
Sáng hôm sau, vị Tể tướng thứ ba tiến diện trước Quốc vương; sau khi bày tỏ lòng kính trọng, ông đem theo nhiều mối lo ngại rằng sự khoan dung dành cho Bakhtyār có thể mang lại những hậu quả nguy hiểm, bởi nó sẽ khích lệ những kẻ phạm tội khác, và ông tha thiết khuyên nhà vua nên sớm xử tử hắn. Quốc vương liền cho đòi Bakhtyār tới, và đao phủ chuẩn bị bịt mắt chàng; nhưng chàng bèn van xin sự khoan hồng và cất lời: “Việc giam giữ những kẻ bị tình nghi quả thực là một biện pháp đúng đắn, bởi tội lỗi hay sự vô tội của tù nhân rồi sẽ được làm sáng tỏ theo thời gian; nhưng nếu một vị quân chủ không đủ kiên nhẫn mà lại trừng phạt khi chưa tra xét rõ sự việc, thì sự hấp tấp ấy ngoài nỗi đau đớn và sự hối hận ra thì còn có thể dẫn đến kết quả nào khác? Sự việc ấy đã từng xảy ra với một hoàng tử của xứ Aleppo, kẻ mà sự thiếu kiên nhẫn đã khiến vương quốc ấy sụp đổ và chuốc lấy muôn vàn khốn khổ.”
Lòng hiếu kỳ của Quốc vương trỗi dậy, nhà vua bèn giục Bakhtyār kể câu chuyện về vị Hoàng tử thiếu kiên nhẫn xứ Aleppo; và Bakhtyār, sau khi cúi mình sát đất bày tỏ sự tuân lệnh, bèn bắt đầu cất lời:
Quốc vương xứ Aleppo là một bậc minh quân ngay thẳng và rộng lượng, luôn bảo vệ những người lữ hành và không dung thứ cho bất kỳ kẻ nào áp bức hay lăng mạ người khác; ngài có một người con trai tên là Bihzād, một chàng trai có trí tuệ xuất chúng, tài nghệ tao nhã và vô vàn phẩm chất tốt đẹp; nhưng ngài lại quá đỗi thiếu kiên nhẫn, đến mức không thể chờ đợi nổi dù chỉ một khoảnh khắc để đạt được bất kỳ mong muốn nào, bất chấp hậu quả từ sự liều lĩnh vội vàng ấy sẽ ra sao.
Có lần, khi đang ngồi cùng một số bạn bè, chàng bảo một người trong bọn hãy kể lại những chuyến phiêu lưu của mình. Chàng thanh niên nọ bèn bắt đầu câu chuyện bằng những lời sau đây:
“Khoảng hai năm trước, khi đang nắm giữ một gia tài lớn, tôi mua một vài con thú thợ, và sau khi chất đầy lên lưng chúng đủ loại hàng hóa, tôi lên đường thực hiện một chuyến hành trình. Thế nhưng dọc đường, tôi đã bị bọn cướp tấn công, chúng cướp sạch toàn bộ tài sản của tôi. Tôi tiếp tục bước đi với cõi lòng tan nát cho đến khi màn đêm buông xuống, và nhận ra mình đang ở một nơi hoàn toàn hoang vắng, không một bóng người. Tôi tìm chỗ trú ẩn bên dưới một cội cây lớn, và ở đó được một lúc thì nhìn thấy ánh sáng cùng một nhóm người qua lại với vô cùng niềm vui và sự huyên náo. Theo sau họ là những kẻ tay cầm các bình đầy hương trầm cháy rực, thứ hương thơm ngào ngạt đến mức cả vùng hoang mạc đều ngập tràn mùi hương dễ chịu ấy. Khi họ đi qua, một cỗ kiệu tráng lệ xuất hiện, đi trước là mấy thiếu nữ tay cầm những ngọn đuốc ướp hương long diên hương. Ngồi trong kiệu là một mỹ nhân có nhan sắc tuyệt trần đến mức vẻ rạng rỡ từ dung mạo nàng lu mờ cả ánh đuốc, khiến đôi mắt bị thôi miên của tôi hoàn toàn lóa đi.”
Khi chàng thanh niên kể đến đây, Bihzād bắt đầu biểu lộ sự thiếu kiên nhẫn, bởi chàng đã đem lòng yêu vị tiểu thư nọ dẫu chưa từng thấy mặt. Chàng thanh niên tiếp tục câu chuyện của mình và rằng:
“Sáng hôm sau, tôi tiếp tục cuộc hành trình và đặt chân đến thành phố Rūm, kinh đô và cũng là nơi ngự uyển của Kaisar, tức Hoàng đế Hy Lạp; và sau khi dò hỏi, tôi được biết rằng vị giai nhân mà mình nhìn thấy chính là Công chúa Nigārīn, ái nữ của hoàng đế Kaisar, người sở hữu một dinh thự cách thành phố không xa và đôi khi nàng vẫn đến đó để giải khuây.”
Đến đây, chàng thanh niên kết thúc câu chuyện của mình, và Hoàng tử Bihzād lập tức đứng dậy, vội vã chạy đến phủ tể tướng rồi nói: “Ngươi phải đến chỗ phụ hoàng ta ngay lập tức và nói với ngài rằng, nếu ngài quan tâm đến hạnh phúc của ta, ngài phải tìm cho ta một người vợ không một phút chậm trễ.” Vị tể tướng liền vào cung điện và tâu với Quốc vương những nguyện vọng của Bihzād. Nhà vua bảo tể tướng hãy trấn an hoàng tử rằng ngài chỉ đang chờ thời cơ để tìm cho hoàng tử một mối lương duyên tương xứng; nhưng nếu hoàng tử đã nhất mực hướng lòng về bất kỳ bóng hồng nào, ngài sẽ dốc toàn lực để cầu hôn nàng cho bằng được.
Khi điều này được truyền đạt lại cho Bihzād, chàng liền sai tể tướng mang một thông điệp khác đến thưa với Quốc vương, cho biết rằng đối tượng mà chàng lựa chọn chính là Công chúa Nigārīn, ái nữ kiều diễm của hoàng đế xứ Rūm, đồng thời thỉnh cầu nhà vua hãy cử sứ thần đến cầu hôn nàng cho chàng. Quốc vương đáp lại thông điệp ấy rằng:
“Hãy nói với Bihzād rằng ta có cử sứ thần đến chỗ hoàng đế Kaisar vì mục đích ấy thì cũng chỉ hoài công vô ích: ngài là vị Hoàng đế hùng mạnh của xứ Rūm, còn ta chỉ là một vị vua nhỏ bé ở Aleppo; chúng ta khác biệt tôn giáo, khác biệt phong tục; và chẳng có một chút khả năng nào ngài lại chịu chấp thuận thỉnh cầu của chúng ta.”
Vị tể tướng trở về gặp Bihzād và truyền lại lời này của phụ vương chàng. Vị hoàng tử thiếu kiên nhẫn lập tức tuyên bố rằng, nếu Quốc vương không chịu phái sứ thần đi cầu hôn con gái hoàng đế Kaisar cho mình, chính tự tay chàng sẽ lên đường thực hiện chuyến đi ấy.
Khi biết được quyết định của con trai, Quốc vương bèn cho gọi vị hoàng tử – người mà ngài hết mực yêu thương – vào cung, và cuối cùng đành chấp thuận phái sứ thần đến Rūm. Hoàng đế Kaisar đón tiếp phái đoàn sứ thần từ Quốc vương xứ Aleppo với sự tôn trọng phải phép; nhưng khi họ thổ lộ mục đích sứ mệnh, ngài liền đáp lại với vẻ đầy phẫn nộ, thông báo rằng sẽ chẳng ai có thể cưới được con gái ngài nếu không nộp đủ số tiền một trăm vạn đồng dinar (tức tiền vàng); và bất cứ ai đồng ý trả số tiền ấy đều có thể trở thành phu quân của nàng.
Các sứ thần trở về Aleppo, thuật lại cho Quốc vương mọi lời hoàng đế Kaisar đã nói. “Ta đã bảo ngươi rồi mà,” Quốc vương nói với Bihzād, “rằng Hoàng đế Hy Lạp sẽ từ chối một cuộc hôn nhân đũa mốc mà đòi mâm son như thế sao?” — “Ngài ấy không hề từ chối,” Bihzād đáp, “nhưng ngài đòi tiền, và số tiền ấy phải được gửi đi ngay lập tức.” — Quốc vương tuyên bố rằng ngài không thể gom góp nổi một khoản tiền lớn nhường ấy; nhưng theo lời thỉnh cầu của Bihzād, sau khi vét sạch của cải, ngài thấy mình có ba mươi vạn. Bihzād bèn giục ngài đem bán cả gia nhân nam nữ lẫn mọi vật dụng trong gia đình. Sau khi làm vậy, ngài thu được thêm hai mươi vạn nữa.
Bấy giờ, Bihzād lại hiến kế cho Quốc vương gom đủ số tiền cần thiết bằng cách cưỡng bách thần dân đóng góp tiền của; nhưng Quốc vương không đành lòng làm khổ nhân dân. Mặc dù vậy, dưới sự thúc ép của Bihzād, ngài vẫn vơ vét thêm được hai mươi vạn nữa từ dân chúng. Sau khi gom đủ bảy mươi vạn đồng dinar như thế, Bihzād đề nghị chuyển ngay số tiền ấy cho hoàng đế xứ Rūm. Thư từ liền được soạn thảo, các sứ giả được phái đi mang theo tiền bạc, kèm theo lời dặn dò rằng ba mươi vạn còn thiếu sẽ sớm được gửi theo sau. Khi những sứ giả này đặt chân đến Rūm, họ dâng thư từ, lễ vật cùng số tiền ấy lên hoàng đế Kaisar. Ngài đối đãi với các sứ giả hết sức trọng thị, nhận lấy tiền và đồng ý với các điều kiện được đưa ra; sau đó họ trở về Aleppo và báo cáo về thành công của mình. Bihzād liền giục phụ vương bằng mọi giá phải gom cho đủ ba mươi vạn đồng dinar còn thiếu, có thể bằng cách vay ép các thương nhân hoặc đánh thuế nông dân trong nước; thế nhưng Quốc vương khuyên chàng hãy kiên nhẫn, chờ đợi cho đến khi nhân dân hồi phục sau những đợt sưu thuế vừa rồi, và bảo rằng: “Ngươi đã biến ta thành kẻ nghèo xơ xác rồi, và giờ ngươi còn muốn tàn phá ta đến tận gốc, khiến ta mất cả vương quốc này nữa sao.”
Bihzād bảo phụ vương cứ giữ lấy vương quốc của mình, đồng thời tuyên bố ý định lên đường ngay lập tức. Quốc vương vô cùng đau đớn khi nghĩ đến cảnh con trai rời đi, ngài thiết tha nài nỉ chàng hãy đợi một năm để nhân dân quên đi những khoản tiền họ vừa phải đóng góp; thế nhưng Bihzād nhất quyết không nghe. Nhà vua lại cầu xin chàng hãy kiên nhẫn trong sáu tháng; chàng cũng từ chối nốt. — “Thậm chí hãy đợi ba tháng thôi,” phụ vương nói. — “Con không thể đợi nổi ba ngày,” vị hoàng tử thiếu kiên nhẫn đáp. Nghe vậy, Quốc vương vô cùng chán ngấy sự bướng bỉnh ấy, bèn bảo con trai muốn đi đâu thì đi.
Bihzād lập tức lui ra; và sau khi mặc giáp, cùng với hai người tôi tớ trung thành, chàng bắt đầu lên đường.
Hôm ấy, vào một buổi sáng, họ bắt kịp một đoàn lữ hành gồm một trăm con lạc đạc chở đầy hàng hóa quý giá đang trên đường tiến về Rūm. Đứng đầu đoàn lữ hành này là một người giàu có lớn, sở hữu đoàn tùy tùng đông đảo, và rất được hoàng đế Kaisar kính trọng. Khi Bihzād cùng hai người bạn đồng hành phát hiện ra đoàn lữ hành, họ liền hô vang rồi lao tới, nhưng lập tức bị tóm gọn, tay chân bị trói chặt lại. Họ bị giải đến trước mặt người đứng đầu đoàn, kẻ đã hạ lệnh ném họ lên lưng lạc đạc. Khi đến Rūm, vị thủ lĩnh đưa Bihzād về dinh thự của mình và giam lỏng chàng trong ba ngày.
Vào ngày thứ ba, sau khi chăm chú quan sát người tù nhân của mình, ông ta nhận ra trong phong thái và cung cách của chàng phảng phất nét vương giả và nền giáo dục cao quý. Ông gặng hỏi về ngọn nguồn chuyến phiêu lưu, nhưng Bihzād chỉ đáp lại bằng những giọt nước mắt. Vị thủ lĩnh bèn nói: “Nếu ngươi nói cho ta sự thật về vụ này, ta sẽ trả tự do cho ngươi; còn nếu không, ta sẽ tố cáo tội trạng của ngươi với hoàng đế Kaisar, và ngài sẽ lệnh treo cổ ngươi lên.”
Bihzād chẳng biết phải làm sao đành kể lại toàn bộ câu chuyện của mình cho vị thủ lĩnh đoàn lữ hành nghe. Động lòng trắc ẩn, ông khuyên chàng chớ nên tuyệt vọng, bởi ông sẽ cho chàng vay ba mươi vạn đồng dinar và giúp chàng cưới được con gái hoàng đế Kaisar, với điều kiện chàng phải hoàn trả khi nào lên ngôi vua.
Bihzād vui vẻ đồng ý; vị thủ lĩnh liền cởi trói cho chàng, ban cho những xiêm y hoàng tộc, đồng thời cũng cho người hầu của chàng mặc trang phục lộng lẫy; sau đó, ông đưa cho chàng ba mươi vạn đồng dinar và dẫn chàng đến cung điện. Ông để Bihzād chờ ở cửa, còn tự mình bước vào tâu với hoàng đế Kaisar rằng Hoàng tử xứ Aleppo đang chờ đợi vinh hạnh được dâng lên bệ hạ ba mươi vạn đồng dinar mà chàng đã mang theo và niêm phong cẩn thận.
Hoàng đế Kaisar đồng ý tiếp kiến Bihzād. Khi được diện kiến, chàng hành lễ phải phép và được nhà vua đối đãi vô cùng ân cận, thậm chí còn được sắp xếp cho ngồi bên cạnh. Sau một hồi trò chuyện, hoàng đế Kaisar bảo chàng hãy bày tỏ nguyện vọng của mình, đồng thời hứa rằng dù đó là gì đi nữa, ngài cũng sẽ cố gắng đáp ứng. Bihzād đáp rằng mong ước duy nhất trên đời này của chàng là được rước công Chúa về làm vợ. Hoàng đế Kaisar nài nỉ chàng hãy đợi mười ngày; nhưng chàng nhất quyết không chịu lùi bước. Nhà vua lại van xin chàng hãy kiên nhẫn trong năm ngày; và chàng cũng từ chối nốt điều đó. — “Ít nhất,” hoàng đế nói, “hãy đợi ba ngày để các cung nữ có thời gian chuẩn bị chu đáo.” Thế nhưng Bihzād vẫn không chịu đồng ý. — “Vậy thì duy nhất ngày hôm nay thôi,” hoàng đế bấy giờ mới nói, “ngươi hãy kiên nhẫn, và ngày mai ngươi sẽ được cưới con gái ta.” — “Đã là ý ngài thì con xin vâng,” Bihzād đáp, “con sẽ đợi ngày hôm nay, nhưng tuyệt đối không lâu hơn nữa.”
Hoàng đế hạ lệnh đưa Công chúa đến khu vườn trong cung điện, đồng thời triệu tập các bậc quyền quý và khoản đãi yến tiệc để đón tiếp Bihzād. Khi màn đêm buông xuống, sau khi chìm đắm trong rượu chè, Bihzād trở nên nôn nóng muốn được diện kiến Công chúa. Chàng tiến về phía lầu hóng mát nơi nàng đang ở và phát hiện ra một khe hở trên tường, liền áp mắt vào đó nhìn. Lúc bấy giờ, Công chúa tình cờ nhìn thấy khe hở và phát hiện có kẻ đang lén lút dòm ngó mình qua đó. Nàng lập tức hạ lệnh cho đám tùy tùng dùng thanh sắt nung đỏ chọc thủng mắt kẻ lạ mặt.
Mệnh lệnh ấy được thi hành ngay lập tức không chút chậm trễ. Bất hạnh thay, Bihzād hét lên thảm thiết rồi ngã quỵ xuống đất, đôi mắt vĩnh viễn mất đi ánh sáng. Khi nhận ra giọng nói ấy, lũ gia nhân hoảng hốt chạy ra và chứng kiến chàng đang quằn quại trong cơn đau đớn trên nền đất. Họ gào thét, bứt tóc rứt tai, nhưng mọi thứ đều đã muộn màng. Tin tức được tâu lên hoàng đế Kaisar, và ngài phán rằng: “Biết làm sao được đây? Chính gã thanh niên ngốc nghếch này đã tự rước họa vào thân bởi sự thiếu kiên nhẫn của mình, để rồi phải chuốc lấy cái kết mất đi đôi mắt.” Ngài bèn hạ lệnh tống cổ Bihzād trở về Aleppo, bởi ngài không thể gả con gái cho một kẻ mù lòa.
Khi chàng hoàng tử bất hạnh trở về Aleppo, phụ vương, mẫu hậu cùng toàn thể dân chúng trong thành đều rơi nước mắt trước tai họa của chàng; thế nhưng lòng trắc ẩn của họ chẳng thể cứu vãn được điều gì. Chẳng bao lâu sau, Quốc vương băng hà; nhân dân liền đưa một kẻ xa lạ lên ngai vàng, viện cớ rằng một kẻ mù lòa không đủ năng lực trị quốc. Và phần đời còn lại của Bihzād cứ thế chìm đắm trong khốn khổ, cùng nỗi ân hận muộn màng vì sự hấp tấp và thiếu kiên nhẫn của chính mình.
“Giờ thì,” Bakhtyār nói thêm, “giá như gã thanh niên bất hạnh ấy chịu chờ đợi đến sáng hôm sau, thì công chúa Nigārīn đã thuộc về hắn, đôi mắt và vương quốc của hắn đã được bảo toàn, và hắn đã chẳng phải ôm hận vì tính thiếu kiên nhẫn. Nếu Quốc vương đưa thần trở lại ngục tối, ngài sẽ chẳng mảy may hối hận vì sự chậm trễ ấy, bởi sự vô tội của thần rồi sẽ được phơi bày; còn nếu ngài vội vã ban án tử cho thần, thì mọi sự hối hận sau này cũng sẽ chẳng còn ý nghĩa gì nữa.”
Quốc vương liền hạ lệnh áp giải Bakhtyār quay lại ngục tối trong ngày hôm ấy.