Bóng chiều rủ xuống cù lao, trùm lên không gian một sắc cam tươi rực rỡ, tựa như màu mái ngói nhà ai mới lợp xong còn ánh lên vệt nắng cuối ngày. Con sông uốn mình chảy qua bãi bồi, dòng nước xám xịt trôi đi âm thầm như mang theo trọn vẹn những nỗi niềm giấu kín. Mặt sông phẳng lặng như một tấm gương, thi thoảng bị rạch đôi bởi một nhịp chèo khua cô độc rồi lại nhanh chóng khép lại, nuốt trọn vệt sóng lăn tăn vào lòng sâu tịch mịch. Nơi dải đất ven sông ấy, người ta vẫn âm thầm gọi với bằng cái tên: Xóm Không Chồng. Cũng chả biết trời xui đất khiến ra sao mà những mảnh đời lỡ thì duyên kiếp, gãy gánh đường đời, lại ở gần nhau dọc theo con đường đất ngoằn ngoèo, trơn trượt mỗi độ mưa dầm. Mặc dù tính đi tính lại, cả cái xóm nghèo này chỉ vỏn vẹn đúng tám người đàn bà mang hoàn cảnh không chồng. Tám thân phận, nếp nhà lá xiêu vẹo lúp xúp dưới những rặng tre xanh rì rầm dày như bức tường thành cô độc. Bà Hai Thơ là người già nhất trong xóm không chồng, góa phụ từ tuổi hai mươi khi chồng đi biển biền biệt không về. Ông mất trong trận bão số 3, để lại bà Hai Thơ và người con gái tên Thắm. Bà Hai ở vậy nuôi con nên người, khi Thắm đã lớn bà cho đi học may trên huyện, sau này cô con gái duy nhất cũng đi lấy chồng, nhưng cũng được vài năm thì Thắm bị gia đình chồng ghẻ lạnh, ép cô phải ký giấy ly hôn để chồng đường đường chính chính lấy cô Dung bên kia sông. Vậy là Thắm cũng trở thành góa phụ không chồng trở về nhà sống với bà Hai.
Gần đó chỉ cách có sáu cái nhà thôi, cũng có hoàn cảnh của cô Hai Bông, cô Bông ở vậy cặm cụi nuôi cha mẹ già liệt giường và hai đứa em thơ dại, đến khi cha mẹ qua đời, hai đứa em lớn khôn thì cô đã sống quen vậy, không thèm lấy chồng luôn. Ngoài ra đầu xóm thì có cô Tư Đẹp, người từng bị hứa hôn rồi nhà trai hủy hôn ngay trước ngày cưới vì lời đồn thất thiệt. Người ta đồn cô Tư Đẹp bị bệnh si đa, chẳng biết tin này từ đâu ra mà nó lan truyền như đám cháy rạ. Thế là trong xóm không một ai dám lấy làm vợ, đành phải làm mai làm mối cho cô một người đàn ông ở tận tỉnh khác, nhưng khi tới đây rồi nghe tin thì họ cũng bỏ của chạy lấy người, mặc dù cô Tư Đẹp rất đẹp gái. Cô tên thật là Tư chứ không phải Đẹp, chẳng qua người ta thấy cô ngộ gái, có nét đoan trang diễm lệ, rồi thêm chữ Đẹp ở sau cái tên. Có thể tin đồn bị si đa là xuất phát từ việc đi lên Sài Gòn làm ở xí nghiệp may, khi trở về thì ốm nhom ốm nhách. Người ta ác miệng nói cô Tư Đẹp nhờ có cái nhan sắc nên lên thành phố chỉ có nước đi làm đĩ chứ làm xí nghiệp may, xí quách vá cái nỗi gì, giờ mắc cái bệnh si đa rồi vác cái thân tàn ma dại mà trôi dạt trở về. Không phải vậy thì tiền đâu ra mà về quê mua tôn sửa lại cái nhà, lại còn sắm sửa đủ thứ.
Thói đời nhiều cái nghĩ nó cũng lạ lắm, cái đẹp của người đàn bà nhiều khi chẳng phải là phước báu, mà lại trở thành cái tội để thiên hạ đem ra săm soi, đố kỵ, tệ hơn nữa là thêu dệt bịa đặt, cũng vì thói ghen ăn tức ở. Nhan sắc diễm lệ của cô Tư Đẹp như cái gai chọc vào mắt những kẻ ưa dèm pha. Mặc cho cô có gạt nước mắt phân trần, khóc nghẹn lời để thanh minh bản thân hoàn toàn trong sáng, thì ở cái xóm quê này, lời giải thích bao giờ cũng chìm nghỉm dưới dòng miệng đời độc địa. Mà người ta cũng lạ đời, những tin đồn thất thiệt, cay nghiệt lại là thứ mà họ dễ tin, dễ chuyền tay nhau nhất, tiêu đái qua bao nhiêu ly trà, trên bàn nhậu của mấy gã đàn ông, giữa chợ xá của các bà thích hóng hớt và thêu dệt, nó kích thích và hay hơn hẳn những lời trần tình ruột gan đầy sự thật của một người đàn bà tội nghiệp. Dù trong thâm tâm ai cũng thừa hiểu, cái tin đồn cô Tư Đẹp mang căn bệnh thế kỷ ấy hoàn toàn vô căn cứ, chẳng có lấy một bằng chứng nào để mà xác thực. Mà người ta chẳng cần bằng chứng, họ chỉ cần một cái cớ để săm soi, một miếng mồi để xì xầm cho qua đoạn ngày dài quạnh quẽ. Họ gán cho cô cái nhãn “đẹp gái nên dễ làm đĩ” như một cách biện minh đầy tàn nhẫn cho sự định kiến của mình. Sự hao đi của tấm thân mi nhon, cặp má hóp do những ngày tháng tăng ca vắt kiệt sức lực nơi xí nghiệp may, ăn uống nghỉ ngơi thất thường không đầy đủ, tự nhiên qua cái miệng đời lại biến thành dấu vết của thứ căn bệnh yếm thế. Lời thanh minh đầy chân thật của cô Tư đi giữa những cái bĩu môi, những cái lắc đầu ái ngại và ánh mắt né tránh của xóm giềng, đẩy cô rơi thẳng vào khoảng không đơn độc, để rồi cay đắng nhận ra, nhan sắc trời ban và miệng đời ở quê nhà đôi khi lại phối hợp với nhau tạo thành cú quật nghiệt ngã hơn cả những giông bão nơi xứ lạ. Từ đó cô Tư mặc kệ, ai nói sao tùy, cô cũng chẳng thèm lấy chồng, cứ ở vậy cho xong một kiếp đàn bà.
Cách đó cũng chẳng xa, là nhà thím Ba Lòng, người đàn bà hiền lành, cứ sáng sớm là gánh cháo ra chợ bán, thím cũng thuộc cái số khổ, gánh trên vai kiếp nạn cay đắng khi chồng mê cờ bạc nợ nần ngập đầu, rồi nhẫn tâm bỏ theo bồ nhí lên thành phố trôi nổi. Thím Ba Lòng đành gạt nước mắt gánh trả đống nợ như chúa chổm, đơn phương ly hôn rồi một mình bán cháo lòng nuôi con ăn học. Có thể cái tên Ba Lòng là do cô bán cháo lòng nên người ta gọi vậy. Lại có chị Năm Hạnh, lỡ thì duyên kiếp cũng chỉ vì thời trẻ mải miết gánh vác tần tảo lo cho gia đình, nuôi cha mẹ già và ba đứa em trai nhỏ. Khi cha mẹ mất, ba thằng em đã ra dáng thanh niên, chị giật mình nhìn lại thì thanh xuân đã như bóng chim tăm cá trôi qua tự bao giờ. Ngay bên rạch là căn nhà nhỏ của cô Sáu Dịu, người phụ nữ bị tật ở chân từ nhỏ, dẫu tâm hồn hiền như đất nhưng lại hứng chịu bao lời chê bai cay nghiệt của thói đời, không ai lấy đành chọn cách sống không chồng con. Cuối xóm là chị Tám Mơ, người đàn bà mang nỗi đau bị người tình chối bỏ khi mang thai ngoài ý muốn, chị một mình làm thuê, một mình nuôi con nhỏ sống vậy cho tới bây giờ.
Xóm không chồng là thế đó, mỗi người mỗi cảnh, trải qua bao mùa con nước ròng nước lớn, dù lòng sông có vắt cạn hay cuồn cuộn dâng phù sa, thì sau cánh cửa mong manh đó, ngọn đèn dầu vẫn cặn kẽ soi bóng và bếp lửa đêm đêm vẫn luôn đỏ hồng ấm nồng. Cái ấm không đến từ hơi của đàn ông, mà gom góp từ sự đùm bọc, sẻ chia của những kiếp người cùng chung cảnh ngộ. Trước hiên nhà của những người đàn bà ấy, cây rơm vàng óng ngả qua bao mùa mưa nắng, mùi ngai ngái quyện vào không khí chiều ẩm ướt. Trước cửa cái lu nước mưa bít rêu xanh cặn, cái gáo dừa múc nước treo lủng lẳng trên cây cột, thi thoảng gõ nghe lóc cóc theo từng cơn gió chướng. Cây cầu khỉ bắc qua con rạch nhỏ trơn trượt, đu đưa theo nhịp bước chân gầy guộc của những người đàn bà trở về từ đồng xa. Ruộng lúa ngút ngàn sau nhà chiều nay nặng hạt, sóng lúa rì rầm như thì thầm những câu chuyện cổ về thân phận những người phụ nữ quê.
Trời càng về đêm, gió mạnh bỗng đổi chiều rít lên từng hồi ghê rợn. Mây đen ngùn ngụt kéo kín bầu trời, nuốt chửng dải cù lao vào bóng tối mông quạnh. Sấm giật đùng đùng ngang trời, mưa trút xuống như trút nước. Con sông dâng sóng cuồn cuộn, sắp nuốt chửng cây cầu khỉ lảo đảo. Mẹ con bà Hai tay ôm chặt lấy gối. Ngọn lửa bếp bập bùng chiếu lên gương mặt hao mòn vì sương gió của bà Hai và chị Thắm. Khói bếp đùn lên mù mạt, vương vào mắt cay xè. Ánh đèn dầu leo lắt trong góc nhà nhảy múa theo từng cơn gió lùa qua kẽ vách, hắt lên tường hai cái bóng người chập chờn, như níu giữ chút sinh khí mỏng manh giữa muôn trùng mưa bão. Rồi một tia chớp nháy đỏ rực góc trời, tiếng sấm nổ tung như rung chuyển trời đất. Ngay sau đó là tiếng chân chạy thục mạng trên con đường đất ngập nước, cùng tiếng đập cửa dồn dập, gào thán thê thiết:
- Má Hai ơi! Chị Thắm ơi! Cứu con… Cứu con.
Bà Hai Thơ và Thắm lật đật ngồi chồm dậy. Cánh cửa vừa mở ra, gió bão ùa vào làm ngọn đèn dầu tắt phụt. Một bóng người ngã khuỵu ngay ngưỡng cửa, gục đầu vào lòng bà Hai, vừa thở, vừa khóc run rẩy. Người đó chính là con Út Huệ. Người từng chê cười cái xóm không chồng này, vì Huệ cho rằng những người phụ nữ ở đây sống không có đức nên chẳng ai dám rước, còn chị là sống đàng hoàng tử tế nên được trời thương cho lấy chồng giàu. Chị đi về làm dâu nhà khá giả bên sông chưa đầy nửa năm, chiều nay bị chồng say rượu đánh đập, mẹ chồng xua đuổi giữa đêm bão, vì nghi chị ăn cắp vàng. Thân thể chị ướt sũng, vạt áo đứt cúc, mặt sưng húp, thân thể hằn nguyên vết đỏ của bàn tay bạo lực.
Mẹ con bà Hai dìu Út Huệ vào góc bếp, đóng sập cửa lại để tránh mưa tạt. Ngoài con đường đất bỗng vang lên tiếng chửi bới oang oang cùng tiếng bước chân nện rầm rập của Hai Đời, gã chồng đang say rượu của Út Huệ. Trên tay Hai Đời lăm lăm cây đòn gánh, cùng với thằng em ruột bặm trợn đang hùng hổ lao tới đập cửa rầm rầm kèm theo câu chửi bới:
- Con đĩ Huệ! Mày mau ra đây! Đàn bà chỗ này toàn một lũ hư thân mất nết ế chảy ế thiu, mày rúc vô đó để thành loại hư đốn như tụi này phải không? Đưa vàng đây rồi theo tao về, không tao đốt luôn cả cái xóm này.
Huệ run gập người vì khiếp sợ. Nhưng kỳ lạ thay, trên gương mặt bà Hai Thơ và chị Thắm không hề có một chút sợ hãi nào. Bà Hai Thơ cầm lấy cây liềm đang giắt trong vách lá, vật báu cùng bà đi cắt lúa mướn nuôi con suốt mấy mươi năm trời. Chị Thắm vơ tay chụp lấy cây xẻng, cầm chắc trong tay với tư thế sẵn sàng.
Ngoài sông, thằng Bẹo đi gỡ lưới cá nghe ồn ào biết có chuyện, nó quăng cái gàu đang tát nước trong xuồng rồi một mạch chạy lên bờ, chạy tới nhà ai cũng la làng rồi đưa tay đập cửa rầm rầm. Cái giọng như lấn át tiếng mưa gió ngoài kia:
- Bà con cô bác ơi, có hai thằng du côn nó tới phá nhà bà Hai kia kìa.
Chị Hạnh giật mình tỉnh giấc, thúc giục ba đứa em trai thức dậy. Thằng Đức, thằng Phúc, thằng Hiếu, đứa cầm cây dầm, đứa cầm cái thuổng, đứa cầm rựa, xông ra cửa khi chị Hạnh không kịp cản chúng lại. Từ trong bóng tối đêm mưa, sáu người đàn bà còn lại của xóm, từ cô Hai Bông đến cô Tư Đẹp, tay lăm lăm gậy gộc, đồng loạt rầm rập tiến về phía nhà bà Hai Thơ. Từ trong nhà mẹ con bà Hai, biết có đồng minh tới, Thắm giấu Huệ vào trong xó buồng rồi hai mẹ con thong thả mở cửa bước ra đối diện:
- Anh em mày có tin ôm đầu máu, bỏ xác tại đây không? Xóm này vài người phụ nữ tuy không có chồng, nhưng chẳng phải là họ hoàn toàn không có người thân, anh em họ hàng. Thử đập phá lần nữa cho tao coi. - Thằng Phúc nói với lời lẽ tức giận, tay cầm cái thuổng giơ lên cao.
Tám người đàn bà đứng thành một hàng ngang trước hiên, vạt áo nâu đẫm nước mưa nhưng ánh mắt ai nấy đều rực lên sự kiên cường tới kinh ngạc.
- Mày say rồi thì về ngủ đi Đời. Mai tỉnh táo muốn nói gì thì tới đây. - Bà Hai Thơ cất giọng điềm tĩnh.
Cô Hai Bông và cô Tư Đẹp giơ dầm chặn đứng cản cửa lại. Thấy tám người đàn bà bao quanh, và thêm mấy thằng thanh niên, ánh mắt ai nấy đều hừng hực lửa giận và sự đoàn kết không sợ chết, hai gã đàn ông bặm trợn bỗng chốc sụt hờn, hoảng hốt thoái lùi rồi xách chân chạy trốn vào đêm mưa tối mịt. Cánh cửa của nhà bà Hai Thơ được khép lại, đẩy lùi giông bão và sự ác nghiệt ra ngoài kia. Ngọn đèn dầu lại được thắp lên, tỏa ánh vàng dịu ngọt che chở cho những thân phận đàn bà đang quây quần quanh gian bếp nhỏ. Chị Hai Bông nấu nước cho Huệ tắm. Chị Thắm vội đi lấy bộ đồ của mình cho Út Huệ thay vì đang run cầm cập. Xong xuôi cô Tư Đẹp mượn chai dầu gió xức lên những vết tím tái sưng húp. Út Huệ nhìn những gương mặt đàn bà không chồng đang quây quần quanh mình với ánh mắt chan chứa tình thương, chị òa khóc nấc lên vì hối hận và xúc động. Bà Hai Thơ nghẹn ngào xoa dịu, nhưng có vẻ cũng trách móc:
- Mày ăn cắp vàng của người ta chi để họ đánh ra nông nỗi tới này hả con?
- Con không có ăn cắp, vàng mất là do con Nga nó lấy đem cho trai, rồi nó đổ thừa qua con. - Út Huệ sụt sùi khóc kể lể.
Nhìn ai cũng lo lắng thương cảm cho mình, Huệ càng thấy hối hận hơn. Cô nghẹn ngào:
- Hồi đó con đi qua đây, từng nói những lời ác nghiệt với mấy má, mấy chị. Con nói các má các chị hư hỏng nên mới không ai rước. Vậy mà lúc này con vào đường cùng, bị nhà chồng giáng họa, đánh đuổi, chỉ có mấy má mấy chị là giang tay cứu con.
Bà Hai Thơ nắm lấy bàn tay run rẩy của chị Huệ, ánh mắt đục mờ phù sa nhẹ nhàng mà bao dung đến mát ruột mát gan:
- Con ơi, đàn bà mình sinh ra trên đời đã là một nỗi truân chuyên. Người ta thương mình hay ghét mình, lúc sóng gió ngã xuống cũng đều là kiếp người cần một hơi ấm nơi nương tựa. Ở đây thì góa bụa thật, nhưng mà Huệ ơi... thà cái bếp soi bóng mình cô quạnh, còn hơn phải soi vào máu và nước mắt nhà người.
Chị Thắm khơi nhẹ ngọn lửa bếp, giọng nói như nghẹn lại giữa tiếng mưa đập rầm rập trên mái rạ:
- Đó là số phận, không ai muốn như vậy cả, nhưng đâu có sao. Người đời nói tụi này không chồng là bất hạnh. Nhưng hôm nay em thấy rồi đó, bất hạnh không phải là ở một mình, mà là ở bên một người như đang bị giam và hành quyết giống địa ngục trần gian. Xóm này tuy đơn độc, nhưng tụi chị có nhau, có cháo rau chia đôi, có cái bếp lửa này chưa bao giờ tắt để đón bất kỳ ai lỡ bước trở về mà sưởi ấm.
Chị Tư Đẹp cũng buồn theo cho hoàn cảnh của Huệ:
- Mình là phận gái nghèo, lấy chồng giàu chưa chắc là sướng đâu em. Cũng chẳng phải không có chồng là khổ. Em nhìn đi, tụi chị đã sống như vậy bao lâu rồi, không một bóng đàn ông, nhưng vẫn sống được đó thôi. Thắm nói đúng, không phải ở góa là bất hạnh, mà bất hạnh nhất chính là lấy chồng càng khổ hơn lúc chưa lấy.
Mãi sau này Út Huệ cũng chính thức ly hôn, vì không chịu nổi cảnh bị gia đình chồng chì chiết, hành hạ hết ngày qua tháng, giờ lại có thêm một người nữa thành góa phụ trong xóm. Thời gian cuồn cuộn trôi như dòng nước sông quê. Mấy mươi năm bám rễ, qua bao mùa con nước lớn con nước ròng đầy vơi theo năm tháng, khi những nếp nhăn đã xếp tầng trên trán và tóc ai cũng điểm sương, một biến cố lớn ập đến làm chao đảo dải đất ven sông. Chính là xóm không chồng nằm trong diện quy hoạch của nhà nước để xây dựng công trình dân sinh và tuyến đường giao thông mới.
Ngày nhận được thông báo giải tỏa, cả xóm chao đảo trong niềm bàng hoàng. Với những người đàn bà ấy, từng gốc tre, từng mái rạ, từng cái lu nước mưa bít rêu hay ngọn đèn dầu leo lắt đêm đêm không đơn thuần là tài sản, đó là máu thịt, là ký ức, là nơi duy nhất đã dang rộng vòng tay che chở cho họ suốt mấy chục năm qua.
- Không dời đi đâu hết! Tụi tôi sống ở đây, chết cũng nằm lại cái bãi bồi này. - Cô Tư Đẹp đập tay xuống bàn, nước mắt giàn giụa khi nghe cán bộ xã phổ biến chính sách.
Bà Hai Thơ ngồi im lìm buồn hiu bên bậc cửa. Bà đưa bàn tay gầy guộc vuốt nhẹ lên vách nứa. Căn nhà này là nơi bà đã ôm giữ biết bao nhiêu kỷ niệm cùng người chồng quá cố. Rời đi, biết lấy gì để làm dấu cho một dư âm đã sưởi ấm mẹ con bà mấy chục? Họ kiên quyết bám trụ. Từ chối một số tiền đền bù khổng lồ mà trong xóm ai ai cũng mong muốn có.
Biết được tâm tư và bi cảnh đặc biệt của xóm, chính quyền địa phương không dùng sự áp đặt cứng nhắc. Các cán bộ kiên trì tìm đến từng căn nhà lá, ngồi xuống bên bếp củi rực hồng, lắng nghe từng lời tâm sự nghẹn ngào. Cô cán bộ trẻ tên An nhẹ nhàng giải thích:
- Má Hai, chị Thắm ơi... Chính quyền biết cái xóm này là xương thịt, là linh hồn của mấy má, mấy chị. Nhưng dải đất này mở đường, xây cầu, quê mình mới thoát được cái nghèo, đám trẻ con mới có trường lớn mà học. Mấy má đã hy sinh cả đời vì gia đình, giờ nhường dải bãi bồi này cho quê hương, cái nghĩa ấy lớn lao lắm. Nhà nước đã cam đoan sẽ tìm nơi tái định cư theo đúng ý của các má, các chị, không tách rời đâu, khi về chỗ ở mới thì các má, các chị cũng sẽ là hàng xóm của nhau y chang bây giờ.
Sự chân thành, nhẫn nại và tôn trọng đó đã làm mềm đi sự kiên quyết của những người đàn bà góa phụ. Bà Hai Thơ thắp nén hương lên bàn thờ gia tiên, nhìn ra hàng tre lần cuối rồi gật đầu trong nước mắt:
- Thôi thì... mình nhường lại đất cho nhà nước làm đường lớn. Người đàn bà cả đời chịu thiệt, nay nhường bước cho quê hương đổi mới, cũng là làm một việc có ích cho đời...
Ngày nhận tiền đền bù giải tỏa, những người đàn bà ngồi lại quanh chiếc bàn gỗ tại nơi ở mới. Sau khi lo ổn định chỗ ở, họ vẫn còn dư một khoản tiền lớn. Nhiều người khuyên nên chia nhau cất giữ để dưỡng già, nhưng chị Thắm, cô Hai Bông và cô Tư Đẹp lại xua tay. Bà Hai Thơ gật gù, ánh mắt đục mờ bỗng rực sáng niềm tin mãnh liệt:
- Đàn bà con gái quê mình, lấy chồng mà không nghề ngỗng, không kiếm ra được tiền để làm chủ bản thân thì dễ bị phân biệt đối xử, dễ bị coi khinh lắm. Tụi nó hùn hết tiền này lại, mở một cái xưởng dạy nghề may hoàn toàn miễn phí cho đàn bà con gái trong xóm. Con Tư và con Thắm sẽ quán xuyến việc này. Hai đứa đó đã từng học may nên tụi tao đã bàn bạc cả mấy ngày nay.
Chẳng mấy chốc, một căn nhà khang trang được dựng lên ngay đầu con đường mới, treo biển hiệu giản dị. Họ mua hơn chục chiếc máy may hiện đại, nhờ chị Thắm người từng có tay nghề may bài bản và cô Tư Đẹp cùng đứng ra dạy nghề cho phụ nữ trong xóm. Một thời gian sau khi xưởng may đi vào hoạt động ổn định, chính quyền địa phương phối hợp với bên y tế tổ chức một đợt hiến máu nhân đạo ngay trên trạm y tế. Các chị em cùng đông đảo các học viên xưởng may đều hăng hái tham gia xắn tay áo hiến từng giọt máu nghĩa tình. Cũng chính trong đợt xét nghiệm sàng lọc máu khắt khe ấy, sự thật năm xưa được phơi bày ra ánh sáng. Bên y tế khẳng định cô Tư Đẹp hoàn toàn khỏe mạnh, máu cô trong sạch và không hề bị bệnh si đa như lời đồn độc địa từ bấy lâu. Tờ kết quả xét nghiệm trắng đen rõ ràng như một gáo nước dội thẳng vào mặt những kẻ từng buông lời dèm pha. Cô Tư Đẹp chính thức được giải oan về tin đồn dính bệnh si đa của những năm tháng trước. Người trong xóm bắt đầu ngượng ngùng, những kẻ ngày xưa hùa theo giờ lén lút nhìn cô bằng ánh mắt sám hối. Có vài mối lại rục rịch tìm đến, mấy người đàn ông quá lứa lỡ thì hoặc góa vợ trong vùng lại đánh tiếng muốn dạm hỏi cô Tư Đẹp về làm vợ, cho rằng giờ đã rõ trắng đen, cô cứ yên tâm lấy chồng gầy dựng lại cuộc đời. Mặc dù vậy, cô Tư Đẹp vẫn nhất quyết không chịu lấy chồng.
Chiều hôm nhận tờ giấy xét nghiệm giải oan, cô Tư Đẹp lặng lẽ đi bộ ra bờ sông mới. Cô cầm tờ giấy trên tay, mắt nhìn xa xăm về phía dải bồi cũ nơi rặng tre xanh nay đã nhường chỗ cho con đường nhựa phẳng lì. Cô thả nhẹ tờ giấy xuống con nước đang ròng. Tờ giấy trôi đi, mang theo cả bao nhiêu giọt nước mắt, bao nhiêu tủi nhục cay đắng của một thời tuổi trẻ. Tờ giấy giải oan của y tế có thể trả lại sự trong sạch cho tấm thân cô, nhưng những nếp gấp chấn thương trong lòng thì chẳng lời muộn màng nào lành lại được. Cô Tư Đẹp đã đi qua ngần ấy tủi nhục để nhận ra một điều sâu sắc, giá trị và sự hạnh phúc của người đàn bà chưa bao giờ nằm ở việc có một tấm chồng để làm vừa bụng hợp mắt thiên hạ. Cô quay lưng bước về phía xưởng may, nơi tiếng máy chạy rè rè vang lên như nhịp đập rộn rã của một cuộc sống mới. Cô chọn ở lại, đứng bên chị Thắm, bà Hai Thơ và những người chị em đã cùng cô đi qua giông bão. Sự tự do, tự chủ và tình thương yêu chân thành dưới mái xưởng này mới là bến đỗ bình yên nhất mà cô chọn gắn bó trọn đời.
Nếu như ngày xưa ở bãi bồi cũ, ngọn đèn dầu bập bùng chỉ đủ soi bóng một thân phận cô đơn trên vách lá, thì giờ đây dưới mái xưởng may sáng choang, ngọn lửa của tri thức và nghề nghiệp đang chiếu rực lên gương mặt của hàng chục người phụ nữ trẻ. Tiếng kéo cắt vải roàn roạt xẻ qua từng xấp hàng như cắt đứt đi những định kiến hẹp hòi, để rồi từng mũi kim đường chỉ đều đặn lại khâu vá lên những mảnh đời rách rưới, gắn kết họ lại thành một khối kiên cường. Dù con nước ròng hay con nước lớn ngoài kia có chảy xiết thế nào, bếp lửa của tình thương và sự tự chủ trong lòng họ vẫn luôn giữ trọn niềm ấm nồng mãnh liệt. Xưởng may nhanh chóng trở thành ngôi nhà thứ hai của biết bao người phụ nữ xứ quê, từ những cô gái lỡ thì, những người mẹ có con nhỏ không có việc làm, hay những người vợ từng chịu cảnh bạo hành gia đình như Út Huệ ngày trước. Dưới sự hướng dẫn tận tình của chị Thắm, cô Tư Đẹp và sự chăm sóc ân cần của những chị em xung quanh, họ không chỉ học được cách cầm kéo, đi những đường chỉ thẳng tắp, mà còn học được cách đứng vững trên đôi chân của chính mình. Chiều chiều, đi qua con đường mới rợp bóng cây, người ta không còn nghe tiếng gió rít thê thiết qua rặng tre gầy của xóm cũ, mà thay vào đó là tiếng máy may rộn rã rè rè, rạch rạch hòa cùng tiếng cười đùa rộn ràng. Bà Hai Thơ đầu tóc trắng muốt, ngồi bên hiên xưởng may, tay cầm cái ca rót trà đá, mắt đăm đắm nhìn những cây vải đang chất cao, những tà áo mới thành hình đang tung bay trong gió nắng. Đơn hàng nhận gia công được Thắm viết chi chít trên sổ sách. Bên cạnh bà là cô Tư Đẹp đang ân cần chỉnh từng nếp vải cho một học viên trẻ, gương mặt diễm lệ phảng phất một nét đẹp đằm thắm, kiêu hãnh và thanh thản của người đàn ông có tuổi. Xóm không chồng năm xưa tuy đã nhường lại đất cho nhà nước, nhưng cái tên gọi ngậm ngùi ấy giờ đây không còn đại diện cho sự cô đơn hay bi kịch, mà đã trở thành biểu tượng cho sức sống dẻo dai, sự bao dung và tinh thần tự chủ kiêu hãnh của những người đàn bà phương Nam.
Gần đó chỉ cách có sáu cái nhà thôi, cũng có hoàn cảnh của cô Hai Bông, cô Bông ở vậy cặm cụi nuôi cha mẹ già liệt giường và hai đứa em thơ dại, đến khi cha mẹ qua đời, hai đứa em lớn khôn thì cô đã sống quen vậy, không thèm lấy chồng luôn. Ngoài ra đầu xóm thì có cô Tư Đẹp, người từng bị hứa hôn rồi nhà trai hủy hôn ngay trước ngày cưới vì lời đồn thất thiệt. Người ta đồn cô Tư Đẹp bị bệnh si đa, chẳng biết tin này từ đâu ra mà nó lan truyền như đám cháy rạ. Thế là trong xóm không một ai dám lấy làm vợ, đành phải làm mai làm mối cho cô một người đàn ông ở tận tỉnh khác, nhưng khi tới đây rồi nghe tin thì họ cũng bỏ của chạy lấy người, mặc dù cô Tư Đẹp rất đẹp gái. Cô tên thật là Tư chứ không phải Đẹp, chẳng qua người ta thấy cô ngộ gái, có nét đoan trang diễm lệ, rồi thêm chữ Đẹp ở sau cái tên. Có thể tin đồn bị si đa là xuất phát từ việc đi lên Sài Gòn làm ở xí nghiệp may, khi trở về thì ốm nhom ốm nhách. Người ta ác miệng nói cô Tư Đẹp nhờ có cái nhan sắc nên lên thành phố chỉ có nước đi làm đĩ chứ làm xí nghiệp may, xí quách vá cái nỗi gì, giờ mắc cái bệnh si đa rồi vác cái thân tàn ma dại mà trôi dạt trở về. Không phải vậy thì tiền đâu ra mà về quê mua tôn sửa lại cái nhà, lại còn sắm sửa đủ thứ.
Thói đời nhiều cái nghĩ nó cũng lạ lắm, cái đẹp của người đàn bà nhiều khi chẳng phải là phước báu, mà lại trở thành cái tội để thiên hạ đem ra săm soi, đố kỵ, tệ hơn nữa là thêu dệt bịa đặt, cũng vì thói ghen ăn tức ở. Nhan sắc diễm lệ của cô Tư Đẹp như cái gai chọc vào mắt những kẻ ưa dèm pha. Mặc cho cô có gạt nước mắt phân trần, khóc nghẹn lời để thanh minh bản thân hoàn toàn trong sáng, thì ở cái xóm quê này, lời giải thích bao giờ cũng chìm nghỉm dưới dòng miệng đời độc địa. Mà người ta cũng lạ đời, những tin đồn thất thiệt, cay nghiệt lại là thứ mà họ dễ tin, dễ chuyền tay nhau nhất, tiêu đái qua bao nhiêu ly trà, trên bàn nhậu của mấy gã đàn ông, giữa chợ xá của các bà thích hóng hớt và thêu dệt, nó kích thích và hay hơn hẳn những lời trần tình ruột gan đầy sự thật của một người đàn bà tội nghiệp. Dù trong thâm tâm ai cũng thừa hiểu, cái tin đồn cô Tư Đẹp mang căn bệnh thế kỷ ấy hoàn toàn vô căn cứ, chẳng có lấy một bằng chứng nào để mà xác thực. Mà người ta chẳng cần bằng chứng, họ chỉ cần một cái cớ để săm soi, một miếng mồi để xì xầm cho qua đoạn ngày dài quạnh quẽ. Họ gán cho cô cái nhãn “đẹp gái nên dễ làm đĩ” như một cách biện minh đầy tàn nhẫn cho sự định kiến của mình. Sự hao đi của tấm thân mi nhon, cặp má hóp do những ngày tháng tăng ca vắt kiệt sức lực nơi xí nghiệp may, ăn uống nghỉ ngơi thất thường không đầy đủ, tự nhiên qua cái miệng đời lại biến thành dấu vết của thứ căn bệnh yếm thế. Lời thanh minh đầy chân thật của cô Tư đi giữa những cái bĩu môi, những cái lắc đầu ái ngại và ánh mắt né tránh của xóm giềng, đẩy cô rơi thẳng vào khoảng không đơn độc, để rồi cay đắng nhận ra, nhan sắc trời ban và miệng đời ở quê nhà đôi khi lại phối hợp với nhau tạo thành cú quật nghiệt ngã hơn cả những giông bão nơi xứ lạ. Từ đó cô Tư mặc kệ, ai nói sao tùy, cô cũng chẳng thèm lấy chồng, cứ ở vậy cho xong một kiếp đàn bà.
Cách đó cũng chẳng xa, là nhà thím Ba Lòng, người đàn bà hiền lành, cứ sáng sớm là gánh cháo ra chợ bán, thím cũng thuộc cái số khổ, gánh trên vai kiếp nạn cay đắng khi chồng mê cờ bạc nợ nần ngập đầu, rồi nhẫn tâm bỏ theo bồ nhí lên thành phố trôi nổi. Thím Ba Lòng đành gạt nước mắt gánh trả đống nợ như chúa chổm, đơn phương ly hôn rồi một mình bán cháo lòng nuôi con ăn học. Có thể cái tên Ba Lòng là do cô bán cháo lòng nên người ta gọi vậy. Lại có chị Năm Hạnh, lỡ thì duyên kiếp cũng chỉ vì thời trẻ mải miết gánh vác tần tảo lo cho gia đình, nuôi cha mẹ già và ba đứa em trai nhỏ. Khi cha mẹ mất, ba thằng em đã ra dáng thanh niên, chị giật mình nhìn lại thì thanh xuân đã như bóng chim tăm cá trôi qua tự bao giờ. Ngay bên rạch là căn nhà nhỏ của cô Sáu Dịu, người phụ nữ bị tật ở chân từ nhỏ, dẫu tâm hồn hiền như đất nhưng lại hứng chịu bao lời chê bai cay nghiệt của thói đời, không ai lấy đành chọn cách sống không chồng con. Cuối xóm là chị Tám Mơ, người đàn bà mang nỗi đau bị người tình chối bỏ khi mang thai ngoài ý muốn, chị một mình làm thuê, một mình nuôi con nhỏ sống vậy cho tới bây giờ.
Xóm không chồng là thế đó, mỗi người mỗi cảnh, trải qua bao mùa con nước ròng nước lớn, dù lòng sông có vắt cạn hay cuồn cuộn dâng phù sa, thì sau cánh cửa mong manh đó, ngọn đèn dầu vẫn cặn kẽ soi bóng và bếp lửa đêm đêm vẫn luôn đỏ hồng ấm nồng. Cái ấm không đến từ hơi của đàn ông, mà gom góp từ sự đùm bọc, sẻ chia của những kiếp người cùng chung cảnh ngộ. Trước hiên nhà của những người đàn bà ấy, cây rơm vàng óng ngả qua bao mùa mưa nắng, mùi ngai ngái quyện vào không khí chiều ẩm ướt. Trước cửa cái lu nước mưa bít rêu xanh cặn, cái gáo dừa múc nước treo lủng lẳng trên cây cột, thi thoảng gõ nghe lóc cóc theo từng cơn gió chướng. Cây cầu khỉ bắc qua con rạch nhỏ trơn trượt, đu đưa theo nhịp bước chân gầy guộc của những người đàn bà trở về từ đồng xa. Ruộng lúa ngút ngàn sau nhà chiều nay nặng hạt, sóng lúa rì rầm như thì thầm những câu chuyện cổ về thân phận những người phụ nữ quê.
Trời càng về đêm, gió mạnh bỗng đổi chiều rít lên từng hồi ghê rợn. Mây đen ngùn ngụt kéo kín bầu trời, nuốt chửng dải cù lao vào bóng tối mông quạnh. Sấm giật đùng đùng ngang trời, mưa trút xuống như trút nước. Con sông dâng sóng cuồn cuộn, sắp nuốt chửng cây cầu khỉ lảo đảo. Mẹ con bà Hai tay ôm chặt lấy gối. Ngọn lửa bếp bập bùng chiếu lên gương mặt hao mòn vì sương gió của bà Hai và chị Thắm. Khói bếp đùn lên mù mạt, vương vào mắt cay xè. Ánh đèn dầu leo lắt trong góc nhà nhảy múa theo từng cơn gió lùa qua kẽ vách, hắt lên tường hai cái bóng người chập chờn, như níu giữ chút sinh khí mỏng manh giữa muôn trùng mưa bão. Rồi một tia chớp nháy đỏ rực góc trời, tiếng sấm nổ tung như rung chuyển trời đất. Ngay sau đó là tiếng chân chạy thục mạng trên con đường đất ngập nước, cùng tiếng đập cửa dồn dập, gào thán thê thiết:
- Má Hai ơi! Chị Thắm ơi! Cứu con… Cứu con.
Bà Hai Thơ và Thắm lật đật ngồi chồm dậy. Cánh cửa vừa mở ra, gió bão ùa vào làm ngọn đèn dầu tắt phụt. Một bóng người ngã khuỵu ngay ngưỡng cửa, gục đầu vào lòng bà Hai, vừa thở, vừa khóc run rẩy. Người đó chính là con Út Huệ. Người từng chê cười cái xóm không chồng này, vì Huệ cho rằng những người phụ nữ ở đây sống không có đức nên chẳng ai dám rước, còn chị là sống đàng hoàng tử tế nên được trời thương cho lấy chồng giàu. Chị đi về làm dâu nhà khá giả bên sông chưa đầy nửa năm, chiều nay bị chồng say rượu đánh đập, mẹ chồng xua đuổi giữa đêm bão, vì nghi chị ăn cắp vàng. Thân thể chị ướt sũng, vạt áo đứt cúc, mặt sưng húp, thân thể hằn nguyên vết đỏ của bàn tay bạo lực.
Mẹ con bà Hai dìu Út Huệ vào góc bếp, đóng sập cửa lại để tránh mưa tạt. Ngoài con đường đất bỗng vang lên tiếng chửi bới oang oang cùng tiếng bước chân nện rầm rập của Hai Đời, gã chồng đang say rượu của Út Huệ. Trên tay Hai Đời lăm lăm cây đòn gánh, cùng với thằng em ruột bặm trợn đang hùng hổ lao tới đập cửa rầm rầm kèm theo câu chửi bới:
- Con đĩ Huệ! Mày mau ra đây! Đàn bà chỗ này toàn một lũ hư thân mất nết ế chảy ế thiu, mày rúc vô đó để thành loại hư đốn như tụi này phải không? Đưa vàng đây rồi theo tao về, không tao đốt luôn cả cái xóm này.
Huệ run gập người vì khiếp sợ. Nhưng kỳ lạ thay, trên gương mặt bà Hai Thơ và chị Thắm không hề có một chút sợ hãi nào. Bà Hai Thơ cầm lấy cây liềm đang giắt trong vách lá, vật báu cùng bà đi cắt lúa mướn nuôi con suốt mấy mươi năm trời. Chị Thắm vơ tay chụp lấy cây xẻng, cầm chắc trong tay với tư thế sẵn sàng.
Ngoài sông, thằng Bẹo đi gỡ lưới cá nghe ồn ào biết có chuyện, nó quăng cái gàu đang tát nước trong xuồng rồi một mạch chạy lên bờ, chạy tới nhà ai cũng la làng rồi đưa tay đập cửa rầm rầm. Cái giọng như lấn át tiếng mưa gió ngoài kia:
- Bà con cô bác ơi, có hai thằng du côn nó tới phá nhà bà Hai kia kìa.
Chị Hạnh giật mình tỉnh giấc, thúc giục ba đứa em trai thức dậy. Thằng Đức, thằng Phúc, thằng Hiếu, đứa cầm cây dầm, đứa cầm cái thuổng, đứa cầm rựa, xông ra cửa khi chị Hạnh không kịp cản chúng lại. Từ trong bóng tối đêm mưa, sáu người đàn bà còn lại của xóm, từ cô Hai Bông đến cô Tư Đẹp, tay lăm lăm gậy gộc, đồng loạt rầm rập tiến về phía nhà bà Hai Thơ. Từ trong nhà mẹ con bà Hai, biết có đồng minh tới, Thắm giấu Huệ vào trong xó buồng rồi hai mẹ con thong thả mở cửa bước ra đối diện:
- Anh em mày có tin ôm đầu máu, bỏ xác tại đây không? Xóm này vài người phụ nữ tuy không có chồng, nhưng chẳng phải là họ hoàn toàn không có người thân, anh em họ hàng. Thử đập phá lần nữa cho tao coi. - Thằng Phúc nói với lời lẽ tức giận, tay cầm cái thuổng giơ lên cao.
Tám người đàn bà đứng thành một hàng ngang trước hiên, vạt áo nâu đẫm nước mưa nhưng ánh mắt ai nấy đều rực lên sự kiên cường tới kinh ngạc.
- Mày say rồi thì về ngủ đi Đời. Mai tỉnh táo muốn nói gì thì tới đây. - Bà Hai Thơ cất giọng điềm tĩnh.
Cô Hai Bông và cô Tư Đẹp giơ dầm chặn đứng cản cửa lại. Thấy tám người đàn bà bao quanh, và thêm mấy thằng thanh niên, ánh mắt ai nấy đều hừng hực lửa giận và sự đoàn kết không sợ chết, hai gã đàn ông bặm trợn bỗng chốc sụt hờn, hoảng hốt thoái lùi rồi xách chân chạy trốn vào đêm mưa tối mịt. Cánh cửa của nhà bà Hai Thơ được khép lại, đẩy lùi giông bão và sự ác nghiệt ra ngoài kia. Ngọn đèn dầu lại được thắp lên, tỏa ánh vàng dịu ngọt che chở cho những thân phận đàn bà đang quây quần quanh gian bếp nhỏ. Chị Hai Bông nấu nước cho Huệ tắm. Chị Thắm vội đi lấy bộ đồ của mình cho Út Huệ thay vì đang run cầm cập. Xong xuôi cô Tư Đẹp mượn chai dầu gió xức lên những vết tím tái sưng húp. Út Huệ nhìn những gương mặt đàn bà không chồng đang quây quần quanh mình với ánh mắt chan chứa tình thương, chị òa khóc nấc lên vì hối hận và xúc động. Bà Hai Thơ nghẹn ngào xoa dịu, nhưng có vẻ cũng trách móc:
- Mày ăn cắp vàng của người ta chi để họ đánh ra nông nỗi tới này hả con?
- Con không có ăn cắp, vàng mất là do con Nga nó lấy đem cho trai, rồi nó đổ thừa qua con. - Út Huệ sụt sùi khóc kể lể.
Nhìn ai cũng lo lắng thương cảm cho mình, Huệ càng thấy hối hận hơn. Cô nghẹn ngào:
- Hồi đó con đi qua đây, từng nói những lời ác nghiệt với mấy má, mấy chị. Con nói các má các chị hư hỏng nên mới không ai rước. Vậy mà lúc này con vào đường cùng, bị nhà chồng giáng họa, đánh đuổi, chỉ có mấy má mấy chị là giang tay cứu con.
Bà Hai Thơ nắm lấy bàn tay run rẩy của chị Huệ, ánh mắt đục mờ phù sa nhẹ nhàng mà bao dung đến mát ruột mát gan:
- Con ơi, đàn bà mình sinh ra trên đời đã là một nỗi truân chuyên. Người ta thương mình hay ghét mình, lúc sóng gió ngã xuống cũng đều là kiếp người cần một hơi ấm nơi nương tựa. Ở đây thì góa bụa thật, nhưng mà Huệ ơi... thà cái bếp soi bóng mình cô quạnh, còn hơn phải soi vào máu và nước mắt nhà người.
Chị Thắm khơi nhẹ ngọn lửa bếp, giọng nói như nghẹn lại giữa tiếng mưa đập rầm rập trên mái rạ:
- Đó là số phận, không ai muốn như vậy cả, nhưng đâu có sao. Người đời nói tụi này không chồng là bất hạnh. Nhưng hôm nay em thấy rồi đó, bất hạnh không phải là ở một mình, mà là ở bên một người như đang bị giam và hành quyết giống địa ngục trần gian. Xóm này tuy đơn độc, nhưng tụi chị có nhau, có cháo rau chia đôi, có cái bếp lửa này chưa bao giờ tắt để đón bất kỳ ai lỡ bước trở về mà sưởi ấm.
Chị Tư Đẹp cũng buồn theo cho hoàn cảnh của Huệ:
- Mình là phận gái nghèo, lấy chồng giàu chưa chắc là sướng đâu em. Cũng chẳng phải không có chồng là khổ. Em nhìn đi, tụi chị đã sống như vậy bao lâu rồi, không một bóng đàn ông, nhưng vẫn sống được đó thôi. Thắm nói đúng, không phải ở góa là bất hạnh, mà bất hạnh nhất chính là lấy chồng càng khổ hơn lúc chưa lấy.
Mãi sau này Út Huệ cũng chính thức ly hôn, vì không chịu nổi cảnh bị gia đình chồng chì chiết, hành hạ hết ngày qua tháng, giờ lại có thêm một người nữa thành góa phụ trong xóm. Thời gian cuồn cuộn trôi như dòng nước sông quê. Mấy mươi năm bám rễ, qua bao mùa con nước lớn con nước ròng đầy vơi theo năm tháng, khi những nếp nhăn đã xếp tầng trên trán và tóc ai cũng điểm sương, một biến cố lớn ập đến làm chao đảo dải đất ven sông. Chính là xóm không chồng nằm trong diện quy hoạch của nhà nước để xây dựng công trình dân sinh và tuyến đường giao thông mới.
Ngày nhận được thông báo giải tỏa, cả xóm chao đảo trong niềm bàng hoàng. Với những người đàn bà ấy, từng gốc tre, từng mái rạ, từng cái lu nước mưa bít rêu hay ngọn đèn dầu leo lắt đêm đêm không đơn thuần là tài sản, đó là máu thịt, là ký ức, là nơi duy nhất đã dang rộng vòng tay che chở cho họ suốt mấy chục năm qua.
- Không dời đi đâu hết! Tụi tôi sống ở đây, chết cũng nằm lại cái bãi bồi này. - Cô Tư Đẹp đập tay xuống bàn, nước mắt giàn giụa khi nghe cán bộ xã phổ biến chính sách.
Bà Hai Thơ ngồi im lìm buồn hiu bên bậc cửa. Bà đưa bàn tay gầy guộc vuốt nhẹ lên vách nứa. Căn nhà này là nơi bà đã ôm giữ biết bao nhiêu kỷ niệm cùng người chồng quá cố. Rời đi, biết lấy gì để làm dấu cho một dư âm đã sưởi ấm mẹ con bà mấy chục? Họ kiên quyết bám trụ. Từ chối một số tiền đền bù khổng lồ mà trong xóm ai ai cũng mong muốn có.
Biết được tâm tư và bi cảnh đặc biệt của xóm, chính quyền địa phương không dùng sự áp đặt cứng nhắc. Các cán bộ kiên trì tìm đến từng căn nhà lá, ngồi xuống bên bếp củi rực hồng, lắng nghe từng lời tâm sự nghẹn ngào. Cô cán bộ trẻ tên An nhẹ nhàng giải thích:
- Má Hai, chị Thắm ơi... Chính quyền biết cái xóm này là xương thịt, là linh hồn của mấy má, mấy chị. Nhưng dải đất này mở đường, xây cầu, quê mình mới thoát được cái nghèo, đám trẻ con mới có trường lớn mà học. Mấy má đã hy sinh cả đời vì gia đình, giờ nhường dải bãi bồi này cho quê hương, cái nghĩa ấy lớn lao lắm. Nhà nước đã cam đoan sẽ tìm nơi tái định cư theo đúng ý của các má, các chị, không tách rời đâu, khi về chỗ ở mới thì các má, các chị cũng sẽ là hàng xóm của nhau y chang bây giờ.
Sự chân thành, nhẫn nại và tôn trọng đó đã làm mềm đi sự kiên quyết của những người đàn bà góa phụ. Bà Hai Thơ thắp nén hương lên bàn thờ gia tiên, nhìn ra hàng tre lần cuối rồi gật đầu trong nước mắt:
- Thôi thì... mình nhường lại đất cho nhà nước làm đường lớn. Người đàn bà cả đời chịu thiệt, nay nhường bước cho quê hương đổi mới, cũng là làm một việc có ích cho đời...
Ngày nhận tiền đền bù giải tỏa, những người đàn bà ngồi lại quanh chiếc bàn gỗ tại nơi ở mới. Sau khi lo ổn định chỗ ở, họ vẫn còn dư một khoản tiền lớn. Nhiều người khuyên nên chia nhau cất giữ để dưỡng già, nhưng chị Thắm, cô Hai Bông và cô Tư Đẹp lại xua tay. Bà Hai Thơ gật gù, ánh mắt đục mờ bỗng rực sáng niềm tin mãnh liệt:
- Đàn bà con gái quê mình, lấy chồng mà không nghề ngỗng, không kiếm ra được tiền để làm chủ bản thân thì dễ bị phân biệt đối xử, dễ bị coi khinh lắm. Tụi nó hùn hết tiền này lại, mở một cái xưởng dạy nghề may hoàn toàn miễn phí cho đàn bà con gái trong xóm. Con Tư và con Thắm sẽ quán xuyến việc này. Hai đứa đó đã từng học may nên tụi tao đã bàn bạc cả mấy ngày nay.
Chẳng mấy chốc, một căn nhà khang trang được dựng lên ngay đầu con đường mới, treo biển hiệu giản dị. Họ mua hơn chục chiếc máy may hiện đại, nhờ chị Thắm người từng có tay nghề may bài bản và cô Tư Đẹp cùng đứng ra dạy nghề cho phụ nữ trong xóm. Một thời gian sau khi xưởng may đi vào hoạt động ổn định, chính quyền địa phương phối hợp với bên y tế tổ chức một đợt hiến máu nhân đạo ngay trên trạm y tế. Các chị em cùng đông đảo các học viên xưởng may đều hăng hái tham gia xắn tay áo hiến từng giọt máu nghĩa tình. Cũng chính trong đợt xét nghiệm sàng lọc máu khắt khe ấy, sự thật năm xưa được phơi bày ra ánh sáng. Bên y tế khẳng định cô Tư Đẹp hoàn toàn khỏe mạnh, máu cô trong sạch và không hề bị bệnh si đa như lời đồn độc địa từ bấy lâu. Tờ kết quả xét nghiệm trắng đen rõ ràng như một gáo nước dội thẳng vào mặt những kẻ từng buông lời dèm pha. Cô Tư Đẹp chính thức được giải oan về tin đồn dính bệnh si đa của những năm tháng trước. Người trong xóm bắt đầu ngượng ngùng, những kẻ ngày xưa hùa theo giờ lén lút nhìn cô bằng ánh mắt sám hối. Có vài mối lại rục rịch tìm đến, mấy người đàn ông quá lứa lỡ thì hoặc góa vợ trong vùng lại đánh tiếng muốn dạm hỏi cô Tư Đẹp về làm vợ, cho rằng giờ đã rõ trắng đen, cô cứ yên tâm lấy chồng gầy dựng lại cuộc đời. Mặc dù vậy, cô Tư Đẹp vẫn nhất quyết không chịu lấy chồng.
Chiều hôm nhận tờ giấy xét nghiệm giải oan, cô Tư Đẹp lặng lẽ đi bộ ra bờ sông mới. Cô cầm tờ giấy trên tay, mắt nhìn xa xăm về phía dải bồi cũ nơi rặng tre xanh nay đã nhường chỗ cho con đường nhựa phẳng lì. Cô thả nhẹ tờ giấy xuống con nước đang ròng. Tờ giấy trôi đi, mang theo cả bao nhiêu giọt nước mắt, bao nhiêu tủi nhục cay đắng của một thời tuổi trẻ. Tờ giấy giải oan của y tế có thể trả lại sự trong sạch cho tấm thân cô, nhưng những nếp gấp chấn thương trong lòng thì chẳng lời muộn màng nào lành lại được. Cô Tư Đẹp đã đi qua ngần ấy tủi nhục để nhận ra một điều sâu sắc, giá trị và sự hạnh phúc của người đàn bà chưa bao giờ nằm ở việc có một tấm chồng để làm vừa bụng hợp mắt thiên hạ. Cô quay lưng bước về phía xưởng may, nơi tiếng máy chạy rè rè vang lên như nhịp đập rộn rã của một cuộc sống mới. Cô chọn ở lại, đứng bên chị Thắm, bà Hai Thơ và những người chị em đã cùng cô đi qua giông bão. Sự tự do, tự chủ và tình thương yêu chân thành dưới mái xưởng này mới là bến đỗ bình yên nhất mà cô chọn gắn bó trọn đời.
Nếu như ngày xưa ở bãi bồi cũ, ngọn đèn dầu bập bùng chỉ đủ soi bóng một thân phận cô đơn trên vách lá, thì giờ đây dưới mái xưởng may sáng choang, ngọn lửa của tri thức và nghề nghiệp đang chiếu rực lên gương mặt của hàng chục người phụ nữ trẻ. Tiếng kéo cắt vải roàn roạt xẻ qua từng xấp hàng như cắt đứt đi những định kiến hẹp hòi, để rồi từng mũi kim đường chỉ đều đặn lại khâu vá lên những mảnh đời rách rưới, gắn kết họ lại thành một khối kiên cường. Dù con nước ròng hay con nước lớn ngoài kia có chảy xiết thế nào, bếp lửa của tình thương và sự tự chủ trong lòng họ vẫn luôn giữ trọn niềm ấm nồng mãnh liệt. Xưởng may nhanh chóng trở thành ngôi nhà thứ hai của biết bao người phụ nữ xứ quê, từ những cô gái lỡ thì, những người mẹ có con nhỏ không có việc làm, hay những người vợ từng chịu cảnh bạo hành gia đình như Út Huệ ngày trước. Dưới sự hướng dẫn tận tình của chị Thắm, cô Tư Đẹp và sự chăm sóc ân cần của những chị em xung quanh, họ không chỉ học được cách cầm kéo, đi những đường chỉ thẳng tắp, mà còn học được cách đứng vững trên đôi chân của chính mình. Chiều chiều, đi qua con đường mới rợp bóng cây, người ta không còn nghe tiếng gió rít thê thiết qua rặng tre gầy của xóm cũ, mà thay vào đó là tiếng máy may rộn rã rè rè, rạch rạch hòa cùng tiếng cười đùa rộn ràng. Bà Hai Thơ đầu tóc trắng muốt, ngồi bên hiên xưởng may, tay cầm cái ca rót trà đá, mắt đăm đắm nhìn những cây vải đang chất cao, những tà áo mới thành hình đang tung bay trong gió nắng. Đơn hàng nhận gia công được Thắm viết chi chít trên sổ sách. Bên cạnh bà là cô Tư Đẹp đang ân cần chỉnh từng nếp vải cho một học viên trẻ, gương mặt diễm lệ phảng phất một nét đẹp đằm thắm, kiêu hãnh và thanh thản của người đàn ông có tuổi. Xóm không chồng năm xưa tuy đã nhường lại đất cho nhà nước, nhưng cái tên gọi ngậm ngùi ấy giờ đây không còn đại diện cho sự cô đơn hay bi kịch, mà đã trở thành biểu tượng cho sức sống dẻo dai, sự bao dung và tinh thần tự chủ kiêu hãnh của những người đàn bà phương Nam.