12 Tướng Soái Trung Hoa

Lượt đọc: 61 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
3 BẠCH KHỞI - CHẾT VÌ DANH TIẾNG

❊ ❊ ❊

Cuối thời Xuân Thu Chiến quốc tình hình chiến tranh càng thêm khốc liệt bởi lúc đó hầu như nước nào cũng không giấu dã tâm thôn tính của mình. Trong số “Thất Hùng” (7 nước lớn mạnh nhất) thì Tần là một quốc gia có quân đội hùng hậu hơn hẳn, lại được một mưu sĩ kiệt xuất tên là Phạm Thư phò tá nên Tần vương càng lộ rõ tham vọng của mình. Các nước thi nhau phát triển quân binh, thu nạp tướng giỏi và cũng không ít người thành danh trong thời kỳ này. Tuy nhiên, nếu nước Triệu có một Liêm Pha lão tướng tài danh thì nước Tần cũng có một danh tướng còn nổi tiếng hơn nữa với nhiều trận đánh hào hùng dữ dội, đó là Bạch Khởi. Thế nhưng Bạch Khởi đồng thời nổi tiếng về các trận đánh thần tình nhưng cũng không ít tiếng xấu vì ông quá tàn nhẫn, nhất là trong trận Trường Bình nổi tiếng với quân nước Triệu.

Bạch Khởi là người huyện Mi của nước Tần. Ngay từ khi còn nhỏ, Bạch Khởi đã tỏ ra là người thích quân sự, rất thường hỏi phụ thân về binh pháp, nếu không thỏa mãn ông ra sức tìm tòi các sách vở viết về việc quân để học hỏi. Sau khi lớn lên, trong tình trạng các nước giao tranh liên miên, đó là cơ hội để ông biểu lộ được tài năng quân sự của mình. Quả nhiên trong suốt 37 năm cầm quân tham gia các chiến trận ông đã trải qua không biết bao nhiêu trận đánh lớn nhỏ, có lúc vào sinh ra tử nhưng gần như chưa có trận nào bị thua. Nhiều chuyên gia nghiên cứu về Bạch Khởi đưa ra con số thống kê: đánh phá khắp 4 nước chư hầu Ngụy, Hàn, Triệu và Sở, giết chết hàng 100 vạn quân tướng lớn nhỏ, hạ hơn 70 thành trì. Chiến công to lớn này của ông giúp cho nước Tần bước đầu làm chủ bốn phương và tiến đến thống nhất lãnh thổ, gồm thâu lục quốc. Thân phụ của Bạch Khởi cũng là tướng quân, rất hâm mộ danh tướng Ngô Khởi thời trước nên đã đặt tên cho ông theo vị danh tướng ấy. Do vậy rất nhiều người đã lầm lẫn giữa Bạch Khởi với Ngô Khởi, một danh tướng người nước Vệ gắn liền với điển tích “giết vợ cầu công danh”.

Riêng trong thời điểm Bạch Khởi còn sống, nước Sở lớn mạnh ngang hàng với Tần và cũng có tham vọng không kém. Thế nhưng kể từ khi Bạch Khởi cầm quân, hầu như nước Sở lâm vào thế thụ động, dần dần suy yếu rồi sau cùng cũng bị nước Tần chinh phục. Với những công lao hãn mã ấy, Bạch Khởi lên tới chức Nguyên soái, được Tần vương phong tước là Võ An quân.

Bước đầu tiên vào năm 294 trước Công nguyên Bạch Khởi chỉ giữ chức Tả Thứ trưởng nhưng sau khi tấn công chiếm được đất Tân Thành của Hàn, ông bắt đầu nổi danh với nhiều mưu lược quyền biến. Lúc đó Tướng quốc nước Tần là Ngụy Nhiễm có mắt tinh đời, nhận ngay ra tài năng kiệt xuất về quân sự của Bạch Khởi, hết lời tiến cử với Chiêu Tương vương của Tần và được thăng lên làm Tướng quân.

Được Ngụy Nhiễm để ý tới, chẳng bao lâu sau Bạch Khởi lại được tin tưởng cho thống lãnh một đội quân lớn đối phó với liên quân Hàn và Ngụy tại núi Y Khuyết. Một trận chiến nhiều khó khăn và cũng là trang sử oai hùng của Bạch Khởi bắt đầu vang dội.

Khi ấy nhờ liên kết nên quân hai nước Hàn Ngụy rất đông, nhiều tướng soái mà không ít người đã nổi danh từ lâu. Thế nhưng với số quân ít hơn nhiều lần, Bạch Khởi vẫn can đảm đối địch, không dùng sức mạnh mà đưa ra kế sách đánh phá từng phần một dựa vào tâm lý các tướng hai nước không đồng lòng đoàn kết, ai cũng muốn bảo toàn lực lượng, đùn đẩy dể quân nước khác phải xông pha hao tổn.

Nhân ra tình thế có lơi cho mình, Bạch Khởi liền nhắm vào quân nước Hàn trước tung tin đồn là không dám đối đầu với quân tướng nước Ngụy. Thế nhưng sau khi tiêu diệt được quân Hàn, đột ngột Bạch Khởi cho quân tấn công quân Ngụy như vũ bão. Quân Ngụy không ngờ tới đành chịu đại bại, khi ấy số quân còn lại của Hàn cũng rất đông nhưng nghe tin lập tức táng đởm kinh hồn, thi nhau rút chạy.

Bạch Khởi vốn chủ trương “đã đánh thì phải đánh đến nơi đến chốn” nên lập tức cho quân truy kích giết được hơn 24 vạn quân Hàn và Ngụy. Đồng thời ông cũng bắt sống được Công tôn Hỷ của nước Ngụy, liên tiếp hạ luôn mấy thành trì mới chịu ngưng tay. Với chiến công này, danh tiếng của Bạch Khởi bắt đầu được các triều đình chư hầu nhắc tới. Tần Chiêu Tương vương cũng hài lòng không kém, gọi về triều thăng lên làm Quốc úy.

Nhờ chiến trận này, Tần Chiêu Tương vương hiểu rõ thêm một điều: không cần tới quân số đông đảo vẫn có thể chiến thắng, nếu như có tướng lãnh tài giỏi lãnh đạo, đồng thời thực lực hai nước Hàn và Ngụy cũng không ghê gớm như sự lo lắng của mình. Do đó, vào năm Tần Chiêu Tương vương thứ 15 (tức năm 292 trước Công nguyên), Tần vương muốn thôn tính hai nước láng giềng nằm bên cạnh đã đặc phái Bạch Khởi mở chiến dịch tấn công, mau chóng chiếm được đất Viên trù phú của Hàn.

Do Bạch Khởi liên tục lập được kỳ công, Tần Chiêu Tương vương đã thăng ông lên chức Đại Lương Tạo, là chức quan lớn nhất chuyên trách về quân sự của triều nhà Tần. Nắm binh quyền trong tay cũng đồng thời được nhiều người nể sợ mặc dù ngôi vị cao nhất vẫn là Tướng quốc. Với tham vọng ấy, Tần vương không chờ đợi lâu, qua năm sau lại tiếp tục sai Bạch Khởi đi đánh nước Hàn lần nữa và ông cũng mau chóng chiếm được đất Uyển, một vùng đất hết sức quan trọng bởi có nhiều mỏ kim loại cung ứng làm võ khí cho quân đội, nền tảng cho quân nước Tần sau này đủ sức cùng lúc đánh chiếm cả 6 nước.

Dù Hàn và Ngụy đã nhận ra sức mạnh của quân Tần, chấp nhận dâng một số đất đai nữa theo yêu cầu nhưng như vậy vẫn chưa đủ, vào năm 289 trước Công nguyên, một lần nữa Bạch Khởi nhận lệnh Tần vương xua quân qua nước Ngụỵ. Lần này ông đã là Thượng tướng nên cầm đầu đoàn quân cũng tương xứng, tức là đông đảo hơn những chiến dịch trước nhiều. Với tài chỉ huy của Bạch Khởi, quân Tần tiến như chẻ tre, liên tiếp hạ được 61 thành khiến nước Ngụy phải co cụm về một góc, hầu như mất gần hết đất đai.

Thế nhưng nước Hàn và Ngụy được tạm yên một thời gian bởi khi ấy tình hình nước Tề xảy ra nhiều biến cố. Tề Mân vương lên ngôi rồi, tiến hành nhiều việc tàn ác, cho quân đánh chiếm nước Tống, bắt các nước nhỏ như Vệ, Trần, Lỗ phải thần phục và triều cống. Tề Mân vương còn ngang ngược toan lấy luôn 9 cái đỉnh của Thiên tử nhà Chu, đồng thời giết hại công thần rất nhiều nếu mở lời khuyên ngăn.

Nặng nề nhất là Yên Chiêu vương với mối thù không đội trời chung với Tề, không tiếc tiền bạc chiêu hiền đãi sĩ, cuối cùng thu nhận được một danh tướng tên là Nhạc Nghị. Để tiến hành việc đánh Tề báo thù, Nhạc Nghị đề nghị yên Chiêu vương nên kết hợp với ba nước Triệu Hàn và Ngụy. Nước Tần thấy vậy cũng lợi dụng xin được cùng kết hợp, sai Bạch Khởi làm Đại tướng quân, Nhạc Nghị làm Thượng Tướng quân chỉ huy quân binh 5 nước.

Năm 284 trước Công nguyên, Yên Chiêu vương tập kết binh lực trong toàn quốc, rồi hợp nhau với các quân đội các nước Tần, Triệu, Ngụy và Hàn ồ ạt tấn công nước Tề. Tuy Tề Mân vương có quân binh rất hùng hậu nhưng làm sao chống nổi với liên quân 5 nước dưới sự chỉ huy tài ba của hai danh tướng Bạch Khởi và Nhạc Nghị, liên tiếp bị đại bại, chết vô số kể. Danh tướng Hàn Nhiếp của Tề cố sức gom góp quân tướng chống đỡ nhưng vẫn bị em của Nhạc Nghị là Nhạc Thừa giết chết. Thế là quân Tề đại loạn, Tề Mân vương phải chạy về Lâm Tri cố thủ, đồng thời cầu cứu nước Sở.

Quân Sở chưa thấy đâu mà Lâm Tri rúng động bởi các thành chung quanh đều bị chiếm giữ hết, không còn tiếp tế nên cuối cùng Tề Mân vương phải bỏ chạy sang Vệ rồi đến Lỗ. Khi đến nước Trâu, Tề Mân vương bị đóng cửa đuổi đi, đành phải quay về Cử châu, cố thủ nơi Tức Mặc có dũng sĩ là Điền Đan đang cố thủ.

Lúc đó Nhạc Nghị đã liên tiếp chiếm được 72 thành của nước Tề, chỉ còn lại 2 thành Cử châu và Tức Mặc. Khi đã xong, quân Tần và Hàn đều rút về nước, để Yên Chiêu vương tự xử việc nước Tề. Đây không phải là hành động nhân nhượng nước Yên mà trong ý Tần vương thì nước Sở mới là kình địch đáng tiêu diệt, những nước nhỏ như Yên, Triệu nằm trong kế hoạch thôn tính sau.

Trước tiên Tần vương ký kết với Triệu một hòa ước để khỏi phải đề phòng cạnh sườn rồi mới xuống lệnh sai Bạch Khởi dẫn đại quân tiến đánh nước Sở. Quân Tần chia thành hai đường, một đường do Bạch Khởi chỉ huy, từ vùng Hán Bắc tiến xuống phía nam, toan tính trước tiên chiếm lấy Yên thành rồi chiếm Sính Đô. Một đường khác do tướng giữ đất Thục là Trương Nhược chỉ huy, từ Tứ Xuyên tiến xuống tấn công các đất Vu, Tạc, Kiềm, rồi theo Trường giang tiếp tục tiến xuống phía đông, phối hợp với quân của Bạch Khởi chia cắt quân Sở thành hai phần không còn liên kết với nhau được nữa.

Thế nhưng Yên thành là một căn cứ địa hết sức quan trọng của Sở, nếu để mất thì Sính Đô chắc chắn không giữ vững được, do vậy Bạch Khởi gặp sự chống cự mạnh mẽ của quân binh nước Sở, lại được Sở vương tăng cường rất đông tinh binh và danh tướng nên ông đành phải bao vây, toan tính kế sách khác, không thể trực diện tấn công.

Với kinh nghiệm nhiều năm chinh chiến, lại thông thuộc binh pháp, Bạch Khởi quyết định dùng thủy công để triệt phá Yên thành. Nguyên thành nằm gần con sông cũng có tên là Yên thủy nằm giữa hai ngọn núi nên dòng nước chảy rất xiết. Bạch Khởi liền sai quân sĩ ngăn dòng sông, sau khi nước đã dâng thật cao mới bất ngờ phá đập. Thế là dòng nước lũ kinh người ào vào thành, cuốn trôi toàn bộ những vật cản trở, kể cả tường thành lẫn nhà cửa dân chúng, lâu đài gác thự. Nhân cơ hội ấy Bạch Khởi cho quân ào ạt tiến lên và chẳng khó khăn gì cũng chiếm được Yên thành bởi quân dân lo chạy chết nước lũ còn chưa xong, không hề còn tinh thần chống trả.

Cửa ngõ đã mở, Bạch Khởi mau chóng cho quân tiến chiếm An Lục rồi thẳng đường tới Sính Đô. Quân Tần đi tới đâu quân nước Sở tan rã bỏ chạy đến đó, giết chết vô số kể. Với chủ trương tận diệt không để đối phương có cơ hội phục hồi sức mạnh, Bạch Khởi truy sát đến tận Động Đình hồ mới tạm dừng. Trên con đường hành quân, khi qua Di Lăng, Bạch Khởi cho quân sĩ nổi lửa đốt cháy toàn bộ đình miếu lâu đài, tiêu hủy lăng mộ các đời vua Sở.

Quá sợ hãi trước sức mạnh của quân Tần, Sở vương không còn cách nào khác là phải cùng quần thần bỏ chạy đến đất Trần, bỏ mặc Sính Đô cho người Tần thành lập quận huyện. Đây là chiến công lớn lao nhất nên sau khi bình định xong vùng đất Sở đã chiếm được, Tần vương lập tức phong cho ông tước Võ An quân và kể từ đó để kính trọng ông, người ta thường gọi bằng tước hiệu chứ không gọi bằng tên thật.

Việc Bạch Khởi chiếm Sính Đô, đánh dấu giai đoạn hoàn toàn suy sụp của nước Sở. Từ đó trở đi, nước Sở không còn là một cường quốc nữa và cũng không còn là một kình địch quan trọng với nước Tần như trước. Bạch Khởi đã xóa bỏ được một chướng ngại lớn để thống nhất thiên hạ cho nước Tần sau này, nếu xét công lao của ông thì rất xứng đáng là công thần bậc nhất của triều Tần.

Sau khi tiêu diệt xong nước Sở, Tần vương lại bắt đầu quay về phía tây. Khi đó hai nước Hàn và Ngụy không còn là đối thủ nữa, duy nhất chỉ còn lại nước Triệu với khá nhiều danh tài phò tá như Mạnh Thường quân, Tín Lăng quân, v.v... Lúc ấy nước Triệu cũng lo lắng về hiểm họa nước Tần nên đã cùng với nước Ngụy liên kết bảo vệ dọc biên cương. Thế nhưng vào năm 273 trước Công nguyên, Bạch Khởi nhận lệnh của Tần Chiêu Tương vương, bất ngờ tiến đánh Hoa Dương. Đây là vùng đất hết sức quan trọng, được liên quân Triệu-Ngụy bảo vệ nhưng họ quá lơ đễnh bởi còn cách đất Tần khá xa. Lần này Bạch Khởi dùng kế sách “tốc chiến tốc thắng” bí mật cho quân tiến nhanh như vũ bão khiến các tướng Triệu-Ngụy không kịp trở tay, đến mức Bạch Khởi bắt sống được một lúc 3 tướng lãnh, số binh sĩ Triệu-Ngụy chết thôi vô số.

Thừa thắng xông lên, khi chưa kịp ổn định Hoa Dương, Bạch Khởi lại tiếp tục tiến đánh đoàn quân chủ lực của nước Triệu do Giả Yển chỉ huy. Đã biết tin tức những trận vừa qua, vừa nghe thấy tên Bạch Khởi, quân nước Triệu đã hoảng loạn, thi nhau bỏ trốn nên quân Tần càng hăng hái, cuối cùng dồn hơn hai vạn quân nước Triệu lọt vào thế phải vượt sông tìm đường thoát, chết đuối không biết bao nhiêu mà kể. Chính Ngụy Nhiễm cũng tự thân dẫn quân đi đánh chiếm được đất Kiềm Trung thành ra nước Sở hầu như đã bị xóa tên danh sách các nước hùng mạnh.

Con đường công danh của Bạch Khởi có thể còn tiếp tục dài thêm nếu như không có một biến chuyển chính trị trong nội bộ triều Tần, đó là việc mưu sĩ Phạm Thư, tên tự là Thúc vượt bao gian khổ mới đến được nước Tần và được Tần vương trọng dụng. Phạm Chuy chính là người đối đầu với Ngụy Nhiễm và cũng là người hại chết Bạch Khởi sau này.

Ngay lần đầu tiên được Tần vương tiếp kiến Phạm Thư đã vạch rõ những sai lầm của Ngụy Nhiễm:

– Nước Tần có địa thế hết sức hiểm trở, giáp binh hùng cường vậy mà không sao làm nên bá chủ, tất cả đều do các đại thần toan tính sai lầm. Thí dụ như Nhương hầu (Ngụy Nhiễm) sắp đem quân vượt ngàn dặm, vượt qua đất Hàn, đất Ngụy chỉ vì muốn đánh Tề thì là việc có hại, lợi cho Hàn, Ngụy mà hại cho Tần. Nếu thắng thì cũng tổn phí quá nhiều, bằng như thua thì là nhục lớn, bao nhiêu công sức bấy lâu nay đều vô ích. Theo tôi thì muốn kiêm tính thiên hạ thì chẳng gì hay hơn là áp dụng kế sách “viễn giao cận công”, tức giao hảo với các nước ở xa, thôn tính dần dần các nước ở gần như tằm ăn dâu, chẳng bao lâu thiên hạ sẽ là của Đại vương vậy.

Đã vậy nước Tần hiện nay coi như là của Thái hậu và Nhương hầu thì Đại vương có chí lớn đến đâu cũng chỉ là kẻ lệ thuộc mà thôi.

Tần vương như người ngủ mơ mới tỉnh, lập tức ngày hôm sau cách chức của Ngụy Nhiễm, đuổi các cận thần của Thái hậu ra ngoài cửa quan, riêng bà ta thì bị an trí không cho dự bàn chính trị nữa. Đồng thời Tần vương cũng phong cho Phạm Thư làm Ứng hầu, thay chức của Ngụy Nhiễm.

Theo kế sách của Phạm Thư, Tần vương triệu đoàn quân của Bạch Khởi khi ấy đang ở nước Tề trở về để sửa soạn đánh chiếm hai nước Hàn và Ngụy ở phía đông. Năm 264 trước Công nguyên, Bạch Khởi tuân lệnh Tần vương tiến đánh nước Hàn, giết được hơn 5 vạn quân địch, chiếm một lúc 5 thành trì bao gồm cả một phần nhỏ của nước Tấn nằm sát cạnh. Có thể thấy rõ, càng tham gia chiến trận Bạch Khởi càng phát huy hết sở trường quân sự của mình, hầu như chưa có trận nào thua thiệt mà luôn luôn áp dụng phương châm “tốc chiến tốc thắng” cũng như “diệt tận gốc ngọn” khiến bất cứ nước chư hầu nào nghe thấy tên của ông đều kinh hồn bạt vía. Những trận đánh này mở đầu cho một chiến công lừng lẫy trong lịch sử Trung Hoa cổ đại, đó là trận Trường Bình.

Trước đó Tần vương vẫn theo kế sách “viễn giao cận công” kết giao với nước Tề và Sở rồi mới ban lệnh cho Bạch Khởi xuất quân đi đánh nước Hàn. Bạch Khởi mau chóng chiếm được đất Giã Vương rồi tiến thẳng đến Thượng Đãng. Tướng chỉ huy ở Thượng Đãng là Phùng Đình liệu bề khó có thể chống giữ, liền dâng Thượng Đãng cho nước Triệu, hy vọng nhờ kế sách này nước Tần sẽ tức giận Triệu mà khoan cho nước Hàn. Bình Dương quân ở Triệu hết sức can ngăn, bày rõ đó là kế “giá họa” của Phùng Đình nhưng một công thần khác là Bình Nguyên quân Triệu Thắng lại ủng hộ nên cuối cùng Triệu vương vui vẻ tiếp nhận đất Thượng Đãng, phong cho Phùng Đình làm Hoa Lăng quân, ban cho 3 vạn hộ thực ấp.

Phùng Đình không dám nhận tước Hoa Lăng quân mà xin được trấn giữ Thượng Đãng. Mặc dù Phùng Đình đã cố xin Bình Nguyên quân khi trở về triều đình mau mau cho quân tiếp viện nhưng vua tôi nước Triệu quá vui mừng mà quá chậm trễ trong việc tiếp ứng cho Phùng Đình. Trong khi ấy Tần vương nghe tin Phùng Đình đã dâng thành cho Triệu thì nổi giận, xuống lệnh cho Vương Hạt bằng bất cứ giá nào phải chiếm được Thượng Đãng, nếu bắt sống được Phùng Đình đem về Tần trị tội thì càng có công lớn.

Phùng Đình cũng là một nhân tài nên chỉ huy quân đội chống cự với Vương Hạt rất kiên cường, trải qua hơn 2 tháng mà quân Tần vẫn không sao triệt phá được thành Thượng Đãng. Phùng Đình cố sức chống đỡ là vì hy vọng quân Triệu sẽ tới tiếp viện, hai đầu cùng đánh mới mong đẩy lùi được quân Tần. Thế nhưng trải qua hơn 2 tháng không hề thấy bóng quân Triệu đâu, quân nước Hàn bắt đầu thối chí khiến Phùng Đình cũng không sao chỉ huy được nữa, đành phải bỏ thành chạy về biên giới nước Triệu.

Lúc ấy Triệu vương mới kinh sợ, vội sai lão tướng Liêm Pha điểm 20 vạn quân Triệu cấp tốc chi viện. Tiếc thay, khi Liêm Pha đến địa phận Trường Bình thì gặp Phùng Đình và biết tin Thượng Đãng đã rơi vào tay Vương Hạt. Liêm Pha liền dùng kế sách cố thủ, cho quân binh trải dài theo chiến tuyến, đồng thời sai đào giếng tìm nước làm kế lâu dài, chờ khi nào quân Tần mỏi mệt, thiếu thốn lương thực thì sẽ phản công sau. Lão tướng Liêm Pha rất nhiều kinh nghiệm, bố trí chiến lũy dày đặc, cắt cho Phùng Đình 3 vạn quân giữ thành Quang Lăng; sai hai tướng Cáp Phụ và Cáp Đồng giữ Chương thành làm thế liên kết.

Đồng thời Liêm Pha cũng sai tướng Triệu Giã đem một số quân đi thám thính tình hình đối phương.

Tuy lệnh chỉ đi thám thính nhưng Triệu Giã thấy Tư Mã Ngạnh của Tần thì rất khinh địch, lập tức giao chiến, kết quả bị rơi vào thế mai phục của Trương Đường, chết tại trận.

Nhân cơ hội ấy quân Tần theo kế sách của Bạch Khởi, không vội đánh thẳng vào chiến lũy Trường Bình mà chia nhau ra đánh các thành nhỏ. Khi đã hạ xong Chương thành, đánh đuổi Phùng Đình khỏi Quang Lăng, tất cả quân Tần liền hội tụ ở chiến lũy Kim Sơn môn, bao vây Liêm Pha trùng trùng điệp điệp. Liêm Pha còn ra lệnh:

– Bất cứ ai bàn việc xuất quân đều bị chém đầu không tha.

Do vậy dù Vương Hạt cố sức khiêu chiến, nhục mạ đủ điều, quân Triệu vẫn án binh bất động. Mỗi khi quân Tần nóng nảy tấn công thì đều bị thương vong bởi sự cố thủ nghiêm mật của Liêm Pha. Ông là danh tướng trụ cột của nước Triệu, tuy tuổi đã cao vẫn còn đủ kinh nghiệm đối phó khiến quân Tần nhiều phen vất vả mà đành chịu chôn chân một chỗ.

Thấy Vương Hạt bó tay ngồi thở dài, một thuộc tướng dưới quyền liền hiến kế:

– Phía dưới Kim Môn có con sông nhỏ tên là Dương Cốc, cả chúng ta lẫn quân Triệu đều phải sử dụng nước của con sông ấy. Nếu bây giờ chặn dòng chảy thì có thể quân Triệu thiếu nước uống, khi ấy chúng ta thừa cơ địch rối loạn sẽ tiến đánh, chắc phải thành công.

Vương Hạt nghe theo, thế nhưng Liêm Pha thật nhiều kinh nghiệm, đã cho đào khá nhiều giếng phía trong chiến lũy nên thừa đủ để dùng. Vương Hạt kiên nhẫn chờ luôn mấy tháng, hoàn toàn không thấy quân Triệu loạn động thì vô cùng kinh ngạc, sai người dò xét, khi ấy mới biết tính toán của Liêm Pha cao hơn mình một bậc, đành phải sai người cấp báo tình hình với Tần vương. Tần vương cũng lo lắng không kém, triệu Phạm Thư vào bàn kế sách. Phạm Thư liền tâu:

– Liêm Pha là một tướng tài của nước Triệu, kinh nghiệm chiến trường rất phong phú. Ông ta biết sĩ khí của quân Tần đang lên, không thể giao phong được, nên xây lũy cao đào hào sâu để cố thủ. Liêm Pha cũng biết quân Tần từ xa kéo đến tất nhiên phải gặp khó khăn về mặt địa lợi, nhân hòa, khó khăn về mặt tiếp tế lương thực, vũ khí nên bao giờ cũng sử dụng phương pháp “tốc chiến”. Vì vậy không loại trừ được Liêm Pha thì không có cách nào khác để đánh bại quân Triệu.

Tần vương càng thêm lo lắng, hỏi:

– Theo Tướng quốc thì phải làm sao?

Phạm Thư ung dung đáp:

– Phải dùng kế phản gián. Xin Đại vương cho tôi một số vàng lớn để thực thi kế sách này. Tuy hao tổn nhưng loại trừ được Liêm Pha thì lo gì không lấy lại được.

Tần vương bằng lòng, giao cho Phạm Thư 1000 nén vàng. Phạm Thư liền sai người thân tín đem số vàng ấy đến Hàm Dương (kinh đô nước Triệu), mua chuộc các quan lại rồi tung tin đồn là Liêm Pha đã quá già yếu, nhút nhát nên cứ cố thủ, không muốn ra đánh, nếu như vị trí chỉ huy nằm trong tay Triệu Quát (con của danh tướng Triệu Xa) thì quân Tần đã nếm mùi đại bại từ lâu rồi. Thật sự Triệu Xa là viên Đại tướng rất tài giỏi của Triệu, nhiều lần dẫn quân đương cự khiến nước Tần không làm gì được. Ông có công hãn mã nên được Triệu vương phong cho chức Mã Phục quân ngang hàng với hai danh thần là Lạn Tương Như và Liêm Pha. Triệu Quát là con của Triệu Xa, tính tình ngông cuồng, trí mưu thấp kém nên mặc dù làu thông binh pháp vẫn không nắm rõ sự quyền biến mới thực là căn bản của chiến trận.

Triệu Quát dựa vào uy thế của cha, càng ngày càng tỏ ra ngông cuồng tự kiêu không coi bất cứ danh tướng nào ra gì. Hắn nhiều lần chê bai từ Liêm Pha cho đến Tín Lăng quân, Mạnh Thường quân, và cho đến cả phụ thân hắn không biết cầm quân, nếu như hắn được làm Đại tướng thì nước Triệu đâu đến nỗi thất thế với các chư hầu. Quá biết tính nết của con, khi Triệu Xa lâm bệnh nặng sắp lìa đời, triều đình định phong cho Triệu Quát thay chức thì Triệu Xa cố gắng dặn dò là không nên để Triệu Quát cầm binh quyền trong tay. Chính ông cũng gọi Triệu Quát đến bên giường bệnh trăn trối. Thế nhưng Triệu Quát không để vào tai, cười mà nói với thuộc tướng:

– Phụ thân của-ta đã già nên đâm ra lẩm cẩm. Nước Triệu đã có ta thì lo gì bị các nước khác uy hiếp. Hiện tại nước Tần ngang dọc là vì ta chưa được nắm binh quyền đó thôi.

Lời nói ngông cuồng này rất được Triệu vương tán thưởng nên sau khi Triệu Xa chết, Triệu vương liền cho Triệu Quát thừa kế chức Mã Phục quân, càng làm cho hắn vênh vang tự phụ. Riêng Triệu vương cũng đã mấy lần thúc giục Liêm Pha mở chiến lũy ra giao tranh nhưng vị lão tướng nhất quyết từ chối. Triệu vương rất tức giận việc này, không dám trị tội Liêm Pha nhưng không sao chịu được. Nay nghe tin đồn nếu có Triệu Quát cầm quân thì quân Tần sẽ sợ hãi mà rút lui thì rất mừng, lập tức triệu Triệu Quát vào hỏi xem kế sách chống Tần. Triệu Quát vênh mặt lên trả lời:

– Nếu quân Tần do Võ An quân (Bạch Khởi) chỉ huy thì Quát này còn phải tính toán đôi phần. Riêng tên Vương Hạt thì chỉ một trận đã đánh cho hắn không còn manh giáp mà chạy về Tần.

Triệu vương cả mừng, không đắn đo gì nữa, lập tức xuống lệnh phong cho Triệu Quát làm Thượng tướng thay chỗ của Liêm Pha. Mẹ của Triệu Quát nghe tin kinh sợ, vội vào triều khuyên can:

– Trước khi mất, lão tướng công của tôi đã dặn đi dặn lại nhất định không nên để thằng Quát cầm quân. Xin Đại vương nghĩ lại.

Thấy Triệu vương vẫn khăng khăng theo ý mình, mẹ của Triệu Quát liền nói:

– Đây là ý của Đại vương, không liên quan gì đến gia đình họ Triệu. Nếu như mai này có việc gì xảy ra, xin Đại vương đừng làm liên lụy đến họ Triệu là được rồi.

Triệu vương phải nhận lời, mẹ của Triệu Quát mới chịu lui ra. Riêng Tần vương nghe Phạm Thư báo lại tin này thì cả cười, bí mật sai Bạch Khởi đến cầm quân, vẫn để Vương Hạt xuất đầu lộ diện ra lệnh cho ba quân như trước.

Khi Triệu Quát đến Trường Bình nhận binh phù từ tay Liêm Pha, lập tức cho sửa đổi lại cách bố phòng, tập trung quân mã để quyết chiến chứ không thèm rải đều theo chiến lũy nữa. Liêm Pha rất tức giận nhưng không dám trái mệnh vua, đành phải cùng hơn trăm tùy tùng thân tín trở về Hàm Đan. Sau khi Liêm Pha đi rồi, Triệu Quát lại thay đổi toàn bộ các tướng lãnh, đưa người của mình vào thay thế. Lúc ấy Phùng Đình cũng có mặt, dùng lời khuyên can nhưng rốt cuộc bị Triệu Quát mắng cho một trận.

Khi đã bố trí xong, Triệu Quát hội tướng sĩ ra hiệu lệnh: “Các người phải sửa soạn tinh thần để sẵn sàng xuất trận. Khi nào xông ra phải đánh cho địch một trận thất điên bát đảo, nếu chúng bỏ chạy cũng không tha, phải truy kích đến cùng. Ai nhút nhát không tuân lệnh sẽ bị chém đầu”.

Riêng Bạch Khởi khi đến nhậm chức, bí mật sai Vương Hạt đem quân khiêu chiến, sau đó lần lượt đến các tướng Vương Lăng, Vương Bôn, lần nào cũng bại trận bỏ chạy khiến Triệu Quát càng thêm nghênh ngang. Riêng Bạch Khởi lén ngồi trên cao quan sát cách hành binh của Triệu Quát, hiểu rõ rồi liền bố trí quân Tần làm 4 cánh trước khi bày trận dụ địch. Theo cách xếp đặt của Bạch Khởi, trước tiên Vương Bôn và Vương Lăng ra giao chiến, giả thua dẫn dụ Triệu Quát đánh thẳng vào trung quân. Triệu Quát đã một lần giao chiến với hai tướng Tần này, rất khinh thường nên lập tức xua quân đuổi theo truy kích, rốt cuộc bị quân của Hồ Thương mai phục xông ra cắt đứt làm hai phần, không tiếp ứng nhau được nữa.

Trong khi đó hai tướng Tần là Tư Mã Thúc và Tư Mã Ngạnh thì luồn phía sau tiến đánh chiến lũy. Lúc ấy Triệu Quát đã nhận ra mình lọt vào thế trận của địch, kinh hoảng dẫn quân chạy sang phía đông, nghĩ rằng nơi ấy không có quân Tần. Chẳng ngờ Bạch Khởi đã sai hai danh tướng là Mông Vụ và Vương Tiễn chờ sẵn. Quân Triệu đại bại, chết thôi vô số, thây nằm chật đất. Thế nhưng Triệu Quát vẫn chưa tỉnh ngộ, truyền cho quân chạy đến chỗ có nguồn nước đóng trại, chấn chỉnh để giao tranh tiếp. Phùng Đình vô cùng lo lắng nhiều lần khuyên giải mà Triệu Quát nhất định không nghe theo, còn mắng chửi:

– Việc binh thắng bại là thường. Nay ta mới thua một trận mà người cứ nhất định rút lui thì là làm nản lòng quân tướng. Ta đã ra lệnh nếu ai bất tuân thượng lệnh sẽ bị chém đầu. Ngươi cố mà giữ mạng sống đấy.

Phùng Đình biết có khuyên chỉ mang lấy cái chết oan uổng, từ đó trở đi không thèm mở lời nào nữa.

Ngay lúc ấy lại có tin đích thân Tần vương dẫn đại quân tiếp sức, rải quân đánh khắp vùng để ngăn chặn việc tiếp vận lương thảo càng làm cho tướng sĩ nước Triệu kinh sợ. Không những thế, sau khi đã bao vây Triệu Quát đâu đó, Bạch Khởi liền sai quân trương cờ hiệu của mình lên. Lần này không chỉ tướng sĩ nước Triệu mà chính Triệu Quát khi biết có Bạch Khởi chỉ huy thì cũng rụng rời cả tay chân, muốn bỏ chạy cũng vô phương nữa rồi.

Quân Triệu cố thủ được 46 ngày thì hết lương thực, bắt đầu xảy ra chém giết vì tranh giành thức ăn, số người chết vì đao kiếm không ít mà số người chết đói thì không sao đếm xuể. Triệu Quát mấy lần cho quân đánh ra ngoài tìm đường sống nhưng Bạch Khởi không đấu chiến trực diện mà bố trí cung thủ hết lớp này đến lớp khác. Do vậy quân Triệu chết nhiều mà chẳng sao thoát khỏi trận mưa tên, đành rút lui về chiến lũy như cũ.

Thêm một thời gian ngắn nữa thì tình hình quân Triệu càng thêm thê thảm, đến củi cũng không còn để nấu nước. Triệu Quát túng thế không làm sao được đành phải mặc mấy lớp áp giáp, cùng chư tướng liều chết phá vòng vây. Quả nhiên nhờ giáp dày mà Triệu Quát sắp sửa thoát khỏi vòng vây. Ngờ đâu Bạch Khởi quan sát rất tinh, lập tức hô quân cứ nhắm ngựa mà bắn. Rốt cuộc con ngựa của Triệu Quát bị trúng thương ngã lăn ra đất. Thế là quân Tần ào ào xông đến, chớp mắt đã chém chết Triệu Quát.

Hai viên phó tướng theo hộ vệ Triệu Quát là Phó Bảo và Vương Dụng cũng không thoát khỏi cái chết theo chủ tướng. Trong chiến lũy nhìn ra, Phùng Đình tự biết cuộc chiến đã chấm dứt, lại biết rằng Tần vương oán ghét mình đã dâng thành Thượng Đãng cho Triệu nên nếu đầu hàng cũng không xong, phải tự đâm cổ chết theo. Quân sĩ dưới quyền thấy mấy chủ tướng cùng chết thì thành đại loạn.

Bạch Khởi xét theo tình hình biết rằng không cần phải đánh nữa cho tốn sức, cho quân kéo cờ chiêu hàng. Toàn bộ quân Triệu lập tức qui hàng, tính ra có đến hơn 20 vạn. Riêng số giáp mã, khí giới quân Tần thu được thì chất cao như núi. Bạch Khởi chia số quân Triệu đầu hàng ra làm 10 trại riêng biệt rồi phái 10 tướng kết hợp với 20 vạn quân Tần để kiểm soát. Bạch Khởi cũng xuống lệnh giết bò ban rượu cho quần Triệu đầu hàng ăn uống. Nhưng đêm hôm đó Bạch Khởi bàn với các tướng:

– Hàng quân của Triệu nếu tính cả trận Giã Vương và Thượng Đãng thì đến hơn 40 vạn. Chúng ta giữ họ sẽ tốn phí lương thực không biết bao nhiêu, lại bó tay không thể tiến quân mau được. Bằng như tha về thì đó là mối họa rất lớn sau này. Đằng nào cũng không được, chỉ còn mỗi cách vẹn toàn mà thôi, đó là giết hết. Tuy sẽ mang tiếng tàn nhẫn nhưng vì đại sự không nên câu nệ.

Các tướng đều đồng ý như vậy. Bạch Khởi liền xuất rượu thịt trong kho ra cho bọn hàng binh uống thật say rồi ngay đêm ấy truyền tướng sĩ canh giữ phải lấy vải trắng buộc ngang đầu làm hiệu. Bất cứ ai không buộc vải trắng trên đầu đều bị giết sạch.

Tuân lệnh Bạch Khởi, chờ khi hàng quân Triệu mê mệt ngủ say, quân Tần nhẹ nhàng tiến vào rồi ra tay chém giết, trong đêm tối mịt mù chẳng ai nhìn rõ ai chỉ có tiếng kêu khóc vang trời, toàn bộ số hàng binh tính ra khoảng 45 vạn đều bị giết sạch. Máu chảy đến mức lan ra toàn bộ đất Dương Cốc, sông suối đều có màu đỏ tanh nồng, tưởng tượng ra cũng đủ rùng mình sởn óc. Bạch Khởi sai quân thu nhặt cái thủ cấp của bọn hàng binh, chất thành ngọn núi cao ngất, gọi là Lâu sơn. Tổng số 45 vạn hàng binh ấy chỉ còn lại 240 người sống sót. Đáng ra Bạch Khởi giết luôn nhưng muốn thi hành kế sách trấn áp tinh thần quân dân nước Triệu nên tha cho về Hàm Đan. Từ đó danh tiếng của Bạch Khởi lan rộng khắp các chư hầu, quân của ông đi đến đâu người ta cũng khiếp sợ bỏ chạy, chưa tướng nào dám chống cự.

Cả Hàm Đan vang dậy tiếng khóc cho cha anh, người thân bỏ mạng oan ức. Riêng Triệu vương cùng triều thần đều kinh hoàng thất sắc, run rẩy không nói ra lời. Triệu vương cố sức sai người mang lễ vật đến nhà họ Triệu vừa báo tin Triệu Quát tử trận vừa ngỏ lời xin lỗi đã không nghe theo sự can gián ngày trước. Như thế vẫn chưa hết, vài hôm sau Triệu vương lại nhận được một tin chấn động, đó là Bạch Khởi tuyên bố sửa soạn quân mã tiến thẳng đến Hàm Đan.

Triệu vương còn đang bối rối thì may sao có một vị Đại phu tên là Tô Đại xin được sang Tần thuyết khách, nói:

– Phạm Thư dùng phản gián khiến Đại vương chê bỏ lão tướng Liêm Pha của Triệu nên mới thắng được trận này. Nay tôi cũng xin thi hành kế phản gián để cứu nước Triệu vậy.

Dù Triệu vương chưa tin tưởng nhưng không còn cách nào khác, đành phải cấp vàng bạc cho Tô Đại sang Tần. Khi ấy Tô Đại xin yết kiến Phạm Thư, nói:

– Võ An quân dụng binh như thần, chắc chắn chỉ trong vài ngày sẽ tiến tới Hàm Đan. Như vậy công lao của ông ta lớn lao hơn ngài nhiều. Ngài tuy là Tướng quốc nhưng không phải dân nước Tần, liệu có được Tần vương tin tưởng mãi không?

Phạm Thư tuy có trí tuệ siêu việt nhưng tính tình nhỏ nhen, nghe vậy thầm hoảng sợ, ngay hôm sau tìm cách tước bớt binh quyền của Bạch Khởi đi. Tần vương rất tin tưởng Phạm Thư, nghe theo lời tâu, cấp tốc triệu Bạch Khởi về triều đồng thời bãi bỏ ý định tiêu diệt Triệu. Theo mệnh của vua, Bạch Khởi về đến triều đình, tức giận nói:

– Theo thần thì nhiều lắm chỉ một tháng đã chiếm xong toàn bộ nước Triệu. Chẳng hiểu vì đâu Đại vương lại gọi thần trở về?

Tần vương đáp:

– Ta cũng biết vậy nhưng hiện quân tướng nước Tần chinh chiến đã quá lâu, e rằng sẽ mỏi mệt. Nước Triệu vẫn còn đó, muốn đánh giờ nào mà chẳng được. Vả chăng Phạm Tướng quốc đã thuyết phục được hai nước Hàn và Triệu cắt đất thần phục, kể cả 17 thành vùng Thượng Đãng mà khanh đã chiếm được thì kể ra cũng khá nhiều. Ban ân cho họ rồi sau lấy lại cũng chẳng muộn.

Bạch Khởi biết ngay đó chính là kế sách của Phạm Thư, thở dài mà lui ra. Thế nhưng chính Tần vương nghĩ lại cũng hết sức hối tiếc, chưa được mấy ngày lại triệu Bạch Khởi vào triều xuống lệnh xuất quân đi đánh Hàm Đan. Bạch Khởi liền cáo bệnh không đi, để tướng Vương Lăng dẫn 10 vạn quân tiến đánh Hàm Đan. Tiếc rằng cơ hội tới rồi đi trong chớp mắt, lúc đó Triệu vương trọng dụng lại lão tướng Liêm Pha, ai ai cũng kính phục nên theo về rất đông. Liêm Pha lại ban bố quân lệnh chỉnh đốn quân mã rất nghiêm, chẳng bao lâu đã phục hồi được sức mạnh như trước.

Do vậy dù Vương Lăng bao vây Hàm Đan mà không làm gì được, Liêm Pha lại dùng cách đánh du kích, đêm đêm cho quân trèo ra ngoài thành đánh phá, làm cho quân Tần canh phòng hết sức vất vả. Thấy đã lâu mà Vương Lăng không chiếm nổi thành Hàm Đan, Tần vương lại gọi Bạch Khởi vào trao cho quyền Thượng tướng. Thế nhưng Bạch Khởi biết rằng ngay lúc ấy quân Triệu hoàn toàn mất hết nhuệ khí, có thể không đánh cũng chiếm được Hàm Đan, nay đã được Liêm Pha củng cố quân binh thì việc trở nên rất khó khăn, nhất quyết từ chối.

Tần vương càng thêm nóng lòng sốt ruột, liên tiếp mấy lần gọi Bạch Khởi vào nài ép phải ra quân nhưng ông một mực không chịu. Tần vương không biết làm sao, đành phải sai Vương Hạt đem thêm 10 vạn quân nữa tiếp trợ cho Vương Lăng nhưng trải qua gần nửa năm tình hình vẫn không thay đổi được.

Đang lúc Tần vương tức giận thì vô tình Bạch Khởi trong lúc đàm đạo với thuộc hạ, cho rằng Tần vương không biết chớp thời cơ thì thất bại là đúng lắm rồi. Chẳng ngờ câu nói này lọt đến tai khiến Tần vương vô cùng tức giận nhưng vẫn còn nể nang Bạch Khởi, chưa có ý định trừng phạt ông. Tiếc rằng Phạm Thư nghĩ khác, cho rằng mình đã lỡ ám hại Bạch Khởi, nếu không “diệt cỏ tận gốc” thì sau này chỉ cần Bạch Khởi chấp nhận yêu cầu của Tần vương rồi lập thêm nhiều công trạng mới tất mình sẽ khó yên thân nổi.

Vì vậy nhân lúc Tần vương đang nóng giận, Phạm Thư liền gièm pha thêm khiến nhà vua không sao kềm được nóng nảy, lập tức xuống lệnh thu hết quan tước và đất phong của Bạch Khởi, giáng ông xuống làm quân sĩ ởÂm Mật, là vùng đất khô khan hoang vắng, phải rời khỏi Hàm Dương ngay trong ngày. Bạch Khởi nhận lệnh này chỉ buồn rầu chứ không phản kháng, một thân một mình đi đến trạm Đỗ Bưu rồi nghỉ ở đó chờ hành lý đến sau.

Thế nhưng Phạm Thư vẫn chưa cho là đủ, vu cáo với Tần vương:

– Trong lúc ra đi, Bạch Khởi oán giận nói nhiều lời khó nghe. Thần chỉ biết là ông ta dẫn lời danh tướng Phạm Lãi ngày trước than thở rằng “Con thỏ bị bắt thì chó săn tất bị mổ”. Thần lại biết họ Bạch hoàn toàn không có bệnh gì, nếu như sang nước khác đầu quân thì thật nguy cho Tần, xin Đại vương vì đại sự mà toan tính dứt khoát mới được. Tần vương nghe vậy cũng hơi kinh hoảng bởi quả thật nếu Bạch Khởi đến nước khác phò tá thì chắc chắn tham vọng của mình sẽ tiêu tan thành mây khói. Nghe nói Bạch Khởi vẫn còn ở Đỗ Bưu chờ đợi hành trang, Tần vương liền sai một viên cận thần đem thanh bảo kiếm đến đó ban cho ông tự xử. Bạch Khởi nhận thanh kiếm, ngửa mặt lên trời than thở: - Ta cả đời làm tướng giết chóc không biết bao nhiêu, đó chẳng qua phải như vậy thôi. Thế nhưng ở Trường Bình ta đã quyết định giết hơn 40 vạn hàng binh nước Triệu thì là quá tàn ác. Có lẽ đây là quả báo, bao nhiêu vong hồn hàng binh nước Triệu tố cáo với trời đất nên ta mới rơi vào tình trạng thế này. Đã là số trời thì làm sao tránh khỏi, ta không thể tham sống sợ chết làm nhục tới tiếng tăm từ bao lâu nay. Than xong, Bạch Khởi dùng bảo kiếm đâm cổ mà chết. Danh tướng lẫy lừng một thời mà phải chết oan ức chỉ vì sự tranh giành địa vị trong triều đình khiến ai ai cũng thương tiếc, người dân Đỗ Bưu liền lập miếu thờ cúng Bạch Khởi ở đó, suốt tháng năm nhang khói. Thế nhưng hậu quả việc lạm sát quá nhiều hàng binh vẫn như là một vết nhơ ngàn đời, dù kính phục Bạch Khởi đến đâu mỗi khi nhắc tới trận đánh Trường Bình người ta cũng không khỏi rùng mình kinh sợ.

Do vậy mãi cho đến đời nhà Đường, tức là hơn 800 năm sau, đột nhiên có một con trâu bị sét đánh chết ngoài đồng. Khi lật lên, người ta thấy vết sét đánh ngoằn ngoèo giống như hai chữ “Bạch Khởi” thì liền đồn đại đó chính là vị danh tướng nhà Tần, do giết người nhiều quá nên vẫn bị trời hành tội, thành kiếp trâu rồi bị sét đánh. Điều này hoàn toàn không thể tin được nhưng vẫn biểu hiện ấn tượng về việc giết hàng binh nước Triệu của Bạch Khởi không bao giờ phai nhạt trong tâm trí người dân Trung Hoa.

Khi giết xong Bạch Khởi, Tần vương lại sai Trịnh An Bình (bạn của Phạm Thư) mang thêm quân đến Hàm Đan tiếp viện. Sau đó vẫn không có biến chuyển nên Tần vương thân chinh đem quân đến Hàm Đan, tình thế cực kỳ nguy cấp. May sao Tín Lăng quân của nước Triệu lập kế trộm binh phù, hội họp các nước chống lại mới đẩy lui được quân Tần.

Cái chết của Bạch Khởi khiến cho tham vọng của nước Tần bị chậm lại rất lâu, cơ hồ bị mai một nếu sau này không xuất hiện một nhân tài anh hùng đại lược là Tần vương Doanh Chính với những danh tướng lưu danh trong lịch sử như Mông Điềm, Vương Tiễn, v.v...

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Huyền Cơ

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.