thứ gì.
Nó không tệ — lúc đầu, và rất nhẹ nhàng, nhưng lại là thứ mùi tinh vi nhất, bền bỉ nhất mà tôi từng biết.
Trong cái thời tiết ẩm ướt này thì nó thật khủng khiếp. Tôi thức giấc giữa đêm và nhận ra nó đang lơ lửng bao trùm lấy mình.
Lúc đầu nó từng làm tôi bận tâm. Tôi đã nghiêm túc nghĩ đến việc đốt rụi ngôi nhà — chỉ để tống khứ cái mùi đó.
Nhưng giờ thì tôi đã quen với nó rồi. Thứ duy nhất tôi có thể nghĩ đến là nó có mùi giống với màu sắc của bức giấy dán tường! Một mùi hương mang sắc vàng.
Có một vết hằn rất kỳ cục trên bức tường này, nằm sát phía dưới, gần mép nẹp chân tường. Một vệt dài chạy vòng quanh căn phòng. Nó chạy khuất sau mọi món đồ nội thất, trừ chiếc giường, một vệt nhòe dài, thẳng tắp và đều đặn, như thể đã bị chà đi xát lại hết lần này đến lần khác.
Tôi tự hỏi điều đó được tạo ra bằng cách nào và ai đã làm thế, họ làm vậy vì mục đích gì. Vòng tròn, vòng tròn và vòng tròn — vòng tròn, vòng tròn và vòng tròn — nó làm tôi chóng mặt quá!
Cuối cùng thì tôi cũng thực sự khám phá ra điều gì đó.
Nhờ quan sát quá nhiều vào ban đêm, lúc nó đổi thay khôn lường, cuối cùng tôi đã tìm ra rồi.
Họa tiết phía trước thực sự chuyển động — và cũng chẳng có gì lạ! Người phụ nữ phía sau đang lay lắc nó đấy!
Đôi khi tôi nghĩ có rất nhiều người phụ nữ trốn ở phía sau, đôi khi chỉ có một người, và cô ta bò trườn rất nhanh, sự bò trườn của cô ta làm rung chuyển toàn bộ bức tường.
Rồi ở những chỗ vô cùng sáng sủa, cô ta đứng yên, còn ở những chỗ tối tăm râm mát, cô ta chỉ việc bám chặt lấy những chiếc chấn song và lay chúng thật mạnh.
Và cô ta cứ cố gắng trèo xuyên qua suốt. Nhưng chẳng ai có thể trèo qua được lớp họa tiết đó — nó siết cổ chặt quá; tôi nghĩ đó là lý do tại sao nó lại có nhiều đầu đến thế.
Chúng trèo qua được, rồi bức họa tiết siết cổ chúng lại và lộn ngược đầu chúng xuống, làm cho đôi mắt chúng trắng dã ra!
Nếu những chiếc đầu đó được che lại hoặc vứt bỏ thì mọi chuyện đã đỡ tệ hơn một nửa rồi.
Tôi nghĩ người phụ nữ đó trốn ra ngoài vào ban ngày!
Và tôi sẽ nói cho bạn biết lý do — trong bí mật nhé — tôi đã nhìn thấy cô ta!
Tôi có thể nhìn thấy cô ta từ bất kỳ ô cửa sổ nào của mình!
Chính là người phụ nữ đó, tôi chắc chắn thế, bởi cô ta luôn luôn bò trườn, mà hầu hết phụ nữ thì có ai bò trườn dưới ánh ban ngày đâu.
Tôi thấy cô ta trên con đường nhỏ râm mát đó, đang bò trườn lên xuống. Tôi thấy cô ta trong những giàn nho tối tăm ấy, bò trườn khắp khu vườn.
Tôi thấy cô ta trên con đường dài dưới tán cây, đang lê lết bò đi, và khi có chiếc xe ngựa đi qua, cô ta liền ẩn nấp dưới những bụi cây mâm xôi đen.
Tôi chẳng trách cô ta chút nào cả. Bị bắt gặp đang bò trườn dưới ban ngày thì nhục nhã lắm chứ bộ!
Tôi luôn khóa cửa mỗi khi tôi bò trườn lúc ban ngày. Tôi không thể làm thế vào ban đêm, vì tôi biết John sẽ hoài nghi ngay lập tức.
Và dạo này John rất kỳ quặc, nên tôi không muốn chọc giận anh ấy. Ước gì anh ấy chịu chuyển sang phòng khác! Hơn nữa, tôi không muốn bất kỳ ai lôi người phụ nữ đó ra ngoài vào ban đêm ngoài chính tôi.
Tôi thường tự hỏi liệu mình có thể nhìn thấy cô ta từ tất cả các cửa sổ cùng một lúc hay không.
Nhưng cho dù tôi có quay người nhanh đến đâu đi nữa, tôi cũng chỉ có thể nhìn ra từ một ô cửa sổ tại một thời điểm mà thôi.
Và dù tôi luôn nhìn thấy cô ta, nhưng rất có thể cô ta còn bò nhanh hơn cả tốc độ xoay người của tôi ấy chứ!
Đôi khi tôi quan sát thấy cô ta ở tận ngoài vùng đồng hoang mở rộng, bò nhanh hệt như bóng mây trôi trong một trận gió lớn.
Giá mà lớp họa tiết trên có thể bóc ra khỏi lớp họa tiết dưới! Tôi định sẽ thử làm điều đó, từng chút một.
Tôi đã phát hiện ra một điều thú vị nữa, nhưng lần này tôi sẽ không nói ra đâu! Tin tưởng con người quá mức là điều không nên làm.
Chỉ còn hai ngày nữa là hoàn thành việc bóc lớp giấy này, và tôi tin là John đang bắt đầu chú ý rồi. Tôi không thích ánh mắt của anh ấy chút nào.
Và tôi nghe thấy anh hỏi Jennie rất nhiều câu hỏi chuyên môn về tôi. Cô ta đã đưa ra một bản báo cáo rất tốt.
Cô ta bảo tôi ngủ rất nhiều vào ban ngày.
John thừa biết tôi ngủ không ngon giấc vào ban đêm, mặc cho tôi có im lặng đến thế nào đi nữa!
Anh cũng hỏi tôi đủ thứ câu hỏi, và giả vờ như đang vô cùng âu yếm, tử tế.
Cứ làm như tôi không nhìn thấu bộ mặt của anh ta vậy!
Dẫu vậy, tôi chẳng lấy làm lạ khi anh ấy hành xử như thế, sau khi đã ngủ dưới bức giấy dán tường này suốt ba tháng trời.
Nó chỉ khiến tôi cảm thấy hứng thú thôi, nhưng tôi chắc chắn John và Jennie đang ngấm ngầm chịu ảnh hưởng từ nó.
Hoan hô! Hôm nay là ngày cuối cùng, nhưng thế là đủ rồi. John sẽ ở lại thị trấn qua đêm, và phải đến tối nay anh ấy mới về tới đây.
Jennie cứ đòi ngủ cùng tôi — cái con người láu cá này! nhưng tôi bảo cô ta rằng chắc chắn tôi sẽ nghỉ ngơi tốt hơn nếu có một đêm ở một mình hoàn toàn.
Đó là một nước đi khôn ngoan, bởi thực ra tôi chẳng hề cô đơn chút nào! Ngay khi ánh trăng vừa lên, và tội nghiệp cô ta bắt đầu bò trườn để lay lắc lớp họa tiết, tôi liền vùng dậy và chạy sang giúp một tay.
Tôi kéo còn cô ta lay, tôi lay còn cô ta kéo, và trước khi trời sáng, chúng tôi đã lột sạch được cả mét vuông giấy dán tường đó.
Một dải dài ngang tầm đầu tôi và kéo dài nửa vòng quanh căn phòng.
Và rồi khi mặt trời ló dạng và bức họa tiết gớm ghiếc ấy bắt đầu cười nhạo tôi, tôi tự nhủ mình sẽ hoàn tất nó trong ngày hôm nay!
Ngày mai chúng ta sẽ rời đi, và họ đang chuyển tất cả đồ đạc của tôi xuống lại dưới lầu để trả mọi thứ về nguyên trạng như trước.
Jennie nhìn bức tường với vẻ kinh ngạc tột độ, nhưng tôi vui vẻ nói với cô ta rằng tôi làm thế chỉ vì sự cay cú thuần túy đối với thứ vật thể độc ác đó.
Cô ta cười và bảo bản thân cũng chẳng ngại làm điều tương tự, nhưng tôi không được phép để bản thân bị kiệt sức.
Phen này thì cô ta tự hớ hênh làm lộ tẩy bản thân rồi đấy!
Nhưng tôi đang ở đây, và không một ai được phép chạm vào bức giấy dán tường này ngoài tôi — dù là lúc còn sống!
Cô ta đã cố dụ tôi ra khỏi phòng — rõ mười mươi quá còn gì! Nhưng tôi bảo rằng bây giờ căn phòng trở nên thật yên tĩnh, trống trải và sạch sẽ, nên tôi tin là mình sẽ nằm nghỉ trở lại và ngủ bất cứ khi nào có thể; và dặn họ đừng đánh thức tôi ngay cả khi đến giờ ăn tối — khi nào thức dậy tôi sẽ gọi.
Thế nên giờ thì cô ta đã đi, đám gia nhân đã đi, đồ đạc đã được chuyển đi hết, và chẳng còn lại gì ngoài chiếc giường lớn được đóng đinh chặt xuống sàn cùng tấm đệm vải bố mà chúng tôi tìm thấy trên đó.
Đêm nay chúng ta sẽ ngủ ở tầng dưới, và ngày mai sẽ bắt tàu về nhà.
Tôi thực sự tận hưởng căn phòng này, bây giờ nó đã trở lại vẻ trống trải ban đầu.
Lũ trẻ ngày trước đã quậy phá tưng bừng ở đây biết bao!
Chiếc giường này suýt chút nữa đã bị gặm nham nhở!
Nhưng tôi phải bắt tay vào việc thôi.
Tôi đã khóa cửa lại và ném chìa khóa xuống lối đi phía trước nhà.
Tôi không muốn ra ngoài, và cũng chẳng muốn bất cứ ai bước vào, cho đến khi John quay về.
Tôi muốn tạo cho anh ấy một bất ngờ lớn.
Tôi có giấu một sợi dây ở đây mà ngay cả Jennie cũng không tìm thấy. Nếu người phụ nữ đó thực sự thoát ra được, và cố gắng tẩu thoát, tôi có thể trói cô ta lại!
Nhưng tôi quên mất là mình chẳng thể với tới đâu nếu không có gì đứng lên!
Cái giường này không chịu dịch chuyển!
Tôi đã thử nhấc và đẩy nó cho đến khi tê cả người, rồi tôi tức điên lên cắn vào một góc nhỏ của nó — nhưng làm thế đau cả răng tôi.
Sau đó tôi lột sạch phần giấy dán tường trong tầm với khi đứng trên sàn nhà. Nó bám dính kinh khủng và bức họa tiết hình như đang rất thích thú với việc đó! Tất cả những cái đầu bị siết cổ, những con mắt lồi và những đám nấm độc đang lạch bạch bò trườn đó đang ré lên cười chế nhạo!
Tôi đang nổi giận đủ để làm một việc liều lĩnh. Nhảy ra khỏi cửa sổ sẽ là một bài tập tuyệt vời, nhưng mấy thanh chấn song quá chắc chắn để có thể thử.
Hơn nữa tôi sẽ không làm thế. Dĩ nhiên là không rồi. Tôi thừa biết một bước đi như thế là không đúng đắn và có thể bị hiểu lầm.
Tôi thậm chí chẳng thích nhìn ra ngoài cửa sổ chút nào — có quá nhiều những người phụ nữ bò trườn ngoài đó, và họ bò nhanh quá.
Tôi tự hỏi liệu tất cả bọn họ có chui ra từ bức giấy dán tường này giống như tôi không?
Nhưng giờ đây tôi đã được buộc chặt an toàn bởi sợi dây giấu kín của mình rồi — các người đừng hòng lôi tôi ra ngoài con đường cái quan kia nhé!
Tôi đoán là mình sẽ phải quay trở lại đằng sau lớp họa tiết khi màn đêm buông xuống, và điều đó thật khó khăn biết bao!
Được ở bên ngoài căn phòng rộng lớn này và bò trườn tùy thích thật dễ chịu làm sao!
Tôi không muốn ra ngoài đâu. Tôi sẽ không ra, ngay cả khi Jennie có nài nỉ.
Bởi vì ở bên ngoài, bạn buộc phải bò trên mặt đất, và mọi thứ đều có màu xanh thay vì màu vàng.
Nhưng ở đây, tôi có thể trườn đi một cách mượt mà trên sàn nhà, và bả vai của tôi vừa vặn khít với vết nhòe dài chạy quanh bức tường, thế nên tôi không thể nào bị lạc đường được.
Ơ kìa, John đang ở ngoài cửa!
Vô ích thôi, anh bạn trẻ ạ, anh không mở được đâu!
Anh ấy cứ gọi và đập cửa ầm ĩ làm sao!
Giờ thì anh đang gào khóc đòi búa rồi.
Sẽ thật là một tội ác nếu phá hỏng cánh cửa đẹp đẽ đó!
“John yêu quý!” tôi cất giọng dịu dàng nhất có thể, “chìa khóa ở ngay dưới bậc thềm trước cửa, nằm dưới một chiếc lá mã đề đấy!”
Câu nói đó làm anh ta im bặt trong giây lát.
Rồi anh ấy nói — với giọng thực sự rất bình tĩnh, “Mở cửa ra, cưng của anh!”
“Em không mở được,” tôi đáp. “Chìa khóa ở dưới cửa trước, giấu dưới một chiếc lá mã đề!”
Và rồi tôi lặp lại câu đó, vài lần liền, rất dịu dàng và chậm rãi, lặp đi lặp lại nhiều lần đến mức anh buộc phải đi kiểm tra, và dĩ nhiên là anh đã lấy được nó, rồi bước vào.
Anh khựng lại ngay sát cửa.
“Có chuyện gì thế này?” anh kêu lên. “Lạy Chúa tôi, em đang làm cái quái gì thế này!”
Tôi vẫn tiếp tục bò trườn như cũ, nhưng ngoái lại nhìn anh qua vai.
“Cuối cùng thì em cũng thoát ra được rồi,” tôi nói, “bất chấp cả anh và Jane! Và em đã lột sạch phần lớn giấy dán tường rồi, nên anh đừng hòng tống em trở lại vào trong đó được nữa!”
Cớ sao người đàn ông đó lại ngất xỉu nhỉ? Nhưng anh ấy đã ngất thật, ngã gục ngay trên lối đi sát tường của tôi khiến tôi cứ phải bò qua người anh ta trong mỗi vòng di chuyển!