GIÓ NGÀN
Chừng hơn một tuần kể từ ngày tôi đeo ba lô về đơn vị và lên làm trên công trường đá. Một buổi chiều, trong lúc ngồi trên đỉnh núi nhìn xuống, thấy tấm lưng áo quân phục và mái tóc buông dài của Nguyệt thấp thoáng giữa làn khói bộc phá đang tan, tôi đã mỉm cười một mình và tự nhủ:
- Có được một người con gái như “cô ta” cùng làm việc, thật không đến nỗi uổng công.
Nguyệt đã đi khuất vào dưới chân vách đá, nơi có từng cồn khói màu xám vừa tuôn từ trong lòng núi ra. Không nhìn thấy Nguyệt nữa, tôi lại mơ màng nhìn xuống cánh rừng chiều trập trùng ở hai bên dòng suối Mồ Hôi. Lá rừng bị gió lật lên trắng xóa như có ngàn vạn con bướm vỗ cánh bay trong ánh nắng vàng nhẹ như tơ.
Tôi thú nhận với mình rằng tôi thích thú mỗi khi được gần người con gái ấy. Khi phải xa Nguyệt, dù chỉ xa trong vài chục phút, như lúc này đây, tự nhiên tôi cứ thấy bên mình vắng vẻ hẳn đi. Có lẽ tôi đã yêu Nguyệt thật rồi. Nhanh chóng thế! Những người từng trải sự đời hay nói tình yêu đứng đắn bao giờ cũng nên xảy ra một cách chậm rãi, và thận trọng. Không biết điều đó có phải là một tiêu chuẩn để “cân đong” cho mọi mối tình hay không?
Nguyệt từ dưới chân núi lên, “bắt được quả tang” cái giấc mơ trầm tư ấy của tôi, khiến tôi luống cuống lưỡi dính vào miệng, nói không thành lời.
- Ta về đi, anh Tuấn - Nguyệt bảo tôi - Cái xà beng của tôi, tôi để đâu ấy nhỉ?
Các bạn ở hai tiểu đội làm đá - tiểu đội hai và tiểu đội ba - đã nhanh chân về hết. Trên công trường vắng tanh.
Tôi lấy làm hài lòng về những phút được một mình đi bên Nguyệt như thế.
Bóng quả núi trùm lên cái công trường nhỏ bé của chúng tôi. Chúng tôi khoan khoái đi vòng quanh những đống đá dăm xếp gọn thành khối, né tránh những tảng đá hộc do bộc phá vừa mới làm vỡ từ trên vách núi lăn xuống, ngổn ngang. Lớp đá vụn trải đầy mặt đất đang khẽ phát ra những tiếng lạo xạo dưới chân đi. Tôi bỗng hồi hộp trong lòng.
Ra khỏi công trường, Nguyệt rủ tôi xuống suối rửa. Tôi nói tôi không có khăn. Nguyệt liền trao cho tôi chiếc khăn mặt bông nhuộm màu cỏ úa - Chiếc khăn đó, Nguyệt vẫn dùng để trùm từ mái tóc xuống đến cằm trong lúc làm việc cho đỡ nắng và đỡ bụi.
- Anh rửa trước đi - Nguyệt bảo.
Tôi từ chối.
Nhưng rồi tôi đã làm theo lời Nguyệt. Tôi cầm chiếc khăn mặt khô cong bước xuống dòng suối trong xanh. Nguyệt ngồi trên bờ, vừa đợi tôi rửa, vừa búng từng đám bụi ở hai cánh tay áo.
Tôi lặng nhìn cái bóng của tôi rập rờn dưới suối một lát, rồi mới nhúng ướt chiếc khăn mặt và xoa nước lên hai má. Chiếc khăn trở nên mềm mại, mát lạnh. Tôi cố rửa thật chậm, thật nhẹ tay, để khỏi làm tan mất cái cảm giác êm ái, tưởng như đôi bàn tay xinh đẹp của nàng đang dịu dàng áp lên làn da cháy nắng của tôi.
Tôi rửa xong, trao khăn lại cho Nguyệt.
Nguyệt cởi đôi giày vải, xắn hai ống quần quân phục lên lưng bắp chân, đoạn cuộn mái tóc lại thành một búi gọn gàng trên đầu, rồi khoan thai lội xuống dòng nước.
Cái dáng đứng rửa của Nguyệt gợi lên trong tôi những mơ ước hết sức thanh bình: Người con gái giặt áo bên dòng sông quê nhà, những gọn khói xanh lam còn vương trên mái rạ trước khi cất mình bay lên và tan vào khoảng trời hoàng hôn, những bước đi oai vệ của đàn trâu về chuồng, và tiếng reo xao xác của trẻ nhỏ trong xóm,...
Cuộc sống ấy giản dị và đẹp biết bao nhiêu. Nhưng con người ta lại mắc phải một bệnh tự mãn kinh niên thật đáng ghét, là cứ phải đợi cho nó qua đi rồi, mình mới thật thấm thía nỗi thèm khát về nó. Chứ những ngày tôi còn là một chú bé chăn trâu trên những cánh đồng làng, tôi đâu thèm biết đến niềm hạnh phúc tuyệt vời ấy! Ngay cả hai tiếng “Quê hương” đối với tôi cũng không thể vượt ra ngoài những bài tập làm văn sáo rỗng trên ghế nhà trường.
Nguyệt đã rửa xong, đứng nhìn tôi và nói khe khẽ:
- Lại đăm chiêu rồi! Đăm chiêu quá thì không sống nổi ở đây đâu, anh Tuấn ạ.
Tôi hiểu lời nói của Nguyệt như một lời phê bình thân ái, còn là một lời khuyên chân thật nữa.
Nguyệt có đủ tư cách để khuyên bảo tôi lắm chứ. Những người ở hậu phương, nhất là trên báo chí, người ta đã nói chán chê về “cánh” Thanh niên xung phong chúng tôi. Những là “lòng dũng cảm”, những là “tinh thần khắc phục khó khăn”, những là “sự quên mình trên mặt trận bảo vệ cầu đường”,... của những người Thanh niên xung phong. Nói như vậy chẳng có gì ngoa. Song có điều những cái bọn con trai chúng ta từng chịu đựng, nếu đem nhân lên gấp năm lần, mười lần, vẫn không thể nói hết được về những cô gái như Nguyệt.
Vì sao ư?
Vì họ là con gái. Một vùng núi non hiếm nước còn gây khó khăn cho họ không kém gì những quả bom giết người của giặc Mỹ. Những đêm mưa rừng nhớ nhà của họ còn đáng kể hơn bất cứ một công việc nguy hiểm nào trên mặt trận bảo vệ cầu đường.
Hơn nữa, Nguyệt nhập ngũ trước tôi, vào tuyến lửa trước tôi. Nguyệt đã sống qua khá nhiều vùng trọng điểm đánh phá của giặc, như Ngã ba Đồng Lộc, Ngầm sông Gianh, Ngầm khe Rinh, Ngầm khe Tang, rồi mới về làm đá ở đây...
Quãng đường từ suối Mồ Hôi về lán ở, hai chúng tôi vác choòng đi sóng bên nhau. Tiếng động cơ của một chiếc máy bay C130 cùng với những tràng súng rất dài từ phía đường 9 vọng về. Tôi rất ít nói. Nguyệt cũng không nói nhiều, chỉ thỉnh thoảng cười khúc khích. Lúc sau tôi mới hiểu vì sao Nguyệt cười. Một mảng vai áo của tôi bị rách toạc, hễ gặp gió lại bay phấp phới như một lá cờ.
- Ồ... - Tôi chữa thẹn - có lẽ nó đã bị rách lúc tôi cột sợi dây vào người để tuột xuống vách đá...
- Tối nay đưa sang tôi vá cho. Nguyệt bảo thế, rồi đột ngột hỏi:
- Anh Tuấn này, anh có thích công việc làm đá không?
- Thích.
- Đừng nói dối đấy chứ?
Gặp đôi mắt trong vắt của Nguyệt nhìn tôi, tôi lúng túng không biết nên trả lời thế nào cho phải.
- Tôi thì không.
Nguyệt nói, giọng vững vàng, chín chắn, làm tôi bàng hoàng không hiểu Nguyệt định nói gì.
- Nguyệt nói thật à?
- Tôi thích ở nhà làm ruộng hơn - Nguyệt vừa nói vừa gật đầu - Mùa này ở quê tôi người ta đang làm cỏ thúc đòng đây. Ban ngày làm ngoài đồng, chiều về giúp mấy đứa em quét tước, dọn dẹp, cho con lợn con gà ăn, đến tối nếu không bận họp hành thì thắp đèn lên ngồi đọc sách, hoặc khâu vá. Như vậy chẳng thích hơn là ngày ngày phải lo muốn chết lên vì những công việc như cầm choòng, đốt bộc phá này sao?
- Vậy mà ai cũng bảo Nguyệt là người làm việc say sưa lắm?
Nguyệt lại gật đầu.
- Phải rồi. Tôi không muốn mình là người chán nản. Hơn nữa, hễ nghĩ tới “người khác” còn đang thiếu cơm, thiếu đạn ngoài chiến trường là tôi thấy mình không có quyền được chán nản. Chán nản chẳng khác gì bội bạc!
Nguyệt nhấn mạnh hai tiếng “người khác” vô tình đã kích thích vào cái tính tò mò sẵn có trong người tôi. Nhưng, tôi không kịp hỏi gì thêm. Tiếng cười nói của anh chị em ở khu lán giữa rừng đã vang tới chỗ chúng tôi, lao xao như đang buổi chợ phiên.
Tôi cố ý đi chậm lại để tạo một khoảng cách giữa tôi và Nguyệt. Nhưng Nguyệt nhìn tôi, hơi chau mày, như muốn bảo: Đừng làm thế, chỉ tổ cho người khác có cớ để dị nghị linh tinh!
Rồi trong bữa ăn. Tiểu đội tôi dọn mâm ra ở đầu sân bên này, tiểu đội ba ngồi ăn ở đầu sân bên kia. Mảnh sân hẹp chạy dưới những lùm nứa tép, không dài lắm. Nên nhiều khi bên nọ vẫn “bắn cầu vồng” sang bên kia những câu chuyện thật vui vẻ.
Tôi ngồi ăn, cố cưỡng ép mình không được liếc nhìn sang bên mâm tiểu đội ba, nhưng tai thì lắng nghe hết mọi chuyện bên đó.
Nguyệt nói:
- Trưa mai, ta vỡ một đám trồng rau muống, các cậu ạ. Ăn măng mãi chán rồi.
- Nhỡ lại chuyển đi, thì sao?
Tiếng người nói sau là tiếng của Thành, cô gái người ngắn “một gang” chi được hai chiếc đuôi sam vừa dài vừa mập như hai sợi chão buộc cày. Hình như có bao nhiêu cơm gạo, cô ta đều dành để nuôi mái tóc hết cả.
- Chuyển thì đeo rau lên ba lô mà đi! - Tiếng Nguyệt nói đùa.
- Tiểu đội trưởng đã quyết như rứa, thì mần thôi - giọng láu lỉnh của Quế. - Nhưng chị Nguyệt ơi, chị ngắm được đám bờ suối nào chưa?
- Không “ngắm”
thì ta đã chẳng bàn với các cậu!
- Ra rứa! Nhưng phải hết sức bí mật quân sự đó chị ạ. Không là mấy “ông” tiểu đội hai thính tai lại ra chiếm mất đấy!
Rõ ràng là Quế đang nói to để khiêu khích cánh tiểu đội hai chúng tôi. Tất nhiên bên tiểu đội chúng tôi chẳng thiếu những tay đối đáp mồm miệng cứ dẻo quánh như các bà ở chợ.
Nhưng riêng tôi thì không nhảy vào cuộc làm gì cho mất công. Tôi còn bận nghĩ về Nguyệt.
Nguyệt lại đang lo đến đời sống cho chị em trong tiểu đội. Đấy là một cô Nguyệt khỏe khoắn và thoải mái rất quen thuộc với mọi người. Ở đây, cả đơn vị đều nghĩ, nếu Nguyệt không có những công việc để mà lo lắng, xốc vác, chắc Nguyệt sẽ mắc ngay một thứ bệnh như người ta ốm tương tư.
Còn cô Nguyệt thứ hai, cô Nguyệt của những ý nghĩ: “Ở nhà đi làm cỏ lúa không thích hơn cầm choòng đục đá hay sao”, chắc không phải ai cũng biết. Đáng ngạc nhiên là, về phía này, “gương mặt” của Nguyệt cũng lại rất tươi tắn và tự nhiên. Khiến tôi cứ băn khoăn mà nghĩ: Một con người, nhất là một cô gái, đã có cái cốt cách như thế này, ắt không thể có cái cốt cách như thế kia. Nếu ai đã chứa nổi cả hai phía khác vời nhau ấy trong con người mình, người đó phải là một người vừa sung sướng nhất vừa bất hạnh nhất trên đời.
Nghĩ thế, tôi thương Nguyệt đến nóng bỏng trong ruột gan. Nhưng, “người khác” mà Nguyệt nói lúc hai đứa chúng tôi rửa mặt bên suối Mồ Hôi, là ai thế nhỉ?
Đến đêm thì tôi lên cơn sốt. Những cơn sốt “nhập đề” đối với người mới sống ở rừng thật là nặng nề.
Suốt đêm, tôi không biết mình thức hay ngủ. Nhưng hình như không lúc nào tôi không nghĩ tới Nguyệt. Tôi có những giấc mơ rất lạ lùng, một phần đã diễn ra đúng như sự thật ban ngày, nhưng nhiều chỗ khác, tôi không hiểu cái gì đã làm cơ sở cho những hình ảnh xa lạ đến như vậy bỗng được dựng lên trong bộ óc rối loạn của tôi?
... Nguyệt treo người trên lưng chừng vách đá, đôi bàn tay đeo găng xoay đi xoay lại cây choòng dài, cho chiếc búa năm cân không ngừng vung lên đập chan chát xuống đầu choòng.
Cái đầu choòng tòe ra rất nhanh, ở chỗ tiếp giáp nhiều với mặt búa sáng lên như một tấm gương soi, và bỗng dưng nó chảy nước mắt. Nó cũng biết khóc như người...
... Nguyệt rút cây choòng từ trong lòng đá ra. Tôi treo người chênh vênh trên khoảng không, và hơi nghiêng xuống. Mùi bột đá bay ra còn nồng hơn lửa. Nguyệt ngửa đôi bàn tay nám hồng của Nguyệt ra đỡ lấy vầng trán cho tôi. Lập tức một làn hơi ấm truyền qua cánh tay Nguyệt sang người tôi, làm tôi díp mắt lại vì buồn ngủ không cưỡng nổi, nhưng tôi vẫn không quên cái cảm giác chênh vênh của sợi dây đai đang đu đưa chầm chậm trên đỉnh núi...
... Rồi cái mặt trời to như cái nia, nóng hừng hực và sáng lóa cứ áp sát mãi vào mặt tôi. Tôi lấy hết sức xô bật nó ra, nhưng nó nặng quá. Tôi giãy giụa, tôi la hét. Tôi bị quáng mắt không thấy gì nữa, nhưng vẫn nhận ra tiếng của nhiều người đang nói gì rất ồn ào ở chung quanh, và đặc biệt là tiếng Nguyệt gọi tôi: “Anh Tuấn! Anh Tuấn!...”.
Sáng ra, tôi tỉnh dậy trong tiếng sương rơi lộp bộp trên mái lán, thấy mình nằm dưới một đống chăn nặng. Anh chị em cả hai tiểu đội đã ra công trường làm việc cả rồi. Trên đầu giường tôi có một bi đông nước nguội và một hộp đựng đường bằng nhựa xanh. Tôi biết ngay cái hộp đường là của cậu Đoàn, vì trên nắp hộp có một chỗ bị lửa táp hơi vênh lên. Theo như Đoàn kể lại, chính cái vết sém ấy là một chiến công khá oanh liệt của cậu ta. Cậu ta đã cứu được một đồng chí cùng với cái hộp đựng đường này giữa một trận bom na-pan, từ hồi đơn vị còn làm nhiệm vụ mở đường ở bên nam sông Bến Hải.
Tôi không uống nước đường. Tôi cũng không muốn ăn gì cả, tôi nằm im, chăm chú nhìn ra cánh cửa khép hờ. Bên ngoài cánh cửa là mảnh sân luôn luôn rợp bóng nứa mà những chiều tạnh ráo từ ngoài công trường chúng tôi kéo nhau về ngồi chơi, ca hát, trải chiếu đánh bài, đánh cờ, và ăn cơm luôn ở ngoài đó. Cuối sân là con đường nhỏ dẫn ra công trường. Con đường quá hẹp, những ngày mưa nước đọng trên lá thường quệt vào người, làm ướt từ ngực trở xuống. Nhiều lần chúng tôi muốn phát cho đường rộng ra, nhưng lại đành thôi. Đường rộng dễ đi nhưng cũng dễ lộ, tuy vùng này đã vài tháng nay máy bay địch ít nhòm ngó hơn trước.
Tôi thả cho trí tưởng tượng của tôi lần theo con đường chuột chạy ấy ra tới công trường, tới cái lỗ đá chiều qua tôi và cậu Đoàn đã đục xong, sâu tun hút, nhưng chưa kịp làm sạch bên dưới để nhồi thuốc bộc phá. Hôm nay cậu Đoàn sẽ làm tiếp. Chắc thế nào cậu ấy cũng được Nguyệt sang làm cố vấn, hoặc làm đỡ một tay. Vì chỗ Nguyệt đứng cầm choòng gần ngay chỗ chúng tôi. Vả lại Đoàn mới vào nghề, thao tác còn lúng túng lắm. Thế nào hắn ta cũng phải gọi với sang, hỏi: “Chị Nguyệt ơi, lau thế này được chưa?” - “Chị Nguyệt ơi, lèn thuốc thế này được chưa?” - “Chị Nguyệt ơi...”. Tôi thấy cứ như hiển hiện ra trước mắt tôi cái cảnh Nguyệt lôi cả sợi dây bảo hiểm dài thòng từ trên đỉnh núi xuống, lách mũi giày vào những kẽ đá mà đi lần sang chỗ cậu Đoàn. Nguyệt sẽ vừa làm vừa chỉ dẫn cho Đoàn phải làm thế này, thế này,... y như những ngày trước Nguyệt đã kèm cặp cho tôi vậy.
Một con chim khướu vỗ cánh bay ngang mái lán, đến đậu trên ngọn cây vải thiều cao nhất chòm rừng chúng tôi ở, và cất tiếng hót rất trong. Nó làm cho tôi buồn nẫu ruột. Tôi không nghĩ về công việc được nữa, và chẳng biết làm gì khác hơn là cứ nằm yên một chỗ nhìn ra cái kẽ sáng ngoài tấm cửa khép hờ.
Tôi ngong ngóng đợi một người nào đẩy cửa bước vào. Tôi không rõ tôi đang đợi ai. Ai cũng được.
Nhưng nếu người ấy lại có dáng nhỏ nhắn với vài sợi tóc dài buông lòa xòa trên gương mặt nhẹ nhõm, và đôi mắt vừa buồn thăm thẳm vừa ngời sáng... Nếu người ấy đẩy cửa bước vào thật, chắc tôi sẽ ngất đi, hoặc sẽ chết luôn vì vui sướng.
*
Tôi yêu Nguyệt thật rồi. Trước đây, khi mới học xong cấp ba, có lần tôi nghĩ rằng tôi đã yêu.
Nhưng không phải.
“Tuấn ơi, khi nào mày phát khổ sở lên vì thiếu một bộ cánh để trưng diện trước mặt người đẹp, mong làm vừa lòng “người đẹp” bằng cách đó, thì chẳng qua mày mới chỉ là một đứa mê gái mà thôi. Mày chưa thể biết tình yêu là thế nào!”.
Còn bây giờ thì khác hẳn. Sau một năm nhập ngũ, tới giờ tôi mới vẻn vẹn có hai bộ quân phục trong ba lô. Một bộ còn mơi mới, nhưng lại rách vai áo. Nguyệt đã vá hộ. Bộ kia tuy chưa rách nhưng lại cũ hơn, lưng áo lấm tấm mốc. Nếu như không sợ những thớ vải bở ra quá nhanh chóng, thì thực tình, tôi chỉ thích mặc bộ quần áo kia - bộ thứ nhất - không phải vì bộ quần áo ấy còn mới hơn, mà vì mỗi khi mặc nó vào người, tôi lại như được hưởng sự chăm sóc đơn giản mà cảm động của Nguyệt.
Với đôi bàn tay mảnh mai ửng đỏ vì nắng của Nguyệt - đôi bàn tay đã quai búa, đã cầm choòng, đã đánh thuốc nổ, đã phá bom nổ chậm,... - Nguyệt sẽ thừa sức trang điểm, chăm sóc cho cuộc đời tôi. Có đôi bàn tay ấy, dù phải cực khổ tới đâu, tôi vẫn không thể là một người lam lũ, nhếch nhác được!
Tôi yêu Nguyệt thật rồi!
Chỉ còn một việc duy nhất, và quan trọng vô ngần nữa, là tôi phải hỏi xem Nguyệt có yêu tôi không? Tôi sẽ hỏi. Đó là việc trước mắt tôi không thể không làm. Sau đó, tôi sẽ nói thẳng với Nguyệt một vấn đề khác, rằng: tôi không thích cái lối “chan hòa với mọi người” mà Nguyệt hiện đang sống.
Chưa gì tôi đã sinh ra ghen tuông rồi chăng? Tôi cũng không biết nữa. Nhưng dù sao tôi cũng nói, ít nhất là để Nguyệt hiểu thêm về tôi: Từ nhỏ tôi đã mắc một tật xấu, là không biết và không thích tìm cách làm vừa lòng bất cứ ai. Tôi không thích ai gặp tôi cũng xít xoa khen nựng “Thằng bé này ngoan quá!...” - Và sau này, cái tật ấy chính là một tai họa lớn nhất trong đời tôi.
Bây giờ với Nguyệt, tôi cũng ương ngạnh như vậy.
Nguyệt niềm nở với tất cả anh em trong đơn vị, nhất là với những người bạn “hàng xóm” như tiểu đội hai này, tôi hoàn toàn đồng tình. Tôi còn lấy làm vinh dự nữa là khác. Chỉ riêng với hai cậu: cậu Liễu và cậu Sùng, mà Nguyệt cũng tỏ ra ân cần, niềm nở, thì tôi không thể chấp nhận.
Cậu Liễu để hai cái móng tay ở hai ngón út dài và nhọn như hai cái vỏ con trùng trục. Cậu ta chăm chút hai cái vỏ trùng trục ấy còn hơn cả chăm rửa mặt. Thật ngứa mắt khi phải nhìn cậu Liễu cầm búa ngồi đập đá, cứ tháng năm một nhát, tháng mười một nhát, cái móng tay dài chõ ra, quệt cả xuống đất. Thú thực là tôi đã tức phát lộn ruột mỗi khi thấy Liễu dùng hai móng tay vỏ trùng trục chải sồn sột vào hai mớ tóc mai để nhọn vểnh ra phía trước, để làm duyên và liếc mắt đưa tình với các cô gái.
Còn cậu Sùng thì không biết ngượng, cứ xắn cao mãi cái ống tay áo lên, ý chừng muốn khoe khoang cái hình chạm trổ trên cánh tay của cậu ta. Đó là cái hình chẳng ra làm sao cả.
Trông mà phát tởm!
Cậu Liễu và cậu Sùng đã được tôi coi như một dung dịch nước quỳ trong hóa học để phân định thành từng loại bạn bè trong đơn vị. Thật không may cho cô gái nào, chỉ cần cô ta cười nói lả lướt với một trong hai anh chàng đó, liền bị tôi khoanh một khoanh tròn, “nhốt” vào cái “tập hợp” đáng coi thường, khó lòng mà thoát ra được.
Tất nhiên tôi chưa bao giờ dám xếp Nguyệt vào cái “tập hợp” rủi ro ấy. Nguyệt đối xử tốt với mọi người, nhưng chưa “lả lướt” với ai bao giờ. Vậy mà, để đáp lại lòng tốt của Nguyệt, chính cậu Liễu và cậu Sùng đã nói Nguyệt - nói sau lưng - những lời chả ra gì. Không lẽ Nguyệt không biết chuyện đó?
Tóm lại, với tôi thì đã quá chắc chắn để kết luận hai “tay” ấy chỉ là đồ bỏ đi, không còn hy vọng gì ở họ nữa. Nhưng Nguyệt lại không nghĩ thế.
- Về già, thế nào anh cũng thành một người gàn! - Có lần Nguyệt cười mà tiên đoán về tôi như thế.
- Vì sao?
- Vì anh cầu toàn quá. Anh đòi hỏi ở người khác nghiêm ngặt quá, mà cuộc sống lại quá phong phú...
- Nguyệt muốn nói tới trường họp của cậu Liễu và cậu Sùng, phải không?
- Phải. Liễu và Sùng còn nhiều thiếu sót. Có những thiếu sót khá trầm trọng. Cái đó thì cả đơn vị đều biết, không phải chỉ có chúng mình mới nhìn thấy. Nhưng anh nghĩ lại coi: Các bạn ấy cũng chịu đủ mọi thứ, bom đạn, gian khổ, xa gia đình, thiếu thốn, như tất cả chúng ta, chứ họ có khác gì?
Tôi định cãi: “Không nên ỷ vào hoàn cảnh chiến tranh để hạ thấp phẩm chất con người!”, nhưng thôi.
Nguyệt vừa khơi dậy những tình thương độ lượng mà trong tôi không phải là không có.
Dù sao, tôi vẫn đề nghị Nguyệt không nên đối xử một cách chia đều như thế. Đối với những người hư thân mất nết, thì phải thương sao cho họ hiểu được rằng họ đã hư thân mất nết - Cho tới bây giờ, tôi vẫn thấy điều tôi đã đề nghị với Nguyệt là đúng.
Lần ấy Nguyệt chủ động nêu vấn đề cậu Liễu và cậu Sùng ra, và tôi nói với tư cách một đứa bạn của Nguyệt. Mấy tháng đã trôi qua rồi. Tới lần này, tôi sẽ nói với Nguyệt không chỉ bằng tình bạn như trước kia, mà cả bằng tình yêu của tôi đối với Nguyệt nữa...
Ấy là ý đồ, là sự xếp đặt của riêng tôi. Còn sự thật lại đã diễn ra theo cách của nó.
Tôi quyết định “hành động” vào một tối thứ bảy. Trời lảng vảng mây và sáng trăng suông. Tôi xin cậu Đoàn mấy điếu thuốc lá, mượn cậu Thiên cái bật lửa, bỏ tất cả vào túi, rồi bước mấy bước sang tiểu đội ba. Nguyệt đang nằm đọc sách trước một cây đèn nhựa trám vừa cháy vừa nổ tí tách. Thấy tôi rủ đi chơi, Nguyệt nhận lời ngay. Nguyệt gấp sách lại để trên đầu giường, cùng tôi đi ra khỏi nhà.
Chúng tôi lại ra cái cây cổ thụ bị bom đào trốc rễ cạnh suối Mồ Hôi. Cái cây to lớn, gốc nằm trên bờ, cành rơi giữa suối. Dòng nước bị cán ứ lại, dâng cao, reo ồ ồ như có biển ở đâu đây.
Hai chúng tôi đã ra chỗ này chơi một lần. Nên chúng tôi nhanh chóng chọn được một nơi ngồi thú vị nhất, để cả hai cùng nhìn được dòng suối chảy nghiêng nghiêng, thấp thoáng sau những lùm cây phong nổ, mặt nước chỗ rộng chỗ hẹp phản chiếu ánh trăng lấp loáng như vàng rơi ở ngoài xa, nơi hai đầu núi giáp nhau, trông như một cặp voi đứng hai bên bờ, cùng cúi cổ xuống uống chung một dòng nước. Ở chân trời trước mặt chúng tôi, lâu lâu lại có ánh chớp lòe lên, như một cơn giông đang nằm phục sẵn dưới ánh trăng êm dịu này. Đó là những chớp lửa dạn đại bác ở phía Cồn Tiên, dốc Miếu, và sâu hơn nữa dưới đồng bằng Quảng Trị.
Lần trước, khi đỡ tay cho Nguyệt trèo lên thân cây, tôi đã hỏi thật:
- Nguyệt đi chơi với tôi, không có gì “đáng ngại” chứ?
- Sao lại ngại?
Nguyệt hỏi lại với vẻ vô tư khác thường, nhưng theo tôi nghĩ, Nguyệt chẳng bao giờ vô tư tới mức đó.
Lần này, khi hai đứa ngồi yên chỗ, tôi muốn nói một vài lời, cảm ơn sự tin cậy Nguyệt đã dành cho tôi. Chẳng còn gì chân thật hơn thế. Song tôi đành nín im. Hễ nói ra, lời lẽ của tôi sẽ phản lại ngay chính tôi, bởi nó sẽ chỉ là những ý tứ hoa hòe hoa sói và trơn lì!
Nguyệt ngồi mân mê mái tóc đã được kéo ra trước ngực, mặt nhìn thẳng, bóng hai hàng mi đen không động đậy. Hình như Nguyệt đang mải nghĩ chuyện gì. Còn tôi thì bật lửa, châm một điếu thuốc cho đỡ tẻ, và để tăng thêm lòng can đảm.
- Nguyệt cho tôi hỏi nhé?
- Gì đấy Tuấn?
- Nguyệt có biết mình đã yêu Nguyệt không?
Nói được câu ấy, tôi như người trút gánh nặng khỏi vai. Nhưng Nguyệt lại khẽ rùng mình như vừa gặp gió lạnh, và im lặng.
- Nguyệt có biết không? - Tôi nhắc lại sau một phút chờ đợi.
- Có. Mình biết!
- Nguyệt nói lẩm nhẩm, mắt vẫn nhìn ra quãng suối đầy ánh trăng - Nhưng... Tuấn chỉ nên xem mình là đứa bạn thân của Tuấn thì hơn...
Thế là cuộc chơi hôm đó, tôi đã đốt hết điếu thuốc này sang điếu thuốc khác, ngồi như hóa đá.
Khi tôi hút tới điếu thuốc cuối cùng - điếu thứ bảy, thứ tám gì đó thì Nguyệt dơ tay ngăn lại:
- Đừng hút nữa, hại sức khỏe.
Chúng tôi đứng dậy ra về.
Trên đường về nhà, Nguyệt luôn luôn phải bước chậm lại để chờ tôi. Đến trước con đường hẹp chạy thẳng vào khu lán, Nguyệt ra hiệu cho tôi nán lại một chút.
- Thông cảm cho Nguyệt, anh Tuấn nhé! - Nguyệt bảo thế - Nguyệt có lỗi không nói để anh biết trước: Nguyệt đã có người yêu. Anh ấy đi chiến đấu trong miền Nam, sống chết ra sao mà suốt sáu năm trời nay không có tin tức gì...
Tôi hoàn toàn thông cảm và kính trọng mối tình của Nguyệt đối với người chiến sĩ nọ. Mặc dù vậy khoảng hai tháng sau - tức là khi chúng tôi đã rời khỏi công trường đá ở suối Mồ Hôi, vào làm một cái ngầm cho xe ta qua nguồn sông Sê-băng-hiêng trên lưng Trường Sơn - tôi lại rủ Nguyệt đi chơi một lần nữa. Tôi thú nhận rằng tôi không thể xem Nguyệt chỉ như một người bạn.
Và càng ngày tôi càng bị tình cảm dày vò tới mức tôi không chịu đựng nổi...
Nguyệt đã khóc.
Nguyệt trách tôi tại sao không tin vào sự thành thật của Nguyệt?
- Nguyệt tha lỗi cho tôi...
Tôi nói với Nguyệt, trong lúc tôi đau đớn đến lặng người. Tôi đã hứa với Nguyệt, cũng là tự hứa với chính tôi, rằng tôi sẽ cố gắng hết sức mình để biến đổi mối tình này thành một tình bạn đằm thắm và êm dịu hơn. Còn nếu như tôi bất lực, tôi sẽ xin chuyển đi khỏi nơi này. Tôi phải nói trước điều đó, để lỡ nó có xảy ra, Nguyệt đừng hiểu lầm...
Lần này thì tôi giữ được lời hứa với Nguyệt. Tôi đã tìm được một cách để nén chặt tình cảm của mình lại. Đó là công việc. Mỗi ngày mấy lần mồ hôi tôi thấm ướt đầm đìa bộ quân phục, và chảy xuống ướt sũng đôi găng tay bảo hộ lao động. Tôi vẫn còn phải “ép”
cho mồ hôi tôi chảy ra nhiều hơn nữa, tuôn ra bao nhiêu tôi cũng vẫn chưa hài lòng. Tôi còn xin đi tháo bom và phá bom - một quả bom từ trường chui xuống nằm ngay ở cua chữ V, một bên vực, một bên vách núi, cấp trên cho đặt thuốc nổ để phá hủy, nhưng tôi thì xin tháo. Tháo được quả bom sẽ đỡ cho cả đơn vị tôi phải hì hục đào vách đá để mở một con đường tránh sang hướng khác, mất cả tuần lễ chưa chắc đã xong. Riêng tôi, làm như vậy là chấp nhận thêm một lần thách thức nảy lửa với thần chết. Biết vậy, tôi vẫn tháo, và đã tháo thành công... - Tôi còn tình nguyện đi phá thác giữa mùa nước lũ. Tôi còn xin được thường trực suốt ngày đêm ở ngầm, giữa cái “túi bom” nổi tiếng khắp Trường Sơn... Nghĩa là tôi đã tự dấn thân vào những công việc nặng nhọc nhất, nguy hiểm nhất, để tìm lấy những niềm vui chính đáng, và xoa nhẹ bớt nỗi đau ngấm ngầm trong lòng tôi.
Thời gian đó, tôi vẫn có Nguyệt ở gần. Lúc thì Nguyệt khích lệ tôi, lúc thì Nguyệt “hãm” bớt cái đà xông xáo đến liều lĩnh của tôi lại.
Rồi một hôm, tôi đang trên đài quan sát bom nổ chậm, Nguyệt đem thư nhà và nước uống lên cho tôi. Xin nói thêm, hồi ấy Nguyệt đã lên chỉ huy trung đội, thay cho đồng chí trung đội trưởng mới hy sinh - Nguyệt leo hẳn lên cái sàn bắc cao gần hai mươi mét của tôi, và ngồi chơi trên đó suốt một buổi trưa.
Trên cao gió thổi ầm ầm không lúc nào ngừng. Cái đài quan sát của tôi bắc trên cái chạc ba của một cây cổ thụ to, chắc là thế mà vẫn bị gió thổi lắc lư như người lên đồng. Sự nghiêng chao xảy ra rất chậm từ từ nhưng không có cách gì hãm lại được, đã nhiều lần làm tôi nôn nao như người say sóng biển. Vì thế, khi Nguyệt lên, tôi bảo Nguyệt ngồi hẳn vào phía trong, tựa vào cái cành cây cho thật chắc chắn. Nguyệt không những không nghe, lại còn ngồi ra sát mép chòi, quay lưng lại với khoảng không thăm thẳm. Nguyệt ngồi đó, rũ tóc ra chải lại. Nửa mái tóc dài rơi xuống khỏi mặt chòi, liền được gió thổi tung lên như một đám mây nhỏ màu mun. Đôi mắt Nguyệt vẫn hơi buồn buồn, gương mặt Nguyệt vẫn điềm tĩnh và êm dịu. Những câu chuyện Nguyệt thủ thỉ kể cho tôi nghe cũng êm ả và dịu dàng như thế. Nguyệt kể về mảnh vườn trước nhà, và người bố đáng yêu, nhưng lại quá vụng về: trồng rau thì gà ăn, trồng mía thì bò phá, trồng bầu trồng bí thì chỉ thấy hoa là hoa mà không có quả. Được một vụ “trời đi vắng”, vườn su hào nhà Nguyệt cứ tốt ngờm ngợp, nhưng vụ đó thì rau dưa ngoài chợ lại rẻ ê hề, bán chẳng ai mua, mà ăn thì không tài nào hết... Chúng tôi cười thật sảng khoái. Tiếng cười trong trẻo của Nguyệt, rừng già Trường Sơn còn giữ lại mãi mãi cho riêng tôi.
Trước khi xuống để về, Nguyệt nhìn thẳng vào tôi mà nói:
- Nguyệt còn phải học tập anh Tuấn nhiều lắm. Chính Nguyệt mới là đứa thiếu nghị lực.
- Nguyệt học tập tôi? Nói lạ thế!
- Thật!
Nguyệt không giải thích, nói rồi thoăn thoắt bước xuống những cái đinh tre làm bậc thang, tôi đóng liền vào thân cây cổ thụ. Khi đã một đứa đứng dưới đất, một đứa trên ngọn cây, Nguyệt giơ tay lên vẫy tôi. Còn tôi thì hét thật to xuống, để “đuổi” Nguyệt đi. Vì ở đây, dạo này, ngày nào cũng như ngày nào, cứ đúng một giờ rưỡi chiều là máy bay Mỹ lại kéo đàn kéo lũ tới ném bom xuống quãng đèo phía tây ngầm. Mà lúc đó, gần một giờ, Nguyệt vẫn còn nấn ná dưới chân đài quan sát của tôi!
- Về... đi! - Tôi dồn hết sức hét thật to - về nhanh đi!...
Tôi đứng một chân ở mép chòi, một tay bám cột chòi, nhô hẳn người ra khoảng không để nhìn theo bóng Nguyệt đang chạy lao xuống con dốc dài lóa nắng.
Biết chắc là Nguyệt đã qua ngầm, sắp về tới nhà, tôi mới quay vào bên trong cái chòi nhỏ như cái tổ chim nhạn của tôi. Tôi xem đồng hồ. Còn mươi phút nữa. Tôi lấy sợi dây đai tự buộc mình vào cây cột chòi để đề phòng bom hất ngã. Tôi thở dài, ngước mắt nhìn lên khoảng trời rộng bên trên mấy đỉnh núi, chờ đợi... Nguyệt đã đi khỏi thì không còn gì đáng làm tôi phải lo ngại!
Nguyệt đã đánh giá khối nghị lực của tôi quá cao. Ngay tối hôm Nguyệt lên thăm tôi trên đài quan sát, tôi lại nghĩ tới việc xin đi khỏi đơn vị. Mình tự chiến đấu với mình, tự quên lãng mình, và tự riết róng với mình trong bấy lâu nay đã làm tôi kiệt sức, hầu như không thể gượng nổi nữa.
Tôi trằn trọc suốt đêm. Lúc nào trong đầu cũng đầy ắp những câu hỏi: Liệu đã nên trình bày yêu cầu của mình với các đồng chí cán bộ phụ trách chưa? Đại đội trưởng sẽ nói gì?
Chính trị viên sẽ nói gì? Và nhất là Nguyệt - trung đội trưởng - sẽ nói gì?...
Mong sao cho Nguyệt đừng quý mến tôi tới mức như tôi vẫn ngầm tưởng. Nếu vậy thì sự việc sẽ đơn giản biết bao. Tôi ra đi, như một chiến sĩ nào đó của Nguyệt vừa nhận được nhiệm vụ mới, với nỗi buồn chỉ gói gọn trong chính trái tim của tôi. Vậy thôi. Nhưng hình như Nguyệt đối với tôi không phải chỉ có thế...
Sáng ra, tôi không cất mình lên khỏi mặt chiếu. Mới hay là tôi lại lên cơn sốt. Tôi nghỉ ở nhà, không lên đài quan sát bom nổ chậm, cũng không ra chỗ anh chị em làm việc ngoài ngầm - Chiều qua, bọn địch ném 32 quả bom tất cả, trong đó có 12 bom nổ chậm, nhưng đều không rơi trúng mặt đường, và chừng hơn một nghìn bom bi. Vì thế, sáng nay đơn vị chỉ ra tu bổ lại ngầm, công việc không có gì nặng nhọc lắm.
Tôi vẫn nằm dán người xuống chiếu. Không hiểu bộ óc tôi teo lại, hay cái đầu nở ra, mà tôi cứ thấy những ý nghĩ của mình lỏng lẻo, sộc sệch đến lạ. Mỗi lần muốn ngoảnh đi ngoảnh lại, hoặc nhấc đầu lên khỏi gối, là một lần tôi phải nhăn nhó, phải nheo mắt lại, như bị một dòng điện bất ngờ chạy xuyên qua óc. Song, tôi vẫn không từ bỏ cái quyết tâm đã được nung nấu trong người tôi: Phải xin đi đơn vị khác, phải xa Nguyệt!
Tôi chuẩn bị dũng khí cho mình.
Tôi cố đoán trước xem lúc chia tay nét mặt của Nguyệt sẽ như thế nào. Lạy trời, Nguyệt đừng khóc, hơn nữa, Nguyệt đừng im lặng. Sự im lặng của Nguyệt đối với tôi còn đáng sợ hơn bất cứ một hình phạt nào khác! Nhưng phải đi! Hãy vì Nguyệt mà ra đi!...
Sau khi tôi đã dứt khoát với mình, tôi định ngủ một giấc cho lại sức.
Một tiếng nổ nhỏ, khô khan như tiếng pháo nổ từ phía ngầm vọng tới chỗ tôi nằm. Lại một quả bom bi dây bị gió thổi làm nổ trong rừng? Tôi nghĩ như vậy rồi lim dim mắt.
Nhưng, tôi chưa kịp ngủ, bỗng nghe tiếng chân người chạy thình thịch. Thành - cô chiến sĩ thấp người bên tiểu đội ba - chạy ào vào chỗ tôi, mặt tái mét.
- Anh Tuấn, dậy mau!
- Việc gì thế?
- Chị... Nguyệt...
- Hả? Hả?
Thành òa khóc, làm tôi phải quát ầm lên:
- Khóc cái gì.
Nói đi! Chị Nguyệt làm sao?
- Chị ấy bảo anh ra ngay cho chị ấy gặp...
Tôi vùng chạy, đầu óc tán loạn như trong một giấc mơ khiếp đảm. Nhưng khi tôi ra tới ngầm, một chiếc xe cứu thương của đơn vị pháo cao xạ đã chở Nguyệt đi bệnh viện. Tôi lặng người nhìn hai lằn bánh xe in hằn trên mặt đường đất nhão dưới chân tôi...
Năm năm qua. Và chiến tranh đã kết thúc. Dưới chân những vách núi màu mây bạc, những công trường được mở ra từ trong chiến tranh, nay lại đang nhộn nhịp bóng người. Vẫn ngày hai bận, giữa trưa và chiều tối, tiếng mìn phá đá lại vang dậy núi rừng. Ngày nay, đá từ những công trường ấy tuôn ra để lát đường xe hỏa Bắc - Nam, để xây nhà ga, xây cầu cống, xây nhà máy, và công trình thủy nông...
Riêng tôi, mỗi lần qua đây, nhìn lại dãy Trường Sơn nhấp nhô dưới vòm trời hanh hao của vùng cát Vĩnh Linh, Quảng Bình, tôi lại nghe âm vang lên tiếng gọi của Nguyệt: “Anh Tuấn!
Anh Tuấn!...”. Tiếng bạn tôi gọi thì thầm, nghe âm vang như những đợt gió ngàn.
Sa Lung 5/10/1976