Mùa thu năm 1848 đến với những trận cuồng phong dữ dội, thời tiết đổi thay đột ngột và thường xuyên, cùng những cơn gió lạnh thấu xương. Những luồng gió buốt giá quần thảo quanh tòa nhà mục sứ nhỏ bé màu xám nằm trơ trọi trên đỉnh đồi đã mang theo cả bệnh tật. Anne và Charlotte tiều tụy,éo mòn; Branwell cũngổn yếu. Thể chất của anh dường như đã sụp đổ sau những cơn sa đọa mà anh không đủ nghị quyết để từ bỏ. Thường thì anh ngủ suốt cả ngày, hoặc ít nhất ngồi lờ đờ hàng giờ trong một trạng thái mệt mỏi rã rời; nhưng cứ đến đêm là sự dửng dưng ấy lại biến thành sự dữ dội và đớn đau. "Cha, và thỉnh thoảng tất cả chúng tôi đều có những đêm thật buồn bã với nó," Charlotte viết vào những ngày cuối tháng Bảy.
Thế nhưng, vì gia đình nhỏ hiểu rõ nguyên nhân của sự suy sụp này, nên không ai mảy may nghi ngờ về một mối nguy hiểm cận kề. Anh yếu đuối, điều đó chắc chắn, và chán ăn; nhưng những kẻ nghiện thuốc phiện nào có khỏe mạnh hay thèm ăn đâu. Bản thân Branwell, gia đình anh, hay bất kỳ vị bác sĩ nào được thỉnh ý cũng không cho rằng đây là tình huống nguy hiểm cấp bách; có vẻ như cuộc sống ảm đạm này cứ thế kéo dài mãi, đánh dấu từng giờ bằng sự dao động không dứt giữa những lần chìm đắm trong sa đọa và những cơn đau đớn oằn mình.
Trong suốt mùa thu ảm đạm ấy, ông Grundy đang ở Skipton, một thị trấn cách Haworth chừng mười bảy dặm. Nhớ đến người bạn cũ, ông đã mời Branwell đến chơi nhà; nhưng người thanh niên đang cận kề cái chết ấy quá yếu để thực hiện dẫu chỉ là chuyến đi ngắn ngủi ấy, dẫu trong lòng anh rất khao khát được thay đổi không khí để khuây khỏa. Ông Grundy vô cùng xúc động trước giọng văn thống thiết trong lá thư của Branwell nên đã đánh xe đến Haworth để tận mắt xem người bạn cũ ra sao. Ông vô cùng bàng hoàng trước sự đổi thay của Branwell. Xanh xao, trũng sâu, run rẩy, hoàn toàn tàn tạ; giờ đây chẳng còn hy vọng gì cho Branwell nữa; anh đã tái nghiện thuốc phiện.
Miễn là có gì đó kích thích để phá vỡ nỗi buồn vô tận của mình. Dù yếu đuối và hầu như không thể rời khỏi giường, anh vẫn khẩn khoản tha thiết xin một công việc bất kỳ, bất kỳ lý do gì để được rời khỏi Haworth, để rũ bỏ những ý nghĩ cũ kỹ, bất kỳ chức vụ nào ở đâu cũng được, ơn Chúa, miễn là được thoát khỏi những lời xì xào bàn tán của người đời. Và anh không phải chờ đợi lâu.
Vào những ngày cuối tháng Chín lạnh lẽo và tiêu sơ ấy, ông Grundy lại đến thăm Haworth. Ông cho người nhắn Branwell tới quán trọ, đồng thời dặn chuẩn bị cơm tối và lò sưởi để đón tiếp anh; căn phòng trông thật ấm cúng và dễ chịu. Khi ông Grundy đang ngồi chờ khách, vị Mục sư bước vào. Ông cũng đã thay đổi lạ thường; phần lớn sự câu nệ cứng nhắc ngày nào đã biến mất; ông nhắc đến Branwell với tình cảm chân thành và chạm đến những nỗi đau khổ ngày càng lớn của con trai với vẻ gần như tuyệt vọng. Khi nhận được lời nhắn của ông Grundy, người bệnh tội nghiệp đang nằm liệt giường, tinh thần bấn loạn, bề ngoài có vẻ quá yếu để có thể di chuyển; nhưng sự bồn chồn phát sốt vốn là nét đặc trưng trong những năm tháng cuối đời đã thôi thúc anh không thể bỏ lỡ cơ hội được kích thích tinh thần này. Anh nằng nặc đòi đi, cha anh kể vậy, và sẽ chuẩn bị xong ngay lập tức. Sau đó, vị cụ ông đáng thương với đôi mắt lòa mờ đã từ biệt người chủ quán trọ của con trai mình và rời đi.
"Chẳng mấy chốc, cánh cửa thận trọng mở ra, và một cái đầu ló vào. Đó là một búi tóc đỏ bù xù, không chải, không cắt, bồng bềnh hoang dại quanh một chiếc trán lớn và gầy guộc; má vàng hốc hác, miệng trễ xuống, đôi môi mỏng tái nhợt không chỉ run mà đang lẩy bẩy, đôi mắt trũng sâu ngày xưa vốn nhỏ nay đang trợn trừng ánh lên tia nhìn của kẻ mất trí—tất cả đều kể lại câu chuyện buồn bã một cách quá rõ ràng. Tôi vội vàng tiến đến bên bạn mình, chào anh bằng điệu bộ vui tươi nhất như tôi biết anh thích nhất, kéo nhanh anh vào phòng và ép anh uống một ly brandy nóng đậm đặc. Dưới tác động của rượu và khung cảnh tươi vui sáng sủa xung quanh, anh có vẻ sợ hãi—sợ chính bản thân mình. Anh liếc nhìn tôi một thoáng và lẩm bẩm điều gì đó về việc rời khỏi chiếc giường ấm áp để ra ngoài trong đêm lạnh giá. Thêm một ly brandy nữa, và hơi ấm quay trở lại dần dần đưa anh về lại với hình bóng Brontë của ngày xưa. Anh thậm chí còn ăn một chút bữa tối, điều mà anh nói đã lâu lắm rồi anh không làm; thế nên buổi gặp mặt cuối cùng của chúng tôi thật dễ chịu dẫu mang nét trầm ng ngâm. Tôi chưa bao giờ thấy trí tuệ anh minh mẫn đến thế. Anh mô tả bản thân đang mỏi mòn chờ đợi cái chết—thậm chí khát khao nó, và cảm thấy hạnh phúc, trong những khoảnh khắc tỉnh táo này, khi nghĩ rằng ngày đó đã ở rất gần. Anh lại một lần nữa tuyên bố rằng cái chết ấy sẽ là do câu chuyện mà tôi đã biết, chứ không vì điều gì khác."
"Khi cuối cùng tôi buộc phải rời đi, anh lặng lẽ rút từ tay áo khoác ra một con dao thái thịt, đặt nó lên bàn, và nắm lấy cả hai tay tôi, nói rằng, vì đã từ bỏ mọi hy vọng được gặp lại tôi, nên khi nhận được lời nhắn của tôi, anh tưởng đó là tiếng gọi của quỷ Satan. Sau khi mặc quần áo xong, anh cầm con dao đã giấu kín từ lâu, đến quán trọ với quyết tâm lao vào phòng và đâm chết người ở trong đó. Trong trạng thái tâm lý kích động tột độ, anh đã không nhận ra tôi khi mở cửa, nhưng giọng nói và thái độ của tôi đã chiến thắng anh, và 'kéo anh trở về với chính mình,' như cách anh diễn tả. Tôi để anh đứng trơ trọi đầu trần giữa đường với dáng người còm cõi và những giọt nước mắt rơi."[30]
Anh trở về nhà, và vài ngày sau anh qua đời. Khoảng thời gian ngắn ngủi xen giữa ấy hạnh phúc và bình yên hơn bất cứ quãng thời gian nào anh từng có trong nhiều năm qua; những thói hư tật xấu, những cảm xúc chai sạn của anh rơi rụng như một chiếc mặt nạ khỏi tâm hồn đã được chạm đến bởi sự tĩnh lặng cuối cùng. Anh thay đổi kỳ lạ và trở nên dịu dàng hơn, hiền hòa và đầy yêu thương với người cha và những người chị em đã phải chịu đựng quá nhiều từ anh. Cứ như thể anh vừa bừng tỉnh từ cơn mê sảng dữ dội của một trận sốt; dẫu yếu đuối và tàn tạ, họ vẫn có thể nhận ra ở anh hình bóng Branwell ngày xưa, là niềm hy vọng và hứa hẹn của tất cả những giấc mơ thuở ban đầu. Cả anh và họ đều không ngờ rằng hồi kết lại đến gần đến thế; anh từng nhiều lần nói về cái chết, nhưng giờ đây khi đứng trong cái bóng của đôi cánh tử thần, anh lại không hề hay biết về sự hiện diện đầy khuất phục ấy. Và thật ấm lòng khi nghĩ rằng thái độ ngọt ngào trong những ngày cuối đời không phải xuất phát từ nỗi sợ hãi hèn nhát trước cái chết; mà đúng hơn là sự trở về của tâm hồn với bản ngã đích thực của nó, sự rũ bỏ tự nhiên mọi cơn sốt và lầm lỗi ngoại lai, trước khi những khổ đau của cuộc đời khép lại. Nửa giờ trước khi qua đời, Branwell không hề hay biết gì về nguy hiểm; anh vẫn ra ngoài làng hai ngày trước đó, và chỉ phải nằm liệt giường đúng một ngày duy nhất. Sáng hôm sau là chủ nhật, ngày hai mươi tư tháng Chín. Branwell thức dậy với ý thức hoàn toàn minh mẫn, và trong sự tĩnh mịch thánh thiện của buổi sớm mai ấy, anh nằm đó, không bị bận tâm bởi nỗi sợ hãi hay đau khổ nào, trong lúc những tiếng chuông từ nhà thờ bên cạnh, từ ngọn tháp hàng xóm với sự cổ kính huyền thoại từng mang lại cho anh bao trò đùa vui thuở thiếu thời, đang gọi mời dân làng đến hành lễ. Tất cả họ đều biết anh, tất cả khi đi ngang qua ngôi nhà đều ngước nhìn lên và tự hỏi liệu "cậu Patrick của nhà Mục sư" đã khỏe hơn hay nặng hơn. Nhưng những người ở tòa nhà Mục sư không đến nhà thờ: họ túc trực trong căn phòng tĩnh mịch và yên bình của Branwell.
Đột nhiên, một sự thay đổi khủng khiếp bao trùm lên gương mặt tĩnh lặng; không thể nhầm lẫn được tiếng gọi đột ngột làm chấn động tâm can ấy. Và giờ thì Charlotte gục ngã; vốn dĩ luôn nhạy cảm và dễ căng thẳng, nỗi sợ hãi đơn thuần về những gì sắp xảy đến đã quật ngã cô. Người ta đưa cô đi, và suốt một tuần lễ cô phải nằm liệt giường vì bệnh tật và sốt cao. Nhưng Branwell, người được gọi tên, kẻ chịu đựng trực tiếp, lại đối mặt với cái chết bằng một bộ mặt khác. Anh nằng nặc đòi dậy; nếu anh đã khuất phục trước những kinh hoàng của cuộc đời thì anh sẽ thách thức cả những kinh hoàng của sự tiêu vong; anh sẽ chết theo cách mà anh nghĩ chưa từng có ai chết trước đó, chính là chết trong tư thế đứng. Thế nên, tựa như một vị anh hùng Celt cổ đại, khi cơn hấp hối bắt đầu, anh đứng phắt dậy; trong sự tĩnh lặng và kinh hoàng, người cha già, người đang cầu nguyện là Anne, và người đầy lòng yêu thương là Emily, đứng lặng nhìn. Anh đứng thẳng người lên và ngã xuống trong tư thế hiên ngang sau hai mươi phút giằng co.
Người ta tìm thấy trong túi áo anh đầy những bức thư của người phụ nữ mà anh từng yêu tha thiết.
Anh đã chết, con người Branwell từng ngày qua ngày bóp nghẹt trái tim của những người thân trong gia đình, kẻ đã uống nước mắt của họ như uống rượu vang. Anh đã chết, và giờ đây họ tiếc thương anh với nỗi đau quặn thắt và cay đắng. "Mọi thói hư tật xấu của nó giờ đây chẳng còn là gì nữa; chúng tôi chỉ nhớ đến những nỗi thống khổ của nó thôi," Charlotte viết. Họ chôn cất anh trong cùng một hầm mộ từng được mở ra cách đó hai mươi ba năm để đón nhận những cỗ quan tài bé nhỏ, tàn tạ của Elizabeth và Maria. Ngày Chủ nhật lại đến, gợi nhắc từng phút trôi qua của cuộc đời đang cạn kiệt, và Emily Brontë, với gương mặt tái nhợt trong bộ tang phục đen, chắc hẳn chẳng thể nghe nổi bài giảng trong tang lễ của anh trai vì mải nhìn vào tấm bia đá đang che giấu biết bao ký ức, bao niềm xót thương vô ích. Cô vô cùng đau lòng trước cái chết của anh, người ngày càng gầy gò, xanh xao và lặng câm không nói một lời. Cô đã cố gắng đến nhà thờ vào ngày Chủ nhật đó, và khi ngồi nơi ấy, lặng lẽ với đôi mắt trũng sâu, có lẽ cô cảm thấy thật may mắn vì đã được nhìn ngắm chốn an nghỉ của anh, nhìn vào ngôi mộ nơi một phần lớn trái tim cô đã được chôn vùi theo. Bởi vì, sau đám tang của anh, cô không bao giờ hồi phục lại được nữa; cơn cảm lạnh và ho mắc phải khi ấy đã bám rễ sâu vào cơ thể cô, và cô không bao giờ bước chân ra khỏi nhà kể từ ngày Chủ nhật đáng nhớ đó.
Nhưng nếu nhìn vào đôi mắt tĩnh lặng, không một lời oán trách của cô, hẳn bạn sẽ không thể đoán được ngần ấy nỗi niềm.
"Emily và Anne vẫn khá ổn," Charlotte nói vào ngày mùng chín tháng Mười, "mặc dù Anne vẫn luôn yếu đuối và Emily hiện đang bị cảm lạnh và ho."