📢 Hướng dẫn đăng bài viết Xem chi tiết »
📢 Diễn đàn Việt Nam Thư Quán đã hoạt động trở lại! Xem chi tiết »

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

ĐÔ ĐỐC BÙI THỊ XUÂN (Tiểu thuyết lịch sử) - Quỳnh Cư

1 trả lời, 77 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 22.08.2026 09:19:32 bởi saomai1268>





ĐÔ ĐỐC BÙI THỊ XUÂN


Tác giả: Quỳnh Cư

Nhà xuất bản: Nhà xuất bản Thanh Niên

Năm xuất bản: 2006

★ ★ ★

PHẦN I  
Chương I  
Trao con cho nhũ mẫu, Bùi Thị Xuân vội vã thay võ phục, rồi đến trước gương thong thả chải từng nạm tóc óng ả, dài chấm gót. Lâu lắm rồi, Bùi Thị Xuân mới để tâm trang điểm, chăm chút đến nhan sắc. Cũng thật hãn hữu, vị nữ tướng Tây Sơn mới rời quân doanh, trở về tư dinh sớm hơn thường lệ như chiều nay. Nguyên do của một loạt sự việc bất thường là vì Bùi Thị Xuân vừa hay tin quan Thiếu phó Trần Quang Diệu sau gần trọn năm ra đàng ngoài lo việc bố phòng miền Bắc biên cương, ngăn giặc Thanh ồ ạt đánh sang đã về đến kinh thành, hiện đang làm lễ triều kiến vua Cảnh Thịnh. Mường tượng đến giây phút sắp được gặp chồng sau bao xa cách, Bùi Thị Xuân thấy nóng bừng đôi má. Vén gọn những sợi tóc mai xoã trên vầng trán rộng, rồi vuốt lại nếp áo lụa mỏng bó sát người, Bùi Thị Xuân hài lòng thấy chiếc áo may khéo đã tôn lên khổ người nở nang, rất đỗi trẻ trung của mình. Nhưng sao lòng ta áy náy làm vậy - Bùi Thị Xuân nghĩ - Đáng lẽ được Hoàng đế uỷ thác việc chỉ huy quân sĩ trấn giữ kinh thành, ta không nên rời quân doanh vào giờ này. Vậy mà ta lại bỏ về, lo trang điểm, tự ngắm vuốt, hồi hộp đón chồng. Quan Thiếu phó biết việc này có cười ta không? Bùi Thị Xuân rời chiếc gương, bước đến ngồi trước kỷ, lòng vẫn không nguôi nghĩ đến chồng. Gần trọn năm xa cách, dù chẳng lời nhắn gửi nhưng Bùi Thị Xuân thấu hiểu nỗi lo âu vất vả của chồng ở nơi biên viễn xa xôi khi hàng ngày giặc Thanh vẫn nuôi cuồng vọng thôn tính đất Việt, nhân thể rửa mối nhục thất trận năm nào. Chắc hẳn quan Thiếu phó phải lặn lội tới những vùng hàng ngày quân giặc vượt biên đánh sang để lo việc bố phòng, chống đỡ trên suốt miền đất tiếp cận với giặc. Chuyến đi vì việc quân quốc trọng sự ấy chắc gặp nhiều trắc trở nên vị chỉ huy tối cao của quân Tây Sơn phải ở lại đàng ngoài lâu đến thế. Cho nên nếu ta muốn được đón chồng thanh thản, muốn được bày tỏ tấm tình nồng với chồng như những ngày nào, thì lẽ ấy có gì đáng trách? Nghĩ thế, Bùi Thị Xuân thấy vui vẻ trở lại. Trong nỗi xao xuyến đón đợi, bồn chồn chờ mong ây, Bùi Thị Xuân bỗng nhớ tới kỷ niệm về mối tình gần 20 năm trước.

Phải rồi, hồi ấy, khi còn là một thôn nữ 16 tuổi, một hôm vào rừng lấy thuốc, khi đi ngang qua khu rừng tranh kề bên con suối nhỏ, Bùi Thị Xuân bỗng gặp một tráng sĩ tay không đang đánh nhau với con hổ lớn. Không biết trận ác chiến diễn ra từ lúc nào, nhưng cả vùng rừng tranh lúc ấy đã đổ rạp, đất sục lên như cát, cây cối ngả nghiêng tơi tả như vừa trải qua một cơn lốc lớn. Kinh hoàng dừng lại, Bùi Thị Xuân thấy rõ áo quần tráng sĩ đã rách nát, người đẫm máu. Quên hiểm nguy, Bùi Thị Xuân rút vội con dao đi rừng, hét to lên rồi xông vào đánh nhau với hổ. Kịp thây đối thủ mới, mãnh thú bỏ tráng sĩ, gầm lên rồi nhe nanh, chồm về phía Bùi Thị Xuân. Vốn tinh thông võ nghệ, Bùi Thị Xuân chẳng những nhanh nhẹn tránh được miếng vồ cực kỳ nguy hiểm của hổ dữ mà còn sát tới xả một nhát dao cực mạnh vào sườn con thú. Khi con thú khùng lên xoay người vòng lại, Bùi Thị Xuân đã chuyển sang hướng khác. Cô gái trẻ sớm phát hiện được chỗ yếu của con mãnh thú là xoay người chậm, nhất là khi vừa trượt miếng vồ. Bởi thế, mỗi lần con hổ vồ hụt là lại bị Bùi Thị Xuân không nhớ rõ đã quần nhau với hổ bao nhiêu lâu, nhưng cuối cùng trong một lần vồ hụt, vì đã đuối sức, con mãnh thú ngã quỵ xuống, Lợi dụng cơ hội đó, Bùi Thị Xuân chồm lại, bổ một nhát như trời giáng xuống đầu nó. Sau miếng đòn ấy, chúa sơn lâm chỉ còn há miệng toang hoác, mình đẫm máu, nằm quằn quại trên mặt đất, gầm gừ tuyệt vọng.

Cũng vừa khi ấy, tráng sĩ gắng gượng lại tiếp sức, dùng cây rừng vừa lấy được, bồi thêm cho con thú chết hẳn. Nhưng ngay sau đó chàng cũng ngã lăn ra đất. Bùi Thị Xuân thấm mệt, nhưng không kịp nghỉ ngơi, vội xé áo mình băng bó vết thương trên người tráng sĩ rồi dìu chàng về nhà mình. Có ai ngờ cuộc gặp gỡ ly kỳ đó đã nên nghĩa trăm năm. Người tráng sĩ ấy là quan Thiếu phó Trần Quang Diệu. Ngày Trần Quang Diệu lành vết thương cũng là ngày Bùi Thị Xuân bái biệt cha mẹ, theo chân viên tướng Tây Sơn ra mắt Nguyễn Huệ, nguyện xả thân vì nghĩa lớn. Sớm nhận ra tài năng và đức độ của cô thôn nữ gốc gác từ Nghệ An theo gia đình vào lập nghiệp ở Xuân Hoà, ấp Tây Sơn Hạ này, Nguyễn Huệ sau đó đã phong cho Bùi Thị Xuân làm tướng thống lĩnh đội nữ binh 5000 người. Ít lâu sau, vì có tài điều khiển voi, Bùi Thị Xuân còn chỉ huy cả đội chiến tượng khét tiếng của chúa Tây Sơn. Cũng chính Đại tướng Nguyễn Huệ đã đứng ra chủ trì cho cuộc hôn lễ của cặp vợ chồng nhà tướng Trần Quang Diệu - Bùi Thị Xuân. Từ bấy đến nay, khi vào Nam đánh Nguyễn, khi ra Bắc phá Trịnh, lúc đánh quân Xiêm ở Đàng Trong, khi thần tốc cả phá 29 vạn quân Thanh ở Đàng Ngoài, chiến trận khiến vợ chồng chẳng mấy lúc được gần nhau nhưng mối tình của họ vẫn ngày một nồng đượm.

Thật khó mà ngờ, con người có vóc dáng cao lớn, có vẻ đẹp võ tướng gầm trời Nam này ít ai sánh bằng, con người từng xông pha trăm trận, quân thù nghe danh đã khiếp đảm ấy cũng lại là người vụng về, nhút nhát trong tình yêu. Nhớ hôm nào trên bãi tập võ sau nhà - Bùi Thị Xuân mơ hồ nhớ lại - chàng trai Trần Quang Diệu ấp úng mãi không dám ngỏ lời. Đến nỗi chính Bùi Thị Xuân khi ấy, trống ngực cũng đập hơn trống làng, đã phải cầm tay chàng trai kéo về phía mình. Con người vừa lúc trước còn rụt rè trong tình yêu thoắt cái đã như mãnh hổ, ôm xốc lấy người con gái. Bùi Thị Xuân phải năn nỉ chàng mới buông tha. Nhớ tới kỷ niệm cũ, Bùi Thị Xuân càng yêu thương chồng, bồi hồi mong gặp lại. Chợt có tiếng vó ngựa chạy trên con đường đá vào tư dinh. Nghe bước ngựa quen, Bùi Thị Xuân nghẹn ngào sung sướng. Viên nữ tướng Tây Sơn thong thả đứng dậy, hai tay áp vào đôi má nóng bừng để nén xúc động.
Bùi Thị Xuân chưa kịp ra đón thì Trần Quang Diệu chắc nịch trong bộ võ phục đã xộc vào căn phòng. Quan Thiếu phó sững lại như để chiêm ngưỡng vẻ đẹp khỏe mạnh trẻ trung của vợ, rồi hệt như ngày nào, xô lại ôm lấy đôi vai tròn lẳn của vợ, giọng đứt quãng:

- Tôi mừng vì thấy nàng được khỏe mạnh.

Bùi Thị Xuân gục đầu vào vai chồng thổn thức:

- Thiếp hằng dõi theo từng bước Phu tướng đi và lo cho Phu tướng xiết bao.

Trần Quang Diệu nới rộng vòng tay, đắm đuối nhìn vợ:

- Việc nước việc nhà bề bộn mà nàng vẫn giữ được nhan sắc như xưa.

Bùi Thị Xuân thỏ thẻ:

- Phu tướng không thấy sao, thiếp đã vận bộ xiêm y hồi cưới đó!

Thay bằng câu trả lời, Trần Quang Diệu áp đôi má còn đầy bụi đường vào má vợ rồi xiết lấy vợ:

- Tôi thật có phúc mới gặp được nàng.

- Thôi! Thiếp đến ngạt thở mất. Chẳng hay chuyến đi kinh lý của Phu tướng có được mười phần như ý không?

Trần Quang Diệu dìu vợ ngồi xuống chiếc giường kê sát khung cửa sổ rồi thong thả kể về chuyến ra Đàng Ngoài chỉnh đốn việc quân cơ của mình. Và bỗng dưng những lời thủ thỉ yêu đương của cặp vợ chồng tướng lĩnh lại bị câu chuyện về thời cuộc cuốn hút.

Như sống lại trong cảnh đáng lo ngại ở miền biên viễn phương Bắc và hiện trạng xã hội Đàng Ngoài, Trần Quang Diệu vụt đứng dậy, đi bách bộ trong phòng lớn, vẻ mặt căng thẳng:

- Thực là từ ngày Tiên đế băng hà, lợi dụng Hoàng đế Cảnh Thịnh còn non trẻ, triều đình chia bè kéo phái xung đột nhau, Thanh triều lại nổi lòng tham muốn thôn tính Đại Việt để thoả mộng làm bá chủ thiên hạ. Mọi việc trù tính cất quân sang đánh Đại Việt đã được bọn người độc ác ấy bàn soạn thấu đáo. Chúng đã sai thợ và bọn vô lại Lê Chiêu Thống vẽ bản đồ Đại Việt, ghi chú tất cả núi sông hiểm yếu cùng nơi đóng quân của ta, toan dựng cương thường cho nước láng giềng. Hiện chúng thường cho quân vượt biên ải sang cướp phá, làm náo động nhân tâm của ta; chúng lại cho người đi chiêu dụ các thổ tù người sơn cước và người nước chúng đang sinh sống ở ta để làm nội ứng. Bọn người tự nhận là thiên triều ấy còn ra dụ cho vua Xiêm hiệp đồng với chúng, đưa quân đánh chiếm vùng Quảng Nam của ta, ngầm giúp bọn giặc Ánh từ Gia Định đánh ra, mưu đẩy ta vào thế khốn khó, phải bó giáo quy hàng.

Bùi Thị Xuân cười mỉa mai:

- Thanh triều quả đã quên Chinh Nam đại tướng quân Tôn Sĩ Nghị cùng đại quân của hắn phải đại bại ở Thăng Long, nhục nhã rút chạy như lũ chuột về nước? Chẳng nhẽ những binh vong, tướng bại từ chiến trường Đại Việt bê bết trở về chưa cho Thanh triều hồi tỉnh sao?

Quan Thiếu phó hạ giọng:

- Nàng yên lòng, Thanh triều nuôi cuồng vọng thôn tính Đại Việt nhưng dễ gì làm được. Chính nước chúng cũng đang đại loạn, đang bị bọn người mũi lõ mắt xanh ở Tây Dương nhòm ngó. Điều nực cười là Thanh triều giữ mình chưa xong còn muốn thôn tính nước người. Vả, tôi đã điều binh lập đồn căng ra khắp tuyến biên ải và cho phép tướng sĩ ta mặc sức đánh giết bất luận quân giặc từ đâu tới. Mấy lần đem quân sang cướp bóc không còn một mống trở về, xem ra chúng đã bớt hùng hổ.

- Việc ở Bắc cương như vậy là đã có kế đánh giữ. Còn nội tình Đàng Ngoài? Thiếp nghe nói dân tình không yên, việc đó có hay không?

Trần Quang Diệu thẫn thờ:

- Điều đáng bận tâm nhất và là nỗi đau lòng của những người chính trực là không thể không thừa nhận dân tình Đàng Ngoài đã bắt đầu chán ngán triều Tây Sơn. Những sự thật ẩn chứa biết bao điều cay đắng.

- Sao vậy? Năm nào theo chân Tiên đế ra đánh giặc Thanh, thiếp đã tận mắt nhìn thấy dân Bắc Hà gắn bó với triều Tây Sơn biết chừng nào.

- Dân chúng không có lỗi. Tội lỗi là ở những kẻ cư quan nhiệm chức. Chính bọn họ nhân cơ hội triều đình lục đục đã đua nhau đục khoét lương dân, vét cho đầy túi tham. Họ thường lấy nê tận diệt nhà Lê bán nước để thẳng tay hà hiếp lương dân, có khi tàn phá cả làng không thương tiếc. Quân sĩ được thể thường sách nhiều dân đen, gây nên cảnh oán thán cả triều đình. Chính tôi đã nghe miệng con trẻ rêu rao một bài thơ mà giật mình.

- Con trẻ nói sao? - Bùi Thị Xuân tỏ ý sốt ruột.

- Chúng hát rằng:

Đô đốc, tam thiên Đô đốc

Chỉ huy, bát vạn chỉ huy

Truy uý, vệ uý chẳng kể làm chi

Cai đội, đội phó lấy tàu mà chở

Mười quan thì được tước hầu

Năm quan tước bá, ai hầu kém ai.

- Chao ơi - Bùi Thị Xuân kêu lên - Người ta có nói quá lên không? Chẳng lẽ dân rẻ rúng những kẻ cai trị dân đến vậy sao? Thiếp nghe nói hầu hết quan lại Đàng Ngoài đều đỗ đạt cao, có học vấn uyên thâm mà sao lại tối tăm làm vậy.

Trần Quang Diệu đột ngột nổi nóng, dằn giọng:

- Nàng muốn nói đến bọn văn quan Đàng Ngoài chứ gì? Biết nói thế nào đây cho phải. Lâu nay, dường như bao nhiêu công phu của kẻ đi học chỉ cốt cho nhớ những sách tứ thư ngũ kinh, cùng những lời thế chú của tiên nho trong sách ấy. Hàng ngày, họ chỉ cốt tập cho thông thạo những lề lối ở chốn khoa trường là kinh nghĩa, thơ phú, văn sách. Ấy là dùng hư văn mà xét tài thực dụng, đem sự hoa mỹ làm mực thước đo tài kinh luân. Bởi vậy, ai hay thơ phú đã tưởng mình giỏi việc nước, ai hay kinh nghĩa đã nghĩ mình hơn người. Việc đời thì tối tăm mù mịt mà đã tự phụ kiêu căng, coi thiên hạ như rơm rác, coi mình như thần thánh.

Bùi Thị Xuân không giấu nổi sửng sốt:

- Có lẽ nào Phu tướng xếp tất cả các văn quan vào một rọ. Thiếu gì người thức thời, một đời cống hiến cho dân nước như Ngô Thì Nhậm, như Phan Huy Ích.

- Thật ra thì nho sĩ có hai loại. Loại thấm nhuần nho học đến chỗ trở nên những phần tử ưu tú cả về thực học và đạo đức, xứng đáng làm khuôn vàng thước ngọc cho đời sau.
Binh bộ Thượng thư Ngô Thì Nhậm nằm trong số ấy. Bọn quan lại cũng có ăn học, cũng giữ địa vị cao sang nhưng thời loạn là lũ đầu cơ trục lợi, nước mất mặc nước, dân chết mặc dân, miễn sao cho mình được vinh thê ấm tử.

- Sao Phu tướng gay gắt hết với các quan văn như quan Thái sư Bùi Đắc Tuyên vậy? Quan Thái sư vì thế đã bị các văn võ đại thần oán giận.

Trần Quang Diệu có vẻ ngạc nhiên:

- Nàng muốn xá tội cho bọn xu nịnh, gió chiều nào xoay chiều ấy sao? Vậy, thử hỏi nàng, Tiên đế vào Thăng Long trước sau hai lần. Cả hai lần lũ hủ nho như gà phải cáo, chạy xiêu bạt bỏ cả vua chúa. Rồi trong khi xác chúa Trịnh Khải còn bị phơi ngoài cửa Tuyên Võ, Tiên đế gọi về thì lại lúc nhúc về theo, cúi đầu xin dự vào tân chính. Tiên đế trở lại Phú Xuân, thuyền chưa rời khỏi bến, quan lớn quan bé lại hăng hái vỗ ngực chửi giặc, kẻ bào chữa cho thái độ của mình, kẻ khoe mẽ trung quân ái quốc và có nhiều đảm lược. Xem vậy, chính bọn hủ nho cầm quyền ấy đã làm hỏng đại cục nước nhà.

Bùi Thị Xuân cúi đầu, giọng nhỏ nhẹ:

- Thiếp không bênh họ. Ngược lại thiếp còn biết rằng trao quyền bính cho những người u tối kết cục cũng không khác gì bọn tráo trở thay lòng đổi dạ. Bởi vì kẻ dốt nát nắm giữ nhiều quyền uy sẽ chỉ dẫn đến tội ác, không thể làm lợi cho dân nước. Nhưng thế nước hiện không yên, phải có đối sách khéo léo để lôi kéo, khích lệ họ sống chết vì nghiệp lớn của Tiên đế. Nếu bây giờ ta quá cứng rắn, rũ vơ tất cả, cách chức tất cả thì nước sẽ sinh loạn.

Trần Quang Diệu gật gù:

- Nàng nói đúng lắm! Theo nàng, những kẻ u tối được trao quyền bính kết cục sẽ chỉ gây nên tội ác. Tôi nói họ làm hỏng đại cục nước nhà là vì vậy. Nhưng ý nàng xác đáng hơn nhiều.

Bùi Thị Xuân đi đến bên chồng, ngập ngừng:

- Phu tướng đừng vội khen việc ở triều đình, lúc Tướng công ra Bắc Hà cũng bội phần rối ren mà thiếp nào dâng được kế sách gì. Ngay sau khi Phu tướng đi ít lâu, nhân lúc các triều thần tranh chấp, giặc Ánh được bọn Tây Dương giúp sức đã chia quân làm nhiều mũi tiến đánh Phan Rí, Nha Trang, Diên Khánh, Bình Khang, Phú Yên rồi thừa thắng kéo ra cửa Thị Nại. Vua Thái Đức Nguyễn Nhạc sai Thái tử Nguyễn Bảo đem quân ra chống cự. Nguyễn Bảo thua trận phải chạy về Quy Nhơn. Quân bộ quân thuỷ của Nguyễn Phúc Ánh liền kéo đến vây đánh Quy Nhơn. Chúng dùng phép thả diều lửa do bọn Phú-lãng-sa (Pháp) bày cho để đốt phá Quy Nhơn. Vua Thái Đức cầu cứu Hoàng đế Cảnh Thịnh. Vua ta liền sai Phạm Công Hưng và Đặng Văn Trấn đem quân thuỷ bộ cùng tiến vào Quy Nhơn. Giặc Ánh hoảng hốt rút về. Giải vây Quy Nhơn, Phạm Công Hưng cho tịch thu kho tàng và binh khí của vua Thái Đức khiến nhà Vua tức giận thổ ra máu mà chết.

Trần Quang Diệu chăm chú nghe, vội cắt ngang:

- Tôi ngờ việc lấy đất Quy Nhơn không phải là ý của Hoàng thượng mà là của quan Thái sư. Việc làm ấy là cần, vì xưa Tiên đế đã từng nói với quần thần, vua Thái Đức bạc nhược sẽ chẳng giữ nổi đất ấy mà còn ngăn đường quân ta tiến đánh giặc Ánh. Tuy vậy, anh em không thương nghị được, phải cư xử như thế, đau lòng lắm.

Bùi Thị Xuân tiếp, giọng trầm buồn:

- Việc rắc rối nào đã hết. Khi Hoàng đế Cảnh Thịnh phong cho Thái tử Nguyễn Bảo chức Hiến công và cắt cho huyện Phù Ly làm thực ấp rồi cử Bùi Đắc Trụ vào trấn giữ Quy Nhơn, Nguyễn Bảo đã nuôi chí làm phản triều Tây Sơn. Tin dữ mới nhận được, Nguyễn Bảo viết mật thư đầu hàng Nguyễn Ánh và hứa làm tướng tiên phong cho giặc.

Trần Quang Diệu chồm dậy:

- Nếu vậy thì hiểm hoạ đến nơi rồi. Hôm qua trong lúc làm lễ triều kiến, Hoàng thượng nói ngày một ngày hai tôi phải đem quân đi đánh giặc. Hỏi đánh nơi nào thì Hoàng thượng chưa chịu nói. Tôi đâu ngờ việc xảy ra như thế. Vậy ngay sáng mai tôi phải tâu xin Hoàng thượng cất quân đi Quy Nhơn kẻo đại cục hỏng mất.

Bùi Thị Xuân xô lại níu tay chồng:

- Phu tướng định đi ngay ngày mai sao?

- Nếu chậm thì nàng biết đấy, sẽ hối không kịp. Tôi đồ rằng đại quân của Ánh được mật thư của tên phản bội đã tiến phát. Không ra tay trước, Quy Nhơn sẽ mất.

Bùi Thị Xuân nghẹn ngào:

- Thiếp lại đàng đẵng chờ mong Phu tướng. Sao Phu tướng không san phần trọng trách cho thiếp. Chẳng lẽ thiếp không đủ sức bắt được Nguyễn Bảo, chặn đường quân Ánh sao?

Trần Quang Diệu sẵng giọng:

- Nàng quên rằng mình là tướng thống lĩnh trung quân bảo vệ kinh thành sao?

- Kinh thành còn quan Đại tư mã Ngô Văn Sở?

- Quan Thái sư lúc nãy gặp tôi cho hay quan Đại tư mã sắp ra Bắc Hà thay Vũ Văn Dũng. Tôi đã quyết không chỉ vì muốn sống bên nàng vài ngày mà để xảy ra hiểm hoạ.

Bùi Thị Xuân gục vào lòng chồng thổn thức:

- Vậy xin Phu tướng cẩn trọng mình vàng. Thiếp bằng lòng để Phu tướng ra đi. Thiếp nguyện cầu Phu tướng lập được công lớn, làm rạng danh cho cơ nghiệp triều Tây Sơn.

Trần Quang Diệu nâng cằm vợ, soi mình trong đôi mắt to đen thông minh của vợ rồi xúc động nói:

- Chúng ta còn bên nhau trọn đêm nay. Nhưng mà cho đến bây giờ tôi đã rũ sạch bụi đường đâu.

Trong hơi thở nóng hổi của chồng, Bùi Thị Xuân chợt nhận ra bước chân quen thuộc của viên tướng tùy tùng. E lệ như năm nào, viên nữ tướng Tây Sơn vội gỡ tay chồng, ngượng ngập đứng dậy...

 

*

*      *

 

Quan Thiếu phó Trần Quang Diệu đem quân vào Quy Nhơn được 3 ngày thì Bùi Thị Xuân hay tin: Đại quân Ánh do danh tướng Nguyễn Văn Thành thống lĩnh đang tiến ra tiếp ứng cho Nguyễn Bảo. Bùi Thị Xuân cồn cào lo lắng: Nếu Nguyễn Văn Thành hợp binh được với Nguyễn Bảo thì quân Tây Sơn sẽ khó xoay chuyển được tình thế. Nhưng Bùi Thị Xuân tin ở tài điều binh khiển tướng của chồng. Mối bận tâm hơn cả đối với Bùi Thị Xuân vẫn là hiện trạng triều Tây Sơn và nguy cơ suy vi của triều đình Cảnh Thịnh. Là người chỉ huy việc phòng thủ kinh thành, Bùi Thị Xuân không thể không dành toàn sức cho việc dàn quân, khích lệ quân sĩ quyết tử, phòng giặc Ánh cậy có nhiều tàu đồng của bọn Phú-lãng-sa giúp sức, liều mạng đánh ra. Tuy thế, tìm được kế sách hướng triều đình Cảnh Thịnh tập trung sức lực chống giặc Ánh thì Bùi Thị Xuân hoàn toàn bất lực.

Bởi vì, triều Tây Sơn sau khi vua Quang Trung băng hà, đã nhanh chóng đi vào cái rớp xấu:
Quan lại bất lực, nạn bè đảng tranh chấp, giết hại lẫn nhau không dễ gì ngăn chặn lại được. Buồn phiền, lo lắng, Bùi Thị Xuân quyết định đến thăm Thái hậu Ngọc Hân, người bề trên, đồng thời là người bạn tâm đắc, biết nhìn xa thấy rộng hơn bất cứ văn quan nào trong triều. Từ lâu rồi, nhất là sau ngày Quang Trung mất, yêu nhau vì nết, trọng nhau vì tài, Thái hậu Ngọc Hân và Bùi Thị Xuân càng thêm gần gũi, gắn bó. Chiều theo ý Thái hậu, Bùi Thị Xuân không câu nệ vào lễ nghi và thường gọi Bắc cung Hoàng hậu của Hoàng đế Quang Trung bằng tên tục. Bùi Thị Xuân hơn tuổi Thái hậu Ngọc Hân, nhưng viên nữ tướng rất kính phục kiến thức uyên thâm và tài thơ của Ngọc Hân. Hơn thế, Bùi Thị Xuân đã tìm thấy ở con người tài sắc vẹn toàn ấy nếp nghĩ và chính kiến gần gũi với hoài bão của Tiên đế.

Gần hai mươi năm đã trôi qua, nhưng câu chuyện về người con gái yêu, viên ngọc quý của vua Lê Hiển Tông bỗng trở thành vợ viên Đại tướng Tây Sơn Nguyễn Huệ; hơn thế, tỏ rõ là người tài hoa, có con mắt tinh tường, am hiểu chính sự, thức thời vẫn còn in sâu trong trí nhớ của Bùi Thị Xuân. Dạo ấy, sau lễ cưới làm náo nức cả Thăng Long của đôi trai tài gái sắc ấy năm ngày, thì vua Lê Hiển Tông mất. Lê Duy Kỳ, cháu đích tôn được đặt lên ngôi kế vị.

Nhưng theo di chiếu của vua Lê Hiển Tông, việc lớn phải được hỏi Đại tướng Tây Sơn. Để hiểu giới hoàng tộc, Nguyễn Huệ biết không thể hỏi ai bằng hỏi Ngọc Hân. Ngọc Hân, bằng sự hiểu biết thời cuộc, đã đặt ích nước lên trên quyền lợi của dòng họ mà thưa:

- Duy Kỳ không xứng được kế vị, không đủ tư cách là Hoàng đế.

Lễ đăng quang của Duy Kỳ theo lệnh Nguyễn Huệ bị bãi bỏ. Triều đình nhà Lê kinh ngạc, sững sờ, búa rìu dư luận chĩa vào Ngọc Hân. Nhiều người đòi gạch tên Ngọc Hân trong sổ họ.
Khổ tâm, nhưng Ngọc Hân vẫn quả quyết đương đầu với dư luận. Triều đình nhà Lê rối loạn, về sau, khồng muốn để vợ mang tiếng, Nguyễn Huệ thấy không cần phải bảo lưu chính kiến, đã bàn với vợ cho Duy Kỳ được làm lễ đăng quang. Duy Kỳ lên ngôi đổi hiệu là Lê Chiêu Thống. Ba năm sau, Lê Chiêu Thông mới nhục nhã cõng rắn về cắn gà nhà. Vượt lên trên cả triều đình nhà Lê hủ lậu, Ngọc Hân đã sáng suốt tiên đoán được nhân cách đốn mạt của Duy Kỳ. Tầm nhìn xa thấy rộng của Ngọc Hân chính Nguyễn Huệ cũng phải thừa nhận. Vì vậy, trong lúc triều đình Cảnh Thịnh chia bè kéo cánh, Bùi Thị Xuân càng thấy cần gặp Ngọc Hân.

Một cảm giác thành kính, nhẹ nhõm khi Bùi Thị Xuân bắt đầu bước vào khu vườn trồng đầy những thảm hoa, những bãi cỏ mượt mà xinh xắn, giữa những cung điện mái cong đồ sộ, để đi sâu mãi về phía cung cấm. Kia rồi, gian điện quen thuộc, tường xây tráng men, trổ tròn một khung cửa khuyết, hướng ra khu vực vườn nhỏ - gian điện của Thái hậu Ngọc Hân. Bùi Thị Xuân đi chậm dần, chậm dần rồi đứng lại trước khu vườn, lòng dạt dào xúc cảm. Phải rồi, những chậu men nhỏ nhắn, trồng những cây huệ vươn thẳng và các giò hoa trắng muốt đặt sát thềm điện kia, vẫn y hệt như ngày nào Quang Trung hoàng đế còn. Một làn hương ngọt ngào quen thuộc lan toả khắp khu vưòn. Thứ hương của loài hoa huệ này làm sao lẫn được. Tự nhiên Bùi Thị Xuân thấy cay cay nơi khoé mắt. Bất giác, trong viên nữ tướng sống lại hình ảnh Nguyễn Huệ nằm thiêm thiếp trên giường ngự. Lúc ấy, Bùi Thị Xuân không sao cầm được nước mắt khi thấy vị Hoàng đế dũng mãnh, uy phong tựa sấm sét, con người cao lớn, tóc quăn, da sần, tiếng nói vang như chuông đồng, choàng áo bào sạm đen khói súng, chỉ qua một cơn bạo bệnh đã tiều tụy hẳn. Xung quanh giường ngự lúc ấy, các quan văn võ tướng chắp tay đứng lặng như hóa đá. Các văn thần nổi tiếng mưu lược như Phan Huy Ích, Ngô Thì Nhậm mặt mày ủ ê, nước mắt chan hòa.
Còn Ngọc Hân vật mình than khóc, chết đi sống lại, tưởng như không qua khỏi nỗi thương đau quá bất ngờ đối với người vợ trẻ vừa tròn 22 tuổi, trên tay hai đứa con dại(1).
Nhớ đến Hoàng đế Quang Trung, Bùi Thị Xuân càng thấu hiểu nỗi đau đớn mà Thái hậu Ngọc Hân phải chịu đựng và đã trải qua. Chính nơi đây, bên những chậu cảnh, bên những gốc huệ xinh xắn này, Thái hậu Ngọc Hân đã ủ rũ hàng tháng ròng. Những chậu cây kia, ngày ấy cũng rầu héo như chủ. Một đoạn thơ não nuột khóc Hoàng đế Quang Trung của Ngọc Hân bỗng bật ra theo cảm xúc. Bùi Thị Xuân thầm đọc lại:

“Buồn thay nhẽ xuân về hoa nở

Mối sầu riêng ai gỡ cho xong

Quyết liều mong vẹn chữ lòng

Trên giường nào ngại, giữa lòng nào e

Còn trứng nước thương vì đôi chút

Chữ tình thâm chưa thoát được đi

Vậy nên nấn ná đôi khi

Hình còn tuy ở, phách thì đã theo...”

Chao ơi! Cứ gì Thái hậu Ngọc Hân, người anh hùng áo vải từng giúp dân dựng nước lập nên bao kỳ tích ấy mất đi, muôn họ đều lòng đau như cắt. Bây giờ hoa lại nở. Bùi Thị Xuân thoáng nghĩ - chắc Thái hậu đã nguôi đi phần nào nỗi thương đau sầu muộn. Còn gì vui hơn khi thấy người bạn tâm tình, mà sinh thời Hoàng đế Quang Trung rất mực yêu quý, kính nể, đã vượt qua được những thử thách quá sức mình.

Bỗng một giọng thanh thoát rất quen thuộc từ gian điện vọng ra:

- Nếu ta không nhìn nhầm, hẳn là Bùi nữ tướng!

Bùi Thị Xuân như tỉnh cơn mê.

Khi ấy Thái hậu Ngọc Hân dáng người mảnh dẻ, khuôn mặt trái xoan kiều diễm đượm một vẻ buồn trang nghiêm và kín đáo, đã nhẹ nhàng bước ra.

Bùi Thị Xuân vội quỳ ngay trên thảm cỏ:

- Tâu Thái hậu!
Lâu lâu rồi thần mới được kính thăm Thái hậu. Những mong Thái hậu được yên lành mạnh khỏe.

Giọng nhỏ nhẹ có ý trách móc, Ngọc Hân dịu dàng:

- Nữ tướng đứng lên đi! Nữ tướng khách khí làm ta chẳng vui lòng? Sao trông Nữ tướng xúc động thế? Lo cho ta không được vui phải không?

Bùi Thị Xuân thấy Ngọc Hân như đọc được ý mình nên lúng túng:

- Thần đang ngắm hoa. Hương hoa ngạt ngào thân thiết quá!

Bùi Thị Xuân tránh không nói đến hoa huệ nhưng cặp mắt tuyệt đẹp của Ngọc Hân bỗng chớp chớp:

- Bùi nữ tướng biết đấy! Tiên đế rất thích loài hoa đó. Có lần Tiên đế bảo ta: giống hoa huệ có mùi thơm thật là ngát. Gốc của nó mọc lên từ đồng nội hoang dã, dáng của hoa ngay thẳng trung thực, hương của hoa nồng đượm ngọt ngào. Ngày còn nhỏ, song thân của Tiên đế gọi Tiên đế là Thơm cũng bởi lẽ đó. Bùi nữ tướng bảo ta không yêu hoa này sao được?

- Xa Thái hậu, thần những lo Thái hậu đau buồn.

Ngọc Hân giọng không vui:

- Thoắt đã 5 năm rồi cồn gì. Có con ta giúp cho ta khuây khoả. Còn vì - Ngọc Hân ngập ngừng - Hoài bão của Tiên đế chưa được thực hiện, mối quốc thù Gia Định còn canh cánh bên lòng.

Khi đã vào trong điện, Ngọc Hân âu yếm ngắm Bùi Thị Xuân rồi vui vẻ:

- Việc điều binh khiển tướng bảo vệ kinh thành ra sao mà Nữ tướng có vẻ mệt mỏi. Dầu thế mà trông vẫn mặn mà như xưa.

Hai người cùng bật cười rồi câu chuyện hướng ngay vào thời cuộc.

Sau khi nghe Bùi Thị Xuân kể lại tình hình Bắc Hà, nhất là sự phản phúc của Nguyễn Bảo ở Quy Nhơn, khiến quan Thiếu phó Trần Quang Diệu vừa hồi triều đã phải vội vã cầm quân đi chặn giặc, Ngọc Hân thở dài:

- Ta gặng hỏi Hoàng thượng cũng biết được sự tình như thế. Thế nước thực đã lâm nguy mà vua tôi vẫn bình chân như vại. Nếu không quả cảm nhìn thấy sự thực đau lòng ấy để có kế thu phục nhân tâm, chỉnh đốn việc coi quân trị dân thì mầm loạn đến nơi rồi.

- Tâu Thái hậu - Bùi Thị Xuân đỡ tách chè từ tay Ngọc Hân, nói - Làm cho nước này suy yếu đi, triều đình mất lòng dân, nhân tâm ly tán, quan lại trên dưới không thuận hòa, là lỗi bởi ai?

Ngọc Hân trở lại dáng nhanh nhẹn:

- Trước hãy hỏi Nữ tướng, trong con người thì cái gì nhiều hơn? Thiện hay ác?

- Tâu Thái hậu - Bùi Thị Xuân lúng túng - thần chưa hiểu hết thâm ý của Thái hậu, nhưng cũng cố bày tỏ, trong con người tính thiện và tính ác ngang bằng nhau. Còn nói cho cạn lý thì con người ta đều thiện.

- Ta hiểu ý Bùi nữ tướng muốn nói gặp hoàn cảnh tốt thì tính thiện lấn át tính ác, chính áp đảo tà, ngược lại gặp hoàn cảnh xấu thì tà áp đảo chính, ác lấn át thiện.

- Ngu ý của thần là như vậy.

- Nhưng Bùi nữ tướng cho hay ai làm nên hoàn cảnh? Những kẻ chăn dân chứ gì? Vậy, kẻ rũ rối triều chính, phá vỡ kỷ cương luật pháp nước này trước phải là đấng tối thượng và sau nữa là các triều thần. Nghĩa là nước này đang dột từ nóc. Pháp lệnh không thi hành được chính là do người trên phạm.

- Quả là thế - Bùi Thị Xuân tiếp lời - tự mình tu đức để giáo hóa dân thì sâu hơn mệnh lệnh, dân bắt chước người trên thì nhanh hơn pháp luật. Nhưng không phải ai cũng thấy nước này suy vi là tự triều đình, hoặc thói thường, người ta chỉ thấy người này có lỗi, người kia hèn kém mà không thấy chính mình cũng hèn kém, có lỗi. Thói đời đổ lỗi cho nhau ấy thật ra là hành động của kẻ đã bất tài lại vô hạnh. Nhìn rộng ra các trấn, bọn quan lại đua nhau ăn chơi, đục khoét muôn dân. Ngay các nho sĩ Bắc Hà được Tiên đế trao cho quyền bính, một thời vỗ ngực cho mình là giỏi, nay cũng xoay ra nhũng nhiễu dân đen, khiến cho thôn cùng xóm vắng rên xiết oán than.

- Bùi nữ tướng nghĩ sao? Nữ tướng đổ lỗi cho các quan lại, xem thường tài năng, nhân cách các nho sĩ Bắc Hà? Thử hỏi thời Tiên đế còn trị vì, họ đã đem tài năng công hiến cho dân nước. Vậy sự đổi thay ấy hẳn có nguyên cớ. Theo ta, chỉ vì triều đình sa đoạ, bè phái, không còn tin dùng họ nên bên cạnh một số mất gốc trở nên bọn sâu mọt của dân, số đông còn lại đều tìm cách xa lánh chính sự. Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích đều trước sau lui về quê ở ẩn, lo việc trước thuật, đâu phải họ bất tài? Gây nên việc chia rẽ Bắc Nam, chê người có học bất tài chẳng qua chỉ là sự ghen ghét đố kỵ của kẻ vô học nhưng nắm quyền mà thôi. Huống chi vua Cảnh Thịnh và cả Thái sư Bùi Đắc Tuyên trải việc đời là thế mà vẫn quên mất rằng, lời nói chau chuốt là phù hoa, lời nói ngay là thành thật, nói khó nghe là thuốc, nói ngọt là bệnh tật.

Bùi Thị Xuân sửng sốt:

- Tâu Thái hậu!
Quan Binh bộ Thượng thư Ngô Thì Nhậm đã cáo quan rồi sao? Người ấy là chỗ thân tình của vợ chồng thần. Cảnh ngộ thật đáng ái ngại.

Ngọc Hân trầm giọng:

- Không phải Ngô tiên sinh cáo quan mà là bị buộc phải về ở ẩn. Quan Thái sư Bùi Đắc Tuyên quyết đoán nhiều việc có lợi cho dân nước, nhưng cũng tác yêu tác phúc quá lắm. Chính Bùi Thái sư không muốn tin dùng các nho sĩ Bắc Hà, mà chỉ lo đưa thêm vây cánh là người Đàng Trong vào triều chính để dễ bề thao túng, che ác với vua.

- Tâu Thái hậu!
Thái hậu đã chỉ cho thần thấy được sự thật. Bấy lâu mải việc binh nhung, thần ít để tâm đến chính sự một cách thấu đáo. Vậy, theo ý thần, việc cần kíp lúc này là phải khích lệ được quan lại trong triều ngoài trấn xả thân vì nghiệp lớn của Tiên đế. Muốn thế, Hoàng đế Cảnh Thịnh phải thực nắm lấy triều chính, ngăn quan Thái sư lộng hành chia rẽ, khiến cho lòng người oán hận. Thần hiểu mấu chốt của công việc để chuyển được thế nước mạnh lên, đủ sức đương đầu với quân thù chính là phải có gan thay đổi cung cách làm việc của triều đình, không loại trừ khả năng gây nên những xáo trộn cần thiết.

Ngọc Hân thoáng vui:

- Ý Bùi nữ tướng chính là mong ước của ta. Thổ lộ được với Nữ tướng những điều bấy lâu ấp ủ, bấy lâu đớn đau, ta thấy vợi được cả cõi lòng.

Bùi Thị Xuân từ tốn đứng dậy:

- Thần gắng đem sức mọn thực hiện hoài bão của Thái hậu, dầu thịt nát xương tan cũng cam lòng.

Ngọc Hân đưa tiễn Bùi Thị Xuân ra hiên:

- Ta sẽ là chỗ dựa cho Bùi nữ tướng trong mọi việc.

 

*

*     *

 

Triều đình Cảnh Thịnh sôi động những tin tức từ các trấn dồn dập báo về. Vừa mấy hôm trước, vua Cảnh Thịnh chỉ thiếu có mở tiệc ăn mừng khi hay tin tiền quân Ánh do Nguyễn Văn Thành thống lĩnh chưa kịp tiến tới Quy Nhơn thì quan Thiếu phó Trần Quang Diệu đã lấy được Quy Nhơn, bắt được Nguyễn Bảo rồi thừa thắng đánh dồn quân Ánh vào tận Diên Khánh. Nhưng chỉ mấy ngày sau kinh đô Phú Xuân lại hay tin dữ: Gặp năm mất mùa, dân đói, nhiều phủ huyện ở trấn Quảng Nam sinh loạn. Trấn thủ Quảng Nam khi ấy bất lực không kiềm chế nổi. Vua Cảnh Thịnh lập tức triệu quần thần, tìm một người có tài trị nước vào thay trấn thủ Quảng Nam để vỗ yên xã tắc. Triều thần tiến cử Nữ tướng Bùi Thị Xuân đảm đương trọng trách ấy. Vua Cảnh Thịnh không nghi ngờ gì về tài cầm quân của Bùi Thị Xuân nhưng lại không tin vị nữ tướng này có tài trị nước. Vua cho vời Bùi Thị Xuân đến hỏi:

- Nước hiện không yên, khanh dâng được kế gì để thi thố cho đời?

Bùi Thị Xuân đăm chiêu:

- Tâu Hoàng thượng!
Kế thì có nhưng không thể làm gì được.

- Vì cớ gì? - Vua Cảnh Thịnh sửng sốt hỏi.

- Tâu Hoàng thượng!
Vì không có ai theo.

Vua Cảnh Thịnh nói:

- Trẫm trao ấn kiếm cho, ai dám không theo?

Bùi Thị Xuân hỏi lại:

- Nếu chính Hoàng thượng không theo thì sao?

Vua Cảnh Thịnh nhíu mày, dấu hiệu nhà Vua suy nghĩ căng thẳng. Hiểu như vậy, Bùi Thị Xuân tiếp:

- Trước hết xin Hoàng thượng quyết đoán lấy mọi việc. Bởi vì, một nghìn người vâng dạ không bằng một người nói thẳng. Lời nói thẳng nghe chướng tai nhưng có lợi cho việc làm, thuốc đắng uống khó chịu nhưng chữa được bệnh. Thứ nữa, cả triều đình nên ăn ở theo lối mộc mạc để tỏ cái nề nếp của mình, làm gương cho quan lại noi theo. Chỉ như vậy mới thu được nhân tâm, cố kết được lòng dân tạo cho thế nước ở đỉnh cao ngàn trượng, đủ sức đè bẹp giặc thù.

Vua Cảnh Thịnh mỉm cười:

- Chẳng nhẽ trẫm không làm như thế hay sao?

Bùi Thị Xuân thấy Vua chưa nhìn nhận được những sai sót của triều đình bèn mạnh dạn tâu:

- Xin cho tiểu thần được bộc bạch những nghĩ ngợi bấy lâu dày vò. Theo thiển nghĩ của thần, việc mượn cớ tiếp viện cho vua Thái Đức để chiếm Quy Nhơn là một hành vi vụng về. Bởi vì, trong lúc hoạ giặc Ánh ở phía trước, đáng lẽ phải giúp vua Thái Đức cùng đánh kẻ thù chung thì triều đình lại chiếm thành Quy Nhơn, khác nào tự tước vây cánh của mình, đẩy bạn đi với giặc. Xem vậy, kẻ có lợi trong cuộc xung sát huynh đệ này không phải triều Tây Sơn mà chính là Nguyễn Ánh.

Vua Cảnh Thịnh giữ vẻ mặt đăm chiêu:

- Việc đó là do quan Thái sư chủ trương, trẫm nào can dự.

- Tâu Hoàng thượng!
Nhắc lại chuyện đã qua là để mong Hoàng thượng sáng suốt quyết đoán công việc.

- Trẫm cũng nghe thấy nhiều người ca thán quan Thái sư chuyên quyền nhưng chưa tiện đàn hặc.
Cũng đã đến lúc công tội cần được phán xử, đánh giá.

Bùi Thị Xuân phấn chấn:

- Vậy thần xin kính chúc Hoàng thượng thi hành phép tắc được mỹ mãn. Thần xin cáo lui.

Cuộc hội kiến chỉ cốt để thăm dò khả năng trị nước của Bùi Thị Xuân, nhưng vua Cảnh Thịnh không ngờ chính Bùi Thị Xuân chẳng những đã khẳng định được tài năng của mình mà còn tâu bày, khơi gợi cho Vua suy nghĩ tới thế cuộc rộng lớn của đất nước bằng những ý tưởng sắc sảo, tỏ rõ tài kinh bang tế thế của viên nữ tướng. Bởi vậy, nhà Vua đã không nổi giận khi nghe lời khảng khái chê triều đình vụng dạỉ mà còn linh cảm được những chính kiến cao xa của một bộ óc lớn, biết nhìn xa thấy rộng. Vì thế khi Bùi Thị Xuân cáo lui cũng là lúc Vua quả quyết phó thác việc lớn cho viên nữ tướng. Vua rời ngai vàng, đến bên Bùi Thị Xuân, giọng như bị kích động:

- Trẫm có việc hệ trọng phó thác. Trấn Quảng Nam hiện không yên, trẫm rất lo. Bùi nữ tướng sẽ làm thế nào để dẹp nạn trộm cướp, giúp dân an cư lạc nghiệp?

Cặp mắt đen láy của Bùi Thị Xuân thoáng buồn:

- Tâu Hoàng thượng!
Theo chỗ thần thiếp được biết, vì mất mùa dân đói, quan lại không hết lòng thương dân nên sinh loạn.

- Phiền Bùi nữ tướng hãy đánh dẹp bọn giặc cướp rồi làm cho dân yên.

Bùi Thị Xuân vội đáp:

- Tâu Hoàng thượng!
Người xưa nói: Ai được nhân tâm thì hưng thịnh, ai mất nhân tâm thì tan vỡ. Ai cậy vào đức thì hùng cường, ai cậy vào sức thì sẽ mất. Xem vậy cầm quân dẹp loạn không phải là kế hay mà tuyển dụng người hiền tài để giúp dân được yên mới là đắc sách.

Sửng sốt trước lý lẽ của Bùi Thị Xuân, vua Cảnh Thịnh tươi nét mặt:

- Ý tưởng của Bùi nữ tướng nghe rất lạ. Việc cần kíp, khanh hãy một phen vất vả vì trẫm. Còn cần gì, trẫm sẵn lòng giúp đỡ.

Bùi Thị Xuân từ tốn:

- Tâu Hoàng thượng!
Trị loạn cũng như gỡ tơ rối không thể làm gấp. Thần thiếp chỉ xin các quan Thái sư, Ngự sử chớ lấy văn pháp mà cản trở việc làm của thần thiếp.

Vừa khi ấy, quan Thái sư Bùi Đắc Tuyên đĩnh đạc bước vào. Hay tin Bùi Thị Xuân được phái đi dẹp loạn ở Quảng Nam, đôi mày của vị quan già hiện đang thâu tóm mọi quyền hành trong triều gần như dựng ngược lên. Bùi Đắc Tuyên dõng dạc tâu Vua:

- Lão thần thật không hiểu tại sao Hoàng thượng lại để Bùi nữ tướng đi trấn nhậm trấn Quảng Nam trong khi kinh thành đang cần vị thống soái kiệt xuất. Trong hai việc thì việc sau hệ trọng hơn rất nhiều. Phải chăng Hoàng thượng nghe lời bọn văn dốt vũ dát, chuyên gây bè kéo cánh cốt để Bùi nữ tướng đi xa, gạt cái gai trước mắt, nhằm dễ bề thao túng triều chính. Xem vậy, Hoàng thương nên xét lại quyết định này.

Không muốn để quan Thái sư lộng quyền mãi nhưng vua Cảnh Thịnh lúng túng chưa tìm được ý.
Thái sư Bùi Đắc Tuyên được thể tiếp lời:

- Xin Hoàng thượng hãy sáng suốt quyết đoán đừng nghe bọn tham quan ngu ngốc nhưng lại hay dạy khôn. Lũ chúng toan dẹp giặc bằng ba tấc lưỡi.

Vua Cảnh Thịnh cố kìm nỗi giận:

- Quan Thái sư chớ nói quá lời!

Bùi Đắc Tuyên hạ giọng:

- Tâu Hoàng thượng!
Lão thần chỉ mong Hoàng thượng đừng để người chính trực như Bùi nữ tướng rời khỏi triều đình vào lúc này.

Bùi Thị Xuân từ tốn:

- Cảm ơn quan Thái sư đã dành cho hạ quan chút tư tình. Nhưng loạn cũng như lửa; đốm lửa có thể gây cháy rừng. Thiết nghĩ hạ quan đi trấn nhậm trấn Quảng Nam cũng là việc hữu ích.

Bùi Đắc Tuyên dằn giọng:

- Bùi nữ tướng nên biết, dẹp loạn còn khó hơn đánh giặc đó. Vậy ngăn cản Nữ tướng là muốn tránh cho ngươi một hiểm hoạ.

Bùi Thị Xuân mặt đỏ bừng:

- Quan Thái sư quá lo cho cháu mình(2) như thế sẽ mang tiếng là không công bằng. Huống chi từ ngày theo Tiên đế dánh đông dẹp bắc, hạ quan đâu dám không sẵn lòng xả thân báo đền ơn nước. Nay Ngự lệnh đã giao, quan Thái sư chớ nên ngăn cản, sẽ đắc tội với Hoàng thượng.

Thái độ quả quyết của Bùi Thị Xuân khiến vua Cảnh Thịnh vững vàng. Và, lần đầu tiên vị vua trẻ đã gạt ý kiến của quan Thái sư để làm theo ý mình. Vua nói:

- Trẫm đã quyết để Bùi nữ tướng đi dẹp loạn, không ai được làm trái lệnh hay bàn ngang nữa.





(1) Ngọc Hân có hai con là Hoàng tử Quảng Đức và Công chúa Ngọc Bảo.

 

(2) Bùi Thị Xuân là cháu ruột Bùi Đắc Tuyên.

 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 22.08.2026 09:18:25 bởi saomai1268>
Chương II


 
Mới ngoài canh ba, nữ tướng Bùi Thị Xuân đã giật mình tỉnh giấc. Bùi Thị Xuân nhớ ra mình đang ở huyện lỵ Điện Bàn, vùng đất trù phú, đông dân cư của đất Quảng Nam, nơi Nữ tướng được vua Cảnh Thịnh cử vào trấn thủ mấy tháng trước.
Không ngủ được, Bùi Thị Xuân trở dậy. Mới cuối hè mà ở đây khí hậu đã lành lạnh. Nữ tướng mặc thêm chiếc áo cánh đỏ tươi màu cờ, men theo tường, đi qua nơi viên tướng tùy tùng đang ngủ rồi ra ngoài.
Bên dinh huyện quan Điện Bàn, ai đó cũng đã trở dậy. Ánh nến từ trong căn phòng tránh gió bên ấy hắt ra qua cửa sổ, chiếu sáng cả một khoảng sân lát đá khá rộng. Gió từ trong nội thổi tới. Hàng cây trồng bên sân rung lên theo tiếng nhạc của gió. Trời đêm yên tĩnh. Bầu trời như một tấm thảm nhung đen dát đầy sao óng ánh, khi thì căng ra khi thì chùng lại. Những chấm sao lay động chồng lên nhau, va vào nhau chập chờn.
Bùi Thị Xuân phấn chấn bước ra sân nhìn về hướng đông đón bình minh dậy. Những khóm lá đẫm sương đêm lay động. Bùi Thị Xuân hít thở một hồi rồi theo thói quen, xuống tấn đi một bài quyền thành thục đến điêu luyện. Bùi Thị Xuân cười thầm nghĩ tới câu ca dao:
“Trai ba mươi tuổi đang xoan
Gái ba mươi tuổi đã toan về già”.
Có thật như thế chăng? Bùi Thị Xuân đã tứ tuần; vì việc nước, vợ chồng chẳng được gần nhau luôn, nhưng đã có hai mặt con. Vậy mà Bùi Thị Xuân chưa bao giờ thấy mình già, càng chưa thấy sức lực suy giảm bao nhiêu.
Đi xong bài quyền, Bùi Thị Xuân thấy toàn thân nóng ran. Nữ tướng mỉm cười, gương mặt thanh tú mà can trường hiện rõ trong ánh sáng mờ mờ. Bùi Thị Xuân cởi áo ngoài, để lộ vóc người cân đối, tròn lẳn mà rất đỗi mềm mại, trẻ trung. Nhanh nhẹn Bùi Thị Xuân trở vào nhà lấy ra đôi kiếm ánh thép sáng trắng, sắc như nước rồi ôn lại từng đường kiếm của mình. Bài kiếm có 36 miếng đánh. Đặc biệt lợi hại ở hai miếng cuối cùng, cũng là hai miếng phải thật công phu luyện tập mới dùng được. Bùi Thị Xuân học được đường kiếm này của giáo Hiến, một võ tướng xuất chúng nhưng bất đắc chí dưới thời Định Vương (1).
Múa lại bài kiếm, Bùi Thị Xuân bỗng nhớ đến lần giao đấu với tên tướng Xiêm ở cù lao Thới Sơn, Mỹ Tho gần 20 năm trước. Ngày ấy, sau khi cùng đại binh Tây Sơn do đích thân Nguyễn Huệ đốc suất, đánh tan 400 chiếc thuyền của giặc Xiêm - Nguyễn Ánh ở Rạch Gầm - Xoài Mút, Bùi Thị Xuân dẫn một cánh quân nhỏ đi truy quét giặc ở cù lao Thới Sơn. Vửa qua một khúc ngoặt, Bùi Thị Xuân bất ngờ gặp tên tướng Xiêm đang dẫn đám tàn quân chạy trốn. Tên tướng Xiêm ấy, về sau Bùi Thị Xuân mới biêt tên là Chiêu Thanh. Người hắn vạm vỡ, da sần sùi, hung hung đỏ như vừa uống rượu. Thấy Bùi Thị Xuân ít quân, tên tướng bèn chặn lại, nói một tràng tiếng Xiêm. Toán giặc Xiêm bèn bâu lại, dồn sức đánh Bùi Thị Xuân. Đánh một hồi, không hạ được Bùi Thị Xuân, tên tướng Xiêm nổi trùng, trợn mắt sạt những đường kiếm vun vút như xé gió. Thấy giặc cậy thế đông và tên tướng tỏ ra không phải là tay kiếm thường, Bùi Thị Xuân quyết định sử dụng miếng đánh cuối cùng:
giả vờ lạc đường kiếm, địch thủ tưởng lầm xông vào, lập tức sẽ bị hạ thủ. Quả nhiên, khi thấy viên nữ tướng trẻ người Việt lảo đảo, đường kiếm loạc choạc, tên tướng Xiêm gầm lên, vung kiếm dùng toàn sức phạt ngang. Nhưng tiếng gầm của hắn chưa dứt, Bùi Thị Xuân đã vụt nhảy về phía sau tránh đà lia của kiếm, rồi bằng một đường kiếm bén ngọt, Bùi Thị Xuân lao đến thích vào bụng hắn. Tên tướng Xiêm, kẻ được mệnh danh là tay thần kiếm của đạo quân xâm lược 3 vạn người ấy rống lên như bò rồi đổ xuống như một cây thịt. Cho đến lúc quân Tây Sơn kéo đến, toán giặc Xiêm đã bị giết không còn một mống...
Trời đã sáng rõ, Bùi Thị Xuân thu kiếm trở vào nhà. Nghe tiếng động, viên tướng tùy tùng giật mình choàng dậy:
- Chủ tướng đã dậy sao?
- Hôm qua đi mệt.
Em cứ ngủ nữa đi.
Lúc thường Bùi Thị Xuân vẫn gọi các nữ binh bằng em một cách thân mật. Nhưng viên tướng tùy tùng của Bùi Thị Xuân vẫn dậy tắt ngọn đèn khêu nhỏ đặt trên án thư.
- Em thấy khí trời ở đây có dễ chịu không? - Bùi Thị Xuân trìu mến hỏi viên tùy tướng.
- Thưa Chủ tướng!
Khí hậu ở đây thật dễ chịu. Sáng qua, tiểu tướng theo con gái viên huyện quan dạo chơi, được thấy những nương dâu xanh ngắt, bạt ngàn, lại được xem các thiếu nữ dịu dàng, hai tay thoăn thoắt hái dâu, miệng tươi như hoa nở.
- Em ta có thể trở thành thi nhân được đấy. Nhưng này, em có nghe thấy tiếng gì không?
Giọng cô gái trở nên vui vẻ:
- Ồ, tiếng xa quay, tiếng thoi đưa. Con gái ở đây thức khuya dậy sớm, siêng năng quá, thưa Chủ tướng.
- Dân chúng vùng này có nghề dệt lụa cổ truyền mà.
- Thảo nào, ngay dinh huyện này, tiểu tướng cũng thấy nuôi tằm. Tiểu tướng đã được xem những nong kén vàng óng ả, mượt mà trông thật là đẹp.
- Em thấy dân chúng vùng này thế nào?
- Thưa Chủ tướng!
Chả cứ vùng này mà toàn trấn Quảng Nam đều nhớ đến công đức của Tiên đế, một lòng gắn bó với triều Tây Sơn.
Cặp mắt đen láy của Bùi Thị Xuân chợt sáng lên. Nhận xét của viên tùy tướng rất hợp với ý nghĩ của Bùi Thị Xuân. Bùi Thị Xuân bỗng nhớ lại ba tháng trước, khi vào Quảng Nam lĩnh chức Trấn thủ. Hồi ấy, ở nhiều nơi gặp năm mất mùa dân đói nên trộm cướp nổi lên. Viên Trấn thủ Quảng Nam cũ trước lúc bị cách thức đã nói nhỏ với Bùi Thị Xuân về mối lo dân chúng không còn tin tưởng vào tân triều nữa. Chính viên trấn thủ già nua ấy đã thẳng thắn khuyên Bùi Thị Xuân hãy tránh xa triều đình Cảnh Thịnh để giữ lấy mình. Bùi Thị Xuân hiểu tâm trạng viên quan già nhưng chẳng đồng tình, ôm nỗi lo về nguy cơ suy vi của triều Cảnh Thịnh, nhưng không giống viên Trấn thủ Quảng Nam bê trễ, lảng tránh việc triều chính, Bùi Thị Xuân sẵn sàng đảm đương trọng trách, mong giữ kỷ cương phép nước, chỉnh đốn bộ máy quan lại, chăm lo sức dân, thu phục nhân tâm. Nội tình triều Cảnh Thịnh khiến người chính trực đau lòng, nhân tâm ly tán. Nhưng Bùi Thị Xuân đinh ninh dân chúng Quảng Nam không dễ quên công đức trời biển của Hoàng đế Quang Trung xưa. Nếu vậy, chẳng lẽ dân chúng lại không tha thiết gắn bó với triều Tây Sơn, không lo lắng cho vận nước, trong lúc quân Nguyễn Ánh ở Đàng Trong được bọn Tây Dương giúp sức, đang sửa soạn đem quân ra đánh nhà Tây Sơn. Phải trấn yên xã tắc, thu phục lòng dân mới mong giữ được nước, bảo vệ cơ đồ mà Hoàng đế Quang Trung đã gây dựng. Nghĩ thế nên sau khi nhậm chức trấn thủ Quảng Nam, đốc suất đội nữ binh phòng giữ thành thủ, Bùi Thị Xuân quyết định làm một việc mà chưa một viên trấn thủ nào dám làm là tự mình đi thị sát khắp hạt để tìm hiểu dân tình, cứu đói, chấn chỉnh việc coi quân trị dân của các viên quan phủ quan huyện. Quế Sơn là huyện đầu tiên viên nữ tướng Tây Sơn để ý đến. Hôm về huyện, Bùi Thị Xuân không đem theo quân lính. Khi ngựa chiến của Bùi Thị Xuân và viên tùy tướng đến địa phận Quế Sơn, viên quan huyện thân đem binh đi đón. Bùi Thị Xuân liền cho quân lính trở về. Đến huyện lỵ, Bùi Thị Xuân ra lệnh bãi bỏ các cuộc truy lùng bọn cướp và tuyên cáo: Hễ ai vác cày bừa, nông cụ được coi là dân lành, quan lại không được hỏi. Ai mang binh khí bị coi là giặc cướp sẽ bị nghiêm trị. Đồng thời, Bùi Thị Xuân cho mở kho phát chẩn cho dân đói. Ai già cả tật bệnh cho gấp đôi. Thấy viên huyện quan có hành động mờ ám, chiếm công vi tư, ăn của hối lộ, Bùi Thị Xuân thẳng tay cách chức, chọn người hiền tài lên thay.
Bằng sự quyết đoán táo bạo: Cách chức bọn tham quan, bãi bỏ các cuộc truy lùng bọn cướp, tỏ cho trộm cướp thấy mình không bị coi là trộm cướp, mở đường cho dân lầm đường trở về đời sống lương thiện, thẳng tay trừng trị những ai cố tình gây rối, nạn trộm cướp ở Quê Sơn đã chấm dứt, dân chúng yên ổn vui vẻ làm ăn. Bùi Thị Xuân còn đặc biệt nêu cao gương kiệm ước, khuyến khích dân tăng gia, trồng mầu, bắt mỗi nhà phải nuôi lợn, nuôi gà. Vì vậy, cả vùng Quê Sơn vui theo nghề nông, mùa màng bội thu, nhà nào cũng có thóc chứa. Tiếng tăm viên quan tân Trấn thủ biết thương dân, có đức rộng chẳng mấy chốc lan rộng khắp vùng Quảng Nam. Uy danh, đức dộ của Bùi Thị Xuân trở thành niềm tin yêu và tự hào của dân chúng Quảng Nam.
Chính bằng chuyến đi thị sát dài ngày suốt từ Ải Vân cửa ngõ phương Bắc đến cận giới phía Nam, từ vùng Quế Sơn bạt ngàn quế đến Trà Đản toàn cát trắng và nay là Điện Bàn, vùng đất trù phú đông dân, Bùi Thị Xuân thấy sự thực không đến nỗi như thổ lộ của viên cựu Trấn thủ. Sự thực là ở đâu dân chúng cũng một lòng hướng về nhà Tây Sơn; sự trục trặc nếu có lại thường xảy ra từ phía kẻ coi quân trị dân mà không hết lòng thương dân. Ở đâu, trăm họ cũng mong muốn triều đình Cảnh Thịnh biết dùng người chính trực, làm cho dân thịnh nước giàu, anh em thuận hòa, góp sức lo trả mối quốc thù Gia Định mà bấy lâu còn canh cánh bên lòng. Bùi Thị Xuân thực sự cảm động khi thấy dân chúng Trà Đoá đã dẫn Bùi Thị Xuân đi thăm những luống khoai lang đều tăm tấp, xanh tốt trên cánh đồng cát phẳng, hoan hỉ kể lại với nữ tướng Tây Sơn những kỷ niệm về Hoàng đế Quang Trung mà năm tháng đã khắc sâu vào lòng dạ họ.
Dân chúng đã biếu Bùi Thị Xuân những củ khoai mập mạp, béo tròn, nhẵn bóng như những con lợn con; những củ khoai hấp chín có màu vàng phơn phớt, nuốt xong còn để lại dư vị ngọt ngào. Dân chúng Trà Đoá không nói nhiều về công việc đồng áng của họ. Nhưng trong những ngày ngắn ngủi ở đó, Bùi Thị Xuân thấu hiểu nỗi gian truân mỗi khi gió tây nam thổi về, cát bụi bốc lên, hơi nóng toả ra ngột ngạt tưởng chừng khó sống được. Ấy vậy mà dân chúng ở đấy bền lòng vật lộn với khí trời khắc nghiệt, nương tựa vào nhau, vui với cảnh nghèo không một lời ta thán. Dân như thế sao gọi là ly loạn. Cơ nghiệp Tây Sơn đâu phải hết phương cứu chữa. Bùi Thị Xuân hài lòng về những việc đã làm. Chỉ còn một điều áy náy chưa yên là nữ tướng Tây Sơn chưa diệt được đảng cướp Lý Tiểu Muội, em Lý Tài (2), cầm đầu, vẫn hoành hành ở vùng núi Trà Sơn cực kỳ hiểm trở. Còn bọn cướp người Hán được Nguyễn Ánh và bọn Phú-lãng-sa giúp sức này, trấn Quảng Nam chưa thể yên. Bùi Thị Xuân không thể không diệt sạch đảng cướp táo tợn này.
Một làn gió mạnh lùa vào căn phòng đem theo cái rét đầu mùa đã cắt đứt mạch suy nghĩ của Bùi Thị Xuân. Bùi Thị Xuân bước ra hiên. Những khóm lá đẫm sương đêm đang bốc hơi. Gió pha lẫn nắng và hơi sương lùa vào gian phòng. Bùi Thị Xuân toan khép cửa lại, nhưng vừa lúc ấy, viên tùy tướng tiến đến, giọng cung kính:
- Thưa Chủ tướng, vừa nãy huyện quan Điện Bàn bưng trà sang mời Chủ tướng nhưng thấy Chủ tướng đang mải suy nghĩ, tiểu tướng vội ngăn lại.
Bùi Thị Xuân sốt sắng:
- Vậy ta phải sang ngay bên ấy. Có một vụ kiện rắc rối, huyện quan Điện Bàn muốn nhờ ta xét xử.
 
*


*     *


 
Dinh huyện quan Điện Bàn gồm hai dãy nhà xây khá rộng. Dãy dưới dành cho khách, binh lính và vợ con họ. Dãy trên đặt làm công đường. Cách bày biện trong công đường đơn giản, tỏ rõ huyện quan không phải là người chuộng hình thức. Chính giữa công đường đặt chiếc án thư rộng mặt, hai bên án thư kê hai chiếc đôn sứ, là nơi làm việc của quan. Bên trái bày chiếc án thư cỡ nhỏ để viên thư lại ngồi biên chép. Gần cửa ra vào đặt hai chiếc ghế dài, dành cho những người đến kêu cầu, kiện tụng. Cuối cùng, chiếc đôn để sát cửa ra vào là chỗ ngồi của lính canh và cũng chỉ thật cần thiết lính canh mới được sử dụng. Viên huyện quan Điện Bàn đã đứng tuổi và là viên quan duy nhất không bị Bùi Thị Xuân cách thức. Ngày trước quan từng theo đòi nghiên bút, từng theo vua Quang Trung dự nhiều trận. Về sau, vì bị thương sức yếu, được cử làm huyện quan Điện Bàn. Quan là người dễ tính, niềm nở, ít khi cáu gắt, nổi xung với cấp dưới, càng không lấy việc nạt nộ dân chúng để ra oai.
Triều vua Quang Trung đã đào luyện được những viên huyện quan na ná như thế.
Huyện quan Điện Bàn vốn hay ngủ dậy muộn. Nhưng từ hôm Bùi Thị Xuân tới, không muốn bị hiểu lầm là bê trễ việc công, quan đã bảo người hầu gọi dậy sớm. Hôm nay cũng vậy, chẳng những quan đã dậy sớm mà còn bắt viên thư lại ngủ ngay trong dinh để tiện bề sai bảo việc sổ sách. Quan có phần ngại Bùi Thị Xuân, cái ngại của người dưới tự biết mình có những nhược điểm trước người trên có cặp mắt tinh tường mà lại nghiêm minh chính trực, đang kiểm soát việc coi quân trị dân cả vùng.
Nhớ lại ngày hôm qua, trong khi trình bẩm công việc trong huyện, quan phải túi bụi tra cứu sổ sách để trả lời những câu hỏi trọng yếu, cấp thiết của viên nữ Trấn thủ. Chà, những câu hỏi trọng yếu cấp thiết làm sao. Trong huyện có chừng bao nhiêu trâu, vùng nào dân thiếu ruộng cấy cày. Có bao nhiêu trai tráng từ 16 đến 30 tuổi? Dân tình thế nào? Huyện quan Điện Bàn đã phải toát mồ hôi mới trả lời đầy đủ được những câu hỏi ấy. Đã thế, viên nữ Trấn thủ lại chẳng dung thứ cách trả lời mập mờ không rõ ràng. Nhưng Bùi Thị Xuân tuy hỏi kỹ vậy mà không phải là hạch sách, tuồng như hoàn toàn vì ích nước lợi dân mà cần hỏi, cần biết cho tường tận.
Cung cách, phong độ làm việc ấy thật khác xa với viên Trấn thủ khi trước. Vì vậy từ chỗ ngại ngần, huyện quan Điện Bàn lại rất thích thú cách làm việc dứt khoát của Bùi Thị Xuân. Từ đáy lòng, viên quan đứng tuổi càng khâm phục và yêu mến người nữ tướng danh tiếng của triều Tây Sơn. Cho nên, sáng nay, sau lúc được đánh thức dậy, dù trời còn tối, huyện quan Điện Bàn đã tự mình xách ấm, rong thuyền xuống hồ, chắt từng ly nước tinh khiết đọng trên mỗi chiếc lá sen để về đun nước pha chè. Làm xong thủ tục ấy, huyện quan đích thân sang mời Bùi Thị Xuân nhưng bị viên tướng tùy tùng của Bùi Thị Xuân ngăn lại. Tuy thế, huyện quan không phật lòng; chỉ tiếc loại chè Đức Phú ướp quế Trà Mi (3) pha bằng nước lá sen ban mai nguội mất.
Chợt thấy viên thư lại đi ngang qua, quan huyện gọi giật vào:
- Chú hãy vào đây uống chè.
Đỡ tách chè và sau khi dè dặt nhấp một ngụm, viên thư lại xuýt xoa:
- Chao ơi! Con chưa được uống thứ chè nào thơm ngon thế này bao giờ.
- Còn phải nói - Huyện quan đắc ý - Chẳng giấu gì chú, đây là chè đãi quan tân Trấn thủ, người mà ta thực bụng kính trọng.
- Nữ đại quan còn trẻ quá, lại đẹp nữa.
- Chuyện, người anh hùng không cần đợi tuổi, Hoàng đế Quang Trung xưa mới 19 tuổi đã làm đại tướng thống lĩnh đại binh đánh tan 2 vạn quân của danh tướng Tống Phúc Hiệp ở Phú Yên. Năm 25 tuổi, cầm trọng binh tiến vào Gia Định bắt sống một lúc 2 chúa, lật đổ cơ nghiệp triều Nguyễn. Quan nữ Trấn thủ cũng vậy. Mới ngoài 20 tuổi đã thống lĩnh đạo quân chặn hậu rồi cùng đại binh Tây Sơn cả phá 3 vạn quân thuỷ bộ với cả 400 chiến thuyền của giặc Ánh có nhiều tầu đồng của người Phú-lãng-sa giúp sức ở Ngã Bảy. Trong trận thuỷ chiến kinh động trời đất ấy, giặc Ánh bị đánh tơi tả.
Cai cơ Mạn Hoè (Manuel) cùng tàu đồng bị vùi xác xuống dòng sông sâu. Trận ấy, quan nữ Trấn thủ bắt sống được Phó tổng nhung của Ánh là Tống Phúc Thiện, được Nguyễn Nhạc đặc biệt ân thưởng.
Viên thư lại trẻ tuổi, sửng sốt:
- Con người oai danh như sấm động, chức tước vào hàng đại thần mà giản dị như thế sao? Thảo nào, dân chúng bấy lâu xôn xao bàn tán có một vị đại quan thanh liêm, đi chu du khắp hạt, đem phúc lành cho trăm họ. Người ấy là nữ đại quan.
Có tiếng chân người bước ngoài hành lang. Huyện quan Điện Bàn cùng viên thư lại vội ngừng câu chuyện. Bùi Thị Xuân rực rỡ trong chiếc áo đỏ tươi, vui vẻ:
- Nghe nói ông huyện muốn gặp ta. Có chuyện gì vậy? Vụ án rắc rối mà ông nhờ ta xét xử, ta cần biết tường tận hơn. Ta muốn hỏi thêm các nhân chứng đã được mời đầy đủ chưa?
Huyện quan Điện Bàn lúng túng như gà mắc tóc:
- Hạ quan thật có lỗi để Đại quan phải hạ cố tới. Cũng không có việc gì hệ trọng. Các nhân chứng hạ quan đã đòi đến đủ. Hạ quan có ấm chè ngon hầu Đại quan.
- Được việc thì thôi, ông huyện! - Bùi Thị Xuân nói. Và, sau lúc nhấp một ngụm chè, viên nữ tướng Tây Sơn kêu lên:
- Trà Đức Phú, quế Trà My! Ông đãi ta vào hàng khách quý.
- Thưa vâng, Đại quan cũng thích thưởng thức và am hiểu về chè.
- Ta có biết qua. Nhưng quế Trà My ở đây cũng có bán sao?
- Thưa không, hạ quan được quan huyện Quế Sơn gửi biếu.
Bùi Thị Xuân chợt đổi giọng gay gắt:
- Ta đi kinh lý toàn hạt, nơi nào quan lại cũng sinh tật xấu, huyện quan Quế Sơn là một ví dụ.
Nghe dân chúng kêu ca huyện quan hà hiếp lương dân, chặn thu nhiều quế đem bán, ta bán tín bán nghi, bèn sai viên tùy tướng của ta cải trang làm lái buôn đến tư dinh huyện quan xét rõ thực hư. Hoá ra hắn có cả một kho quế quý, lúa gạo chất đầy toà ngang dãy dọc.
- Đại quan có một lần tha tội cho ông ta không?
- Phàm người coi quân trị dân phải quang minh chính trực. Ta đã chiểu phép nước để trị tội và bắt phải trả lại cho lương dân.
Chợt thấy viên thư lại vẫn khoanh tay đứng hầu, Bùi Thị Xuân cầm tách trà đưa cho và hỏi:
- Nhà ngươi là học trò xuất thân phải không?
Viên thư lại cung kính đỡ tách trà:
- Con xin Đại quan. Vâng, đúng con là học trò xuất thân.
- Đừng xưng hô với ta như thế. Ngươi là học trò, vậy ngươi có biết người xưa nói về dân chúng ta sao không?
- Thưa Đại quan!
Tôi học vấn ít ỏi, được Đại quan hỏi đến, dám xin thưa rằng, người xưa tùy thời mà nói về dân có khác nhau và cũng tùy vào phẩm chất người làm quan. Ví như quân sư Nguyễn Trài, bậc khai quốc công thần của vua Lê Thái Tổ thì cho rằng: “Chở thuyền và làm lật thuyền” cũng là dân. Vì vậy, người làm quan phải thích nghe thích xét, không được che ác với nhà vua, kết bè đảng, vụ lợi cho riêng mình.
Quốc công Tiết chế Trần Quôc Tuấn đã tâu khoan nới sức dân để làm kế bền gốc, sâu rễ, coi đó là thượng sách để giữ nước. Nhưng về sau, Quốc công Tiết chế lại cho rằng “tướng là chim ưng, quân dân là vịt để nuôi chim ưng thì có gì là lạ”.
- Ngươi nhầm rồi!
- Bùi Thị Xuân cắt ngang - Người cho quân dân là vịt là Trần Khánh Dư. Hưng Đạo Đại Vương trước sau vẫn coi trăm họ là gốc rễ của xã tắc và răn dạy tướng soái phải coi binh lính như cha con một nhà.
- Thưa, nếu không có Đại quan uốn nắn cho, sự lầm lẫn của tôi thật đắc tội với tiền nhân.
- Nhưng nhắc lại chuyện xưa là để nói người nay. Xưa vua tôi đồng tâm, anh em thuận hòa, cả nước góp sức, ấy là lúc người mình thắng giặc dữ. Tiên đế là người áo vải từ ấp Tây Sơn đánh Nguyễn, diệt Trịnh, đuổi Xiêm, đại phá giặc Thanh mọi việc đều như ý, ấy là nhờ vào sức dân. Xem vậy, vận nước thịnh hay suy là ở chỗ từ vua đến quan có thương yêu dân hay không.
Huyện quan Điện Bàn cung kính:
- Đại quan nhìn xa thấy rộng, am hiểu tường tận phép trị nước, ấy là phúc cho dân.
Bùi Thị Xuân nhún nhường:
- Ông huyện chớ khen ta. Kẻ làm quan hơn nhau là ở tấm lồng. Bởi vì việc binh, việc hình, việc lễ, việc nhạc thánh nhân đều có luật. Công việc tu, tề, trị, bình cũng có phép tắc, nhưng mỗi thời, thậm chí mỗi người ứng dụng một khác. Tức là các vĩ nhân biết nắm lấy thực tiễn là cốt tử chứ không khép mình bắt chước thánh hiền.
Viên thư lại trở nên tự nhiên:
- Thưa Đại quan!
Quả là xưa nay triều nào cũng có sự đối chọi dai dẳng giữa cái tốt và cái xấu.
Nhưng người quân tử phải quả quyết đứng về phía cái tốt dù thời cuộc có thay đổi đến đâu.
Bùi Thị Xuân vui vẻ:
- Ngươi còn trẻ nhưng là người có chí, thật đáng khen. Tuy thế, người quân tử còn phải có bản lĩnh, có lòng gan dạ sắt tìm đâu hợp với nghĩa thì theo. Ví như triều Tây Sơn ngày nay không được như thời Hoàng đế Quang Trung trị vì, nhưng người quân tử không được thối chí mà phải đem tài năng ứng dụng cho đời. Thói thường, phê phán và nổi giận bao giờ cũng dễ. Đưa ra một phương lược hành động sáng suốt mới thật là khó.
Huyện quan Điện Bàn vừa được lính báo những người theo kiện đã đến đủ nên rụt rè, lúng túng:
- Thưa Đại quan!
Tôi xin ghi tạc những lời giáo huấn của Đại quan. Bây giờ xin Đại quan sang công đường xử án.
 
*


*      *


 
Một vụ án lạ ở một xã ven trấn lỵ Điện Bàn đã được huyện quan mấy lần xét hỏi nhưng chưa biết xử ra sao. Bởi vậy là người chú ý đến hình luật, để tâm xem xét nỗi oan ức của dân, Bùi Thị Xuân quyết định thân xử vụ kiện này.
Nguyên nhà họ Lê ở xã nọ chẳng may chết sớm để lại vợ goá còn trẻ đẹp và đứa con trai 14 tuổi. Đứa bé này bị tố cáo là đã ngỗ ngược với mẹ. Người đầu đơn kiện lên quan là viên xã trưởng của xã ấy tên Ba Nỗ. Vụ án càng thêm rắc rối vì mẹ của chú bé cũng đồng tình với viên xã trưởng, trong lúc họ hàng ruột thịt của chú bé giữ thái độ im lặng.
Mở đầu buổi xử án, trước đông đảo nhân dân đứng lặng như hóa đá, tập trung theo dõi từng cử chỉ nhỏ của mình, Bùi Thị Xuân hỏi viên xã quan:
- Họ Lê còn có bà con thân thích gì không? Sao không thấy đứng tên vào đơn kiện?
Viên xã quan khúm núm:
- Bẩm Đại quan!
Tên nghịch tử họ Lê còn có một ông chú và một ông cậu. Nhưng cả hai đều già yếu, ngại hầu quan nên không chịu đứng tên kiện cháu. Con vốn là chỗ thân tình của cố chủ, vốn hay đi lại thăm hỏi gia chủ nên chẳng ngại khổ, ngại bị thù oán, muốn giúp cậu chủ sửa đổi hạnh kiểm. Ấy là giữa đường thấy việc bất bình chẳng tha vậy!
- Người đừng nhiều lời - Bùi Thị Xuân nghiêm mặt nói rồi quay sang viên huyện quan - ông đã cho người xuống tận nơi tra cứu vụ án này chưa? Kết luận của ông ra sao?
- Thưa Đại quan!
- Huyên quan Điện Bàn đáp - Chính hạ quan đã về tận nơi điều tra và được biết rằng, viên xã trưởng Ba Nỗ hay đi lại thăm nom gia đình cố chủ họ Lê. Chính y đã cùng vợ cố chủ tư tình, muốn hại con cố chủ, chiếm đoạt tài sản. Sự thực là như thế nhưng hạ quan không có bằng chứng rõ ràng để khép tội họ.
Bùi Thị Xuân gọi chú bé họ Lê đến trước công án, quát hỏi:
- Sao ngươi lại có hành động hỗn hào với mẹ đẻ. Ngươi trả công sinh thành dưỡng dục của mẹ ngươi như thế sao?
Chú bé sụt sùi thưa:
- Bẩm quan! Xin quan xá tội. Chỉ vì mẹ con nghe ông Ba Nỗ xúi bẩy đánh đập hành hạ con, con mới sinh hư như thế.
- Xã trưởng Ba Nỗ có bao giờ đánh đập ngươi không?
- Bẩm quan, ông ta chỉ xúi mẹ con đuổi con đi thôi.
Bùi Thị Xuân vỗ án quát hỏi xã trưởng:
- Ba Nỗ! Tại sao gia tộc họ Lê không đứng tên kiện cháu mà lại để cho nhà ngươi là người ngoài đứng ra cáng đáng việc này? Có thực nhà ngươi lấy tình bằng hữu với cố chủ mà ân cần săn sóc gia quyến người ta hay toan dùng quyền uy để khống chế, lợi dụng sự nhẹ dạ của đàn bà để thoả lòng tham?
Nhiều tiếng xì xào tỏ ý đồng tình với câu hỏi của Bùi Thị Xuân nổi lên trong đám đông dân chúng. Viên xã trưởng sau lúc bối rối đã lấy lại bình tĩnh:
- Bẩm Đại quan!
Sinh thời cố chủ từng giúp con lúc con còn nhàn vi. Cảm cái đức ấy nên thấy nghịch tử ngỗ ngược mà đau lòng. Họ hàng cố chủ vì sợ nghịch tử thù oán nên không dám đầu đơn. Con chỉ muốn giúp cậu chủ sửa đổi tính nết, hoàn toàn không có tà tâm nào khác. Xin Đại quan đèn giời soi xét.
Bùi Thị Xuân cười nhạt:
- Ngươi thật là người có nghĩa, đáng khen thay!
Ba Nỗ phấn chấn:
- Bẩm, cả xã con đều khen con như thế.
Bùi Thị Xuân ra hiệu cho chú bé đến gần Ba Nỗ rồi nói:
- Ba Nỗ hãy nghe đây! Đáng lẽ thằng nhỏ vì tội bất hiếu với mẹ phải chịu 40 trượng. Nhưng nó còn nhỏ, đánh 40 trượng sợ chết mất, còn đâu mà giáo dục nó như ngươi mong muốn.
Người từng chịu ơn của cố chủ họ Lê, lại thực lòng thương thằng nhỏ và gia quyến nó. Vậy người hãy thay nó nhận 40 trượng phạt.
Cả công đường dậy lên tiếng xuýt xoa tán thưởng trong khi Ba Nỗ mặt tái đi, kinh hoàng.
Lệnh của Bùi Thị Xuân được thi hành ngay. Ba Nỗ khóc xin tha nhưng không được. Hắn phải chịu 40 trượng phạt, thịt đau da rách.
Bùi Thị Xuân lại cho đòi chú ruột của chú bé đến trước công án, nói:
- Nhà ngươi là chú ruột của thằng nhỏ. Chú cũng như cha. Cha đã chết sao ngươi không thay anh dạy dỗ cháu để nó hư đốn, để Ba Nỗ phải can dự vào chuyện kiện tụng. Vậy ngươi phải chịu 40 trượng phạt.
Người chú khóc, xin tha tội. Bùi Thị Xuân đổi giọng hóm hỉnh:
- Tội ngươi rành rành còn khóc nỗi gì. Nhưng ngươi yên lòng. Ba Nỗ là người có nghĩa khí, hắn đã thay ngươi đầu đơn kiện cháu ngươi, tất hắn sẽ thay ngươi chịu đòn.
Mệnh lệnh của Bùi Thị Xuân được thi hành ngay.
Cuối cùng, Bùi Thị Xuân sai đem gông đến và tuyên bố:
- Đây là chiếc gông cho xã trưởng Ba Nỗ thay thằng nhỏ chịu tội. Chỉ khi nào thằng nhỏ hối cải, Ba Nỗ mới được thả ra.
Phiên xử kết thúc trong sự hoan hỉ của mọi người.
Huyện quan Điện Bàn chưa hết thảng thốt:
- Thưa Đại quan!
Xã trưởng Ba Nỗ có tội lộng quyền, quan hệ bất chính với vợ cố chủ, mưu hãm hại đứa bé để chiếm đoạt gia sản, nhưng vì không có bằng chứng nên hạ quan chưa dễ bắt tội. Xử như Đại quan thật tài tình, vừa đúng sự thực vừa không sai luật.
Bùi Thị Xuân tươi cười:
- Kẻ phạm luật quỷ quyệt lắm! Hắn rêu rao tình thương nghĩa cả thì ta mượn chiêu bài ấy để xử tội hắn. Cũng ví như bọn đạo trưởng (4) Tây Dương nại chúa nhưng chính là mượn tay chúa để làm điều ác vậy.
Vụ xử án khôn ngoan sáng suốt của Bùi Thị Xuân lần nữa được nhân dân truyền tụng như vầng hào quang của trí tuệ bao quanh bà.
Trước lúc rời công đường, Bùi Thị Xuân nhắc quan huyện:
- Nội nhật hôm nay ông huyện nhớ thảo gấp công văn cấm việc giết trâu và buôn bán trâu, cần bố cáo cho dân chúng biết trâu cày bừa còn thiếu. Nhân thể, cấm hẳn tệ nấu rượu.
Thóc lúa lúc này quý như vàng. Ban bố lệnh lại còn phải xem lệnh có nghiêm không?
- Đại quan yên lòng, hạ quan không dám trái lệnh.
Bùi Thị Xuân bước ra hiên. Mặt trời đã nhô lên đỉnh rặng núi xa. Những hàng cây trước dinh óng màu vàng thanh. Lá cây lay động làm cho những chấm nắng như nhảy nhót, nô rỡn trên cỏ mượt.
-------------------------------------------------------------------------------------


(1) Định Vương làm chúa từ năm 1765 đến 1778.
 
(2) Lý Tài người Hoa, từng làm Đại tướng Tây Sơn. Sau phản bội theo Nguyễn Ánh.
 
(3) Những đặc sản nổi tiếng của Quảng Nam.
 
(3) Từ cổ chỉ cố đạo.
Đăng nhập để trả lời
0