Emily Brontë

Lượt đọc: 141 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 14
‘Wuthering Heights’: Nguồn Gốc Tác Phẩm.

❊ ❊ ❊

Một ngôi nhà xứ cũ kỹ màu xám nằm lặng lẽ giữa những nấm mồ, cách biệt với thế giới bên ngoài trên đỉnh đồi lộng gió, xung quanh là những ngọn đồi hoang vu ngập tràn thạch thảo; một chốn cô tịch ẩn mình giữa những tán tần bì nửa khô nửa mục và những khóm gai cằn cỗi. Nơi ấy, một bên bị cắt đứt khỏi thế giới bởi hàng ngũ những người đã khuất nằm lặng yên sát cạnh nhau, bên kia bị cách biệt bởi những cánh đồng thạch thảo trải dài dằng dặc hàng dặm: ta đều biết, đó chính là ngôi nhà của Emily Brontë.

Một người cha già mù lòa, vỡ mộng, từng có bản tính dữ dội bất thường nhưng nay đã trở nên trầm tính theo tuổi đời, bày tỏ sự thất vọng về cuộc đời qua một thái độ yếm thế u buồn đầy chân thành; hai người chị em gái, đều là những người được yêu thương, một người bừng cháy ngọn lửa thiên tài và nhạy cảm với tình cảm, lại giấu kín nhiệt huyết của mình đằng dưới vẻ ngoài lạnh lùng của một cựu gia sư từng chịu nhiều thất bại và không được công nhận; người kia dịu dàng hơn, đáng yêu hơn, xinh đẹp hơn, đang dần lụi tàn từng chút một trong bầu không khí độc hại của tội ác bao quanh. Một người anh trai, cũng được thương yêu chẳng kém, đang cố tình uống rượu đến chết vì niềm đam mê điên cuồng bị bóp nghẹt dành cho một người tình mà anh không thể kết hôn: đó chính là các thành viên trong gia đình của Emily Brontë.

Còn bản thân nàng, chúng ta đều rõ: thiếu kinh nghiệm, can đảm, mãnh liệt và đầy lòng trắc ẩn. Có gì lạ khi nàng đúc kết cuộc đời chỉ trong một câu thơ cay đắng?—

"Cái thiện bị khuất phục và cái ác đang hiên ngang chiến thắng."

Hoàn cảnh của chính nàng đã chứng minh châm ngôn ấy là đúng, bởi nàng vốn hiểu rất ít về những cuộc đời khác. Nàng còn có thể hỏi ai đây? Nàng Ellen hiền hậu dường như thuộc về một thế giới khác, nhưng bản thân cũng có biết bao rắc rối? Những vị mục sư mà nàng khinh miệt vì sự hẹp hòi ra điều ta đây? Những người dân trong làng mà nàng chẳng hề biết gì cho đến khi bệnh tật, bất công hoặc cái chết giông giống kéo nàng đến mái nhà họ để giúp đỡ và chở che? Cuộc đời đã ban cho nàng một cái nhìn duy nhất về thế giới, và nàng không thể nhận thức được rằng còn có những lăng kính khác mà mình chưa từng thấy.

"Tôi buộc phải thừa nhận," Charlotte nói, "rằng con bé hầu như chẳng có chút kiến thức thực tế nào về tầng lớp nông dân sống xung quanh mình, cũng giống như một nữ tu sĩ chẳng thể hiểu gì về những người dân quê qua lại ngoài cổng tu viện. Bản tính của em tôi vốn không thích giao du; hoàn cảnh đã dung dưỡng và củng cố xu hướng sống khép kín của con bé; ngoại trừ việc đến nhà thờ hoặc đi dạo trên đồi, nó hiếm khi bước chân qua ngưỡng cửa. Dù dành cho những con người xung quanh một tình cảm nhân hậu, em tôi chưa bao giờ tìm kiếm sự giao du với họ, và trừ một vài ngoại lệ rất hiếm hoi, nó chưa từng trải nghiệm điều đó; thế nhưng nó vẫn thấu hiểu họ, hiểu lối sống, ngôn ngữ và gia phả của từng nhà; nó có thể lắng nghe chuyện về họ với sự hứng thú và kể lại thật chi tiết, tỉ mỉ, sinh động và chính xác; tuy nhiên, nó lại hiếm khi trao đổi với họ dăm ba lời. Chính vì thế, những gì tâm trí nó thu nhận được về thực tế liên quan đến họ hầu như chỉ gói gọn trong những nét bi kịch và khủng bố — những điều mà khi lắng nghe biên niên sử thầm kín của bất kỳ vùng quê thô mộc nào, ký ức đôi khi buộc phải ghi khắc. Trí tưởng tượng của nó, vốn là một tinh thần u ám nhiều hơn tươi sáng, mạnh mẽ hơn là vui đùa, đã tìm thấy ở những nét đặc trưng ấy thứ nguyên liệu để nhào nặn nên những sáng tạo như Heathcliff, như Earnshaw, như Catharine. Sau khi tạo ra những sinh linh ấy, nó thậm chí không biết mình đã làm gì. Nếu những thính giả khi nghe tác phẩm của nó được đọc qua bản thảo mà phải rùng mình trước sức ép nghiền nát của những bản chất tàn nhẫn và bất dung thứ — của những tâm hồn đã lầm đường lạc lối và sa ngã; nếu có lời phàn nàn rằng chỉ việc nghe một số cảnh tượng sống động và đáng sợ cũng đủ cướp đi giấc ngủ ban đêm và làm xáo trộn sự bình yên trong tâm trí ban ngày, thì Ellis Bell sẽ ngơ ngác tự hỏi điều đó có nghĩa là gì và nghi ngờ người phàn nàn đang làm ra vẻ điệu nghệ. Giá như con bé còn sống, tâm trí nó tự khắc sẽ vươn lên như một cái cây khỏe mạnh — cao lớn và thẳng tắp hơn, tỏa bóng rộng hơn — và những trái ngọt khi chín muồi của nó sẽ đạt đến độ viên mãn dịu dàng hơn cùng sắc hoa rực rỡ dưới ánh mặt trời; nhưng với tâm trí ấy, chỉ có thời gian và trải nghiệm mới có thể nhào nặn, chứ nó vốn dĩ không chịu khuất phục trước ảnh hưởng của bất kỳ trí tuệ nào khác."

Thế nhưng, không có con người nào hoàn toàn tự do, hoàn toàn độc lập khỏi môi trường sống xung quanh. Và Emily Brontë lại là người ít có khả năng đòi hỏi sự miễn trừ ấy hơn cả. Ta khó lòng có thể tưởng tượng nàng là một nữ thừa kế giàu có, được yêu thương và biết yêu thương, tràn đầy sức sống và thậm chí có phần tinh nghịch; nhưng với trí tưởng tượng hiệp sĩ mang vẻ tráng lệ duyên dáng rất riêng của mình, ta có thể mường tượng Emily Brontë chính là Shirley Keeldar, chứ khó mà tưởng tượng Shirley Keeldar lại viết nên 'Wuthering Heights'. Emily Brontë nếu rời xa những hoang mạc, sự cô độc, nghèo khó, kỷ luật, rời xa bầu bạn với thiên tài, sự bạo lực và truỵ lạc, hẳn sẽ mang một màu sắc khác, giống như loài hoa cẩm tú cầu chuyển từ đỏ sang xanh tùy theo tính chất của đất đai. Không phải vì thiếu hiểu biết về thế giới đã khiến cuốn tiểu thuyết nàng viết ra trở thành 'Wuthering Heights', cũng chẳng phải do thiếu kinh nghiệm, mà chính là nhờ trải nghiệm của nàng — tuy có phần hạn hẹp, lệch lạc và mang dấu ấn đặc trưng bởi một khí chất vô cùng kỳ lạ, nhưng lại vô cùng gần gũi và rất đổi thực tế. Trí tưởng tượng của nàng được truyền cảm hứng từ chính hoàn cảnh sống, cũng giống như Anne khi viết 'The Tenant of Wildfell Hall' hay Charlotte trong kiệt tác 'Villette'; thế nhưng, vì ở mỗi người chất lượng của trí tưởng tượng là khác nhau, nên trải nghiệm khi tác động vào đó đã tạo ra những kết quả khác biệt và không hề tương đồng; một kết quả được tạo nên không kém phần bởi sự trái ngược cũng như sự hòa hợp của hoàn cảnh. Bởi lẽ môi trường xung quanh tác động đến chúng ta theo hai cách: một cách tinh vi và lâu dài, nhuộm đẫm chúng ta từ trong ra ngoài giống như rượu vang nhuộm màu nước, hoặc bằng một sự cận kề bạo liệt của lực lượng đối kháng, đẩy chúng ta văng ra xa nhất có thể khỏi sự hiện diện kình chống đang bao vây ta đến nghẹt thở. Việc Charlotte Brontë chủ yếu quen biết các mục sư là nguyên nhân lớn tạo nên 'Shirley', bản tụng ca mang tính châm biếm về Giáo hội và sự tôn sùng các giáo viên trường Chúa nhật. Thế nhưng Emily, sống trong cùng một bầu không khí truyền giáo mang tính giáo sĩ ấy, lại cảm thấy nổi loạn, bị dồn đẩy đến thái cực ngược lại; và trong khi nàng tự che giấu những quan điểm thực sự của mình đằng sau thuật ngữ bao trùm "Broad Church" (Giáo hội Rộng rãi), ta lại chẳng tìm thấy trong các trước tác của nàng niềm tin nào mạnh mẽ bằng niềm tin vào giá trị và vinh quang hiện hữu của cuộc đời; chẳng có tình yêu nào lớn lao bằng tình yêu dành cho mặt đất — mặt đất vừa là người mẹ vừa là nấm mồ; chẳng có lời khẳng định nào về sự bất tử, mà là một sự chắc chắn sâu sắc về chốn nghỉ ngơi. Chẳng có âm hưởng nào vang lên thường xuyên trong toàn bộ tác phẩm của nàng, và vang lên với nhiều cung bậc nhấn mạnh đến thế, như điều này: làm việc thiện vì bản chất của điều thiện là đáng quý, làm điều ác vì bản chất của điều ác là đáng ghê tởm, và rằng đối với cả người công chính lẫn kẻ bất lương đều có một chốn nghỉ ngơi nơi nấm mồ.

Người con gái mục sư trầm lặng ấy, luôn nghe những lời cay đắng về những người bất tuân giáo hội (Dissenters), do đó bằng lòng dũng cảm thuần túy và tinh thần công lý bị tổn thương đã trở thành một người bất tuân giáo hội. Một người bất tuân theo nhiều hơn một nghĩa. Chưa từng có một tâm tính nào lại nhạy cảm trước sự ngu ngốc và tính hẹp hòi của những quan điểm thông thường đến thế, một tâm tính dễ dàng được tìm thấy trong hàng ngũ phe đối lập; và với một tâm tính như vậy, sự phẫn nộ chính là động lực thường xuyên làm bung cánh cửa của ngôn từ. Thôi thúc muốn vạch trần những bất công và đau khổ đúng như bản chất thực sự của chúng mạnh mẽ đến áp đảo; dẫu cho bản thân sự vạch trần ấy hãy còn chưa hoàn hảo. Vậy thì, người con gái mục sư ở Yorkshire thiếu kinh nghiệm ấy sẽ vạch trần điều gì? Sự khác biệt giữa cuộc đời với những bức tranh vẽ hào nhoáng được chính thống công nhận; sức mạnh của cái ác, chỉ có thể bị khuất phục bởi quá trình quay chậm của tự nhiên — thứ không dung thứ cho sự tồn tại vĩnh cửu của những kẻ lầm đường lạc lối; những bài học nghiệt ngã và đáng sợ về di truyền; sự đầy đủ của hữu hạn đối với hữu hạn, của đời người với đời người, chẳng cần phần thưởng nào khác ngoài hạnh kiểm mà cuộc đời mang lại cho kẻ đang sống; mối thâm tình thấu suốt vạn vật của những sinh linh đang sống, từ nhành thạch thảo, chú chim sơn ca cất tiếng hót, đứa trẻ đầy tin yêu, cho đến tên bạo chúa tàn nhẫn; và hơn hết, điều vô cùng quan trọng đối với người đang chìm khuất trong bóng râm của nó, chính là sự bình yên chắc chắn và phổ quát của cái chết.

Một sứ điệp kỳ lạ từ một nhà thuyết giáo như thế; nhưng lại là một niềm tin được khắc sâu mãi mãi và bám rễ sâu hơn trong tâm trí Emily bởi sự bất lực của nàng trong việc chấp nhận những giáo lý cứng nhắc, thực dụng, những định kiến hẹp hòi của những người theo phái Calvin ở Haworth. Thế nhưng chính chủ nghĩa Calvin ấy lại chi phối tư tưởng của nàng, chính học thuyết mà nàng từng kịch liệt chối bỏ ấy, khi nàng tự nhận là học trò của Frederick Maurice — một nhà tư tưởng khoan dung và sâu sắc — lại đồng thời viết nên, bất chấp ngọn lửa và tiếng gào thét của giáo lý đó, những lời an ủi vỗ về nhất cho cõi trần thế mà tôi từng ghi nhớ trong ngôn ngữ của chúng ta.

Tuy nhiên, sức mạnh của hoàn cảnh mang tính chất hai mặt, niềm tin đối kháng ấy, dẫu đẩy nàng ra đến tận ranh giới cực đoan của sự phản kháng tín điều, nhưng vẫn không kịp mang nàng đi trước khi nàng đã kịp đồng hóa một số giáo lý khắc nghiệt nhất của nó. Từ học thuyết thưởng phạt này, nàng học được rằng đối với mỗi khuynh hướng xấu không được kiềm chế đều có một sự chuộc tội đầy sợ hãi; dẫu cho nàng không đặt sự chuộc tội ấy trong ngọn lửa địa ngục thực sự, mà đặt nó ngay trong những bản năng đồi bại của những đứa con chúng ta. Những lý thuyết khủng bố về tội lỗi không thể cứu chữa và sự diệt vong đã được định sẵn đã cảnh báo nàng rằng một gốc rễ xấu xa sẽ chỉ sinh ra những mầm mống ô trược: con cái của kẻ điên ắt sẽ dễ mắc bệnh điên; con cái của kẻ đồi bại sẽ hướng về sự đồi bại; hạt giống của loài cây độc mọc lên chỉ để tàn phá và hủy diệt, và chỉ có thể bị đánh bại bằng cách nhổ tận gốc, khử trùng, hoặc qua sự ghép cành khôn ngoan, sự rèn giuyện kiên nhẫn suốt nhiều năm trời.

Chính vì thế, bầu không khí định kiến và truyền giáo tại Haworth đã chuẩn bị cho người phụ nữ khước từ thứ giáo lý Hebraic (Do Thái giáo cổ) ấy một nền tảng để tự mình khám phá ra những chân lý ẩn giấu bên dưới. Nàng đón nhận chúng với toàn bộ ý nghĩa sâu xa của chúng. Người ta từng trách cứ nàng vì đã không hề thể hiện bất kỳ sự ghê tởm thích đáng nào đối với gã Heathcliff quỷ quyệt và đầy thù hận. Người phụ nữ vạch trần con người hắn vẫn khắc ghi nguồn gốc mập mờ của đứa trẻ bị bỏ rơi ở cảng biển ấy, "người Lascar hay người Digan"; nàng khắc ghi tuổi thơ mang tinh thần Ishmael (kẻ thù nghịch với mọi người), được yêu thương lẫn căm ghét quá mức, của kẻ xen vào mang bàn tay chống lại tất cả mọi người. Nhớ đến điều ngọn nguồn ấy, nàng nhẫn nại đón nhận tâm hồn sẫm tối cùng bản năng dã thú của hắn cũng tự nhiên như cách nàng chấp nhận làn da ngăm đen và "thứ ngôn ngữ pha tạp chẳng ai hiểu nổi". Từ cây ké không thể hái được nho.

Nàng dường như muốn nói rằng, chẳng ích gì khi cứ ngóng chờ con cháu của những kẻ ác tự lớn lên bằng ý chí riêng và không cần sự trợ giúp để trở nên ngay thẳng và cao quý. Bản chất ý chí của chúng cũng mang tính di truyền chẳng kém gì đôi mắt và mái tóc. Heathcliff không phải là ác quỷ hay yêu tinh; hắn chỉ là một đứa trẻ vô ơn sinh ra từ cuộc phiêu lưu chớp nhoáng của một gã thủy thủ nửa hoang dã, bạo ngược và xảo trá. Và chúng ta phải chịu trách nhiệm đến mức nào đối với một bản tính vốn dĩ đã là hình phạt cho tội lỗi của tổ tiên? Ngay cả với những kẻ như thế, cũng phải có chốn nghỉ ngơi. Trong tâm trí công chính và đầy cung kính của Emily Brontë, không bao giờ có chuyện vị Chúa mà nàng tin là nguồn cội và linh hồn của sự sống lại có thể đày ải vào ngọn lửa vĩnh hằng những nạn nhân của các khuynh hướng bệnh lý mà họ không hề tự lựa chọn. Chẳng cần đến luyện ngục hay ngọn lửa vĩnh hằng nào để thanh tẩy tội lỗi của Heathcliff; nấm mồ của hắn trên sườn đồi sẽ xanh tươi như bất kỳ thảm cỏ nào khác, cừu trên thảo nguyên sẽ thấy cỏ ngọt ngào như thế, hoa thạch thảo và hoa chuông sẽ mọc lên với sắc màu y hệt như trên nấm mồ của một đứa trẻ sơ sinh. Bởi vì cuộc sống, tội lỗi và sự hình phạt đều chấm dứt cùng cái chết đối với kẻ lâm终; khi ấy, hắn trút gánh nặng của mình lên đôi vai khác, và chẳng còn ảo ảnh nào làm vẩn đục giấc ngủ ngàn thu.

"Tôi tự hỏi làm thế nào mà bất cứ ai lại có thể tưởng tượng ra những giấc ngủ bất an cho những kẻ đang ngủ trong lòng đất yên bình ấy." Cứ thế, trang cuối cùng của 'Wuthering Heights' khép lại.

Đó là tất cả những lý thuyết về cuộc đời và cái ác mà sự va đập của hoàn cảnh và tính cách đã khơi gợi lên từ Emily Brontë. Hóa ra, như chúng ta đều biết, nàng đã có cơ hội kiểm chứng những lý thuyết ấy; và nếu không có điều đó, nàng không bao giờ có thể viết nên 'Wuthering Heights'. Không phải vì câu chuyện hay cốt truyện sẽ thất bại. Rốt cuộc, chẳng có gì kinh hoàng hơn trong lịch sử bạo lực của trang trại vùng cao ấy mà rất nhiều trang viên vùng Trung du ẩn mình giữa những tán cây du, rất nhiều ngôi nhà đồng quê hoang vu ở xứ Wales hay Cornwall lại không thể phơi bày. Những câu chuyện đau đớn về mặt xã hội hơn cả sự tàn bạo thuần túy của nhà Earnshaw; những câu chuyện về sự điên loạn và phản bội, những câu chuyện về những cô gái bị lừa phỉnh vướng vào một cuộc hôn nhân tâm thần để điền trang có người thừa kế; những truyền thuyết về sự bạo lực kinh hoàng, những đứa trẻ bị vứt bỏ, những người vợ bị thất sủng, những cái ác kinh hoàng và dai dẳng. Ai trong góc khuất của ký ức lại không lưu giữ những lời đồn đại ám ảnh nhường ấy? Và Emily, người quen thuộc với tất cả những câu chuyện hoang dã ở Haworth trong cả một thế kỷ qua, được nuôi dưỡng bằng những nỗi kinh hoàng rùng rợn của Ai-len, những câu chuyện năm 1798, những câu chuyện về sự áp bức và khốn khổ, Emily với tất cả thứ văn hóa kỳ bí ấy trong tầm tay, sẽ càng ít gặp khó khăn hơn trong việc kết hợp và nhào nặn các mô-típ riêng biệt thành một thể thống nhất mạch lạc, bởi vì nàng không hề quen biết những con người thực tế mà lịch sử của họ đã được nàng nằm lòng. Không có ký ức nào về cung cách cá nhân, sự thống trị hay sự ưu ái dành cho một hình mẫu cá nhân nào có thể làm lu mờ hay đảo lộn các lý thuyết của nàng, quan niệm của nàng thậm chí còn trọn vẹn hơn chính nhờ sự thiếu hiểu biết ấy. Lý trí mạnh mẽ và sức mạnh sáng tạo đã giúp nàng làm được ngần ấy điều. Nhưng chừng đó hãy còn chưa đủ.

Đó là cốt truyện; nhưng để làm cho một nhân vật cất tiếng nói, hành động, gào thét, yêu thương, sống, chết, xuyên suốt cả một đời người với biết bao biến cố, sao cho người đọc cảm thấy bị thuyết phục rằng hắn buộc phải hành động như thế, buộc phải sống và chết như thế, thì đòi hỏi ít nhất phải có chừng ấy trải nghiệm mang tính chất tương tự để làm nền tảng cho trí tưởng tượng, một nguồn dự trữ về sự chắc chắn và niềm tin để có thể rút ra dùng trong những thời điểm hoang mang và nghi ngờ. Branwell — kẻ đã đóng vai trò không mấy vẻ vang để Anne vẽ nên bức chân dung Henry Huntingdon — đã phục vụ người chị Emily của mình, không hẳn như một mô hình để sao chép, mà như một tấm bản đồ tỷ lệ dùng để đo lường, làm chuẩn chiếu cho những bộ trang phục chính xác của ý tưởng đầy cảm hứng. Ông Wemyss Reid (người có sự am hiểu sâu sắc về lịch sử gia đình Brontë và lòng tốt vô bờ bến khi tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hết mức có thể, khiến tôi không sao bày tỏ hết lòng biết ơn) — một nhà phê bình tài năng này đã nhận thấy một sự giống nhau đích thực giữa tính cách của Heathcliff và tính cách của Branwell Brontë dưới cái nhìn của người chị Emily. Chừng ấy, nếu nhớ đến câu thơ về loài thỏ rừng, thú thật là tôi không thể nhìn thấy. Branwell đối với tôi có vẻ gần gũi với người con trai khốn khổ của Heathcliff hơn là với chính Heathcliff. Nhưng việc Emily, khi miêu tả mối tình mãnh liệt bị bóp nghẹt của Heathcliff dành cho Catharine, đã rút tỉa từ trải nghiệm về nỗi đau khổ của người anh trai mình, thì đoạn trích từ một bài giảng chưa được công bố của ông Reid sẽ phơi bày một cách đầy đủ:—

"Chính trong sự gắn kết bắt buộc với kẻ sa ngã và bại hoại này, tôi chắc chắn rằng Emily đã thu nhận rất nhiều ấn tượng sau đó được truyền tải lên những trang sách của nàng. Chẳng phải các nhà phê bình đủ mọi thể loại đã lặp đi lặp lại rằng 'Wuthering Heights' đọc giống như giấc mơ của một kẻ nghiện thuốc phiện hay sao? Và ở đây, chúng ta thấy rằng trong suốt thời gian viết cuốn sách, một kẻ nghiện thuốc phiện thâm niên và công khai vẫn luôn túc trực bên khủy tay Emily. Tôi từng nói rằng có lẽ phần nổi bật nhất của 'Wuthering Heights' chính là phần đề cập đến mối quan hệ giữa Heathcliff và Catharine sau khi cô đã trở thành vợ của người khác. Toàn bộ các trang sách ngập tràn những lời gào thét và cơn thịnh nộ của kẻ phản diện chống lại người đàn ông đang đứng chắn ngang giữa hắn và người phụ nữ hắn yêu. Những tiếng gào thét tương tự cũng có thể tìm thấy trong tất cả các lá thư của Branwell Brontë được viết vào giai đoạn này trong cuộc đời anh ta; và chúng ta có thể chắc chắn rằng những lời gào thét tương tự vẫn luôn thường trực trên môi anh ta khi, trong tâm trạng buồn bã và điên dại hơn một nửa, anh ta lang thang qua các căn phòng của nhà xứ ở Haworth. Thậm chí, tôi còn tìm thấy một số sự trùng hợp ngẫu nhiên đến kỳ lạ về mặt ngôn từ giữa chính ngôn ngữ của Branwell và các đoạn văn trong 'Wuthering Heights'. Trong một bức thư của chính anh ta có những dòng này khi nhắc đến đối tượng của niềm đam mê: 'Cuộc đời của chính tôi nếu không có cô ấy sẽ là địa ngục. Tình yêu của người chồng bệnh hoạn khốn khổ kia đối với cô ấy thì nghĩa lý gì so với tình yêu của tôi?' Giờ đây, hãy lật giở 'Wuthering Heights' và bạn sẽ đọc được những dòng này: 'Hai từ sẽ tóm gọn tương lai của tôi — cái chết và địa ngục; sự tồn tại sau khi mất đi cô ấy sẽ là địa ngục. Thế nhưng tôi thật ngốc khi phút chốc lại tưởng rằng cô ấy coi trọng tình cảm của Edgar Linton hơn của tôi. Nếu hắn yêu bằng toàn bộ sức mạnh của sinh mệnh nhỏ nhoi ấy, hắn cũng chẳng thể yêu trong tám mươi năm bằng những gì tôi có thể yêu chỉ trong một ngày.'"

Branwell quả thực đã đóng một phần vai trò như thế trong 'Wuthering Heights'. Anh ta chính là một trang sách mà người chị gái đã miệt mài nghiên cứu; anh ta đóng vai trò, giống như cách mọi thứ vẫn vô thức phục vụ cho tâm hồn của một người nghệ sĩ, là khối đá granite thô ráp để từ đó tác phẩm được đẽo gọt nên, và ngay cả khi phải nhẫn nhịn chịu đựng những thói hư tật xấu của anh ta một cách khó nhọc, Emily chắc chắn đã học hỏi từ đó những bí mật tăm tối hơn của nhân loại vốn rất cần thiết cho buổi lễ chiêu hồn mang tính bi kịch của nàng. Những sự bùng nổ đầy đam mê và đáng sợ của người anh trai ấy đã phục vụ nàng, y hệt như những ngọn đồi hoang mà nàng yêu quý, thứ tưởng tượng mà nàng cưng chiều, đã phục vụ nàng. Chiếc đũa thần kỳ lạ của thiên tài, biết luyện vàng từ thứ bùn nhơ nhúa nhất của đời sống thường nhật; một năng lực kỳ lạ và đáng sợ biết tích lũy kho tàng và một cách bán tự động rút ra lợi ích từ những trải nghiệm nhỏ nhặt hay khốn khổ nhất của chúng ta, ghi nhận cử chỉ khi người mẹ hay tin con trai mình phá sản, bắt lấy cái bóng mờ ảo biến đổi mà tấm rèm cửa sổ bị gió thổi trắng phau hắt lên khuôn mặt người đã khuất mà ta đang canh giữ, rút lấy sự sống từ ngàn cái chết, sự sỉ nhục, sự mất mát, với một bàn tay chạm đến những niềm vui tột cùng và nỗi đau đớn cay đắng nhất; năng lực ấy chính là của Emily Brontë, và nàng đã rút ra bài học từ sự ô nhục của người anh trai.

Đến đây là chấm dứt phần đóng góp của Branwell trong việc tạo ra 'Wuthering Heights'. Nhưng thật không nên phớt lờ yêu sách cho rằng anh ta là tác giả duy nhất của nó; bởi vì trong sự im lặng đầy khinh miệt của những kẻ biết rõ sự giả dối ấy, những lời vu khống như thế vẫn sống và sinh sôi nảy nở như những loài côn trùng dơ bẩn dưới những hòn đá rơi. Lời khoác lác hão huyền của một kẻ mộng mơ vô nguyên tắc, nửa điên vì thuốc phiện, nửa say vì rượu gin, chẳng mang ý nghĩa gì ngoài khao khát được ngưỡng mộ bằng mọi giá, đã được những kẻ thích giật gân — những kẻ thà chọn một lời dối trá giật gân hơn là một sự thật lâu đời — thổi phồng quá mức. Hàng ngũ của chúng lại càng được củng cố thêm bởi những kẻ vốn chẳng biết gì về hoàn cảnh thực tế trong cuộc đời Emily, cho rằng một cô gái thiếu kinh nghiệm là không thể miêu tả nổi ngột ngạt bạo lực và thứ đam mê bệnh hoạn đến thế. Ngược lại, xét trong những hoàn cảnh ấy, chẳng có ai ngoài một cô gái thiếu trải nghiệm cá nhân lại có thể xử lý đề tài ấy với sự trong sáng tuyệt đối và phi giới tính như ta tìm thấy trong 'Wuthering Heights'. Liệu Branwell, nếu dựa vào những hồi ức của chính mình, có thể biến mối tình bị bóp nghẹt của một kẻ phiêu lưu bạo ngược dành cho người phụ nữ mà cả hai gã chồng bệnh hoạn đều khinh miệt thành một thứ dung tục, tầm thường và đáng khinh bỉ đến mức nào? Sự trong sáng tựa thép tôi, lạnh lẽo và cứng hơn cả băng, sự tự do trong việc đối xử với tình yêu và lòng căm hùn táo bạo như tình yêu của một đứa trẻ đối với ngọn lửa sáng rực, chỉ có thể thuộc về một người có cường độ thiên tài sánh ngang với sự hạn hẹp trong trải nghiệm của nàng — một trải nghiệm bị giới hạn không chỉ bởi hoàn cảnh, mà còn bởi một bản tính trơ lì trước bất kỳ tình cảm mãnh liệt nào ngoài tình yêu tự nhiên dành cho mái nhà và người thân của mình, bắt đầu từ trước cả ký ức và vô thức như hơi thở.

Nhà phê bình, khi cầm trên tay những bài thơ của Emily cùng vài vần thơ và bức thư còn sót lại của Branwell, không thể hoài nghi về sự bất lực của kẻ lang thang bạc nhược và ba hoa ấy trong việc tạo ra một tác phẩm nghệ thuật bền bỉ, đam mê và xa xôi nhường kia. Bởi vì phong cách ngắn gọn, mãnh liệt và giàu trí tưởng tượng của Emily chẳng có điểm nào giống với kiểu cách yếu ớt, rời rạc, lúc thì dung tục, lúc lại ra điều xinh xắn của Branwell. Thật ra, có rất ít bằng chứng cho thấy tác giả của những vần thơ do Emily viết lại có thể tạo ra 'Wuthering Heights'; nhưng dẫu sao, vẫn có một sự bất khả kháng rằng tác phẩm của nàng không thể thiếu đi ngọn lửa, sự tập trung và trí tưởng tượng hoang dã. Cũng bất khả kháng như việc sự dung tục và lòe loẹt không thể không thò những cái đầu xấu xí của chúng ra thò thụt đây đó từ bên dưới những câu chữ hay ho nhất của Branwell. Và vì không có một lời văn dung tục, sáo rỗng hay mang hơi hướng Micawber nào xuất hiện xuyên suốt 'Wuthering Heights'; và vì niềm đam mê của Heathcliff chưa một lần bị đối xử theo cái kiểu cách hão huyền mang tính trg-giả đáng khinh bỉ mà Branwell dùng để miêu tả cảm giác của chính mình, và vì vào thời điểm 'Wuthering Heights' được viết ra, anh ta rõ ràng — và theo lời thú nhận của chính anh ta — đang suy sụp quá mức về mặt thể chất để có thể thực hiện bất kỳ nỗ lực văn chương nào, chúng ta có thể kết luận rằng Branwell đã không viết cuốn sách đó.

Ở chiều ngược lại, chúng ta không chỉ có bằng chứng văn học về những phẩm chất tương tự trong 'Wuthering Heights' và trong các bài thơ của Ellis Bell, mà còn có sự đảm bảo rõ ràng và lặp đi lặp lại của Charlotte Brontë — người dường như chưa bao giờ mơ tới chuyện có ai đó lại cho rằng anh trai mình viết cuốn sách này; có lời làm chứng của những nhà-xuất-bản đã ký kết hợp đồng với Ellis Bell; của người hầu Martha từng chứng kiến nữ chủ nhân viết nó; và — điều thuyết phục nhất đối với những ai đã thấu hiểu tính cách của Emily Brontë — sự bất khả kháng rằng một tâm hồn ngay thẳng và dửng dưng với danh vọng như thế lại có thể phạm một tội lừa đảo khốn nạn chỉ để đổi lấy nó.

Thật vậy, tin đồn đáng khinh này vô căn cứ đến mức việc tấn công nó có vẻ ngớ ngẩn, chỉ là đôi khi thật khôn ngoan khi dám mạo hiểm làm một việc ngớ ngẩn. Những con côn trùng nhỏ bé, nếu để mặc vô sự quá lâu, có thể biến thành những kẻ thù nguy hiểm tàn phá không thể cứu vãn giàn nho màu mỡ mà chúng bám vào trong sự an toàn nhờ vóc dáng tí hon của mình.

Bên cạnh ba hoàn cảnh thuận lợi tạo nên kiệt tác của Emily mà chúng ta đã đề cập — sự cô lập của ngôi nhà, tính cách của nàng, và chất lượng của những trải nghiệm — còn phải kể thêm một yếu tố thứ tư, tuy có phần kém hơn nhưng hoàn toàn không phải là không quan trọng. Đó chính là sự hiểu biết của nàng về văn học Đức, và đặc biệt là những câu chuyện của Hoffmann. Vào thời của Emily Brontë, Lãng mạn và nước Đức đồng nghĩa với nhau; đúng là ở London và trong văn xuôi, ảnh hưởng của nước Đức đang lụi tàn, nhưng tại Haworth xa xôi, và trong những tác phẩm của những nhà thơ mà Emily đọc, ở Scott, ở Southey, và nhất là ở Coleridge — người có những vần thơ mang sự tương đồng rõ rệt với thơ của chính nàng, sức ảnh hưởng ấy vẫn chiếm ưu thế tuyệt đối. Về phần ảnh hưởng duy vật của nước Đức, của vị thần vô thần Shelley, Byron với sự táo bạo và chủ nghĩa hiện thực, hay Keats đầy cảm tính, nàng hầu như chẳng có chút trải nghiệm nào trong ngôi nhà xứ hẻo lánh của mình. Và giả sử nàng có biết đến họ, họ có lẽ cũng chẳng để lại ấn tượng gì trên một tâm hồn chỉ dễ cảm thụ trước những luồng tư tưởng tương đồng. Thackeray, thần tượng của chị gái nàng, có lẽ chưa từng tồn tại đối với Emily, bởi ta chẳng tìm thấy một dấu vết nào về ông trong các trước tác của nàng; chưa từng có một sự ám chỉ đơn lẻ nào trong tác phẩm của nàng về giai đoạn biến động nhất trong cuộc đời nàng: chuyến đi ngắm nhìn những đồng cỏ xanh tươi hơn và những hàng cây du cao lớn hơn ở vùng trung tâm nước England; cái nhìn thoáng qua về một London hối hả và rộng lớn; đêm trên dòng sông, mặt trời khuất sau những cột buồm, to lên gấp bội qua làn sương mù và khói bụi nơi nhà cửa, cầu cống, tàu thuyền đều hiện lên mờ ảo như bóng ma. Không một chút gợi ý nào về điều này, cũng chẳng có chút gì về biển cả, hay nước Bỉ với đời sống ngoại quốc kỳ lạ; cũng chẳng có chút phong cách và phương pháp Pháp nào được truyền dạy một cách cẩn trọng bởi Monsieur Héger — thứ đã nhào nặn một cách dứt khoát nghệ thuật của người chị cả. Thế nhưng giữa lúc bận rộn ở Haworth, ta bắt gặp khoảnh khắc nàng đọc cuốn sách tiếng Đức vào ban đêm, khi nàng ngồi trên thảm sưởi với vòng tay ôm lấy cổ chú chó Keeper; liếc nhìn nó trong căn bếp nơi nàng đang nhào bột, với cuốn sách yêu thích được chống mở sẵn trước mặt; và qua phong cách của cuốn tiểu thuyết được phác thảo một cách thô sơ, gần như đồng thời với lúc đọc, chúng ta biết rằng đối với nàng, việc học tiếng Đức không phải — như tiếng Pháp và âm nhạc — chỉ là một kỹ năng cần thiết của một gia sư, mà là một sức ảnh hưởng đã bước vào tâm trí và góp phần nhào nặn nên khuôn mẫu tư duy của nàng.

Bấy nhiêu lời nói đầu là cần thiết để giải thích, không phải thiên tài của Emily Brontë, mà là những điều kiện hình thành nên thiên tài ấy — nói thêm nữa cũng bằng thừa. Mục đích bài viết của tôi sẽ bị bỏ quên nếu những hoàn cảnh trong cuộc đời nàng không hiện diện trong tâm trí người đọc. Đã quá muộn ở thời điểm này để làm gì khác ngoài việc liệt kê chúng và chỉ ra ý nghĩa của chúng một cách ngắn gọn. Kiểu phê bình như thế, khi đối diện với một tác phẩm đang sống động, chẳng khác nào việc đứng giữa một vùng quê xanh tươi tuyệt đẹp để nhìn vào một tấm bản đồ — từ đó người ta quả thực có thể xác định các con đường dẫn đến và rời khỏi nơi đó, cũng như quy mô của vùng đất so với các khu vực xung quanh, nhưng lại hoàn toàn không thể tái hiện lại một cách dễ nhận diện khung cảnh đang bao trùm lấy chúng ta, với thứ sức sống tươi mới bị lãng quên và vẻ đẹp bị phớt lờ. Do đó, hãy chấm dứt mọi lý thuyết và quay trở lại với cuốn sách nơi danh tiếng của nữ anh hùng chúng ta đang đứng đó, đối diện với cõi vĩnh hằng. Biết đâu khi gỡ rối câu chuyện của nó và lưu ý cách mà các sự kiện về tính cách và hoàn cảnh đã tác động đến tâm trí nàng, chúng ta có thể, dù chỉ trong chốc lát, được thấu hiểu sâu sắc và rõ ràng hơn về cách vận hành của nó, điều mà ngay cả việc nghiên cứu toàn diện nhất các bằng chứng khách quan hay sự phê bình nhiệt thành và đồng cảm nhất cũng không thể mang lại.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.