Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN TRIỆU BÔN

19 trả lời, 100 lượt xem — Trang 1 / 1
TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN

TRIỆU BÔN

NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN - 2012



Nguồn pdf: Sưu tầm

Chuyển sang text: hoi_ls

  
 
PHẦN 1

TRUYỆN NGẮN



 

BẾN PHÀ ĐEN LẶNG GIÓ

Bà Đà thường đi làm từ sáng sớm, chiều chạng vạng mới về. Chiếc khăn thâm trùm cách nào đó mà bịt kín cả gáy cả cổ, ngoài cái khe rất nhỏ dành cho hai con mắt lấp loáng nhìn ra.
Dẫu là một người đẹp lộng lẫy mà trùm bịt như thế cũng thành khó hiểu, huống chi bà Đà là con người có thân hình cứng cỏi, vai ngang dáng đàn ông, mà tính nết cứ mưa, nắng, nắng mưa luân chuyển nhau không ngừng.
Chiều nào không thấy đồ nghề của ông Đà - chiếc gánh toòng teng một bên đựng bốn, năm hòn đá mài các loại, và một bên là cái chậu đồng sứt vành dùng đựng nước - để ngoài hè, bà Đà liền rít lên:
- Mất thây mất xác ở đâu giờ này chưa chịu vác mặt về.
Còn như, nếu thấy ông Đà ngồi hút thuốc lào trên cái giường do mấy tấm ván thùng kê sát nhau, việc đầu tiên của bà Đà là lấy từ chiếc túi xách ra chai rượu, thuồi xuống trước mặt ông, kèm theo một lời đay đá:
- Này mồ hôi của tôi đấy. Nước mắt của tôi đấy. Nốc đi!
Không mấy khi bà để cho ông uống rượu suông, mà thường có thêm vài thứ nhắm đạm bạc; miếng đậu phụ bôi nghệ nướng lem nhem, một miếng vó bò quăn queo như vỏ cây, năm thì mười họa còn có quả trứng vịt lộn hoặc bộ lòng gà.
Mỗi tội thức nhắm càng ngon, ông Đà càng phải nghe nhiều lời nhiếc móc của vợ.
- Đội thúng than từ xà lan lên bãi được mấy, ông biết không? Ba hào! Thế mà một quả trứng vịt lộn những năm đồng. Không nhờ cái đận phát tiền năng suất thì có khối ra đấy mà hốc.
Bà Đà vừa nói chồng sa sả vừa móc túi lên vách, cởi khăn trùm, nhen bếp, bắc nồi, lấy gạo đi vo... Công việc thoăn thoắt trôi chảy qua đôi bàn tay ngấm bụi than đen kịt của bà.
Chai rượu trước mặt ông Đà cạn, vừa lúc bà Đà bưng mâm cơm lên, hai vợ chồng cùng ăn. Bấy giờ bà Đà dù có nói trời nói đất, ông Đà cũng không lấy làm điều, thậm chí ông cỏn thấy khoái nữa. Nhịn đói suốt ngày, mỏi rạc cẳng đi diễu qua các phố xá, được nhấm chút rượu là chất men chạy rần rật như kiến bò mười đầu ngón tay ngón chân và làm tê dại mang tai ông, khiến người ông lâng lâng.
Tuy vậy đã vài bận ông Đà xô cả mâm cơm xuống đất rồi xông vào bà vợ khốn khổ mà đấm đá túi bụi. Đó là những lần bà Đà nhiếc ông là giết chết con để ăn một mình cho sướng mồm.
Cánh đàn ông hàng xóm tuy không phải là lũ ác bụng nhưng đều đồng thanh ủng hộ ông Đà thẳng tay trừng trị bà vợ tai quái.
- Thế! Giã nữa!
- Vợ tôi mà thế tôi tẩn nhừ xương!
- Đem mà trôi sông cái của nợ ấy đi!
Trước sự “chi viện” nhiệt tình ấy, ông Đà quắc mắt đáp lại:
- Việc nhà tôi, ai mượn các ông chõ vào. Người ta khổ quá rồi phải để người ta nói cho hả bớt cái khổ đi chứ!
Nói vậy nhưng sau mỗi lần xô xát, ông Đà sợ, không dám nhìn vào mặt vợ mấy ngày liền.
... Cái năm Nhật kéo sang ta, ông Đà đương làm anh chân sào trên một chiếc thuyền đinh bề thế chẳng kém ngôi nhà ngói năm gian. Cứ bẩy ngày một lần ông chủ lại chất đầy gạo, muối, dầu tây, vải, lụa lên thuyền, cho nhổ sào ở bến Lục Dầu để ngược lên mạn Đồng Trâu, Hố Sếu, qua Ngàn Trâu Danh, lên tận Bãi Thải. Đến Bãi Thải, nhiều khi dỡ hàng xong không kịp nghỉ, đã nhận khách vội vàng để bắt con nước trở xuôi luôn.
Cánh chân sào thuyền gồm mười tay trai lực lưỡng, năm người chạy be tả, năm người chạy be hữu.
Công việc bao giờ cũng bắt đầu từ phía mũi thuyền, hai hàng người nhất tề lao phập những cây sào trẩy dài đầu bịt sắt xuống lòng sông, đuôi sào tỳ vào hõm vai, một người cất giọng: “Bớ dô hò...” chín người kia “dô huậy”, mặt nước trước mũi thuyền rẽ thành hai làn sóng trắng hình mũi tên, mấy người chân sào cúi gầm mặt, gò lưng bước xuôi để con thuyền nặng nề lao ngược dòng. Tới đuôi thuyền, tất cả lại nhất tề rút sào, trở về đằng mũi, và lại bắt đầu đúng y như thế.
Một buổi sáng thuyền về đến bến Lục Dầu, hành khách chen nhau qua mảnh ván cầu để lên chợ, có một cô gái cứ quẩn quanh dưới khoang. Đà bước lại gần cô, cất tiếng hỏi:
- Nhà chị này có hàng nặng, không ai đỡ, hử?
- Không không - Cô gái giật mình hoảng hốt - Tôi có hàng gì đâu!
- Sao còn loanh quanh mãi.
Cô gái bỗng òa khóc:
- Tôi sợ...
- Sợ gì?
- Sợ người ta đón bắt tôi trên ấy...
Đà hiểu ngay ra tình thế của cô gái:
- À. Lại trốn chúa lộn chồng chứ gì? Phải thế cứ nói thật thì tôi giúp...
Việc nên vợ nên chồng giữa hai người đã bắt đầu một cách rất đơn sơ. Tới năm giáp khởi nghĩa, gặp nạn đói khủng khiếp, khắp nơi người chết xếp chồng đống thì đứa con trai đầu lòng của vợ chồng ông Đà đã biết chạy lon ton theo bố mẹ đi xin ăn.
Vợ chồng ông Đà dẫn cu Than - tên đứa con - phiêu dạt từ Phả Lại lên Bắc Ninh, Bắc Giang, rồi quay xuống Hà Nội. Họ uống nước lã cầm hơi nằm ở sân ga một đêm, một ngày.
Tối hôm sau bà Đà nói với chồng:
- Cái chết là cầm chắc rồi. Nhà xem còn cách nào cứu lấy con?
Ông Đà lẳng lặng đứng dậy bỏ đi. Ông vào một cửa hàng ăn trước cửa ga đèn điện sáng trưng, đứng xòe hai bàn tay đợi hồi lâu không thấy ai cho mình chút gì. Ông đành liền thò tay vào thúng bún của chị chủ hàng, chộp một nắm. Nhưng ông vừa quay ra được vài bước, chưa xuống khỏi vỉa hè, đã ngã sấp mặt vì một cái ghế ném theo đúng giữa lưng. Vốc bún trên tay ông, không hiểu bị những người ăn mày chung quanh xô lại cướp hay bị chủ hàng giật lại lúc nào ông không hay.
Lê lết về được chỗ vợ con nằm, ông Đà nghĩ ra được một kế để họa may cứu sống được bé Thấn. Ông bế nó đến giữa chỗ đông hàng quán nhất, cắn con một miếng chảy máu ở má rồi bỏ nó lại, vùng chạy.
Suốt mấy chục năm, từ thời Nhật rồi Việt Minh, rồi Pháp tạm chiếm, tới ngày thủ đô được giải phóng và mãi tận bây giờ bà Đà trở thành công nhân ở cảng than, còn ông Đà vẫn chỉ làm độc một cái nghề đi mài dao thuê.
Chẳng ai nghĩ chuyện làm giàu bằng cái nghề nhỏ mọn này. Nhưng với ông Đà thì lại không thể bỏ mà tìm công việc khác. Ngoài cơm gạo ra, vợ chồng ông còn phải nuôi sống lẫn nhau bằng một nguồn hy vọng. Sáng sáng, ông quẩy chiếc gánh nhẹ tênh, một bên đá mài một bên chậu nước, tha bước đến khắp mọi ngõ ngách trong thành phố, gặp bất kỳ người đàn ông trai tráng nào vào trạc tuổi bé Thấn năm xưa ông cũng nhìn chằm chằm vào bên má phải của họ.
Bé Thấn “khi xưa” giống mẹ nhiều nên nó cao lớn, vai hơi ngang, mắt lá răm, khi cười có một lúm đồng tiền ở bên má bị bố cắn, chắc là thành sẹo.
Hai mẹ con giống nhau ở cái dáng đi lúc nào cũng vội vàng “chân không bén đất”.
Ông Đà tin vào câu tục ngữ “trai giống mẹ thì khó ba đời”. Nếu trời để bé Thấn qua cái nạn đói kinh sợ ấy mà còn tới ngày nay, may mắn nó chí đủ tay vo miệng lốm như bố mẹ nó là cùng. Vì vậy, hễ thấy có người đàn ông nào ăn mặc sang trọng lại có chút gì hao hao giống vợ mình là ông run lẩy bẩy vì hồi hộp. Ông như bị thôi miên, chân chạy theo, mắt nhìn, miệng lắp bắp: “Lạy trời! Biết đâu!...”. Dĩ nhiên lát sau ông Đà lại ỉu xìu và tự nhủ: mình mơ tưởng thế làm gì, nên để mắt vào đám làm thuê làm mướn, chữa xe đạp, đánh xe trâu, quạt bễ lò rèn, gác cổng, thợ nề, thợ mộc...
thì hơn.
Chẳng bao lâu kể từ khi ông Đà cất tiếng rao “Mài dao, mài kéo đây”, ông đã có cả một đội ngũ bạn “áo ngắn” rải rác từ Gia Lâm xuống tới Ngã Tư Vọng, từ dốc Vĩnh Tuy lên tới làng Láng, làng Cót. Ông lân la nhờ các “chiến hữu” tìm thằng cu Thấn hộ mình.
Những đứa trẻ bị cha mẹ bán, hoặc bị cha mẹ bỏ đường bỏ chợ trong nạn đói Ất Dậu tới nay còn nhiều lắm, họ đều đã phương trưởng và đã có bố mẹ anh em gặp lại nhau. Duy có thằng cu Thấn màu da trắng, vai hơi ngang, và có nốt răng của bố để lại trên má, chưa ai gặp.
Ông Đà vẫn rong ruổi qua các phố xá nội thành, cả những làng ngoại ô. Buổi sáng, vợ chồng ông mỗi người mỗi ngả ra khỏi nhà với chút hy vọng cầu may, để rồi buổi chiều về thấy căn nhà lợp giấy dầu vẫn trống lạnh như xưa, làm bà Đà lại nổi tam bành, nhè ông chồng mà trút hết những lời cay độc.
Lâu dần hàng xóm đâm quen. Đám đàn ông thôi làm hậu thuẫn cho ông Đà “thi hành những biện pháp cứng rắn” đối với bà. Vài người phụ nữ vô công rồi nghề cũng thưa dần câu chuyện về bà trong những cuộc ngồi lê đôi mách. Mặc dù, khi tuổi mỗi ngày một nhiều thì sự căng thẳng giữa vợ chồng ông Đà lại càng ngày càng khó gỡ hơn.
Một ngày chủ nhật, bà Đà ở nhà một mình, ông vẫn quẩy gánh đi như mọi khi. Thoạt tiên bà lẩm bẩm nhiếc móc cho riêng mình nghe, sau đó ngọn lửa ma quái xông lên ngực bà, thế là bà bỏ hết mọi việc ngồi ghé mép giường mặc sức réo tên ông ra mà nguyền rủa.
“Cứ vác mặt về đây. Chuyến này thì bà xé xác!” - Bà tuyên án vắng mặt ông như thế, và nhăm nhăm đợi mặt trời chóng lặn để ông “vác mặt” về.
Bà Đà chẳng phải đợi lâu. Xế chiều hôm ấy ông Đà lử khử quẩy cái gánh thợ mài dao về. Ném cho bà một nắm tiền lẻ toàn loại năm xu, một hào, rồi ông đi nằm. Bà Đà thấy chồng khang khác, không những đã quên những lời đay nghiến được mài dũa suốt từ sáng, bà còn sờ tay lên trán ông. Người ông Đà nóng chín, làm bà Đà cuống cuồng. Mấy chục năm nay, đây là lần đầu bà Đà nói ra những lời dịu dàng với chồng:
- Nhà ơi. Tôi nấu cho nhà bát cháo đậu xanh ăn cho nó giã sốt, nhé?
Ông lắc đầu, mắt vẫn nhắm nghiền. Bà lại vuốt ve bộ râu lởm chởm bạc gần hết trên cằm ông.
- Dậy tôi bảo này! Chịu khó uống chén rượu. Nhé? Nhà bị cảm nắng đây!
Ông Đà thương vợ, ứa hai hàng nước mắt. Ông muốn ngồi dậy nhích nhắc tay chân cho bà vui, nhưng sức ông đuối quá rồi.
Sáng hôm sau thì ông “đi”. Bà Đà bật ngọn điện tù mù ở giữa nhà, ôm lấy thi hài ông mà lay, lắc, nhày nhã như đang đánh vật. Lúc đã kiệt sức mà vẫn không sao làm cho chồng sống lại được, bà Đà rú lên:
- Ông ơi là ông! Chai rượu tôi mua còn kia. Từ nay mua cho ai uống nữa hở trời!
Tiếng khóc xé ruột gan của bà Đà cất lên từ lúc còn tối đất. Nghe giọng bà, hàng xóm ngỡ ông bà lại xảy ra chuyện gì, nhiều người lẩm bẩm rủa bà vài tiếng rồi lại ngủ. Mãi lúc nghe kỹ, biết ông Đà đã chết, mọi người mới choàng dậy chạy túa sang.
Xưa nay cái cảnh góa bụa vẫn thường xảy ra cho loài người. Nỗi đau dội lên, uất lên một thời gian rồi dịu dần. Sự quên lãng là một trong những bản năng tự vệ giúp cho con người tồn tại được.
Nhưng hình như ở bà không có cái “bản năng tự vệ” ấy. Liền mấy tháng, đêm nào bà cũng kêu thét gọi ông suốt từ đầu hôm đến sáng. Trời thì đã sang đông, gió lạnh từ mặt sông Hồng thổi thốc vào căn nhà giấy dầu thủng tan hoang do chính tay chủ nhân của nó xô, đập, cào, xé.
Sang tới mùa xuân, giữa lúc cỏ cây đến con người đều xanh tươi trở lại thì bà Đà chỉ còn da bọc xương. Một đêm không nghe tiếng bà kêu thét, sáng hôm sau hàng xóm chạy sang đã thấy bà nằm bất tỉnh giữa những mảnh chăn rách, trên mình chỉ một tấm áo dệt kim đã mốc meo và chiếc quần bảo hộ lao động bạc phếch.
Ở bệnh viện người ta hết lòng cứu chữa cho bà Đà. Vài ngày sau, bà tỉnh lại biết thều thào cảm ơn những người hàng xóm đã mang cam, mang đường và luân phiên vào chăm sóc bà.
“Khổ đến thế. Con người cay cực suốt đời. Khi cái sung sướng nằm trong tay thì lại lăn ra chết” - Cả khu phố bờ sông tới nay mỗi khi nhớ đến bà Đà, bà con lại chép miệng nói thế.
Số là, ở nơi bệnh viện bà Đà nằm cấp cứu, có một bác sĩ trưởng khoa tên là Dũng, tuổi xấp xỉ bốn mươi, vai hơi ngang, nước da trắng và đôi mắt dài rất linh lợi. Một lần, khi bà Đà đã qua khỏi cơn nguy kịch, bác sĩ Dũng đến khám bệnh cho bà theo thường lệ trong ngày. Bác sĩ bảo bà tháo áo để đặt ống nghe vào ngực bà. Anh đang chăm chú nghe tiếng tim dội thì thụp tự dưng bà Đà cứ nhổm người vừa nhìn sát mặt anh vừa sờ lên vết sẹo trên má anh. Bảo bà nằm yên mấy lần không được, bác sĩ Dũng phát bực gắt:
- Cụ làm sao thế!
Bà già không trả lời bác sĩ Dũng mà thét lên một tiếng: “Con!” làm cho cả phòng bệnh giật mình. Rồi bà tắt thở. Mọi cách cứu chữa của bệnh viện đều vô hiệu.
Khi phải tự thú nhận mình hoàn toàn bất lực, bác sĩ Dũng ngồi cạnh bà Đà, ôm mặt khóc rưng rức.
Dũng là con nuôi của một cán bộ trong quân đội. Ông có tới sáu người con, thêm Dũng là bảy. Những khi gia đình tụ hội, con cháu chật nhà, ông vẫn kín đáo dành riêng cho Dũng chút chăm sóc đặc biệt. Tuy nhiên, càng lớn lên Dũng càng thấy mình đang âm thầm ngóng đợi một con người, dù sớm muộn thế nào sẽ có một ngày con người ấy tìm ra anh...
Nhiều năm về sau, vào những ngày giỗ ông bà Đà, bác sĩ Dũng thường đưa vợ con về thăm những gia đình hàng xóm của ông bà, và thế nào anh cũng có quà đến thăm hỏi những người là bạn “hạt gạo cắn đôi” của bà Đà hiện đang nghỉ hưu trong khu tập thể của cảng.
Những người bạn của bà Đà đều gọi Dũng bằng con, và đối xử với anh đúng như cách xưng hô. Mặc dù bà Đà không còn, nhưng tình thương bầu bạn bà để lại vẫn còn khắp nơi nơi. Ngày nay hễ nhắc đến bà là những người bạn già của bà lại nghẹn ngào.
Họ kể rằng: vào tiết đông và tiết xuân, lòng sông Hồng cạn rặc, những cồn cát nổi vờ vờ bên dưới mặt nước lắng trong dần dần, ấy là những ngày trời đất gió thổi vô hồi. Cứ sáng ra, những người công nhân phát khổ lên vì những ngọn gió lạnh như dao cắt vào da thịt. “Ấy nhưng mà cháu ạ - Các bà già nói với bác sĩ Dũng - cái buổi sáng mẹ cháu “đi”, trên mặt sông cũng như trên bến cảng, trời bỗng dưng lặng phắc, không một hồi gió.
Như thế là hồn thiêng lắm!”.


8/1985
Đăng nhập để trả lời
★ ★ ★ ★ ★ 0
BỤI HOÀNG HÔN



Dăm năm trước, cái tin ông Trọng lên làm bí thư huyện ủy, chỉ người biết người không. Nhưng vừa rồi ông bị kỷ luật thì khắp bàn dân thiên hạ đều xôn xao bàn tán. Chuyện đồn một hóa mười, mười hóa trăm, ông Trọng bỗng trở thành nhân vật nổi tiếng. Nhiều chi tiết về ông dân huyện ngoài kháo nhau nghe còn hãi hùng hơn cả dân huyện nhà.
“Ông Trọng thôi giữ chức bí thư huyện ủy”, ấy là cách nói tế nhị của những người có lòng kính trọng ông, thương ông. Họ không muốn đụng tới hai tiếng cách chức để ông đỡ đau lòng.
Những người ghét ông thì sung sướng truyền nhau rằng ông đã bị công an ngoài trung ương về còng tay, tống vào nhà giam.
Phàm là những việc cơ mật chẳng hiểu vì sao dân lại biết tin nhanh hơn cả những nhà chức trách.
Theo những hãng thông tin vỉa hè, ông Trọng biết tin mình sẽ bị cách chức từ vài tháng trước khi ông nhận được quyết định chính thức bằng giấy.
Để giải thích cái “giác quan thứ sáu” của dư luận, có thuyết cho rằng dù làm tới đâu, các đức ông chồng vẫn không chừa được thói mang chuyện “triều đình” về nói với các bà vợ. Một phải chiến thắng, một phải chiến bại. Trong lúc một số người vỗ tay reo mừng, thì một số người khác ngậm ngùi ôm hận - mà nhẽ ra đó là những chuyện bất cứ một người có lương tâm nào cùng phải xót xa mới đúng.
Nhưng thôi. Tác giả truyện này hoàn toàn không có ý dám luận công, luận tội của ông Trọng, hoặc đóng góp ý kiến với cấp này cấp khác. BỤI HOÀNG HÔN chỉ muốn thuật lại một đoạn chuyện kể từ khi ông Trọng thôi làm bí thư huyện ủy huyện Sông Nho.
Vào một buổi chiều thứ sáu cuối mùa hè, ông Trọng đang ngồi điều khiển cuộc họp thường vụ huyện ủy bàn cách lãnh đạo thu hoạch vụ chiêm và nhanh chóng triển khai việc làm vụ mùa, thì trưởng ban tổ chức tỉnh ủy xuống truyền đạt hai quyết định: Một quyết định ông Trọng “thôi giữ chức bí thư huyện ủy”, một quyết định ông Doãn nguyên phó bí thư huyện ủy nay giữ chức quyền bí thư huyện ủy huyện Sông Nho.
Trưởng ban tổ chức tỉnh ủy đọc xong, nói thêm chừng vài chục phút rồi lên xe về tỉnh, để lại một không khí giống như có tiếng sét vừa nổ giữa phòng họp. Những người ngồi kín hai dãy bàn đưa mắt nhìn nhau ngơ ngác, ai cũng cảm thấy đây là giây phút mình phải thận trọng đến từng hơi thở nếu không muốn mang vạ lây vào thân. Ông Trọng ngồi yên, cầm hai tờ quyết định trên đôi bàn tay run run, đọc lại một lần nữa. Ông đột ngột phá tan im lặng:
- Quyết định của cấp trên, các đồng chí vừa nghe. Vậy đề nghị các đồng chí cho ý kiến, ngay từ phút này, đồng chí Doãn điều khiển hội nghị hay là tôi?
Ông Doãn đứng dậy đề nghị ông Trọng cứ cho họp tiếp, được mọi người đồng tình.
- Vậy chúng ta bàn sang việc phân công xuống “nằm” các cơ sở - ông Trọng tiếp tục điều khiển công việc. Tôi dự kiến thế này: Đồng chí Mai, hội trưởng hội phụ nữ huyện chuyên lo việc đặc biệt giữ gìn sức khỏe cho chị em xã viên trong thời kỳ “cao điểm” này. Cô Mai nhớ nhé: Song song với việc tổ chức bữa ăn trưa ngoài đồng cô cần kiểm tra đôn đốc thật sát hoạt động của các nhà trẻ. Nhà trẻ có tốt, các bà mẹ mới yên tâm gửi con mà đi gặt.
Hội trưởng phụ nữ trả lời hết sức lễ độ :
- Thưa anh. Vâng.
- Đồng chí Bình - ông Trọng lại nói - thì đôn đốc sửa chữa các kho lương thực. Năm ngoái bà con xã viên nhập kho thóc rất khô, nhưng mái nhà kho thì lại dột nát như mặt sàng, thành thử mưa xuống một cái là kho thóc biến ngay thành lò thúc mầm! Yêu cầu đồng chí Bình hạ quyết tâm cho thường vụ biết, năm nay liệu có chấm dứt được cái bài học chết người ấy hay không?
Người tên là Bình đứng dậy, nhìn thẳng vào ông Trọng trả lời:
- Báo cáo anh, tôi đã trực tiếp lên kiểm tra các kho thóc ở làng Hành, làng Chĩnh, làng Vạc. Xin hứa là năm nay các kho thóc huyện ta đều đảm bảo đúng tiêu chuẩn.
Ông Trọng phân công thêm cho mấy người nữa rồi tuyên bố giải tán cuộc họp với một nỗi ngạc nhiên không hiểu sao đầu óc mình vẫn tỉnh táo, và mọi người vẫn nhất nhất tuân thủ sự điều khiển của mình? Ông vừa bước ra khỏi phòng đã thấy cậu Vĩ - người lái chiếc U-oát - đứng chờ bên cạnh sân bóng chuyền.
- Thưa chú - Vĩ chạy lại đón ông Trọng - chú lên làng Khánh bây giờ hay để mai ạ?
- Lên làng Khánh làm gì?
- Chú dặn cháu sáng nay mà. Chú lên kiểm tra trạm máy kéo...
Ông Trọng vỗ tay lên trán:
- À phải. Trời ơi. Quên đấy! Cậu chuẩn bị chưa?
- Thưa đã.
- Thế thì đi. Đi ngay bây giờ.
- Nhưng... Chú chưa xơi cơm.
Ông Trọng xua tay:
- Đi cái đã.
Chiếc xe lẹ làng lăn bánh khỏi trụ sở huyện ủy, lao xuống một con dốc thoai thoải. Một bên dốc là cánh rừng thông già, những cây thông cao vút chảy rớt nhựa xuống lớp lá khô rơi lẫn với đá sỏi. Mặt rừng thoang thoảng mùi nắng, và mùi tinh dầu thơm. Bên kia con dốc là cánh đồng gặt dở dang, nơi này trơ gốc rạ, nơi kia lúa mới đỏ đuôi, lại còn đôi vạt lúa cấy muộn vẫn xanh rờn trông như những mụn nhung lụa vá lạc vào tấm áo nâu sồng, khắc khổ. Ở một thửa ruộng đã cắt rạ, nước mưa đêm trước đọng đầy những dấu chân in trên bùn. Ông Trọng bất giác mỉm cười phát hiện ra một chú cua kềnh đứng trước cửa mà, như thể đang “ngóng đợi ai”. Hôm qua, hôm kia, hay lâu hơn không nhớ rõ, ông phàn nàn với vợ là ông thèm một bữa canh cua nấu với rau khoai lang. Bà vợ già phúc hậu không nín được cười:
- Ai bảo ông canh cua nấu với rau khoai lang?
- Ừ thì rau khoai lang, rau mùng tơi, rau ngót rau gì cũng được.
Bà vợ lại cười thành tiếng dài:
- Ông thật rõ là. Canh cua thứ nhất nấu với rau bợ. Không hái được rau bợ thì nấu rau đay. Ông nhớ chưa. Đừng nói thế người ta cười.
Nhớ lại lời vợ, ông Trọng thấy vui vui. Có một bà vợ việc gì cũng chõ vào thì thật mệt. Nhờ trời bà Trọng không có tính ấy. Bà chỉ cần biết ông khỏe hay ông yếu, ông ăn có ngon miệng không, và thỉnh thoảng nhìn trộm gương mặt ông để đoán xem ông đang vui hay buồn. Nếu biết ông bận lo nghĩ, ngay cả từng bước đi bà cũng khép nép, giữ cho không một tiếng động phát ra làm phiền ông. Thế là đủ. Còn công việc chung? Mọi sự vẫn tuần tự, có gì khác lạ đâu nhỉ - ông thầm nghĩ. Nhiệm vụ lãnh đạo vẫn được bàn một cách nghiêm túc, cả ban thường vụ vẫn tôn trọng mình. Ngay như cậu Vĩ, mình yêu nhất cái tính ít lời của cậu ta. Có lần đi đường xa, mình giục cậu ta nói chuyện cho đỡ buồn ngủ, cậu ta bảo “Chú mệt mỏi chú cứ tranh thủ nghỉ, đừng lo cho cháu. Cháu sợ nói chuyện làm ảnh hưởng đến chú...”.
Suốt buổi tối hôm ấy ông Trọng hầu như quên bẵng cái quyết định cách chức mình. Kiểm tra trạm máy kéo xong, ông tạt vào nhà một thầy giáo hiệu trưởng trường cấp hai, hỏi xem công việc chuẩn bị cho mùa thi tới đâu. Mãi hơn chín giờ tối cậu Vĩ mới đưa ông về tới nhà riêng cách cơ quan huyện ủy gần năm cây số.
- Thưa chú - cậu Vĩ hỏi sau khi đã mở cửa mời ông Trọng bước xuống - mai chú có đi đâu không?
- Có. Cậu lại đón tôi sơm sớm một chút.
Khi chiếc xe con đi khuất, ông Trọng mới như sực tỉnh, nghe như có gì giá buốt lan nhanh trong người. Dù không muốn dù cố quên đi, tờ quyết định cách chức ông vẫn là một sự thật hiện đang nằm trong cặp tài liệu của ông. Theo chương trình vạch ra từ đầu tuần, ngày hôm sau ông Trọng sẽ lên làm việc với ban nông nghiệp của tỉnh ủy.
Nhưng tình hình này, mình còn lên tỉnh ủy làm gì?
Ông Trọng đứng tần ngần một lúc lâu trước vòm cổng nhà ông được uốn khá công phu bằng những cây dâm bụt. Đầu óc ông rỗng không. Ông lơ đãng nhìn những tia sáng từ cây tọa đăng hắt qua khung cửa sổ cạnh bàn làm việc của mình. Cách đây không lâu, tức là cái thời ông còn vượng, dù cả phố mất điện thì riêng nhà ông vẫn sáng xanh ánh đèn nê-ông thắp bằng điện máy phát riêng. Nhưng từ khi những vụ kiện tụng nổ ra, trong huyện loan đồn tin ông sắp mất chức bí thư huyện ủy, cái máy phát hỏng rồi bỏ xó luôn, ông có nhắc nhở văn phòng, người ta chỉ vâng vâng dạ dạ cho qua chuyện.
- Bà cái Thảo ơi - ông Trọng cất tiếng gọi ngoài mảnh sân tối và không đợi vợ trả lời, ông hỏi luôn - bà có gì cho tôi ăn không. Tôi đói lắm.
Tội nghiệp bà Trọng mọi khi hễ thấy chồng về muộn là bà biết ông được mời dùng bữa ở đâu, cả huyện chỉ một ông bí thư huyện ủy, chẳng những không ai chịu để ông nhịn đói mà lắm kẻ còn coi việc được bưng cơm rót nước hầu hạ ông là một sự hãnh diện nhớ đời. Vì vậy khi chồng kêu đói bụng bà luống cuống thật sự.
- Ông nói thật hay nói đùa?
- Thật chứ.
- Thế thì... thế thì... Thảo ơi. Cháu nghỉ học một lúc, nhóm bếp hộ bà. Mau lên!
- Đừng. Chẳng lẽ tôi với bà không nhóm nổi cái bếp, nấu nồi cơm hay sao? Hay là... Này bà, còn cơm nguội không?
Bà Trọng đắn đo một lát.
- Ai lại thế? Ông!
- Sao lại không nhỉ. Hồi trẻ ở chiến khu, được bát cơm nguội là sáng mắt ra đấy.
Không muốn gây cản trở cho việc học của đứa cháu ngoại, bà Trọng đơm một đĩa cơm nguội, gắp vài miếng cá kho ra bát, bưng lên cái bàn làm việc bằng gỗ lát có ép kính của chồng. Ông Trọng vui vẻ cầm thìa xúc cơm ra bát, bà Trọng cẩn thận gỡ từng cái xương găm trong khúc cá. Ông bật cười:
- Bà gỡ xương cá cho tôi đấy à. Bà tưởng tôi còn bé lắm?
Bà Trọng cũng cười, mắt vẫn không rời khúc cá dưới tay. Ánh đèn dầu giúp ông nhận ra mái tóc của vợ đã bạc gần hết, mà bao lâu nay vì công việc cứ lu bù, ông không để ý tới. Ông định bưng bát cơm lên ăn lại vội đặt xuống, xòe bàn tay che ngang mặt.
- Ông làm sao thế? - Bà Trọng hốt hoảng.
- Không không. Con gì bay vào mắt tôi.
Bà Trọng chạy ra hè rút chiếc khăn mặt ông vẫn vắt trên dây phơi, và bà múc thêm một chậu nước nữa, khệ nệ bê vào. Ông Trọng chỉ dám giơ tay ngăn vợ, không nói nói nên lời. Nếu nói, ông sợ lúc này ông sẽ bật lên thành tiếng khóc. Đã gần hết đời người ông Trọng quen nghĩ đến tập thể, mọi sự, từ việc chung đến việc riêng, đều lấy ý tập thể làm chuẩn mực, do tập thể quyết định, và ông bao giờ cũng vui lòng được gửi gắm vào tập thể. Nào ngờ tới một lúc, như lúc này, ông ngoái nhìn lại và bỗng hiểu ra: Trên cõi đòi này chẳng có gì có thể thay thế được đôi bàn tay người vợ vụng về, bé nhỏ, nhẫn nhục nhưng ấm áp làm sao!
 
*

 

Sáng hôm sau theo đúng lời ông Trọng dặn, cậu Vĩ đánh xe đến đón ông sớm hơn giờ quy định. Khi ông đã ngồi yên trên đệm. Vĩ cắm chìa khóa điện vào xe, và hỏi:
- Đi đâu, thưa chú?
- Lên ban nông nghiệp tỉnh ủy.
Đêm qua nằm vắt tay lên trán, ông Trọng đã tìm được một lý do khác xác đáng cho cuộc đi này. Nhưng buồn thay, ông Trọng mào đầu công việc, anh phó ban nông nghiệp tỉnh ủy mặt lạnh băng đã chặn đứng lời ông lại:
- Báo cáo anh Trọng. Vấn đề anh vừa đề cập, chúng tôi sẽ bàn với anh Doãn. Xin rất cảm ơn anh.
Ông Trọng chưng hửng đứng dậy, quên cả bắt tay chủ nhà. Cái anh phó nông nghiệp tỉnh ủy trẻ hơn ông tới mười lăm mười sáu tuổi, từ trước hễ gặp ông ở đâu là kính cẩn cúi đầu chào “Em chào thầy ạ”. Kiểm lại trong đời mình, ông Trọng từng làm liên lạc cho các tổ chức bí mật năm xưa, từng lên chiến khu, từng làm nhiều công việc khác nhau ở bên Đảng cũng như bên chính quyền, nhưng ông không thể nhớ có hồi nào mình từng làm thầy giáo. Một lần gặp anh phó ban trẻ tuổi nọ, ông Trọng gọi lại hỏi:
- Xin lỗi anh, tôi chưa hiểu vì sao anh lại chào tôi bằng thầy?


- Ấy ấy, - anh phó ban vò đầu gãi tai như một chú học trò nhỏ đứng trước thầy giáo cũ của mình. Thầy quên rồi sao? Năm 1963, thầy có lên thị trấn Bồng để giảng cho chúng em về công tác vận động thanh niên...
- Ôi - ông Trọng kêu lên - ngượng đỏ mặt - vào những năm ấy quả là tôi có làm chút ít công tác Đoàn. Nhưng nếu chỉ có thế mà được gọi là “thầy” thì e là chúng ta hơi lạm dụng vinh dự của các nhà giáo đấy.
- Nhất định không! Thưa thầy. Các cụ dạy nhất tự vi sư bán tự vi sư kia mà. Vả lại, thưa thầy chẳng lẽ cả cuộc đời cống hiến cho cách mạng như thế lại không xứng đáng tôn thầy lên bậc tiền bối của chúng em?
Đến là khổ, muốn từ chối một vinh dự gượng ép cũng không xong. Đành chịu vậy. Được nghe mãi điệp khúc “em chào thầy ạ”, lâu dần ông Trọng cũng đâm ra quen tai. Và, một vài lần, ông đã thử tận dụng cái danh nghĩa thầy giáo để yêu cầu ban Nông nghiệp tỉnh ủy nới tay ủng hộ huyện Sông Nho, ông đều thấy rất “hiệu nghiệm”. Vì thế mà thời gian gần đây ông đã tự trách mình quá khắt khe với lớp trẻ, chứ thật ra cái anh phó ban ấy tuy gặp quá nhiều thuận lợi trên con đường “tiến bộ” nhưng anh ta quả là một người có nề nếp gia phong, có lòng khiêm tốn, nhũn nhặn, và sống có trước có sau. Vậy mà đúng vừa lúc ông nghĩ tới anh ta như một chỗ dựa, thì đùng một cái, anh ta tự xé toang cái mạng che mặt, để ông thấy thật đích xác anh ta là con người như thế nào.
Ông Trọng rút chiếc mùi xoa trong cặp thấm những giọt mồ hồi lớn đang thấm ra trên mặt, và ở đôi cánh tay mặt áo cộc nhớp nháp chỗ ông tựa vào thành ghế khi chiếc xe về tới sân bóng của huyện ủy. Một vài người nghe tiếng xe tắt máy, đẩy cửa sổ ngó ra.
Thấy ông Trọng vẫn còn xuất hiện ở cơ quan này, tự dưng họ khó chịu, khép ngay cửa lại.
Ông Trọng cố nén tiếng thở dài ngán ngẩm khi nhận được những ánh mắt hững hờ, xa lạ đang hướng về mình. Ông thẳng bước tới phòng ông Doãn, định hỏi đồng chí quyền bí thư huyện ủy xem bao giờ thì ông ta chính thức nhận bàn giao công việc với mình.
Ông Doãn đi vắng, ông Trọng vội quay lại xe. Và, lần đầu tiên trong đời ông nghe cái giọng cầu cạnh rất lạ từ chính miệng mình thốt ra:
- Vĩ ơi. Nhờ cháu cho chú về nhà. Được không?
May mà Vĩ không nỡ từ chối ông, nhưng ngay ở cậu lái xe chân chất, tận tụy này cũng đang có gì khang khác rồi. Khi Vĩ quay xe rời khỏi ngõ nhà ông Trọng, đáng lẽ theo thường lệ mọi khi, cậu ta không quên hỏi xem sắp tới ông có định đi đâu, thì lần này Vĩ nhìn ông bí thư cũ bằng ánh nhìn ái ngại và buồn thăm thẳm: “Chú ơi. Cháu về đây...”.
Trong giọng nói bùi ngùi của Vĩ, ông Trọng hiểu thêm một ý khác mà Vĩ không nói thành lời: Cháu hiểu tâm trạng chú. Cháu thương chú. Nhưng cháu không thể làm khác được. Mong chú thông cảm cho. Tạm biệt...
Từ buổi chiều hôm ấy, chẳng bao giờ ông Trọng có ý nghĩ chờ đợi chiếc xe con của huyện ủy nữa. Chờ cho nắng dịu, ông dắt chiếc xe đạp Điamăng nữ của con gái - mẹ cái Thảo, là giáo viên dạy ngay ở trường làng - lủi thủi đạp về phía thị xã. Lâu ngày không đi xe đạp, tay lái của ông Trọng chệnh choạng mất một quãng, nhưng chẳng bao lâu ông đạp đã khá dẻo chân. Những ngọn gió cuối chiều thổi tràn qua cánh đồng, như thoa lên da thịt ông Trọng một lớp phấn rất nhẹ. Giá như trẻ lại được mươi tuổi hẳn là ông đã vừa đạp xe vừa hát. Cuộc đời cứ thế này mà lại hóa hay. Đi lúc nào, về lúc nào, hoàn toàn tùy thích, chẳng còn gì phải tất bật phải câu thúc. Hãy nhìn xem kìa. Trên đường có biết bao người, già hơn mình, trẻ hơn mình, đều có. Sao mình thèm cái dáng đi ung dung, thanh thản của họ đến thế.
Ông Trọng vừa đạp xe vừa nghĩ ngợi. Vui vẻ. Chua cay. Hài hước. Lúc lúc lại sợ cố người nhìn thấy mình. Nhưng đến thế rồi mà duyên nợ với cái ghế bí thư huyện ủy vẫn chưa thôi bắt ông phải trả giá. Lúc đi ngang qua phố huyện, có một gã thanh niên cao lớn từ đâu chạy ra giữa đường nắm lấy ghi đông xe của ông, cười nhăn nhở, phả hơi rượu ra nồng nặc:
- Ông bí thư! Xe con đâu rồi mà đi xe đạp. Hử?
Ông Trọng dừng xe, ngỡ ngàng nhìn cái bộ mặt đầy mụn trứng cá với đôi tròng mắt trắng dã của gã thanh niên, trong lòng vừa run sợ, vừa bực bội, vừa nhục nhã.
- Hử? Hử? - Gã lại trợn mắt, dậm chân bành bạch - Xe con đâu rồi?
Ông Trọng giận tím người. Phải hết sức tự kìm chế ông mới khỏi đấm thẳng vào cái bộ mặt trâng tráo kia.
- Dẹp ra cho tôi đi! - Ông nói.
Lập tức gã say rống lên:
- A a. Ông ăn nói thế phỏng. Đừng quen thói hống hách. Đả đảo! Đả đảo!
Đằng sau gã trai này còn một bọn bảy, tám người đứng trong quán nước nhìn ra, vỗ tay reo ầm ĩ. Thật rắc rối. Ông Trọng đưa mắt cố tìm một anh công an, một trật tự viên, hoặc một người quen biết ở cơ quan huyện ủy, cơ quan ủy ban huyện, mà chẳng thấy, ông xuống xe, đặt chiếc xe ngăn cách ông với kẻ gây sự, đề phòng hắn bất ngờ xông tới tấn công mình.
Sự việc không biết rồi sẽ ra sao nếu như giữa lúc ấy không có một người đàn ông từ góc phố bước ra. Người đàn ông này gầy gò, bận bộ quân phục cũ mồ hôi loang trắng từng khoang trước ngực áo. Anh ta lật chiếc mũ lá đang đội quăng xuống vệ đường, lẳng lặng tiến lại chỗ ông Trọng, rồi bất ngờ thộp lấy áo gã say, với một sức mạnh phi thường đẩy gã bật ngửa, và quát:
- Cút! Cả các anh nữa - anh ta nẩy tay về phía đám “cổ động viên” đứng trong quán - Một lũ dậu đổ bìm leo. Bọn trơ trẽn! Bọn ăn cắp!
Có cái lạ là bọn kia đông gấp chục lần, bị mắng nhiếc thậm tệ như thế mà đứa nào đứa ấy vẫn im thin thít. Tình thế xoay chuyển đến nỗi ông Trọng đứng bàng hoàng, lúc sau mới sực nhớ chìa bàn tay cho người đàn ông mặc quân phục:
- Cảm ơn anh!
Người đàn ông khẽ lắc đầu:
- Có gì đâu, bác! Mời bác đi đi, để một mình tôi nói chuyện với bọn này là đủ.
Đoạn đường từ đó trở đi ông Trọng cắm cúi đạp xe như người mất hồn. Người đàn ông vừa cứu mình là ai? Vì sao anh có được một uy lực ghê gớm nhường ấy? Còn gã say kia, và cái bọn đứng trong quán, họ ở đâu ra? Vì sao họ lại gây sự với mình?... Có một hòn đá to như cái nón do đám xe trâu đánh rơi giữa đường, ông Trọng không hề nhìn thấy. Ông chỉ kịp kêu “ố” một tiếng thì đã quá muộn. Ba cô gái đi đường thấy vậy dừng xe chạy lại đỡ ông dậy, líu lô mừng cho ông không bị gãy tay gãy chân. Còn chiếc Điamăng đã hỏng thật sự. Vành bánh phía trước bị bẻ cong như một cái bánh đa nướng.
- Bác đừng lo - một trong ba cô gái tốt bụng nói - bạn cháu về đèo chiếc xe, còn cháu thì đèo bác.
Khoảng dăm phút sau, bốn người gặp một hiệu chữa xe đạp bên đường. Ba cô gái gửi ông Trọng cùng cái xe đạp bị nạn ở lại rồi đi tiếp.
Chủ hiệu chữa xe đạp chưa già nhưng cũng không còn trẻ. Anh ta cởi trần, mặc quần cộc, lưng cháy sém, hai bả vai rôm mọc chi chít như trát kê. Thấy đầu gối quần ông Trọng loang máu, anh thốt kêu lên, cuống quýt chạy vào nhà trong lấy bông thuốc đỏ ra, với hai bàn tay lem nhem dầu mỡ, anh vừa xít xoa vừa chăm sóc cho ông:
- Đau lắm. Chết chửa... Bác chịu khó vén quần lên cho tôi xem. Vâng. Thế. Tay bác sạch, bác chịu khó...
Dĩ nhiên là khi được giúp bông băng, thuốc sát trùng, ông Trọng tự lo liệu được vết thương của mình. Trong khi đó người chủ hiệu chữa xe đạp ra sức quát tháo, sai khiến mấy đứa con quét dọn nhà cửa, lau bộ sa lông, đánh ấm chén cho sạch sẽ. Xong, anh pha một ấm chè búp, lại sai con chạy sang cửa hàng bên cạnh mua một bao thuốc lá đầu lọc, đặt ngay ngắn trên mặt bàn gỗ lát, rồi quay sang ông khách nói giọng rất từ tốn:
- Mời bác ngồi nghỉ. Có nước, có thuốc đây. Xin bác cứ cự nhiên. Thông cảm cho em...
Anh chợ bắt tay vào vặn ốc, tháo lốp, nắn vành, chạy chữa cho chiếc xe của ông Trọng. Thỉnh choảng anh nhìn vào trong nhà, cao giọng mời ông uống nước, hút thuốc, rồi lại hì hục làm. Có ba bốn người dắt xe đến đều bị anh từ chối, nói là phải chữa xe gấp cho khách quen.
Nể lời mời chân tình của chủ hiệu, ông Trọng bóc bao chuốc rút một điếu nhưng chỉ kẹp giữa hai ngón tay, không hút. Ông cũng quên cả cái cảm giác nhức, rát ở vết thương nơi đầu gối. Ông ngồi, đầu nghiêng nghiêng, gần như bất động để được chìm đắm theo dòng suy nghĩ.
Ông Trọng đi theo cách mạng từ khi còn là một cậu thiếu niên. Bốn chục năm có lẻ, ông học được cơ man những bài học cách mạng, về chỉ huy, lãnh đạo, đấu tranh với kẻ thù, đấu tranh nội bộ, những bài học thành công, những bài học thất bại. Những bài học cấp trên và đồng đội dạy cho ông, kể cả những bài học ông mang dạy lại cho lớp người bên dưới mình. Nhưng, hình như chưa một lần, chỉ trong vòng vài chục tiếng đồng hồ, từ chiều qua tới giờ, ông được tận mắt chứng kiến những bài học về đồng chí, đồng đội, xã hội, con người, với đầy đủ hương vị đắng cay, ngọt bùi như thế này. Phải chăng số phận đang làm một phép tính cộng để bông đùa: Suốt nhiều năm được thiên hạ đón đưa, chiều lụy, để rồi chỉ một ngày bắt “lĩnh đủ” những trò nâng lên hạ xuống?
Là một người rất hà tiện thời gian, lúc này ngồi một mình, ông Trọng liền tranh thủ mở một cuộc “sơ kết” nho nhỏ. Những gương mặt tráo trở, hỗn hào, xấc xược lần lượt hiện lên trước mắt ông. Ông đau lòng tự nhận một phần trách nhiệm của mình - của một bí thư huyện ủy - trong đó. Còn, những gương mặt trung thực, những tấm lòng thơm thảo lại đang cổ vũ ông đừng vội nản chí trước cuộc sống phong phú này. Có điều hy vọng bạn đọc sẽ thông cảm cho cách diễn đạt của những người như ông Trọng, ông không quen gọi thẳng, gọi đúng, gọi đủ những phẩm chất của bọn người xấu là đểu, là ba que xỏ lá, là mất dạy, là sâu bọ... mà chỉ quen đưa ra một khái niệm mờ nhạt, cùn mòn, là những phần tử tiêu cực, để rồi đối với những phẩm chất tốt đẹp của con người cũng bị ông cào bằng đi như thế, tất cả gói trong một cái gói, gọi là quần chúng tích cực.
Với cách nói, nhất là cách nghĩ luôn luôn quy gọn một cách biếng nhác này, ngay cả những người bạn thân của ông Trọng cũng không dám hy vọng ông tìm ra cái gì mới mẻ, là sức sống, nếu như một mai trời đất xoay vần biết đâu ông lại chẳng trở lại với nhiệm vụ một bí thư huyện ủy, hoặc hơn thế...
Ông Trọng như giật mình choàng tỉnh, ngẩng lên thì đã thấy anh thợ chữa xe đạp đứng trước mặt. Anh nhoẻn cười với ông:
- Thưa bác. Xe của bác đi được rồi đấy ạ.
Ông vội mở cái cặp da đặt trên bàn. Nhưng anh thợ đã xòe bàn tay ngăn lại:
- Bác định mở cặp làm gì thế?
- Tôi gửi tiền lại cho anh. Hết bao nhiêu, anh nhỉ?
Anh thợ chữa xe ngồi xuống chiếc sa lông đối diện với ông, rót mời ông thêm một chén trà.
- Bác Trọng ạ - giọng anh thoắt trở nên trang trọng, nhưng hoàn toàn không khách sáo - Chắc chắn là bác không biết tôi, nhưng tôi thì biết bác. Thấy bác lễ mễ mang cái xe đạp vào đây, thật tình tôi rất thương...
- Đừng vì thế mà anh...
- Bác cho phép tôi nói hết đã. Những việc tốt đẹp bác làm cho huyện nhà, chúng tôi biết cả, chỉ có bọn vô ơn mới làm ngơ mà thôi. Còn những việc bác làm chưa được, làm hỏng, chúng tôi cũng biết. Nhưng... ở đời ai chẳng muốn làm nên. Không nên, tức là tài trí của mình còn mỏng. Tôi khuyên bác đừng quá lo nghĩ mà tổn hại đến thân thể.
Anh thợ ngừng một lát, nhìn lướt trên mái tóc bạc quá sớm của ông Trọng, buông thêm một câu:
- Các bác khổ hơn chúng tôi nhiều!
 
*

 
Ánh sáng của một ngày mùa hè chỉ còn đọng lấp loáng trên những chiếc lá bàng non ở hai bên hè phố huyện. Tiếng ve sầu giục giã một điều gì không chịu nguội lạnh trong gan ruột con người. Đành bỏ cuộc thăm viếng dưới thị xã, ông Trọng lững thững dắt xe quay về nhà. Đến cuối núi Thông, ông sững sờ đứng ngắm về phía tây mặt trời đang lặn. Mảng không gian bên dưới những áng mây và bên trên những ngọn núi bỗng rực rỡ, dầy đặc một quầng bụi lửa như bắn lên từ một lò gang đang bùng sôi.
Cảnh vật đẹp đến nhức nhối lòng người. Và vì vậy ông Trọng vội cắm cúi đi tiếp, để khỏi phải nhìn cái giây phút quầng lửa cuối cùng kia biến mất dưới chân trời.
 

2/9/1988
Đăng nhập để trả lời
★ ★ ★ ★ ★ 0
CUỐI NĂM CHƠI OẲN TÙ TÌ

 

Công ty này hơn hẳn các nơi ở chỗ nó có một bà giám đốc - bà Vi được coi là người vui tính nhất. Lại nữa, bà Vi còn xinh đẹp, mũm mĩm, nhiều người cả quyết rằng nếu thi sắc đẹp các nữ giám đốc trong toàn quốc, chắc chắn “giám đốc mình” đoạt vương miện hoa hậu, mặc dù, bà đã ở ngoài tuổi bốn mươi.
Nụ cười và nhan sắc của bà giám đốc chính là tài sản vô giá, là bí quyết thành công của cả công ty.
Chẳng thế mà... Năm ngoái, giữa lúc công ty mấp mé vỡ nợ, mọi người lo lắng mất ăn mất ngủ bà giám đốc chỉ mỉm cười khoát tay “yên trí”. Bà sơn môi, kẻ mắt, xịt nước hoa, chải chuốt trước gương thật lâu rồi cưỡi ô tô ra đi. Hôm bà về, mang theo mấy vị khách hàng. Thế là cái đống sản phẩm vừa sai quy cách vừa kém phẩm chất - nghĩa là những thứ vứt xó - được khuân đi hết sạch. Chừng nửa tháng sau nữa, công ty tưng bừng đón bằng khen của cấp trên gửi về. Anh chị em cán bộ và công nhân trong công ty đều có phần thưởng, người 50 nghìn, người 100 nghìn đồng, riêng bà giám đốc xinh đẹp thì lắp thêm máy điều hòa nhiệt độ trong phòng ngủ, và mua một lúc hai xe máy - một xe cho chồng, một xe để dành chờ cô con gái lớn lên.
Năm nay, như thường lệ, từ giữa tháng chạp âm lịch trở đi, hầu như không lúc nào bà giám đốc cho cái xe ô tô con được nằm yên. Bà đi thăm hỏi các bạn hàng, đi chúc Tết sớm các vị cấp trên.
Trước kia, lúc là cái thời bao cấp, chuyện quà cáp biếu xén đến là lỉnh kỉnh. Nào giò lụa, rượu ngon, sơn hào hải vị, nào vải vóc, nào các thứ gia dụng đắt tiền... phải chất đầy ngập trên xe. Kẻ đi biếu phải phơi mặt ra giữa thanh thiên bạch nhật, chịu đủ mọi điều tiếng xì xầm; người nhận biếu thì tầng trên tầng dưới, trong nhà ngoài hè, không còn chỗ mà chứa tặng phẩm. Nay, thời buổi đổi mới, việc biếu xén thật đơn giản, vài lá vàng gói trong khăn mùi xoa, mấy “vé” (tờ 100 đô la) lọt thỏm trong cái phong bì... là xong.
Cấp dưới biếu xén giám đốc theo kiểu đó. Giám đốc lại dâng lên tiếp cấp trên, cũng theo kiểu đó. Đương nhiên, cái dòng chảy thơm ngát hương vị mùa xuân ấy đều từ công quỹ tuôn ra, chứ mấy ai chịu tốn tư quỹ dù chỉ một đồng xu sứt?
Riêng bà giám đốc Vi, ngoài các thứ tặng phẩm có tính chất tài chính, bà còn có thứ tặng phẩm trời cho, ấy là ánh mắt lúng liếng, cặp môi đỏ chót, và những gì nữa... có trời biết. Bởi vậy, dù mọi sự đều được tiến hành vô cùng kín đáo, bà giám đốc vẫn tự răn mình thận trọng là chuyện không bao giờ thừa. Cậu lái xe hay bép xép thiếu ý tứ, được bà cho nghỉ phép về quê. Và may mắn thay, trong ngót chục cán bộ trưởng phòng dưới quyền bà, có một anh trưởng phòng vật tư là người “hội” đủ các tiêu chuẩn: ngoài 30, cao lớn đẹp trai, vốn là dân đi lao động bên Tây về, túi lúc nào cũng dày cồm cộp, có bằng lái xe, lại cũng là một tay cực kỳ vui vẻ dễ chịu.
- Này Thân! - Một hôm bà giám đốc nói với anh trưởng phòng cung ứng vật tư - Cậu thu xếp công việc của phòng, rồi đi lái cho chị ít ngày. Được không?
Mắt anh trưởng phòng vụt sáng:
- Dĩ nhiên. Em vô cùng hân hạnh, thưa chị!... Đi có xa không ạ?
- Loanh quanh trong thành phố thôi. Có vài nơi xa như Hải Phòng, Quảng Ninh. Khi nào đi, chị báo cho mà chuẩn bị.
- Vâng ạ, vâng ạ.
Buổi sáng đầu tiên anh trưởng phòng nhận tạm “chân” lái xe riêng cho bà giám đốc là một buổi sáng cuối năm ấm trời, mưa lây rây. Anh lái xe bận com lê, cavát trông rất đường bệ. Còn bà giám đốc bận toàn đồ len may theo kiểu thể thao bó sát người, quần xám nhạt, áo vàng mơ, mũ nồi đội lệch trắng như tuyết. Bà không ngồi ở đệm ghế phía sau, mà ngồi ở chiếc ghế dành cho người phục vụ ở ngang với anh lái. Bà thích thế, vì nó tiện cho hai chị em nói chuyện dọc đường. Khi chiếc xe con lướt quanh bờ Hồ, có mấy cô công nhân của công ty tình cờ trông thấy. Họ bấm nhau:
- Trông đẹp chưa kìa!
- Cứ như hai vợ chồng Tây!
- Khẽ mồm chứ! Đến tai bà ấy thì...
Sự thật, dù mấy cô công nhân có hét to lên, hai người trong chiếc xe đóng kín cửa, phóng nhanh, làm sao nghe được. Và lại, cũng đúng lúc ấy họ đang mải nói một câu chuyện khá là hấp dẫn.
Bà Vi chợt thở dài, buông lửng:
- Chuyến này liệu cử ai đi Nhật đây?
Thân quay ngoắt sang phía bà:
- Sang Nhật làm gì thế? Thưa chị.
- Sang nhận máy mới.
- Có lâu không ạ?
- Vài ba tháng gì đó. Máy hiện đại lắm, nhận xong còn phải ở lại học quy trình sử dụng...
Chiếc xe dừng lại trước một ngã tư vừa bật đèn đỏ. Đèn đỏ tắt, chuyển sang đèn xanh, nhung chiếc xe vẫn đậu nguyên chỗ cũ. Bà giám đốc đập tay vào vai người lái:
- Ngẩn ngơ cái gì thế?
Người lái như giật mình, giọng đàn ông nũng nịu nghe nhão nhoẹt:
- Cho em đi với. Chị!...
- Đi đâu?
- Chị vừa nói đấy thôi.
Chiếc xe qua khỏi ngã tư, chạy chậm hẳn lại. Bà giám đốc hơi ngả người về phía tay lái, để giải thích cho Thân hiểu: phải là kỹ sư giỏi mới đi nhận máy được. Nhận máy về còn phải trực tiếp thao tác, sản xuất hữu cơ. Thân làm sao có đủ trình độ ấy. Vả lại, cái ghế trưởng phòng của anh bỏ cho ai?... Thân lắng nghe chăm chú, hết nhíu mày lại nhoẻn cười ỏn ẻn:
- Chị ơi! Chị không thương thằng em của chị thì đúng hơn. Chứ ở bên Tây, em còn lạ gì các loại máy Nhật, máy Đức, máy Mỹ nữa ạ.
Lần thứ hai, bà giám đốc làm một động tác như vuốt nhẹ lên người Thân, và mỉm cười:
- Hãy tập trung vào tay lái đã nào!
Hôm sau, trên cổ tay Thân xuất hiện chiếc đồng hồ bé xíu - bé như cái cúc giả đính trên ngực áo bà giám đốc - và vàng choé. Bà giám đốc hỏi đùa.
- Lại cuỗm đồng hồ của vợ, hay của “nhí” nào thế?
Thần có vẻ hờ hững, lắc đầu:
- Thứ “dởm” bằng nhựa mạ đấy mà - Anh ta vừa nói, vừa tháo đồng hồ - không tin, chị cầm thử mà xem.
Lúc Thân trao chiếc đồng hồ nặng trịch vào tay bà giám đốc, bà bỗng giật mình chửi thầm anh ta là “thằng xạo” nhưng chỉ im lặng nguýt một cái “nẩy lửa” lên gương mặt ngăm ngăm có cái cằm để râu ngắn xanh rì của anh ta. Giọng bà như ra lệnh.
- Cầm lấy! Bỏ vào túi cho cẩn thận. Sức vóc như con gấu mà lại đeo cái thứ trang sức phụ nữ, không biết dơ!
Chuyện về cái đồng hồ tạm dừng ở đây. Hàng ngày, Thân vẫn cần mẫn đánh xe đến nhà bà giám đốc đón bà đi công vụ cuối năm, chiều lại đưa bà về tới sát bậc thềm. Thời gian mùa đông trôi đi thật dễ chịu. Giữa hai người, vừa là thủ trưởng và cấp dưới, vừa như hai chị em, vừa như đôi bạn hợp “gu”. Có lúc lại như một cái gì khác cũng giận hờn nũng nịu hay đáo để.
Cho tới một buổi chiều nhập nhoạng, thành phố đã lên đèn, hai chị em về tới đầu cầu phía Bắc thành phố thì chiếc xe bị “pan” nằm lại dưới rặng bạch đàn mất non tiếng đồng hồ. Thân mở capô vặn vặn gõ gõ. Anh ta tháo chiếc đồng hồ “mạ”' vàng đưa cho bà giám đốc ngồi trong xe:
- Chị cầm hộ em. Vướng quá.
Bà giám đốc bảo:
- Bỏ vào túi không được à?
- Trời ơi. Bộ quần áo dính dầu mỡ vào thì nguy!
Khi xe được chữa xong, bà giám đốc đưa trả chiếc đổng hồ. Thân gạt đi.
- Em mừng tuổi chị đấy!
- Sao lại thế! - Bà giám đốc thốt lên cùng lúc với một ý nghĩ vụt lóe trong đầu: “Dễ thường cái vỏ đồng hồ này tới hai lượng chứ không ít hơn” - Này. Cầm lấy! Tôi kỷ luật cho bây giờ!
- Ha! Ha!... Thân bật cười - Nó hợp với cổ tay chị. Tay em mà đeo nó, chướng mắt lắm...
- Đừng lôi thôi. Cầm lấy!
- Thôi được - Thân nói đúng đỉnh, nhưng rất dứt khoát - Chị đã bướng thế thì phải oẳn tù tì vậy.
Nói dứt lời, Thân bật đèn trần chìa hai nắm tay to như hai quả chùy ra trước mặt bà giám đốc. “Bà chị chỉ được đoán tay nào không thôi đấy nhé?”. Việc ấy chẳng khó gì vì ở nắm tay trái của Thân có một mẩu cái dây đồng hồ bằng nhung lòi ra ngoài.
Bà giám đốc cười ngặt nghẽo, chỉ ngay vào nắm tay phải của Thân. Anh ta reo lên “xong!” và đưa chiếc đồng hồ cho bà. Bà giãy nảy:
- Ơ! ơ! Chị đoán sai chứ?
- Ôi, bà chị! Em có giao hẹn chị tay nào có đâu?
- Vớ vẩn! Không ai oẳn tù tì như thế.
- Mặc kệ!
Bà giám đốc chưa kịp cãi đã bị Thân ôm chặt hai bên vai. Một bàn tay của Thân đút chiếc đồng hồ tận đáy túi quần len của bà giám đốc, làm bà như bị điện giật trong cơn bấn loạn bất ngờ, người nóng rực lên.
Nhưng bà còn biết làm thế nào khác hơn là ẩy vai Thân ra, và lừ mắt:
- Liệu hồn!
Thế thôi. Hai người qua cầu về thành phố. Sáng hôm sau, Thân lại đánh xe đến đón bà giám đốc. Hai người lại nói những chuyện vui vẻ giết thời gian dọc đường.
Đăng nhập để trả lời
★ ★ ★ ★ ★ 0
ĐÁ KHÓC

 

Trận mưa khác lạ. Như có người cầm thùng nước từ khoảng không tối mịt mùng trút xuống, không hề dừng tay. Sấm chớp cũng khác lạ. Sét nổ liền liền. Bầu trời bị xé tơi tả bởi những làn roi sáng quắc. Mặt đất bị nâng lên đặt xuống, chòng chành, rung giật hên hồi.
Hơi mưa khét lẹt mùi lửa.
Những người mẹ suốt đêm ôm chặt con trẻ để chúng khỏi giật mình. Người già cũng giật mình thon thót nằm đoán xem sét đánh xuống nơi nào. Cây đa lò rèn, kho phân đạm, bến sông, bãi tha ma, trạm bẻ ghi xe hỏa, trạm ra đa phòng không của bộ đội, đài thiên văn, trạm biến thế 110 ki-lô-vôn,... Hình như cả ngần ấy nơi đều bị sét đánh.
Ông Thiên lôi say rượu, râu tóc nháng lửa, mắt đỏ nọc, hai tay búa tầm sét bổ túi bụi vào khối bóng tối bao trùm mặt đất. Tới chừng ông ta thấm mệt thu lưỡi tầm sét về trời, mưa gió cũng tạnh theo.
Trời rạng. Thứ ánh sáng màu ngà len dần vào khe cửa. Bầu không khí tuyệt nhiên không một hạt bụi và thoang thoảng mùi lá xanh lẫn hơi mưa nhàn nhạt còn vương lại. Mưa xô rau dền, cà, mía đổ xiêu vẹo, xác mối rụng lẫn lá tre lá xoan lạp xạp lối ngõ.
Có tiếng người la thất thanh ngoài bờ sông Nông Giang.
- Bớ làng nước, mau ra. Nàng đi mất rồi!
Làng Nhồi có quả núi đá gọi là núi Nhồi. Trên đỉnh núi Nhồi có một tảng đá cao vòi vọi mang hình người thiếu phụ đứng nhìn về hướng nam. Ngày nay chưa nhà điêu khắc nào tạo ra được cái dáng âm thầm chờ đợi giỏi như thế. Đó là NÀNG VỌNG PHU.
Ngày xửa ngày xưa, giặc giã nổi lên tứ tung, bờ cõi đất nước triền miên bị xâm lấn, mùa màng bị tàn phá, cơ nghiệp của trăm họ bị cướp bóc, người hiền tài bị chém giết, hãm hại, những bộ lạc yên lành lần lượt bị triệt hạ.
Và những chàng trai dũng mãnh đã nối bước nhau cầm vũ khí lên đường. Một bên trời rền vang tiếng kêu cứu khóc than. Một bên trời ướt đầm nước mắt ly biệt mẹ tiễn con, vợ tiễn chồng.
Chồng nàng trước khi khoác cung tên lên ngựa còn ngoái dặn: Chiến trường lan tới đâu chàng sẽ cho quân sĩ đốt lửa tới đó. Ban đêm nàng cứ lên núi nhìn ánh lửa, ban ngày thì nhìn khói bốc cao mà biết nơi chàng ở.
Giặc giã bị đẩy lùi. Chiến địa nay ở gần mai ở xa, ánh lửa và cột khói ngày một mờ dần. Nàng thì vẫn ngong ngóng đứng chờ chàng. Chờ mãi. Chờ mãi. Đến tận bây giờ.
Nghe tiếng người la, cả làng Nhồi túa ra đông nghịt bờ sông. Mấy cụ già mắt lấp lóe hãi hùng cả quyết rằng Nàng đã lên trời. Không có sự lạ này cớ sao có trận mưa gió ghê gớm và sấm sét ghê gớm làm vậy.
- Không!
Làng nước ơi không phải nàng lên trời!
Chính cái lúc chớp chạy ngoằn ngoèo dưới chân trạm ra đa, có một người từ đâu đã tới ôm ngang hông nàng, thì thầm với nàng.
- Nàng ơi. Anh đã về!
Nàng ngỡ đó là tiếng sấm sét từ xa dội tới.
Người kia lại thì thầm:
- Nàng ơi. Anh đã về!
Tiếng gọi vang lên đủ một vía đàn ông - tức là đủ bảy lần - nàng mới bàng hoàng nhận ra giọng người chồng đã ra đi từ những kỷ nguyên trước. Nàng bủn rủn chân tay. Hòn Vọng Phu bao bọc nàng bỗng rung rinh nứt rạn rơi xuống ầm ầm, rền rĩ, đêm qua người làng Nhồi đều nghe rõ nhưng ai cũng ngỡ là một dây sét đánh xuống đỉnh núi.
Trong vòng tay của người đàn ông, nàng nức nở:
- Thần linh hỡi. Phải chăng Người sai ma quỷ hóa thành chàng để thử lòng tôi?
- Tỉnh dậy đi nàng ơi! - Chàng lay gọi - Anh đã về !
- Thần linh hỡi. Hãy nói cho tôi hay, con người này là ai. Sao khéo bắt chước giọng nói của chồng tôi, khéo bắt chước hơi thở và đôi tay mạnh mẽ cuồng nhiệt của chồng tôi làm vậy?
- Anh đây. Nàng! Anh đây, chẳng phải ai khác...
- Xin Người nói đi. Người đừng đứng trên chín tầng mây nhìn xuống cười nhạo tôi. Vì chàng, vì lời chàng dặn, tôi đã quên hết thời con gái quý hơn ngọc ngà châu báu, quên hết năm tháng, quên cả thế cuộc chuyển vần núi biến thành sông, sông biến thành biển.
Chẳng lẽ vì thế Người cười nhạo tôi?
- Trời! Nàng quên anh thực rồi sao? - Chàng đau đớn thốt lên - Nếu nàng đã thực sự quên anh, anh còn về đây làm gì!
- Ôi... - Thiếu phụ nghẹn ngào - Quên chàng thì cớ sao em còn đứng đây ngóng đợi. Nhưng lấy gì để em tin đích thực là chàng?
Người chồng hoảng sợ ôm ghì vợ vào lòng mình, miệng lắp bắp tuyệt vọng:
- Hàng vạn năm trôi qua. Anh còn biết lấy gì làm bằng chứng để em tin?
Không ngờ, khi hai cơ thể áp chặt vào nhau đã giúp cho thiếu phụ bừng tỉnh nhận ra mùi mồ hôi, hơi thở, cùng cái ghì xiết điên dại của chồng.
- Nàng ơi - Chàng nói lẫn trong hơi thở - Anh xa nàng từ thuở rừng nước lan tràn mặt đất, hùm sói ở lẫn với người. Anh hết vào nam lại ra bắc, hết lên đông lại xuống đoài, ở đâu bờ cõi bị xâm lấn, ở đâu có tiếng khóc than kêu cứu, nơi đâu cần người cầm gươm trấn ải, nơi đâu cần người mang giáp trụ xông pha, là nơi ấy có anh. Anh từng sống đi chết lại mấy nghìn lần có lẻ. Vậy mà có ngày nào đêm nào lòng anh nguôi nhớ nàng. Anh nhớ mái tóc như mây như suối, đôi mắt như sương như sao, giọng nói êm đềm thấm mềm sỏi đá, và nhớ bộ ngực căng đầy men say của nàng. Cớ sao bây giờ mặt nhìn rõ mặt, tay nắm chặt tay mà nàng còn mải trò chuyện cùng ai. Thần linh ư. Chẳng có thần linh nào sánh nổi lòng anh thương nàng!
Nàng quỳ thụp xuống chân chàng và òa khóc xin chàng đừng buồn, hãy tha thứ cho sự thận trọng vừa rồi của nàng. Chàng đeo hất khẩu súng lại sau, vội vàng bế bổng nàng trên hai tay. Nụ hôn rất dài lấp đi những lời phân trần của nàng.
- Chuyện còn dài hơn sông - chàng nói - rộng hơn biển. Làm sao đứng giữa trời đêm mưa gió thế này mà kể cho hết. Hãy về ngôi nhà của chúng ta đã, nàng nhé?
Vẫn bồng nàng trên tay, chàng đạp lên những mũi đá tai mèo lởm chởm, lần bước xuống núi. Mưa vẫn dăng dăng. Những hạt mưa nhọn như tên bắn vỡ tan trên vai trên tóc hai người. Gió thổi tung xiêm áo trên người nàng. Chốc chốc tấm thân mềm mại nóng ấm của nàng lại lộ ra trắng ngần, ngốt ngát dưới ánh chớp. Chàng vừa đi vừa áp má, áp trán vào đôi bắp đùi, vào cặp vú ngà ngọc của nàng. Nỗi thèm khát bị nén chặt bấy lâu giờ bỗng bùng sôi khiến trái tim chàng bấn loạn... Bất giác hai cánh tay nàng ôm chặt lấy cổ chàng, chặt đến nỗi làm chàng nghẹt thở. Nàng thét:
- Con quỷ. Con quỷ. Chạy mau lên chàng ơi!
Chàng bừng tỉnh, vội đặt nàng đứng xuống, thoắt cái khẩu súng tiểu liên đã lăm lăm trong tay. Nhưng con quỷ ở đâu? Chàng căng mắt nhìn qua mưa tối.
- Đó kìa! - Nàng líu lưỡi - Con quỷ mười hai mắt đang ngồi rình trên núi ấy!
Ha ha ha. Chàng ngớ người, cười rũ. Khẩu súng lại được đeo vào chỗ cũ. Cái mà vợ chàng gọi là con quỷ mười hai mắt chính là cây cột phát sóng của đài vô tuyến truyền hình. Mười hai cái bóng đèn xanh đỏ mắc từ dưới lên trên để đề phòng nguy hiểm cho máy bay bay đêm. Khổ nỗi, chàng không có cách gì giúp nàng hiểu được những danh từ như cột phát sóng, đài vô tuyến truyền hình, máy bay, bóng đèn... có ý nghĩa như thế nào.
Nàng nghe chàng giảng giải hồi lâu rồi chợt hỏi:
- Thế nó có ăn thịt người không?
Chàng đành nhịn cười.
- Không. Con vật này không ăn thịt người. Nó cũng không ăn thịt chim chóc, thú rừng. Nghĩa là nó không biết ăn gì cả.
Mặc dù vậy, khi đi ngang qua hàng cột điện đứng trong mưa, nàng vẫn phải bám chặt lưng áo chồng và nhắm nghiền mắt cho đỡ sợ. Tiếp đến mấy lần nàng kinh hãi rú lên trước tòa khách sạn cao tầng, trước tiếng động phát ra từ nhà máy nhiệt điện của thành phố.
Sau cùng, nàng chết ngất trên tay chàng khi họ dấn bước đi thẳng vào miệng con chằn tinh là mấy nhịp cầu sắt bắc qua sông.
Mưa tạnh vừa lúc hai người gặp biển. Ngoài ba lớp sóng chấp chới lân tinh, mặt biển lặng trang. Chàng ngồi xuống một mô cát, thả đôi chân mỏi nhừ ra bãi biển mặc cho sóng liếm và bế cho nàng ngủ yên trong lòng mình giữa tiếng gió chuốt à à trên rừng phi lao.
Mấy tiếng đồng hồ xúc động và hãi hùng làm nàng như kiệt sức ngủ lịm trong vòng tay ấm áp của chồng.
Những cánh rừng mọc lên rồi lại lụi tàn, lại mọc lên, lại lụi tàn. Những dòng sông hùng vĩ lần lượt sinh ra, biết bao lần thay hình đổi dạng. Những người làm bản đồ và viết sử đời đời nối tiếp nhau ghi lại sự chuyển dời của đại dương và lục địa, của các triều đại thịnh, suy, trị, loạn. Gió mưa đã bào mòn nhiều dãy núi trùng điệp thành bình địa. Duy có vẻ đẹp thủy chung của nàng thì vẫn y nguyên như ngàn năm trước, vạn năm trước. Gương mặt nàng lúc ngủ vẫn sáng trong, trẻ trung đượm buồn, quyến rũ mê hồn.
Tráng sĩ đắm đuối nhìn vợ ngủ như nàng tiên thiêm thiếp chốn bồng lai. Chàng quên lau dòng nước mắt ứa ra từ đôi mắt dạn dĩ từng chứng kiến cơ man cơn binh lửa, cơ man cảnh điêu tàn. Nước mắt chàng từng giọt rơi xuống gương mặt nàng, loang tới đâu, da dẻ nàng hồng tươi và tỏa thơm nồng nàn tới đó.
Còn gì xứng đáng được đền đáp hơn tấm lòng son sắt của nàng. Còn gì đáng được nâng niu trân trọng hơn giấc ngủ êm đềm của nàng trong lòng chàng. Chàng sẽ ngồi như thế hết giờ này sang giờ khác, hết ngày nọ sang ngày kia, miễn sao giấc ngủ của nàng không bị gián đoạn. Từ nay, chàng nghĩ, như một lời nguyền cùng nước non trời đất, rằng chàng xin hiến dâng trọn vẹn sức lực và tâm trí của chàng cho nàng. Chàng sẽ là kẻ đáng nguyền rủa muôn đời nếu có một giây phút chàng gây cho đôi mắt thiên thần của nàng thoáng chút ưu phiền.
Tình yêu và nhan sắc của nàng cho phép chàng tin chắc mình là người hạnh phúc nhất, đáng kiêu hãnh nhất thế gian.
“Nàng ạ - Chàng lại thì thầm nói trong khi nàng ngủ - Ngôi nhà của vợ chồng mình năm xưa nay hóa thành biển mất rồi. Nhưng không sao. Giấc ngủ ngon lành của nàng giúp anh đủ thời gian dựng cho nàng một ngôi nhà mới”.
Chàng nghĩ phác ra thứ tự các công việc, rồi mở ba lô lấy tấm võng bạt mắc giữa hai cây phi lao, nhẹ nhàng đặt nàng lên võng như người mẹ ủ con thơ.
Xong đâu đó, chàng rút lưỡi xẻng cài trên nắp ba lô, rút con dao găm đi rừng đeo bên sườn, thoăn thoắt san nền, chặt cột...
Thiếu phụ tỉnh giấc thấy mình nằm trong ngôi nhà lợp lá hãy còn tươi, chiếc giường hãy còn thơm mùi nhựa cây mới chặt, nhưng mà sao giống ngôi nhà xưa của hai vợ chồng đến thế. Sóng biển ì ầm vọng tới, cũng vẫn y nguyên như thế, như cái thuở chàng từ biệt nàng.
- Đây là đâu? - Nàng nhổm dậy hỏi chồng, trong lòng vui rộn rã.
Chàng đang lúi húi ngoài hè chạy vào:
- Nàng xem. Ngôi nhà của vợ chồng mình vẫn y nguyên như xưa. Nàng còn nhớ trên cây cột này vẫn treo những gì không?
Nàng nhíu mày.
- Em nhớ rồi. Chàng treo ở đó cái vẩy con khủng long, cái sừng con tể ngưu, và cái vuốt con quái điểu chàng bắn được.
- Giỏi lắm - Chàng reo lên nhưng liền đó lại thở dài - Rừng thời nay khác lắm rồi. Chẳng tìm đâu ra khủng long, tể ngưu, quái điểu. Anh vừa đi dạo một vòng, chỉ kiếm được vài con chồn, con nhím và mấy con chim nhỏ mà xưa kia chẳng để ý gọi là chim gì - Chàng chợt nhăn mũi ngộ nghĩnh - Nàng có ngửi thấy mùi thịt nướng không?
Mùi thịt thú rừng chàng nướng bên ngoài sực thơm vào nhà, khiến nàng thấy đói ngấu. Nàng thẹn thùng nhìn quanh:
- Mấy cái xiên thịt để nướng, từ ngày xa chàng không biết em vứt đâu.
- Không sao. Nàng đi rửa mặt cho tỉnh ngủ rồi vợ chồng mình ăn cơm.
Lúc dựng nhà xong, thấy vợ còn say giấc, tráng sĩ đã bận rộn làm cơm một cách hào hứng. Chàng bắt cá biển lên rán, bắt cua biển về luộc, đi săn thú về nướng chả. Mỡ thú và mỡ chim rơi xuống cháy xèo xèo trên lớp than hồng nghe mới vui tai làm sao. Chàng làm luôn tay và hát luôn miệng.
Người vợ rửa mặt xong, mâm cơm đã được dọn ra đủ các món. Món cuối cùng được bày lên mâm là mấy khoanh giò hộp - Đồ hộp chiến lợi phẩm chàng mang từ chiến trường về - và một ăng gô canh tập tàng, thứ canh chỉ có những người lính mới biết kiếm ra.
Tráng sĩ nhìn mâm cơm, mặt rạng rỡ tự hài lòng.
- Cỗ cưới lại của chúng ta đấy. Mình ạ!
Chàng ăn rất ngon miệng. Quá lâu rồi chàng mới lại biết đến không khí đầm ấm trong bữa ăn gia đình.
- Món này - chàng chỉ vào mớ lá khổ qua thay rau sống - Nàng có ăn được không? Hơi đắng một chút nhưng ăn quen mới thấy nó có vị bùi, vị ngọt lạ lắm kia. Ngoài mặt trận bọn anh vẫn ăn lá khổ qua với cá lóc nướng sỏ lụi, ngon tuyệt trần. - Chàng choáng trầm ngâm, đôi mắt hướng ra khoảng trời ngập nắng - Ấy là những ngày không có chiến sự, được sống yên thân giữa rừng. Còn những ngày bom đạn, những ngày địch ruồng bố, những ngày đi chiến dịch, thì khổ hết chỗ nói, phải nằm hầm bí mật, phải chém vè vùi lút mình trong sình lầy, nhịn đói nhịn khát... Không thể nhớ có bao nhiêu bạn hữu anh đã bỏ mình, máu chảy thành sông, xương chất thành núi nơi chiến địa. Ơ kìa, sao đĩa cá vẫn để nguyên thế. Nàng không ăn ư?
Thiếu phụ đỏ bừng hai má vì ngượng và vì thương chồng. Quả tình nàng không tài nào ăn được những món ăn chàng làm ra. Ngay như thịt thú rừng nướng là món ăn quen thuộc từ xa xưa mà nay nàng cũng không dám động đũa tới. Nàng không chịu được mùi gia vị chàng nêm vào. Tội nghiệp chàng. Hễ chàng gắp cho nàng, nàng lại chờ dịp chàng mải kể chuyện hoặc nhìn đi nơi khác để gắp trả lại. Thế là một mình chàng nấu, một mình chàng ăn. Chàng bỗng buồn đến rộng ngực. Có lẽ mình kể bao nhiêu là chuyện, những câu chuyện chất chứa từ thế kỷ này qua thế kỷ khác, chờ có một ngày được kể chỉ cho một người nghe là nàng, nhưng xem ra lúc này chàng cũng chỉ kể được cho chính chàng nghe mà thôi. Trong khóe mắt màu da trời mà chốc chốc nàng lại liếc trộm chàng, chàng vừa bắt gặp cái gì xa lạ, giống như nẻo đường bước lạc, càng đi càng dấn thêm vào cõi hoang sơ.
Từ lúc đó, hai vợ chồng im lặng đến cuối bữa ăn.
- Nàng ơi - Chàng phá tan im lặng - Nàng mệt lắm phải không?
Nàng lắc đầu.
- Nếu không, xin nàng hãy kể chuyện cho anh nghe với. Đường chinh chiến muôn dặm anh rẽ chông gai tìm đường về với nàng, để rồi chúng mình ngồi lặng lẽ nhìn nhau mãi thế này ư?
Nể lòng chồng, nàng cố nhớ vài câu chuyện chỉ còn ghi lại bằng những vết rạn nứt lờ mờ trên vách đá. Chuyện trước tiên nàng nhớ lại là con khủng long nằm vắt từ mép vực bên này sang mép vực bên kia, vời những cái vẩy sừng cong vênh sắc lẹm, với những cái móng nhọn bấu thủng đá, khoét thủng núi.
Nét mặt chàng càng nghe càng ngơ ngác.
- Con khủng long?
- Vâng. Chàng đi được ít hôm thì nó thổi bão ầm ầm trườn đến. Nó nằm sau nhà, tính bắt em. Chỗ nó nằm đất lún thành con sông Bạng. Rồi nó đuổi bắt đàn trâu vàng nhà trời. Đàn trâu vàng lặn xuống khu đầm Rủn. Chàng Thạch Sanh bơi qua đầm Rủn đi chém chằn tinh còn nàng công chúa lại trốn vào quả thị...
Nàng dần dần trở nên lưu loát. Gương mặt nàng đẹp lung linh nhờ những hang động u thầm, những vỉa đá rêu phong biết nói, những tiên nữ giáng trần hóa thành con cóc, con rùa,con ngao, con hến, những vị thần gió, thần nắng, những thềm rừng bị lún chìm, những âm thanh lanh canh của vòng đá nhạc đồng cùng hiện lên hòa trong giọng nói của nàng. Nhưng nàng hỡi. Nàng có để ý chăng đôi mắt chàng đang thay đổi đến lạ lùng. Lúc nàng bắt đầu kể, đôi mắt chứa chan hy vọng lẫn vui sướng của chàng lấp loáng như hai mảnh mặt trời mới mọc, giờ thì đôi mắt ấy giống như hai vực thẳm âm u phủ mây, và những tiếng đập cô đơn như đá lăn núi lở trong ngực chàng. Chàng chua chát tự thú nhận đến lượt mình không thể hiểu nàng đang nói những gì.
Muốn bảo vệ giang sơn bờ cõi, những tráng sĩ không chí cần có tình yêu xứ sở và lòng can đảm. Mục đích của họ không phải là ra đi để chọn cho mình một cái chết anh hùng, mà để được sống tươi vui giữa núi sông bền vững. Lịch sử đòi hỏi họ luôn luôn phải đứng trên tuyến đầu của thời hiện tại, không bao giờ được là con người của quá khứ. Đối với mọi người lính, sự lỗi thời đồng nghĩa với bị tiêu diệt.
Chồng của nàng Vọng Phu là nhân vật như vậy.
Những bữa ăn tương tự được lặp đi lại nhiều lần. Người chồng càng gắng sức chiều chuộng vợ, chàng càng thất vọng, vì không sao đáp ứng được những khẩu vị của nàng. Chàng bèn nảy ra sáng kiến đưa nàng đi chơi đây đó cho nàng dạn dần với xã hội đương thời.
Chợ thị xã ngày nào cũng họp, la liệt hàng quán, đủ các thứ quần áo, các món ăn. Hàng của mậu dịch quốc doanh bày trong quầy. Hàng của tư nhân bày trên các bệ xi măng, chõng tre, thúng, mẹt. Liệu ở đó nàng có tìm được thứ gì nàng ưa thích chăng? Chí ít cũng giúp nàng khuây khỏa thoát ra khỏi túp lều chật hẹp của hai vợ chồng. Nhưng không. Đối với nàng, cơm, phở, giò, chả, bánh trái ở chợ còn đáng sợ hơn cả những thứ ở nhà chàng tự tay làm ra.
Trên đường từ chợ về, nàng bảo chàng:
- Chàng đừng lo cho việc ăn uống của em. Bao nhiêu năm em có nghĩ gì đến ăn uống đâu.
Chàng cắt ngang lời vợ:
- Nàng nói thế mà nghe được sao?
- Em nói thực lòng...
- Nàng nên nhớ - Lần đầu tiên chàng tỏ ra bực bội trước mặt vợ - Nàng nên nhớ là nàng đang sống giữa đời chứ đâu phải...
Chàng định nói: chứ đâu phải là một hòn đá đứng trên đỉnh núi. May sao chàng đã kịp kìm lại.
Nàng thở dài đau xé lòng:
- Em biết vì thế mà em đang làm khổ chàng.
- Thôi đi! Nếu nàng muốn anh đỡ bận lòng, cớ sao nàng không cố gắng làm quen với cuộc sống hiện nay? Thí dụ, món trứng rán có gì là khó ăn? Món thịt kho, cà ghém, canh chua, đàn bà con gái khắp thiên hạ đều ăn. Người ta đâu có khó tính như nàng?
Mắt nàng rơm rớm ướt. Chàng biết mình vừa lỡ lời. Chàng định “tạ tội” với nàng bằng câu chuyện về cái đận đơn vị của chàng bị vây hãm trong vùng đầm lầy. Những người chết vì đói, rét, rắn cắn, muỗi đốt, có người tự tử vì không đủ can đảm sống. Cứ thế, những tay súng thưa dần, đơn vị mỗi ngày một thêm kiệt sức, cái thảm cảnh từng người sẽ bị quân thù lôi ra mổ bụng moi gan dường như đã hiển hiện. Sau cùng, những người còn sống sót nghĩ được một mưu kế phá vòng vây. Nhưng chẳng may, đêm “mở đường máu” phá vây, chàng đã bị lạc đồng đội. Ròng rã hàng tháng trời chàng phải lẩn trốn dưới những chùm bèo trôi dập dình trên mặt nước, trong những lùm gai góc um tùm, dọc những khe lạch nước vàng rỉ sắt và nồng nặc mùi xú khí. Chàng phải đón đường hổ báo để giành giật miếng ăn với chúng. Chàng đã phải lần mò vào động trăn gió, dồn hết sức bình sinh đánh bật con trăn mẹ ra để cướp lấy ổ trứng trăn mà nuốt chửng. Chàng đã phải nhai sống cóc nhái, rắn rết, chuột bọ, miễn sao tránh thoát cái chết cô quạnh giữa bưng biền. Những miếng ăn như thế, giờ nhớ lại, chàng vẫn muốn nôn thốc nôn tháo vì tởm lợm...
- Chàng đừng kể nữa!
- Nàng sợ ư?
Chàng quay lại đã thấy nước mắt nàng lã chã. Chàng cuống quýt dùng vạt áo lau nước mắt cho vợ.
- Tha lỗi cho anh - Chàng run rẩy cầu khẩn - Nàng nhé! Từ nay anh không bao giờ dám kể những chuyện như thế nữa.
Hai vợ chồng dừng chân ngồi nghỉ dưới bóng cây. Nàng tựa đầu vào ngực chàng. Đôi bàn tay mềm như bột lọc của nàng xoa mãi lên má, lên cằm, lên đôi gò má đen sạm của chàng. Nàng nghẹn ngào:
- Chàng đâu có lỗi. Chỉ tại em...
Từ đây, không một cặp vợ chồng nào trên thế gian có thể hết lòng vì nhau như họ. Họ tìm mọi cách để đền đáp cho nhau, tìm mọi dịp để làm đẹp lòng nhau. Nhưng hỡi ôi, chỉ có trong cõi thầm kín nhất của trái tim, từng người mới biết họ đang phải gắng gượng biết chừng nào. Ngọn lửa nhỏ lóe sáng thành sấm sét, niềm hân hoan vỡ ra thành mưa, khiến đá phải tan rơi lả tả, thì cứ nguội dần, nguội dần, không sao nhóm lại được.
Có thật chàng đã đem hạnh phúc về cho mình? - Nàng âm thầm tự hỏi - Lòng nàng quặn đau nhớ những buổi chiều mây sà xuống dưới chân nàng, xa xa biển Đông chậm rãi chuyển từ màu xanh lam sang tím nhạt, từ tím nhạt sang màu tro bạc ảm đạm, rồi những lằn sóng lân tinh chập chờn vây quanh chân trời đêm. Nàng ngóng đợi những cánh buồm hiện ra giữa vòm sương khói, để khấp khởi hy vọng đó chính là chàng đang dong buồm trở về. Dầu biết sau những chút hy vọng mong manh chắc chắn sẽ là nỗi tái tê thất vọng, nhưng nàng không thể không ngóng đợi chàng... Chẳng thà cam chịu như thế, sống với chút hy vọng leo lét như thế, với sự gắng gượng thành nếp quen đời đời như thế, nàng vẫn không khổ não bằng sự xáo động, sự câu thúc từng giờ mà cuộc sống hiện tại đang bắt nàng phải theo kịp nó.
Chàng thì đâm ra đổi tính đổi nết từ bao giờ chính chàng cũng không hay. Chàng thường vắng nhà. Thoạt tiên chàng vắng nhà một lúc, rồi sau vắng một buổi, sau nữa chàng đi đâu suốt ngày, rồi hết ngày nọ sang ngày kia, và mỗi khi chàng lê bước chân về tới nhà là người chàng nồng hơi rượu.
Những cuộc trò chuyện giữa hai người cứ thưa dần, thưa dần. Tới một lúc, họ thật sự không thể nghĩ ra điều gì để nói với nhau nữa.
Rồi một hôm, chàng khoác súng ra đi từ sáng sớm, vàng vàng mặt trời mới chuệnh choạng tìm đường trở về. Tới một cánh rừng thông bên bờ cái thung lũng rộng mọc đầy sim mua chàng mới nhận ra ở bên kia thung lũng đã là ngôi nhà nhỏ bé của vợ chồng mình.
Chàng dừng chân đưa tay vuốt lên lớp vỏ ram ráp của một cây thông non và bật lên tiếng nói. Chà, những cây thông thẳng tắp này, nếu được mắc võng ngủ một giấc thì tuyệt diệu biết bao. Vắng ta thêm một đêm, liệu nàng có nhớ ta chăng. Hẳn là có. Nhưng nhớ nhau và cần nhau lại là hai chuyện khác. Ta có xã hội huyên náo của ta. Nàng có đỉnh núi thinh lặng và trong ngần của nàng.
Chàng mềm lòng trong tiếng thông reo vi vút, trong nắng vàng tràn trề quanh mình, và mơ màng trở lại với cuộc đời chiến trận rày bắc mai đông, nghỉ đâu là nhà nằm đâu là giường, nhẹ tênh trước công danh, nhẹ tênh trước bạc vàng châu báu.
Chàng còn đang dùng dằng với non xanh nước biếc thì chợt giật mình thấy từng cuộn khói vàng bốc cao nơi bờ bên kia thung lũng. Chút hơi men trong người chàng vụt tan. Chàng định thần nhận ra nơi khói vàng đang bốc lên chính là góc rừng có túp lều của vợ chồng chàng. Chàng rẽ sim mua gai góc, chạy như tên bắn qua thung lũng. Thì ra không phải khói, mà là từng đám bụi vàng bị ngọn gió thổi tung lên trời cao. Và từ nơi ấy đang phát ra những tiếng ầm ầm quái lạ.
“Nàng ơi!”, chàng vừa lao mình chạy vừa rền rĩ. “Nếu để cho nàng gặp nạn, anh thật là một kẻ đáng chịu tội trời tru đất diệt”. “Hỡi kẻ thù không đội trời chung! Cho dù ngươi có mệnh danh Thượng đế, hoặc là thiên binh vạn mã của người trần, ta thề sẽ giết chết ngươi để cứu nàng!”.
Lửa giận ngùn ngụt trong lòng chàng. Mũi súng trên tay chàng sẵn sàng nhả đạn. Nhưng, kẻ thù ở đâu trong cái khối bụi mù trời kia? Chàng vừa gầm vang “Nàng ơi, anh đã về đây!” vừa sục sạo khắp rừng để tìm kiếm kẻ tử thù và cuối cùng chàng đành đi đến kết luận là không có một kẻ thù nào cả. Giữa cánh rừng già chỉ thấy có nàng đang giẫy giụa gào thét, đang nhổ bật từng chòm cây cổ thụ, đang vò nát mặt đất, đang xô mình vào gai góc, khiến những mảnh xiêm y của nàng cùng lau lách, cây lá, cát bụi bay tung lên mù mịt. Mãi khi bàn tay chàng run rẩy đặt nhẹ lên người nàng, nàng mới giật mình nằm im, đồi mắt nhìn chàng ngơ ngác sau con ác mộng.
Chàng bế nàng về nhà, đặt nàng nằm lên chiếc giường cây que của hai vợ chồng, và âu yếm lau sạch những vết xước rỉ máu trên thân thể nàng trước khi nàng chìm sâu vào giấc ngủ mệt nhọc.
Tráng sĩ vội cởi bỏ vũ khí trên người, chàng nằm dang rộng cánh tay cho vợ gối đầu, một bàn tay vỗ về lên tấm thân ấm hôi hổi của nàng và cất lời ru cho nàng ngủ: “À ơi... thế gian đá nát vàng phai - Tình nàng le lói sao Mai giữa trời. À ơi... Mòn chân khắp nẻo quê người - Nghìn năm ta chỉ một lời đinh ninh...”.
Về khuya đêm đó chàng chợt tỉnh giấc vì hơi lạnh đang tỏa ra từ thân thể nàng. Lạnh tê buốt. Tiếng sóng từ khơi xa vọng tới nghe sao lạ lùng, sao giống tiếng khóc thê lương, đau xót đứt từng khúc ruột cho thân phận con người. Chàng bất giác sờ tay lên má vợ và kinh hãi thấy má nàng đang đầm nước mắt. Chàng hoảng hốt lay gọi:
- Nàng ơi! Tỉnh dậy! Anh van xin nàng! Cho anh đổi mạng sống cho nàng!...
Bất lực. Chàng bật khóc, nước mắt đỏ như máu. Sự thể không sao cứu vãn được nữa. Nước mắt chàng nhỏ xuống người nàng, loang tới đâu da thịt nàng hóa trở lại thành đá tới đó.
Sáng hôm sau, giữa nền trời trong xanh, mây trắng quấn quanh những vỉa đá xám trên cao, người làng Nhồi lại kéo nhau ra đứng đông nghịt bờ sông. Họ ngước lên đỉnh núi, đầy kinh ngạc:
- NÀNG VỌNG PHU lại trở về!
 

Hà Nội, 20/8/1995
Đăng nhập để trả lời
★ ★ ★ ★ ★ 0
ĐÊM ĐUỐC MÁU

 

Chuyện xảy ra đã non một thế kỷ, mà dường như lại bắt đầu từ ngày hôm nay. Cái ngày hôm nay rộng dài, nói chính xác là vào vụ gặt chiêm năm 1978-1979 gì đó, cách ngày ra đời của truyện ngắn này cũng đã vài thập kỷ chứ ít.
Bấy giờ đánh xong giặc Mỹ, thống nhất được nước nhà, người lớn con nít ai ai đều cảm thấy chủ nghĩa xã hội, cả chủ nghĩa cộng sản nữa, đã rất gần kề. Hợp tác xã cấp thôn lên hợp tác xã cấp xã hết lượt. Chưa thấy hợp tác xã cấp huyện nhưng nghe đâu đang rục rịch. Ruộng đất của chung, trâu bò cày cuốc của chung, buồng cau nải chuối con tôm con tép cũng sắp thành của chung. Vì thế nên hợp tác xã Đông Thành đất chật người đông mới được cấp trên phân phối thêm cho nửa cánh đồng - gọi là cánh đồng Nghè - bên địa phận hợp tác xã Đông Thạch, cho đội sản xuất số 6 của Đông Thành sang làm bên đó.
Đông Thành có tên tục là Kẻ Cồn, còn tên tục của Đông Thạch là Kẻ Chiểu. Kẻ Cồn, Kẻ Chiểu có biên giới chung là con sông Nhà Lê. Cánh đồng Rộc bên Kẻ Cồn và cánh đồng Nghè bên Kẻ Chiểu đều tát nước từ con sông này lên cày cấy tưới tắm.
Nghe nói xưa kia sông Nhà Lê mênh mang con nước thủy triều, thuyền binh của vua Lê chảy qua cờ quạt gươm giáo sáng ngời. Nhưng rồi Tây sang, con đường cái quan chẹn mất long mạch, thủy triều thôi lên xuống, sông Nhà Lê thành con sông nước tù, dân Kẻ Cồn Kẻ Chiểu đôi bên vượt bùn lên để mở mang đồng ruộng, lâu dần lòng sông chỉ còn bề ngang mươi bước nhảng chân và dày chi chít bèo tây. Thứ bèo có lắm tên: bèo tây, bèo Nhật Bản, trong Nam gọi là lục bình, sống khỏe lạ, sinh sôi lan tràn hỗn như ăn cướp, rễ sùm sòa như râu ông Quan Công, cọng cao tầy đòn gánh, gốc chen khít rịt người có thể trườn trên đó mà không dính nước.
Đội 6 Đông Thành kéo bèo tây đắp dầy thành cái cầu phao qua sông để tiện sớm tối đi về. Người Kẻ Chiểu nhìn những thửa ruộng miếng gan miếng tiết do ông cha mình truyền lại nay không cầm cố bán chác gì mà bỗng dưng lọt vào tay người Kẻ Cồn thì tức ngầm tức ngột trong lòng. Đã thế lại còn phải nghe tiếng hát hổng véo von, tiếng cười hí hố của họ nữa. Cứ như trêu ngươi nhau. Mà khéo là trêu ngươi thật cũng chưa biết chừng. Kẻ Cồn xưa nay là đất phát quan, phát cả võ lẫn văn, ngay thời nay cũng thế, nên dân Kẻ Cồn nhìn dân kẻ khác không khỏi ít nhiều có phần khinh thị.
Tuy vậy, qua một vụ chiêm cấy lúa sang một vụ đông trồng đậu lạc ngô khoai, dân làng hai phía chỉ mặt nặng mày nhẹ với nhau chứ trên nửa cánh đồng Nghè chưa xảy ra chuyện gì. Nhưng, bước sang vụ chiêm năm sau là lôi thôi rồi. Giữa lúc lúa đang ngậm đòng đòng, đêm mưa sầm sập, mà sáng ra khu ruộng của đội 6 Đông Thành không còn hột nước nào. Quái lạ. Tìm mãi mới phát hiện ra những cái lỗ ngầm chọc xiên qua bờ ruộng. Ai? Ai? Ai đã kỳ công làm cái việc quái ác này nếu không phải là âm mưu thâm độc của bọn Kẻ Chiểu! Cả đội 6 Đông Thành túa sang đi lần tìm từng cái hang hốc bí mật để đắp lại, rồi mang gầu giai gầu sòng ra tát nước sông Nhà Lê lên cho lúa làm đòng. Đã thế, phải làm thật hăng, thật náo nhiệt, cho bọn Kẻ Chiểu, cái bọn dốt nát nơm giậm ấy biết tay.
Tới trận mưa rào tiếp theo, mấy tay bộ đội đặc công phục viên ở đội 6 ra phục kích sau các lùm dứa dại, bắt được đứa nào phá hoại sản xuất nhất định đánh què. Nhưng trên cánh đồng mờ mịt mưa chẳng thấy một bóng người lảng vảng.
Tới kỳ lúa chín. Chỉ trong một đêm dân Đông Thạch kéo nhau ra gặt bay mấy sào ruộng tốt nhất của đội 6 Đông Thành, lại đập lúa rũ rơm ngay trong đêm để phi tang.
Đội 6 phát đơn kiện. Rồi ban quản trị hợp tác xã Đông Thành cũng phát đơn kiện lên huyện đòi hợp tác xã Đông Thạch, phải bồi thường số lúa bị gặt trộm. Năng suất mỗi sào được hơn tạ thóc, bắt đền vống lên những 2 tạ rưỡi một sào.
Huyện ủy phải đứng ra dàn xếp. Hễ yên trong đảng thì dân khắc yên. Bí thư Đông Thành và bí thư Đông Thạch được mời lên, không dùng luật mà dùng tinh thần xã hội chủ nghĩa và tình đồng chí đồng bào. Bí thư Đông Thạch thề sống thề chết vụ việc này ông không biết tí gì. Bí thư Đông Thành nóng mặt.
- Thế thì đồng chí lãnh đạo cái gì?
Bí thư Đông Thạch đốp lại:
- Còn đồng chí, đồng chí lãnh đạo cái gì?
- Tôi lãnh đạo cái gì thì lãnh đạo, chứ không lãnh đạo đi ăn cướp.
Bí thư Đông Thạch đập bàn đánh rầm.
- Ăn cướp hả. Chứng cớ đâu?
Bí thư Đông Thành ngắc ngứ. Dân Đông Thạch gặt trộm lúa của Đông Thành, thực là hai năm rõ mười. Nhưng chứng cớ thì không có. Bí thư Đông Thạch hét lên: “Tôi cấm đồng chí nói láo như thế nhé!” rồi xách sà cột phăm phăm bỏ về.
Trong khi mối quan hệ giữa những nhà lãnh đạo mới dừng lại ở những lời lẽ gay gắt thóa mạ nhau, thì dân hai phía đã xử theo cách khác. Đông Thành, Đông Thạch đều không thiếu những sĩ quan chỉ huy, những tay súng dầy dạn ngoài chiến trường, họ bèn kéo ra dàn thế trận dọc hai bờ sông Nhà Lê. Phía Đông Thạch chỉ là một đám đông gậy gộc lố nhố không hàng ngũ. Còn phía Đông Thành, có thê đội một, thê đội hai, lại được yểm trợ bằng đội quân đấu tranh chính trị bao gồm các bà các chị to mồm chửi khỏe, rất lớp lang bài bản.
Một mũi nhọn của Đông Thành bò qua dải bèo tây trên sông Nhà Lê bất ngờ xung phong định đánh chiếm vị trí đầu cầu bên đồng Nghè, bị gạch đá bên Đông Thạch đánh bật trở lại.
Quân Đông Thạch thừa thắng hò nhau tràn sang, cũng bị Đông Thành đánh lui, một người còn bị Đông Thành bắt trói làm tù binh.
Chiến sự bắt đầu từ khoảng hơn 8 giờ sáng, tới non trưa thì thấy cả hai bên xuất hiện những khẩu súng trường CKC, lên đạn rốp rốp. Nhưng vừa lúc đó xe huyện ủy, rồi xe của ủy ban huyện lên. Chắc có người cấp báo.
Từ hai chiếc u oát bước ra có hai ông cấp phó, phó bí thư huyện ủy và phó chủ tịch huyện, cùng gần chục anh công an. Ai hăng tiết mặc ai, những người từ huyện lên đều đi lại thong thả khoan thai,và rất kiệm lời. Ông phó chủ tịch huyện cầm cái loa pin đứng giữa cầu phao bèo tây, nói: “Tôi yêu cầu bà con giải tán, phải trái thế nào sẽ có người giải quyết”. Thế thôi. Súng ống bị công an thu hết bó thành bó bỏ lên xe. Bà con hai bên la ó rầm rầm nhưng là vừa la vừa tản ra về. Công cước thấp tịt. Mỗi công - tức là mười điểm lao động ghi trong sổ - hợp tác xã Đông Thạch mới chia cho xã viên được ba lạng thóc, bên Đông Thành mức ăn chia còn thấp hơn. Từ sáng nhiều người chỉ vội húp bát cháo rau má rau khoai rồi vác vũ khí chạy ra chiến tuyến, có người nhịn veo, giờ thấy các ông trên huyện về giải tán cuộc xô xát tự dưng người cứ mệt thỉu, miệng cố chửi vớt vài tiếng nhưng trong bụng đã muốn về lắm rồi.
Và khúc chuyện đời nay xin được khép lại ở đây, dành thời gian cho chuyện đời xưa. Chuyện đời xưa lại có dính dáng đến chính tôi. Chẳng là dạo đó tôi bắt đầu tập tễnh viết văn viết báo, muốn có một phóng sự về vụ tranh chấp trên cánh đồng Nghè, cốt để bênh làng mình.
Tôi bỏ gần hết kỳ nghỉ phép mười ngày của con nhà lính để lân la hỏi chuyện ông này bà kia, đa phần là các vị chức sắc từ đội trưởng đội sản xuất lên tới chủ nhiệm hợp tác xã, xã đội trưởng, và chánh phó chủ tịch xã, ghi ghi chép chép, đối chiếu tài liệu này văn bản nọ, y như một nhà điều tra. Nhưng tới đoạn chót, còn vài ngày phép cuối cùng thì tôi lại đột ngột hướng về một nhân vật đặc biệt, là cố  Tênh.
Cố Tênh năm ấy đã ngoài chín mươi tuổi. Với cây gậy trúc bóng như ngà cố vẫn thập thững đi lại khắp làng, đầu óc rất là minh mẫn. Cố búi tóc củ hành, bộ râu dài tới nửa thân áo đoạn, râu và tóc đều bạc huôm huôm màu khói. Đôi guốc dưới chân cố Tênh thời này chẳng tìm đâu ra. Nó là hai cái gốc tre đẽo mỏng, mũi cong lên kiểu mũi hài, quai dây mây, đế cao dễ đến mười phân. Guốc ấy mà không kèm cây gậy chống chắc chắn là ngã sấp mặt.
Trong nhà Cố Tênh có rất nhiều sách, toàn sách chữ nho xếp trong những cái giá - những cái quang kẹp thì đúng hơn - treo kín một bức vách. Không bao giờ cố đọc sách ở bàn học của con cháu, mà ngồi chấp bằng trên tấm phản gụ, mỏi thì nằm đọc, đầu gối lên những cái gối vuông vức như hòn gạch vồ bọc vải đỏ xếp chồng lên nhau.
Còn nói năng, bất kể là nói với khách già hay trẻ, bao giờ cố Tênh cũng một thưa hai dạ, nghe rất rườm rà.
Giữa thời buổi học trò gọi thầy giáo bằng anh, trong cuộc họp bố con gọi nhau bằng đồng chí, ăn và mặc đều quấy quá, cố ý phô cái túng cái khổ ra, nói năng vắn gọn thẳng đuột, con người cố Tênh tự nhiên cứ như cái nan đan lỗi trong mặt bằng của xã hội. Và thú thật chính tôi cũng nhìn cố Tênh như nhìn một di vật thời tiền sử trong viện bảo tàng.
Tôi tình cờ được gặp cố Tênh ở một đám cưới trong xóm. Đêm chớm thu trời khô ráo và se lạnh. Rạp cót dựng tràn cả ra vườn. Dưới ánh sáng của những cây đèn quang các bà thong thả nhai trầu, các ông thì đốt thuốc lá khói um. Ở quãng giữa rạp đang lom nhom một cuộc bàn cãi rất sôi nổi. Bàn cãi về vụ tranh chấp lúa má bên đồng Nghè. Một người đàn ông trung niên đứng phắt dậy huơ tay.
- Làng mình non tay bỏ mẹ! Chứ như tôi ấy à, tôi cho tràn sang gặt ráo mấy đám lúa của bọn Kẻ Chiểu đi. Chúng nó ăn trộm lúa của mình, mình lấy lại. Làm gì nổi nhau?
Một người khác cãi:
- Chú nghĩ người Kẻ Chiểu chịu khoanh tay nhìn chú gặt lúa của họ đấy chắc?
- Đứa nào dám ra, nện cho mấy đời!
Thế là một phe chủ hòa một phe chủ chiến đấu khẩu ầm ầm ngỡ vỡ tung rạp. Rồi chợt mọi người im phắc khi cố Tênh rời cái phản kê ở gian giữa trong nhà chống gậy bước ra sân. Cố đứng dưới cây đèn quang, sửa lại khăn xếp cho ngay ngắn rồi mới lên tiếng, nói rất từ tốn mà giọng sang sảng.
- Tôi có mấy nhời xin được góp chuyện cùng quí vị. Tôi thiển nghĩ các quí vị mới biết một mà chưa biết mười. Dùng vũ lực chẳng qua chỉ tấp thêm vào mối hiềm thù truyền kiếp giữa Kẻ Cồn ta với bên Kẻ Chiểu mà thôi.
Cái người đàn ông cầm đầu phái chủ chiến lại đứng lên.
- Thế ý cố nên làm thế nào?
Cố Tênh bỏ qua câu hỏi ấy, nói tiếp.
- Tôi xin hỏi quí vị nào biết ngày cụ Hồ phất cờ khởi nghĩa vì sao bên ấy lấy tên là Đông Thạch, bên ta là Đông Thành hay không?
Nhiều người đồng thanh “Thưa chưa”. Cố Tênh gật đầu bảo ngày mới khởi nghĩa các bậc trí giả còn được trọng dụng chứ không “bình quyền bình đẳng” như bây giờ. Do đó cố cũng được mời ra giúp nước một thời gian ngắn. Cố được tham dự vào cuộc họp đặt tên đời mới cho các kẻ, các giáp.
- Chứ thưa các quí vị. Các quí vị có thấy ngọn núi đá bên Kẻ Chiểu trông xa giống cái ngòi bút chĩa lên trời không ạ?
- Thưa có.
- Ấy đấy. Nếu cái ngòi bút ấy nghiêng sang bên hữu, tức là nghiêng về Kẻ Chiểu, thì đất ấy chính là đất vượng về đường học hành khoa bảng. Nhưng đằng này nó lại nghiêng sang tả, nghiêng về Kẻ Cồn ta, nên đất ta mới phát ông nghè ông cống, phát quan văn quan võ từ xưa tới giờ. Ta lấy tên Đông Thành, thành là thành đạt. Còn bên người ta chỉ có đá, chỉ có cha truyền con nối nghề nơm giậm, khá hơn một chút thì đi làm lái trâu lái bò, nên chỉ gọi là Đông Thạch mà thôi...
Một người có vẻ nóng nảy hỏi:
- Vâng thế thì sao ạ?
Cố Tênh cười mỉm, có ý chê người này cạn nghĩ, nhưng rồi cố cũng nói rõ hơn.
- Người ta nghĩ mình lấy hết cái chữ cái nghĩa cái sang cái trọng của người ta, nên người ta khổ, người ta ganh ghét. Khốn nỗi họ đâu có biết, tự cổ chí kim, phàm đã trọng chữ nghĩa thì làm sao mà giầu có được.
- Ai bảo họ không chịu học cơ chứ?
- Ấy chưa đấy lại là chuyện đất có tuần dân có vận, mình thấy sao được sự huyền vi ạ. Tôi chỉ xin dặn quí vị biết thế mà lường. Chứ từ thời mồ ma cụ Khếnh Luật đã một lần máu người Kẻ Chiểu chảy thành vũng trên cánh đồng Rộc bên ta. Thôi. Tôi xin mạn phép các quí vị...
Nói rồi cố Tênh chống gậy lộp cộp ra về. Một cậu trai xách đèn đứng ở đầu sân đợi đưa cố lại nhà.
Câu chuyện dở dang của cố Tênh như hé mở một tấm màn bí mật. Suốt đêm hôm ấy, ngay cả lúc cựa mình tỉnh giấc trong đầu tôi cũng gợn lên câu hỏi ông Khếnh Luật là ai? Và máu người Kẻ Chiểu chảy thành vũng trên cánh đồng Rộc là cố Tênh nói theo nghĩa bóng hay theo nghĩa đen? Tôi cảm thấy nôn nóng trong người. Nếu không    hiểu cho đến ngọn ngành câu chuyện này, lần về   phép năm sau chắc gì còn được trông thấy cố Tênh nữa mà hỏi.
Những hiểu biết trong óc người già giống như những dòng chữ khắc trên bia đá. Có điều một khi hơi thở người già ngừng lại thì những dòng chữ ấy lập tức bị xóa sạch, khiến lũ trẻ chúng ta cắm cúi đi như những kẻ mù lòa.
Ngay sáng hôm sau tôi chọn một bộ quân phục còn mới, vuốt thẳng lại những nếp nhàu cho con người mình thật chỉnh trang ngay ngắn, rồi mang sổ ghi chép đến nhà cố Tênh, nhờ giáo Tình - bạn thuở nhỏ của tôi và là cháu nội của cố - và xin cố cho tôi được hầu chuyện.
Cố Tênh “cảnh giác” một cách xa xôi, hỏi:
- Các ông bây giờ cần biết những chuyện thời xưa để làm gì?
Tôi chưa để cố hiểu vì sao tôi làm công việc này. Cố gật đầu, dùng năm ngón tay gầy chải chải lên bộ râu một lúc, rồi lại gật đầu, cất tiếng gọi xuống nhà dưới:
- Ông giáo đâu rồi?
Giáo Tình miệng dạ chân chạy lên chắp tay đứng trước cửa. Cố Tênh vỗ tay xuống tấm phản gụ.
- Ông chịu khó ngồi mà nghe chuyện cùng với ông Sửu đây. Tôi cũng muốn nói lại lắm, ngặt vì làng này chả ai muốn nghe cả. Chứ xin hỏi hai ông. Hai ông có biết các vị hiền tài đất Kẻ Cồn ta gồm những ai không?
Cố Tênh rề rà giảng giải từ Văn ban Chư Tôn vị bắt đầu từ Tuyên lực công thần đặc tiến kim tử vinh Lộc đại phu bồi tòng Lại bộ tả thị lang kiêm Đông các học sĩ nhập thị Kinh lịch thái bảo Phúc ấm bá Nguyễn Văn Nghi, thầy dạy học cho ba ông vua đời Lê; đến Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân tham đốc thần vũ tứ vệ quân vụ sự Mỹ quận công, thuộc Võ ban chư tôn vị tổng cộng mười chín người.
Chức tước đời xưa chép mỏi liệt tay, nghe ù đặc tai. Tôi nóng nảy ruột gan mong cố Tênh kể chong chóng để được nghe về vụ xô xát đẫm máu giữa Kẻ Cồn - Kẻ Chiểu từ thời “mồ ma cụ Khếnh Luật” như cố Tênh đã nói. Nhưng chuyện đó phải lui lại mãi tới đêm giữa lúc ngoài trời đang vần vũ một cơn dông cuối mùa, gió quất nghiêng ngả ngọn cau ngọn dừa, sấm chớp đùng đùng như đại bác gầm ngoài mặt trận. Giọng cố Tênh khản đặc. Cố vừa kể vừa hi hóp thở. Nhưng không vì thế mà lời lẽ của cố vắn tắt hơn nên trong đoạn sau tôi đành mạn phép cố mà viết lại những gì mình đã câm nhận được qua câu chuyện cố kể, có vài chỗ đành phải tưởng tượng thêm ra vậy.
 
*

 

Nạn đói năm Ất Dậu ớ đồng bằng Bắc bộ làm chết hai triệu người là một tội ác trời không dung đất không tha của bọn phát xít Nhật. Sử sách đã chép rõ ràng, nhưng là chuyện sau này. Còn trước đó, có năm nào là năm không có người chết đói, có mấy làng không có người chết đói?
Đất Kẻ Cồn cũng vậy. Kẻ Cồn được tiếng là đất học khoa bảng, đất phát nhân tài là bởi có nhiều người rau cháo qua ngày để sôi kinh nấu sử đợi các khoa thi hương thi hội thi đình, nhiều người khác thì mải mê với con đường côn kiếm hơn các kẻ khác. Ngoài ra, đa phần làng xóm vẫn đói xanh xương. Đói nhất, nháo nhác nhất, là vào những tiết giáp hạt tháng ba ngày tám. Khi ấy thì cả làng hong hóng trông vào ngọn khoai bắp ngô trên cánh đồng Rộc. Mất cánh đồng Rộc thì từ các vị tiên chỉ đến đám cùng đinh đều bị treo niêu.
- Các ông có biết thế nào là tháng củ mật không nhỉ? - cố Tênh đột ngột hỏi tôi và giáo Tình.
- Thưa không.
- Ấy đấy. Vụ đói tháng ba bắt đầu từ tháng củ mật, tức thị tháng Chạp ta. Đêm tối rét cắt ruột nằm trong ổ rơm ổ rạ còn thom thóm lo chuyện trộm cướp. Một đêm không biết mấy lần rộ lên tiếng trống ngũ liên, tiếng la đuổi trộm cướp. Mà trộm cướp cái gì? Trộm thúng khoai. Trộm buồng cau nải chuối. Cướp vài cái mâm đồng nồi đồng hoặc dắt đi con trâu con bò. Sáng ra nghe đồn nơi này nơi nọ có đứa kẻ trộm bị đánh què, bị đánh chết, cũng chẳng ai hơi đâu mà đổ ra xem. Mạng người rẻ quá mạng con gà con chó.
Cố Tênh ngừng lại thở và nhấp ngụm trà, nghe mưa quất ràn rạt ngoài sân, thong thả đằng hắng.
- Phải như thuở xưa, đêm nay thế nào cũng có nhà mất trộm.
- Làng ta có ai đi ăn trộm không ạ? - Tôi rụt rè hỏi. Cố Tênh nghiêm nghị lắc đầu.
- Không. Tuy cũng túng đói chẳng kém thiên hạ nhưng giấy rách còn giữ được lề, trộm cướp tịnh không nảy nòi được ở cái đất này. Còn bên Kẻ Chiểu thì lắm lắm. Hễ ban ngày thấy có cái đập bèo tây đắp qua sông là các nhà bảo nhau đêm phải phòng bị quân Kẻ Chiểu...
Năm ấy, mùa hè trời làm hạn hán, lúa ngô chết trắng xóa. Tới vụ mùa thì lại lụt bão dầm dề, sông Chu vỡ đê trên mạn Kẻ Dị nước ồ ồ như thác cuốn phăng cả nhà cửa vườn tược lợn gà. Nhưng để bù lại sự tàn phá của bão lụt, sau đó đất đai mầu mỡ lạ thường.
Bước sang tháng một tháng Chạp, cánh đồng Rộc đã xanh tốt ngùn ngụt, ngọn khoai dây bí bò kín mặt đất, phải lách chân mới có lối vào đồng. Tuy vậy, nạn đói gay gắt đáng sợ vẫn lừng lững trùm bóng đen lên khắp một vùng quê. Nhà nhà đã phải nấu rau khoai lang ăn trừ bữa. Ngày tháng sao mà dằng dặc, liệu có còn sống nổi qua xuân để được ngửi thấy mùi hạt gạo lúa chiêm năm sau.
Và cũng vì thế mà cái tháng củ mật năm ấy là tháng thê thảm “vô tiền khoáng hậu”, theo cách nói của cố Tênh. Những cái đập bèo tây dân Kẻ Chiểu đắp qua sông Nhà Lê, dân Kẻ Cồn phá. Ngoảnh đi ngoảnh lại đã thấy có cái đập khác mới đắp xong. Phá ban ngày, lại đắp ngay ban ngày. Vì thế dân Kẻ Cồn cứ mặc cho Kẻ Chiểu đắp, nhập nhoạng tối mới kéo nhau ra phá. Dân Kẻ Chiểu tức lắm bèn cho người phục sẵn ở đầu đập, thấy người đến phá đập là xông ra đánh. Một anh tuần đinh Kẻ Cồn bị đánh hộc máu, một anh khác bị dìm xuống sông gần chết. Hễ nhọ mặt người là nghe mõ ngũ liên và tiếng la làng, tiếng kêu cứu dậy lên trên đồng Rộc.
Một đêm, lúc tối được yên yên, nhưng vào giấc canh ba cả Kẻ Cồn bị dựng dậy vì tiếng la thất thanh:
- Ối làng nước ơi, bọn Kẻ Chiểu đánh chết người làng ta rồi. Ối làng nước! Ối làng nước!...
Tiếng người la mà nghe như tiếng chim lợn ma, như tiếng cú kêu hãi hùng cứ văng vẳng vang lên ở góc này ở góc kia giữa đêm mưa phùn gió bấc tối mịt mùng. Tới lúc Kẻ Cồn thắp đuốc túa ra, chỉ còn thấy bốn người tuần đinh làng mình bị trói vào gốc đa, mồm bị nhét đầy giẻ, bị đánh nhừ tử, kêu ú ớ. Cái người ấy la làng chính là nạn nhân thứ năm đã có may mắn thoát ra được để chạy về kêu cứu.
Một vạt đồng khoai dọc theo sông Nhà Lê bị phá tan hoang. Lũ cướp đói không có thời gian để hái lá nên họ lôi cả dây cả rễ mà đội mà gánh qua đập. Khoai chưa kịp làm củ, những chùm rễ mới lông lống bằng đầu đũa bằng ngón tay, lũ giặc đói làm rơi vãi bừa bộn trên đường họ đi. Ác hại thêm nữa là cả mấy ruộng ngô mới nhu nhú hoa riềng cũng bị họ cầm gậy, cầm đòn gánh phạt cho gẫy gục.
Để trêu người Kẻ Cồn, người Kẻ Chiểu qua khỏi đập bèo tây còn ngang nhiên dong đuốc mà đi. Nhìn hàng đuốc Kẻ Chiểu kéo rồng rắn bập bùng trong mưa bụi, dân Kẻ Cồn chỉ còn biết nghiến răng trèo trẹo, bầm gan tím ruột nghĩ cách báo thù.
Hôm sau ông Khếnh Luật sai ông mõ - tên là Đệch - đi rao khắp làng. Ông Mõ Đệch lê đôi chân phù thũng như hai cái gốc chuối, tay trái cầm mõ gốc tre, tay phải cầm dùi gõ. Cứ sau một hồi mõ, ông Mõ Đệch lại cất tiếng rao ngân nga: “Chiềng làng chiềng chạ, thượng hạ tây đông. Trai đinh mười tám tuổi đổ lên năm mươi tuổi đổ xuống, mau mau ra đình họp bàn chống giặc...”. Tiếng mõ tiếng rao vang tới đâu là người người bỏ hết việc nhà việc cửa để lập đập chạy ra đình tới đó.
Hóa ra không chỉ trai đinh, mà cả các bô lão, cả đám con nít láu kháu cũng kéo ra đứng chật trên sân đình.
Như là có giặc giã sắp kéo đến thật. Lại như một trò náo nức kích thích đến quên cả bụng đói cật rét. Ông Khếnh Luật cho làm một lúc ba cái điếm canh theo thế chân vạc ngoài đồng Rộc. Trai đinh trong làng được chia thành bốn thập, mỗi thập mười người. Ba thập giữ ba điếm canh, một thập túc trực ở điếm trong làng để hễ có động rụng phải mau chóng chạy ra tiếp viện.
Ấy thế mà cánh đồng khoai vẫn bị dân Kẻ Chiểu sang lấy trộm, hái lá trộm, nhổ dây trộm. Có kẻ còn láo lếu đứng bên kia sông nói vóng sang “Bớ quân Kẻ Cồn, liệu hồn không thì choa (1) đập chết vứt xác xuống sông đấy!”.
Bắt chước các mưu sĩ thời Xuân thu Chiến quốc bên Tầu, mấy bô lão bàn với ông Khếnh Luật rằng xưa nay dẹp giặc tựu trung chỉ có hai cách. Thắng được thì đánh, không thắng được thì giảng hòa. Ông làm tướng phải mau mau quyết đoán chứ không thì dân làng đến cái rễ trối khoai cũng chẳng còn mà nhá.
Nghe lời khuyên của các bô lão, trong lòng ông Khếnh Luật cũng muốn giữ hòa hiếu với Kẻ Chiểu cho yên, ông bèn khăn xếp áo dài sang Kẻ Chiểu gặp người cầm đầu bên đó tên là Quyền Vạn.
Ông Vạn và ông Luật từng học võ chung với một thầy, là Nguyên soái bình Tây họ Thiều. Chức nguyên soái là do nghĩa quân Ngàn Nưa phong cho võ sĩ họ Thiều. Sau ngày cuộc khởi nghĩa Ngàn Nưa bị dập tắt, Thiều nguyên soái bị Tây bắt đi tù, rồi về quê mở lò dạy võ ngầm phát triển lực lượng chờ thời cơ khác lại nổi lên. Ông Vạn người Kẻ Chiểu không rõ họ gì, sở dĩ gọi là Quyền Vạn bởi ông rất giỏi môn quyền cước, vào loại sư huynh của ông Khếnh Luật bên Kẻ Cồn nhưng lại chỉ đáng là học trò của ông Khếnh Luật về đường côn mũi kiếm.
Tại nhà ông Quyền Vạn, hai bên thi lễ mời trầu mời nước xong, ông Khếnh Luật thận trọng vào đề.
- Hôm nay tôi sang, trước là thăm bác cùng quý quyến, sau nữa cũng muốn thưa với Bác một việc.
Dù đã biết tỏng mục đích cuộc viếng thăm này, ông Quyền Vạn vẫn giả vờ hỏi:
- Bác muốn nói việc gì?
Thế này khéo mà hỏng việc rồi. Ông Khếnh Luật nghĩ bụng thế, nhưng đã trót sang tới đây thì cũng phải nói cho hết nhẽ.
- Bác với tôi cùng học một thầy. Nay thầy đã qui tiên nhưng cái tình anh em đồng môn của chúng ta vẫn còn chứ bác nhỉ?
Ông Quyền Vạn “ừ”, rồi hỏi lại:
- Sao bác lại nói chuyện xa xôi thế?
- Vâng. Bác cho phép nói gần, tôi xin nói gần. Tôi muốn bàn với bác, bác bên này, tôi bên kia, ta đứng ra giảng hòa cho hai làng. Kẻo đang lúc đói kém mà hai làng tranh nhau nắm rau ngọn bí thì cực lòng lắm.
- Bác nói thế là có ý gì. Nồi nhà ai nhà ấy đun, gạo nhà ai nhà ấy nấu, chứ “tranh nhau” làm sao được?
Bụng dạ ông Quyền Vạn không có một tý chân tình. Dù có nói điều hơn lẽ thiệt lúc này cũng chỉ hoài công mà thôi, nên ông Khếnh Luật giũ áo đứng lên.
- Tôi nói thế mà bác không nghe thì tôi xin chịu. Từ nay hễ bên này sang phá hoa mầu bên đồng Rộc chúng tôi mà lỡ xảy ra chuyện gì, xin bác đừng trách chúng tôi không nói trước.
Ông Quyền Vạn cũng đứng phắt lên, giọng gay gắt.
- Đói dù đầu gối phải bò. Ai bò được đến đâu cứ bò. Mạnh ai nấy được, còn tình nghĩa lý sự, để chỗ khác.
Ông Khếnh Luật thở dài ra về. Biết thế đừng sang. Phí cả lời.
Được một ngày yên ổn.
Sáng ngày hôm sau nữa, từ giữa trưa bà con đi làm đồng về đã hớt hơ hớt hải chạy đến nhà ông Khếnh Luật mách rằng quân Kẻ Chiểu đang kéo bèo tây đắp đập qua sông. Họ đắp hai cái đập liền một lúc, hễ thấy người Kẻ Cồn lai vãng đến gần là họ đuổi đánh. Có đứa còn ngạo ngược thách cả làng ta có giỏi ra đánh nhau với chúng nó.
Nghe xong, ông Khếnh Luật ngửa mặt nhìn trời than:
- Quyền Vạn quyết bắt mình phải ra tay rồi đây. Ta thà chết chứ sao lại chịu cho nhà ngươi làm nhục đến thế này!
Than xong, ông Khếnh Luật gọi mấy người trai đến bảo đi truyền cho khắp mặt tuần đinh mỗi người hãy kiếm lấy một bó đuốc dài, gài bùi nhùi cho tốt, đến tối nghe mõ thì ra cả ngoài đê quai.
Bữa chiều hôm ấy còn lưng đấu gạo cuối cùng trong nhà, ông Khếnh Luật bảo vợ nấu tất, ăn no rồi ông lững thững đi tay không ra đồng Rộc. Quyền Vạn giỏi quyền cước, ông giỏi côn kiếm, ông vui lòng nhường cái lợi thế ấy cho địch thủ nên chọn chính môn quyền cước mà đối lại với Quyền Vạn.
Ngay từ thời hai người còn theo học trong cùng một võ đường, thấy Khếnh Luật được các đồng môn khen là văn võ song toàn, Quyền Vạn đã hậm hực ganh ghét, hễ có dịp là lăm le loại trừ Khếnh Luật ra ngoài. Âu ông trời đã xui khiến, sớm muộn rồi cũng có dịp để hai người tỷ thí sống mái một phen với nhau...
Đêm hạ tuần tháng Chạp, đầu hôm xòe bàn tay trước mặt không nhìn thấy năm ngón tay. Mãi quá nửa đêm nền trời mới nha nhá màu nước gạo loãng nhưng cũng đủ thấy những bóng người thấp thoáng từ bên Kẻ Chiểu tràn sang đồng đất Kẻ Cồn.
Ông Khếnh Luật ra lệnh cho trai đinh Kẻ Cồn cứ hai người thì đốt lên một bó đuốc, một bó để dành phòng khi sự thể kéo dài. Xong, ông dẫn đầu toán trai tuần tiến thẳng xuống bờ sông. Thấy những bóng người đang lom khom giật dây khoai, bẻ ngô non, ông Khếnh Luật lớn tiếng quát:
- Ai cho phép các người sang cướp đồng?
Gạch đá ném rào rào thay cho câu trả lời.
Ông Khếnh Luật lại quát:
- Cút! Cút ngay. Không cút là có án mạng đấy.
Gạch đá lại bay đến vun vút. Một tuần đinh Kẻ Cồn bị nửa viên gạch ném trúng ngực kêu hự một tiếng rồi nằm lăn quay. Mấy người cõng anh này chạy lên đê quai, số còn lại theo ông Khếnh Luật tiến thẳng xuống bờ sông chặn đường rút của dân Kẻ Chiểu. Phía Kẻ Chiểu cũng đã lường trước chuyện này. Ở ngay đầu con đập bèo tây, có một người cao lớn bận quần áo đen, vấn khăn đầu rìu, cầm cái tay thước - một thứ côn làm bằng gỗ lim, to và dài như cái đòn gánh - chân dạng ra đứng chắn đường đám người Kẻ Cồn đang lao tới. Dù đã nhận ra con người ấy là Quyền Vạn, Khếnh Luật vẫn lên tiếng ra lệnh:
- Soi đuốc lại đây xem thằng nào.
Hai đối thủ trừng trừng nhìn nhau. Khếnh Luật cười nhạt:
- Hóa ra là bác Quyền, tôi cứ ngỡ ai.
Im lặng rợn người. Khếnh Luật lại lên tiếng:
- Tôi đã phải sang tận nhà thưa chuyện với bác. Cớ sao bác cạn tàu ráo máng đến thế?
Cái tay thước gỗ lim trong tay Quyền Vạn bất ngờ nhằm thẳng đầu Khếnh Luật bổ xuống nghe đánh vút. Khếnh Luật nghiêng người tránh nên chỉ bị cái tay thước sượt qua lưng, làm một mảnh áo rách toạc. Quyền Vạn bèn đổi thế, cái tay thước lia như một đường gươm chém ngang thân đối thủ. Nhưng Khếnh Luật đã nhanh tay bắt được. Bên đánh, đánh hết sức lực. Bên bắt cũng dùng hết sức lực mà bắt. Thanh gỗ lim gẫy roác; đoạn dài trong tay Quyền Vạn, đầu nhọn hoắt như mũi kiếm, đoạn ngắn trong tay Khếnh Luật biến thành một con dao găm.
Quyền Vạn như con hổ hăng máu lúc đâm lúc chém tới tấp. Khếnh Luật vừa đỡ vừa lùi. Chẳng may Khếnh Luật vấp phải bờ ruộng loạng choạng, mẩu tay thước trong tay bị Quyền Vạn phạt bay mất. Khếnh Luật đành quay người chạy lên giữa đồng, cốt tìm một đám đất bằng để dừng lại đấu tay không với Quyền Vạn. Nhưng cánh đồng khoai chẳng có đám nào bằng, cả hai cứ phải luôn luôn nhảy qua những luống khoai mà chạy mà đuổi giữa tiếng reo hò la thét náo loạn của cả hai phía dân làng.
Quyền Vạn cao lớn nên chạy nhanh hơn, mấy lần cái mũi nhọn gỗ lim đâm vào lưng Khếnh Luật nhưng đều vuột. Tới lúc Quyền Vạn đã đuổi sát Khếnh Luật thì một trai đinh Kẻ Cồn kịp đưa cho Khếnh Luật một cây đinh ba. Và... và... mọi người mở mắt ra đã thấy Quyền Vạn đang giãy đành đạch trên ngọn cây đinh ba giơ thẳng của Khếnh Luật, máu tưới như mưa xuống đám ruộng đậu mới bủa vòi. Quần áo mặt mũi ông Khếnh Luật và mấy người tuần đinh cầm đuốc đều đỏ lòm máu.
Dân Kẻ Cồn reo mừng như hóa điên. Còn dân Kẻ Chiểu thì la khóc xô nhau lội sông chạy về làng. Không rõ ai đã nghĩ ra cái trò trói tay trói chân Quyền Vạn rồi xả đòn khiêng, dong đuốc sáng rực, gõ chiêng, gõ mõ rầm rĩ kéo đàn kéo lũ đi diễu dọc sông Nhà Lê, tới lúc đuốc lụi mới thôi.
Việc còn lại là chờ sáng lên bẩm quan. Xác thằng cướp còn đây. Tang chứng còn đây, những dây khoai, đọt bí, những bắp ngô sữa, những đống khoai con chuột, còn vung vãi trên đồng. Và người có công đánh cướp... Ô, ông Khếnh Luật đâu nhỉ. Chả ai nhìn thấy Khếnh Luật đâu cả. Chạy bổ về làng cũng không thấy. Nhớn nhác gọi, nhớn nhác tìm. Hay là ông ấy bị cái thằng kẻ cướp kia đánh trúng chỗ phạm, cũng chết mất rồi?
Không. Khếnh Luật không chết. Khếnh Luật không làm sao cả. Ông cởi cái áo mặc ngoài ướt sũng máu ông Quyền Vạn quẳng vào đêm tối, rồi ngồi thầm một mình lưng tựa vào gốc cây đa giữa đồng, miệng lầm nhầm như nói mê nói sảng. Ta giết người vì cái gì? Vì cái gì? Hỡi ông Trời bà Đất, kiếp sau có đầu thai trở lại thập vạn chúng sinh thì hãy cố mà tránh cho xa cái kiếp người!...
 
*

 

Lần về phép tiếp theo đó quá nhiên tôi không còn được gặp cố Tênh nữa. Chung quanh tấm phản gụ cố Tênh từng ngồi kể chuyện cho tôi và giáo Tình nghe vẫn treo kín những quang sách chữ nho nhưng gian thờ giữa nhà la liệt những bức trướng, câu đối, phướn, áo xô,... Tôi ra mộ cố Tênh thắp mấy nén hương cầu xin vong linh cố xá cho cái lỗi quá muộn màng của mình, và hứa sẽ viết câu chuyện cố kể trên sách báo để mọi người cùng biết.
Nhưng rồi không hiểu sao tôi cứ lần chần, mãi tới khi tóc trên đầu tôi đổ bạc ào ào. Nhân một lần về quê, tôi sang chơi bên xã Đông Thạch, đi giữa những giàn ăng ten ti vi như chuồn chuồn đậu trên ngọn cau ngọn dừa, giữa con đường làng lát gạch thẳng băng hai bên san sát nhà trệt, nhà hai tầng, ba tầng, một cái làng thật đẹp với những gương mặt người rạng rỡ yên bình, tôi mới giật mình tự hỏi Kẻ Chiểu xưa đâu rồi?...
 
Sáng 13/8/1999



----------------------------------------------------------------------------------------------
(1) Chúng tôi
Đăng nhập để trả lời
★ ★ ★ ★ ★ 0
ĐỨA CON CỦA THÀNH PHỐ

 

Nàng có rất nhiều tên. Nhiều khi chập tối một tên, khuya khuya một tên, về sáng lại một tên khác. Là tại lũ đàn ông ham của lạ, ngoài cái trò vồ vập ngấu nghiến như chó đói còn muốn tỏ ra có chút nhân tình, hỏi quê quán, học hành, ước mơ, sở thích này nọ.
Dù sao một con điếm có hoàn cảnh lâm ly thống thiết và có cái gọi là tâm hồn họ vẫn khoái hơn một con vật giống cái cục cằn dốt nát. Lắm kẻ hùng hục xong rồi còn ngơ ngẩn làm thơ viết nhạc về mùi da thịt tóc tai, sướt mướt thương vay xót mướn nữa kia.
Thây kệ. Muốn thế, cho thế. Ừ thì sinh viên, vừa học vừa phải nuôi bố bị ung thư chẳng hạn. Ừ thì bị một thằng Sở Khanh lừa gạt buôn bán phấn hương. Ừ thì bị thằng bố dượng dâm dê ức hiếp nên phải bỏ nhà ra đi. Đại loại theo công thức từ nết na hiền thục bỗng gặp dông tố thình lình rồi đành sa chân lỡ bước đến nông nỗi này, miễn sao tránh cho xa cái nguyên nhân trần trụi rằng thích chơi bời, thích giàu sang yểu điệu, sợ làm lụng một nắng hai sương là được.
Tối hôm qua nàng sắm vai cô con gái nhà lành với bộ đồ mát mỏng tang ngồi dưới cột điện đường đọc sách, mái tóc thề vắt ra trước ngực để lộ mảng gáy trắng nõn, thỉnh thoảng lại kéo hếch ống quần lụa lên ngang đùi cho đỡ nóng. Nàng thừa biết đám đàn ông đi ngang cả người chân phương cũng như kẻ dâm đãng không mấy ai có thể bỏ qua cách ngồi hớ hênh khêu gợi của nàng. Kệ xác họ. Nàng vẫn giả vờ mải mê với trang sách nhưng kỳ thực đầu óc đang ngong ngóng đợi một cái xe con sang ưọng hoặc một cái xe máy bóng loáng từ từ đậu xịch trước mặt nàng với giọng ỡm ờ quen thuộc: “Cô em, đi chơi với anh không?”. Bấy giờ nàng sẽ thong thả gập sách ngẩng lên ra giá thật cao, ra điều kiện phải vào nhà hàng, khách sạn hẳn hoi. Nếu gặp một thằng cha rồ tiền lại đang chán mụ vợ mắm tôm mắm cáy ở nhà mà kết nhân tình nhân ngãi với nàng, càng hay lắm. Đã có khối “đồng nghiệp” của nàng chỉ sau cái liếc mắt đưa tình là nhảy phắt lên địa vị bà lớn nay tiệc mai tùng xe đưa xe đón kẻ hầu người hạ cao sang ngất trời.
Quả nhiên vào lúc hết các chương trình tivi buổi tối đã có một chiếc taxi ghé lại chỗ nàng. Gã khách chơi lõi đời không cần những lời hoa hòe hoa sói, bước xuống nắm cánh tay nàng bảo nàng lên xe. Muốn bao nhiêu, muốn khách sạn nào, được tất. Nào có lên không thì bảo.
Mãi lúc rượu đã say khướt nàng mới để ý nhìn kỹ gã khách chơi này. Gã có thân hình cân đối, một vẻ đẹp rắn rỏi rất đàn ông, cử chỉ rất ga lăng nịnh gái rất ngọt ngào - nghĩa là có bao nhiêu thứ rất nàng đều trút vào cho gã - thì trong lòng nàng bỗng rạo rực thèm khát, một thứ gì na ná như tình yêu làm nàng thốt lên khe khẽ :
- Anh đẹp trai quá đi mất! Nào, ta lên giường đi anh.
Gã cười ngật ngưỡng:
- Thế thì em phải “boa” anh hay anh phải “boa” em?
Nàng chợt tỉnh, xách túi ngoay nguẩy toan bước ra khỏi phòng, nhưng gã đã bế bổng nàng lên. Nàng giãy giụa làm cao trong khi thầm nhủ được một đêm thế này mới thật sướng đời.
Một đêm ê hề trên giường qua nhanh như một chớp mắt. Sáng ra, nàng quờ tay hai bên không thấy gã đâu, chỉ nghe tiếng vòi hoa sen phun rào rào trong toa lét. Chắc gã đang tắm. Đầu óc vẫn còn váng vất hơi men, nàng lại ngủ tiếp. Mãi lúc chị nhân viên nhà buồng bấm chuông kính coong để vào thay phích nước nóng nàng mới choàng dậy kêu thét lên. Ví tiền của nàng chỉ còn cái vỏ vứt dưới nền nhà.
Chuyện này đâu phải lần đầu diễn ra nên ông chủ khách sạn đã quen cách ứng phó nhanh gọn êm xuôi, nghĩa là tống khứ nàng ra lập tức. Chẳng thà chịu thiệt một đêm tiền phòng còn hơn để công an sục vào làm cho mọi sự vỡ lỡ tung tóe. Nhưng nàng thì biết làm sao ứng phó được với hoàn cảnh cay độc này đây.
Nàng vừa bước ra đường vừa cào vuốt sơ sơ lại mái tóc, rồi tiện chân đi thẳng vào công viên. Công viên đang đông người tập thể dục. Nhiều cô nhiều bà bận quần cộc may ô nhan nhản đùi vế, nên bộ đồ lụa mỏng trên người nàng chẳng có gì là khó coi. Nếu có người nhìn kỹ nàng, chỉ nghĩ nàng là cô gái rượu nhà ai ngủ chưa đã mắt đã bị thức dậy đi hít thở không khí ban mai mà thôi. Ai có thể biết rằng đôi chân nàng bủn rủn bước không vững. Mấy ly rượu mạnh đêm hôm trước giờ biến thành giấm thành cồn nung đốt bào xát cái dạ dày rỗng không của nàng. Nàng thèm một bát phở nóng làm sao. Không còn đủ sức che mắt thiên hạ, nàng đành ngồi xệp xuống cái ghế đá kê sát mặt hồ, gục đầu như đang ngủ, như đang buồn u uất chuyện gì. Cả những ý nghĩ ngùn ngụt căm thù cái thằng khốn nạn kia, nếu gặp nàng sẽ băm mặt hắn ra, nàng cũng không còn đủ sức để nung nấu nữa. Chỉ còn hai thứ xâm chiếm đầu óc nàng là thèm được ăn chút gì và kiếm được nơi kín đáo để nằm xuống nghỉ một lúc.
Khi nàng nhấc người lên khỏi ghế đá, công viên đã vắng hoe. Mặt trời lên le lói trên ngọn cây si cây phượng. Nàng liêu xiêu ra đứng tựa cổng công viên bên dưới bụi hoa giấy chi chít rực rỡ để chờ một sự cứu rỗi từ trên trời rơi xuống từ dưới âm ty địa ngục trồi lên, lẩm nhẩm nghĩ mình sẽ chết trước lúc hoàng hôn. Ôi quê nhà. Mấy đứa bạn thuở nhỏ chắc giờ đang gánh lúa đang cắt rạ ngoài đồng, hoặc đang nhem nhếch cứt đái với lũ con nhỏ, đang mặt sưng mày sỉa với những bà mẹ chổng rồi sưng sỉa lây sang cả những thằng chồng khét lẹt mùi nắng mùi bùn của chúng. Sao chúng mày yên ổn đến thế, chúng mày hạnh phúc đến thế, hở lũ bạn cục mịch trời đánh kia!
Một chiếc xe Dream dừng lại trước cổng công viên. Gã đàn ông đeo cặp kính đen ngòm đứng chống nạnh nhìn nàng, nhe răng cười không thành tiếng. Gã này không phải cái thằng khốn kiếp đêm qua nhưng cũng vạm vỡ đẹp trai và trông khá ba trợn ba trạo. Nàng quắc mắt nhìn lại gã, gầm gừ như con chó sói cùng đường:
- Nhìn gì mà nhìn lắm thế?
- Ế khách hả?
- Đồ đểu. Khách khứa cái gì!
- Đừng làm bộ làm tịch nữa. Tao còn lạ gì cái nốt ruồi ở bẹn mày. Lên xe!
- Đồ đểu!
- Này này, không lên xe là tao mặc mẹ mày đấy. - Gã dợm bàn chân vào cần cái số - Có lên không?
Không chờ gã hỏi đến lần thứ hai, nàng lùi lũi leo lên ngồi phía sau yên xe của gã. Gã nói thế thì đích thực gã cũng là dân chơi bời, cùng hội cùng thuyền với nàng. Cái dạ dày nàng lại nhói lên làm nàng phải thay đổi thái độ. Nàng ôm xiết lấy eo gã, thỏ thẻ nói thật:
- Cho em ăn chút gì đi.
- Muốn ăn gì?
- Bát phở chẳng hạn.
Gã tạt ngay vào quán bên đường gọi cho nàng một bát phở nóng bốc hơi nghi ngút. Trong lúc nàng ăn ngốn ngấu mồ hôi túa ra khắp người, gã ngồi bên cạnh bật lửa châm thuốc hút. Chờ bát phở sắp hết gã hỏi bát nữa nhé? Nàng gật đầu. Sau khi ăn no, nàng còn được gã gọi cho một cốc trà líp tông. Nàng vừa khoắng trà trong cốc vừa hỏi gã:
- Anh đưa em đi đâu?
- Về nhà tao.
- Lỡ chị ấy?...
- Không có chị nào cả. Nhưng không phải để làm trò giải trí đâu nhé.
- Không, thì làm gì?
- Lao động kiếm miếng bỏ vào mồm chứ còn làm vương làm tướng gì nữa.
Đang trong lúc bơ vơ cơ cực, nàng chẳng cần đắn đo nhiều, liền lên xe đi tiếp với gã. Gã đưa nàng ngược lên phía bắc thành phố, qua sông Hồng, lại lao ngược đến một xóm nhỏ tre pheo um tùm dưới chân đê.
Không cho nàng vào nhà, gã dựng xe xong dẫn nàng ra ngay bãi sông. Ở đó có mươi người đang bốc than từ một sà lan loại nhỏ đậu dưới sông, đàn bà gánh, đàn ông đội, mặt mũi đen kịt không thể phân biệt được ai trẻ ai già. Gã khoát tay nói với nàng:
- Bốc khoán tám nghìn đồng một tấn. Nếu mày làm, tao trả gấp rưỡi.
Nàng ngập ngừng:
- Một ngày được bao nhiêu?
- Người được bảy tấn, người được ba tấn. Tùy.
Gã lại dẫn nàng lên bãi ngào than. Có dăm sáu người đang cào bùn hoa từ thùng xe công nông xuống một cồn than cám, rồi dùng cào dùng xẻng cuốc đẩy đi kéo lại như đánh vữa xây nhà. Công khoán việc này gấp đôi việc bốc than dưới sông lên. Một người phụ nữ, trông dáng còn trẻ, có lẽ là một cô gái, quần áo lấm láp, bịt khăn đen kín mặt chỉ để hở đôi mắt lấp loáng đánh về phía nàng, vừa cười vừa hỏi gã:
- Bà chủ đấy à anh?
Gã càu cạu:
- Làm đi!
Sau chỗ ngào than gã dẫn nàng sang chỗ đóng than tổ ong. Với đôi bàn tay sạch sẽ có chiếc nhẫn vàng sáng chóe, cổ tay đeo đồng hồ, gã cầm lấy cái khuôn tròn dính bê bết bùn hoa trộn than cám, thản nhiên xúc thứ bùn than ấy vào khuôn dằm thật kỹ, rồi lật ngược khuôn úp xuống mặt đất, rút khuôn lên. Gã chùi tay vào cỏ, rút thuốc lá trong cái túi áo sơ mi trắng tinh và châm lửa rít một hơi dài. Đoạn gã vừa phả khói mù mịt vừa nói với nàng:
- Giá khoán ba mươi đồng một viên.
- Đồng to hay đồng bé?
- Đồng là đồng. Chỉ có lũ rửng mỡ nằm ngửa mà hớp mới gọi một trăm, một nghìn, mười nghìn là “một đồng”. Tức là cứ đóng một trăm viên than được ba nghìn đồng. Với mày được chiếu cố trả cao hơn. Làm tốt tao sẽ có thưởng. Không để cho ai đói đâu mà lo.
Gã im lặng bập thuốc, dành chút thời gian cho nàng suy nghĩ. Nhìn bãi than tổ ong mới đúc hãy còn nhấp nhánh như quét hắc ín bầy phơi dưới ánh nắng nóng bỏng, không khí bị nung thành một lớp khí dập dờn bên trên, nàng thấy chán ngán đến tận lỗ chân lông, đến tận sợi tóc trên đỉnh đầu. Nhưng nàng còn cách nào khác hơn là phải nhận làm thuê cho gã.
- Cái ngữ quen múa may õng ẹo - gã đột nhiên nói - thì sức vóc chỉ hợp với việc này. Mà còn chê thì xéo. Xéo ra ngoài kia mà bán rẻ thân xác, cho nó nhàn, tha hồ son phấn thướt tha. Đồ khốn!
Cứ thế gã mắng nàng xơi xơi cho tới lúc nàng bật lên câu trả lời:
- Chỉ sợ em không quen việc.
- Không quen rồi sẽ quen. Tao cho mày nghỉ hết ngày hôm nay, trả không cho ba chục ngàn, kiếm cái mà ăn uống cho lại sức. Từ sáng mai bắt đầu làm. Được chứ?
Nàng lại ngập ngừng:
- Nhưng...
- Gì nữa?
- Em biết nghỉ ở đâu?
- Kia kìa - gã chỉ xuống một rặng tre dưới chân đê - có lán con gái. Sẽ cho một cái màn. Được không, hay lại sợ người ta làm lây cái nhà quê sang mình?
Nàng nín thở để nuốt một lời đốp chát kiểu bụi đời đao búa vào trong.
- Em còn muốn hỏi một câu...
- Thì hỏi.
- Từ nay anh cho em gọi anh bằng gì?
Gã cười nửa miệng, giọng mỉa mai chì chiết làm nàng lại muốn lộn ruột mà hắt đủ các thứ dơ bẩn vào mặt gã.
Gọi bằng gì à? Cứ gọi tớ bằng ông chủ. Không ông chủ thì sao. Mày ngỡ tao ngu ngốc đến nỗi đi rước cái của nợ như mày về thờ làm bà chủ đấy chắc? Tránh chuyện chân lấm tay bùn trên đồng ruộng lại gặp cảnh nhọ nhem than với bùn chốn thị thành. Âu số trời đã định ra thế. Ấy là ý nghĩ đầu ngày, khi nàng rón rén đặt những ngón tay trắng muốt lên cái khuôn đúc than tổ ong. Rồi suốt một ngày quần quật dưới nắng lửa hầm hầm, nàng thở ngáp cá với kết quả được hơn trăm viên than thì con bé mười bảy tuổi bên cạnh làm được hơn nghìn viên. Buổi tối trong cái lán lợp lá cọ dưới lùm tre, bốn cô gái kia chẳng thèm tắm gội cho sạch sẽ đã vớ lấy những bộ quần áo đang mặc dở khăn khẳn mùi da bò ngâm, lăn ra ngủ. Còn nàng thì vắt tay lên trán nằm nghe tiếng sóng ào ập dưới bờ sông và tiếng những thân tre xát vào nhau kẽo kẹt. Hàng trăm lần nàng vắt óc cố nhớ xem gã trai này là ai, nàng đã chung chạ với gã bao giờ, ở đâu. Nàng như người bán hàng giữa chợ. Chủ quán làm sao nhớ hết khách hàng.
Gã thì khác. Gã nhớ rất kỹ về nàng. Cái đêm ấy dưới ánh đèn mờ gã đã sững sờ trước tấm thân thần Vệ nữ của nàng. Gã lang chạ với không ít phụ nữ, không một người nào có da thịt như nàng khiến gã không sao tưởng tượng được một vẻ thuần phác trinh nguyên thế này lại có thể để cho thiên hạ chuyền tay vày vò. Khi ôm ấp tấm thân nàng trong vòng tay gượng nhẹ của mình, gã từng ước mơ có được người vợ như nàng. Mỗi khi sóng gió cồn cào nổi lên ngoài đời, nàng sẽ là cái bến đậu êm đềm cho con thuyền tả tơi buồm lá của gã. Được thế thì cuộc đời gã sẽ yên ổn và thú vị biết bao. Nhưng cái ước mơ ấy mới manh nha thì đã xảy ra một sự kiện rung chuyển lớn lao trong đời gã.
Trước cửa vào rạp ở Nhà Hát Lớn, gã vừa chĩa hai ngón tay vào cái túi sau căng căng của một người đàn ông bệ vệ thì bị một bàn tay như cái kìm sắt bóp chặt lấy tay gã.
Anh công an mặc thường phục rất trẻ - chỉ đáng tuổi em gã - tế nhị lôi gã ra khỏi đám khán giả đang chen nhau vào rạp, dẫn gã về đồn chỉ một cái ghế bảo gã ngồi. Gã chẳng còn lạ cảnh vào tù ra tội, không đợi anh công an ra lệnh, gã đã chìa hai cườm tay sẵn sàng nhận cái còng số tám. Nhưng anh công an lắc đầu.
- Tôi không muốn cùm anh.
Gã ngơ ngác.
- ... ?
- Vì.. - anh công an mỉm cười mà nét mặt trông rất ưu tư - Vì hôm nay tôi “kiêng” con số ba. Từ sáng tới giờ tôi đã bắt hai tên lưu manh rồi.
Gã ngồi đuỗn mặt chẳng hiểu ý anh công an là thế nào.
- Thưa... Thưa...
Vẫn với ánh mắt và giọng nói ưu tư, anh công an giải thích cho gã hiểu.
- Tôi không ham ghi vào bản thành tích của mình thêm một tên ăn cắp chuyên nghiệp bị tóm gọn trong ngày bằng việc được biết rằng trong ngày đã có một người hoàn lương. Anh có hiểu không?
Tự nhiên người gã run bắn lên. Từ thuở nào tới giờ gã vẫn quen nghe quen nghĩ những chuyện tranh giành sát phạt trong giới giang hồ, đáy cùng của xã hội. Giờ, một câu nói chân tình cao thượng đột nhiên làm gã choáng váng xây xẩm mặt mày. Gã ngước đôi mắt u ám nhìn anh công an giữa lúc có tiếng gì bùng bùng như sấm sét nổ trong tai gã.
- Thưa anh... Em...
- Đừng xưng em với tôi. Hãy xưng tôi cho đàng hoàng là một con người. Nào, hãy nhìn thẳng vào mắt tôi đây. Thế. Anh trả lời xem anh có hiểu tôi nói gì không?
- Thưa anh, tôi hiểu.
- Hiểu thật không?
- Thưa, rất thật.
- Thế thì anh đứng dậy và đi đi. Mong sao tôi không phải gặp lại anh như thế này một lần nữa.
Sau đó không còn nhớ gã lần sang phố Gia Lâm bằng cách nào, và sống ra sao trong những ngày tiếp theo, chỉ nhớ mỗi lần cùng quẫn định quay lại “nghề” cũ là gã lại nhớ tới đôi mắt sâu thẳm của anh công an trẻ tuổi nhìn gã, thế là gã lại rụt tay lại. Cho tới một buổi chiều gã nghiến răng thề độc với mình, chẳng thà làm kẻ ăn mày ăn xin còn hơn là một thằng lưu manh.
Ở dốc cầu Long Biên gã gặp một người đàn ông bận quần áo bộ đội cũ đang lao xe đạp xuống dốc, sau xe đèo một đống xẻng cuốc. Lúc chiếc xe đạp vút qua trước mặt gã đột nhiên sợi dây chằng đứt phật, những lưỡi xẻng lưỡi cuốc rơi xuống đường loảng xoảng.
Gã nhanh nhẩu chạy ra nhặt, giúp người đàn ông nối dây chằng lại xe. Người đàn ông cảm ơn, định đạp đi tiếp thì gã níu áo anh ta lại. Mặt gã cúi gầm.
- Bác cho tôi xin vài đồng.
Người đàn ông ngạc nhiên.
- Sao. Giúp nhau một tí cũng đòi tiền công?
Gã càng cúi gầm, miệng lí nhí.
- Tôi xin bác chứ có đòi đâu.
Người đàn ông đặt tay lên túi áo sơ mi định lấy tiền ra, không hiểu sao lại dừng lại đứng nhìn gã từ chân lên đầu. Cái nhìn nửa xét nét nửa thương hại khiến gã chực vùng chạy vì xấu hổ.
- Thế này là thế nào?
- Bác ạ. Tôi cùng quẫn lắm mới phải ngửa tay xin. Bác cho thì cho, không cho thì thôi, đừng hỏi nữa.
Nói rồi gã quay người định bỏ đi, nhưng người đàn ông kịp giữ lại.
- Khoan hẫng. Anh chịu khó nói cho tôi biết hoàn cảnh của anh xem tôi có giúp gì được cho anh không. Chứ người như anh sao lại đến nông nỗi này?
Về sau gã biết người đàn ông đã cưu mang gã tên là Cổn, một sĩ quan công binh. Hết chiến tranh Cổn cũng từng lâm vào cảnh thất nghiệp một thời gian trước khi nghĩ ra cách gom mấy đồng đội đang bơ vơ lại mở một đại lý tiêu thụ than bên bãi sông Hồng để nuôi nhau.
Dạo đó tuyến đường vận chuyển than từ Hồng Gai lên Hà Nội tình hình hỗn lắm. Hễ những đoàn sà lan than đi qua quãng Bình Than, Quế Võ là bị đám du thủ du thực nấp hai bên bờ lao thuyền thúng ra xúc cướp. Nhiều vụ đánh nhau thí mạng đã xảy ra. Đại lý của Cổn cũng đã bị cướp hàng tấn than trên quãng sông này. Vì thế, sau vài tuần đội than tại bến gã đã xung phong vào tổ áp tải hàng trên sông. Gã có sức khỏe, rất gan dạ, làm việc đến nơi đến chốn và không bao giờ tơ hào tắt mắt lấy một đồng nên được mọi người tin cậy lắm.
Khoảng hơn một năm sau, khi Cổn được trở lại nhà máy, anh đã giao việc trông coi toàn bộ bến than lại cho gã đúng vào dịp cả thành phố thôi dùng than trái bàng, nhà nhà chuyển sang dùng than tổ ong. Than tổ ong của gã vừa tốt vừa rẻ hơn than các lò khác, nên cơ ngơi của gã cứ thế lớn dần lên. Có điều quả thật gã là con người không mấy ham làm giàu. Lời lãi kiếm được gã đều rộng tay ban phát cho những thân phận cơ nhỡ, nên dù không muốn mà số người gã dung nạp mỗi ngày một đông thêm. Gã trở thành ông chủ từ lúc nào không hay, một ông chủ cục cằn thô lỗ nhưng thương người. Đã có một vài cô gái con nhà lành đến với gã. Nhưng không hiểu sao, có lẽ số trời sinh ra thế, gã muốn gắn kết với những ai do gã ra tay cứu độ hơn là những người hạ cố đến gã.
Bởi thế, từ hôm gặp lại nàng, gã đã ngầm phá ra một kế hoạch thuần hóa “con ngựa chứng” này vì gã vẫn bị cái nhan sắc trời cho một vẻ trinh nguyên thuần phác của nàng ám ảnh chưa thôi. Kế hoạch này thông qua một phụ nữ tên là Huấn người làng Trâu Quì hàng năm vào quãng nông nhàn vẫn lên làm than thuê cho gã.
Huấn được gã trả thêm tiền để làm một “nhiệm vụ” là nắn tay nắn chân cho nàng trong công việc, đôn đốc nàng ra bãi than. Khi trên đội nắng dưới đạp bùn thì trò chuyện động viên cho nàng khuây khỏa, và theo dõi nhất cử nhất động của nàng để thường xuyên mật báo cho gã biết.
Có lẽ thân phận của nàng đã chuyển sang một hướng tốt đẹp nếu như nàng không còn lấn cấn đoái tiếc con đường cũ của nàng. Lâu lâu nàng lại kêu nhức đầu chóng mặt nằm nhà. Chờ cho các cô gái ra bãi đóng than rồi nàng trở dậy đem xà phòng bàn chải ra sông kỳ cọ cho tay chân trắng óng, trang điểm son phấn thơm lừng, diện ngất, xong khoác cái túi xắc giả da cá sấu có khóa mạ vàng và đeo cặp kính giọt lệ, đi vòng sau những bụi chuối trồng dưới bờ sông để lên đê gọi xích lô ra phố chơi. Có lần nàng đã bỏ đi qua đêm, sáng hôm sau về váy áo ngấm sặc mùi khói thuốc lá, nhưng Huấn đã giấu nhẹm không dám tâu lại với gã vì được nàng giấm giúi cho một ít tiền.
Đến một hôm, trong lúc đóng than, mấy cái móng tay để thật dài trên bàn tay nàng vấp phải khuôn than làm bật máu ở đầu ngón tay út. Nàng ôm tay ngồi khóc, Huấn lại, vừa xoa tay cho nàng vừa nói:
- Đã bảo cắt ngắn móng tay cho khỏi vướng, cứ không nghe!
Bất ngờ nàng đã cầm cả cái khuôn than bằng sắt ném vào mặt Huấn - may là Huấn kịp tránh - rồi chửi Huấn và mấy cô gái là lũ nhà quê hôi thối. Các cô gái vô cớ bị xúc phạm, liền xúm lại vả vào mồm nàng. Nàng bỏ bãi than, chạy xộc vào phòng gã nói cho gã biết nàng đấm thèm vào cái việc này nữa.
Gã ra bãi than tìm hiểu rõ nguyên cớ, gọi nàng đến bào:
- Khó chịu lắm rồi phải không? Muốn “đấm thèm” tao cho “đấm thèm”. Nhưng nghĩ lại cho kỹ đi đã. Sáng mai nếu vẫn muốn thôi thì lên thanh toán tiền nong, rồi xéo.
Gã để cho nàng suy nghĩ một buổi chiều và một đêm. Kỳ thực nàng chẳng phải suy nghĩ nhiều. Chẳng qua chỉ vì bị cái thằng lưu manh khốn kiếp kia lừa cho trắng tay nên nàng mới phải tá túc ở đây, chứ cái kiếp đóng than nào có hơn gì cái kiếp theo đít con trâu ở làng.
Sáng hôm sau, khi các cô gái ra bãi than, nàng bắt đầu vào việc trau chuốt móng tay móng chân, bôi son vẽ mắt, quyết trở lại tấm thân tha thướt yểu điệu trước đây. Xong xuôi đâu đó nàng mới bước vào phòng gã, ngang nhiên, thách đố, và đầy tự tin. Nàng cố lấy giọng lạnh băng nói với gã:
- Công việc này không hợp với em. Vậy nên em đến để chào anh.
Gã lim dim mắt nhìn nàng rõ lâu.
- Nghĩ kỹ chưa?
- Em nghĩ kỹ rồi.
- Đến chào không thôi, hay là đến đòi tiền công?
Nàng đã định đánh bốp vào mặt gã rằng nàng “đấm thèm” vào mấy đồng tiền bọ lấm lem, nhưng lại nghĩ dại gì không lấy, tiền mồ hôi nước mắt mình làm ra chứ có xin thằng đếch nào.
- Cả hai việc. Nàng trả lời.
Gã cười ha hả. Tiếng cười đáng ghét quá, đểu quá, nàng nghĩ trong lúc gã mở sổ sách cùng với một cái máy tính cầm tay, vừa lần số vừa bấm máy, giọng máy móc trêu chọc.
- Ái chà. Gần nửa cây vàng đây. Giàu quá nhỉ. Nhưng sao bằng một đêm vớ được khách sộp. Nhỉ?...
- Anh im mồm đi cho - nàng không kìm nổi cơn giận. - Anh đi nhặt mấy con nhà quê về mà bóc lột, tha hồ được hầu hạ. Chứ “đây” thì đừng hòng!
Gã đếm tiền, mặt trơ trơ. Nàng càng phát điên.
- Ừ thế đấy. Đĩ điếm đấy. Thế mà từ thằng to thằng nhỏ đều úp sấp mặt vào. Đâu thèm kể đến cái thứ như anh!
Nàng khao khát được thấy gã bị hạ nhục, bắt gã phải lồng lộn quát tháo, phải phun ra cái chất phàm phu tục tử, để nàng có cớ trút tất cả bực dọc tức tối trong lòng mình lên đầu gã. Nhưng càng thế nàng càng thất vọng. Gã đếm đi đếm lại xấp tiền, trêu ngươi nàng chán chê rồi mới ra vẻ suồng sã như giật lấy cái túi xắc trên tay nàng, kéo phécmơtuya đánh rẹt, vừa nói “Nhìn đây nhé” vừa ném tọt vào. Rồi chìa cuốn sổ ra bắt nàng ký nhận.
- Đây - gã trao lại cái túi xắc cho nàng - Giữ cho cẩn thận kẻo lại đói rũ trước cổng công viên như hôm nọ. E hèm... - gã làm bộ nghiêm chỉnh mà nàng phát tởm, không có cách gì giết chết gã như đập một con gián - Anh thấy người ta nói mãi “Làm lại cuộc đời”, anh cũng muốn thử xem có “làm lại” được không. Có thật thế không hay thiên hạ chỉ nói suông. Do đó anh em mình mới có dịp gặp lại nhau. Ai thèm anh em với mày. Đồ chết tiệt. Đồ trời đánh thánh vật. - Nàng muốn gầm lên thế, nhưng bên ngoài chỉ ban cho gã một nụ cười mỉm mà nàng cho là hết sức mỉa mai khinh bỉ - Giờ em lại ra đi. Anh thật rầu lòng. Thôi thì chúc em thượng lộ bình an...
Nàng nhấp nhứ cái túi xắc nơi tay định đập cho gã một đập. Nhưng khi vung tay thì lại hóa ra nàng quay người chạy vụt lên đê, còn nghe gã gọi với theo “Ấy ấy, đi đâu mà vội thế. Bắt tay tạm biệt cái đã nào...”.
Nàng bỏ đi được vừa đúng hai mươi bốn tiếng đồng hổ, sáng hôm sau vào lúc mặt trời lên lại lùi lũi quay về, váy áo nhầu nhĩ bẩn thỉu, son phấn nhòe nhoẹt, mặt hốc hác như ma đói.
Sáng hôm sau nàng cuống quýt vẫy chiếc xích lô xuống Gia Lâm. Tới nơi, nàng mở xắc lấy tiền trả, thì ôi thôi tiền nong và cả cái chứng minh thư nhân dân của nàng đã không cánh mà bay. Nàng kêu trời kêu đất, rã bọt mép van vỉ bác đạp xích lô. Cuối cùng nàng chậc lưỡi:
- Thế này vậy. Anh kiếm chỗ nào văng vắng, em cho anh ngủ với em một cái...
Nàng chưa dứt lời đã bị người đạp xích lô trừng mắt quát:
- Tao đáng tuổi bố mày chứ anh anh em em cái mả bố mày! Thật sáng ra ngõ gặp chó mực. Cút đi kẻo tao đập vỡ mặt bây giờ.
Nàng nhịn đói nhịn khát tha thẩn từ đầu phố đến cuối phố Gia Lâm, tán tỉnh đám cửu vạn ở bến xe khách, những người đàn ông tứ chiếng cũng đang vất vưởng ở bến xe, nhà ga, gầm cầu xó chợ, đều chẳng ăn thua. Mãi chập tối nàng mới gạ gẫm được một tay thủy thủ tàu sông, nhưng hai bên chưa kịp hành sự đã bị tổ trật tự khu phố tóm lôi về đồn công an.
Một đêm thức trắng luôn tay xua muỗi, bụng sôi rong róc, nàng căm thù kẻ nào đã moi ruột cái xắc của nàng đến ngút trời. Căm thù ai mới được chứ? Bác xích lô quê mùa chất phác, dứt khoát không phải là kẻ chôm chỉa rồi. Nàng nghĩ đến “ông chủ” bến than. Gã vốn xuất thân là dân chôm chỉa, không nghi cho gã còn nghi cho ai? Nhưng mà... cái lúc gã đếm tiền, nhét cả cục vào túi xắc của nàng chính nàng trông thấy rõ ràng cơ mà. Không thế đời nào nàng chịu ký nhận vào sổ của gã. Không, không có lý. Họa ma quỷ may ra mới thò được tay vào túi xắc của nàng. Hay là mình đánh rơi. Ồ không...
Sáng ra, anh công an gọi nàng lên phòng trực ban, hỏi lại một lần nữa chỗ ở của nàng. Tối qua nàng đã khai là làm than tổ ong trên bãi Võng La. Sáng nay nàng vẫn bám chặt vào địa chỉ ấy. Anh công an hỏi:
- Hoặc trở lại Võng La mà lao động kiếm sống, hoặc vào trại cải tạo nhân phẩm. Cô muốn đằng nào?
Nàng nói ngay là xin về Võng La. Anh công an gật đầu, như đang khuyên nhủ đứa em bất trị.
- Tôi cũng nghĩ thế, thế thì tốt hơn - anh vừa nói vừa rút ngăn kéo lấy ra giấy tờ ghi kín mít lời khai của nàng tối hôm trước. Trên góc tờ giấy có dán ảnh cỡ 4cm x 6cm chụp rất rõ gương mặt nàng khiến nàng vã mồ hôi không hiểu họ chụp lúc nào - Với lại, cô nhớ đấy. Chúng tôi tạo mọi điều kiện cho những người trót lầm lạc muốn tự giác hoàn lương. Nhưng nếu cô cứ ngựa quen đường cũ, thì không xong với chúng tôi đâu.
Anh công an búng búng ngón tay vào tấm ảnh dán trên góc trang giấy. Không khí trong phòng chợt im phắc. Nàng cúi đầu cho mái tóc xòa xuống che lấp nửa gương mặt xanh xao, ra dáng nghĩ ngợi mà không hiểu có nghĩ ngợi gì hay chỉ giả vờ. Anh công an rút trong túi ra vài nghìn bạc lẻ đặt lên bàn, giọng như thủ thỉ:
- Chớ cậy mình có nhan sắc. Nhan sắc tàn rồi thì còn thằng nào vời đến cô? Mà cô không biết sợ những cái chết quằn quại đau đớn vì bệnh SIDA, bệnh lậu, bệnh tiêm la, cùng bao nhiêu thứ bệnh khi gió khi máy gì nữa à? Và nếu sống sót thì cũng thân tàn ma dại, phỏng ai dám lấy cô. Định vật vờ suốt đời hay sao, trong khi bạn bè cùng lứa người ta đều có nghề nghiệp gia thất đàng hoàng? Thôi cầm lấy tiền ra ăn cái gì cho đỡ đói rồi về mà đi làm!
Đôi giày cao gót làm nàng thật khốn khổ. Giữa đường, nàng lại bị trẹo chân. Thế mới ác. Nhưng rồi mặt trời vừa lên khỏi ngọn tre nàng cũng lê lết về đến bãi than.
Gã nhìn thấy nàng từ xa nhưng khinh khỉnh quay mặt sang hướng khác. Nàng biết thế mà vẫn phải cố ghìm lòng. Suy cho cùng, ở đây dù khó nhọc lam lũ nhưng có làm là có ăn, lỡ ốm đau còn có chỗ bám víu. Ở vào thế cùng đường mạt lộ thì còn biết làm gì hơn. Gã lững thững đi xuống bến sông. Tiếng chân nàng lạo xạo trên sỏi bám theo sau gã. Gã làm thinh. Con mèo hoang phải quay lại hoàn toàn đúng như dự kiến của gã. Lòng gã chợt dội lên một cảm giác ngán ngẩm. Biết thế này thà cứ để cho nó bán xới tếch đi đâu thì đi cho rảnh. Cũng may. Giá thử mình nổi hứng sờ soạng hôn hít nó vài lần mà xem, chắc nó đã trèo tót lên đầu lên cổ mình. Cứu vật vật trả ơn, cứu người người trả oán, thật không sai. Nhưng... Nhưng trót lỡ rồi. Có lẽ nào mình vớt người ta giữa dòng giờ lại đang tay dìm người ta xuống? Gã quay lại quắc mắt nhìn nàng:
- Còn muốn gì nữa?
Nàng lắp bắp:
- Anh tha lỗi cho em.
- Tha lỗi để làm bà chủ hay làm thợ.
Nàng bập bều khóc rồi như sợ gã đuổi đi, nàng vội vàng đi vào chỗ nằm cũ của mình trong góc cái lán thợ.
Từ đó gã “cúp” khoản “phụ cấp chiếu cố” trước đây gã vẫn dành cho nàng. Nàng không dám hé răng phàn nàn. Một tháng, hai tháng, rồi ba tháng... tuần tự trôi qua. Ban đầu là vì sợ đôi mắt gườm gườm của gã, sau thì nàng quen ăn quen chịu dần dần, thỏi son hộp phấn lâu rồi không ngó ngàng đến nữa.
Công việc của gã mỗi ngày một phát đạt thêm. Ngoài việc làm than gã còn gom mấy đứa trẻ lang thang về nuôi cá lồng. Gã còn chung vốn với một công ty du lịch tư nhân mua một cái ca nô chở khách thăm quan ngược lên đến tháp Bình Sơn, xuôi xuống tận đầm Chử Đồng Tử. Gã vắng nhà thường xuyên nên phải cất nhắc nàng lên làm cái việc ghi chép sổ sách ở bến than. Nhiều khi gã còn giao cho nàng thu cả tiền bán than và trả tiền công cho thợ.
Gã có ý định nâng cao đời sống cho thợ. Mấy cái quạt điện trong lán đã được mắc rồi, không biết phải làm thêm gì nữa nên gã hỏi nàng: Mấy “bà” cần gì? Nàng nói cần một cái nhà tắm cho kín đáo, kẻo chị em xuống sông tắm rồi cứ phải trốn vào bụi tre thay quần áo. Gã gật đầu ừ ừ.
- Nước sông đục thế, các cô gội đầu thế nào?
- Vài ba hôm mới dám gội một lần, phải múc nước sông lên cái hố lót vải nhựa chờ lắng trong lại...
Gã phẩy tay, tính lẩm nhẩm. Phòng tắm thì phải có nước tắm. Nước tắm thi phải có bể lọc. Bể lọc thì phải có máy bơm. Có phòng tắm cho đàn bà, phải có cả cho đàn ông nữa chứ. Bất ngờ gã quay sang nàng:
- Tôi giao việc này cho cô lo. Được không?
Nàng giẫy nảy từ chối. Gã cười.
- Lo là lo mấy việc, đặt nhà tắm ở đâu, xây bể lọc ở đâu, dự trù bao nhiêu gạch bao nhiêu xi măng sắt thép...
- Eo ôi, em làm sao biết các chuyện đó!
- Không biết vì không quen, nhưng chẳng lẽ cô không tìm ai để hỏi, để nhờ họ tính toán hộ cho à?
Không để nàng thoái thác, gã quyết định dứt khoát.
- Trước hết cô hãy thảo ra một bản dự toán, nói rõ kích thước, đơn giá, chi tiêu, rồi tôi cho tiền. Riêng cái máy bơm cứ để đấy tôi lo. Thôi, làm đi. À phải thêm một cái lò than đun nước nóng tắm mùa đông nữa.
Đại loại thế. Càng ngày gã càng tỏ ra tin cậy và tôn trọng nàng. Duy những tia sáng lạ lùng trong mắt gã - Biết nói thế nào cho đúng về những tia sáng ấy nhỉ. Vừa thông cảm vừa giễu cợt, thô lỗ cục cằn đấy mà xong rồi ngẫm kỹ lại thấy có gì ấm áp thương xót ẩn giấu bên trong... - thì không còn nữa. Gã đối xử với nàng chỉ như một người tốt đối với một người tốt, ngoài ra chẳng còn gì khác hay sao? Hơn thế, trong đôi mắt ấy dạo này lúc lúc lại phát ra những tín hiệu làm nàng thảng thốt kinh ngạc. Nàng đã lén nhìn vào mắt gã lúc gã thẫn thờ hướng vào một điểm vô hình nào đó ở trước mặt. Và nàng giật mình cảm thấy đó là cái lòng giếng sâu mù mịt, có gì đang chông chênh đang tắt lạnh, đang hun hút rơi. Một cái gì đó quý giá vô cùng, thân thiết vô cùng, như là sinh mệnh của gã đồng thời chính là sinh mệnh của nàng. Nàng muốn níu với lại, mà không làm sao được.
Một lần nhân lúc hai anh em làm xong sổ sách, bắc ghế ra chân tre ngồi chơi hứng gió sông, nàng đánh bạo ướm hỏi gã:
- Sao anh không tìm một người về giúp anh lo chuyện nhà cửa nội trợ?
Gã lặng người, từng tiếng nói như rơi vào khoảng không thăm thẳm, do đó mà hết sức ngay thẳng thật thà:
- Trước đây tôi cũng định tìm một người...
- Ai thế? - Nàng nín thở hỏi chen ngang.
- Người ấy chính là em. Giá em đừng có lần bỏ đi thì hay biết mấy. Nhưng bây giờ thôi rồi. Tất cả đã muộn...
Lời nói của gã như muối xát vào lòng nàng. Cái cơ hội rất hiếm hoi tìm thấy hạnh phúc từng tiến sát lại bên nàng, thế mà nàng đã ngu xuẩn bước qua!
Ít lâu sau cuộc tâm sự này, gã đưa về bãi than một người con trai chừng hai lăm hai bảy tuổi, nói là em cùng mẹ khác cha với gã. Đó là con người rắn chắc, nhanh nhẹn sáng ý, nhưng hình dong cung cách đặc sệt nhà quê.
Trong khi càng ngày gã càng trở nên mềm mỏng dịu dàng với mọi người thì ngược lại, với em trai mình lúc nào gã cũng gắt gỏng cau có. Từ việc vận chuyển than ở mỏ Hồng Gai về, đội than, ngào than, đóng than, nuôi cá lồng... không việc gì gã không bắt cậu ta lăn lưng ra làm từ sáng sớm tới tối mịt. Tiếp theo đó, gã đưa cậu trai này vào tất cả các khâu giao dịch, thu, chi, thanh toán nợ nần.
Riêng một nửa cái ca nô đưa khách tham quan thì gã nhượng lại cho công ty du lịch, dùng toàn bộ số tiền ủng hộ cho trại trẻ mồ côi của thành phố.
Cuối cùng, gã trao lại cho nàng cục tiền cùng cái chứng minh thư trước đây gã đã “chôm chỉa” của nàng cốt là để cứu nàng một lần nữa bên bờ vực thẳm dơ dáy.
Xong xuôi mọi việc, gã ra lệnh cho người em trai và nàng lo một bữa ăn thật thịnh soạn mời tất cả mọi người ở bãi than. Chờ cho mọi người ăn uống vui vẻ no nê xong, gã bước lại máy điện thoại gọi taxi. Rồi gã xách cái túi nhỏ ra đi, nói là đi công việc ít ngày.
Gã đi đúng một tuần thì quay về kiểm tra từng dòng từng trang sổ sách, kiểm tra lại các công việc và các mối quan hệ làm ăn với khách hàng, lân la hỏi ý kiến nhận xét của mọi người về tình hình ở bãi than. Xong, gã lại đi. Đi lâu hơn, cả tháng sau mới quay về người gầy rộc, mắt lấp lóe sáng, khi gã xem sổ sách chốc chốc những mạch máu xanh lại nổi phồng lên hai bên cằm và hai bên thái dương, chứng tỏ gã đang phải nghiến răng chịu đựng những cơn đau rất ghê gớm trong người. Nàng hốt hoảng hỏi gã:
- Anh làm sao thế?
Gã lắc đầu bảo không có gì quan trọng. Gã gập sổ sách lại, ra vẻ hài lòng, chỉ dặn: “Làm ăn thế nào cũng có lúc khôn lúc dại. Mỗi cái dại là một bài học, đừng vội nản. Đáng lo nhất là giữ cho được cái đức làm người...”.
Nghe gã nói, lòng nàng đau thắt vì nàng đã linh cảm thấy có điều gì hết sức hệ trọng đang đến gần. Nàng thốt lên:
- Anh làm sao rồi. Phải không?
Gã làm thinh, chống gối mệt nhọc đứng lên một tay vịn vai người em trai một tay vịn vai nàng:
- Cô chú cố  gắng mà cưu mang đùm bọc lấy nhau. Thôi, anh đi đây.
Lần đầu hên gã xưng “anh” với nàng bằng giọng hết sức dịu dàng khiến nàng ôm chầm lấy gã và bật khóc nức nở.
Gã đi lần ấy rồi không trở về nữa.
Có tin gã đã xuống tóc đi tu ở một ngôi chùa heo hút bên mạn Sơn Tây, Ba Vì.
Lại có tin gã đã chết trong bệnh viện vì một căn bệnh trọng.
Nàng và người em trai của gã luân phiên nhau chạy bổ đi khắp nơi tìm kiếm mà tịnh không thấy một dấu vết nào gã để lại trên đời.
 
25/6/1999
Đăng nhập để trả lời
★ ★ ★ ★ ★ 0
GÃ NGỢM

 

Số tử vi của cả vợ cả chồng nhà ấy đều có sao đào hoa chiếu mệnh.
Năm gã chồng gần bốn mươi tuổi còn được một cô sinh viên hoa khôi chết mê chết mệt. Sau cô sinh viên này, tiếp thêm vài mối tình đắm đuối nữa rồi mới dừng lại ở vợ gã bây giờ.
Xin đừng nghĩ gã là một thằng Sở Khanh mà oan cho gã lắm lắm. Gã cũ người, quần áo đầu tóc xềnh xoàng, luôn luôn rỗng túi và có máu bẽn lẽn nhưng bướng ngầm từ nhỏ. Thế mà lại lắm con gái mê, chẳng hiểu duyên cớ ra sao. Có lẽ tại gã mắc chứng trầm cảm bẩm sinh. Gương mặt ngay cả lúc nô đùa vẫn cứ rầu rầu, đôi mắt rờn rợn, thỉnh thoáng lại lén thở dài. Toàn những cái tính dở hơi cám hấp đối với các cô gái hơn hớn kiêu sa đài các nhưng lại nguy hiểm không khác gì bùa mê bả lú đối với các cô gái gọi là có tâm hồn đa cảm đa tình. Thứ bùa mê bả lú của gã càng thêm đậm đặc bởi gã chịu học, nhất là sau gã còn cả một chuỗi năm tháng xông pha trận mạc, sứt sẹo thương tích, từ cõi chết trở về.
Cũng vì thế mà vợ gã đã cầm dao bầu chém đứt gọn biết bao mối dây nhợ ái tình để đến với gã, hiến thân cho gã, mang nhà cửa cơ ngơi cha mẹ để lại cho gã ở, hối hả hấp tấp chỉ sợ cái kho báu vuột khỏi tay mình.
Họ ăn ở với nhau hơn mười năm nay, được đứa con trai đã học lớp bốn.
Và cuối cùng cái tính ương bướng gàn dở của gã cũng đã thành một gánh nặng oải vai đối với vợ gã. Còn gã thì như bị cầm tù mỗi khi từ cơ quan trở về cái tiệm may đang phát đạt của nàng, chán ngấy đám khách hàng yểu điệu mặt trát bự son phấn huênh hoang nói cười.
Có lần gã bảo thẳng vợ:
- Nếu chán anh rồi em chỉ cần gật đầu là anh ra khỏi nhà ngay lập tức.
Vợ gã diễu cợt hỏi lại:
- Không gật đầu cũng cứ ra khỏi nhà chứ?
- Không gật đầu thì không ra.
Vợ gã mỉm cười thương hại:
- Dễ dàng thế! Em không gật cho đâu. Nhưng anh liều liệu cái thần hồn. Tới lúc em hết chịu nổi đừng có trách.
Đêm ấy cuộc ân ái lại khá nồng nàn. Nhưng sau những phút nồng nàn họ lại trở về với câu chuyện ngày thường. Người vợ hỏi:
- Bộ quần áo em mới may cho anh sao không thấy trong tủ?
Gã tưng tửng trả lời.
- Anh cho đi rồi.
- Cho ai? - Vợ gã giật giọng - Cho ai, hả?
- Cho anh Vũ.
- Ôi chao. Lại cái lão nhà quê dở ông dở thằng ấy!
Gã bị xúc phạm, nằm quay mặt vào tường định im lặng cho xong, nhưng không dằn lòng được nên mãi lâu sau mới ra lời:
- Không có anh Vũ, anh đã bỏ xác ở chiến trường. Nay thấy anh ấy túng đói, anh không thể làm ngơ. Em muốn nói thế nào thì nói.
Chỉ chờ thế là cuộc cãi cọ bùng lên. Vợ gã gằn giọng.
- Anh có biết bộ quần áo ấy bao nhiêu tiền không?
- Biết. Em cũng nên biết giữa ngày đông tháng giá anh Vũ phải lội xuống ao moi từng cái ngó sen đem ra làm thuốc cho đứa con của chúng mình. Món quà ấy không tiền nào mua nổi...
- Thôi đi! Chẳng qua hòn đất ném đi chỉ vì có hòn chì ném lại đấy thôi.
Gã thấy mắt gã cay xè, cổ họng tắc nghẹn vì uất ức.
- Anh cũng là thằng nhà quê đây. Thằng nhà quê này phải năn nỉ hết nước hết cái thằng nhà quê kia mới chịu nhận bộ quần áo, chứ đâu phải hễ người nhà quê là cúi mặt xuống mà làm nô lệ cho đồng tiền như các người!
Nói rồi gã lẳng lặng bỏ sang phòng riêng của gã.
Cả tuần lễ sau vợ chồng họ lầm lì không muốn nhìn mặt nhau, chuyện đó cũng đã thành lệ, không có gì là lạ. Duy có sự lạ là lần giận nhau ấy gã không mất hút ở cơ quan từ sáng tới tối như mọi khi. Hết giờ làm việc là gã về tha thủi quanh cửa tiệm mặc dù gã chẳng có việc gì ở đó.
Nhiều ngày như thế, vợ gã đâm quen, chỉ nghĩ gã giận thì hãy cứ để cho gã giận. Giận chán lại làm lành. Vợ chồng nào chẳng vậy. Nhưng không...
Một lần vì phải đi đám cưới nhà bạn ở ngoại thành, vợ gã cho thợ nghỉ việc, đóng cửa hiệu may ra đi từ sáng. Xế chiều về, vợ gã vừa đẩy cái cửa xếp bước vào đã thấy gã bắc ghế ngồi lù lù giữa phòng, mắt chăm chú nhìn cái manơcanh khoác bộ quần áo mẫu - quần trắng và áo dài màu hoàng yến - đặt trong góc phòng. Tiếng kẹt cửa làm gã giật mình quay ra, mặt sa sẩm, lùng bùng mấy tiếng rồi đứng dậy bỏ lên phòng.
Kệ xác gã, người vợ nghĩ với chút khó chịu vừa mới về tới nhà đã gặp chuyện bực mình. Nhưng cho qua. Ai mà lường hết được những thứ hâm dở trong đầu gã. Ít phút sau đã có người đến lấy quần áo, tiếp theo là một người đàn ông đỗ xe con ngoài đường gõ giày côm cốp vào đóng một bộ com lê. Cậu thợ chính không đến nên bộ com lê của ông khách chưa có ai đo. Ông khách giả bộ vì chưa đo được áo nên đành giết thời gian bằng cách ngồi phì phèo thuốc lá tán gẫu với vợ gã. Ở trên gác nhìn xuống thấy hai người lời nối lời, nói cười bả lả, lúng liếng đầu mày cuối mắt, nhưng gã thấy lạ là trong lòng gã vẫn lạnh tanh không hề gợn chút ghen tuông. Gã kéo ghế ngồi lại bàn đọc sách, mặc họ muốn làm gì dưới ấy thì làm.
Vợ gã kém gã gần chục tuổi, là con một nhà buôn hàng vải trước đây, dân Hà Nội gốc, co quắt ra trò, thêm cái vòng ngọc trai lóng lánh trước ngực, đôi vòng Tầu vàng chóe hai bên tai, thêm son phấn vẽ môi vẽ mắt, khối chàng trai còn phải nhìn sái cổ. Thế cho nên cái nhà may này tứ thời nhộn nhịp không hiểu là nhờ khéo tay may khéo tay cắt hay là nhờ khóe mắt nụ cười nghiêng ngửa của bà chủ. Bất cần. Gã lật mạnh làm trang sách rách toạc không phải vì những chuyện vớ vẩn ấy, mà là ruột gan gã cứ hôi hổi, cứ chao đảo, cứ ruồn ruột thảng thốt thế nào.
Tiếng nói sang sảng của ông khách chốc chốc lại theo lối cầu thang vọng lên phòng gã làm gã bực mình. Chữ nghĩa cứ nhảy múa nhấp nhóa trên trang sách mà chẳng dòng nào đoạn nào lọt được vào đầu gã. Gã thở hực, đứng lên đóng chặt tất cả các ô cửa kính rồi lại vớ lấy quyển sách.
Trời sang xuân đã được ít lâu. Cây nhội cổ thụ bên hè phố đang trổ những chùm hoa lấm tấm vàng nhạt. Giữa những cành lá um tùm phải để mắt nhìn kỹ mới thấy được hoa nhội. Lại phải chờ tới đêm khuya phố phường say ngủ, bốn bề thanh vắng, mùi thơm hoa nhội mới ngấm ra bầu không khí đầm hơi sương và rón rén bay qua ô cửa kính để ngỏ mà tràn vào căn phòng của gã. Lúc này trong ánh nắng lưng chiều gã đưa mắt ngắm cây nhội đứng im phắc bên ngoài lớp kính mỏng, tự nhiên bồi hồi như đang cố nén lòng chờ đợi. Chẳng hiểu chờ đợi cái gì. Thoạt đầu gã mơ hồ cảm thấy mình sắp ngã bệnh. Có con vi rút lạ vừa đột nhập vào tim gã, ngó ngoáy mãi không chịu yên. Sau gã lại muốn ốm một trận thật nặng, không ngóc đầu lên được, để khỏi phải nghĩ ngợi lằng nhằng.
Qua buổi chiều, về đêm trời nổi cơn dông. Tia chớp quét ngang ngọn cây nhội làm nhức buốt tận đáy mắt gã. Cửa kính cửa chớp rung rào rạo trong tiếng sét nổ. Sấm sét làm cho con bệnh trong người gã kịch phát. Gã hét lên vì một nỗi thèm khát được tung hê tất cả mọi ràng buộc, được hóa thân thành tia chớp làm nhức buốt tận đáy mắt của thiên hạ. Gã xỏ chân vào đôi guốc mộc, gõ choang choang từng bậc cầu thang dẫn xuống hiệu may dưới tầng một. Gặp cái công tác nào gã bật tách cái ấy. Gian cửa hiệu choán hết tầng một rộng thênh thang phút chốc sáng trưng. Gã khoanh tay đứng trước cái manơcanh hôm nọ khoác áo dài màu hoàng yến hôm nay đã thay cái áo dài khác màu tím Huế và bắt đầu cuộc tình tự với “nàng” bằng một tiếng thở dài xả hết hơi ra khỏi lồng ngực...
“Họ” bén duyên nhau bắt đầu từ một việc chán ngấy và rất đời thường. Hình như chờ đúng lúc gã đi làm về, trong tay còn xách cái cặp tài liệu, thì vợ gã lôi cái búa đanh ra gõ gõ mấy cái vào cái mộng bàn lung lay, miệng ca cẩm với cô thợ đang cắm cúi đạp máy cạnh đó:
- Chẳng lẽ một chút việc này cũng phải đi thuê thợ. Hừm, cứ như nhà không có đàn ông vậy!
Gã lên phòng cất cặp, thay đôi giày viên chức bằng đôi guốc mộc, lẳng lặng xuống nhận cái búa đanh từ tay vợ trao sang đóng thêm cái đinh vào chỗ mộng bàn cho chắc chắn. Gã nghĩ bụng vợ mình nói cũng phải. Có những việc trong gia đình dường như chỉ dành cho bàn tay đàn ông. Vả lại, dù sao gã vẫn là cái thứ “trai ở nhờ vợ...”, nếu không biết tự liệu sớm muộn rồi cũng chuốc nhục vào thân.
Chủ nhật ấy gã dành trọn buổi sáng để làm các việc linh tinh bà rằn trong nhà. Đóng lại cái đinh treo lịch, lau bụi bàn ghế giường tủ, xếp sắp lại mắc áo giá giày, vặn lại mấy con ốc vít trên xe đạp của đứa con và trên xe máy của vợ... Mãi bây giờ gã mới ngạc nhiên phát hiện ra rằng quần áo kiểu mốt của vợ gã đựng đầy nhóc bốn cái tủ đứng, giá giày vài ba chục đôi gót cao gót thấp quai chéo quai ngang, còn ví đầm thì vứt vào một xó không biết bao nhiêu chiếc mà kể.
Dù vợ gã chưa được như phu nhân tổng thống Mác-cốt có cả một kho lán sưu tập giày dép, nhưng chỉ thế này đã là quá xa lạ với cái ba lô người lính năm xưa và với những nhu cầu ăn mặc đối với một kẻ mê chữ nghĩa, đầu óc để trên mây trên gió như gã bây giờ.
Có lẽ vì những thứ này đây mà vợ gã có quyền chê người này tẩm, người kia quê một cục, người nọ dở ông dở thằng? Gã héo hắt ruột gan thấy mình đang cô đơn. Nhưng hỡi ôi đâu phải bây giờ mình mới cô đơn. Mấy người phụ nữ đã đi qua đời gã ngẫm cho kỹ đều để lại cho gã những khoảng trống cô đơn vậy cả thôi. Cuộc chia tay nào cũng làm gã ngậm ngùi nuối tiếc, nhưng về sau ngoảnh nhìn, lại thấy như thế là hợp lý. Gã phải chia tay với họ vừa khi họ chán gã, vừa khi tiếng chuông “tâm hồn” thôi ngân nga và trang sổ nợ đời bắt đầu hiện lên. Riêng lần này gã không muốn chia tay với vợ gã vì tuổi gã đã lớn rồi. Hơn thế, gã rất đìu ríu với đứa con.
Bao nhiêu từng trải, bao nhiêu kiến thức đông tây kim cổ chỉ giúp cho tính khí gã càng ngày càng giống tính khí trẻ con mà thôi. Gã và đứa con trai ngây thơ dại dột của gã là một đôi bạn nương tựa không thể tách rời. Thiết tưởng gã đã có thể cứ thế mà sống cho đến hết đời. Hiềm nỗi ở cái tuổi trẻ chưa qua già chưa tới của gã thỉnh thoảng lại bùng lên ngọn lửa xanh lam khó nhìn thấy nhưng nóng bỏng, làm ruột gan gã héo nẫu cơn khát một tình yêu, dẫu biết nó hiếm hoi như hạt vàng trong bãi cát.
Gã lủi thủi quét tước lau chùi hết tầng trên xuống tầng dưới, vun thêm từng mẩu vải từng đoạn chỉ vụn vứt dưới gầm bàn cô thợ may cậu thợ cắt, chăm chỉ với vẻ hăng hái như một kẻ lên cơn dở người. Vợ gã mấy lần mỉm cười bảo để đến chiều hẵng quét cửa hàng một thể, gã vẫn không chịu ngừng tay. Và... cái giẻ lau định mệnh đã run rủi gã đến một tai họa chưa từng xảy ra đối với loài người, ấy là lúc gã lau bụi trên tóc trên má cho cái cô manơcanh mặc áo dài màu hoàng yến đặt trong góc phòng.
Tiệm may của vợ gã có một dãy năm cái manơcanh. Hai manơcanh đàn ông nhô khúc cổ lên trên cổ áo vét tông, trông man rợ gớm ghiếc như hai tên tử tù bị chém đầu giữa pháp trường. Một cô tóc đen một cô tóc vàng khoác đồ tây áo vét lửng và váy xẻ vạt, có nước sơn bắt chước mặt các cô ca sĩ tân thời. Loại này vẫn thường lên sân khấu hoặc lên tivi vừa ngoáy ngực ngoáy mông vừa gào rống những bài hát xoàng xĩnh vô bổ. Đến cô mặc áo dài màu hoàng yến đặt trong cùng, tự dưng bàn tay cầm giẻ lau của gã run lên trước một gương mặt cúi nghiêng, buồn rười rượi. Gã có cảm giác bàn tay gã vừa động chạm vào da thịt của con người. Gã định thần nhìn lại. Nhìn lại lần nữa. Vẫn không thể tưởng tượng đó chỉ là một khối nhựa đúc. Có nhẽ nào bàn tay con người lại đúc nên được nỗi niềm thăm thẳm như thế?
Xưa nay đám văn nghệ sĩ làng nhàng lắm khi vẫn tạo ra được những tác phẩm bất hủ. Người ta gọi đó là những phút xuất thần. Anh thợ làm khuôn đúc nào đó đã gặp những phút xuất thần như vậy chăng. Mặc dù xuất thần hay không xuất thần thì vợ gã vẫn mua cái manơcanh với giá ấy, chẳng thêm bớt đồng nào. Nhưng phút xuất thần là sự ban tặng thiêng liêng huyền diệu của trời đất thần phật, sá gì tới sự tính đếm thô lậu của đồng tiền.
Gã buông vội giẻ lau, lảo đảo bước vội lên phòng nằm vật xuống giường, hai bàn tay ấp nhẹ lên vùng tim đang rung chuyển. Té ra trong ngôi nhà này còn có một con người cũng đang cô đơn chẳng kém gì gã. Nỗi cô đơn này gặp nỗi cô đơn kia cơ hồ tạo nên một sự êm ái ngọt ngào vẫn thường thấy ở những mối tình thầm lén.
... Trận mưa dông đầu mùa tạnh từ lâu. Vợ gã đã ngủ được một giấc, lúc tỉnh dậy thấy ánh sáng tầng dưới vẫn hắt lên chị ngỡ gã quên tắt đèn. Nhưng chị vừa ra đến đầu cầu thang đã sững sờ thấy cảnh tượng hết sức lạ đời này: Gã đang đứng nghiêng đầu cho trán gã chạm vào trán cô manơcanh khoác cái áo dài màu tím Huế! Chị uất nghẹn quay lên phòng, nhổ nước bọt phì phì. Sao lại có thể như thế hở trời! Dạo này thấy gã cứ quanh quẩn dưới cửa hiệu vợ gã đã sinh nghi, nhưng là nghi gã có tơ tình với cô thợ may trẻ mới vào làm, chứ ai ngờ. Rõ là điên! Đồ dơ dáy! Tống vào viện tâm thần cho rồi!
Lồng lộn vật vã cho tới lúc cơn giận nguôi dần, hơi thở trở lại bình thường thì vợ gã bàng hoàng thấy không còn biết mình đang ở đâu. Chị vẫn chưa qua cơn choáng nặng. Trận bão chỉ gồm hai tiếng “vì sao? vì sao? vì sao?” bất thần thổi thốc tới làm chị ngạt thở, xây xẩm mặt mày và hình dung thấy thần phật vừa thẳng tay trừng phạt mình.
Cũng như hầu hết những người đàn bà làm nghề kinh doanh buôn bán, ngày rằm mồng một nào vợ gã cũng bỏ mọi công việc để đi lễ chùa. Họ ki kiệt lừa lọc ở đâu chứ họ không hề tiếc công tiếc của cho những cuộc cầu cúng dị đoan nhảm nhí.
Và một khi cảm thấy có bàn tay thần linh nhúng vào vận hạn may rủi của mình, đầu óc vợ gã liền thư thư trở lại. Chị lẩm nhẩm nghĩ tới những cuộc tình thời trẻ bồng bột. Những cuộc tình ngốn ngấu từ trong phim ảnh và những quyển sách cấm bước ra đã để lại cho chị ta nhiều tai tiếng chẳng thơm tho gì, và suýt nữa đẩy chị ta trở thành một cô gái quá lứa lỡ thì. Chán chê rồi chị ta mới gặp “cái cùm”. Thấy gã là một típ người khác hẳn với cái đám trai lơ đàng điếm kia, như một nhu cầu đổi món ăn, thế là chị thích, và bèn chọn gã làm chồng. Có một gia đình chồng con ngay ngắn, chấm dứt quãng đời lông bông trăng gió, đã từng là một ước mơ rất thực lòng ở cuối đời con gái của chị. Nhưng rồi từ “cái phao” trở thành “cái cùm” từ khi nào thì dường như là một quá trình vô ý thức trong chị. Có điều hễ thoáng nghĩ đến chuyện từ bỏ gã là câu hỏi “bỏ gã thì đi với ai” lại nổi lên.
Cho tới tận hôm nay, lũ đàn ông hơn tuổi chị và kém tuổi chị vẫn còn vo ve tán tỉnh chị. Nhưng chị thừa biết họ vo ve quanh chị vì lẽ gì. Còn “cái cùm” của chị thực chất chỉ là một con cừu, dù là con cừu nghễnh ngãng ương bướng, vẫn hơn chán vạn cái lũ cầy cáo kia. Ôi, tại mình lạnh nhạt, tại mình riết róng, nên mới đến nông nỗi này!
Nghĩ thế, vợ gã đi vào phòng tắm vặn vòi nước nóng rào rào. Không khí bên ngoài đang lành lạnh sau mưa, nước ấm từ vòi phun dội mơn man trên da thịt tạo nên khoái cảm đê mê. Làn da nõn nà trở nên hồng hồng. Tấm thần đầy đặn săn chắc trong gương bốc lên làn hơi nhè nhẹ càng làm chị rạo rực nghĩ đến cuộc ân ái thần tiên bốc lửa chị sắp ban cho gã. Rồi xem gã có còn ngó ngàng gì tới cái cục nhựa hình người kia nữa hay không.
Tắm xong, vợ gã xịt nước hoa vào người, chọn bộ đồ lót mỏng tang, rồi bước sang phòng gã. Chị trải lại chăn gối thật tinh tươm trên giường gã, nằm xuống chờ đợi...
Chuông đồng hồ treo tường điểm một giờ sáng. Vợ gã lăn qua lăn lại xao xuyến như nằm trong hơi lửa, chăm chú lắng nghe tiếng guốc gã sẽ gõ lên cầu thang. Nhưng tới khi cái đồng hồ rè rè gõ hai tiếng, cả ngôi nhà vẫn im phắc. Vợ gã định hạ mình mà xuống tầng một lôi gã lên, nhưng tính tự ái dại dột của phái đẹp đã níu giữ chị ta lại.
Trước lúc chuông đồng hồ điểm ba tiếng, vợ gã giận dữ bỏ về phòng mình, vặn nắp lọ thuốc ngủ đặt ở bàn trang điểm, uống gấp đôi liều bình thường, rồi nằm úp chặt mặt lên chiếc gối đôi, ngùn ngụt thù ghét gã chồng hâm dở bệnh hoạn.
Sáng hôm sau, việc đầu tiên trong ngày, vợ gã lôi cái manơcanh khoác áo dài tím ném đánh rầm vào kho chứa đồ cũ, khóa chặt cửa lại. Trong khi làm cái việc trả thù ấy, vợ gã cười gằn khoái trá nghĩ đến bộ mặt tiu nghỉu như chó bị đòn của chồng lúc hết giờ công sở gã từ ngoài đường bước vào.
Vợ gã dự đoán quả không sai. Chiều hôm ấy về đến nhà bàn chân gã đã khựng lại giữa cửa hiệu may. Sau đó người gã tái mét, lẳng lặng cúi đầu ôm cặp bước lên tầng. Sẩm tối, đứa con lên phòng gã gọi gã xuống ăn cơm gã bảo “Con xuống ăn cơm với mẹ đi. Bố ăn rồi”.
Vợ gã thản nhiên ngồi ăn cùng đứa con, cười khúc khích lấy làm hả dạ. Nhưng sự thực đang diễn biến nghiêm trọng hơn là chị tưởng rất nhiều.
Sáng hôm sau lúc mặt trời gần đứng bóng, có một cú điện thoại từ bệnh viện gọi tới báo cho vợ gã một tin dữ: Gã bị tai nạn giao thông...
 
1/5/1999
Đăng nhập để trả lời
★ ★ ★ ★ ★ 0
GIÓ LAY CỬA PHẬT

 

Nhà chùa ở sát làng, được tách biệt bởi bốn bức tường rêu bám dày như phủ nhung xanh. Trụ trì chùa này là sư thầy Đàm Hồng, một phụ nữ tuổi chưa tới năm mươi. Và, “chú” tiểu Thanh mới chừng hai ba hai bốn tuổi, một nữ sinh Hà Nội chính gốc.
Nếu không nhìn thấy những bữa ăn đạm bạc toàn rau răm, muối vừng, cà ghém, và không có bộ quần áo tu hành, thì nhà chùa cũng giống hệt một gia đình thiếu bàn tay đàn ông, một mẹ một con, nuôi nhau nhờ mấy mảnh vườn chùa. Sáng sáng, đêm đêm sư thầy gõ mõ tụng kinh. Ngày ngày thầy trò cặm cụi vun đậu tưới rau ngoài vườn, thỉnh thoảng người này mới nói với người kia vài ba câu ngắn gọn, còn thì đầu óc họ hướng cả về miền Tây Trúc nơi có mây bay gió cuốn, muôn loài thanh thản yên vui dưới vòm trời bao la từ bi hỷ xả.
Hôm ấy trời nắng gắt, non trưa hai thầy trò dừng tay ngồi nghỉ dưới tán cây hồng xiêm. Tiểu Thanh nhẹ nhàng nói:
- Bạch thầy. Con chưa biết cách ngâm giá đỗ...
- Không khó lắm đâu - sư thầy trả lời - Khó nhất là ủ sao cho mầm giá nảy đều. Mùa đậu này ta sẽ dạy cho con.
Chợt tiểu Thanh chỉ tay ra phía cửa chùa:
- Hình như có ai đến?
Sư thầy gật đầu, tỏ vẻ đã biết:
- Cửa chùa rộng mở đón khách thập phương, có gì là lạ. Cớ sao con hốt hoảng thế?
- Bạch thầy. Người này trông khang khác thế nào.
Nói rồi tiểu Thanh đứng dậy cầm lấy cuốc, tiếp tục vun luống đậu tương. Sư thầy đi hái hoa ngâu, hoa sói, cúng phật và còn một ít để ướp trà. Tuy chăm chú vào công việc, nhưng cả hai thầy trò chốc chốc lại đảo mắt xem chừng một người đàn ông đang đứng giữa cổng chùa, ông ta đứng ở đó lâu lắm rồi, không tiến vào, không lùi ra, hình như cả đến đôi mắt của ông ta cũng không động đậy.
Lúc đầu thấy người đàn ông xuất hiện, sư thầy Đàm Hồng đã định sai tiểu Thanh “Con rửa tay vào pha trà chuẩn bị tiếp khách. Ta vắt nốt ngọn mướp này cho nó khỏi trườn ra ngoài giàn rồi sẽ vào sau”, nhưng liền đó sư thầy lại nghĩ hẵng để cho khách viếng cảnh chùa, mình thong thả vài phút cũng không sao. Giờ thấy cử chỉ khác lạ của khách, sư thầy đâm ra phân vân không hiểu ông ta cần gì, sao cứ đứng như pho tượng án giữa cổng chùa như thế?
Dù đây là chốn thôn dã, xem ra tình hình trật tự an ninh không được yên ổn cho lắm. Mới mấy hôm trước, một bọn cướp bị công an truy lùng, chúng từ thành phố chạy dạt về, giữa ban ngày ban mặt chúng dám xộc vào một gia đình phá tủ, cạy hòm, lấy những thứ đáng giá nhất rồi điềm nhiên đi sang làng khác. Sư thầy Đàm Hồng thở dài âm thầm buồn. Người thoát tục để nương thân nơi cửa Phật như ta chắc gì đã được yên.
Càng về trưa nắng càng chói chang, trời lại tắt gió. Những ngọn cây trong vườn chùa im phắc trong tiếng ve sầu ra rả, khiến dây thần kinh trong người cứ như doãi ra. Thầy trò sư thầy Đàm Hồng mồ hôi ướt đầm lưng áo, bụng đói cồn cào. Tiểu Thanh thưa:
- Con vào nấu cơm, bạch thầy?
- Con mệt lắm rồi phái không?
- Dạ.
- Nhưng hượm đã.
- Sao thế ạ?
Sư thầy Đàm Hồng ý tứ chỉ tay ra phía cổng. Người đàn ông vẫn đứng như pho tượng ở đó. Ánh nắng từ phía ngoài hắt vào, viền quanh cái pho tượng ấy một đường sáng óng ánh, ngỡ như nó đang dập dờn tan chảy hoặc đang nhẹ cất mình lên khỏi mặt đất để bay vào thinh không. Sư thầy Đàm Hồng đưa vạt áo lên lau mồ hôi đọng trên mi mắt, chớp chớp, cố nhìn thật rõ để tin rằng người đàn ông vẫn còn đứng ở kia, rồi sư thầy chắp đôi bàn tay trước ngực, miệng lầm rầm:
- A di đà Phật... Quan Thế Âm Bồ Tát nam mô Phật. Dữ Phật hữu nhân. Dữ Phật hữu duyên. Triệu niệm Quan Thế Âm. Mộ niệm Quan Thế Âm...
... Cả khu chùa lập tức như tách ra khỏi trái đất và bay tới một cõi xa xăm nào, một cõi u tịch, siêu thoát, đối mặt với âm dương, chênh vênh giữa hư vô và địa ngục, khiến tiểu Thanh rùng mình ớn xương sống vì sợ.
Dứt lời niệm, sư thầy Đàm Hồng quay lại bảo tiểu Thanh:
- Con đừng đi đâu vội. Hãy ở đây với ta.
Hai thầy trò tự nhiên ôm chặt lấy nhau, người nọ nghe hơi thở rung bần bật trong lồng ngực người kia.
Nắng đứng bóng. Rồi nắng xế về tây. Trời vẫn ngột ngạt tịnh không gạn gió. Và người đàn ông vẫn đứng đó, không hề động đậy. Sư thầy Đàm Hồng buông tiểu Thanh ra, thì thầm:
- Này con.
- Dạ.
- Con hãy bình tĩnh đi ngang qua cổng chùa xem sao. Xem đó là bóng người hay bóng quỉ.
Tiểu Thanh sắp bật khóc:
- Bạch thầy. Con sợ lắm!
Nghĩ ngợi một lát, sư thầy Đàm Hồng gật đầu:
- Con sợ thì để ta đi.
Sư thầy chắp hai tay trước ngực, nghe đôi chân bủn rủn, nhưng vẫn từ từ dấn bước về phía cổng chùa. Sư thầy vừa đi vừa lẩm nhẩm đọc. Trong lúc đầu óc tán loạn, điều gì chợt nhớ trong tâm tưởng thì sư thầy đọc lên thành lời điều ấy: “Nam Mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát. Thiên thủ thiên nhân vô ngại đại bi tâm đà la ni. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da...”. Lời chú bị ngắt quãng khi sư thầy Đàm Hồng bước quang qua cổng chùa, liếc thấy người đàn ông da đen cháy, to cao lừng lững, với bộ quần áo không rõ màu gì, vẫn đứng xuôi hai tay bất động, khiến sư thầy kinh hãi đến nghẹt thở.
Lúc sau, tiểu Thanh len lén vòng theo bức tường bao chạy tọt về chùa, đã thấy sư thầy đóng chặt mấy cánh cửa và đang ngồi trước cái mõ nhưng không gõ, chỉ có tiếng tụng kinh lầm rầm trong khoảng không tối nhờ nhờ. Trưa hôm đó hai thầy trò không nghĩ gì đến chuyện cơm nước nghỉ ngơi. Tiểu Thanh ngồi nép trong một góc, còn sư thầy thì tụng kinh suốt sang chiều. Thỉnh thoảng sư thầy ngừng tụng kinh, mở hé hai cánh cửa gỗ lim nhìn ra rồi lại đóng chặt lại ngay. Cái người đàn ông kia vẫn đứng y nguyên như lúc sáng.
Đói và mệt. Tiểu Thanh thiêm thiếp ngủ nên không biết có một lúc sư thầy bật khóc nức nở...
Chuyện xảy ra hơn hai chục năm về trước. Thái lên đường ra trận được bảy, tám tháng, ở nhà Thu Hồng trở dạ sinh được một đứa con trai. Con đầy cữ, Thu Hồng bế nó sang xóm bên để nhận ông nội bà nội của nó. Nhưng bà mẹ của Thái đã cay nghiệt rít lên: “Thằng Thái lấy vợ chứ không lấy đĩ. Đừng mang đứa con hoang này đến đổ nợ cho nó!”. Thu Hồng không hề đôi co một lời. Cô lủi thủi bế con về, rắp lòng chờ đợi một ngày chính Thái sẽ về nhận con của anh. Nhưng rồi Thái không về. Đứa con của hai người lại chẳng may “bỏ đi” trong một trận bom Mỹ...
Mô phật. Có lẽ nào con người đang đứng lừng lững ngoài kia lại chính là Thái? Sư thầy Đàm Hồng vội mở toang cửa lao ra. Lát sau, sư thầy như người chết rồi, vừa bước vào tới ngưỡng cửa đã lảo đảo ngồi xệp xuống. Con người quái dị kia không thể là người yêu năm xưa của nàng. Sư thầy đã nhìn sát mặt người ấy, và hỏi “Chư vị là ai?”, nhưng đôi mắt trắng giã vẫn trừng trừng trên khuôn mặt đen nhếnh nhánh màu đồng hun. Không có vết sẹo bé như một mảnh vỏ trấu dính vào đuôi mắt bên phải. Không có cái ngón chân út ở bàn chân trái bị trâu giẫm bẹp lép. Không có ánh mắt nồng nàn, hồn nhiên như mắt trẻ thơ. Không có chút hơi hướng nào của Thái!
Quên cả tâm niệm của người thoát tục, sư thầy Đàm Hồng mặc cho những giọt nước mắt cay cực lã chã tuôn xuống đôi gò má nám hồng. Hình như những giọt nước mắt ấy đã động tới cõi cao xanh nên trời đang trong trẻo bỗng ầm ầm nổi con giông. Lá khô ào ào trút xuống mảnh sân hẹp. Chớp sáng lòe ngoài cánh đồng. Mái chùa rung rinh vì những tiếng sét đánh xuống sau rặng cây mít cây xoài cổ thụ. Sấm sét làm tiểu Thanh giật mình choàng dậy lúc sư thầy đang lặng lẽ châm lửa vào cây đèn dầu trước tượng phật A Di Đà.
- Bạch thầy - tiểu Thanh ngơ ngác nhìn quanh và cất tiếng hỏi - Trời đã tối rồi ư?
- Tối rồi con ạ. Ta thấy con ngủ say, vừa không muốn đánh thức con dậy nhưng lại lo con đói.
- Còn cái người đứng ngoài cổng, chắc ông ta đi rồi chứ ạ?
- Con thử ra xem. Lúc nãy ta thấy người ấy vẫn còn đứng đấy.
Tiểu Thanh chạy ra lại chạy vào ngay, mặt tái mét:
- Bạch thầy. Ông ấy vẫn đứng thế. Làm thế nào đây ạ?
Trời bắt đầu sa mưa. Những hạt mưa to và nặng gõ lạch tạch vào bức vách ken bằng ván lim. Sư thầy ngồi lặng phắc giữa cái bệ đọc kinh, mắt lóe sáng biết mình không còn cách hành động nào khác hơn được nữa. Đoạn, sư thầy nói như ra lệnh:
- Tiểu Thanh con. Lấy cho ta con dao bổ củi. Còn con hãy cầm lấy cây cuốc chim!
Tiểu Thanh y lời làm theo. Khi sư thầy cầm con dao bổ củi nhứ nhứ trong tay như định chém về phía trước, tiểu Thanh mới rụt rè hỏi:
- Mình sẽ đuổi người ấy đi hay sao, thưa thầy?
- Ừ. Phải đuổi thôi.
- Nếu người ấy không chịu đi thì sao ạ?
- Mô Phật. Pháp giới trước tiên của kẻ tu hành là tránh làm điều ác. Nhưng luận về cái ác cũng có năm bảy đường. Ngay như đức Điều Ngự Giác Hoàng thuở xưa, cũng phải nam chinh bắc chiến đến nỗi “xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã” rồi mới thoát tục trở thành Phật tổ của Thiền phái Trúc Lâm cơ mà. Vậy nên, nếu người đó không đi, mà lại giở trò này nọ, thì con phải mở đường thoát ra khỏi chùa rồi chạy đi báo cáo công an. Còn chuyện đối phó với y ra sao, cứ để mặc ta.
Nói đoạn, hai thầy trò tay lăm lăm vũ khí, mở cửa tiến ra cổng chùa giữa mưa gió. Hình dáng người đàn ông khi có chớp sáng mới hiện ra trong vài giây. Hai thầy trò nép vào cây ngâu, còn cách cổng chùa một vạt sân. Sư thầy bấm tay tiểu Thanh bảo nhỏ “Con hãy bình tĩnh nhé” rồi lớn tiếng quát:
- Ông kia! Ông cần gì ở đây?
Im lặng.
- Nếu ông cứ trêu gan thế, tôi chém đấy! - Sư thầy Đàm Hồng dồn hết sức lực trong người, thét vang - Đi đi. Đi ngay đi!
Tình thế thay đổi hết sức bất ngờ. Nghe tiếng thét của sư thầy Đàm Hồng, gã đàn ông đứng im thêm một lát như sẵn sàng giơ ngực chịu trận, nhưng ngược lại sư thầy Đàm Hồng đã để rơi con dao đánh xoảng. Gã bỗng ngửa cổ cười sằng sặc, rồi quay người bước ra khôi chùa.
- A ha ha. Tôi chỉ cần có thế, chứ chẳng cần gì khác. Nam mô di đà Phật. Chào sư thầy, tôi đi đây. A ha ha...
Cái bóng của người đàn ông mất hút vào lối ngõ chùa tối mịt, nhưng tiếng cười ngân nga như hát của gã vẫn văng vẳng vọng lại: “Nam mô a di đà Phật. Đức Phật đại từ đại bi. A ha ha...”.
Có một lúc nghe tiếng cười kia sư thầy bỗng sửng sốt thốt lên: “Mô Phật. Chẳng lẽ lại là con người ấy?”. Con người ấy cũng sinh ra ở cái làng này, cùng đi bộ đội với Thái một ngày nhưng sau đã đảo ngũ - Gã là người đầu tiên báo cho Thu Hồng cái tin sét đánh rằng Thái đã hy sinh, nhưng không hiểu tai vách mạch rừng thế nào mà dân làng lại có lời xì xầm chính hắn đã nhân lúc bom rơi đạn nổ giết chết Thái để quay về chiếm đoạt tình yêu của Thu Hồng - về sau gã lại bỏ làng đi, nghe đâu nhập bọn với một băng cướp hay băng buôn lậu sống lẻn lút trên rừng.
Vào những ngày Thu Hồng dọn mình chuẩn bị xuống tóc đi tu, đang đêm gã lẻn về ấn vào tay Thu Hồng một con dao găm sáng loáng, khẩn khoản xin Thu Hồng hãy đâm cho gã một nhát vào tim chứ nàng đừng uổng phí tuổi xuân trong kiếp người tu hành... Nhưng khi tiểu Thanh hỏi người ấy là ai, sư thầy Đàm Hồng liền gạt đi. “Không. Không. Con vào lo cơm nước đi. Suốt ngày nay thầy trò ta sắp chết đói rồi”.
Đêm ấy, sau buổi tụng kinh thường nhật, sư thầy Đàm Hồng đặt mình lên giường là lịm ngay vào giấc ngủ mê mệt. Trận mưa tạnh từ lâu, nhưng gió còn giật từng cơn trên tấm rèm trúc che dọc hiên chùa. Trong tiếng lật phật gió lay lúc khoan lúc nhặt, sư thầy Đàm Hồng thấy một tòa sen từ trên mây xanh lãng đãng trôi xuống gần ngôi chùa, và người ngự trên tòa sen chẳng phải ai khác mà chính là Phật Quan Thế Âm Bồ Tát. Đức Bồ Tát mỉm cười vô cùng dịu hiền hỏi sư thầy Đàm Hồng:
- Này con. Con có biết sự tích của cây cờ phướn nơi cửa chùa không?
- Thưa, con có biết ạ. Mô phật...
- Con hãy kể ta nghe.
- Thưa, thuở xưa có một vị cao tăng trên đường lên Tây Trúc cầu được làm Phật. Một tên tướng cướp gặp vị cao tăng và hỏi muốn thành Phật phải làm thế nào? Vị cao tăng trả lời rằng muốn được làm Phật thì chỉ cần tấm lòng. Nghe nói thế, tên tướng cướp liền rút gươm tự mổ bụng cắt trọn bộ lòng của mình trao cho vị cao tăng, nhờ vị cao tăng mang hộ đến cửa Phật. Trên đường đi phải vượt thác băng ghềnh, bộ lòng của tên tướng cướp lâu ngày bốc lên mùi hôi hám, vị cao tăng bèn vứt vào rừng để đi cho nhanh. Khi vị cao tăng lên đến đất Phật thì đã thấy ông tướng cướp này được thành Phật đang ngồi đấy rồi. Thưa, lá cờ phướn nhắc nhở tăng ni phật tử cùng bá tính quần sinh nhớ đến sự tích ấy ạ. Chẳng hay con nhớ như vậy có đúng không?...
Sư thầy Đàm Hồng quay lại định hỏi phật Quan Thế Âm thì Người đã biến đi rồi, chỉ còn lại tiếng gió lay mành trúc lẫn trong mùi hương thơm ngan ngát. Sư thầy sực tỉnh, nhớ ngay đến chuyện mình cùng tiểu Thanh mới đuổi người đàn ông kỳ dị nơi cổng chùa lúc tối. Từ đó trong người sư thầy Đàm Hồng cứ bồn chồn không yên. Sáng ra, sư thầy Đàm Hồng mỏi mệt biếng ăn biếng làm, rồi thành ra ốm nặng.
Mấy ngày liền sư thầy Đàm Hồng không dậy được, tiểu Thanh vô cùng lo lắng. Sáng hôm ấy tiểu Thanh đi mời một vị danh y ở huyện bên đến chữa bệnh cho sư thầy. Vị danh y bảo tiểu Thanh hãy về trước, ông chữa bệnh nốt cho mấy người nữa rồi sẽ sang sau.
Tiểu Thanh về bạch lại tình hình để sư thầy yên tâm.Nhưng sư thầy hình như đang bận tâm chuyện khác. Sư thầy bảo tiểu Thanh ngồi xuống bên mình, và thì thầm nói:
- Không hiểu ta mắc vào nghiệp chướng thế nào, vừa rồi ta lại nằm mơ thấy người đàn ông đứng án trước cổng chùa hôm qua...
Còn một chi tiết rất quan trọng trong giấc mơ, sư thầy không kể cho tiểu Thanh nghe. Người đàn ông sư thầy Đàm Hồng gặp trong mơ hoàn toàn không phải cái gã lỳ lợm và quái đản kia, mà chính là chàng trai có tên là Thái. Sư thầy đã ôm chầm lấy Thái, hôn như mưa như gió lên vết sẹo nhỏ như mảnh vỏ trấu dính ở đuôi mắt bên phải của chàng, nước mắt Thu Hồng đã tưới chan hòa lên vết sẹo ấy, lên gương mặt đáng yêu ấy. Nhưng, tới phút sư thầy ngả đầu lên ngực Thái, đòi đi theo Thái, thì chàng đã lẳng lặng bỏ nàng lại mà quay mặt đi.
Ngỡ như giấc mơ còn đang tiếp diễn, sư thầy Đàm Hồng lại nghẹn ngào khóc. Tiểu Thanh chạy ra lấy tấm khăn mặt vào lau nước mắt cho sư thầy Đàm Hồng, mới hay người sư thầy Đàm Hồng đã lạnh như đồng.
Lúc vị danh y huyện bên tới, sư thầy Đàm Hồng đã lâm vào tình trạng mê sảng. Sư thầy thì thầm nói với người trong mộng: “Thái ơi. Thái cho em đi với. Sở dĩ em gửi thân vào cửa Phật chỉ cốt có đủ thời gian đợi chờ anh. Đừng bỏ em mà đi. Một mai lên tới cõi niết bàn nhưng thiếu anh, một mình em lên đó để làm gì? Thái ơi! Con ơi!...”.
Vị danh y đặt mấy ngón tay vào cổ tay sư thầy Đàm Hồng để bắt mạch. Ông cụ lắc đầu ái ngại, lâu lắm mới thở dài nói với tiểu Thanh:
- Còn nước còn tát. Tôi bốc một thang thuốc này - ông cụ vừa nói vừa đặt cái tay nải đựng thuốc xuống giường - Chú tiểu đun thuốc sôi tới đâu chắt ngay cho sư thầy uống tới đó. Uống liên tục. Thế mà không được nữa thì đành chịu.
Đúng như lòi vị danh y tiên đoán. Đêm ấy, vào lúc chính ngọ, sư thầy Đàm Hồng đã trút hơi thở cuối cùng.
Sư thầy “ra đi” thản nhiên, nhẹ nhõm như một chiếc lá rụng về cội. Khi khâm liệm cho sư thầy, ai cũng ngạc nhiên thấy gương mặt sư thầy vẫn nhuần nhụy, tươi tắn như lúc sư thầy còn sống.
Một vị sư già dẫn theo mấy nhà sư trẻ từ trên hội Phật Giáo của tỉnh về cùng với các nhà chức trách địa phương lo tang chay cho sư thầy Đàm Hồng. Trong đêm làm lễ siêu tịnh cho sư thầy Đàm Hồng, đèn nến sáng rực chùa. Tiếng tụng kinh ngân nga âm vang như những ngọn gió thiền bay mãi bay mãi lên vòm trời đêm mông lung. Riêng tiểu Thanh, cứ nghĩ đến chuyện xong lễ cầu siêu này là vị cao tăng cùng các nhà sư sẽ về chùa trên tỉnh, bà con dân làng sẽ ai về nhà ấy, khắp khu chùa quạnh quẽ và um tùm cây cối này sẽ còn lại chỉ một mình tiểu Thanh, là nước mắt tiểu Thanh lại tràn ra.
Vì mải tụng kinh, chẳng ai để ý đến tiểu Thanh khóc rũ rượi trong một góc chùa. Bỗng tiểu Thanh mơ hồ nghe tiếng một người thì thầm ở quanh đâu đây: “Này con. Khóc lóc như thế không phải là cách tiếc thương của những người tu hành chúng ta. Con quên lời Phật dạy rồi ư? Sự sống, sự chết chẳng qua chỉ là một bước chuyển vần trong cõi luân hồi mà thôi. Mỗi khi con nghĩ đến ta, tức là ta vẫn còn ở bên con đấy...”.
Tiểu Thanh nhận ngay ra giọng của người đang nói chính là giọng của sư thầy Đàm Hồng. Tiểu Thanh bàng hoàng gọi: “Thầy ơi! Thầy đang ở đâu?” thì giọng nói ấy im bặt.
Dăm hôm sau đám tang sư thầy Đàm Hồng, người đàn ông hôm nọ lại trở lại ngôi chùa. Trông thấy ông ta, tiểu Thanh sợ hết vía, nhưng ông ta đã ôn tồn bảo rằng ông ta biết trong thời gian chờ đợi có một nhà sư mới về thay sư thầy Đàm Hồng, tiểu Thanh rất cần có người giúp đỡ, và ông trở lại chỉ vì lý do ấy.
- Nào - ông ta nói - Mang cuốc, mang bình tưới ra. Bác cháu mình đi làm vườn đi.
Tiểu Thanh ngập ngừng:
- Nhưng... bác là người như thế nào ạ?
- Bác là gì ư. Bác không phải là nhà sư. Bác không thích tu hành.
Có được một người cùng làm, dù sao tiểu Thanh cũng thấy vui vui. Người đàn ông tay cầm cuốc vun xới thoăn thoắt, miệng bập hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác, và thỉnh thoáng lại tìm cơ hội để chuyện trò cùng tiểu Thanh.
- Cháu có bao giờ nghe sư thầy nhắc đến một người tên là Thái không?
- Thưa không.
- Còn một người nữa tên là Ngự. Có không?
- Không.
- Thế là bà ấy không hề kể về cuộc đời của bà ấy cho cháu nghe!
- Thưa vâng. Nhưng... Ông là ai mà biết sư thầy của cháu ạ?
Người đàn ông mỉm cười chua chát, trả lời rằng ông ta là một “con nợ” của sư thầy Đàm Hồng, một món nợ không sao trả được. “Cháu nên biết đến thế thôi, cháu gái ạ!”’
 
26/9/1995
Đăng nhập để trả lời
★ ★ ★ ★ ★ 0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 14.10.2026 10:58:00 bởi hoi_ls>
GIÓ NGÀN

 

Chừng hơn một tuần kể từ ngày tôi đeo ba lô về đơn vị và lên làm trên công trường đá. Một buổi chiều, trong lúc ngồi trên đỉnh núi nhìn xuống, thấy tấm lưng áo quân phục và mái tóc buông dài của Nguyệt thấp thoáng giữa làn khói bộc phá đang tan, tôi đã mỉm cười một mình và tự nhủ:
- Có được một người con gái như “cô ta” cùng làm việc, thật không đến nỗi uổng công.
Nguyệt đã đi khuất vào dưới chân vách đá, nơi có từng cồn khói màu xám vừa tuôn từ trong lòng núi ra. Không nhìn thấy Nguyệt nữa, tôi lại mơ màng nhìn xuống cánh rừng chiều trập trùng ở hai bên dòng suối Mồ Hôi. Lá rừng bị gió lật lên trắng xóa như có ngàn vạn con bướm vỗ cánh bay trong ánh nắng vàng nhẹ như tơ.
Tôi thú nhận với mình rằng tôi thích thú mỗi khi được gần người con gái ấy. Khi phải xa Nguyệt, dù chỉ xa trong vài chục phút, như lúc này đây, tự nhiên tôi cứ thấy bên mình vắng vẻ hẳn đi. Có lẽ tôi đã yêu Nguyệt thật rồi. Nhanh chóng thế! Những người từng trải sự đời hay nói tình yêu đứng đắn bao giờ cũng nên xảy ra một cách chậm rãi, và thận trọng. Không biết điều đó có phải là một tiêu chuẩn để “cân đong” cho mọi mối tình hay không?
Nguyệt từ dưới chân núi lên, “bắt được quả tang” cái giấc mơ trầm tư ấy của tôi, khiến tôi luống cuống lưỡi dính vào miệng, nói không thành lời.
- Ta về đi, anh Tuấn - Nguyệt bảo tôi - Cái xà beng của tôi, tôi để đâu ấy nhỉ?
Các bạn ở hai tiểu đội làm đá - tiểu đội hai và tiểu đội ba - đã nhanh chân về hết. Trên công trường vắng tanh.
Tôi lấy làm hài lòng về những phút được một mình đi bên Nguyệt như thế.
Bóng quả núi trùm lên cái công trường nhỏ bé của chúng tôi. Chúng tôi khoan khoái đi vòng quanh những đống đá dăm xếp gọn thành khối, né tránh những tảng đá hộc do bộc phá vừa mới làm vỡ từ trên vách núi lăn xuống, ngổn ngang. Lớp đá vụn trải đầy mặt đất đang khẽ phát ra những tiếng lạo xạo dưới chân đi. Tôi bỗng hồi hộp trong lòng.
Ra khỏi công trường, Nguyệt rủ tôi xuống suối rửa. Tôi nói tôi không có khăn. Nguyệt liền trao cho tôi chiếc khăn mặt bông nhuộm màu cỏ úa - Chiếc khăn đó, Nguyệt vẫn dùng để trùm từ mái tóc xuống đến cằm trong lúc làm việc cho đỡ nắng và đỡ bụi.
- Anh rửa trước đi - Nguyệt bảo.
Tôi từ chối.
Nhưng rồi tôi đã làm theo lời Nguyệt. Tôi cầm chiếc khăn mặt khô cong bước xuống dòng suối trong xanh. Nguyệt ngồi trên bờ, vừa đợi tôi rửa, vừa búng từng đám bụi ở hai cánh tay áo.
Tôi lặng nhìn cái bóng của tôi rập rờn dưới suối một lát, rồi mới nhúng ướt chiếc khăn mặt và xoa nước lên hai má. Chiếc khăn trở nên mềm mại, mát lạnh. Tôi cố rửa thật chậm, thật nhẹ tay, để khỏi làm tan mất cái cảm giác êm ái, tưởng như đôi bàn tay xinh đẹp của nàng đang dịu dàng áp lên làn da cháy nắng của tôi.
Tôi rửa xong, trao khăn lại cho Nguyệt.
Nguyệt cởi đôi giày vải, xắn hai ống quần quân phục lên lưng bắp chân, đoạn cuộn mái tóc lại thành một búi gọn gàng trên đầu, rồi khoan thai lội xuống dòng nước.
Cái dáng đứng rửa của Nguyệt gợi lên trong tôi những mơ ước hết sức thanh bình: Người con gái giặt áo bên dòng sông quê nhà, những gọn khói xanh lam còn vương trên mái rạ trước khi cất mình bay lên và tan vào khoảng trời hoàng hôn, những bước đi oai vệ của đàn trâu về chuồng, và tiếng reo xao xác của trẻ nhỏ trong xóm,...
Cuộc sống ấy giản dị và đẹp biết bao nhiêu. Nhưng con người ta lại mắc phải một bệnh tự mãn kinh niên thật đáng ghét, là cứ phải đợi cho nó qua đi rồi, mình mới thật thấm thía nỗi thèm khát về nó. Chứ những ngày tôi còn là một chú bé chăn trâu trên những cánh đồng làng, tôi đâu thèm biết đến niềm hạnh phúc tuyệt vời ấy! Ngay cả hai tiếng “Quê hương” đối với tôi cũng không thể vượt ra ngoài những bài tập làm văn sáo rỗng trên ghế nhà trường.
Nguyệt đã rửa xong, đứng nhìn tôi và nói khe khẽ:
- Lại đăm chiêu rồi! Đăm chiêu quá thì không sống nổi ở đây đâu, anh Tuấn ạ.
Tôi hiểu lời nói của Nguyệt như một lời phê bình thân ái, còn là một lời khuyên chân thật nữa.
Nguyệt có đủ tư cách để khuyên bảo tôi lắm chứ. Những người ở hậu phương, nhất là trên báo chí, người ta đã nói chán chê về “cánh” Thanh niên xung phong chúng tôi. Những là “lòng dũng cảm”, những là “tinh thần khắc phục khó khăn”, những là “sự quên mình trên mặt trận bảo vệ cầu đường”,... của những người Thanh niên xung phong. Nói như vậy chẳng có gì ngoa. Song có điều những cái bọn con trai chúng ta từng chịu đựng, nếu đem nhân lên gấp năm lần, mười lần, vẫn không thể nói hết được về những cô gái như Nguyệt.
Vì sao ư?
Vì họ là con gái. Một vùng núi non hiếm nước còn gây khó khăn cho họ không kém gì những quả bom giết người của giặc Mỹ. Những đêm mưa rừng nhớ nhà của họ còn đáng kể hơn bất cứ một công việc nguy hiểm nào trên mặt trận bảo vệ cầu đường.
Hơn nữa, Nguyệt nhập ngũ trước tôi, vào tuyến lửa trước tôi. Nguyệt đã sống qua khá nhiều vùng trọng điểm đánh phá của giặc, như Ngã ba Đồng Lộc, Ngầm sông Gianh, Ngầm khe Rinh, Ngầm khe Tang, rồi mới về làm đá ở đây...
Quãng đường từ suối Mồ Hôi về lán ở, hai chúng tôi vác choòng đi sóng bên nhau. Tiếng động cơ của một chiếc máy bay C130 cùng với những tràng súng rất dài từ phía đường 9 vọng về. Tôi rất ít nói. Nguyệt cũng không nói nhiều, chỉ thỉnh thoảng cười khúc khích. Lúc sau tôi mới hiểu vì sao Nguyệt cười. Một mảng vai áo của tôi bị rách toạc, hễ gặp gió lại bay phấp phới như một lá cờ.
- Ồ... - Tôi chữa thẹn - có lẽ nó đã bị rách lúc tôi cột sợi dây vào người để tuột xuống vách đá...
- Tối nay đưa sang tôi vá cho. Nguyệt bảo thế, rồi đột ngột hỏi:
- Anh Tuấn này, anh có thích công việc làm đá không?
- Thích.
- Đừng nói dối đấy chứ?
Gặp đôi mắt trong vắt của Nguyệt nhìn tôi, tôi lúng túng không biết nên trả lời thế nào cho phải.
- Tôi thì không.
Nguyệt nói, giọng vững vàng, chín chắn, làm tôi bàng hoàng không hiểu Nguyệt định nói gì.
- Nguyệt nói thật à?
- Tôi thích ở nhà làm ruộng hơn - Nguyệt vừa nói vừa gật đầu - Mùa này ở quê tôi người ta đang làm cỏ thúc đòng đây. Ban ngày làm ngoài đồng, chiều về giúp mấy đứa em quét tước, dọn dẹp, cho con lợn con gà ăn, đến tối nếu không bận họp hành thì thắp đèn lên ngồi đọc sách, hoặc khâu vá. Như vậy chẳng thích hơn là ngày ngày phải lo muốn chết lên vì những công việc như cầm choòng, đốt bộc phá này sao?
- Vậy mà ai cũng bảo Nguyệt là người làm việc say sưa lắm?
Nguyệt lại gật đầu.
- Phải rồi. Tôi không muốn mình là người chán nản. Hơn nữa, hễ nghĩ tới “người khác” còn đang thiếu cơm, thiếu đạn ngoài chiến trường là tôi thấy mình không có quyền được chán nản. Chán nản chẳng khác gì bội bạc!
Nguyệt nhấn mạnh hai tiếng “người khác” vô tình đã kích thích vào cái tính tò mò sẵn có trong người tôi. Nhưng, tôi không kịp hỏi gì thêm. Tiếng cười nói của anh chị em ở khu lán giữa rừng đã vang tới chỗ chúng tôi, lao xao như đang buổi chợ phiên.
Tôi cố ý đi chậm lại để tạo một khoảng cách giữa tôi và Nguyệt. Nhưng Nguyệt nhìn tôi, hơi chau mày, như muốn bảo: Đừng làm thế, chỉ tổ cho người khác có cớ để dị nghị linh tinh!
Rồi trong bữa ăn. Tiểu đội tôi dọn mâm ra ở đầu sân bên này, tiểu đội ba ngồi ăn ở đầu sân bên kia. Mảnh sân hẹp chạy dưới những lùm nứa tép, không dài lắm. Nên nhiều khi bên nọ vẫn “bắn cầu vồng” sang bên kia những câu chuyện thật vui vẻ.
Tôi ngồi ăn, cố cưỡng ép mình không được liếc nhìn sang bên mâm tiểu đội ba, nhưng tai thì lắng nghe hết mọi chuyện bên đó.
Nguyệt nói:
- Trưa mai, ta vỡ một đám trồng rau muống, các cậu ạ. Ăn măng mãi chán rồi.
- Nhỡ lại chuyển đi, thì sao?
Tiếng người nói sau là tiếng của Thành, cô gái người ngắn “một gang” chi được hai chiếc đuôi sam vừa dài vừa mập như hai sợi chão buộc cày. Hình như có bao nhiêu cơm gạo, cô ta đều dành để nuôi mái tóc hết cả.
- Chuyển thì đeo rau lên ba lô mà đi! - Tiếng Nguyệt nói đùa.
- Tiểu đội trưởng đã quyết như rứa, thì mần thôi - giọng láu lỉnh của Quế. - Nhưng chị Nguyệt ơi, chị ngắm được đám bờ suối nào chưa?
- Không “ngắm”
thì ta đã chẳng bàn với các cậu!
- Ra rứa! Nhưng phải hết sức bí mật quân sự đó chị ạ. Không là mấy “ông” tiểu đội hai thính tai lại ra chiếm mất đấy!
Rõ ràng là Quế đang nói to để khiêu khích cánh tiểu đội hai chúng tôi. Tất nhiên bên tiểu đội chúng tôi chẳng thiếu những tay đối đáp mồm miệng cứ dẻo quánh như các bà ở chợ.
Nhưng riêng tôi thì không nhảy vào cuộc làm gì cho mất công. Tôi còn bận nghĩ về Nguyệt.
Nguyệt lại đang lo đến đời sống cho chị em trong tiểu đội. Đấy là một cô Nguyệt khỏe khoắn và thoải mái rất quen thuộc với mọi người. Ở đây, cả đơn vị đều nghĩ, nếu Nguyệt không có những công việc để mà lo lắng, xốc vác, chắc Nguyệt sẽ mắc ngay một thứ bệnh như người ta ốm tương tư.
Còn cô Nguyệt thứ hai, cô Nguyệt của những ý nghĩ: “Ở nhà đi làm cỏ lúa không thích hơn cầm choòng đục đá hay sao”, chắc không phải ai cũng biết. Đáng ngạc nhiên là, về phía này, “gương mặt” của Nguyệt cũng lại rất tươi tắn và tự nhiên. Khiến tôi cứ băn khoăn mà nghĩ: Một con người, nhất là một cô gái, đã có cái cốt cách như thế này, ắt không thể có cái cốt cách như thế kia. Nếu ai đã chứa nổi cả hai phía khác vời nhau ấy trong con người mình, người đó phải là một người vừa sung sướng nhất vừa bất hạnh nhất trên đời.
Nghĩ thế, tôi thương Nguyệt đến nóng bỏng trong ruột gan. Nhưng, “người khác” mà Nguyệt nói lúc hai đứa chúng tôi rửa mặt bên suối Mồ Hôi, là ai thế nhỉ?
Đến đêm thì tôi lên cơn sốt. Những cơn sốt “nhập đề” đối với người mới sống ở rừng thật là nặng nề.
Suốt đêm, tôi không biết mình thức hay ngủ. Nhưng hình như không lúc nào tôi không nghĩ tới Nguyệt. Tôi có những giấc mơ rất lạ lùng, một phần đã diễn ra đúng như sự thật ban ngày, nhưng nhiều chỗ khác, tôi không hiểu cái gì đã làm cơ sở cho những hình ảnh xa lạ đến như vậy bỗng được dựng lên trong bộ óc rối loạn của tôi?
... Nguyệt treo người trên lưng chừng vách đá, đôi bàn tay đeo găng xoay đi xoay lại cây choòng dài, cho chiếc búa năm cân không ngừng vung lên đập chan chát xuống đầu choòng.
Cái đầu choòng tòe ra rất nhanh, ở chỗ tiếp giáp nhiều với mặt búa sáng lên như một tấm gương soi, và bỗng dưng nó chảy nước mắt. Nó cũng biết khóc như người...
... Nguyệt rút cây choòng từ trong lòng đá ra. Tôi treo người chênh vênh trên khoảng không, và hơi nghiêng xuống. Mùi bột đá bay ra còn nồng hơn lửa. Nguyệt ngửa đôi bàn tay nám hồng của Nguyệt ra đỡ lấy vầng trán cho tôi. Lập tức một làn hơi ấm truyền qua cánh tay Nguyệt sang người tôi, làm tôi díp mắt lại vì buồn ngủ không cưỡng nổi, nhưng tôi vẫn không quên cái cảm giác chênh vênh của sợi dây đai đang đu đưa chầm chậm trên đỉnh núi...
... Rồi cái mặt trời to như cái nia, nóng hừng hực và sáng lóa cứ áp sát mãi vào mặt tôi. Tôi lấy hết sức xô bật nó ra, nhưng nó nặng quá. Tôi giãy giụa, tôi la hét. Tôi bị quáng mắt không thấy gì nữa, nhưng vẫn nhận ra tiếng của nhiều người đang nói gì rất ồn ào ở chung quanh, và đặc biệt là tiếng Nguyệt gọi tôi: “Anh Tuấn! Anh Tuấn!...”.
Sáng ra, tôi tỉnh dậy trong tiếng sương rơi lộp bộp trên mái lán, thấy mình nằm dưới một đống chăn nặng. Anh chị em cả hai tiểu đội đã ra công trường làm việc cả rồi. Trên đầu giường tôi có một bi đông nước nguội và một hộp đựng đường bằng nhựa xanh. Tôi biết ngay cái hộp đường là của cậu Đoàn, vì trên nắp hộp có một chỗ bị lửa táp hơi vênh lên. Theo như Đoàn kể lại, chính cái vết sém ấy là một chiến công khá oanh liệt của cậu ta. Cậu ta đã cứu được một đồng chí cùng với cái hộp đựng đường này giữa một trận bom na-pan, từ hồi đơn vị còn làm nhiệm vụ mở đường ở bên nam sông Bến Hải.
Tôi không uống nước đường. Tôi cũng không muốn ăn gì cả, tôi nằm im, chăm chú nhìn ra cánh cửa khép hờ. Bên ngoài cánh cửa là mảnh sân luôn luôn rợp bóng nứa mà những chiều tạnh ráo từ ngoài công trường chúng tôi kéo nhau về ngồi chơi, ca hát, trải chiếu đánh bài, đánh cờ, và ăn cơm luôn ở ngoài đó. Cuối sân là con đường nhỏ dẫn ra công trường. Con đường quá hẹp, những ngày mưa nước đọng trên lá thường quệt vào người, làm ướt từ ngực trở xuống. Nhiều lần chúng tôi muốn phát cho đường rộng ra, nhưng lại đành thôi. Đường rộng dễ đi nhưng cũng dễ lộ, tuy vùng này đã vài tháng nay máy bay địch ít nhòm ngó hơn trước.
Tôi thả cho trí tưởng tượng của tôi lần theo con đường chuột chạy ấy ra tới công trường, tới cái lỗ đá chiều qua tôi và cậu Đoàn đã đục xong, sâu tun hút, nhưng chưa kịp làm sạch bên dưới để nhồi thuốc bộc phá. Hôm nay cậu Đoàn sẽ làm tiếp. Chắc thế nào cậu ấy cũng được Nguyệt sang làm cố vấn, hoặc làm đỡ một tay. Vì chỗ Nguyệt đứng cầm choòng gần ngay chỗ chúng tôi. Vả lại Đoàn mới vào nghề, thao tác còn lúng túng lắm. Thế nào hắn ta cũng phải gọi với sang, hỏi: “Chị Nguyệt ơi, lau thế này được chưa?” - “Chị Nguyệt ơi, lèn thuốc thế này được chưa?” - “Chị Nguyệt ơi...”. Tôi thấy cứ như hiển hiện ra trước mắt tôi cái cảnh Nguyệt lôi cả sợi dây bảo hiểm dài thòng từ trên đỉnh núi xuống, lách mũi giày vào những kẽ đá mà đi lần sang chỗ cậu Đoàn. Nguyệt sẽ vừa làm vừa chỉ dẫn cho Đoàn phải làm thế này, thế này,... y như những ngày trước Nguyệt đã kèm cặp cho tôi vậy.
Một con chim khướu vỗ cánh bay ngang mái lán, đến đậu trên ngọn cây vải thiều cao nhất chòm rừng chúng tôi ở, và cất tiếng hót rất trong. Nó làm cho tôi buồn nẫu ruột. Tôi không nghĩ về công việc được nữa, và chẳng biết làm gì khác hơn là cứ nằm yên một chỗ nhìn ra cái kẽ sáng ngoài tấm cửa khép hờ.
Tôi ngong ngóng đợi một người nào đẩy cửa bước vào. Tôi không rõ tôi đang đợi ai. Ai cũng được.
Nhưng nếu người ấy lại có dáng nhỏ nhắn với vài sợi tóc dài buông lòa xòa trên gương mặt nhẹ nhõm, và đôi mắt vừa buồn thăm thẳm vừa ngời sáng... Nếu người ấy đẩy cửa bước vào thật, chắc tôi sẽ ngất đi, hoặc sẽ chết luôn vì vui sướng.
 
*

 
Tôi yêu Nguyệt thật rồi. Trước đây, khi mới học xong cấp ba, có lần tôi nghĩ rằng tôi đã yêu.
Nhưng không phải.
“Tuấn ơi, khi nào mày phát khổ sở lên vì thiếu một bộ cánh để trưng diện trước mặt người đẹp, mong làm vừa lòng “người đẹp” bằng cách đó, thì chẳng qua mày mới chỉ là một đứa mê gái mà thôi. Mày chưa thể biết tình yêu là thế nào!”.
Còn bây giờ thì khác hẳn. Sau một năm nhập ngũ, tới giờ tôi mới vẻn vẹn có hai bộ quân phục trong ba lô. Một bộ còn mơi mới, nhưng lại rách vai áo. Nguyệt đã vá hộ. Bộ kia tuy chưa rách nhưng lại cũ hơn, lưng áo lấm tấm mốc. Nếu như không sợ những thớ vải bở ra quá nhanh chóng, thì thực tình, tôi chỉ thích mặc bộ quần áo kia - bộ thứ nhất - không phải vì bộ quần áo ấy còn mới hơn, mà vì mỗi khi mặc nó vào người, tôi lại như được hưởng sự chăm sóc đơn giản mà cảm động của Nguyệt.
Với đôi bàn tay mảnh mai ửng đỏ vì nắng của Nguyệt - đôi bàn tay đã quai búa, đã cầm choòng, đã đánh thuốc nổ, đã phá bom nổ chậm,... - Nguyệt sẽ thừa sức trang điểm, chăm sóc cho cuộc đời tôi. Có đôi bàn tay ấy, dù phải cực khổ tới đâu, tôi vẫn không thể là một người lam lũ, nhếch nhác được!
Tôi yêu Nguyệt thật rồi!
Chỉ còn một việc duy nhất, và quan trọng vô ngần nữa, là tôi phải hỏi xem Nguyệt có yêu tôi không? Tôi sẽ hỏi. Đó là việc trước mắt tôi không thể không làm. Sau đó, tôi sẽ nói thẳng với Nguyệt một vấn đề khác, rằng: tôi không thích cái lối “chan hòa với mọi người” mà Nguyệt hiện đang sống.
Chưa gì tôi đã sinh ra ghen tuông rồi chăng? Tôi cũng không biết nữa. Nhưng dù sao tôi cũng nói, ít nhất là để Nguyệt hiểu thêm về tôi: Từ nhỏ tôi đã mắc một tật xấu, là không biết và không thích tìm cách làm vừa lòng bất cứ ai. Tôi không thích ai gặp tôi cũng xít xoa khen nựng “Thằng bé này ngoan quá!...” - Và sau này, cái tật ấy chính là một tai họa lớn nhất trong đời tôi.
Bây giờ với Nguyệt, tôi cũng ương ngạnh như vậy.
Nguyệt niềm nở với tất cả anh em trong đơn vị, nhất là với những người bạn “hàng xóm” như tiểu đội hai này, tôi hoàn toàn đồng tình. Tôi còn lấy làm vinh dự nữa là khác. Chỉ riêng với hai cậu: cậu Liễu và cậu Sùng, mà Nguyệt cũng tỏ ra ân cần, niềm nở, thì tôi không thể chấp nhận.
Cậu Liễu để hai cái móng tay ở hai ngón út dài và nhọn như hai cái vỏ con trùng trục. Cậu ta chăm chút hai cái vỏ trùng trục ấy còn hơn cả chăm rửa mặt. Thật ngứa mắt khi phải nhìn cậu Liễu cầm búa ngồi đập đá, cứ tháng năm một nhát, tháng mười một nhát, cái móng tay dài chõ ra, quệt cả xuống đất. Thú thực là tôi đã tức phát lộn ruột mỗi khi thấy Liễu dùng hai móng tay vỏ trùng trục chải sồn sột vào hai mớ tóc mai để nhọn vểnh ra phía trước, để làm duyên và liếc mắt đưa tình với các cô gái.
Còn cậu Sùng thì không biết ngượng, cứ xắn cao mãi cái ống tay áo lên, ý chừng muốn khoe khoang cái hình chạm trổ trên cánh tay của cậu ta. Đó là cái hình chẳng ra làm sao cả.
Trông mà phát tởm!
Cậu Liễu và cậu Sùng đã được tôi coi như một dung dịch nước quỳ trong hóa học để phân định thành từng loại bạn bè trong đơn vị. Thật không may cho cô gái nào, chỉ cần cô ta cười nói lả lướt với một trong hai anh chàng đó, liền bị tôi khoanh một khoanh tròn, “nhốt” vào cái “tập hợp” đáng coi thường, khó lòng mà thoát ra được.
Tất nhiên tôi chưa bao giờ dám xếp Nguyệt vào cái “tập hợp” rủi ro ấy. Nguyệt đối xử tốt với mọi người, nhưng chưa “lả lướt” với ai bao giờ. Vậy mà, để đáp lại lòng tốt của Nguyệt, chính cậu Liễu và cậu Sùng đã nói Nguyệt - nói sau lưng - những lời chả ra gì. Không lẽ Nguyệt không biết chuyện đó?
Tóm lại, với tôi thì đã quá chắc chắn để kết luận hai “tay” ấy chỉ là đồ bỏ đi, không còn hy vọng gì ở họ nữa. Nhưng Nguyệt lại không nghĩ thế.
- Về già, thế nào anh cũng thành một người gàn! - Có lần Nguyệt cười mà tiên đoán về tôi như thế.
- Vì sao?
- Vì anh cầu toàn quá. Anh đòi hỏi ở người khác nghiêm ngặt quá, mà cuộc sống lại quá phong phú...
- Nguyệt muốn nói tới trường họp của cậu Liễu và cậu Sùng, phải không?
- Phải. Liễu và Sùng còn nhiều thiếu sót. Có những thiếu sót khá trầm trọng. Cái đó thì cả đơn vị đều biết, không phải chỉ có chúng mình mới nhìn thấy. Nhưng anh nghĩ lại coi: Các bạn ấy cũng chịu đủ mọi thứ, bom đạn, gian khổ, xa gia đình, thiếu thốn, như tất cả chúng ta, chứ họ có khác gì?
Tôi định cãi: “Không nên ỷ vào hoàn cảnh chiến tranh để hạ thấp phẩm chất con người!”, nhưng thôi.
Nguyệt vừa khơi dậy những tình thương độ lượng mà trong tôi không phải là không có.
Dù sao, tôi vẫn đề nghị Nguyệt không nên đối xử một cách chia đều như thế. Đối với những người hư thân mất nết, thì phải thương sao cho họ hiểu được rằng họ đã hư thân mất nết - Cho tới bây giờ, tôi vẫn thấy điều tôi đã đề nghị với Nguyệt là đúng.
Lần ấy Nguyệt chủ động nêu vấn đề cậu Liễu và cậu Sùng ra, và tôi nói với tư cách một đứa bạn của Nguyệt. Mấy tháng đã trôi qua rồi. Tới lần này, tôi sẽ nói với Nguyệt không chỉ bằng tình bạn như trước kia, mà cả bằng tình yêu của tôi đối với Nguyệt nữa...
Ấy là ý đồ, là sự xếp đặt của riêng tôi. Còn sự thật lại đã diễn ra theo cách của nó.
Tôi quyết định “hành động” vào một tối thứ bảy. Trời lảng vảng mây và sáng trăng suông. Tôi xin cậu Đoàn mấy điếu thuốc lá, mượn cậu Thiên cái bật lửa, bỏ tất cả vào túi, rồi bước mấy bước sang tiểu đội ba. Nguyệt đang nằm đọc sách trước một cây đèn nhựa trám vừa cháy vừa nổ tí tách. Thấy tôi rủ đi chơi, Nguyệt nhận lời ngay. Nguyệt gấp sách lại để trên đầu giường, cùng tôi đi ra khỏi nhà.
Chúng tôi lại ra cái cây cổ thụ bị bom đào trốc rễ cạnh suối Mồ Hôi. Cái cây to lớn, gốc nằm trên bờ, cành rơi giữa suối. Dòng nước bị cán ứ lại, dâng cao, reo ồ ồ như có biển ở đâu đây.
Hai chúng tôi đã ra chỗ này chơi một lần. Nên chúng tôi nhanh chóng chọn được một nơi ngồi thú vị nhất, để cả hai cùng nhìn được dòng suối chảy nghiêng nghiêng, thấp thoáng sau những lùm cây phong nổ, mặt nước chỗ rộng chỗ hẹp phản chiếu ánh trăng lấp loáng như vàng rơi ở ngoài xa, nơi hai đầu núi giáp nhau, trông như một cặp voi đứng hai bên bờ, cùng cúi cổ xuống uống chung một dòng nước. Ở chân trời trước mặt chúng tôi, lâu lâu lại có ánh chớp lòe lên, như một cơn giông đang nằm phục sẵn dưới ánh trăng êm dịu này. Đó là những chớp lửa dạn đại bác ở phía Cồn Tiên, dốc Miếu, và sâu hơn nữa dưới đồng bằng Quảng Trị.
Lần trước, khi đỡ tay cho Nguyệt trèo lên thân cây, tôi đã hỏi thật:
- Nguyệt đi chơi với tôi, không có gì “đáng ngại” chứ?
- Sao lại ngại?
Nguyệt hỏi lại với vẻ vô tư khác thường, nhưng theo tôi nghĩ, Nguyệt chẳng bao giờ vô tư tới mức đó.
Lần này, khi hai đứa ngồi yên chỗ, tôi muốn nói một vài lời, cảm ơn sự tin cậy Nguyệt đã dành cho tôi. Chẳng còn gì chân thật hơn thế. Song tôi đành nín im. Hễ nói ra, lời lẽ của tôi sẽ phản lại ngay chính tôi, bởi nó sẽ chỉ là những ý tứ hoa hòe hoa sói và trơn lì!
Nguyệt ngồi mân mê mái tóc đã được kéo ra trước ngực, mặt nhìn thẳng, bóng hai hàng mi đen không động đậy. Hình như Nguyệt đang mải nghĩ chuyện gì. Còn tôi thì bật lửa, châm một điếu thuốc cho đỡ tẻ, và để tăng thêm lòng can đảm.
- Nguyệt cho tôi hỏi nhé?
- Gì đấy Tuấn?
- Nguyệt có biết mình đã yêu Nguyệt không?
Nói được câu ấy, tôi như người trút gánh nặng khỏi vai. Nhưng Nguyệt lại khẽ rùng mình như vừa gặp gió lạnh, và im lặng.
- Nguyệt có biết không? - Tôi nhắc lại sau một phút chờ đợi.
- Có. Mình biết!
- Nguyệt nói lẩm nhẩm, mắt vẫn nhìn ra quãng suối đầy ánh trăng - Nhưng... Tuấn chỉ nên xem mình là đứa bạn thân của Tuấn thì hơn...
Thế là cuộc chơi hôm đó, tôi đã đốt hết điếu thuốc này sang điếu thuốc khác, ngồi như hóa đá.
Khi tôi hút tới điếu thuốc cuối cùng - điếu thứ bảy, thứ tám gì đó thì Nguyệt dơ tay ngăn lại:
- Đừng hút nữa, hại sức khỏe.
Chúng tôi đứng dậy ra về.
Trên đường về nhà, Nguyệt luôn luôn phải bước chậm lại để chờ tôi. Đến trước con đường hẹp chạy thẳng vào khu lán, Nguyệt ra hiệu cho tôi nán lại một chút.
- Thông cảm cho Nguyệt, anh Tuấn nhé! - Nguyệt bảo thế - Nguyệt có lỗi không nói để anh biết trước: Nguyệt đã có người yêu. Anh ấy đi chiến đấu trong miền Nam, sống chết ra sao mà suốt sáu năm trời nay không có tin tức gì...
Tôi hoàn toàn thông cảm và kính trọng mối tình của Nguyệt đối với người chiến sĩ nọ. Mặc dù vậy khoảng hai tháng sau - tức là khi chúng tôi đã rời khỏi công trường đá ở suối Mồ Hôi, vào làm một cái ngầm cho xe ta qua nguồn sông Sê-băng-hiêng trên lưng Trường Sơn - tôi lại rủ Nguyệt đi chơi một lần nữa. Tôi thú nhận rằng tôi không thể xem Nguyệt chỉ như một người bạn.
Và càng ngày tôi càng bị tình cảm dày vò tới mức tôi không chịu đựng nổi...
Nguyệt đã khóc.
Nguyệt trách tôi tại sao không tin vào sự thành thật của Nguyệt?
- Nguyệt tha lỗi cho tôi...
Tôi nói với Nguyệt, trong lúc tôi đau đớn đến lặng người. Tôi đã hứa với Nguyệt, cũng là tự hứa với chính tôi, rằng tôi sẽ cố gắng hết sức mình để biến đổi mối tình này thành một tình bạn đằm thắm và êm dịu hơn. Còn nếu như tôi bất lực, tôi sẽ xin chuyển đi khỏi nơi này. Tôi phải nói trước điều đó, để lỡ nó có xảy ra, Nguyệt đừng hiểu lầm...
Lần này thì tôi giữ được lời hứa với Nguyệt. Tôi đã tìm được một cách để nén chặt tình cảm của mình lại. Đó là công việc. Mỗi ngày mấy lần mồ hôi tôi thấm ướt đầm đìa bộ quân phục, và chảy xuống ướt sũng đôi găng tay bảo hộ lao động. Tôi vẫn còn phải “ép”
cho mồ hôi tôi chảy ra nhiều hơn nữa, tuôn ra bao nhiêu tôi cũng vẫn chưa hài lòng. Tôi còn xin đi tháo bom và phá bom - một quả bom từ trường chui xuống nằm ngay ở cua chữ V, một bên vực, một bên vách núi, cấp trên cho đặt thuốc nổ để phá hủy, nhưng tôi thì xin tháo. Tháo được quả bom sẽ đỡ cho cả đơn vị tôi phải hì hục đào vách đá để mở một con đường tránh sang hướng khác, mất cả tuần lễ chưa chắc đã xong. Riêng tôi, làm như vậy là chấp nhận thêm một lần thách thức nảy lửa với thần chết. Biết vậy, tôi vẫn tháo, và đã tháo thành công... - Tôi còn tình nguyện đi phá thác giữa mùa nước lũ. Tôi còn xin được thường trực suốt ngày đêm ở ngầm, giữa cái “túi bom” nổi tiếng khắp Trường Sơn... Nghĩa là tôi đã tự dấn thân vào những công việc nặng nhọc nhất, nguy hiểm nhất, để tìm lấy những niềm vui chính đáng, và xoa nhẹ bớt nỗi đau ngấm ngầm trong lòng tôi.
Thời gian đó, tôi vẫn có Nguyệt ở gần. Lúc thì Nguyệt khích lệ tôi, lúc thì Nguyệt “hãm” bớt cái đà xông xáo đến liều lĩnh của tôi lại.
Rồi một hôm, tôi đang trên đài quan sát bom nổ chậm, Nguyệt đem thư nhà và nước uống lên cho tôi. Xin nói thêm, hồi ấy Nguyệt đã lên chỉ huy trung đội, thay cho đồng chí trung đội trưởng mới hy sinh - Nguyệt leo hẳn lên cái sàn bắc cao gần hai mươi mét của tôi, và ngồi chơi trên đó suốt một buổi trưa.
Trên cao gió thổi ầm ầm không lúc nào ngừng. Cái đài quan sát của tôi bắc trên cái chạc ba của một cây cổ thụ to, chắc là thế mà vẫn bị gió thổi lắc lư như người lên đồng. Sự nghiêng chao xảy ra rất chậm từ từ nhưng không có cách gì hãm lại được, đã nhiều lần làm tôi nôn nao như người say sóng biển. Vì thế, khi Nguyệt lên, tôi bảo Nguyệt ngồi hẳn vào phía trong, tựa vào cái cành cây cho thật chắc chắn. Nguyệt không những không nghe, lại còn ngồi ra sát mép chòi, quay lưng lại với khoảng không thăm thẳm. Nguyệt ngồi đó, rũ tóc ra chải lại. Nửa mái tóc dài rơi xuống khỏi mặt chòi, liền được gió thổi tung lên như một đám mây nhỏ màu mun. Đôi mắt Nguyệt vẫn hơi buồn buồn, gương mặt Nguyệt vẫn điềm tĩnh và êm dịu. Những câu chuyện Nguyệt thủ thỉ kể cho tôi nghe cũng êm ả và dịu dàng như thế. Nguyệt kể về mảnh vườn trước nhà, và người bố đáng yêu, nhưng lại quá vụng về: trồng rau thì gà ăn, trồng mía thì bò phá, trồng bầu trồng bí thì chỉ thấy hoa là hoa mà không có quả. Được một vụ “trời đi vắng”, vườn su hào nhà Nguyệt cứ tốt ngờm ngợp, nhưng vụ đó thì rau dưa ngoài chợ lại rẻ ê hề, bán chẳng ai mua, mà ăn thì không tài nào hết... Chúng tôi cười thật sảng khoái. Tiếng cười trong trẻo của Nguyệt, rừng già Trường Sơn còn giữ lại mãi mãi cho riêng tôi.
Trước khi xuống để về, Nguyệt nhìn thẳng vào tôi mà nói:
- Nguyệt còn phải học tập anh Tuấn nhiều lắm. Chính Nguyệt mới là đứa thiếu nghị lực.
- Nguyệt học tập tôi? Nói lạ thế!
- Thật!
Nguyệt không giải thích, nói rồi thoăn thoắt bước xuống những cái đinh tre làm bậc thang, tôi đóng liền vào thân cây cổ thụ. Khi đã một đứa đứng dưới đất, một đứa trên ngọn cây, Nguyệt giơ tay lên vẫy tôi. Còn tôi thì hét thật to xuống, để “đuổi” Nguyệt đi. Vì ở đây, dạo này, ngày nào cũng như ngày nào, cứ đúng một giờ rưỡi chiều là máy bay Mỹ lại kéo đàn kéo lũ tới ném bom xuống quãng đèo phía tây ngầm. Mà lúc đó, gần một giờ, Nguyệt vẫn còn nấn ná dưới chân đài quan sát của tôi!
- Về... đi! - Tôi dồn hết sức hét thật to - về nhanh đi!...
Tôi đứng một chân ở mép chòi, một tay bám cột chòi, nhô hẳn người ra khoảng không để nhìn theo bóng Nguyệt đang chạy lao xuống con dốc dài lóa nắng.
Biết chắc là Nguyệt đã qua ngầm, sắp về tới nhà, tôi mới quay vào bên trong cái chòi nhỏ như cái tổ chim nhạn của tôi. Tôi xem đồng hồ. Còn mươi phút nữa. Tôi lấy sợi dây đai tự buộc mình vào cây cột chòi để đề phòng bom hất ngã. Tôi thở dài, ngước mắt nhìn lên khoảng trời rộng bên trên mấy đỉnh núi, chờ đợi... Nguyệt đã đi khỏi thì không còn gì đáng làm tôi phải lo ngại!
Nguyệt đã đánh giá khối nghị lực của tôi quá cao. Ngay tối hôm Nguyệt lên thăm tôi trên đài quan sát, tôi lại nghĩ tới việc xin đi khỏi đơn vị. Mình tự chiến đấu với mình, tự quên lãng mình, và tự riết róng với mình trong bấy lâu nay đã làm tôi kiệt sức, hầu như không thể gượng nổi nữa.
Tôi trằn trọc suốt đêm. Lúc nào trong đầu cũng đầy ắp những câu hỏi: Liệu đã nên trình bày yêu cầu của mình với các đồng chí cán bộ phụ trách chưa? Đại đội trưởng sẽ nói gì?
Chính trị viên sẽ nói gì? Và nhất là Nguyệt - trung đội trưởng - sẽ nói gì?...
Mong sao cho Nguyệt đừng quý mến tôi tới mức như tôi vẫn ngầm tưởng. Nếu vậy thì sự việc sẽ đơn giản biết bao. Tôi ra đi, như một chiến sĩ nào đó của Nguyệt vừa nhận được nhiệm vụ mới, với nỗi buồn chỉ gói gọn trong chính trái tim của tôi. Vậy thôi. Nhưng hình như Nguyệt đối với tôi không phải chỉ có thế...
Sáng ra, tôi không cất mình lên khỏi mặt chiếu. Mới hay là tôi lại lên cơn sốt. Tôi nghỉ ở nhà, không lên đài quan sát bom nổ chậm, cũng không ra chỗ anh chị em làm việc ngoài ngầm - Chiều qua, bọn địch ném 32 quả bom tất cả, trong đó có 12 bom nổ chậm, nhưng đều không rơi trúng mặt đường, và chừng hơn một nghìn bom bi. Vì thế, sáng nay đơn vị chỉ ra tu bổ lại ngầm, công việc không có gì nặng nhọc lắm.
Tôi vẫn nằm dán người xuống chiếu. Không hiểu bộ óc tôi teo lại, hay cái đầu nở ra, mà tôi cứ thấy những ý nghĩ của mình lỏng lẻo, sộc sệch đến lạ. Mỗi lần muốn ngoảnh đi ngoảnh lại, hoặc nhấc đầu lên khỏi gối, là một lần tôi phải nhăn nhó, phải nheo mắt lại, như bị một dòng điện bất ngờ chạy xuyên qua óc. Song, tôi vẫn không từ bỏ cái quyết tâm đã được nung nấu trong người tôi: Phải xin đi đơn vị khác, phải xa Nguyệt!
Tôi chuẩn bị dũng khí cho mình.
Tôi cố đoán trước xem lúc chia tay nét mặt của Nguyệt sẽ như thế nào. Lạy trời, Nguyệt đừng khóc, hơn nữa, Nguyệt đừng im lặng. Sự im lặng của Nguyệt đối với tôi còn đáng sợ hơn bất cứ một hình phạt nào khác! Nhưng phải đi! Hãy vì Nguyệt mà ra đi!...
Sau khi tôi đã dứt khoát với mình, tôi định ngủ một giấc cho lại sức.
Một tiếng nổ nhỏ, khô khan như tiếng pháo nổ từ phía ngầm vọng tới chỗ tôi nằm. Lại một quả bom bi dây bị gió thổi làm nổ trong rừng? Tôi nghĩ như vậy rồi lim dim mắt.
Nhưng, tôi chưa kịp ngủ, bỗng nghe tiếng chân người chạy thình thịch. Thành - cô chiến sĩ thấp người bên tiểu đội ba - chạy ào vào chỗ tôi, mặt tái mét.
- Anh Tuấn, dậy mau!
- Việc gì thế?
- Chị... Nguyệt...
- Hả? Hả?
Thành òa khóc, làm tôi phải quát ầm lên:
- Khóc cái gì.
Nói đi! Chị Nguyệt làm sao?
- Chị ấy bảo anh ra ngay cho chị ấy gặp...
Tôi vùng chạy, đầu óc tán loạn như trong một giấc mơ khiếp đảm. Nhưng khi tôi ra tới ngầm, một chiếc xe cứu thương của đơn vị pháo cao xạ đã chở Nguyệt đi bệnh viện. Tôi lặng người nhìn hai lằn bánh xe in hằn trên mặt đường đất nhão dưới chân tôi...
Năm năm qua. Và chiến tranh đã kết thúc. Dưới chân những vách núi màu mây bạc, những công trường được mở ra từ trong chiến tranh, nay lại đang nhộn nhịp bóng người. Vẫn ngày hai bận, giữa trưa và chiều tối, tiếng mìn phá đá lại vang dậy núi rừng. Ngày nay, đá từ những công trường ấy tuôn ra để lát đường xe hỏa Bắc - Nam, để xây nhà ga, xây cầu cống, xây nhà máy, và công trình thủy nông...
Riêng tôi, mỗi lần qua đây, nhìn lại dãy Trường Sơn nhấp nhô dưới vòm trời hanh hao của vùng cát Vĩnh Linh, Quảng Bình, tôi lại nghe âm vang lên tiếng gọi của Nguyệt: “Anh Tuấn!
Anh Tuấn!...”. Tiếng bạn tôi gọi thì thầm, nghe âm vang như những đợt gió ngàn.
 
Sa Lung 5/10/1976
Đăng nhập để trả lời
★ ★ ★ ★ ★ 0
HAI NGƯỜI CÙNG QUÊ

 

Tôi nằm xuống chân đồi Thuận Trạch từ một buổi chiều giữa mùa thu năm 1968. Lá săng lẻ đỏ bầm rắc trên nấm mộ mới đắp xong của tôi. Tôi nghe văng vẳng tiếng em gái Lệ Thủy khóc bảo đó là những chiếc lá săng lẻ thấm máu tôi và máu mấy người vừa ngã xuống chiều nay.
Âm dương cách biệt mất rồi. Tôi muốn khuyên Lệ Thủy hãy lau nước mắt, ráng học cho hết lớp mười rồi thi vào đại học. Từ mảnh đất chân Trường Sơn cằn cỗi và heo hút mà nuôi được chí học hành còn gian lao vất vả hơn cả cái công việc hôm nay em đang cầm cây súng trường K41 bắn vào mặt bọn giặc Mỹ. Khó lắm đấy, nhưng hãy gắng sức. Và cả gắng sức mà quên anh đi. Em gái thân yêu ạ. Anh đã nói với em rằng anh có người vợ chung thủy, nết na, là chị Thúy Lan đang dạy Trung văn ở một trường đại học. Cớ sao em vẫn bướng bỉnh cãi lại anh, “Anh có quyền hạ lệnh cho đại đội cao xạ của anh bỏ qua tên giặc nào, bắn tên giặc nào, nhưng hạ lệnh cho trái tim em thì không được đâu”.
Xen trong tiếng nấc nghẹn của em gái Lệ Thủy là tiếng thằng bé Cường. Sao nó hét to thế. “Chú Tân ơi. Thế là chú chết thay cháu rồi. Không có chú thì cháu... hu hu hu...”. Cái thằng bé rõ thương, mà dại dột quá. Nhà nó ở dưới chân đồi trận địa của chúng tôi. Sau hai đợt chiến đấu lúc trưa, chiều bọn giặc lại ào tới. May là xe chở đạn vừa đến kịp. Nó cũng theo người lớn vác đạn lên trận địa. Bom bi nổ lóe khắp sườn đồi mà nó cứ chạy lông nhông, thét thế nào cũng không chịu nằm, thành thử tôi phải nhảy lên khỏi hầm đè cổ nó xuống... Còn những ai nữa kìa? À cô Lợi con dâu ông Kính nhà ở dưới gốc cây gạo. Cô đang nuôi con nhỏ, sữa lúc nào cũng ướt sũng hai đám ngực áo. Cả chị Miêng khẩu đội trưởng 12 ly 8 của xã đội. Lúc thường chậm chạp lạch bạch như con vịt bầu, thế mà hễ giặc đến là chị nhanh nhẹn quát tháo dữ như con hổ cái. Cả ông Kính, ông Phết, bà Phấn,... Chà chà. Dân làng kéo ra đông thế, lỡ chúng nó thình lình đến rải bom bi thì nguy. “Bớ bà con làng nước, các bọ các mạ các chị các o, xin bà con giải tán ai về nhà nấy đi!”. Tôi gào khản cổ mà chả ai thèm nghe. Tại lớp đất dày đắp lên người tôi. Tại mọi người đang mải khóc. À thì ra âm dương cách biệt là thế này đây. Dù gần trong gang tấc nhưng người trên trần không còn nghe được tiếng nói của tôi nữa rồi. Buồn quá.
Từ hôm đó tôi và mấy đồng đội của tôi đã nhập tịch vào bãi tha ma làng Thuận Trạch. Tôi nhìn thấy rất rõ quê hương tôi ngoài Bắc, nhất là ngôi nhà gia đình tôi đang ở trong khu tập thể Kim Liên. Chiều nào bố  tôi cũng ngồi trên cái ghế tựa đặt ngoài hè tay run rẩy chống cây can làm bằng song, mặc cho gió thổi phơ phất chòm râu bạc. Gương mặt bố tôi rầu rầu. Mẹ tôi mất lâu rồi. Tôi thì đi xa. Hai anh tôi - Anh Hinh và anh Minh - anh Hinh đã luống tuổi, còn anh Minh thì nay đông mai đoài quanh năm lặn lội. Anh là họa sĩ mà. Những người lính như chúng tôi tìm nơi nào có giặc mà đến, còn những văn nghệ sĩ như anh Minh thì suốt đời đi tìm hồn vía của cuộc sống. Họ cũng lãnh đủ gian nan cực nhọc, rừng thiêng nước độc, kể cả xương máu những miền súng nổ bom rơi. Thế nên dù các anh các chị chẳng để cho bố tôi phải thiếu thốn thèm nhạt, lũ cháu không lúc nào không xúm xít quanh ông, nhưng để quên nỗi cô đơn tuổi già trong người bố tôi đâu phải dễ.
Nhiều lúc tôi chỉ muốn len lén đến sau bố tôi, hú òa một tiếng cho bố giật mình rồi mới thưa “Con đã về đây bố!” nhưng không thể được. Thế giới cõi âm thật kỳ cục, thấy rõ mọi nơi, biết trước mọi điều, nhưng lại không với tới được bất cứ thứ gì, không can dự được vào bất cứ việc gì.
Một lần tôi đã lướt qua đường biên giới Việt - Trung phiêu diêu sang Nam Ninh giữa mùa cỏ non xanh rờn rợn và dưới vòm trời màu tro vực bừng lên những vườn táo vườn lê đang trổ hoa trắng ngần. Tôi lẽo đẽo theo một tốp các cô gái tay xách làn bận quần áo rặt một thứ vải xanh sĩ lâm đi vào thành phố, để tìm đến đúng nơi Thúy Lan của tôi đang dạy tiếng Trung Quốc cho đám lưu học sinh Việt Nam. Tôi đứng dưới lớp nhìn Thúy Lan đẹp như một đóa hoa hồng buổi sáng đứng trên bục. Từ đôi môi mềm của Thúy Lan phát ra thứ ngôn ngữ của người phương Bắc nghe lục cục xủng xoẻng tôi chả hiểu gi. Tới lúc Thúy Lan bẻ đôi viên phấn chuẩn bị viết lên tấm bảng sơn đen tôi bỗng xao xuyến cả người. Cái bàn tay trắng ngần đang cầm viên phấn kia mới mềm mại ấm áp làm sao. Trong đời tôi, chính tôi đấy, đã từng được đôi bàn tay ngọc ngà của em ôm ấp! Tôi vụt tới thoa nhẹ lên bàn tay Thúy Lan nhưng em đâu biết. Lòng tôi nhót buốt ân hận vì không để lại cho Thúy Lan một đứa con, song lại nghĩ rồi đây Thúy Lan ắt phải xây cho mình một tổ ấm mới, mà như thế thì son rỗi lại là điều tốt hơn cho em... Thúy Lan ơi. Một mai biết tin anh đã bỏ mình vì non sông đất nước, anh chỉ xin em hãy can đảm lên, chứ đừng khóc. Nước mắt của em sẽ làm tan nát cả trời cao đất dày, anh không chịu đựng nổi đâu.
Ôi trần thế! Còn biết bao điều lưu luyến nhớ nhung như bào xát trong gan trong ruột, mà đành thôi. Ngày ngày tôi lang thang đến khắp nơi, thăm viếng tất cả những người thân thiết, hiềm nỗi không thể ở lại được nơi nào khác nên vẫn phải về cái nghĩa trang này. Dần dà tôi đâm quen thuộc gắn bó với ngày nắng đêm sương, với hương đất hương cỏ làng Thuận Trạch và ý thức rằng nơi đây cũng chính là quê hương mình. Quả thật là thế. Các bọ các mạ, người trên kẻ dưới của tôi ở làng Thuận Trạch nào khác chi bố mẹ anh chị em tôi nơi quê nhà.
Nói gọn lại là ở cõi âm tôi không có điều gì đáng phải phàn nàn, ngoài một nỗi khổ bất khả kháng do tình trạng quá nhàn rỗi gây nên. Thời gian mỗi ngày lê thê vật vờ dài kinh khủng. Nhưng ngoảnh đi ngoảnh lại thì lại thấy năm tháng trôi nhanh vùn vụt.
Hôm dân làng đưa tôi từ bãi tha ma Thuận Trạch lên nghĩa trang liệt sĩ của huyện Lệ Thủy, nhìn thấy thằng cháu Cường cao lớn râu ria lởm chởm, đứa con cô Lợi sắp cao bằng mẹ, ông Kính chống gậy lưng còng gập, còn chị Miêng thì tóc đã lốm đốm bạc trên đầu, tôi mới giật mình biết là hơn mười năm trôi qua từ cái buổi chiều chúng tôi quyết chiến với hai mươi mốt tốp máy bay Mỹ để bảo vệ một con tàu chở vũ khí vào Nam đang neo đậu ở cửa biển Nhật Lệ.
Rồi cái hôm anh Hinh, anh Minh cùng vợ chồng Thúy Lan bế đứa con đầu lòng của họ vào thăm, tôi bàng hoàng như cả thiên niên kỷ đã vuột khỏi vòng tay mình, làm cho cái quá khứ thêm dằng dặc muôn sông nghìn núi phủ mịt mùng sương khói. Khác với lần tôi “gặp”
Thúy Lan bên Nam Ninh, tôi đã đứng sát bên người em, ngửi thấy mùi da thịt nồng ấm của em. Còn lần này tôi những muốn chạy lại ôm chặt lấy hai mẹ con Thúy Lan, muốn thơm lên đôi má bụ bẫm của thằng bé - Nó là hình ảnh suốt đời tôi ao ước - mà không thể được. Hơi hướng người chồng mới của Thúy Lan đã cản tôi lại.
Họ là hiện tại, là tương lai. Còn tôi mãi mãi đã là quá khứ. Từ hiện tại đến quá khứ cách nhau một bước chân. Một bước chân cực kỳ ngắn chỉ đủ bước qua một sợi tóc. Nhưng lại là bước chân có phép thần thông rút đất của tạo hóa, chứa muôn trùng trong đó, để một khi đã bước qua thì không bao giờ có thể bước trở lại được nữa, như con tốt bước qua sông trên cái bàn cờ khắc nghiệt của tạo hóa.
Thời gian vẫn trôi lê thê từng ngày và loang loáng những năm những tháng. Nấm mộ xây của tôi nằm trên gần đỉnh đồi nghĩa trang năm nào cũng được quét vôi, quét đi quét lại khéo đã vài chục lần. Thằng bé Cường đã có vợ và hai đứa con. Cứ đến ngày giỗ tôi hoặc các dịp Tết nhất là bố con nhà nó lại dẫn nhau ra thắp hương mời tôi về ăn cỗ. Tôi được lên chức ông từ lâu lắm rồi.
Cho tới một đêm tháng Chạp có trăng non, gió lạnh hun hút thổi qua sông Nhật Lệ tràn tới. Tôi được một lúc mảnh trăng lá lúa đã đậu xuống đỉnh dãy Trường Sơn một khối đen hùng vĩ lưng trời phía bên trái nơi tôi nằm. Từ trong khối bóng tối ấy bắt đầu vang lên tiếng đôi chim từ quy gọi bạn tình. Tiếng chim da diết, chậm rãi, não nùng khiến cảnh vật bốn bề thê lương đến nhức nhối trong lòng. Trong cái đêm hành quân qua Đèo Ngang năm xưa, tôi đã làm một bài thơ về cảnh này. Bài thơ tôi gửi về cho anh Minh. Câu chữ thế nào không còn nhớ, nhưng không thể quên vẻ đẹp ứa lệ đường xa trăng tàn đối với người lính bỏ lại quê nhà để dấn thân vào binh lửa.
Tôi đang vắt óc nhớ lại bài thơ đó, thì bỗng xuất hiện một tốp người từ chân đồi nghĩa trang đi thẳng lên chỗ tôi. Người đi đầu tôi nhận ngay ra là ông quản trang. Ngày nào ông chẳng đến đây dũi cỏ, tưới hoa, thắp hương với vẻ lặng lẽ cần mẫn của một lão bộc. Sau ông quản trang là người phụ nữ quần áo nửa tỉnh nửa quê mặc áo mút màu xanh rêu đầu bịt khăn len kiểu mỏ quạ. Tiếp đến một cậu trai bận bu dông da, quần bò, dáng cao lớn như một phi công. Người đàn ông đi sau chót có vẻ là dân vùng này, vác trên vai cuốc xẻng và nhiều thứ lỉnh kỉnh.
Bốn người lúi húi đứng che gió để bật lửa đốt hương. Bó hương cháy bùng như ngọn đuốc, gió thổi tung tàn lửa bay sang các hàng mộ khác. Người phụ nữ đột nhiên quỳ thụp ôm chặt lấy tấm bia của tôi, rền rĩ:
- Ối anh Tân ơi là anh Tân ơi. Anh có cho phép em được nhận làm vợ anh một lần nữa không anh ơi. Anh sống khôn chết thiêng hãy tha cho chuyện khôn ba năm dại một giờ của em. Cay cực lắm. Cay cực lắm. Trời ơi cay cực lắm!...
Người phụ nữ lăn lộn cào cấu lên nấm mộ tôi, khăn áo văng ra. Giọng càng lúc càng nghẹn tắc. Tôi chỉ còn nghe được chị ta gọi “Anh Tân ơi! Anh Tân ơi” Em đây!...” như người nói trong cơn mê sảng. Còn tôi thì ngơ ngác tự hỏi thế này là thế nào? Người phụ nữ này là ai? Tại sao chị lại gọi đúng tên tôi, và cái chuyện khôn ba năm dại một giờ là chuyện gì thế nhỉ?
Cậu trai xốc nách dìu người phụ nữ đứng dậy, quát lên:
- Mẹ! Đừng nhắc lại chuyện ấy nữa - Cậu ta nuốt nước bọt đánh ực - Mẹ không khấn bố thì để con khấn cho vậy.
Nói đoạn, cậu trai chắp tay trước ngực, nghiêng người trước mộ tôi, lầm rầm “Kính thưa linh hồn bố Nguyễn Duy Tân, Nguyễn Nhật Tân mới đúng tên tôi chứ, quê ở làng Đa Ngưu, xã Vân Giang, huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên. Đúng quê tôi rồi. Ông bà tôi sinh ra bố  tôi ở làng này, sau vì đói khổ bố  tôi mới phiêu bạt lên Yên Bái rồi về Hà Nội, nên trong lý lịch tôi vẫn khai quê quán của tôi là Đa Ngưu, Vân Giang, Châu Giang, Hưng Yên. Bố sinh năm 1940, hy sinh năm 1968. Đúng thế. Trong giấy báo tử của bố, chỉ ghi là bố hy sinh ở Quảng Bình. Mẹ và con dò hỏi rất nhiều, nhờ đăng cả lên báo để tìm mà vẫn không biết bố nằm nơi đâu. May thay, xã ta có bác đại tá là bác Diễn, bác Diễn đã lặn lội đi tìm đồng đội của bác ấy. Nhờ thế bác Diễn mới tình cờ biết bố nằm ở đây. Hôm nay, mẹ và con xin phép cấp trên đến để đón bố về quê...
Ra là thế. Tôi hét khản cổ rằng tôi là Nguyễn Nhật Tân, không phải Nguyễn Duy Tân. Nhưng người dương nào có nghe.
Bó hương thứ nhất vừa tàn. Họ thắp tiếp bó hương thứ hai và bắt đầu cạy gạch cạy vữa trên mộ tôi... Khi cái tiểu sành được đưa lên mặt đất, lại đến lượt cậu trai ôm chật lấy cái tiểu, òa khóc: “Bố ơi. Con là thằng Tuấn của bố đây. Từ lúc lọt lòng mẹ, giờ con mới được gặp bố. Bố của con là cái tiểu sành này ư? Bố nói lên một tiếng. Con van bố! Bố cho con được nghe giọng nói của bố, chỉ một lần thôi mà!...”.
Thế là tôi phải giã từ nghĩa trang Lệ Thủy ngay trong đêm. Vĩnh biệt cửa sông Nhật Lệ nước biển đang tràn vào tung ánh lân tinh sáng lập lòe ngọn sóng. Vĩnh biệt dãy Trường Sơn hùng vĩ được tưới đẫm máu những người dũng cảm nên càng thâm nghiêm hùng vĩ hơn gấp ngàn lần. Vĩnh biệt anh em đồng chí cùng nằm với tôi hơn nửa thế kỷ nay. Vĩnh biệt các bọ các mạ và tất cả bà con Thuận Trạch. Nếu ở cõi âm còn một lần phải liều thân cho đất nước, tôi lại sẽ chọn mảnh đất này mà ngã xuống!...
Chúng tôi lên tàu hỏa ở ga Lệ Thủy lúc 5 giờ sáng. Người phụ nữ đã khóc hết nước mắt vừa thu xếp chỗ ngồi trên tàu xong thì lả đi, tựa lưng vào cái hòm gỗ bên trong đựng cái tiểu bọc giấy trang kim của tôi. Tôi nghe chị ta thở dốc, nhưng tàu chạy được một đoạn thì hơi thở của chị ta đã đều đều. Chị ta ngủ rồi. Ngồi sát bên phía tay phải người mẹ là cậu con trai tên Tuấn. Cậu ta lăn qua lăn lại mái đầu trên thành toa xe, đôi mắt vô định nhìn ra đồng đất lau lách hai bên đường.
Mãi lúc này tôi mới có chút thời gian ngắm kỹ “đứa con trai” của mình. Da dẻ nó rám nắng, đôi mắt to hơi xếch, vầng trán rộng có đường gân xanh chạy dọc từ chân tóc xuống. Phàm những người đàn ông có “con giun” giữa trán thường là thẳng thắn bộc trực, làm được việc, nhưng bướng bỉnh lắm đây. Cái cậu này xem chừng cũng thế, gương mặt ấy, ánh mắt ấy, rõ ra là thằng bé cương nghị và thông minh. Hiềm nỗi không có sự dìu dắt của cha, không hiểu nó có được học hành chu đáo hay không? Tôi buồn thắt ruột tưởng tượng ra đứa con mà cả Thúy Lan và tôi cùng ước mơ. Nếu được thế, chắc nó cũng xấp xỉ với tuổi cậu Tuấn này.
Người đàn bà ngủ tựa vào cái tiểu của tôi ngáy khe khẽ. Nét mặt chất phác của chị ta lúc này trông thật bình yên. Có lẽ chị ta đã yên lòng xem như cái gia đình bé nhỏ của chị từ nay trở đi được đoàn tụ mãi mãi, cho dù mẹ con chị chỉ được đoàn tụ với một nắm xương. Nhưng cái ý nguyện đơn sơ mà tội nghiệp ấy cũng chẳng được. Giá như tôi chính là cái anh bạn đồng đội Nguyễn Duy Tân kia thì hay biết bao.
Con tàu tốc hành băng qua Lũy Thầy, Đèo Ngang, rồi Bến Thủy, Phà Ghép, Hàm Rồng... Tới đâu tôi cũng ngẩn ngơ tìm lại trận địa cũ nhưng chẳng đâu còn. Nhà cửa, công trình, phố xá mọc lên san sát khiến chính tôi phải lẩn thẩn tự hỏi có phải đất nước đã từng trải qua những trận binh lửa thảm khốc vào loại nhất nhì thế gian hay không? Nếu phải, chẳng lẽ những cánh đồng dày đặc hố bom, những chiếc cầu bị phá đi phá lại không biết bao nhiêu lần, những làng mạc xác xơ nghi ngút cháy... giờ ở đâu cả rồi?
Tới ga Giáp Bát, Ngã Tư Vọng, mặt hồ Bảy Mẫu vẫn lăn tăn sóng thầm mách báo cho tôi biết trường Đại học Bách khoa của tôi đã gần kề đâu đây. Tôi muốn được dừng lại ít phút vào thăm trường, thăm các thầy các bạn năm xưa giờ ai còn ai mất, nhưng “con trai”
tôi không hiểu được lòng tôi nên sau khi xuống ga Hàng Cỏ nó đã thuê xích lô cho tôi dạo quanh một vòng bờ hồ Hoàn Kiếm để bố đi xa lâu ngày giờ có dịp thăm lại Hà Nội.
Bờ hồ Hoàn Kiếm mờ mờ trong mưa bụi. Loáng thoáng có người bày cành đào chậu quất trên vỉa hè, hoặc đèo xe đạp đi bán dạo dọc phố. Ôi nhớ anh Minh! Ngày nhỏ cứ vào dịp này năm nào em chẳng theo anh đi xem chợ hoa. Chợ hoa đông ngàn ngạt, thế mà anh còn cắp cái cặp vẽ kè kè bên hông, lúc lúc lại dừng lại ghi ghi chép chép. Còn em chỉ muốn vỗ cánh bay lên cao để thỏa mắt ngắm nhìn những thảm hoa, những thảm người rực rỡ màu len dạ trải dài khắp kinh thành. “Nhà ta ở khu tập thể Kim Liên. Đi lối này chứ!”, tôi nói thật to mấy lần, nhưng biết là vô ích. Thằng Tuấn kiếm đâu được cái xe ô tô com măng ca đít vuông chở tôi vút qua sông Hồng. Người đàn bà lại sụt sùi khóc. Tuấn lầm rầm khấn “Bố ơi, giờ mẹ con con mời bố về làng mình, bố nhé”.
“Làng mình” tức là làng Đa Ngưu, tôi hiểu thế. Đa Ngưu là đất tổ chi họ Nguyễn của chúng tôi. Nhưng từ bé tới lớn tôi chỉ được về Đa Ngưu có hai lần. Một lần từ hồi mẹ tôi còn sống, bố tôi đưa cả nhà về ăn giỗ tổ ở nhà bác trưởng tộc. Tôi còn bé quá chả nhớ được gì ngoài một hình ảnh mẹ tôi vấn khăn nhung mặc áo dài màu đồng lầm dắt tôi đi từng bước trên con đường làng chi chít vết chân trâu. Và một lần nữa trước khi tôi đi bộ đội. Bố tôi gọi ba anh em tôi lại, nhưng là nói với anh Hinh:
- Chân cẳng bố bây giờ đi lại khó khăn lắm rồi. Bố giao anh cả Hinh đưa các con về vái tổ để cho em Tân lên đường.
Lần ấy thì lại quá vội vàng. Sáng đạp xe về, trưa đã phải trở ra. Tôi bị hút hồn trước một cô gái làng đang múc nước bên cái giếng xây. Người đâu mà đẹp đến thế, cứ như nàng tiên từ bộ tranh tố nữ bước ra. Tôi và cô gái nhìn nhau chằm chặp, anh Minh nói tếu “Trâu ta gặm cỏ đồng ta thì hay quá!” làm hai má cô gái đỏ bừng.
Chợt cậu Tuấn vỗ nhẹ bàn tay lên nắp tiểu của tôi thốt lên:
- Bố  ơi bố. Nhà ta ở chỗ có hai cây dừa kia kìa. Mẹ bảo hai cây dừa bố trồng ngày bố ra đi đấy. Bố có nhận ra không? Nhưng giờ thì con xin phép đưa bố vào nghĩa trang đã. Trên Hà Nội con đã gọi điện, chắc các bác các chú ở huyện ở xã đang đợi đón bố  về.
Tuấn vừa dứt lời xe đã rẽ trái đi vào khúc đường rải đá dăm băng qua mấy thửa ruộng lúa chiêm chưa kịp bén. Tôi nhìn thấy đài Tổ Quốc Ghi Công cao lừng lững vươn lên giữa cánh đồng ngút ngát Tam thiên mẫu. Bên dưới đài Tổ Quốc Ghi Công có lá cờ đỏ sao vàng đang tung bay trong nắng, và dòng khẩu hiệu vải đỏ chữ vàng chăng ngang trên đầu một đám rất đông người. Chiếc xe tắt máy thì tiếng trống ếch nổi lên vang dội. Hai hàng thiếu nhi bên trai bên gái mặc đồng phục quần xanh áo trắng đội mũ chào mào thắt khăn đỏ nhất loạt đứng nghiêm giơ tay chào tôi. Tiếng người nói qua mi cờ rô vang lên:
“Lễ đón rước liệt sĩ Nguyễn Duy Tân, bắt đầu!”
Chiếc tiểu của tôi từ từ trôi trong tiếng nhạc Chiêu hồn tử sĩ. Nhiều tiếng khóc trào lên. Tôi cũng khóc. Xưa nay tính tôi vốn ngại ngùng trước những thủ tục long trọng, vậy mà lúc này tôi không cầm được nước mắt. Nguyễn Duy Tân bạn hỡi! Linh hồn bạn ở nơi đâu hãy mau mau mà về. Dân làng ta, quê hương ta, mảnh đất làng ta đang ôm ấp vỗ về ta! Máu những người lính chúng ta dù đổ xuống ở phương trời nào, đều hóa thành những mạch nước ngầm thấm xuôi về cội. Bạn có nghe tôi gọi đấy chăng...
Buổi lễ kéo dài mãi gần hết buổi chiều, vì nhiều người lên phát biểu quá. Sau đó là còn lại một mình tôi giữa mấy chục ngôi mộ xa lạ chung quanh. Rồi đêm xuống. Trời lạnh căm căm. Gan dạ tôi ngổn ngang vừa thích thú cảnh đồng đất quê nhà vừa da diết nhớ núi rừng Trường Sơn, nhớ dòng sông và cửa biển Nhật Lệ, bà con ở làng Thuận Trạch. Cái mảnh trăng lá lúa đìu hiu trên ngọn Trường Sơn tối hôm nào vẫn theo tôi ra tới đây. Nó có đầy thêm lên một tí nhưng không le lói bằng, và rất khó tìm, bởi ánh điện từ Thủ đô làm cho vòm trời đêm ở các vùng phụ cận lúc nào cũng mang mang như sáng trăng suông. Một luồng gió lạnh nhẹ thổi qua cánh đồng đã đưa tới bên tôi một bóng dáng chập chờn, nhìn kỹ tôi mới nhận ra đó là một trung úy hải quân. Người trung úy hải quân tự giới thiệu là Nguyễn Duy Tân, làm tôi sửng sốt:
- Trời đất. Sao mãi giờ anh mới về? Nguyên Duy Tân cười buồn thăm thẳm:
- Anh biết đấy. Người cõi âm chúng ta đi đâu về đâu mà chẳng được. Chỉ có chuyện nằm ở đâu mới thành vấn đề. Từ hai hôm trước tôi đã biết chuyện về anh...
- Ôi! - Tôi cắt ngang lời Nguyễn Duy Tân - Hai chúng mình cùng một quê quán, cùng năm sinh, cùng năm mất, chỉ khác nhau ở chỗ anh là Nguyễn Duy Tân, tôi là Nguyễn Nhật Tân, vả lại tấm lòng hậu phương rất nôn nóng tìm kiếm chúng ta nên mới xảy ra sự nhầm lẫn nghiêm trọng này!
Nguyễn Duy Tân khoát tay:
- Có gì là nghiêm trọng đâu. Cũng chính vì thế hôm nay tôi mới tìm đến anh để đề nghị anh một việc.
- Việc gì, xin anh cứ nói.
- Là thế này, Nguyễn Nhật Tân ạ. Thật đau lòng nếu để vợ tôi lại phải thêm một lần mất chồng, con tôi lại thêm một lần phải mất cha. Mất tôi, mẹ con nhà nó đã chịu quá nhiều thiệt thòi cơ cực rồi…
- Tôi hiểu ý anh. Có phải anh khuyên tôi cứ thế này mà nhập vào vai của anh, để làm yên lòng những người đang sống?
Nguyễn Duy Tân lại cười, nụ cười có phần đỡ ngậm ngùi hơn nụ cười ban nãy.
- Cảm ơn Nguyễn Nhật Tân. Đúng thế.
Tôi suy nghĩ. Nếu chỉ riêng tôi, việc nhận lời với Nguyễn Duy Tân thật là đơn giản. Nhưng... Tôi còn anh Hinh, anh Minh, còn Thúy Lan, và nhiều người thân hiện đang sống ở ngay Hà Nội đây. Sớm muộn rồi những người thân của tôi cũng lần tìm ra manh mối của sự nhầm lẫn éo le này. Tới chừng đó, biết làm sao?
- Không sao. Không sao - Nguyễn Duy Tân nói - Tôi cũng đã nghĩ đến tình huống ấy. Miễn sao anh đừng để vợ con tôi phải tủi thân, phải xót xa nghĩ rằng mẹ con nó đã lặn lội xiết bao khó nhọc để đi nhặt nắm xương của một người dưng nước lã về.
Tới đây tôi bật kêu lên:
- Này Nguyễn Duy Tân, có một giải pháp đơn giản hơn nhiều, là anh hãy báo mộng cho chị ấy và cháu Tuấn biết anh đang nằm ở đâu. Cớ sao anh không làm?
Im lặng rất lâu rồi Nguyễn Duy Tân mới thì thầm:
- Tôi nằm ở đâu ư? Nếu biết, vợ con tôi làm sao để tìm thấy hài cốt của tôi giữa biển Đông bao la? Thôi thôi Nhật Tân, bạn hãy vui lòng giúp tôi thì hơn là làm cho mẹ con cô ấy thêm đau lòng, thêm khó nhọc hơn nữa...
Tiếng gà gáy eo óc từ những thôn xóm dọc hai bên quốc lộ 5 vọng tới. Nguyễn Duy Tân khẽ rùng mình. Hình như anh đang cố nén một cơn bão tố trong lòng.
- Nguyễn Duy Tân đi đây, Nguyễn Nhật Tân nhé. Trời sắp sáng mất rồi!
 
*

 

Vài dòng thay đoạn kết.
Nghe tin Quảng Bình bị con bão số 6 tàn phá, anh em ông Nguyễn Thế Hinh và Nguyễn Thế Minh đã đánh điện cho cháu Lê Minh Cường ở làng Thuận Trạch, xã Mỹ Thủy, huyện Lệ Thủy, Quảng Bình, để hỏi xem tình hình gia đình cháu ra sao. Và chính tác giả truyện ngắn này đã may mắn được gặp cháu Nguyễn Duy Tuấn con trai của liệt sĩ Nguyễn Duy Tân khi cháu ra đi học tại nhà họa sĩ Nguyễn Thế Minh ở phố Cao Bá Quát, Hà Nội.
Xương máu của hai liệt sĩ Nguyễn Duy Tân, Nguyễn Nhật Tân đã tạo cho mấy gia đình này một mối quan hệ thân thiết gắn bó, quan tâm đến nhau, giúp đỡ nhau, cưu mang nhau, như những người cùng huyết thống vậy.
 
19/5/1999
Đăng nhập để trả lời
★ ★ ★ ★ ★ 0
HỌA VĂN CHƯƠNG

 

Không ngờ lần này về quê tôi lại được đi xe ngựa.
Nói có trời chứng giám, cái nghề cầm bút lắm khi khô như... cái gì nhỉ? Nhưng cũng không ít dịp được tập làm ông hoàng, bà chúa. Các phương tiện giao thông trên trời, dưới nước tôi chẳng lạ, kể cả vẫy xe lu đi nhờ một quãng cho đỡ mỏi chân. Vậy mà hễ có dịp đi xe ngựa là người tôi cứ thế nào ấy. Bởi cái thứ xe lọc cọc, cà rịch cà tang, có ông xà ích cầm roi sau đuôi con ngựa bao giờ cũng cho tôi cái cảm giác như mình là nhà quí tộc - kiểu Gôgôn, Lécmôntốp, Puskin chẳng hạn, mặc dù những hành khách cùng đi chuyến xe ngựa với tôi hôm ấy trông cũng không được quí tộc cho lắm. Trong xe có hai cái ghế dài bắc dọc hai bên. Ghế bên kia có hai bà đi chợ tỉnh bán gà. Gà bán hết, mấy cái lồng móc lủng lẳng ngoài xe. Một bà già chắc là đi thăm con ngoài thủ đô mới về, nhai trầu luôn miệng, thỉnh thoảng lại nói ở Hà Nội người ta thế này, người ta thế kia, bất cần có ai nghe câu chuyện của mình hay không. Thêm một cô gái mắt xanh môi đỏ, quần áo bó chật khít, như cái giò lụa thơm nức mùi son phấn, là vừa chặt bên ấy.
Còn bên này, có ba người đàn ông và tôi khỏi phải mô tả chuyện trang phục của cánh đàn ông. Tôi chỉ có ấn tượng là ba vị kia đều rất thạo đời, có lẽ chưa ai tới ngũ tuần. Một trong ba vị, cái vị ngồi sát bên tôi, còn tỏ ra hơi hống hách nữa. Anh ta huých khuỷu tay vào hông tôi, bảo “ông già này ngồi nhích ra cho tôi nhờ”.
Vì mái tóc bạc sớm, lại được thừa hưởng nước da mò cua bắt ốc cha truyền con nối, nên dù đi Tây đi Tàu, ăn đại tiệc, ngủ khách sạn, mà cái mã của tôi chẳng khá lên được. Khối người nhầm tôi làm gác đêm cho Hội nhà văn. Họ đâu biết bác gác đêm lại là một người rất trí thức, mặc quần áo kiểu gì trông cũng thành người sang trọng, lịch lãm, đâu lùi xúi như tôi. Nhưng, chắc, được gọi là “ông già” nghe cũng khoái đáo để.
Vả lại, trong chuyến xe này, tôi là “ma mới”, còn ba vị kia là “ma cũ”. Tôi đang xách cái túi bạt đứng lơ ngơ chờ đi xe đạp ôm, thì con ngựa này lọc cọc chạy tới. Tôi liền giơ tay, hỏi bác xà ích về đâu. Bác nói về Phủ Thiệu, rồi cho tôi lên. Mừng quá!
Sự có mặt của tôi làm ba vị đàn ông bị gián đoạn câu chuyện một lúc. Sau khi cái anh ngồi cạnh tôi cau mặt hỏi tôi “Túi gì mà to thế. Ôm lấy cho khỏi vướng”, anh ta liền ngoảnh sang người ngồi giữa, giọng tự nhiên vui hẳn lên:
- Cho chết! Nghe nói hắn còn léng téng với cả con bé gì bên Liên Xô cơ đấy.
- Sao biết? - Người kia hỏi lại.
- Thì chính hắn viết ra chứ ai. “Ông” không đọc báo Quân đội hử. Thích khoe mà!
Người ngồi trên đầu dãy ghế, áp lưng với bác xà ích, giờ mới góp chuyện:
- Tên tục của thằng cha ấy là gì, chứ không phải cái tên in sách này đâu.
Người ngồi cạnh tôi khoái chí nói như hét:
- Tên tục hắn là Ất. Bọn nhà văn nhà vẽ đứa nào chẳng thích lấy tên thật choáng. Hồi còn nhỏ hắn học cùng với anh Với, anh Định xã ta. Tớ biết tận củ tỷ! Nếu không được mấy lão quan to che chở, có mà mùng thất, chứ là cái thá gì...
Tôi bỗng rụng rời cả người. Ất, chính là cái tên bố mẹ đặt cho tôi. Sở dĩ tôi lấy bút danh như hiện nay, bởi hồi Tổng tấn công Mậu Thân, tất cả phóng viên từ miền Bắc vào chi viện cho chiến trường đều phải lấy bút danh hoàn toàn khác. Nhưng, tôi có léng téng với cô ở Liên Xô nào đâu? Có ông lớn nào che chở cho những trang viết của tôi đâu? Hay, họ đang nói tới một người nào khác có tên là Ất?
Từ lúc ấy, tôi như bị hút vào câu chuyện đường dài của ba người đàn ông. Lúc lúc ngực tôi lại giật thót lên vì họ đã động tới nhiều chi tiết đúng là của mình; hoặc đỏ mặt vã mồ hôi khi phải nghe những điều chẳng ra gì mà hình như người ta đang vô cớ “dựng đứng” cho mình.
Con ngựa vươn cổ kéo chiếc xe lên dốc Rừng Dương, tiếng móng sắt trượt trên đường nhựa nghe tiếng chói gắt. Cái roi của bác xà ích vụt đen đét xuống mông con vật tội nghiệp. Rừng Dương ơi! Vào một cái Tết năm xưa, lũ trẻ con trai làng Bành đem theo nghề chè lam, bánh tét, lên đường leo Rừng Dương. Vừa sợ ngã lăn trên núi xuống, vừa sợ trẻ con làng khác bắt nạt. Tối mịt đám trẻ mới về làng, kiêu hãnh còn hơn cả những nhà thám hiểm lừng danh vừa chinh phục đỉnh cao Êvơret trên Hymalây...
Mấy chục năm rồi đấy Rừng Dương ạ! Rừng Dương có nhận ra ta, “lão già” đầu bạc, quần áo nhầu nhĩ bụi đường, và đang nhẫn nhục nghe mấy người lạ mặt bịa đặt làm chuyện vớ vẩn như thế này?
Giờ thì tôi tin chắc ba vị đàn ông trên xe đang nói về tôi. Trong tay người ngồi giữa có một cuốn tiểu thuyết của chính tôi, xuất bản cách đây dăm tháng. Anh ta vỗ vỗ vào cái bìa sách:
- Cậy có ô dù mà tưởng bở. Ô dù vừa xẹp xuống một cái là ra bã liền!
- Nhưng... - người ngồi ở đầu ghế, có vẻ là con người thận trọng hơn cả. Trong quyển này, hắn nói chuyện gì thế?
- Hừ. “Ông” lười đọc bỏ mẹ! Nó bêu riếu cả đến chủ tịch, bí thư xã mình mà vẫn còn ngu ngơ. Ông bí thư là chú họ tôi đấy. Tôi mà gặp hắn, hắn cứ liệu hồn!
Không hiểu vì sợ đòn, hay bực tức khinh bỉ, hay vui sướng ngấm ngầm, người tôi cứ chực run lên bần bật. Có thế chứ! Hóa ra họ cáu tiết chỉ vì vài nhân vật trong truyện của tôi có dáng dấp giống một người nào đó đang là cánh hẩu của họ. Nhưng, thề có trời đất, tôi chẳng hề có ý định bêu riếu cái ông chú họ của anh này. Tôi nào biết ông ta là ai.
Mấy năm trước tôi từng mắc cái họa tương tự. Ấy là lần tôi viết một truyện ngắn cho bộ đội đọc. Nào ngờ, một nhà chức trách xã tôi nghĩ là tôi viết về ông ấy. Ông ấy bèn sai người bắc loa truyền thanh chõ vào nhà chị gái và anh trai tôi. Chờ đúng những bữa ăn chiều, ông ấy ra rả kể tội tôi, nói xấu gia đình, họ tộc tôi. Từ Hà Nội, tôi phải nhảy bổ về “kêu” với tỉnh ủy, huyện ủy. Những người lãnh đạo quê tôi không bao giờ dung túng sự trả thù kiểu ấy, nên gia đình chị gái và gia đình anh trai tôi mới thoát nạn.
Nhưng thôi. Nhà chức trách cấp xã ấy đã bị khai trừ khỏi Đảng, trở thành ông Chí Phèo hiện đại, chờ ngày ra hầu tòa. Nếu nói thêm nữa, hóa ra dậu đổ bìm leo, hay hớm nỗi gì!
Trở lại không khí trong chuyến xe ngựa. Người đàn ông là cháu họ ông bí thư xã nọ đang lớn tiếng “tuyên án” tôi:
- Chuyến này hắn cứ là om xương. Bị cấm bút vĩnh viễn. Bị đuổi khỏi biên chế. Bị hạ lương. Đáng đời!
Người ngồi ở đầu ghế vẫn giữ giọng dè dặt:
- Báo đăng thế à?
Người ngồi cạnh tôi liền nổi đóa:
- Cái bác này, lúc nào cũng như mơ ngủ. Báo, đời nào đăng các chuyện ấy!
- Vậy làm sao mà biết?
- Ôi chao. Người xã mình nhan nhản ngoài Hà Nội. Đến cái kim giấu trong bọc còn phải tòi ra nữa là.
- Tôi nói thật với hai bác. Cái anh ngồi đầu ghế hình như bị chạm tự ái. Hắn có bị kỷ luật kỷ liếc gì, thì cũng sướng chán. Hắt hơi sổ mũi một tý, cả nước biết, chứ như hai bác với tôi đây, “có sao” thì chỉ mấy nhà hàng xóm biết là cùng.
Anh này bị hai ông bạn dồn đến cùng kỳ lý. Họ đỏ mặt tía tai, băm bổ kết tội anh ta là “mất lập trường”, là “không biết nhục”, là... là gì nữa nếu như lúc ấy chiếc xe ngựa chưa đi tới quãng đồng có dãy ao mọc loáng thoáng hoa súng, và cái anh thạo đời nhất ngồi cạnh tôi vỗ vai người ngồi giữa:
- Nhà hắn kia kìa - anh ta chỉ tay vào phía có mấy cây dừa. Nhưng kiểu này thì cu cậu không dám về nhà nữa đâu.
Lạy Chúa. Anh ta nói đúng một nửa. Sau mấy gốc dừa, chính là nhà tôi. Còn một nửa sau của lời anh ta, khiến tôi lưỡng lự không muốn xuống xe vội, không muốn bị “lộ mặt” trước những con người này, tôi đành ngồi im cho chiếc xe lọc cọc chạy qua phố Bành cách nhà tôi vài trăm mét, rồi mới rón rén chạm vào người bác xà ích:
- Cho tôi xuống đây.
Bác xà ích “họ” con ngựa. Một lớp bụi mỏng từ phía sau tràn vào xe. Bác xà ích nhổ phù điếu thuốc lá mềm nhũn nước bọt xuống đường và quay lại báo tôi “Xuống thì xuống mau mau!”.
Bất giác, tôi nhận ra người xà ích này chẳng phải ai khác, chính là “cậu” Ngãi năm xưa, bạn học của tôi ở trường huyện. Nay, hai đứa đều là những “ông già”.
Trong đôi mắt vụt sáng của Ngãi, tôi đoán Ngãi cũng đã ngờ ngợ nhận ra bạn cũ. Chính vì thế tôi hấp tấp nhảy xuống đường, để khỏi lộ chuyện, dù tôi rất muốn biết cuộc sống của Ngãi ra sao, và anh trở thành bác xà ích đánh xe ngựa từ bao giờ?
Hôm sau trên đường xuống thị xã để đi trả phép, tôi sẽ đón chuyến xe xuôi của Ngãi. Bấy giờ tôi sẽ ôm chặt lấy “thằng Ngãi” mà hôn, như ôm hôn thời thơ trẻ sáng lung linh của mình. Dù có những người từ trong máu đã nhiễm thói hằn học, đố kỵ; họ đau khổ, lồng lộn khi thấy người khác khấm khá hơn, nhất là khấm khá hơn họ. Nếu vẩy bẩn được cho bất cứ ai thì họ không hề tiếc tay.
Nhưng may thay, đám người xấu chơi kia không đủ sức, và không thể che mờ được hình bóng quê hương yêu dấu của tôi!
 
18/12/1992
Đăng nhập để trả lời
★ ★ ★ ★ ★ 0
HƯƠNG QUẾ

 

“Em như hương quế giữa rừng...”

Ca dao

 

Thìn vặn to ngọn đèn dầu, đặt xuống cạnh mâm cơm đã sắp đủ chén đũa rồi tủm tỉm cười nói trống không:
- Chắc gì mấy anh chịu ăn cơm nhà mình. Hồi nào còn chiến tranh, mấy anh ở trong lá trong bưng thì khác. Giờ hòa bình rồi, mấy anh ra ở thành phố, ăn cơm tiệm, đâu còn chịu cực như trước?
Đó là cách chào mời của riêng Thìn. Thìn cứ làm như chị không biết chuyện “trong lá trong bưng”
là gì.
- Ta về thôi anh em, một trong bốn người khách bộ đội làm bộ giận nói lẫy, chị Tư đuổi chúng mình rồi!
Đôi mắt thật tinh nghịch.
- Bỏ đi thử coi, đi thì đi luôn cho mất xứ, đừng đặt chân tới nhà này nữa, tôi nói má tôi rào ngõ lại!
Tiếng cười vỡ tung trong căn nhà lá chật chội. Chủ và khách bảo nhau ngồi lại giường, Thìn ngồi ngoài mép chiếu, dém mấy sợi tóc xõa bên má, thong thả mở vung nồi cơm hơi bay nghi ngút, cầm đũa bếp, lần lượt bới cơm ra chén.
Thìn trao chén cơm vừa xới cho người khách ngồi ở góc chiếu trong cùng và liếc nhìn khuôn mặt anh. Lẫm, ngoài ba mươi tuổi, mặt nâu hồng, cử chỉ bối rối như đang có việc gì ngồi không yên. Anh ấy gầy đi nhiều quá. Từ lúc đến nhà tới giờ chưa cười một tiếng. Tội nghiệp.
Sau bữa cơm ồn ào vui vẻ. Bà má kêu đau lưng vô buồng đi nằm. Ba anh bộ đội cũng ra về. Còn một mình Lẫm ngồi trước ly trà bỏ nguội. Thìn lúi húi thu dẹp chén đũa một lúc, rồi xách giỏ đựng đồ khâu vá ra ngồi xuống góc chiếu đối diện với Lẫm.
Thìn lấy trong giỏ ra một miếng vải in những bông hồng to, mấy ngón tay thoan thoăn thoắt luồn kim, đầu nghiêng xuống chăm chú như quên mất người khách đang ngồi trong nhà mình. “Quên” sao được! Từ mái tóc đen mượt, từ hai gò má mịn màng bắt ánh đèn sáng hồng, từ bầu không khí về đêm yên tĩnh pha lẫn tiếng sóng róc rách lọt vào nhà, tất cả đều như thầm mách với Thìn có một đôi mắt - đôi mắt to, thẳng thắn đến khờ dại vì không biết che đậy những ý nghĩ bên trong -đang nhìn đăm đăm..
À, một chiếc áo trẻ sơ sinh, Thìn khâu cho con của ai vậy?
Lẫm thở dài. Bảy năm!
Ngày ấy họ đặt cứ trong một khu rừng dừa nước chạy dọc theo bờ kênh Ngang. Mỗi người có một tấm ni lông che khum khum như cái tổ chim én bên trên lớp sình lầy. Không bao giờ hội họp đông, cả đến hai người dựng chòi gần nhau cho vui cũng không được, để hạn chế thiệt hại tới mức thấp nhất do những trái pháo địch từ nhiều phía vẫn thường bất thần rơi xuống. Tất nhiên, mấy cô con gái bao giờ cũng rủ nhau dựng chòi riêng ra một khu.
Sự thật thì, giá có được phép ở gần đám con gái Lẫm cũng không dám. Nhưng khi nội quy khu căn cứ đã nêu rõ như vậy, tự nhiên Lẫm lại thấy cái vùng lá mình đang ở vắng vẻ làm sao. Nhất là trong đám con gái ấy, có một cô, ngày nào Lẫm không được nhìn thấy mặt cô, không được nghe tiếng cô cười, ngày ấy Lẫm cứ bồn chồn như khát nước mà chưa được uống.
Thiên nhiên đã ngầm dành cho Lẫm một ưu đãi thật đặc biệt trong khu cứ ấy: những khoảng trống chạy dích dắc bên dưới những tàu lá xanh và len qua những bốp lá dựng lên tua tủa đã vô hình chắp nối lại với nhau, tạo nên một khe hở nhỏ hút như một tia sáng, đủ để Lẫm trộm nhìn sang, dù là chỉ thấy một mảng tóc đen nhánh, một đoạn võng vải nhỏ teo, vắng người nằm, nhưng đã có một lần Lẫm được ngắm trọn vẹn cả gương mặt cô gái đang nghiêng nghiêng mơ mộng nhìn lên ngọn lá xanh. Lẫm có cảm giác rằng trên khắp thế gian này Lẫm sẽ không thể tìm đâu được một gương mặt sáng tươi và thuần phác như gương mặt của Thìn trong những giây phút đó - Lạ nhỉ, Lẫm nghi hoặc, cái trán dô bướng bỉnh rất “con trai” đâu rồi? Cả cái miệng hơi nhỏ và hay “gây sự” nữa, cũng đâu rồi? Sao ngày mới gặp Thìn, mình lại thấy cô ta vẻ khó ưa đến thế? Lầm rồi Lẫm ơi! Cái đồ hay cố chấp! Ta cả quyết với mi rằng đó là một gương mặt đáng yêu và đáng tin cậy mà từ lúc biết làm thằng con trai tới giờ mi chưa bao giờ được gặp...!
- Nói chuyện gì nghe cho vui đi, anh Lẫm. Khách đến nhà ai lại ngồi hoài một chỗ vậy.
Nói gì bây giờ? Nói thì sẽ nói tất cả, từ chân tơ kẽ tóc, từ cái thuở mới gặp nhau xa lắc xa lơ, mà không thì thôi.
Thìn biết vậy, song chị vẫn cầu cứu Lẫm hãy mau mau phá tan cái khoảng trống im lặng đang vây phủ lấy hai người. Thìn sợ hãi tiếng đập thùm thụp từ trong ngực mình vang ra. Liệu anh có nghe thấy?
Trước đây, có một lần nghĩ về anh, tim Thìn cũng đã đập hỗn loạn lên như thế này. Chiếc áo sơ mi vải đen dỏng váng phèn bị đạn xé thủng một miếng ở ngực, bị dây kẽm gai cào toác một lối dài theo hông, và năm, sáu vết thủng lỗ chỗ phía sau lưng. Người ta mang chiếc áo từ bệnh viện về bảo Thìn vá giùm mà không nói cho Thìn biết là áo của ai. Cần gì phải nói! Mấy ngón tay Thìn cầm kim cứ run lẩy bẩy. Mũi kim luồn dính cả lớp vải trước với lớp vải sau, tưởng tấm vá đã xong xuôi thì lại là lúc phải tháo tung ra, khâu lại hết.
Anh bị lộ ra sao? Anh bị lính vây bắt ra sao? Anh bị thương ra sao? Và làm cách nào anh về được tới bệnh viện của ta?... Ruột gan Thìn như sắp cháy bỏng lên vì những câu hỏi ấy. Thìn muốn tìm người mang tấm áo này về để hỏi, lại thôi. Thìn sẽ hỏi thật cặn kẽ, nhưng phải là hỏi chính anh kia. Người khác sẽ không tài nào kể thật đúng, thật hết được về anh. Như cái lần anh đánh mìn vào Ty Cảnh sát ấy. Thắng lợi nghe thật ngon lành: một tiếng mìn nổ, hơn chục thằng sĩ quan an ninh tan xác, anh trở về nguyên vẹn, đến hai bàn tay cũng không phải lấm. Vậy mà trong đôi mắt anh, tự nhiên Thìn biết anh vừa qua một lần chết hụt trở về, một nguy hiểm hơn tất cả những nguy hiểm anh đã trải qua. Chỉ vì trong Ty Cảnh sát lúc đó có một người dân vô tội anh không hề quen biết, người ấy đến xin giấy xin má gì đó, làm đảo lộn hết cả kế hoạch hành động của anh. Rồi khi người đó đi khỏi, quả mìn anh mang trong đệm xe xích lô chỉ còn chưa đầy ba phút nữa sẽ phát nổ...
Lúc gửi áo đi cho chủ nó, Thìn bỏ tờ giấy bạc một ngàn đồng vào cái túi đã bạc sờn - Chỉ đáng vài gói thuốc thơm thôi, nhưng là tất cả “cơ nghiệp” của tôi đó nghen đồng chí!
Ồ! Mà sao lúc này anh ấy lại không hút thuốc nhỉ? Lẽ nào đã bỏ được thuốc lá? Lại hết tiền chớ gì? Cái đồ khó tính, chỉ hút thuốc thơm, mấy ngày mới có một điếu cũng xong, mà nhất định không chịu hút thuốc gò, nói là thuốc gò nặng như đấm vào ngực! Vậy thì có đây, cái phước của anh thật lớn, hôm qua thương nghiệp họ phân phối thuốc lá về cho xã đội, tôi đã tính nhường cho mấy đứa du kích. Tụi nó “nghiền” như quỷ sứ, thấy thuốc lá là đứa nào đứa nấy sáng mắt lên.
- Cho em, chị Tư! Chị đờn bà con gái thì mua thuốc làm gì?
- Ý, tụi bây có phần rồi, để tao hút.
- Trời, chớ hút người ta cười chết đó chị.
- Cười hả, cười thì mua thêm gói nữa hút chơi cho cười một thể.
Mua cho hay, chớ nhà có hai mẹ con đàn bà, không cho tụi nó hút thì để làm gì. Thìn chỉ định chờ vài hôm cho mấy con sâu khói cạn thuốc đã. Nhưng giờ thì thôi.
Thìn găm cây kim sáng ánh vào tấm vải đang khâu dở, đứng dậy đi vào buồng. Khi quay ra, Thìn mỉm cười ném nhẹ gói thuốc thơm xuống cạnh ly nước nguội của Lẫm.
- Đó, không chịu nói chuyện thì hút thuốc đi vậy!
Lẫm nhoẻn cười, vừa bóc gói thuốc rút một điếu vừa gật gù:
- Thông minh thật!
- Hồi nào tới giờ, nay tôi mới được anh khen một tiếng!
- Hở?...
- “Hở” cái gì! Thông minh thật à? Khen thật tình hay khen chơi đấy? Nếu tôi thông minh, tôi đâu đến đỗi nhìn lầm người như vậy. Cái người bị tôi nhìn lầm chẳng phải ai khác, mà chính là anh.
Thìn thở dài, nhè nhẹ ấp hai bàn tay lên má lơ đãng nhìn mấy gọn khói thuốc đầu tiên dưới tay Lẫm vừa bay lên. Thoạt đầu chúng cuộn lại xoắn xuýt, rồi càng lên cao càng bị kéo ra mềm và mảnh như những sợi tơ nhền nhện.
... Tôỉ đã giận anh, đã ghét anh, anh biết không? Hễ nhắc tới tên anh là tôi thấy đắng ngắt như ngậm hạt mã tiền trong miệng. Bởi tôi nghĩ anh chỉ làm ra bộ để tôi hiểu rằng anh thông minh thôi, chớ thật ra anh chẳng thông minh chút nào hết! Anh thông minh thì chắc anh biết tình cảm của tôi đối với anh là thế nào rồi. Tôi héo hắt cả người chỉ vì tôi nghĩ đến anh, không lúc nào nguôi. Vậy mà anh biết được những gì về tôi. Hay tại anh chê tôi xấu? Tôi biết tôi không đẹp được như con Thúy, con Nhung trong đơn vị cũ của chúng ta. Chẳng thà anh cứ yêu một trong hai đứa ấy đi, tôi còn dễ hiểu hơn. Đằng này anh lại không thế. Cứ lâu lâu, trong những lúc hoàn toàn bất ngờ, tôi lại bắt gặp con mắt anh nhìn tôi đăm đăm, làm tôi vừa hoảng sợ vừa sung sướng đến ngạt thở. Tôi lại chờ đợi, chờ đợi hoài, cho tới ngày anh chuyển về quân khu.
- Thìn này...
- Gì vậy anh?
- Thìn về đây làm xã đội trưởng nhưng vẫn là bộ đội đấy chứ?
- Vẫn là bộ đội!
- Làm xã đội có bận việc lắm không?
- Bận!
- Thìn có đi học văn hóa không?
- Đi!
- Thìn cấy được mấy công lúa?
- ….
Thìn phá lên cười sằng sặc. Mũi kim lệch ra khỏi đường khâu, đâm xuống ngón tay đau nhói. Thìn cúi xuống rút mũi kim ra và lại che miệng cười nữa, má đỏ bừng, hai bờ vai rung bắn. Hỏi thiệt kỳ cục, chẳng câu nào ăn nhập với câu nào! Sao không hỏi “Thìn biết uống rượu không?”, hay một câu nào đại loại như “Thìn có biết con cá rô, cá chẹm,...”. Anh chẳng thay đổi chút nào cả - Thìn lắc đầu nhìn Lẫm như muốn nói với anh - Anh vẫn như ngày nào anh ở quân khu về công tác ghé thăm tôi. Khi đó chúng tôi đã làm lễ cưới được gần một năm, anh nhớ không?
- Sao không nhớ!
Những ngày đó anh hay buồn thẫn thờ và luôn luôn tự hỏi: Thìn lấy ai nhỉ? Và anh ta là người thế nào? Rồi anh tự trả lời lấy: trước hết, đó phải là một con người hết sức chân thật, và hết sức cương nghị. Thiếu hai đức tính ấy, sẽ không thể sống gần Thìn chứ đừng nói được Thìn yêu thương. Không hiểu sao, những khi ấy, trong nỗi lòng chân thành của Lẫm cứ nhóm dần lên một tình cảm thật lạ lùng, anh vừa thấy mến yêu khâm phục, lại vừa ghen tuông mơ hồ đối với người con trai anh chưa từng biết mặt biết tên kia.
Cũng chính vì thế mà cái hôm ở quân khu về, Lẫm đã tìm ngay đến chỗ ở của Thìn chỉ với một ý định chứng kiến niềm hạnh phúc gia đình Thìn đang được hưởng. Trên chiếc xuồng con nhẹ tênh, Lẫm bơi như người nằm trong mơ. Một con kênh nhỏ nước ngầu bùn, cánh rừng tràm với những thân cây thẳng như so đũa, tiếng chim hót ở xa và tiếng ve sầu rỉ rả khắp nơi... Anh chỉ ghi nhận những thứ đó vào trong trí nhớ mờ nhạt của mình. Ồ,... anh sực tính: mình làm sao thế này? Đến thăm một người bạn gái, một người đồng chí vừa xây dựng gia đình riêng, thăm hoàn cảnh rất mới mẻ của họ trong căn cứ kháng chiến và mình sẽ chúc mừng cho hạnh phúc của họ, vậy thôi, có gì mà phải lúng túng, ngại ngùng? Mình xoàng thật!
Ý nghĩ ấy đã cổ vũ Lẫm rất nhiều, khi anh cột xuồng vào gốc sậy rồi đi thẳng lại một mái chòi nhỏ giữa rừng. Vậy mà vừa bắt gặp cặp mắt của Thìn nhìn mình, mọi dòng ngôn ngữ lưu loát, thứ tự, trong đầu óc Lẫm lại vẫn bị rối tung lên, khiến anh nói năng chẳng đâu vào với đâu cả - nhất là sau khi biết người chồng của Thìn vừa mới về đây nghỉ mấy ngày, giờ anh đã trở lại đơn vị chiến đấu, Lẫm cứ thấy bứt rứt như mình đang làm một việc gì mờ ám vậy.
Hai người ngồi nói chuyện trên một chiếc giường lát bằng cây que tạm bợ. Họ nói những gì loanh quanh khá lâu.
- Thìn ạ, tôi muốn hỏi... “chị”...
- Hỏi đi. Thìn nhìn Lẫm bằng ánh mắt châm chọc và như đang ngầm thách thức: “Hay anh sợ chồng tôi nghe thấy? Không, tôi đã nói là anh ấy không có đây rồi kia mà!”.
- Tôi muốn hỏi về đời sống của “chị”.
- Không phải, Thìn lắc đầu một cách ngang ngạnh, anh lại nói dối. Tôi biết, anh định hỏi tôi cái gì khác kia. Phải không? Nhận đi?
Cơ sự đến thế này thì không thể nào rút lui được nữa. Lẫm trấn tĩnh lại, như một chiến sĩ lấy dũng khí trước giờ xung phong. Anh ngồi yên một lát cho mặt mình bớt nóng, rồi hỏi rất thẳng thắn:
- Tôi muốn biết trước đây, hồi chúng mình còn ở chung đơn vị, chị đã nghĩ về tôi như thế nào?
- Để làm gì?
- Quả thật tôi cũng không biết để làm gì. Có lẽ không để làm gì cả. Nhưng tôi muốn biết.
- Vậy hả. Bộ anh cũng thương tôi sao?
Lẫm gật đầu, nhìn như soi vào đôi mắt ngạo nghễ của Thìn - lúc Thìn đang cười sằng sặc - khiến mặt Thìn bỗng biến sắc. Thìn thôi cười, bàn tay vội nắm lấy mép giường để ngồi cho vững.
Lúc lâu sau, Thìn mới khẽ nói:
- Thông cảm cho, nghen anh Lẫm. Tôi cứ tưởng anh nói chơi cho vui... nhưng trễ rồi, trễ rồi anh Lẫm ạ. Thôi, đừng nhắc tói chuyện đó nữa.
Lẫm im lặng đứng lên. Thìn như giật mình, hỏi:
- Anh đi đâu?
- Tôi về chỗ ban chỉ huy.
- Khoan đã, tôi không làm phiền anh đâu mà sợ. Giá như có anh Năm - Thìn nói tới người chồng của chị - ở nhà, chúng tôi sẽ mời anh ăn một bữa cơm, nhưng hôm nay thì không tiện, tôi chỉ mời anh ở chơi thêm một lát nữa thôi.
Lẫm ngồi lại chỗ cũ, uể oải châm một điếu thuốc lá. Tiếng nói của anh đã hết vẻ ngắc ngứ, nhưng lại rung lên:
- Xin lỗi Thìn. Lẽ ra tôi không nên hỏi Thìn như vậy.
- Không, Thìn vừa buồn vừa hết sức dịu dàng, anh cứ nói. Thành thật như vậy mới đúng. Tôi chỉ mong anh hiểu cho chồng tôi là một người tốt, rất tốt...
Câu chuyện đã qua đi, đẹp và buồn như một vì sao xa xăm đang rọi lại đây những tia sáng trong ngần.
Bây giờ người chồng yêu thương của Thìn không còn nữa. Anh hy sinh từ những ngày Thìn còn chưa biết mình vừa có mang đứa con trong lòng.
- Đứa con tôi... Mà có nên kể cho anh nghe chuyện này không nhỉ?
Cái đêm trong nhà tù, tôi sốt nằm mê man bất tỉnh. Tôi mơ lại cảnh tra tấn lúc chiều hôm đó. Hai bàn tay đeo đầy những chiếc cà rá vàng chóe của thằng đại úy cảnh sát xòe ra, bấu chặt vào bụng tôi, giọng nó rít lên nghe dễ sợ: “Cho mày lòi con ra!”, “Cho mày lòi con ra!”. Hai hàm răng nó nhọn lởm chởm như răng con cá sấu nhe ra ở sát mắt tôi. Tôi dãy dụa, tôi cào cấu tứ tung, tôi nhổ nước bọt phì phì, nhổ vào mặt nó - Rồi nó co chân, lấy hết sức đạp cả cái đế giày đóng cá sắt xuống ngực tôi. Tôi thét lên, tôi vật lộn với nó. Cuối cùng, tôi mơ thấy thằng đại úy lôi cái cục máu trong người tôi ra, nuốt trửng, mồm mép nó đỏ lòm...
Tôi đã trở dạ và sanh nở như vậy, anh ạ.
Khi tôi tỉnh dậy - không biết tôi đã nằm xỉu đi bao lâu, có lẽ tới một hai ngày chớ không ít - Tôi chới với cả người. Các má, các chị cùng phòng giam thay quần áo sạch cho tôi. Đầu tôi được gối trên cánh tay của một chị cán bộ lớn tuổi người Cần Thơ.
Chị gạt nước mắt vào vai áo tôi và dạy: “Ráng nằm im nghen em, hễ cục cựa một chút thôi là hết cứu nổi đó”.
- Ủa, em làm sao vậy chị? - Tôi hỏi chị.
Chị không trả lời. Chỉ có những giọt nước mắt ấm hổi của chị rớt xuống mặt tôi như nhắc cho tôi nhớ thêm một lần nữa rằng tôi phải tuyệt đối nằm im theo lời chị dạy - tính mạng tôi đang hết sức mỏng manh.
Mấy bữa sau, các má các chị mới cho tôi hay, tôi đã có một đứa con, một đứa con trai tay chân dài rơ, tóc xanh mướt, và mắt rất sáng. Nó được các má các chị gửi ra ngoài nhà lao, nhờ một chị phụ nữ vào thăm nuôi đem về cho bú. Vậy mà không hiểu sao, tôi đợi hoài chị đó vẫn không trở lại...?
- Hãy ghi thêm đứa trẻ vào danh sách những người đã hy sinh cho đất nước! Lẫm hơi cúi đầu tư lự, răng cắn chặt vào môi.
Thìn vẫn ngồi đó, lặng đi như một pho tượng, đôi mắt màu xám gom lại thành hai giọt sáng le lói nước ánh đèn.
Không, tôi tin có ngày mẹ con tôi sẽ gặp nhau. Nó còn sống, nhất định thế! Khoảng hai tháng đầu hòa bình, ngày nào cũng vậy, hễ mở mắt ra, tôi lại nghĩ: biết đâu hôm nay mình lại chẳng tìm ra manh mối của “nó”? Nó đang chạy nhảy, đang nô đùa ở ngay dưới hàng cây keo trước trụ sở xã đội của mình, hay nó đang bơi lội bì bũm ngoài vàm sáng, hay ở một nơi nào hàng ngày mình vẫn thường đi công tác qua lại cũng nên? Rồi đêm đến, tôi mơ thấy nó về... Nhưng gần đây tôi nghĩ khác rồi, anh! Vợ chồng tôi đã có nó. Anh ấy ngã xuống, có phần dành cho nó. Cuộc đời của tôi như thế này đây, cũng có phần dành cho nó. Nó đang sống ở một nơi nào trên đất nước mình.
Nó sẽ lớn lên, sẽ được học hành - Một cuộc đời mới, khác hẳn cuộc đời của cha nó, của tôi, của anh và của chúng ta...
Tấm áo tí hon đã khâu xong từ lâu, Thìn soi ra trước ánh đèn ngắm nghía từng mũi kim đường chỉ, giờ chị mới gập nó lại vuông vắn như một chiếc mùi-soa. Không còn việc làm, Thìn lấy trong giỏ khâu một chiếc lược lớn rồi sổ mái tóc ngồi chải. Cái việc này đáng lẽ là của buổi sáng - Lẫm mỉm cười một mình trong lúc anh cũng đang vô tình theo dõi không bỏ sót một cử động nhỏ nào của người bạn gái - Thìn đã gỡ chiếc cặp cánh cam sáng lấp loáng hai bên đầu. Xong, Thìn luồn một bàn tay rất khéo léo chia mái tóc thành hai nửa gạt sang hai bên, ôm nhẹ lấy đôi má hãy còn giữ được những đường nét đầy đặn của tuổi trẻ. Phút chốc mái tóc ấy trở lại mượt óng ả như một dòng suối ánh sáng đang cuộn chảy. Vậy mà Thìn vẫn còn chải mãi vào mớ đuôi tóc ở trước ngực. Bàn tay cầm lược của Thìn đưa lên đưa xuống chậm rãi như cùng đôi mắt của chị nói lên điều gì - đôi mắt mở to, nhìn hoài vào ngọn đèn, hồi lâu không buồn chớp.
Hai người ngồi với nhau như vậy cho tới trăng lên. Qua khung cửa nhìn ra, mặt nước rộng đang hiện ra từng lượn sóng vàng đuổi nhau thấp thoáng sau mấy khóm dừa. Thìn đứng dậy tiễn Lẫm ra tới bờ sông. Thìn chưa muốn trở vào nhà, Lẫm cũng chưa vội quay đi. Đứng bên người bạn gái, Lẫm im lặng lắng nghe một cái gì đó đang rơi sâu vào lòng anh. Lúc đầu hôm tới đây, Lẫm còn mang ý nghĩ mình tới để an ủi một người bạn thân thiết. Lẫm chỉ mong mình được là một cái dấu phẩy cắt ngang những ngày tháng đơn chiếc của Thìn - Vậy mà bây giờ, người đang được tiếp thêm rất nhiều sức ấm nóng sôi nổi của tuổi trẻ, lại chính là Lẫm.
Đăng nhập để trả lời
★ ★ ★ ★ ★ 0
KIẾP TRƯỚC

 

Bà ăn mày không có tên riêng. Cả xóm này chỉ gọi bà là bà ăn mày. Nhưng, con chó mực của bà lại có cái tên rất choáng: Thiên Cầm (tác giả thành thật xin lỗi bạn đọc nào có tên như vậy).
Khốn khổ cho con chó. Nó gầy giơ xương, bước đi xiêu vẹo, nhử mắt lèm nhèm, lông thì trụi từng đám vì ghẻ lở. Hễ chủ dừng lại ngả nón xin trước cửa nhà ai là nó liền tranh thủ nằm ạch xuống, dùng cái chân sau gãi cuống cuồng lên bụng, lên nách, miệng rên ư ử. Bởi thế mới có kẻ động cỡn về chữ nghĩa gọi nó là Thiên cầm, tức là Cây đàn nhà trời. Lại nữa, có những người thích bỡn cợt trên nỗi đau của người khác, họ cấm bà ăn mày gọi nó là con Mực, mà phải gọi là Thiên Cầm thì họ mới cho bà vài trăm bạc rách, nắm gạo, hoặc bát cơm nguội...
Dần dà, con chó của bà ăn mày tỏ ra rằng nó cũng là tay khó tính, thích văn hoa kiểu cách chứ chẳng phải phường tầm thường, quê kệch. Ai muốn gọi nó, phải gọi đủ hai tiếng Thiên Cầm nó mới chịu ngẩng mặt lên. Nếu chị gọi: “Ê! Cầm!” là nó phớt, không thèm đáp lại.
Một hôm bà ăn mày đến nhà tôi. Tôi đang mải viết văn, nghe tiếng con chó gãi phần phật trước rồi mới nghe tiếng bà ăn mày: “Con cắn cỏ lạy ông làm ơn làm phúc...”. Tôi biếu bà lão mấy đồng bạc lẻ, thấy hơi ít, lại xúc cho bà lưng ống gạo. Trời sắp mưa, khoảng sân bê tông trước khu nhà tập thể hơi nóng bốc lên ngùn ngụt. Tôi ái ngại cho bà già đáng tuổi mẹ mình, bèn hỏi:
- Bà ăn uống gì chưa? Tôi không nấu cơm, nhưng có mỳ ăn liền. Tôi làm cho bà một bát nhé?
Bà lão cóm róm bước qua khung cửa, định ngồi bệt xuống nền gạch, phải nói mãi mới chịu ngồi nhớm lên ghế. Con Thiên Cầm ngồi xệp hai chân sau, mặt hếch lên nhìn chủ, như một vị đại thần biết giữ lễ vua tôi cung kính quỳ hầu bên cạnh đấng hoàng đế.
Bà lão ăn nhỏ nhẹ được vài thìa mỳ tôm thì từ miệng con Thiên Cầm có cục dãi to như hạt ngô rớt xuống đánh tạch. Lần thứ hai nó lặp lại hiện tượng ấy, khiến tôi giật mình nghĩ đến bệnh chó dại người ta thường loan báo trên ti vi. Tôi vội hỏi:
- Con chó của bà làm sao thế?
Bà ăn mày không muốn trả lời. Khi bát mỳ tôm còn lại chừng một phần ba, bà lấy trong bị ra cái bát sắt sứt sẹo, trút cho con chó. Bấy giờ bà mới thở dài, giọng ngùi ngùi:
- Nó thèm đấy ông ạ!
Ra thế! - Tôi thầm nghĩ - câu thành ngữ “thèm nhỏ dãi” được nghe từ tấm bé, mãi nay tôi mới thực hiểu ý nghĩa của nó là thế nào? Tôi xúi bà bán con chó đi, hoặc cho ai nuôi, đỡ cho bà khỏi phải cưu mang nó mà nó thì đỡ khổ. Nhưng bà lắc đầu:
- Ốc không tha nổi ốc, tôi có muốn đèo thêm rêu làm gì thưa ông. Nhưng mà con này dại lắm kia. Mấy lần tôi cho người khác là mấy lần nó trốn về với tôi - Bà già vuốt vào lưng con chó lúc nó đang liếm lấy liếm để cái bát sắt đã sạch nhẵn, và nói với nó vô cùng âu yếm - Theo tao làm gì để khổ sở, thèm nhạt thế này hở con?
Bà già ra đi giữa trưa nắng, con Thiên Cầm xiêu vẹo theo sau. Con chó trung thành, tận tụy thế, mà có lần bà lão suýt giết chết nó chỉ vì một mê cơm cháy. Chẳng là, sợ mưa lụt chưa dứt, bà để dành mê cơm cháy lại làm nguồn lương thực dự trữ cho hai “thầy trò”. Đêm, con Thiên Cầm rúc mõm vào ăn vụng hết. Sáng hôm sau thức dậy, bà lão ăn mày trói cả bốn chân con chó lại, dùng gộc cây phang. Nó kêu la thê thảm nhưng nào ai bênh. Tới khi nó không la được nữa, chỉ còn thở thoi thóp, bà lão mới dừng tay. Sau trận đòn thập tử nhất sinh ấy, nét mặt con Thiên Cầm không bao giờ trở lại hí hởn vui vẻ nữa, nhưng hình như nó càng biết thân biết phận, càng nhẫn nhục chạy theo làm bạn với bà.
Tôi đi nằm, để chiều tiếp tục chương tiểu thuyết vừa mới sang được ít dòng, và ngỡ chuyện về con Thiên Cầm chỉ có thế.
Một mùa hè ngắc ngứ và chật vật đã trôi qua. Mùa thu bắt đầu bằng những trận mưa dầm dề thối đất. Bà lão ăn mày lại hiện ra trước cửa phòng tôi vào một lúc rất hiếm hoi trời hửng nắng. Lần này bà đi một mình. Và lại như lần trước, tôi nhặt mấy tờ bạc lẻ cùng một ống gạo đem ra biếu bà, bà nhận, nhưng tỏ ra khá hờ hững. Bà bảo rằng bà đi xin ăn khắp thiên hạ, không thấy ai thơm thảo, đức độ như tôi...
Tôi xua tay:
- Thiếu gì người tốt. Bà đừng khen quá lời.
- Ông cho tôi nói thế đã - lời lẽ bà lão rành rọt và tự tin khác thường - Vì thế, chuyện này tôi chỉ kể ông nghe. Cái con Mực nhà tôi...
- À phải. Nó đâu rồi bà?
- Để tôi nói hết đã.
Bà lão có vẻ bực vì sự láu táu của tôi. Nhưng liền đó, bà ngồi im, nước mắt rân rấn trong đôi mắt mờ đục. Khá lâu sau, bà mới cất giọng nghèn nghẹn: “Thề với ông, tôi không dám đơn sai nhời nói. Cơ mà sao ở bãi sông có lắm cô hồn đến thế. Người chết oan chết ức, người chết đói chết khát, người bơ vơ không nơi chôn cất... Đêm nào là đêm tôi không trò chuyện với người âm hả ông! Dưng gặp người âm giữa lúc thức thì tôi mới lần này là một. Khốn khổ khốn nạn, có chỗ nào đặt lưng đâu mà bảo rằng mơ ngủ cơ chứ... Lời lẽ bà lão tuôn như suối với đôi mắt bỗng lấp lóe như mắt của người đang lên đồng. Chỉ vì không sao bắt chước được cách diễn đạt của bà, tôi đành kể lại theo cách tôi hiểu vậy:
Bà ăn mày cũng có một nơi ở, mà bà gọi là “nhà”. Nó gồm bốn cái que cắm xuống cát, chung quanh che chiếu rách và đủ loại túi ni lông bà nhặt được trong các đống rác, ở dưới gậm cầu. Đêm ấy trời đổ mưa rào. Càng về khuya mưa càng dữ. Túp lều của bà bị nước xối đổ nghiêng, nên suốt đêm bà phải ôm con Mực ngồi mong trời sáng. Sau khi đoàn tàu hỏa lao qua cầu, cả vũng bến sông rung chuyển trong một tia chớp chói lòa đánh xuống bãi dâu. Tiếng sét nổ quá gần làm tai bà lão điếc đặc, con Thiên cầm thì run bần bật trong lòng bà. Rồi, tự dưng con chó của bà quát lên bằng tiếng người:
- Anh làm hại tôi thế còn chưa đủ hả!
Có tiếng một người khác đáp lại:
- Báo cáo thủ trưởng. Em trốn khỏi địa ngục, mấy ngày nay đi tìm thủ trưởng khắp nơi. Sao thủ trưởng nỡ mắng nhiếc em? Em lặn lội tìm thủ trưởng, chỉ cốt thông báo cho thủ trưởng biết đầu đuôi câu chuyện...
- Chuyện gì?
- Về cái đêm thủ trưởng và em ăn tối ở khách sạn nổi năm sao ấy mà. Thủ trưởng còn nhớ không?
- Không.
- Thủ trưởng quên cả bát hồng yến rồi sao?
- Hồng yến là cái gì? Ta không biết! !
- Trời ơi... Thế này nhé: Con chim yến nhả dãi trong người nó ra kết thành tổ để đẻ trứng vào đó. Loài người lấy cái tổ của nó nấu ăn, gọi là món yến sào. Sợi yến thoáng trông từa tựa sợi miến dong. Nhưng thỉnh thoảng có vài sợi còn dính tia máu, ấy chính là khi con yến nhả hết dãi rồi mà vẫn chưa đan xong tổ, nó phải nhá thêm cả máu của nó ra mới đủ. Ta gọi những sợi yến dính máu ấy là hồng yến. Thủ trưởng nhớ chưa nào?
- Thì có liên quan gì đến ta?
- Có liên quan chứ. Tối hôm ấy thủ trưởng gọi lão chủ khách sạn đến bảo làm cho thủ trưởng một bát hồng yến. Lão chủ khách sạn cầm tờ thực đơn lên xem, nói rằng không có món đó. Thủ trưởng đập bàn: Thì tôi gọi la-cát vậy. Được không? - Dạ, được chứ ạ.
Nhưng thưa quý khách, kiếm hồng yến đặng đủ một chén thì... - Thì sao? Chẳng lẽ khách sạn năm sao không biết nấu yến! - Dạ thưa, trong kho của chúng tôi hiện có tới năm, sáu chục tổ gì đó. Nhưng mỗi tổ may lắm kiếm nổi vài ba sợi hồng yến mà thôi. Bởi vậy, tôi e giá thành... - Sợ tụi này thiếu tiền hả? - Dạ đâu dám - Thế thì làm ngay đi. Bao nhiêu tổ, bấy nhiêu tiền. Tôi thanh toán tất!...
- À à... - Tiếng con Thiên Cầm ầm ừ - Giờ tôi mới láng máng nhớ ra.
- Thế đấy. Thủ trưởng có nhớ số tiền trả cho bát hồng yến ấy đủ để nuôi một gia đình nghèo trong mấy năm không? Nhưng tai họa đâu chịu dừng ở đó.
- Lại còn gì nữa?
- Phàm là ăn yến, bao giờ người ta cũng cần đến cái khoản kia. Huống chi đây là hồng yến. Đêm ấy, thủ trưởng bắt đủ chục cô chiêu đãi viên đứng xếp hàng, rồi lựa một cô trẻ nhất, đẹp nhất, đặc biệt là phải còn trinh, thủ trưởng lột truồng cô bé ra, bắt cô nằm vào bồn tắm, rồi đổ sâm banh cho cô ấy tắm...
Hồn ma kia chép miệng than:
- Nếu không có thêm cái tội này, chưa chắc mấy ông Nam Tào, Bắc Đẩu đã gạch tên thủ trưởng, bắt thủ trưởng đột tử ngay trên bụng cô gái ấy để làm trò cười nơi cửa miệng thế gian. Còn tôi thì can tội đua nịnh, lấy tiền của Nhà nước cung phụng thủ trưởng ăn chơi. Do đó tôi mới tông xe vào gốc cây, rồi bị đày xuống địa ngục chứ!
- A ha ha - Thiên Cầm cười khoái trá - Rõ là thằng nói láo.
- Sao cơ?
- Nếu tôi nặng tội hơn anh, sao tôi không bị đầy xuống địa ngục.
- Chà, không ngờ thủ trưởng vẫn đa nghi, vẫn thích kéo bè kéo cánh như xưa - Người kia phẫn nộ thật sự - giờ tôi nói toẹt ra cho ông biết: ông chẳng còn nghĩa lý gì với tôi nữa đâu. Sở dĩ người ta không tống cổ ông xuống tầng địa ngục thứ mười tám, vì nếu giam cùm dưới đó chỉ mới là cực hình mà thôi. Người ta muốn ông phải nếm cho đủ mùi nhục nhã nên mới bắt ông đầu thai vào kiếp chó, lại là con chó hèn kém, xấu xí, đói khát, nhục nhã nhất trong loài chó, thế mới đáng kiếp!
- Thật vậy ư?
- Thật như tôi đang nói với ông. Thật như là ông đang rét run trong tay mụ ăn mày. Thật như là lũ ghẻ đang đánh chén trong máu trong thịt ông. Còn nghi ngờ nữa hay thôi? Và hãy bỏ cái giọng hống hách làm bố thiên hạ đi, con chó ghẻ lở kia ơi?
Không nghe con Thiên cầm đáp lại, chỉ nghe tiếng tru não nề lẫn những lời than thở ê chề của nó:
- Biết làm sao được, hở trời?...
Người kia thôi phẫn nộ:
- Xin hỏi thật: sau này, nếu được sung sướng, thủ trưởng có tìm cách giúp tôi thoát khỏi địa ngục hay không?
- Tất nhiên rồi. Chúng mình đã gắn bó với nhau trong một tiền kiếp tội lỗi. Nếu tạo hóa còn cho chúng ta được gắn bó bên nhau trong một kiếp sau tốt lành, thì còn gì vui sướng hơn!
Tới đây, kẻ giấu mặt bỗng hạ thấp giọng, như nói thầm:
- Chỉ vì mục đích ấy mà tôi vượt qua hàng rào lửa địa ngục tới đây để báo cho anh một tin vui: nghiệp chướng anh đã trả hết rồi. Từ đây, anh sẽ được hóa thân thành kiếp khác. Xin có lời chúc mừng!
Người kia vừa dứt lời, con Thiên Cầm bỗng trút một hơi thở thật dài, không đau đớn, không rên la, nó tắt thở mà như đang ngủ ngon lành trong lòng bà lão ăn mày...
Bà lão thuật hết câu chuyện, gương mặt nhăn nheo rạng ngời. Bà bảo thế nào con Thiên Cầm cũng nhớ ơn mà phù hộ cho công việc của tôi. Đáng tiếc, lúc đó tôi đã khuyên bà: “Con chó bị ướt mưa, nó chết rét đấy. Bà đừng mê tín thế”. Tôi đã làm mếch lòng bà lão ăn mày. Bà không thèm nói với tôi câu nào nữa. Bà đứng dậy bỏ đi, mấy đồng bạc lẻ cùng gói gạo tôi cho bà, vẫn nằm nguyên trên bàn.
- A di đà Phật! - Bạn đọc nên nhớ, xưa nay tôi chẳng hề tin vào đức Phật, đức Chúa, hay bất cứ đấng thần linh nào. Chính tôi cũng không hiểu cớ sao tôi lại bật lên mấy tiếng ấy - Nếu quả thật có một kiếp sau, hẳn tôi sẽ phải hóa thân làm một sinh vật nào đó ngu si, đần độn tột bậc mất thôi. Bởi, tôi biết tôi đã mắc vào một nghiệp chướng: bao lâu nay, bằng ngòi bút của mình, tôi đã ba hoa khoác lác quá thể. Một đôi lần tôi đã a dua theo kẻ khác, biến người trung thực thành kẻ gian phi và một vài lần tôi đã nâng lũ giòi bọ lên thành những siêu nhân.
 
5/1994
Đăng nhập để trả lời
★ ★ ★ ★ ★ 0
LÀ TÔI

 

Tôi giật trái ô môi trên tay con Hóa quăng vèo xuống sông. Nó bập bều khóc, gió chướng thổi lật cái mũ tai bèo đang quàng sau vai lại phía trước úp lên mặt, không thèm đội lại.
- Khóc cái gì? - Tôi quát - Bom đạn rần rần vậy mà cứ nhõng nhãnh trò trẻ con.
Tôi ấn khẩu côn với băng đạn đủ 8 viên mới nạp vào tay con Hóa, giật lấy khẩu tiểu liên AR15 nó đang đeo, lại quát: Xuống hầm! Xuống! Còn phải ngụy trang nữa. Xuống đi!
Căn hầm bí mật của tôi và Hóa ở ngay dưới gốc cây ô môi chi chít hoa, do du kích ấp Thới Hòa Trung đào sẵn từ lâu dành làm hầm cho khách. Lúc bọn lính sư đoàn 14 càn tới, cậu ấp đội trưởng dẫn chúng tôi ra đây, kéo cái nắp hầm là tảng đất vuông vức bằng ba viên gạch vồ lên, rồi bỏ đi đâu mất tiêu.
Hầm bí mật xưa nay phải tuân thủ một nguyên tắc rất nghiêm ngặt ai đào nấy ở. Bạn bè thân thiết đến mấy cũng không được phép chỉ cho biết hầm của nhau. Thân thiết lúc thường, chén tạc chén thù lúc thường, nhưng lúc bị địch dí họng súng vào ngực, bị tra điện, bị cắm kim vào mười đầu ngón tay, bị... biết bao thứ cực hình man rợ, thì ai biết tình đồng chí bạn bè còn giữ lại được đến đâu. Bởi thế, phải nằm hầm khách tính mạng khác nào trứng để đầu đẳng. Trứng để đầu đẳng vẫn hơn trứng đập vào đá. Mặt đất đang chao đảo, đang nảy lên bần bật, đang xô qua giật lại liên hồi. Ào ào. Ập ập. Rồ rồ. Nhức buốt hai màng nhĩ trong tai. Trông ra cánh đồng cuối mùa khô mênh mông chỉ thấy chớp lửa, và mù mịt khói, không phân biệt đâu khói đạn đại bác, đâu khói đốt đồng chuẩn bị cho mùa gieo sạ. Xe bọc thép M113 lổm ngổm như cua bò. Chạy sau hàng xe M113 là những bộ binh lô nhô như đàn kiến mối. Đạn xé tơi tướp những rặng cây mắm, cây bần, bình bát, tràm, keo tai tưọng, ô môi, xô rạp cả rừng dừa nước ngút ngàn bên bờ sông Tiền. Chậc. Một căn hầm khách dù sao cũng hơn phơi thân ra cho đạn xé.
Tôi nhặt trái ô môi khô đen xỉn, giắt vào thắt lưng, vơ một vốc hoa ô môi màu hồng hoa đào bị đạn bắn rụng để rắc lên mặt phía trên của tấm nắp hầm, rồi nâng bằng hai tay cho ngưồi tụt xuống tới đâu nắp hầm tụt xuống theo. Nếu còn sơ suất nào để lộ quanh mép nắp hầm đã có những tràng đạn cắc cùng cắc cùng của thiết xa M113 rũ hoa xuống nghi trang “hộ” mình.
Tấm cửa hầm sập xuống. Tôi rơi từ vô cùng vũ trụ vào lòng đất đen. Tiếng đạn réo bên trên thoắt xa lắc nhưng tiếng đại bác khiến lòng đất quanh tôi bỗng giật đùng đùng. Trong khối bóng tối hãi hùng màu hắc in tôi như nhìn thấy con mãnh thú đang há miệng nhe nanh, một miếng ngoạm của nó là hết gọn người tôi. Trái ô môi giắt ở thắt lưng giúp tôi trấn tĩnh lại. Tôi quờ tay trao nó cho Hóa. Cô bé bẻ trái ô môi đánh tách. Mật đặc trong trái ô môi tỏa ra mùi nồng nồng mặn mặn của nước mắm cốt. Hóa lép nhép ăn. Giờ thì đã kịp làm quen với bóng tối, nhờ vài tia sáng mỏng manh lọt qua lỗ thông hơi rọi xuống, tôi nhận ra Hóa đang ngồi tựa lưng vào vách đất ẩm rượt, tấm khăn rằn quàng lơi trước cổ, chân dạng ra, thè lưỡi liếm mật trong một trái ô môi, trông rất ngon lành. Không hiểu nó có bận tâm đang ở trong một tình huống như thế nào hay không. Tôi phát ghen tỵ, phát thèm sự điềm tĩnh hồn nhiên ở đứa trẻ sinh ra trong khói lửa và mơn mởn lớn lên giữa chiến trường. Vầng trán phẳng hơi thâm thấp, đôi má bầu bĩnh, những nơi cổ tay cổ chân không được quần áo che khuất trên người Hóa cứ sáng lên như những mảnh trăng hết sức thanh bình, như tỏa ra mùi thơm ấm áp của da thịt tuổi trẻ, biến căn hầm bí mật tối tăm chật chội thành một thế giới riêng. Cái thế giới đang bị cày xé tanh ngòm cảnh đầu rơi máu chảy trên kia không được phép thâm nhập xuống đây.
Tiếng ai đang la trên mặt đất. Hóa và tôi cùng bò lại áp tai vào lỗ thông hơi cố nghe xem có chuyện gì. Tiếng động cơ M113 lùng bùng, tiếng đạn bay thun thút. Ồn quá. Phải gạn lọc căng cả óc mới nhận ra được đôi ba âm điệu rất mỏng manh của tiếng người.
Cái Hóa bỏ quên trái ô môi ở ngách hầm, miệng lẩm bẩm “người nào la đó ta?”, “Anh Út, ráng nghe coi tiếng ai la đó? Phải bà Năm bán ghe tiệm không?...”. Kỳ thực là tôi không nghe được tiếng ai cả. Tôi chỉ nghe thấy tiếng thở của Hóa và tiếng thở của tôi. Cái chỏm tóc của Hóa đang làm một bên má tôi nhồn nhột. Tôi thầm rủa tôi là thằng vớ vẩn, là kẻ tầm thường nhất trên đời, không còn gì đáng khinh bỉ hơn là cái thằng tôi. Tôi cúi mặt xuống vì tự xấu hố. Nhưng chính cái phút bấn loạn ấy tôi nhận ra hơi ấm rừng rực của hai bờ má đã áp chặt vào nhau. Một giọng nói thầm như vẳng tới từ trong mơ:
- Anh Út... Hôn em đi...
Và tôi bừng tỉnh đẩy bộ ngực của Hóa ra xa một chút.
- Đừng... Đừng...
- Sao lại “đừng”. Hôn em cho em hết sợ nào! Em thương anh quá xá mà mắt anh cứ lơ ngơ hoài?
- Hóa! - Cái kẻ đạo mạo cứng cỏi đã kịp trở lại trong con người tôi - Cho chú nói điều này hẵng...
- Anh là chú của em hồi nào? Không. Không. Không. Cô bé vồ vập hôn lên khắp mặt tôi, dụi cả đôi mắt ướt đẫm lên gò má của tôi, bật ra những tiếng nói trong cơn mơ sảng. Anh có vợ rồi, không dám thương em chứ gì? Thôi kệ. Thôi kệ. Sống được hay không mà sợ...
Tôi ôm tấm thân rạo rực trắng trong như bột lọc vào lòng mình. Cái kẻ đạo mạo trong tôi run rẩy, đang dấn thẳng tới giây phút chịu đầu hàng thì bất ngờ cửa hầm xịch mở trong vài giây. Tôi chưa kịp chĩa nòng khẩu AR15 về phía đó, đã thấy có vật gì ném xuống đánh tạch, rồi cửa hầm lại đóng sập, nguồn sáng phụt tắt. Tôi quờ tay chạm ngay vào cái vật nhỏ người bên trên vừa liệng xuống, là mấy củ tỏi khô.
- Nguy rồi anh Út - Giọng Hóa không còn giấu nổi sợ hãi - Tụi nó mang theo bẹc giê tới xăm hầm!
Tôi ậm ừ vỗ yên Hóa, đầu óc đang bận dồn hết vào một câu hỏi: Ai vừa ném tỏi chống béc giê xuống cho mình? Cậu Bẩy Thượng ấp đội trưởng chăng? Chính Bẩy Thượng chỉ cho Hóa và tôi xuống hầm. Nhưng không hiểu sao tôi lại không nghĩ Bẩy Thượng làm việc này.
Bẩy Thượng không có cái cách lo nghĩ cho người khác chu đáo đến thế.
Từ hôm tôi và Hóa nhận nhiệm vụ “điều nghiên” chi khu Cà Trấp nằm thoi loi trên cái lằn ranh giới giữa Đồng Tháp Mười với tỉnh Prâyven của Campuchia, sống với đội du kích ấp Thới Hòa Trung chừng ấy ngày có lẽ nào tôi không hiểu tính nết của họ.
Nhớ cái buổi trưa cô giao liên CK (giao liên công khai) của huyện đội Hồng Ngự bơi chiếc xuồng tam bản chở tôi và Hóa tạt vào lõm rừng tràm, chưa thấy người đã nghe tiếng quát.
- Coi chừng máng trái tiêu mạng đó ghen!
Cô giao liên đáp lời mà như nói với rừng:
- Ra rước khách.
- Đợi đó. Đợi đó.
Ba chúng tôi đứng chôn chân một chỗ. Dưới mỗi lá cây ngọn cỏ đều có thể là một trái mìn. Xê dịch dù chỉ một bàn chân đều có thể gặp cái chết bất tử. Không đồn bốt, không thành cao hào sâu, các khu căn cứ du kích vẫn trở nên “bất khả xâm phạm” là nhờ những vành đai bí mật chôn dày đặc các loại trái chết người như thế. Đêm đang ngủ, nghe trái nổ đánh ầm, choàng dậy chĩa súng chuẩn bị chiến đấu. Nhưng đâu phải giặc tới. Chuột máng trái đấy. Chuột máng trái. Rùa máng trái. Người lúi húi cài trái, ngoảnh lại sau lưng liền chết vì trái mìn do chính tay mình vừa cài.
Đứng đợi hoài làm cô giao liên nổi quạu, hét lên:
- Bộ chết hết rồi sao mấy cha. Đồ mắc dịch.
Một cậu du kích mặt đỏ tưng bừng nhô ra khỏi lùm cây cười nhăn nhở, tay chỉ chỉ mắt nheo nheo hướng về phía đồn Cả Trấp có ý bảo khẽ miệng chớ kẻo bọn địch trên kia nghe thấy. Té ra là mấy cha đang nhậu. Bẩy Thượng không thèm đứng lên chào khách, tay đậy sập cái nắp thùng đạn đại liên Mỹ đựng rượu, ngoái cổ nhìn ba người chúng tôi:
- Công chuyện gì bàn sau. Nhậu đã, anh Hai!
Chuyện đánh giặc cứ như đùa như bỡn. Thế đó, mà đã cha truyền con nối cầm cây súng theo cách mạng.
Thế đó mà nửa triệu lính Mỹ và một triệu lính Việt Nam Cộng hòa phải xất bất sang bang.
Cửa hầm lại xịch mở, tiếng súng tiểu liên tràn xuống thành cơn bão. Lần này thì rõ là Bẩy Thượng. Đầu Bẩy Thượng đã quấn một vành băng trắng như người chít khăn tang, máu đang ứa ra trước trán, Bẩy Thượng nói to như quát:
- Lên đi. Lẹ lẹ lên!
Tôi ngạc nhiên hỏi:
- Sao rồi, anh Bẩy?
- Lẹ lẹ lên! Đụ má cái thằng Lịnh. Nó nhảy ra chiêu hồi mất rồi. Hầm này không xài được nữa. Lẹ lẹ lên cha nội!
- Nhưng đi đâu bây giờ?
- Lẹ lẹ lên! Con Hóa chạy xuống bà Năm ghe tiệm. Còn anh, theo tôi. Lẹ lẹ chút coi. Bộ mấy người muốn chết hả!
Bẩy Thượng cắm đầu chạy, mỗi lúc có viên đạn bay qua, lại khựng lại chửi thề. Nhưng tới chỗ có cây xoài lão đổ nghiêng xuống bờ sông anh bỗng nằm vật xuống thở dốc, bàn tay ấn vào đám băng thấm máu trên trán. Mấy giọt máu từ đám băng ướt phùi ra. Gương mặt rám nắng của Bẩy Thượng tái nhợt.
- Có sao không, anh Bẩy?
Tôi ái ngại hỏi. Bẩy Thượng không trả lời, lại chửi thề, nói lùng bùng:
- Trốn đâu giờ cha? Mấy đứa bên hầm thằng Lịnh chạy sang hầm tôi đầy nhóc rồi.
- Hay là... - Một tia sáng chợt lóe lên trong óc tôi - Nè Bẩy Thượng. Chỉ cho tôi cái hầm thằng Lịnh đi!
- Sao? - Bẩy Thượng như giật mình tròn mắt nhìn tôi - Bộ định nhào vô đó nộp mạng ha?
Không. Tôi suy tính. Cái thằng chiêu hồi kia thừa biết sau khi nó chạy sang đầu hàng giặc sẽ không còn ai dám ở lại căn hầm cũ của nó. Nơi lộ liễu nhất mới là nơi kín đáo nhất. Tôi quyết định chơi canh bạc cuối cùng với số phận, bảo Bẩy Thượng:
- Cứ chỉ cho tôi hầm thằng Lịnh! Chỉ ngay đi, lấn bấn lúc này là chết đấy.
Ngờ đâu ông trời ban cho mình một phút thông minh đột xuất, nhưng hóa ra tôi đã nhầm. Lúc Bẩy Thượng kéo tấm nắp hầm bí mật của thằng Lịnh ra cho tôi lách mình chui xuống, tôi liền ngửi thấy mùi khói dầu hỏa lẫn trong mùi ẩm mốc và mùi người ngột ngạt. Ngạc nhiên hơn nữa là ngách hầm trong cùng đang phát ra quầng sáng yếu ớt của một ngọn đèn cầy, mấy cậu ở đây trước tôi chưa kịp tắt. Chiến tranh còn là thế này nữa đây. Khác với tôi, người lính của một sư đoàn chủ lực, từng được huấn luyện công kiên chiến, trận địa chiến, vận động chiến, tao ngộ chiến... trên thao trường, những người du kích lúc làm dân lúc làm lính đã quá quen thuộc với những căn hầm bí mật như thế này. Họ coi cái khoảng không tù túng trong hầm bí mật là một không gian của cuộc sống. Còn tôi thì coi nó như cái quả lắc lắc qua lắc lại hai bên một sợi tơ mỏng manh phân cách giữa sống và chết. Tôi chợt nhớ Hóa. Hóa từng là cõi sống cho tôi chỉ cách đây ít phút đồng hồ. Hóa đang xoay xở ra sao dưới chiếc ghe lường bán tiệm của bà Năm.
Ôi Hóa! Hãy về đây với anh. Thay vì gọi em bằng cháu, anh sẽ gọi em bằng em. Anh chán ngấy cái gã đạo mạo vờ vĩnh trong anh rồi. Anh sẽ ôm em vào lòng, sẽ vuốt ve lên tấm thân ngọc ngà của em, sẽ vục đầu vào làn tóc em, sẽ vùi anh vào bộ ngực trinh trắng căng đầy của em, mặc thây lũ xe bọc thép M113 và những viên đạn đồng lớn như những trái nhót đang ào ạt bay tới nhằm xé nát tấm thân này. Anh thèm một giây được ngủ lịm trong đôi cánh tay của em, rồi sau đó là chết, là gọi nhau bằng vợ bằng chồng, là một gã đàn ông nào đó lại lọt vào vòng tay em như cái mà cô vợ Chi Mai của anh đang làm... Được tất. Chấp nhận tất... Tôi giật bắn người khi chợt phát hiện những tia sáng lấp lánh phát ra từ lớp bùn lép nhép nhàu nhò dấu chân người trong ngách hầm. Cái gì thế nhỉ. Cha cha, một sợi dây chuyền vàng! Sợi dây chuyền này hình như tôi đã thấy thằng Lịnh vẫn đeo sau lớp cổ áo bà ba đen của nó? Chắc là nó đã để sút ra đây trước khi chui lên khỏi hầm đi hàng giặc? Thế thì nguy rồi. Nguy lắm rồi. Nghe tiếng xích M113 rít ken két trên kia tôi như nhìn rõ cái bộ mặt dài lúc nào cũng men mét của thằng Lịnh đang quay lại tìm vàng. Bộ mặt thằng Lịnh nhòa nhòa, thoắt biến thành cái miệng con dã thú đỏ lòm sắp nuốt chửng tôi. Ngay từ lúc Bẩy Thượng dẫn tôi và Hóa chạy xuống căn hầm này tôi đã nhìn thấy miệng con dã thú trong bóng tối. Một điềm gở báo trước. Du kích Thới Hòa Trung đã đào căn hầm bí mật này trúng vào tử huyệt. Trên mặt tôi xối xả mồ hôi lạnh. Mấy lần tôi mở dây buộc cái túi bạt để lấy quả lựu đạn da láng ra không xong, ơ hay thằng hèn! Tôi tự quát mắng xỉ vả tôi. Từ ngày vào mặt trận tôi đã ném hết một vòng lựu đạn móc ở chiếc dây lưng thắt quanh hông, nhưng bao giờ cũng để lại một quả dành cho mình. Cái quả được bỏ trong túi bạt, buộc dây cẩn thận ấy đây. Nghĩ đến cái chết từ lâu, nghĩ rất kỹ lưỡng, chuẩn bị cho nó chu đáo như chuẩn bị cho một công việc trước sau gì rồi cũng phải làm mà đã làm thì nhất định không được làm một cách lỡ dở. Thế mà tới lúc này bỗng sợ?
Đồ hèn! Đồ hèn!
Tiếng xích sắt ngừng lại ngay sát trên đầu tôi. Một tiếng huỵch của cây xà beng làm tấm cửa hầm vỡ toác, đất lả tả lăn xuống tận chỗ tôi ngồi. “Nó” đã đến! Thằng Lịnh léo nhéo.
- Anh Tư Tiềm, anh Ba Ngôn, lên hàng Quốc gia không thôi chết uổng đó!
Im lặng rợn người, tôi nghe đất thở phào phào bên tai. Thằng Lịnh lại léo nhéo:
- Lẹ lên mấy anh. Mấy ông lính sắp chọi xuống đây nè! - Hình như thằng khốn kia nó đang khóc - Trời đất ơi mấy anh. Lên đi mà!... - giọng nó tắc nghẹn - Mấy anh ơi, không chống lại nổi đâu. Thằng Lịnh này chắp tay xin mấy anh...
Cái chốt quả lựu đạn trên tay tôi rút ra nửa chừng. Rút hết ra. Buông cái mỏ vịt cho nó bật đánh phụt. Tung qua cửa hầm. Rồi ôm cây AR15 này vọt lên, là trong chớp mắt có ngay một cái chết anh hùng! Nhưng - tiếng ai nói với tôi mà văng vẳng thế nhỉ - Chết anh hùng, hay sống anh hùng? Sao tới phút này mình mới đặt ra câu hỏi ấy? Anh hùng! Anh hùng!... cái chốt lựu đạn rút ra giữa chừng lại được cài trở lại. Tôi buông cho quả lựu đạn rơi xuống chân, rồi lên tiếng:
- Tư Tiềm với Ba Ngôn không có ở đây.
Tiếng thằng Lịnh:
- Ai đó?
- Tôi.
- A a. Anh Hai Giải Phóng phải không?
- Phải.
- Vậy lên đi anh Hai. Tôi lấy mạng tôi bảo lãnh cho anh Hai mà...
Thằng Lịnh còn lải nhải tôi đã ném sợi dây chuyền vàng lại phía nó.
- Của anh đấy. Cầm lấy! - Và tôi quay sang đám lính sư đoàn 14 đang chĩa súng chụm vào tôi - Các anh muốn gì thì làm đi.
Mấy tên lính rằn ri mặt non choẹt xông vào đấm đá, có đứa trở báng súng phang. Mấy người lính cứng tuổi đứng ngoài nhìn. Tôi không chống cự, vì biết chống cự vô ích, chỉ chống cự bằng những ý nghĩ trong đầu. Anh hùng, là thế này đây. Thương thay cho lũ sói người. Nếu họ rơi vào tay Quân Giải Phóng thì họ đã van lạy rối rít. Nào, bắn đi. Ta là quân Bắc Việt đây. Là Việt cộng đây. Hành hạ cho lắm, ta cũng chỉ đi đến cái chết là cùng. Nào... Hai quả đấm liên tiếp làm đôi mắt tôi tối sập. Tôi hét lên:
- Các anh hãy chừa một lối, đặng mai mốt còn được nhân dân tha tội cho!
Sau tiếng thét, tôi sẵn sàng nghe - đúng hơn là rất mong được nghe súng nổ. Nhưng không. Một người nào đã tới túm chặt vai tôi giật mạnh, rồi đẩy tôi ngã sấp mặt vào thùng xe M113. Chiếc M113 rùng rùng lao về hướng nào tôi không rõ. Đầu óc tôi lơ mơ, lịm đi. Trong lúc ngất lịm, tôi lại lơ mơ cảm thấy như có ai lật ngửa mình lên, đẩy cho đầu mình nghiêng sang bên này lại nghiêng sang bên kia. Tới lúc đèn máy ánh nhoáng lên tôi mới choàng mở mắt. Tên sĩ quan ngụy đeo ba bông mai bạc trên cổ áo tay cầm máy ảnh, đang nhìn như xói vào mặt tôi. Hắn bấm thêm kiểu ảnh nữa, rồi đẩy tấm cửa sắt sau thùng xe rít lên một tiếng kéo dài, ra lệnh cho tên lái xe đỗ lại.
Không ngờ tên đại uý này phát âm đặc sệt giọng Bắc Kỳ.
- Ngồi dậy được không?
Tôi chưa kịp trả lời, hắn đã nói tiếp.
- Nằm cũng được. Tôi cần lấy cung của anh. Anh hãy thành thật khai cho đúng nhé. Anh ở đơn vị nào?
- Quân giải phóng.
- Biết rồi “Công trường” Bẩy (1) phải không?
Im lặng.
Lại vẫn lời tên đại úy:
- Chuẩn bị đánh chi khu Vĩnh Trấp. Các anh đang rất cần nhổ cái chi khu này để đưa lực lượng lớn ép xuống lộ Bốn chứ gì?
Im lặng.
Và cứ thế, tên đại úy vẫn miệng hỏi tay ghi lia lịa vào cuốn sổ nhỏ, mà chẳng hiểu hắn ghi những gì. Lúc xe dừng lại, nắng chiều còn đỏ hoe bên trên khung cửa tháp súng hình tròn khiến tôi có cảm giác tôi và tên đại úy đang ngồi đối đáp nhau trong lòng một cái giếng hẹp. Giờ thì nắng đã tắt, trong thùng xe đang chuyển nhanh sang thứ ánh sáng mờ mờ sâm sẫm, tên lái xe phải bật đèn cho tên đại úy ghi.
Tên đại úy giơ cổ tay xem đồng hồ, gập sổ, hỏi:
- Anh ra hàng chính phủ Quốc gia chứ?
Tôi im lặng. Giọng gã chùng lại như dụ dỗ năn nỉ:
- Chịu hàng đi anh ạ. Hàng, anh sẽ được quân lực Việt Nam cộng hòa cho giữ nguyên cấp sĩ quan, như ở bên Giải Phóng đấy.
Tôi vẫn làm thinh.
- Anh suy nghĩ kĩ đi. Tới lúc về bộ tư lệnh của chúng tôi mọi việc sẽ khó khăn lắm, chứ không như ở chỗ này chỉ có tôi và anh. Với lại... Anh nghĩ lại xem. Nam hay Bắc cũng là người mình sao lại tiến hành xâm lược nhau nhỉ?...
Tới đây tôi không thể không dằn giọng nói với tên đại úy, bảo hắn đừng tốn công vô ích, bọn Mỹ mới là kẻ xâm lược, lũ hắn là tay sai cho giặc, và chỉ với những bộ óc ngu xuẩn mới cho là chúng tôi vào xâm lược miền Nam. Thế là tên đại úy đùng đùng nổi giận. Hắn đấm xuống sàn xe đánh rầm, hét:
- Câm mồm! Nói láo nữa là tao bắn bỏ!
- Bắn đi! Có gì lạ mà anh còn phải dọa?
- Thách hả. Thì thách này! Thách này!
Hắn đạp thốc tôi xuống khỏi thùng xe, hầm hầm lôi tôi ra cánh đồng bắt đầu mịt mùng bóng tối. Hắn đẩy sấp tôi vào dưới chân búi cỏ, một bàn chân đạp lên lưng tôi, “xoạch” một tiếng lên đạn và trước mắt tôi vàng lòe, tai tôi không nghe thấy gì nữa, chỉ có cảm giác kẻ nào đang đấm liên hồi vào đầu mình. Tôi muốn hét “vĩnh biệt” nhưng thực tế là hai hàm răng tôi đã cắn chặt vào nhau...
Tên đại úy xả trọn một băng đạn tiểu liên. Xong, lại có tiếng lên đạn, hắn còn nã ba bốn viên đạn súng côn nữa mới chịu quay ngoắt bước về xe.
Cái đế giày của tên đại úy vừa cất khỏi lưng tôi là người tôi như bị lòng đất hất vút lên bay lơ lửng giữa trời. Ngọn gió chướng hay một trận bão làm người tôi quay tít chung quanh cái quầng sáng rờ rợ lạnh buốt của ngôi sao hôm mới mọc. Có tiếng ong ong vu vu từ đâu vọng tói. Một đàn ong vô hình cứ quấn quanh người tôi. Tôi bay tới đâu đàn ong quấn theo tới đó hay đàn ong đang hùa nhau đẩy tôi lên cao mãi tôi muốn dừng lại mà không được. Tôi bỗng thèm được nhìn lại trái đất một lần cuối cùng.
Nhưng trời ơi!... Sao lạ lùng thế này? Tại sao tôi còn thấy được chiếc M113 chở tên đại úy vừa bật đèn chạy xuôi bờ sông Tiền về phía thị trấn Hồng Ngự? Có lẽ nào tôi vẫn sống? Hay đây là linh hồn tôi còn lưu lại chốc lát trên cõi dương gian? Thú vị quá - Té ra cái chết có gì đáng sợ đâu. Chỉ thế này thôi mà. Một cái ngã ba bước qua lúc nào không hay. Một cái trại tiền tiêu lột bỏ hộ mình khối thân xác nặng nề thô kệch, rũ bỏ hộ mình tất cả những nhu cầu ăn uống, tình ái ghen tuông, giải hóa cho mình những chặng đường trầy vây tróc vẩy ngoi lên ngụp xuống, kỳ vọng và chán chường, rồi đẩy vút mình vào một cõi thanh thản vô biên... Tôi đập bàn tay xuống mặt đồng nghe đánh bộp, nửa bàn tay lọt nghiêng vào kẽ đất nẻ thấy đau. Tiện thể tôi quơ luôn một ngọn cỏ gì thơm thơm ngai ngái bỏ vào miệng nhấm thử, nghe đất cát lạt sạt giữa hai hàm răng. Trong không khí vẫn khét lẹt mùi khói đạn. Gió chướng lồng lộn quét qua lành lạnh trên lưng áo lạ lùng! Thế này là thế nào? Hay là tối trời tên đại úy không nhìn rõ mục tiêu xối đạn? Hay là tôi chỉ bị thương. Bị thương vào đâu? Tôi sờ nắn khắp người, sờ đi sờ lại vẫn không thấy chỗ nào có máu. Lúc sờ lên túi áo ngực thấy có gì cồm cộm, trơn trơn, giống như một xấp mỏng giấy bạc. Nhưng tôi nhớ mình không có tiền bỏ trong túi. Có tờ giấy giới thiệu của bộ tư lệnh sư đoàn gửi huyện đội Hồng Ngự, trước khi lên khỏi hầm bí mật tôi đã nhai nát và nuốt mất rồi cơ mà.
Tôi lật người nằm ngửa, nhìn vòm trời đêm Đồng Tháp Mười mùa khô chi chít sao, và rùng mình thấm cái lạnh đất phèn đang xông lên qua lần áo mỏng. Rất lâu như thế đầu óc tôi mới kịp hồi tỉnh trở lại. Tôi thì thầm thành tiếng:
“Hỡi con người kia. Anh là ai?”.


---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
(1) Công trường Bẩy: Mật danh Quân giải phóng miền Nam.
Đăng nhập để trả lời
★ ★ ★ ★ ★ 0
LẠY TRỜI

 
Nửa năm rồi đấy. Hồi đó còn những trận mưa sáng lòe ánh chớp, mà bây giờ đêm thiếu chăn khó ngủ yên...
Sau bữa cơm chiều hơi đặc biệt - tức là có chút thịt bò xào củ niễng, và “bố” Lẫm có chén rượu nhắm với lạc rang - người vợ mặt ngời ngời vui nói với chồng:
- Bố nó lại đây, em cho xem cái này!
- Gì thế em?
Thảo, vợ Lẫm, rút dưới gối ra một quyển sổ bìa đỏ, úp úp mở mở:
- Đố bố nó biết sổ gì?
Mãi rồi niềm vui giữ kín cũng được công khai. Mấy ngón tay run run Thảo lần lượt giở từng trang trong cuốn sổ gửi tiền tiết kiệm, toàn là những cột số cộng thêm vào, chỗ năm ngàn, chỗ mười ngàn và số  dư tổng cộng ghi ở cuối sổ vừa tròn con số ba trăm ngàn. Gần bằng bốn tháng lương của “bố” Lẫm.
- Em kiếm đâu ra thế?
Thảo nguýt chồng:
- Tất cả là công lao khó nhọc của anh. Chứ em với con thì làm gì ra!
Lẫm ngậm ngùi: Thảo là thợ xây. Từ ngày sinh cu Tí, xí nghiệp xây cất thiếu việc làm, Thảo phải nghỉ không lương ở nhà. Thấm thoắt cu Tí đã được ba tuổi có lẻ. Nhiều lần Thảo muốn gửi con vào nhà trẻ để đi tìm việc, nhưng gửi thì mất sáu chục nghìn đồng mỗi tháng, giỏi lắm Thảo cũng chỉ kiếm được ngần ấy, mà con lại phải xa bố, xa mẹ. Chi bằng ở nhà trông con, giúp chồng, cả nhà đành thu vén, sống bằng đồng lương của Lẫm, mỗi tháng được hơn tám chục ngàn vậy.
Lẫm hạ thấp giọng, thì thầm với vợ:
- Đừng hà tiện quá, ốm đau thì khổ.
- Các thứ vận hạn rủi ro, ví như con mọt, vợ chồng mình thì khác gì hòn sắt. Mọt nào gặm nổi sắt mà anh phải lo?
Ấy là người xưa ví von. Chứ trong chuyện này và nhất là thời buổi này, con mọt chẳng hề kiêng nể bất cứ thứ gì.
Vài tháng sau, một buổi chiều chớm sang thu, hết giờ làm việc cơ quan, Lẫm được bạn bè rủ đi uống bia, ăn phở, sẩm tối mới về, mặt đỏ tưng bừng. Thấy cu Tí đang rúc nách mẹ thở khụt khịt, Lẫm hỏi:
- Mẹ con em ăn uống gì chưa?
Vợ Lẫm bảo ăn rồi, định ngồi dậy dọn cơm cho chồng ăn, nhưng anh ngăn lại:
- Anh vừa được cơm no rượu say. Em với con có đói thì ăn thêm, không để mai ta ăn sáng.
Sáng hôm sau, Lẫm mới biết nồi cơm chiều hôm qua hầu như còn nguyên. Và Thảo thì dậy muộn hơn mọi ngày.
Thoạt tiên Thảo thấy váng vất chóng mặt. Khổ nỗi cu Tí thơ dại quá, vẫn vòi vĩnh nghịch ngợm, không cho mẹ nằm yên. Tới chừng hễ đứng dậy là người liêu xiêu chực ngã, Thảo mới buộc lòng phải nói thật với chồng. Lẫm cuống quít đưa vợ ra trạm khám bệnh tư nhân ở đầu phố. Bà bác sĩ kết luận Thảo bị rối loạn thần kinh, và suy nhược cơ thể.
- Anh phải tạo điều kiện cho chị nghỉ ngơi tẩm bổ khá vào - bác sĩ nói - Bệnh này điều trị lâu lâu mới khỏi đấy.
Lẫm hỏi bà lâu lâu là mấy ngày. Bà trả lời, ít ra cũng mất vài ba tuần lễ. Có người phải nằm mất cả tháng.
Lẫm nghe mà phát hoảng, chữa chạy cho Thảo dĩ nhiên là phải theo tới cùng. Nhưng cu Tí từ mai biết gửi ai? Lẫm nghĩ đến cô giáo Sâm bên hàng xóm. Từ ngày thôi dạy học, cô giáo Sâm vẫn kiếm thêm bằng cách nhận trông vài ba đứa trẻ con cháu của những người quen. Thấy cảnh gieo neo của vợ chồng Lẫm, mấy lần Sâm bảo cứ đưa cu Tí sang cô trông hộ, không lấy tiền. Gửi một vài buổi thì được, nhưng gửi ngày này sang ngày khác mà không trả tiền sao tiện. Hay là, ta thử đến một thầy lang xem sao? Nghĩ vậy, Lẫm đưa Thảo tới cái ngõ phố có treo tấm biển “Lương y Minh Sinh”.
Thầy lang Minh Sinh đã ngoài 60, râu tóc trắng như cước nhưng da dẻ hồng hào, mắt sáng, bộ răng trắng đều tăm tắp. Với bộ quần áo ngủ xanh nhạt và đôi guốc mộc lẹp kẹp dưới chân, thầy gợi lên hình ảnh ung dung thư thái của một ẩn sĩ giàu lòng cứu nhân độ thế. Thầy bắt mạch ở cả hai cổ tay Thảo khá lâu rồi hỏi:
- Chị có điều phải lo phiền, đúng không?
- Thưa đúng - Lẫm nhanh nhẩu đỡ lời vợ.
Lương y Minh Sinh gật gù:
- Cái “tâm” không được ổn, nó ảnh hưởng sang cái “can”, thỉnh thoảng tự dưng chị thấy bồi hồi trong người, cứ như có ai hẹn việc gì. Phải không nào.
Tới đây, Lẫm và Thảo đều phục thầy sát đất. Lát sau, nghe thầy Minh Sinh nói rằng không mấy ai phải uống thuốc của thầy quá 3 thang, mặt mày hai vợ chồng hớn hở. Nhất là khi thầy Minh Sinh biết Lẫm từng chiến đấu ở chiến trường miền Nam, thầy bớt cho mỗi gói thuốc 500 đồng (nếu không mỗi gói chẵn sáu nghìn đồng) thì Lẫm hoàn toàn tin là vợ anh đã gặp đúng thầy đúng thuốc. Cái lý sự cùn “mọt không gậm nổi cục sắt” Thảo nói hôm nào, khéo mà cũng nên.
Ba chén thuốc của lương y Minh Sinh, Thảo uống trong ba ngày. Công hiệu nhất là uống xong Thảo liền buồn ngủ ríp mắt, nhưng mỗi tội khi tỉnh dậy chị càng không muốn nhấc đầu lên khỏi gối. Lẫm lại chạy sang thầy Minh Sinh. Thầy vỗ vai Lẫm, cười điềm nhiên “Bệnh chuyển khá đấy. Tôi bốc thêm cho chị ấy một đợt nữa, để “chốt cứng” nó lại. Và lần này lương y cho Lẫm hưởng chế độ ưu đãi đặc biệt dành cho những người có công đánh giặc cứu nước, tức là mỗi gói thầy bớt cho sáu trăm bạc.
Uống hết chén thuốc thứ năm, Thảo đắn đo mãi mới dám nói với chồng:
- Em chả thấy đỡ chút nào. Hôm nay chị Thái bạn thợ xây cùng tổ với em đến thăm. Năm ngoái chị Thái cũng bị đúng như em, cũng chạy hết thuốc này tới thuốc khác, sau uống thuốc của ông lang Hòa dưới Hà Đông mới khỏi. Mai, anh xin phép cơ quan, chịu khó đạp xe xuống Hà Đông cho em nhé.
Lại thêm hai đợt thuốc của thầy lang Hòa nữa, rồi Lẫm đành phải quay lạỉ với cái đơn thuốc tây mà bà bác sĩ cho từ hôm đầu.
“Chạy” sang tây y, vừa thuốc uống vừa thuốc tiêm, ròng rã mấy tuần lề Thảo đã ngồi dậy tựa được lưng vào tường, và khi cần lắm, chị đã có thể vịn thành giường đi lại. Lẫm phấn khởi ra mặt. Anh định mua tiếp một đợt thuốc tây nữa nhưng Thảo không chịu:
- Còn tiền đâu nữa mà mua, anh?
Như điểm trúng huyệt, Lẫm bàng hoàng mất một lúc rồi anh cương quyết:
- Sao lại không! Hồi này cơ quan anh có thu nhập phụ “tương đối” lắm em cứ yên tâm.
Biết tỏng là chồng nói dối Thảo vẫn gắng mỉm cười:
- May nhỉ. Thế thì anh chớ kham khổ quá. Anh với con mà ốm nữa thì gay go...
- Ồ... - giọng Lẫm rất vui - thời buổi này ít ai tốt hơn cô giáo Sâm, em ạ. Mỗi ngày anh gửỉ cô giáo 1.500 đồng, trưa nào cu Tí nhà mình cũng được cô cho ăn xôi. Chiều, nhiều hôm anh đến đón con, cô Sâm còn chạy theo cho con quả chuối, tấm mía. Khéo mà cô “lỗ vốn”!
Thảo lén chùi ngấn nước mắt, dặn chồng:
- Nay mai em khỏe, đỡ túng thiếu mình phải nhớ lấy cái ơn của chị ấy. Còn từ nay, anh đừng mua thuốc cho em nữa! Để tiền mua thuốc mà mua thêm tí thức ăn về cả nhà cùng ăn, ăn uống tử tế, người khỏe lên, bệnh gì cũng phải khỏi.
Lẫm đành gật đầu đồng ý với vợ. Từ hôm ấy, bừa thì vài quả trứng, bữa con cá, lạng thịt, vui chồng vui con nên Thảo ăn ngon miệng, dần dà đã “có da có thịt” trẻ lại. Có điều, “ngân sách” gia đình hú còi báo động từng ngày, nhưng không bao giờ anh để lộ cho vợ biết nỗi lo lúc nào cũng như đám cháy trong ngực mình.
Biết hoàn cảnh của Lẫm, công đoàn cơ quan anh đã trợ cấp cho anh lần thứ hai. Nhưng, ai cũng biết những khoản trợ cấp như thế chỉ nặng ý nghĩa tinh thần. Cô nhân viên tài vụ rất hiểu chuyện đó nên sáng nay cô bảo Lẫm ra chỗ vắng và nói nhỏ: Mai tiền về em sẽ đề nghị thủ trưởng cho anh ký vay trước hẳn một tháng lương.
Cũng vì cái tin mừng này, buổi tối khi hai bố con thủ thỉ nói chuyện, Lẫm đã mạnh dạn hứa với cu Tí ngày mai anh sẽ thưởng cho nó một cái máy bay nhựa và một gói kẹo.
Tội nghiệp cu Tí. Hôm sau, suốt ngày nó thom thóm đợi bố mang máy bay và kẹo về. Lẫm cũng không hề quên lời hứa. Cuối buổi chiều Lẫm xách cái túi vải giả da ra khỏi cơ quan. Anh tạt vào chợ, định mua chút thức ăn gì ngon ngon, sau đó tới quầy đồ chơi trẻ con. Nhưng, không, khi cô gái bán thức ăn chín cắt một lạng chả gói giấy cẩn thận trao cho Lẫm, anh thọc tay vào túi xách lấy tiền trả, thì ôi thôi, cái túi đã bị rạch một vệt dài!
Lẫm ra khỏi chợ nhợt nhạt như người vừa bị trúng gió độc anh phải thu hết can đảm để bước qua mấy bậc cầu thang dẫn lên nhà cô giáo Sâm.
- A bố về! - Vừa thấy Lẫm cu Tí vừa reo vừa nhảy lên ôm chặt lấy cổ bố.
- Bố ơi, máy bay của con đâu?
- Đây rồi, con ạ. Lẫm vỗ vào cái túi xách bị rạch thủng nói dối con.
Lẫm bế con xuống khỏi cầu thang, nghe trong người ướt át những dòng mồ hôi đang chảy ngầm sau lưng áo. Anh chuẩn bị tinh thần để dấn thân vào ít nhất là một lần nói dối nữa, ấy là lúc anh đặt cu Tí xuống bên cạnh Thảo, giả vờ khoắng bàn tay vào cái túi xách, bật kêu lên:
- Gói thức ăn với cái máy bay của cu Tí đâu nhỉ? Chết thật, anh bỏ quên ở cơ quan mất rồi. Chà... đầu với chả óc? Mẹ con chịu khó chờ anh một lát nhé...
Nói dứt lời Lẫm lại lật đật dắt xe ra đi.
Lẫm đạp thẳng tới nhà người chị họ buôn bán đồ điện tử ở Bờ Hồ. Nhưng, vừa thấy ánh đèn nê-ông sáng tưng bừng trước cửa xếp và bộ sa lông bọc gấm đặt liền sau cái tủ bày tivi, cát-sét tự dưng Lẫm sững lại. Biết nói gì với chị bây giờ? Còn chồng chị ấy, đứa con gái thơm lừng son phấn, và hai đứa con trai diện ngất trời nữa chứ? Toàn là những bộ mặt xa lạ, khinh khỉnh... Chậc. Lẫm cúi mặt, lặng lẽ đạp xe qua cái quầng ánh sáng từ trong cửa hàng hắt ra. Anh đến nhà mấy người quen khác. Nhưng đến nhà nào anh cũng thối chí, anh không đủ can đảm để lết qua cái bãi chông gai ngán ngẩm dày đặc những lời chất vấn “vì sao”, “thế nào”, cùng những lời thương hại “thế ư”, “rõ khổ”, “tội nghiệp”... mới tới được cái đích hỏi vay tiền - mà ai cũng thừa biết anh vay thì tới đời nào mới có trả.
Trời ơi! Lẫm thầm thốt lên khi cái cảm giác cay cay lại tràn lên sống mũi anh. Mình cần một nơi nào khác kia. Nhưng, cái nơi ấy biết tìm đâu bây giờ?
Lẫm đạp xe loanh quanh không biết là đã đi qua những phố  nào. Đầu óc Lẫm tê dại, người anh nhẹ bẫng như là làm bằng thứ bọt xốp. Trời tối khá lâu, Lẫm dừng xe lại mới hay là mình đang lơ ngơ đứng giữa cái ngã năm trước Cửa Nam. Đúng lúc ấy, như có một tia chớp quét qua bộ óc mụ mị làm anh choàng tỉnh nhớ tới một người bạn cùng tiểu đội, tên là Thanh. Hừ. Lạ thật. Thế quái nào mà mình lại không nghĩ đến nó ngay từ đầu cơ chứ!
Trong trận càn “Hòn đá vàng” của bọn Mỹ ở vùng sông Vàm Cỏ, Thanh bị thương, được ra Bắc trước Lẫm. Hôm chia tay, Thanh buồn thiu. Đi ngót 10 năm, giờ không có lấy một tí gì mang về làm quà cho mẹ, cho em ở nhà. Lẫm đã mở phanh cái bồng ra trước mặt bạn. Đây. Mày xem có thứ gì cần lấy, thì lấy đi. Thanh ngập ngừng mãi mới dám ngỏ lời: Cho tao mấy múi dù. Còn cái ga làm bằng ống pháo sáng, cái đèn “ô-tô-ma-tích”, cái mũ tai bèo chiến lợi phẩm lấy của bọn thám báo Mỹ. Lấy đi! Nhưng chỉ xin mày múi dù. Quả tình cả gia tài của Lẫm lúc đó chỉ còn có mấy múi vải dù là “đáng giá” mà thôi.
Rồi chiến tranh kết thúc. Mấy năm sau nữa Lẫm và Thanh mới tìm lại được nhau giữa thủ đô, mỗi đứa một công tác xa lạ, và vẫn nghèo xác, dù cái tình nghĩa chiến trường thì vẫn nguyên vẹn như xưa. Năm ngoái, Thanh cũng mới được cơ quan chia cho 9m2
nhà cấp bốn, tít trên dốc Bưởi...
Thế là Lẫm rẽ gió lạnh phóng đi. Vừa đạp xe, anh vừa lẩm bẩm như cầu xin số mệnh: “Lạy trời cho thằng Thanh đừng đi công tác vắng! Lạy trời!...”.
Đăng nhập để trả lời
★ ★ ★ ★ ★ 0
MỘT VẾT SẸO

 
Thời con gái của tôi chả giống ai.
Trong tất cả những tiêu chuẩn xưa nay xã hội vẫn dùng để đánh giá một cô gái, tôi biết mình yếu nhất là nhan sắc. Mặt mũi, tay chân tôi đều lành lặn, ngăm ngâm đen, tóc dài, mỗi tội là quá gầy. Vào tuổi dậy thì, bạn bè vẫn gọi tôi là cái Thảo không mông không ngực. Bấy giờ tôi chưa đủ khôn để hiểu cái từ ghê gớm ấy. Tôi vẫn tin một lúc nào đó, một ngày nào đó, một chàng trai nào đó sẽ tìm đến tôi. Tôi tin vào tấm lòng nồng nàn của tôi. Muốn được người yêu, trước hết hãy yêu người. Mà tình yêu người thì ở tôi không thiếu.
Đám trẻ chúng tôi đua nhau lớn như một đàn gà giò. Lác đác đã có cô này lấy chồng, cậu kia lấy vợ, số còn lại thì đi đánh giặc, đi học, đi làm, tản mát khắp nơi. Cậu bạn thân thiết của tôi cũng chuẩn bị nhập ngũ. Đêm trước ngày nó lên đường tôi chạy tong tả tìm khắp làng, để tặng nó chiếc khăn tay tôi đã cặm cụi thêu gần tháng trời. Còn nó thì bận rủ người yêu ra cánh đồng tâm sự tới khuya. Khi về, nó tạt qua nhà tôi đứng dưới thềm gọi vọng vào.
- Còn thức không, Thảo?
Tôi giận nó đến run người, giả vờ không nghe. Nhưng nó lại gọi, giọng ngờm ngợp buồn:
- Còn thức không, Thảo?
Thế là tôi òa khóc, chạy ra mở cửa, dúi cái khăn tay - lúc nãy tôi đã định xé vứt đi - vào túi nó. Tôi lờ mờ nghĩ rằng hình như cậu bạn cũng có yêu tôi, và tôi phải xưng hô cậu cậu tớ tớ với nó là cốt giữ bản chất cao thượng của tôi. Chẳng thà bỏ lỡ một tình yêu, một hạnh phúc của riêng mình còn hơn là đi tranh cướp tình yêu với người khác. Một tình yêu âm thầm mới là một tình yêu đẹp. Trong văn chương, chỉ những tình yêu như thế mới có sức sống muôn đời.
Ngoảnh đi ngoảnh lại bạn bè tôi đã đi vắng quang cả làng và tôi thì bước sang tuổi hai sáu. Lâu lâu tôi mới nhận được một lá thư kiểu trẻ con viết cho nhau, mày mày tao tao loạn xạ trên giấy. Nhiều đêm nằm mơ, tôi thấy có người viết cho tôi là “Em thân yêu!”, tỉnh dậy bỗng nước mắt trào xuống ướt mặt gối. Tôi thèm khát, tôi ngóng đợi mòn mỏi mấy tiếng huyền diệu ấy. Vô ích. Phải chăng hạnh phúc đang dành sẵn cho mình ở một nơi nào? Ở một nhà máy? Một đơn vị bộ đội? Hay ở một bệnh viện, một mặt trận nào?
Mùa hè năm hai mươi bảy tuổi, tôi trở thành cô gái thanh niên xung phong. Chúng tôi làm đường, phá bom nổ chậm, rà phá thủy lôi, giữ vững giao thông cho cửa ngõ phía bắc Trường Sơn. Đại đội chúng tôi một nửa là trai, một nửa là gái. Các bạn trai thường sang lán con gái nhờ vá quần áo, rủ nhau đi bẻ măng, hái nấm, hoặc ngồi tán ngẫu. Bọn con gái chúng tôi cũng thế, sang lán con trai chơi tự nhiên. Kết quả của những lần thăm hỏi ấy là những cuộc hẹn hò bí mật. Mấy đứa bạn gái cùng tiểu đội có ý không vui khi tôi theo họ sang chơi bên lán con trai. Tôi hiểu thế, từ đó ai đi ngược đi xuôi mặc ai xong công việc tôi rửa tay chân dưới suối rồi về hầm mắc võng nằm nghe suối reo vượn hót, và ngủ khi nếu như không bị tiếng bom, hoặc những loạt súng báo động tắc đường lay dậy.
Một hôm tôi sốt rét nằm ở nhà, giữa buổi thấy cái Minh từ ngoài mặt đường chạy về. Ngỡ nó về thăm tôi, tôi kéo khăn lên kín đầu giả vờ ngủ, định làm nó giật mình chơi cho vui. Nhưng không phải, nó rón rén xuống hầm mở ba lô lấy mảnh gương nhỏ ra soi, chải tóc, ngắm nghía và tủm tỉm cười một mình rồi lại chui qua lưng võng tôi để bước lên khỏi hầm. Minh đang yêu anh Cấp trung đội trưởng, chắc cô cậu lại rủ nhau vào rừng! Nghĩ thế tôi tức lộn ruột. Tôi tụt xuống võng, mở ba lô cái Minh, lấy cái gương vứt vào gốc cây cho vỡ tan. Cái ngữ con gái mà lúc nào cũng hớn ha hớn hở, sao ghét thế?
Làm xong cái hành động trừng phạt ấy tôi lại lên võng nằm, thản nhiên đón nhận cơn sốt đến làm tôi run muốn đứt dây võng. Trong giấc ngủ li bì và hầm hập nóng, tôi nghe tiếng rốc két từ máy bay Mỹ phóng xé gió trên đầu. Chiều, tôi tỉnh dậy giữa tiếng khóc rưng rức của tám chị em trong tiểu đội.
Cái Minh “không về” nữa! Tôi tưởng tôi chết ngay lúc đó vì ân hận. Nỗi ân hận nhớ đời! Tôi dứt tóc mai, thề với vong linh cái Minh rằng tôi sẽ không bao giờ mắc lại cái tội ích kỷ độc ác như vậy.
Sau cơn sốt, tôi rắp tâm thực hiện lời thề ngấm ngầm của mình. Một thời gian sau chị em trong tiểu đội, trung đội, đại đội, cả những cậu con trai choai choai thay nhau gọi tôi là “chị cả”. Tôi đâu phải con người giỏi đóng kịch. Tôi thương chị em, tôi chăm chút cho họ, nhường nhịn và gắng hết sức đỡ đần cho họ, là rất thật lòng. Lẽ ra từ khi biết làm người tôi đã phải sống như thế mới đúng. Vậy mà, chẳng hiểu sao, cứ chốc chốc lại có ngọn lửa quái quỷ chực bùng lên trong đầu tôi. Bây giờ được hưởng cái vinh quang “chị cả” có nghĩa là tôi từ bỏ hẳn niềm hy vọng được ghép đôi ghép lứa, được cười cợt, được nũng nịu mà bất cứ ai, đã làm thân con gái đều cần đến nó như hoa cần nước tưới.
Rồi chiến tranh qua đi. Tôi về thăm làng, thăm bố mẹ và thăm mấy đứa em tôi giờ đã tay bồng tay dắt. Những ai ngỏ ý muốn biết cuộc sống riêng của tôi, tôi đều ngầm oán họ là độc ác. Bởi thế, tôi đành phải đi xa. Tôi chuyển ngành về một xí nghiệp sửa chữa tàu sông.
Tôi muốn được làm thợ, được cầm búa ngày ngày lanh canh vào những vỏ tàu han rỉ. Hôm mới về xí nghiệp, từ xa nghe như có một trận mưa đá liên miên dội xuống, mãi lúc tới gần tôi mới biết đó là tiếng búa gõ rỉ. Tôi đâm ra mê bầu không khí inh tai nhức óc này, mặc dù tôi biết nó là đáng sợ. Tôi cần có những ngày tháng giúp tôi quên hẳn hoàn cảnh của mình. Trước đây bom đạn ngoài mặt trận không làm nổi việc đó, thì bây giờ, tôi hy vọng vào những tiếng búa lanh canh, cốp chát, rào rào. Nhưng giữa lúc tôi “xắn tay áo” chuẩn bị cho giây phút bắt đầu của cuộc đời thợ, thì bỗng tôi nhận được quyết định của xí nghiệp cho tôi đi học lớp đào tạo y sĩ.
Cương vị y sĩ ở một xí nghiệp nhỏ có cái gì gần giống với danh hiệu “chị cả” của tôi trên Trường Sơn. Những người thường lui tới chỗ tôi khám bệnh và xin thuốc phần lớn thuộc trung niên, chị này có con mọn hay ốm, anh kia kêu nhức mỏi khớp xương, hoặc váng đầu, mờ mắt chóng mặt. Vài ba năm trôi qua chưa có ai phải phàn nàn về cách làm việc và cách đối xử của tôi, ngoài một lần tôi nổi khùng với anh tổ trưởng tổ sắt ở phân xưởng sửa chữa vỏ tàu. Anh ta đã ngoài bốn mươi tuổi, rất hiền lành, mắc bệnh nhức mắt vì tác hại của tia lửa hàn.
- Thảo ơi! - Anh gọi, sau khi ngồi xuống chiếc ghế băng đợi đến lượt mình để khám bệnh.
- Dạ.
- Anh hỏi thật nhé: Tại sao em chẳng chịu “làm bạn” với ai, cho nó đỡ quạnh quẽ?
Đang gói dở mấy chục viên B1 cho cô thư ký đánh máy, tôi thấy cánh tay tôi giật giật như có dòng điện chạy. Tôi vứt xòa gói thuốc lên mặt bàn, quay lại anh tổ trưởng và quắc mắt:
- Quạnh quẽ thì mặc tôi. Ai khiến anh lo hộ?
Anh tổ trưởng tổ sắt cười hề hề, vẻ mặt càng hiền:
- Lo hộ thế nào được. Thương cái cảnh cô, anh mới nói thế...
Tôi bật lên:
- Anh im đi!
Anh tổ trưởng tổ sắt ra về, tôi khóa trái cửa phòng y tế, ngồi gục đầu xuống mặt bàn. Mình loạn óc rồi?
Tại sao mình lại man dại, thô lỗ, và ngốc thế? Anh ấy và mấy người vừa có mặt ở đây sẽ nghĩ về mình ra sao? Cuối giờ làm việc tôi chạy ra đứng ở cổng xí nghiệp đón gặp anh tổ trưởng tổ sắt để xin lỗi anh. Anh chẳng những không giận tôi, còn ân cần dặn:
- Lúc nào cô buồn, anh mời cô sang nhà chơi với các cháu. Con Mừng nó nhắc cô luôn đấy.
Tôi thân với gia đình anh Mỡi (tên anh tổ trưởng tổ sắt) từ đó. Chị Mỡi coi tôi như em. Các cháu nhất là con bé Mừng tám tuổi, hễ đi học về là đứng thập thò trước cửa phòng cô Thảo. Mẹ luộc một rổ khoai, thế nào bé Mừng cũng lấy một củ giấu vào vạt áo mang sang cho cô. Những sợi dây thần kinh trong người tôi quá căng thẳng nhờ thế mà tạm chùng lại một thời gian. Không khí đầm ấm trong gia đình anh giống như một thứ thuốc an thần đối với tôi, khi thuốc hết hiệu lực, nỗi trống trải càng nhân lên gấp bội. Vả lại vốn là đứa có nghị lực, tôi nghĩ: nếu vì anh chị Mỡi, vì các cháu, dù cực nhọc bao nhiêu tôi cũng đến, nhưng ở đây lại vì tôi, vậy thì chả tội gì phải đi vay mượn niềm vui của người khác. Tôi quyết định, từ nay sẽ sống như một người già và hoàn toàn yên phận trước tương lai của mình.
Lần đầu tiên trong đời, tôi nghĩ tới việc mình phải có một căn nhà riêng, xấu xí cũng được nhưng đích thực là của mình. Sau mỗi ngày làm việc, cần có vài luống rau, một chuồng gà be bé, có cớ mà bận bịu, mà lo toan.
Được anh em ở xí nghiệp giúp đỡ, ít lâu sau tôi đã đạt được cái mơ ước buồn bã nhưng yên ổn đó. Sau rồi tôi lo tính cho một tuổi già thật sự. Tôi nghĩ tới bé Mừng. Anh chị Mỡi nghèo lại có tới năm đứa nhỏ. Nếu cái Mừng chịu về với tôi, anh chị sẽ đỡ vất vả đôi chút, mà cháu thì vẫn được chạy qua chạy lại với bố mẹ, anh chị, như ở chung một nhà. Tôi ngỏ ý này với anh Mỡi. Anh về bàn với chị, cả hai đồng ý cho bé Mừng làm con nuôi của tôi. Tôi vui vẻ đi phố mua sắm mấy thứ đồ chơi và quần áo trẻ con, rồi định ngày sang đón cháu về.
Đó là chiều thứ bảy, mùa đông, nhiệt độ không khí xuống tới bảy tám độ. cho gà ăn xong, tôi định sang nhà anh Mỡi đón cháu. Tôi mang sẵn tấm chăn len mỏng, để khi cõng cháu về sẽ trùm lên lưng “hai mẹ con” cho cháu đỡ lạnh. Đầu óc tôi phát mụ vì tưởng tượng ra cái cảnh lúc nữa hai mẹ con sẽ hí húi nhóm bếp nấu cơm, tôi sẽ gắp những miếng thịt nạc bỏ vào bát cơm còn nóng cho cháu. Có cháu, chắc chắn tôi sẽ bày thêm được biết bao nhiêu thứ, biết bao nhiêu công việc, để cuộc sống hết nhàn tẻ, mà lúc này tôi chưa thể nghĩ ra.
Giá như tôi ra khỏi nhà sớm hơn chừng năm phút thôi, số phận tôi hẳn đã an bài. Đằng này tôi cứ quẩn quanh mãi, treo lại bức tranh con thỏ, trải cái gối cho ngay ngắn; ở đầu giường, nên để con búp bê nhựa hay để con búp bê bằng len? tóm lại, phải làm sao gây được một ấn tượng đẹp đẽ, ấm cúng cho bé Mừng ngay từ phút đầu tiên cháu gắn bó với ngôi nhà này. Không làm gì được hơn nữa, tôi khép cửa, chưa kịp bấm khóa, đã thấy một người con trai xách va li từ phía ngoài cổng xí nghiệp đi thẳng tới chỗ tôi.
- Chào chị.
- Vâng, chào... anh - Tôi ngập ngừng chọn cách xưng hô.
Người con trai này còn trẻ, chỉ hai mươi lăm tuổi là cùng - Anh tìm ai?
- Tôi về nhận công tác chị ạ.
- Về nhận công tác, sao mãi giờ này mới đến. Ở văn phòng có còn ai đâu?
- Vâng. - Anh con trai lúng túng - Giấy quyết định của tôi đây.
Tôi xua tay:
- Anh đưa cho giám đốc, tôi chỉ là nhân viên thôi.
Anh thanh niên đứng tần ngần một lúc, rồi xách va li, chào tôi.
- Nhưng anh định đi đâu?
- Tôi cũng chưa biết được nữa. Rủi ro quá.
Anh ta đi được mấy bước, tôi gọi giật lại:
- Này anh ơi. Anh ăn uống ở đâu chưa?
- …
- Nếu chưa, vào đây tôi nấu cho mà ăn.
Nửa tiếng đồng hồ sau, nhìn bát cơm nóng tôi xới cho, đôi mắt to dài của Mạnh sáng lên như đôi mắt của một chú bé háu ăn. Tôi ngồi gắp thịt rim nước mắm bỏ vào bát anh, lòng hân hoan vì biết mình đang tạo được chút ấm áp cho một con người bơ vơ.
Có ngờ đâu hạnh phúc và đau khổ đến với tôi như thác lũ, chính là từ phút ấy - cái phút thứ bao nhiêu trong đời một cô gái ba mươi tám tuổi.
Mạnh là một kỹ sư ngành chế tạo vỏ tàu thủy, quê ở mạn trong, vừa mới ra trường, chưa quen biết một ai ở ngoài này. Tôi nuôi Mạnh thêm ngày chủ nhật, sáng thứ hai mới “trao” anh ta cho Giám đốc xí nghiệp.
Mạnh về xưởng sửa chữa vỏ tàu để nhận việc. Mạnh báo cơm ở nhà ăn tập thể; nhưng chiều nào cũng lững thững ra nhà tôi. Mạnh giúp tôi cho gà ăn. Anh đặt tên từng con một, con cao là con Kếu, con ít lông là Trụi, con tham ăn gọi là Mương.
Bọn gà liền “xiêu lòng” về phía anh, hễ anh đến là chúng chen đạp nhau để thò cổ ra ngoài cửa chuồng. Chúng xiêu lòng là phải, Mạnh có gương mặt khắc khổ, đôi bàn tay to, giọng nói ấm áp vô cùng.
Có Mạnh tôi bận rộn hẳn lên. Hôm thì tôi mua cua về nấu bún riêu, hôm thì tôi cắt su hào, cà rốt ra ngâm dấm, khi nào có thức ăn kha khá tôi còn mua cho Mạnh vài chén rượu. Tôi biết quá rõ một người ăn cơm ở bếp tập thể thường phải thèm nhạt món gì. Và nhiều lần tôi còn giặt giũ cả quần áo của Mạnh, để Mạnh có thời gian theo đuổi một sáng kiến hoặc một công việc nào mà ngoài anh ra ít ai thay được.
Việc đón cháu Mừng về tôi phải lý do này nọ để hoãn lại hết tuần này sang tuần khác. Cái dạo Mạnh ra Quảng Ninh chỉ huy việc trục vớt chiếc sà lan bị đắm ngoài đó mấy ngày tôi như người mất hồn, làm trước quên sau, và hầu như không có được lấy một ý nghĩ nào mạch lạc từ đầu đến cuối. Nhớ tới việc cháu Mừng, tôi sang nhà anh Mỡi nhưng con bé lắc đầu nguây nguẩy, không chịu theo tôi. Hình như bằng linh cảm của trẻ con, con bé đã biết cô Thảo bây giờ không còn nghĩ đến nó một cách trọn vẹn như trước. Nhân thể tôi cũng thôi luôn ý định làm người mẹ thứ hai của cháu. Thú thật là bé Mừng không thể lấp được cái khoảng trống vắng lạ lùng trong tôi. Tôi lại về thủ thỉ nói chuyện với con Kếu, con Trụi, con Mương, và cố nghĩ xem mình phải làm gì để Mạnh vui khi trở về đây. Mạnh có vài chiếc sơ mi gửi lại tuy cũ nhưng còn lành, chưa cần phải khâu vá. À phải. Một chiếc mũ len. Lênh đênh trên sông nước giữa tiết này có một chiếc mũ len cho Mạnh đội thì hay biết bao.
Tôi cuống quít tìm len, chọn kim đan, và bắt tay ngay vào việc, chỉ sợ chiếc sà lan trục vớt xong trước dự định mà mũ len chưa kịp đan xong.
Chiếc mũ len giúp khuây khỏa được vài ngày. Tôi phải sống khắc khoải thêm vài ngày nữa mới tới một buổi tối Mạnh về.
Chiếc com măng ca lầm bụi đỗ xịch trước cổng xí nghiệp. Mạnh nhảy xuống, đứng dưới ngọn đèn đường dùng cái cặp da để phủi bụi quanh người, rồi đi thẳng vào nhà tôi. Tôi đứng lấp sau khóm mía non, nín thở theo dõi từng bước Mạnh đang tiến lại gần. Cũng nín thở như thế khi tôi gọi Mạnh ra giữa gian nhà hẹp, để ướm thử chiếc mũ len lên đầu Mạnh. Chiếc mũ len bị kẹp giữa hai lồng ngực. Mạnh bất ngờ ôm ghì lấy tôi. Tôi ngạt thở trong cái hôn cuồng nhiệt của Mạnh.
- Buông ra... - tôi nghẹn ngào khóc - Đừng làm thế Mạnh.
- Không! Không! Không! Mạnh thì thào... Hơi thở anh nóng như lửa. Xa Thảo mấy ngày, anh mới hiểu rằng anh yêu em...
Nước mắt tôi lại trào ra. Tay chân tôi bủn rủn phó mặc cho đôi cánh tay rắn chắc của Mạnh bế bống tôi lên. Sau đó tôi không nhớ được gì khác ngoài cái hơi ấm do tấm chăn đắp chung tỏa ra, khiến tôi cứ ngờ rằng đây không phải là chuyện có thật trên đời.
Gà gáy một lần, rồi hai lần, Mạnh mới ra về. Tôi sực nhớ là từ tối tôi chưa nói được gì với anh. Quên cả đi guốc, tôi chạy đuổi theo Mạnh.
- Mạnh ơi cho Thảo nói cái đã...
Mạnh dừng lại, quàng tay qua vai tôi vì thấy tôi run lẩy bẩy.
- Mạnh không biết rằng tôi... tôi... hơn Mạnh những mười bốn tuổi... hay sao?
Mạnh hôn lấp đi, không để tôi nói hết câu.
Mấy lần sau hễ tôi nói chạm đến điều ấy, Mạnh đều làm như thế. Tôi chỉ còn biết nhìn vào đôi mắt trong trẻo như mắt con nai rừng của anh, và không thể nào nhóm lên được chút ngờ vực.
Cái tin Mạnh và tôi yêu nhau đã nhanh chóng loang ra trong xí nghiệp. Tôi xấu hổ, ngoài nơi làm việc và nhà ở, không còn dám ló mặt đi đâu. Tôi như người lính cố thủ trong lô cốt, thế giới bên ngoài chỉ được nhìn qua một lỗ châu mai bé tí. Ngay như cái Vụ - cô y tá hai mươi bốn tuổi, dưới quyền tôi - tôi cũng phải đề phòng. Biết đâu cái Vụ lại chẳng ngầm để ý đến Mạnh? Cái cô gái ngày ngày hay vào xí nghiệp, cắt cỏ nuôi cá, hễ gặp bọn con trai xí nghiệp là bắt chuyện liến thoắng kia, cô ta không xinh đẹp gì, nhưng hơn hẳn tôi về mặt tuổi trẻ, và dù chưa hề biết tên tuổi, nhà cửa cô, tôi cũng phải lường trước đến tình thế cô ta là đối thủ tranh chấp với mình... Không thể như thế được. Tôi ngấm ngầm mài dũa ý chí để sẵn sàng tuyên chiến với bất cứ ai, nếu chớm phát hiện ra rằng kẻ đó đang nhích lại gần Mạnh.
Buồn nhất trong chuyện này là mối quan hệ giữa tôi và chị Mỡi hơn tôi vài tuổi, nhưng cuộc sống hoàn chỉnh đã làm chị đáng bậc chị của tôi. Có chuyện gì khúc mắc, tôi thường hỏi ý kiến chị. Riêng lần này, chị Mỡi không đợi tôi nói trước, mà lại chạy sang hỏi tôi:
- Chị nghe người ta đồn cô với chú Mạnh có “chuyện gì” phải không?
Chị Mỡi hoàn toàn chân tình, nhưng tôi liền thu mình lại giữ thế. Tôi chối phắt:
- Chị đừng nghe lời thiên hạ!
- Thật chứ. Cô?
- Sao lại “không thật”! - Tôi cau mặt nhưng bên trong thì muốn phì cười. Không ngờ mình cũng là đứa dối trá đến thế - Chị không tin, cứ đợi một thời gian nữa sẽ rõ. Thấy tôi phẫn uất đỏ mặt tía tai, chị Mỡi vội dàn hòa:
- Thôi thôi. Cô không có chuyện gì thì thôi. Hơi đâu mà để bụng những lời nhảm nhí.
Trước lúc ra về chị Mỡi khẽ thở dài:
- Phải hỏi cô thế chị mới yên tâm. Chứ như tối qua, cả anh cả chị cứ thắc mắc, chả lẽ cô Thảo lại nông nổi đến nỗi ấy...
- Chị bảo em nông nổi?
- Chíp... - chị Mỡi ôm nhẹ ngang người tôi - Cô đừng giận chị mới dám nói. Ở hoàn cảnh cô, cô phải lượng sức mình... Lâu nay chị vẫn có ý dò xem, ai người ta nhỡ nhàng, hoặc góa bụa...
Chị Mỡi chưa nói hết câu tôi đã gạt tay chị ra, bực thật sự:
- Chị khinh thường em thế!
Chị Mỡi nín thinh. Hai chị em chả còn gì để nói với nhau. Tôi muốn chị mau mau ra khỏi nhà để cho tôi yên.
Mấy hôm liền tôi không bén chân sang nhà anh chị Mỡi. Tôi sợ cả anh Mỡi cũng khuyên răn tôi như vậy. Vả lại, tôi không còn thời gian. Người ta nói bận như người đang yêu, mãi nay tôi mới hiểu. Cứ vào quãng ba bốn giờ chiều là tôi hầu như không làm việc gì khác ngoài việc là ngồi đăm đăm thúc giục chiếc đồng hồ chuông đặt trên bàn để nó chạy nhanh nhanh lên một chút, kẻo tôi đang héo nẫu cả ruột gan vì chưa được nhìn thấy Mạnh sau hơn chục tiếng đồng hồ xa nhau. Liệu anh có “thay lòng đổi dạ” trong quãng thời gian ấy?
Mạnh của tôi thật tuyệt vời. Anh vẫn nhởn nhơ, chiều chiều thọc tay vào túi quần, lững thững về chỗ tôi, có khi anh mua cả thức ăn đêm về. Hôm nhận tiền thưởng cuối năm, Mạnh nhờ cô kỹ sư bạn anh dưới xưởng đi mua cho tôi một mảnh vải may áo.
- Em đi may đi - Mạnh bảo.
- Sao lại phải may vội thế?
- Tết này anh sẽ đưa em về quê anh, để “ra mắt” các cụ. Sau đó, chúng ta sẽ đi đăng ký kết hôn...
Mạnh nói những lời chắc nịch. Tôi hoảng hồn. Có lẽ chính vì như thế mà buổi trưa hôm ấy tôi bị tai nạn. Đáng lẽ đổ dầu hỏa vào cái bếp đèn, tôi lại cầm nhầm phải chai xăng. May là xăng không còn mấy nên vết bỏng trên mặt tôi cũng nhẹ. Tôi chỉ phải nằm viện mười ngày. Trong thời gian ấy, ngày nào Mạnh cũng vào viện thăm tôi hai lần, trưa và tối. Anh nói nhiều, cười nhiều hơn mọi ngày. Và chắc chắn là để tôi bớt bi quan nên anh công khai nói giữa bệnh viện rằng: anh là chồng tôi, làm các cô y tá trẻ đều trố mắt ngạc nhiên.
Tội nghiệp cho Mạnh! Anh còn trẻ quá. Anh tốt đến thành ngây thơ, chưa hiểu thế nào là sự gặm nhấm tai hại của thời gian. Chứ ở tuổi tôi, khi tỉnh cơn say, người ta bắt buộc phải suy nghĩ tới chặng đường dài ở trước mặt. Việc phải vào nằm viện, xa hẳn xí nghiệp, đã giúp tôi có thời gian và đủ yên tĩnh để nhìn thấu tới mười, mười lăm năm sau, khi mà Mạnh còn ở cái tuổi bốn mươi cường tráng thì tóc tôi đã bạc... Ý nghĩ này giống những viên đạn chì cứ nhằm trúng tim tôi mà nã. Tôi vật vã, quằn quại, nhưng không còn cách nào khác là phải dứt mình ra khỏi vòng tay ấm nóng của Mạnh. “Mạnh ơi! Em giải phóng cho anh! Em chỉ có một mong ước duy nhất, anh được hạnh phúc”.
Hôm thứ chín hoặc thứ mười kể từ khi tôi vào viện, vết bỏng của tôi đã lành nhưng tôi thì đã kiệt sức, không muốn cất mình lên khỏi giường, vì những đêm thức trắng với một câu hỏi nhức nhối, đứt từng khúc ruột “làm sao đây”. Có lẽ Mạnh hiểu tâm trạng tôi. Anh càng đặc biệt dịu dàng chu đáo. Anh làm sao mà kéo lại được cho tôi vài chục tuổi đời. Một lần Mạnh kiếm được ở đâu một nắm củ nghệ, anh mang đến, hì hụi giã, giục tôi bôi vào chỗ mới lên da non để sau này khỏi thành sẹo. Tôi ngoan ngoãn “vâng” cho Mạnh yên lòng. Nhưng Mạnh vừa rời khỏi bệnh viện, trong óc tôi liền lóe lên một ý nghĩ cay đắng, gần giống như là tự tử. Tôi chạy tới một khóm chuối tiêu mọc sát bờ tường, với tay bẻ liền ba bốn quả chuối non rồi hứng lấy dòng nhựa nhểu xuống xát thật mạnh vào mảng da non còn mỏng dính trên gò má...
Tôi làm thế gương mặt tôi vốn đã không đẹp, giờ sẽ thật sự xấu đi. Tôi cần phải làm cho Mạnh ghê sợ khuôn mặt tôi! Tôi đã không được toại nguyện cho lắm. Vết sẹo có thâm lại, thành một hình thù méo mó như vá một miếng da khác lên gò má tôi, nhưng gương mặt tôi vẫn không thay đổi mấy so với trước.
Hôm sau Mạnh vừa đến, đã hỏi tôi về kết quả của môn thuốc nghệ. Tôi trả lời là tôi đã bôi đúng như lời anh dặn. Anh nhìn chăm chú rồi gật gù:
- Tốt nhỉ. Vài hôm nữa sẽ không còn dấu vết gì đâu...
Ngay cả chuyên này, Mạnh cũng chỉ là một cậu học trò ngớ ngẩn, “người ta” bảo sao nghe vậy. Sau này ngay cả trường hợp chúng tôi được “vuông tròn” với nhau, chắc gì tôi sẽ tâm sự được với anh những nỗi niềm uẩn khúc. Một giây lướt qua, tôi thoắt nhớ tới cái hình tượng người chồng trong tưởng tượng của tôi, từ thuở con gái đến giờ. Một người đàn ông rắn rỏi, tinh tường, một người bạn tâm đắc đồng thời là một người thầy...
Mạnh nói những gì nữa, tôi không còn lòng dạ nào mà nghe. Tôi đã đẩy tôi tới trước “miệng vực”. Tôi nhắm mắt lại để có một khoảnh khắc can đảm.
Nếu cái khoảnh khắc này trôi qua, dẫu với khối nghị lực một nghìn lần lớn hơn, tôi cũng sẽ không dám mon men trở lại. Tôi bèn ngắt lời anh, sẵng lên:
- Nói dối! Tôi không chịu được cái thói nói dối đâu!
Mạnh ngơ ngác không hiểu.
- Em bảo anh nói dối?
- Nói dối? - Tôi bậm môi nhắc lại - Tôi mong anh đừng đến với tôi nữa!
- Sao lại thế, Thảo?
- Cứ thế. Tôi cứ thế. Tôi phát điên rồi!
Mạnh ngượng trước mấy cô gái nằm cùng phòng bệnh với tôi. Anh ngồi ôm đầu một lúc rồi bỏ ra ngoài. Tôi phải gắng hết sức mới giữ nguyên được cái giọng nói cấm cảu đáng nguyền rủa:
- Ra thì ra luôn, đừng đến quấy rầy tôi nữa!
Mạnh lủi thủi ra về. Tôi xăm xăm chạy lên phòng y vụ đòi ra viện ngay tức khắc. Hôm đó không phải ngày cho bệnh nhân ra viện, nhưng anh bác sĩ trưởng phòng y vụ thừa hiểu là đôi co với tôi chẳng có lợi gì.
Vài tiếng đồng hồ sau tôi đã có mặt ở xí nghiệp. Tôi trình đồng chí giám đốc giấy ra viện, rồi đề nghị ông cho tôi về quê một thời gian dài.
Ông giám đốc của chúng tôi là một người như thế này: từng làm người ở, một anh bộ đội thời chống Pháp, một công nhân, đi học trung cấp, rồi đi học đại học trở thành kỹ sư. Một người giàu năng lực chuyên môn đồng thời giàu lòng nhân ái. Nghe tôi đề nghị, ông nhíu mày suy nghĩ:
- Có việc gì mà xin nghỉ nhiều thế. Cô Thảo?
- Thưa bác. Việc giữa cháu với anh Mạnh, chắc bác đã biết?
Ông gật đầu. Tôi dấn tới, nước mắt ứa lên đầy mi.
- Cháu không muốn vì cháu mà anh ấy khổ...
- Ừ - ông giám đốc gật đầu - Tôi hiểu. Tôi hiểu. Yêu ai, lấy ai là quyền của cô. Nhưng nói thật, chuyện của cô với anh Mạnh, tất cả ban lãnh đạo chúng tôi đều thấy ái ngại, chúng tôi chỉ sợ sau này cô sẽ khổ. Giờ xử sự như cô là đúng. Đau thật, nhưng cố chịu ít lâu rồi sẽ qua. Cô ạ...
Ngừng một lát ông giám đốc hỏi thêm:
- Liệu tôi có giúp gì được cho cô?
- Nếu thế xin bác cho cháu chuyển đi nơi khác.
- Đi đâu?
- Đi đâu cũng được, miễn là đừng ở đây.
- Tôi hiếu, tôi hiểu. Thế này cô Thảo nhé. Cô thu xếp bàn giao công việc lại cho chị Thủy. Xong lúc nào cô có thể đi ngay lúc ấy. Tôi cho cô nghỉ hẳn hai tháng. Được chưa?
- Cám ơn giám đốc, tôi chùi nước mắt quay ra, người lảo đảo như mơ, như say sóng. Lời ông giám đốc vọng theo:
- Bình tĩnh cô Thảo nhé!
Người ta có thể lẩn tránh một công việc rắc rối, nặng nhọc. Người ta có thể lẩn tránh cả một bản án tử hình. Nhưng biết tìm sự thanh thản ở đâu.
Tôi về thăm quê, rồi thăm mấy đứa bạn thời thanh niên xung phong. Tôi đi tàu xe rạc người, túi tiền hết veo, mà ngoảnh lại vẫn chưa hết một tháng. Tôi đành quay về xí nghiệp và thú nhận với đồng chí giám đốc rằng tôi không thể nghỉ lâu hơn được nữa.
Ông giám đốc hiền từ như một người cha, với đôi mắt nhìn xuyên thấu mọi ý nghĩ trong tôi.
- Tôi cũng đoán cô không nghỉ hết hai tháng. Vì thế, điều cô yêu cầu chúng tôi đã giải quyết...
- Bác ơi. - Tôi hốt hoảng kêu lên - Cháu yêu cầu cái gì?
Ông mỉm cười buồn buồn:
- Cái yêu cầu được chuyển đi nơi khác ấy. Cô quên sao?
- À phải. Tôi đau điếng, nhưng không thể không biết ơn ông. Bác cho cháu đi đâu ạ?
- Không. Cô cứ ở đây. Chẳng phải bất cứ ban giám đốc nào cũng hiểu cô như chúng tôi, vì thế cô không phải đi đâu cả. Việc ra đi, chúng tôi đã thu xếp cho cậu Mạnh...
- Mạnh đi rồi?
Mặt tôi tối sầm, phải tựa một bên vai vào bức tường.
- Cô nên bình tĩnh nhớ là chúng tôi cũng rất quý Mạnh. Nhân việc trên Bộ có chỉ thị cho xí nghiệp ta phải đứng ra thành lập thêm một xưởng sửa chữa dưới sông Đào, chúng tôi đã cân nhắc và bổ nhiệm cậu ấy làm phó quản đốc... Cô cứ suy nghỉ cho chín. Sau một thời gian, nếu quả thật cậu Mạnh không thể sống thiếu cô, khi đó ta sẽ bàn lại.
Biết nói gì hơn!
Hồi đơn vị tôi bảo vệ quãng đường giao liên ở phía bắc sông Xê Băng Hiêng, cái Nải bị một mảnh bom cắm vào đùi. Khi được mổ lấy mảnh bom ra, đau quá, cái Nải la hét, mắng chửi anh bác sĩ binh trạm đến tàn mạt, xong rồi thì xấu hổ và ân hận, hễ gặp anh ấy ở đâu là nó lại lủi vào rừng để tránh mặt.
Tâm trạng tôi cũng tương tự, chỉ khác là tôi còn tự chủ được nên chưa dám hỗn với ông giám đốc. Chứ thực tình, nghe giám đốc nói ông mở lối thoát cho tôi bằng cách điều Mạnh xuống tận sông Đào, sao mà tôi căm ghét ông thế.
Tôi lại trở về với căn phòng y tế xí nghiệp, và về với ngôi nhà bé tí nhưng không biết bày sao cho hết. Cái chuồng nuôi bọn con Trụi, con Kếu, con Mương bỏ không. Luống rau mùa xuân cỏ mọc dày, vài cây cải còn sót lại mang những chùm quả từa tựa những bộ xương cá. Chiếc bàn nhỏ thay mâm, rồi giường chiếu, chăn màn thứ gì cũng thừa một nửa khiến tôi không muốn đụng tay vào bất cứ việc gì. Hình như tôi đã trải qua những ngày suốt từ sáng đến chiều không nhớ mình có nói với ai, và có làm gì hay không. Dưới tổ máy, có một anh bị cúm nằm liệt giường nhưng không chịu lên phòng y tế khám bệnh. Tôi đến tận nhà thăm anh, thì anh bảo:
- Thấy cô khổ quá rồi, anh không muốn lên quấy rầy cô thêm nữa. Chứ anh đâu nỡ trách cô.
Lời anh thợ máy làm tôi choáng váng chẳng kém khi được tin Mạnh đã ra đi. Mạnh đi xa chưa chắc tôi đã mất anh. Nhưng cứ đà này, tôi sẽ mất cả mấy trăm con người ở đây.
Lúc ra về, tôi kiên quyết bắt mình phải tươi tỉnh trở lại. Cười lên một tiếng nào! Nào cười lên!... May sao, ở ngang con dốc từ bờ đê sông Đáy xuống cổng xí nghiệp, tôi gặp hai cô cấp dưỡng đang bá vai bá cổ nhau vừa đi vừa ăn chung một quả dưa chuột, đứa này cắn một miếng, đứa kia cắn một miếng. Tôi dừng xe:
- Cho chị Thảo ăn chung với nào!
Hai cô bé giật mình quay lại cười ré lên. Nhờ thế tôi mới có được một trận cười giống như trận mưa rào đổi thời tiết từ sậm sịt sang nắng ráo.
Ít lâu sau, một buổi tối mùa hè, chị Mỡi tắm xong còn để nguyên cả mái tóc ướt sang nhà tôi chơi. Chị nhìn tôi, trong đôi mắt hiền hậu toát lên nỗi vui mừng:
- Thế là qua khỏi cả rồi. Dạo nọ anh chị cứ lo cô phiền muộn quá mà sinh bệnh thì khổ...
Tôi cười, định thổ lộ cho chị Mỡi biết sự thực nỗi lòng tôi là thế nào, nhưng lại thôi.
Thiên hạ bảo mình vui, vạ gì lại tự thú nhận là mình đang héo nẫu đi từng ngày?
Thư của Mạnh gửi về thất thường vì phải chờ dịp có người trên này xuống, hoặc người dưới đó lên, anh mới gửi thư được, đôi lần anh gửi cả quà. Mấy lá thư đầu tiên của Mạnh, tôi khóa trái cửa ngồi đọc, và lại khóc ròng. Giờ thì không thế nữa. Tôi lờ mờ cảm thấy một cái gì khang khác trong những lá thư gần đây của Mạnh. Những lá thư càng ngày càng dài. Phải chăng người ta phải nói nhiều, viết nhiều, để bù vào nỗi lòng đang vơi hụt dần dần? Nghĩ thế liệu có oan cho Mạnh?
Tôi cũng viết thư trả lời Mạnh vài chục lần, rồi quyết định thôi hẳn. Mãi giờ tôi mới đủ can đảm để lắng nghe lời ông giám đốc khuyên hôm nào: “Nếu quả tình Mạnh không thể sống thiếu cô, thì ta sẽ bàn lại”.
Tôi nuôi được lứa gà khác, nhưng không con nào đáng yêu như bọn con Kếu, con Trụi, con Mương “thuở xưa”. Luống đất trước nhà, cà đã tàn, tôi trồng rau dền và rau mồng tơi. Ông giám đốc xí nghiệp vừa lên lương trước thời hạn cho tôi vì tôi phục vụ tận tụy.
Trước đây, mỗi kỳ lĩnh lương tôi đều nghĩ đến việc mua cho Mạnh một món gì ăn ngon hơn ngày thường hoặc mua sắm cho anh một vài thứ anh cần. Giờ còn mình tôi, lâu lâu mới mua cho mấy cháu nhà anh Mỡi chút quà bánh, phần mình thì thế nào cũng xong. Dần dần tôi không còn cái thú vui thắc thỏm mong chóng đến kỳ lĩnh lương nữa. Và một lần, khi ngắm nhìn luống rau tốt ngờm ngợp dưới ánh nắng ban trưa, tôi bỗng thảng thốt nhận ra những ngọn rau dường như cũng không xanh được như hồi tôi có Mạnh ở bên mình. Liền đó tôi nghĩ đến anh, và biết chắc rằng hạnh phúc là cái mà tôi đã từng có.
 
Ninh Bình, mùa hè 1985
Đăng nhập để trả lời
★ ★ ★ ★ ★ 0
NGƯỜI CHẾT TRỞ VỀ

 

Thuận là một trong những cây bút đã đi suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ. Hòa bình, anh về làm việc ở một tòa báo tại Thủ đô, nếp sinh hoạt khá ổn định, nhưng lâu lâu Thuận lại nổi máu thèm một chuyến đi lang thang với chiếc ba lô lính, cuốc bộ từ vùng này tới vùng khác, ăn ở đâu, nơi đó là nhà, ngả lưng chỗ nào, thì chỗ ấy là giường.
Quãng ba năm sau ngày toàn thắng. Thuận cũng đã làm một chuyến lang thang như vậy ở mạn bắc khu Bốn cũ. Cuốn sổ ghi chép đầy ngạt chữ, trong túi đã cạn tiền, Thuận mua một vé xe hỏa ở ga Yên Vực để ra Hà Nội. Lúc ngồi trốn nắng buổi trưa trong quán nước chờ tàu trước cửa ga, tình cờ Thuận nghe bà lão bán quán nói rằng có một anh bộ đội người làng Rủn, báo tử chán chê rồi, vợ ở lại chịu mãn tang chồng mới đi bước nữa. Nhưng, đúng cái hôm chị vợ xuống thị xã mua thiếp mời chuẩn bị đám cưới thì anh chồng cũ lù lù “mò” về.
Bà lão nhổ quết trầu xong thốt lên:
- Hơn bảy chục tuổi đầu, thấy đã lắm chuyện, mãi giờ mới thấy chuyện lạ như rứa. Bà cũng có thằng bố hĩm - con trai bà - đi Nam, bặt tin sáu, bảy năm nay, ước gì hắn còn sống mà về với vợ với con...
Thuận hỏi bà lão:
- Có thật thế không, bà? Dạo đầu tháng cháu cũng mới đi qua vùng ấy.
- Sao lại không thật! - Bà lão hơi phật ý trước cái nhìn nghi hoặc của Thuận - Đây với Rủn có xa xôi gì. Thằng cháu nội của bà mới đi xe ngựa trên đó về chiều hôm qua.
Thế là Thuận quên phắt tấm vé xe hỏa nằm trong túi ngực. Anh đáp xe ngựa lên Rủn, nửa buổi chiều thì tới nhà anh xã đội trưởng xã Đông Khê tên là Tân, cũng là một thương binh bị thương ở thành cổ Quảng Trị.
Tân lấy chiếc xắc cốt móc trên cột nhà xuống, chìa cho Thuận xem mảnh giấy chứng thương, cười rất hồn nhiên:
- Tôi cũng bị quân lực trung đoàn xếp vào danh sách những người tử trận đấy. May là danh sách chưa kịp gửi đi, thì tôi bò về được tới đơn vị. Riêng cái chuyện anh vừa hỏi, tôi nghe bà con nói là ở bên xóm Nông Giang, chứ không phải ở đây.
- Theo anh, nguồn tin này có chính xác không?
Tân khoát tay về hướng mặt trời lặn.
- Cách nhau vài cánh đồng thôi mà. Ngày nào dân làng Rủn chúng tôi chả có người đi chợ Dị phải qua đó. Tôi cũng muốn sang bên ấy xem binh tình thế nào. Xã này còn tám trường họp bặt tin, bà con đến hỏi từng ngày. Rối cả ruột.
Hôm sau, ở xóm Nông Giang, người ta còn biết rõ anh bộ đội “từ cõi chết trở về” ấy tên là Thái, trung úy, đại đội trưởng xe tăng, nhưng là người làng Vồm, bên kia dãy núi Rừng Thông và nằm sát bờ sông Chu.
Trên quãng đường đồng dẫn tới làng Vồm, Thuận phải gắng hết sức chạy đua với cơn giông và với bầu trời đang sập tối. Chớp xanh lè trên ngọn Rừng Thông. Những dây sét làm mặt đất rung chuyển không khác gì tiếng sét gầm của “vua chiến trường”. Lúc những hạt mưa đầu tiên bắn chan chát xuống vành mũ cối, Thuận rẽ đại vào một ngôi nhà đầu làng vừa le lói ánh đèn.
Chị chủ nhà cầm đèn đứng sững trước khung cửa rộng, đôi mắt đen như hai hạt nhãn nhìn người khách đang ngập ngừng dưới sân.
- Chào chị.
- Vâng. Chào anh.
- Chị làm ơn cho tôi trú mưa một lúc?
Người phụ nữ đắn đo vài giây.
- Nhà tôi chỉ có hai mẹ con. Anh thông cảm cho. Anh chịu khó đi lại nhà bác công an xã vậy.
Chị chỉ dẫn khá tỉ mỉ: Hết ngõ này, gặp con đường to, anh rẽ phải. Đi một quãng, gặp cái giếng, anh rẽ trái... Thuận “vâng vâng” nhưng càng nghe chị chỉ dẫn anh càng thấy lung bung trong đầu. Anh chào chị, bước ra khỏi mảnh sân trắng xóa mưa. Chị chợt kêu lên:
- Anh không có đèn pin à?
- Không, chị ạ.
- Áo mưa, anh cũng không có.
- Có. Nhưng đằng nào cũng ướt hết rồi, thôi chào chị nhé.
- Thế thì anh vào đây mà nghỉ. Nước mưa đầu, dễ ốm lắm.
Nào ngờ, đây chính là gia đình của trung úy đại đội trưởng xe tăng tên là Thái, mà bà con ở xóm Nông Giang đã nói với Thuận. Có điều, Thái về nghỉ phép xong, vừa ra tàu trưa nay, bình thường như biết bao anh bộ đội khác.
Còn cái “người chết trở về” kia, theo lời chị Mai - tên người phụ nữ này - ở mãi trên làng Kè, cách làng Vồm chừng mười lăm cây số.
Chị Mai giục Thuận đi thay quần áo khô, rồi đi pha trà thật đậm mời anh uống.
- Anh ấy cũng ở chiến trường miền Nam, phải không chị?
- Sao anh biết?
Thuận chỉ vào chén trà thơm ngát và đặc như nước cà phê. Cái “gu” uống trà của lính Quân giải phóng dù ở đâu cũng nhận ra. Và nhờ thế mà câu chuyện giữa chủ nhà và khách trở nên đặc biệt cởi mở.
- Tôi với nhà tôi cùng học hết lớp mười, sau lễ cưới đúng bảy ngày thì anh ấy nhập ngũ. Ai đời, trong lá thư đầu tiên gửi về, anh ấy viết: “Trông ra ngọn cỏ lá cây. Thấy hiu hiu gió, thì hay anh về...” làm tôi lo nẫu cả ruột gan suốt mấy năm trời. Hôm vừa rồi, anh ấy về tới nhà, tôi liền sai thằng con lấy roi cho mẹ. Anh ấy hỏi: Để làm gì? Tôi bảo: Em phải nọc anh ra, đánh cho một trận, cho bõ tức!
Người phụ nữ che miệng cười, gương mặt sáng hồng lên niềm hạnh phúc tới giờ đã có thể coi là viên mãn. Nhưng cũng đúng lúc này, những gia đình có người đi không về, thì sao? Thuận trộm nghĩ thế mà bỗng so vai lại vì một cảm giác lạnh buốt trong hơi mưa ngoài hiên đang phả vào.
Chị Mai thở dài.
- Không hiểu cái bộ ba ấy họ dàn xếp thế nào, anh nhỉ?
- Bộ ba nào vậy?
- Ồ, anh chưa biết ư. Một đêm, người chồng về gõ cửa, vợ anh ấy cùng người chồng mới cưới đang ngủ trong buồng. Mẹ anh ấy thức dậy, nghe đúng là tiếng nói của con trai mình nhưng không dám ra mở cửa. Bà cụ thắp hương khấn:
“Con sống khôn chết thiêng. Mẹ chỉ có mỗi mình con. Con đi rồi, vợ con ở nhà ăn ở với mẹ thật hết lòng hết dạ, nên con hãy phù hộ cho nó như phù hộ cho đứa em gái của con”...
Thuận nhíu mày, ngờ ngợ những chi tiết éo le trong câu chuyện chị chủ nhà kể giống như trong một cuốn tiểu thuyết nào đó. Từ phút ấy, Thuận đâm ra lưỡng lự, không biết có nên tiếp tục chặng đường lên làng Kè nữa hay thôi. Nhưng rồi sáng hôm sau Thuận vẫn tạm biệt làng Vồm, để lần bước ngược theo dòng sông Chu đang mùa nước lớn ngập tràn những bãi dâu, vạt mía, và ngổn ngang rác rến thượng nguồn.
Xưa nay, cả trong thời bình lẫn thời chiến, từ những nỗi nguy nan chết người tới những cuộc bù khú bạn bè, Thuận vốn là con người không chịu bỏ cuộc giữa chừng. Tuy vậy, chặng đường ngược sông Chu này khiến Thuận mệt bải hoải. Vào lúc mặt trời đã lên cao, nhân phải chờ phà sang sông ở bến Vạn Hà, Thuận lân la làm quen với mấy đứa trẻ nhỏ ngồi câu tôm bên kè đá.
- Các “tướng” ơi - Thuận lên tiếng - lên làng Kè, đi theo bờ sông gần hơn hay theo đường ô tô gần hơn? Một cậu bé quay phắt lại, nói trống không:
- Lại hỏi đường lên làng Kè!
Thuận không hiểu ý đứa trẻ nói gì. Nó giải thích:
- Chuyến phà trước, có một chú bộ đội vừa hỏi thăm đường lên làng Kè, y hệt chú. Có phải chú là bạn của cái chú “báo tử” mới về không?
Đôi mắt Thuận vụt sáng lên mừng rỡ:
- Cháu cũng biết chú ấy?
- Không. Nhưng cháu có thằng bạn cùng lớp, nó mới lên thăm cô nó lấy chồng trên Kè.
- Cái chú ấy hay lắm cơ nhá - Cậu bé ngồi cạnh đó nói chen vào - về tới làng rồi mà còn quẳng ba lô lên đê để chơi chọi dế với trẻ con, đợi tối mịt...
Lần thứ hai đôi mắt Thuận vụt sáng, nhưng không phải là những tia sáng mừng rỡ ban nãy... Anh hấp tấp cắt ngang lời cậu bé lúc chân tay anh bỗng run lên lẩy bẩy:
- Chọi dế như thế nào?
- Chú không biết chọi dế à?
- Biết chứ. Nhưng chú muốn hỏi cái chú bộ đội ấy chọi dế như thế nào?
- À... chiều hôm ấy, bọn trẻ làng Kè đang chọi dế chơi thì chú ấy tới. Chú ấy cũng xem chọi dế, rồi hỏi dò xem vợ chú ấy ở nhà có chuyện gì không. Từ khi chú ấy có giấy báo tử, cô ấy đã lấy ai chưa. Bọn trẻ chạy về làng gọi cô ấy ra tới nơi thì chú ấy bỏ đi mất...
Lũ trẻ đứa nào cũng giật nảy mình quay lại nhìn Thuận, mắt tròn xoe, ngơ ngác, còn chính Thuận không hề biết là anh vừa đập tay vào ngực mình, thét lên hai tiếng “Trời ơi” nghe thật xót xa.
Thuận lặng thinh đứng dậy, quên cả chào mấy cháu nhỏ. Anh không sang phà, mà thất thểu đi về phía thị xã. Té ra... Té ra là thế. Cái buổi chiều Thuận qua núi Go, gặp bốn đứa trẻ nằm ép bụng xuống cỏ xanh, đầu chụm vào chỗ mấy cái bao diêm nhốt dế, và la hét cổ vũ cho hai chú dế chọi đang xòe cánh đá nhau tanh tách. Thấy hay hay, Thuận bèn nhập bọn chọi dế, và hỏi đùa một câu:
- Này. Cô Lan có nhà không, các bạn nhỏ? Mấy đứa nhao nhao hỏi cô Lan nào? Lan cô giáo hay Lan thợ may? Thuận trả lời hú họa: “Lan cô giáo”, vì đoán các cô giáo làng nào mà chẳng thích lấy các loài hoa, hoa huệ, hoa cúc... đặt tên cho mình. Khốn nỗi, Thuận vừa trả lời xong, bốn đứa trẻ bỏ cả chọi dế, quây lấy Thuận để cật vấn.
- Chú là chú Bính?
- Chú là chồng cô giáo cháu. Đúng không?
- Sao mãi giờ chú mới về?
Một trong bốn đứa trẻ chạy như tên bắn xuống chân núi. Rất may là Thuận đã đuổi theo giữ nó lại.
- Cháu chạy đi đâu thế?
- Chú ơi - Đứa trẻ nói giọng nghèn nghẹn xúc động - cháu về gọi cô giáo. Chủ nhật vừa rồi xã mới làm lễ truy điệu chú Bính. Chú là chú Bính chứ gì? Trông nét mặt chú, chúng cháu biết ngay mà!
Đứa trẻ định giật tay ra khỏi tay Thuận để chạy tiếp khiến Thuận hoảng hốt, cố hết sức giãi bày. Nhưng anh càng giãi bày lũ trẻ càng không tin lời anh. Cuối cùng, Thuận đành rút tấm thẻ nhà báo chìa ra cho lũ trẻ xem...
Lúc sáng, chị Mai ở làng Vồm đã dặn đi dặn lại Thuận: “Dù có dù không, trên đường về, thế nào anh cũng phải ghé qua cho tôi biết tin. Nhé!”. Và Thuận đã hứa. Nhưng, giờ thì Thuận không thể thực hiện được lời hứa ấy. Anh đi như trong giấc mơ, mãi tắt mặt trời mới hay rằng mình đã đứng trước sân ga thị xã.
Có một chiến sĩ không biết từ đâu lại, đang mải miết bước trên những đám mây vàng. Khi anh đi xa rồi Thuận mới kịp nhận ra cái bóng của anh cao lớn làm sao. Chiếc quân hiệu trên mũ anh chính là ngôi sao hôm đang sáng long lanh ngoài chân trời. Thuận thì thầm:
“Quê hương vừa làm lễ truy điệu anh. Cha mẹ anh và con anh đang khóc anh. Nhưng vợ anh thì vẫn nóng lòng ngóng đợi anh về.
Về đi!
Mau chân lên. Anh chiến sĩ ơi!”.
 
Viết năm 1978.

Sửa lại 12/7/1992
Đăng nhập để trả lời
★ ★ ★ ★ ★ 0
NGƯỜI CHỮA BỆNH BẰNG NHÂN ĐIỆN

 

Phan ốm thập tử nhất sinh mất một dạo.
Người ta đã đóng sẵn cho anh cỗ quan tài, để ở đầu hè. Vợ con anh thì mua vải xô và vải trắng, chuẩn bị chu đáo cho cái giờ phút anh cất mình về với tổ tiên.
Vậy rồi không thuốc thang gì mà Phan khỏi bệnh. Anh mở mắt nhìn quanh nhà, y như vừa qua một giấc ngủ dài. Vợ anh đun nước cháo đổ cho anh vài thìa, xong, anh ngồi nhỏm dậy đòi đi thăm mấy người bạn hàng xóm.
Thôi rồi! Những người trải đời thì thầm vào tai chị Phan: Đến giờ chú ấy “đi” đấy. Kiếp người cũng giống như ngọn đèn. Đèn hết dầu, trước khi tắt bao giờ cũng sáng bùng lên chốc lát. Nhưng Phan không “đi”. Vài ngày sau anh ăn uống ngon lành, đầu óc tỉnh táo, đặt những bước chân chắc chắn dạo chơi trong vườn ngoài ngõ. Chỉ có điều khác lạ từ hôm khỏi bệnh, cả ngày Phan chỉ nói vài tiếng, và đôi mắt lúc nào cũng sáng long lanh như mắt người lên đồng.
Chẳng biết đâu phúc đâu họa, thấy chồng khỏe mạnh trở lại, chị Phan không rõ mình đang mừng hay đang lo mà trong người bổi hổi, cồn cào, đứng ngồi không yên.
Tình trạng này kéo dài chừng hơn một tháng thì xảy ra chuyện lạ. Lúc tảng sáng, con Vện nhà Phan bị bọn trộm chó vồ hụt. Nó la ăng ẳng chạy về, một chân sau bị đánh gẫy lìa. Suốt mấy ngày con Vện bỏ ăn, nằm rũ như mớ giẻ rách tấp vào góc nhà. Thương con chó, lại xót đồng tiền, vợ Phan bàn với chồng:
- Phải bán con Vện thôi mình ạ. Để nó chết dần chết mòn thế, thương quá.
Phan chưa nói sao, chị vợ đã ra khỏi nhà. Phan bước lại chỗ con Vện nằm, bàn tay vuốt nhẹ lên cái chân đau của nó, thủ thỉ như nói với một con người:
- Thói đòi bạc bẽo lắm Vện ơi. Người với người cũng thế thôi. Chừng nào mình là quả chanh vắt hết nước, chừng ấy họ quăng mình vào sọt rác. Biết làm thế nào!...
Phan đang nói dở câu thì gã bán thịt chó tay cầm cây thòng lọng sồng sộc chạy vào. Tức khắc con Vện nhe răng chồm tới, khiến gã hoảng sợ mặt tái xanh tái xám. May mà Phan kịp kéo con Vện lại, nếu không gã được “một bài học” nên thân. Gã vừa bước lùi ra cửa vừa sừng sộ với vợ Phan:
- Thế mà chị bảo nó què lệt, hử?
Vợ chồng Phan không biết nói thế nào với gã hàng thịt chó. Lúc nãy con Vện què lệt là đúng sự thực, bây giờ con Vện nhanh nhẹn và dữ tợn như một con sư tử, lại cũng là một sự thực hiển nhiên. Chuyện kỳ quái đến thế, phân trần hết nhẽ vẫn chẳng ai tin.
Gã buôn chó hậm hực ra về tay không. Con Vện miệng rên ư ử, hai chân trước quờ lên ôm ngang hông Phan, nước mắt chảy ròng ròng. Phan vỗ vỗ vào cái trán mượt lông của con Vện, gọi vợ:
- Mình xem này, nó đang cảm động!
Phan định nói với con chó rằng chủ của nó không tốt được với nó như nó tưởng đâu, nhưng lại thôi. Nói ra e mếch lòng vợ. Công bằng mà nói, chị Phan cũng rất quý con Vện, nhưng là quí lúc nó khỏe mạnh, vô cùng tận tụy với công việc một tên lính giữ nhà.
Còn khi nó gặp chuyện bệnh hoạn thì chị muốn hóa kiếp cho nó ở ngoài hiệu thịt chó, để nó thoát sự đau đớn dai dẳng. Âu tại cảnh nghèo mới sinh ra nhẫn tâm thế.
Chuyện con Vện qua con hiểm nghèo chỉ trong nhà biết. Chính vợ chồng Phan cũng chưa hiểu nguyên do từ đâu mà có sự dị kỳ ấy, nếu nói ra chỉ tổ mang tiếng là kẻ mê tín dị đoan. Nhưng, khoảng nửa tháng sau đó lại xảy tiếp một sự lạ nữa.
Ngày chủ nhật, Phan đến thăm anh bạn thợ tên là Vui - Trước khi ốm, Phan và Vui đứng chung một cỗ máy mài ở nhà máy cơ khí Ánh Hồng. Nhưng từ khi Phan khỏi bệnh, đã có người đứng máy thế chân anh, mấy tháng nay anh đang nghỉ hưởng 70 phần trăm lương chờ nhà máy xếp việc - Phan gõ cửa buồng Vui mấy lần, cứ nghe tiếng Vui vọng ra: “Vào đi”, mà cửa thì vẫn cài then bên trong. Lúc sau, thấy đứa con nhỏ của Vui ra mở cửa, Phan ngạc nhiên hỏi bố cháu đâu, thằng bé trả lời bố cháu ốm đang nằm trong buồng. Phan bước vào nhà, hỏi to:
- Ốm thế nào mà không dậy được, Vui?
- Chẳng hiểu thế quái nào - Vui đáp - Tối qua còn khỏe, sáng nay định ra tập thể dục thì không nhấc chân được nữa. Đau quá.
- Khéo lại thần kinh tọa.
Phan bước thẳng vào buồng, hỏi Vui đau ở chỗ nào, Phan sờ tay vào chỗ Vui chỉ, với ý nghĩ là xoa bóp cho bạn tí chút. Ai ngờ, bàn tay Phan vừa chạm vào da Vui, Vui đã kêu toáng:
- Sao tay cậu nóng như cái bàn là thế?
Kêu dứt lời, Vui hết đau ngay. Anh ngồi dậy mời Phan ra nhà ngoài uống nước. Pha nước xong, Vui tò mò hỏi Phan:
- Cậu vừa chữa bệnh cho tớ, kiểu gì lạ vậy?
Phan thành thật bảo có chữa gì đâu. Nhưng Vui không chịu, cãi lại:
- Rõ ràng là trước khi cậu đến, mình muốn trở người còn khó. Thế mà bây giờ không thấy đau đâu nữa... Đưa bàn tay đây xem nào!
Phan xòe bàn tay ra trước mặt Vui, đồng thời nhớ lại chuyện con chó Vện bỗng dưng lành vết thương hôm nào, trong lòng anh cũng sinh bán tín bán nghi. Chẳng lẽ trong người mình có chứa phép lạ mà mình không hay?
Sáng hôm sau Vui đem chuyện này kể cho những người trong nhà máy nghe. Buổi tối, khách kéo đến thăm Phan chật nhà. Họ đều là thợ của nhà máy Ánh Hồng, người mắc chứng đau lưng, người mắc chứng đau đầu, người bị điếc, người bị sai khớp, bong gân,... Mỗi người đều được Phan sờ vuốt cho vài cái, thế là họ hể hả ra về, khỏe mạnh như không.
Tiếng đồn lan nhanh hơn sóng điện. Ít hôm sau, những người ốm đau dị tật trong khắp vùng lũ lượt kéo nhau tới “thầy” Phan. Thoạt đầu họ ngồi chật nhà; rồi căng dù, che ô ngồi ngoài sân; sau nữa họ thuê giường ở các nhà hàng xóm để ngả lưng trong thời gian chờ đến lượt mình được vào “chịu phép” của “thầy”. Từ sáng tinh sương tới đêm, không lúc nào Phan ngơi tay. Khi con bệnh cuối cùng trong ngày mãn nguyện ra về, người Phan xác xơ như cái bã mía. Anh nằm vật xuống giường, chờ vợ bưng đến cho bát cháo loãng cầm hơi. Mệt quá, anh không tài nào nuốt nổi miếng cơm, phần khác còn vì gia cảnh vợ chồng anh càng ngày càng thêm túng bấn. Dù vậy, Phan tuyệt nhiên không nhận của ai một đồng tiền thù lao nào.
Một hôm, Phan đang chữa cho một bà già bị bệnh hen suyễn thì thấy một người phụ nữ sang trọng bước vào. Chị này nâng cái gói trên tay kính cẩn trao cho “thầy” Phan:
- Kính thầy. Lễ bạc lòng thành, xin thầy vui lòng nhận cho chúng con được nhuần ân đức của thầy...
Phan ngừng tay, hỏi:
- Chị đưa tôi gói gì thế?
- Dạ thưa thầy...
- Mở ra tôi xem nào.
Người phụ nữ mở cái bọc mùi xoa, mọi người trố mắt thấy trong đó là một sợi dây chuyền vàng chóe.
- Ồ... - Phan nói - Chị trả công đấy à? Sợi dây chuyền này nặng bao nhiêu?
- Dạ thưa thầy, chẳng đáng là bao. Nó chỉ được hai “cây” thôi ạ.
Phan lại quay sang tiếp tục chữa bệnh cho bà già bị hen. Anh khum khum bàn tay theo hình chiếc gương lõm “chiếu” vào vùng lưng nằm bên dưới bà vai của bà. Anh nói đủng đỉnh:
- Phúc trời ban cho tôi, chẳng lẽ chỉ đáng giá ngần ấy vàng thôi ư?
Người phụ nữ sang trọng kia bỗng hốt hoảng như chạm phải lửa. Lưỡi chị ta ríu cả lại.
- Dạ thưa thầy, ơn thầy như núi cao. Không được thầy cứu chữa thì chồng con khéo đã thành bùn thành đất, chứ đâu được làm ăn phát đạt như ngày nay. Vậy thầy thấy nên bao nhiêu là phải, chúng con không dám tiếc.
- E hèm. Chứ chồng chị bây giờ làm ăn ở đâu?
- Dạ thưa, chồng con đang hoạt động kinh doanh bên Mỹ ạ.
Phan tủm tỉm cười:
- Khá đấy nhỉ. Nhưng dù khá hơn thế vẫn chưa đủ trả công cho tôi đâu. Thôi, chị về đi. Nhớ làm ăn lương thiện, ích nước lợi nhà, tức là đã đền ơn cho tôi rồi.
Ít lâu sau, một con bệnh “đánh” xe con đến đỗ xịch trước cửa nhà Phan. Ông khách này quyền hành vào loại nghiêng trời lệch đất một phương, nhưng lại mắc cái bệnh “nan y” là trong người lắm mỡ quá. Cứ lâu lâu ông ta lại phải đi bệnh viện mổ bụng, lạng bớt khối mỡ bỏ đi. Chữa chạy theo kiểu tây y như thế kết quả không bền, cứ phải mổ đi mổ lại nhiều lần khiến ông đâm ngán. Ông đành tìm đến thầy lang Phan, thử một lần xem lời đồn của thiên hạ thực hư đến đâu. Và kết quả làm ông vô cùng kinh ngạc. Đôi bàn tay “nóng như hai cái bàn là” của Phan chỉ xoa quanh vùng mạng mỡ của ông một lúc, cái bụng của ông tự nhiên xẹp hẳn xuống...
Để đề phòng bệnh béo phì tái phát, vị này bèn nghĩ ra một diệu kế khiến ông có thể “tư hữu hóa” đôi bàn tay thần diệu của Phan. Ông đẩy cửa xe bước vào nhà, vỗ vai lang Phan và hỏi rất thân tình:
- Này. Không biết lấy gì trả ơn anh, tôi xin mời anh ra làm cấp phó cho tôi. Đồng ý chứ?
Phan hỏi lại:
- Ông mời tôi làm phó gì?
- Phó cho tôi ấy mà - Ông khoát tay chỉ quanh gian nhà tuềnh toàng của Phan - chuyện nhà cửa, xe cộ, người phục vụ, chậc, nói chung là mọi mặt đời sống từ nay anh chị khỏi lo.
- Nhưng tôi sẽ làm gì cơ chứ?
- Nói rồi. Làm phó cho tôi. Hiểu chưa?
Bấy giờ Phan mới nghiêm nét mặt, rọi đôi mắt sáng quắc vào con bệnh đáng kính:
- Phúc của Trời ban cho tôi là phúc thật. Còn việc ra làm quan với ông là làm việc giả. Tôi chưa bao giờ biết cái chuyện làm quan. Lẽ nào đem cái phúc thật để đổi lấy cái quyền giả? Thưa ông!
Vừa khuyên bảo vừa mồi chài khá lâu vẫn không kéo được lang Phan ra làm quan, vị khách nọ nửa đùa nửa thật dọa sẽ ra lệnh cấm Phan hành nghề. Ô! Phan có hành nghề bao giờ nhỉ? Bà con kéo nhau đến nhờ anh, thì anh giúp họ. Ngoài con số 70 phần trăm lương thợ, anh có sống bằng đồng tiền hạt gạo của ai? Đến vàng bạc châu báu anh còn chẳng thiết nữa là!
Cái đáng lo nhất đối với Phan hoàn toàn không phụ thuộc vào sự ủng hộ hay ngăn cấm của cái nhà ông bụng phệ kia, mà là ở chuyện khác.
Một đêm hai vợ chồng đi nằm muộn, Phan suy tính mãi rồi đi đến quyết định đành phải tiết lộ thiên cơ với vợ. Thiên hạ lũ lượt đến với Phan, rót vào tai anh những lời tâng bốc, êm ái, chẳng qua là họ cần được chữa bệnh, còn con người thật sự yêu thương anh, lo lắng cho anh, duy nhất chỉ có một mình người đàn bà gầy gò khắc khổ đến thành tiều tụy này.
Phan âu yếm kéo vợ nằm lại gần hơn, rồi ôm lấy người chị, vỗ vỗ vào mông chị như đang ru cho chị ngủ.
- Anh phải nói cho mình điều này, kẻo để lâu e muộn mất.
- Gì thế mình?
- Không có bất cứ một thứ bệnh tật nào của con người mất đi đâu, mình ạ.
- Ô... - Chị không giấu nổi ngạc nhiên - Mình nói thế em không hiểu. Hàng ngày mình vẫn chữa cho mọi người hết được bệnh tật đấy thôi?
- Không. Mỗi lần anh dùng dòng điện trong người anh truyền sang người họ. dù chính là lúc bệnh hoạn trong người họ nhiễm hết sang người anh đấy. Vì vậy, họ mới khỏe mạnh trở lại...
- Còn mình thì hứng vào người mọi thứ bệnh tật của thiên hạ? Phải thế không?
Phan thở dài buồn bã, khẽ gật đầu trong bóng tối:
- Phải.
- Trời ơi! - Người vợ thốt lên - Thảo nào em thấy người mình càng ngày càng nẫu ra, da dẻ mình càng ngày càng xám xịt!
Im lặng.
Người vợ bật khóc, giọng quả quyết:
- Từ mai, em cấm mình chữa bệnh cho thiên hạ!
- Không đành lòng đâu mình. Có thiên chức cứu sống được con người, lẽ nào mình đành đứng nhìn họ phải chết? Hơn nữa, “thiên hạ” là ai mới được chứ? Là bạn bè gần xa, là anh em hàng xóm láng giềng, là đồng bào, đồng loại. Họ đều đáng yêu và đáng thương lắm.
- Dào! Mình thương họ, nhưng ai thương mình. Nói dại, anh “có làm sao” thì ai nuôi dạy con cái cho anh?. Thôi, ngủ đi. Mai em sẽ rào ngõ lại, không cho ai vào nữa. Mình đừng trách em!
Hôm sau, chị Phan làm đúng như lời chị đã nói với anh tối hôm trước. Khách đến không ai vượt qua được bức rào gai dựng chắn ngang ngõ nhà Phan, nhưng không ai chịu quay về. Người nằm, kẻ ngồi, họ tràn cả ra đường rồi van nài, gào khóc đòi thầy lang Phan chữa bệnh cho bằng được.
Chờ khi vợ đi vắng, Phan lại tự tay mở một quãng rào ra cho các con bệnh túa vào. Mọi sự lại tuần tự diễn ra y như những ngày trước. Biết không có cách gì ngăn cản được công việc của chồng, chị Phan đành cắn răng chịu đựng, trong lòng lúc nào cũng phấp phỏng vì một tai họa hãi hùng sẽ chụp xuống cái gia đình bé nhỏ của mình.
Một buổi sáng trời chớm sang đông, mưa dầm, trước khi đi làm, chị Phan dặn chồng:
- Hôm nay bận gì thì bận, mình nhớ giúp em mua một mớ rau nhé.
Khi dặn chồng câu đó, chị Phan có dụng ý kéo anh ra khỏi cái vòng vây trùng điệp của những con bệnh được phút nào hay phút ấy. Nhưng hỡi ôi, cái chữ “mệnh” mới khắc nghiệt, tai quái làm sao!
Lúc Phan đi mua rau đã thấy một đám người đứng vòng trong vòng ngoài trước cổng chợ. Anh rẽ đám người, len vào trong xem có chuyện gì. Thì ra, một người đàn bà bịt khăn đen trùm gần kín mặt đang nằm thoi thóp chờ chết trên mặt đất lép nhép bùn lạnh.
Phan hỏi người đàn ông đứng gần anh: “Chị ta làm sao thế?”. Người này nhún vai bảo “không biết”. Phan lại hỏi những người khác, và vẫn không một ai giúp anh hiểu thêm được điều gì. Thấy có người ngã vật ra, họ xúm lại xem, thế thôi.
Phan đắn đo giây lát, rồi nói to:
- Các ông các bà đứng lui ra một chút để tôi chữa cho chị này.
Có vài người nhận ra anh. Họ vừa kháo nhau: “Ồ kia kìa, ông lang Phan đã tới”, “Thật phúc đức cho cái con mẹ này”, “Lạy trời. Sao ông lang thiêng thế”,... vừa xô lấn nhau để vào sâu bên trong hơn nữa. Lúc nãy họ tò mò xem một con người ngắc ngoái chờ chết, giờ họ lại tò mò muốn xem mặt ông lang Phan, xem ông lang có cứu được người đó hay không, và ông ta cứu chữa bằng cách nào.
Rất đơn giản. Lang Phan nắm chặt vào hai cổ tay người bệnh, mắt nhắm nghiền, và hình như đôi môi anh mấp máy nói câu gì không ai nghe rõ. Như thế chừng mươi phút sau thì lang Phan buông tay người bệnh ra. Anh dặn mấy bà đứng gần: “Lúc nữa chị ấy sẽ tỉnh, các bà nhớ cho chị ấy ăn bát cháo nóng”. Nói xong, lang Phan từ từ gục xuống, ngất lịm. Chất độc chứa trong máu con người đang nằm kia đã truyền sang người Phan!
Một ông xích lô từ tâm bế thốc lang Phan ra xe, chở đến bệnh viện cấp cứu. Lát sau, người trùm khăn đen bắt đầu cựa quậy chân tay. Rồi bất thần hắn đứng phắt lên, một tay rút con dao găm sáng loáng giắt trong cạp quần, tay kia lột tấm khăn đen bịt mắt, hét lên một tiếng khiến cà đám đông thất kinh dẫm đạp lên nhau chạy tá hỏa.
Đó là một tên tướng cướp hung ác và xảo quyệt khét tiếng. Hắn giả dạng người đàn bà và đang trên đường đi gây án thì bị ngấm thuốc độc do một địch thủ của hắn bí mật bỏ vào rượu.
Tên tướng cướp là một mối nguy lớn cho xã hội. Nhưng, thế là hắn sống lại rồi. Còn lang Phan lúc này không hiểu sống chết ra sao?
 
16/9/1995
Đăng nhập để trả lời
★ ★ ★ ★ ★ 0
NGƯỜI ĐI DẠO VEN HỒ

 
Bấy giờ đang là mùa xuân. Sau đêm mưa bụi mặt đất xông hơi ngào ngạt, trên hàng cây ban trơ trụi bên hồ Tây, những bông hoa màu trắng sứ bỗng nở bừng.
Bom Mỹ vẫn rơi xuống những đường phố rợp tán bàng, tán sấu.
Bom đạn giặc khiến con người sao nhãng trước những cành ban chi chít hoa. Song hoa ban vì thế càng đẹp, một rặng cây ban đủ làm nên một vòm không gian thanh thản, tĩnh lặng cõi thần tiên, rực rỡ, tráng lệ lẫn xót xa đau đớn... Chí ít, có một người là anh đã chiêm ngưỡng hoa ban trong hoàn cảnh ấy và nảy ra ý nghĩa ấy.
Anh mới ngoài ba mươi tuổi, mặt gầy, hơi xanh xao, người cân đối. Anh thường mặc chiếc áo len màu rêu rộng thùng thình, thỉnh thoảng mới mặc quân phục. Ngày nắng cũng như ngày râm, cứ vào lúc nắng chiều nhạt dần trên những đọt lá non, người ta lại thấy anh lững thững đi từ phía bộ Quốc phòng ra, im lặng, như đếm từng bước trên con đường thoáng đãng phân chia hồ Tây và hồ Trúc Bạch, chạng vạng tối mới về.
Bà chủ quán nước chè cạnh đền Quan Thánh là người đầu tiên để ý đến sự xuất hiện đều đặn của anh. Bởi chiều nào anh cũng tạt vào quán của bà mua một điếu thuốc lá, châm lửa, sau đó dọc hàng cây đi về phía đê Yên Phụ, và bà lại ngồi nhìn theo mái tóc dày của anh bị gió lạnh thổi hết dựng lên lại ép xuống. Anh không nghiện nhưng là người sành hút, ngoài loại thuốc Thăng Long - loại thuốc ngon nhất hồi đó - bán lẻ một hào một điếu, anh không hề động đến các loại thuốc khác.
Ít lâu sau bà chủ quán phát hiện thêm, anh là người đãng trí, và không coi tiền bạc là chuyện hệ trọng trên đời. Thường thường, anh gửi bà một vài đồng, rồi cứ thế mỗi chiều đến “lĩnh” một điếu thuốc Khi thì tiền hãy còn nhiều, anh đã đưa thêm. Lại có những ngày quên gửi tiền, anh vẫn điềm nhiên vào “lĩnh” thuốc. Bà Mão - tên bà chủ - biết mình thiệt mấy hào nhưng không muốn chi li với anh. Chẳng đáng là bao. Vả lại ở anh có cái gì hay hay, khang khác thế nào ấy. Bà muốn bắt chuyện với anh mà chưa có dịp. Anh đến và đi chỉ trong khoảng thời gian đủ để bà rút điếu thuốc trong bao ra trao cho anh, anh tước mảnh vỏ diêm châm vào ngọn đèn hoa kỳ vặn nhỏ đặt trên bàn, thêm cái gật đầu cảm ơn hoặc câu chào ngắn, là anh quay ra ngay. Người đâu mà ít lời ít tiếng thế!
Đến một buổi chiều còi báo động hú bốn, năm lần, trên loa phòng không thông báo máy bay địch cách Hà Nội 80km, 60km, 30km,... bom và đạn cao xạ nổ ì ùng như cơn giông thoắt dậy thoắt tan ở chân trời phía nam. Bà Mão đang định dọn hàng về sớm thì anh đến. Bà rút thuốc đưa cho anh, và chỉ vào cái ấm tích nước trà ủ trong mấy lớp bao bì.
- Ở đây mà uống nước, hút thuốc - Bà nói - Đừng ra ngoài kia.
Anh ngẩng nhìn, đôi mắt ngỡ ngàng.
- Ở đây có động dụng gì mà sẵn hầm hố - Bà Mão nói thêm, tay chỉ ra con đường hun hút hết hàng ban nối sang hàng phượng, hàng liễu - Chứ ngoài ấy, lỡ chúng ập đến...
Đó là lần đầu tiên anh bỏ thói quen đi dạo, ngồi lại trong túp lều tạm bợ dựng bằng vài tấm cót, dăm hàng lá cọ, dựa vào bức tường phủ rêu nhà đền, mặt hướng thẳng ra hồ Trúc Bạch lếnh láng như tấm gương để ngửa.
- Người ta đi sơ tán quang lắc hết cả - Anh nói với bà chủ quán - Sao bác còn ở lại đây?
Bà Mão têm miếng trầu, chùi dấu vôi dính tay vào chân bàn.
- Tôi cũng muốn đi lắm chứ.
- Sao bác không đi?
- Các cháu đứa trên khu gang thép Thái Nguyên, đứa ở Ninh Bình, chúng nó đi công tác ghé qua nhà mà không gặp mẹ thì tội lắm. Với lại... - Bà già ngập ngừng quay nhìn xuôi phía sông Hồng - Tôi còn một thằng đang ở ngoài kia. Anh có để ý thấy bộ đội bắc súng trên đỉnh cầu không?
- Có.
- Đơn vị thằng cháu nhà tôi đấy. Anh nghĩ mà xem, bày trò bán hàng bán quán thế này bất quá kiếm được vài đồng mỗi ngày, cốt cho nó khuây khỏa thôi. Cứ nghĩ đến đứa con ngồi trên bệ súng giữa lưng chừng trời mà xót cả ruột gan. Nói đổ sông đổ bể, bom đạn đội xuống nó “có làm sao” thì còn có mẹ có con...
Anh ngắt lời người mẹ một cách nóng nảy:
- Nếu cháu là anh ấy, cháu muốn bác đi sơ tán thật xa.
- Biết mà! Thằng nhà tôi hôm nào xuống cầu ghé về nhà cũng nằng nặc bắt mẹ đi sơ tán. Nó bảo mẹ không chịu đi thì con vướng súng không bắn được. Ra là thế - bà chép miệng - Các cậu chỉ sợ chúng tôi làm vướng chân vướng cẳng. Chứ các cụ nhà chú ở đâu?
- Cảm ơn bác. Bố mẹ cháu ở xa lắm.
- Thế là chú được “rảnh chân rảnh tay”, tha hồ “yên tâm”, nhỉ?
Bà Mão mỉm cười vô cùng đôn hậu.
- Không ạ. Ở chỗ cháu, cả làng phải ăn ngủ dưới hầm hàng năm nay rồi.
Bà Mão ái ngại nhìn nước da mai mái và đôi mắt thâm quầng của anh.
- Chú ở đây làm gì mà xem ra vất vả thế?
- Cháu làm linh tinh - Anh lảng tránh câu trả lời - Cháu giúp bác dọn hàng nhé. Sắp tối rồi.
Hai bác cháu nhặt mấy lọ kẹo xếp vào một đầu gánh. Còi báo động lại hú vang. Tiếng một cô gái từ ngoài công viên Lý Tự Trọng hét lên: “Mẹ!...”. Bà mẹ luống cuống bê cả cái khay chén trút vào vào thúng, giọng run rẩy:
- Rõ khổ. Báo động báo địa, ai khiến nó chạy ra!
Cô gái nhào vào lều như con gió lốc, suýt xô phải anh. Cô thở hổn hển, tay vơ vội những quả nhót, táo, bánh gai, bánh cốm, cả cái ấm tích nước chèn ném tuốt vào thúng. Anh kêu lên:
- Nhẹ tay kẻo vỡ!
Đạn cao xạ nổ bì bùm. Lần này máy bay địch chỉ dập dờn bên ngoài khung trời Hà Nội. Hai mẹ con gồng gánh ra về. Cô gái chững bước trước cái công viên rợp bóng cây rộng và con đường hun hút không một bóng người.
- Eo ơi, vắng quá!
- Vắng thì làm sao? - Bà mẹ hỏi.
- Con sợ...
Thật tình bà mẹ cũng thấy rờn rợn. Bà đưa mắt nhìn anh cầu cứu. Và anh đã lặng lẽ đáp ứng cái nhìn ấy. Hai mẹ con bà Mão líu tíu đi trước, anh rảo bước theo sau cách một quãng. Anh mỉm cười ngượng nghịu mỗi lần bà mẹ hoặc cô gái ngoái nhìn lại.
- Anh bộ đội ơi. Đi nhanh lên cho vui - cô gái dừng chân đợi - Nhà anh cũng ở phố này?
Anh dấn bước, hỏi cô gái, cốt có cớ bắt chuyện với nhau.
- Sao cô biết tôi là bộ đội?
- Em không biết.
- Sao lại thế?
- Không hiểu vì sao lại biết anh là bộ đội. Thật mà!
Cô nói rồi khúc khích cười. Chút ráng đỏ nền trời thành phố hồng lên chốc lát phía sau mấy ngôi biệt thự mái nhọn. Đường Quan Thánh xào xạc lá khô và những ngôi nhà vắng chủ đóng cửa im lìm. Tự nhiên anh nóng mặt bắt “quả tang” chính mình vừa nhìn trộm cái dáng đi mềm mại, mái tóc dài tiệp màu với lưng áo sơ mi gụ, và những đường cong quyến rũ trên người cô được nổi lên qua ánh đèn đường.
Anh đưa hai mẹ con bà Mão đến trước cánh cổng đóng bằng gỗ thùng, dưới tán cây so đũa lua tua những quả rồi quay lại, mặc dù bà Mão và cô gái cùng nài nỉ mời anh vào chơi nhà.
- Chiều mai anh vẫn ra đây chứ? - Cô gái hỏi khi anh quay gót.
Anh ậm ừ trả lời không ra có không ra không. Nhưng, chiều hôm sau, ngay từ lúc ánh nắng chênh chếch rọi qua khung cửa kính, anh đã muốn xếp tài liệu cùng những bản vẽ trên bàn lại, ngong ngóng chờ hết giờ làm việc để được đi dạo.
 
*

 

Chẳng bao lâu sau kể từ cái buổi chiều hôm ấy, anh và mẹ con bà Mão đã trở thành thân quen với nhau. Bà mẹ chiều chiều vẫn “phát” thuốc lá cho anh nhưng nhất định không lấy tiền. Cô gái thì chắc chắn đã cùng anh nhặt hoa ban và sánh vai đi dạo cùng anh trên đường Thanh Niên nếu cô không gặp cái nhìn ý tứ của mẹ ngăn lại.
Những bông hoa ban trên cành thưa dần, nhường chỗ cho lộc non nhú lên. Lộc non nở xòe thành những chiếc lá hình móng bò ấy là lúc trời bắt đầu oi nồng chuyển sang hè.
Mùa hè năm ấy thủ đô Hà Nội như một cánh cung dương sẵn đón đợi lũ ác điểu từ phía bên kia trái đất lao sang. Bọn chúng mới tìm ra một đường bay khá hiểm. Từ biển Đông chúng bay rất thấp theo triền sông Hồng tránh tầm quét của ra-đa, tới quãng bến phà Trương Lương chúng mới bất thần vọt lên cao lấy đường ngắm để phóng tên lửa và cắt bom xuống cầu Long Biên, xuống nhà máy điện và xuống những khu phố sầm uất. Còi báo hú động hú liên miên. Ngày ngày khó lòng đếm hết những lần mảnh đạn rơi xeo xéo xuống mái nhà và xuống mặt hồ. Cái mũ rơm trở thành vật bất ly thân cho những ai vì công kia việc nọ chưa đi khỏi thành phố. Anh hồi này không còn đi dạo buổi chiều được đều đặn như trước. Thỉnh thoảng anh lại vắng mặt dăm bảy ngày liền, để sau đó vừa thoáng nghe tiếng chân anh bước lại gần, cô con gái út của bà Mào đã mừng đến tái mặt. Bà mẹ được gặp lại anh cũng mừng không kém, nhưng bà quay mặt làm ngơ, mặc cho cô bé dúi vào tay anh từng bao thuốc còn đầy nguyên.
Một lần, lúc dúi thuốc lá cho anh, cô đã kiễng chân nói thầm với anh:
- Anh cầm lấy kẻo mẹ mắng em!
- Anh... Anh chỉ xin một điếu...
- Cầm lấy! Rồi em nói chuyện này, hay lắm.
- Chuyện gì, em?
- À thôi. Đến mai...
Dù không quay lại, bà mẹ vẫn hình dung ra đôi mắt con bé đang nhìn “thằng kia” đắm đuối như thế nào. Bà vừa hoan hỉ vừa e ngại. “Nó” là người tốt thì đã, nhưng con gái bà làm thế liệu có nông nổi quá hay không. Còn anh, những giây phút như rơi vào khoảng chân không màu tím bát ngát, khi định thần lại, người vẫn còn lảo đảo như say mùi thơm kỳ diệu từ má và từ tóc cô gái phả vào mặt mình.
Chiều hôm sau, tức là ngày “mai” của cô gái, mặt trời đã lặn khuất sau cái đường viền cây cối óng ánh phía chân trời làng Bưởi, cô vẫn còn nấn ná trong túp lều quán của mẹ. Cô xếp mấy cái chén vào thúng, lát sau lại bày lên mặt bàn. Đôi bàn tay cô cứ lóng ngóng nhặt cái này bỏ cái kia. Tới chừng không thể kiên nhẫn hơn được nữa, cô bật lên một tiếng thở dài.
- Sao hôm nay anh ấy ra muộn thế mẹ nhỉ?
- Thì mặc “người ta”. Nhắc làm gì?
Bà mẹ trả lời thế nhưng mắt lại nhìn ra đầu rặng ban, có ý chờ anh.
Còn anh thì đã rời Hà Nội từ lúc khuya đêm hôm trước. Chiếc xe com-măng-ca chở anh phóng vun vút trên quốc lộ 1, khi qua cầu Phủ Lý bị bom đánh nham nhở anh chợt nghe tiếng gà gáy sáng bên đường. Anh giật mình không nhớ anh đã khóa cửa phòng làm việc hay chưa. Cả đến khăn mặt, bộ quần áo lót phơi trên dây, và cái mũ sắt úp trên tủ tài liệu anh cũng bỏ quên ở nhà. Rửa mèo dăm hôm đã sao! - Anh tự an ủi - Chỉ cần hai thứ: Tờ lệnh đi đường đặc biệt, và cái cặp đựng những tính toán cuối cùng về VF đừng quên là được.
Nhờ phép màu nhiệm của tờ lệnh đặc biệt, không một ai dám làm chậm trễ thời gian của anh. Cầu bị bom phá sập, dân quân phải dỡ nhà, đẵn chuối kết bè đưa xe anh qua sông giữa ban ngày. Người ta phải huy động cả tiểu đoàn thanh niên xung phong ra gỡ vội bom nổ chậm và lấp hố bom cho xe anh qua. Người ta phải cắt phiên nhau thay lá ngụy trang để không một ngọn lá nào kịp héo, và canh gác chung quanh chỗ xe anh đậu... Chiều hôm, khi ở cái quán nước chè bên đền Quan Thánh bà già và cô gái khắc khoải mong anh đến, thì xe anh đang thận trọng chạy nốt những thước đường cuối cùng của miền Bắc - nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa - trên đất Vĩnh Linh. Rồi ngay chập tối hôm đó, ở bờ bên kia sông Bến Hải, các đồng chí trinh sát bộ đội đã đợi sẵn để đưa anh đi tiếp vào đất địch.
Đường còn kéo dài thêm mấy chặng đêm đi ngày nghỉ, len lách giữa tiếng súng bắn cầm canh trong các ấp chiến lược, giữa từng chùm pháo sáng vàng vọt từ máy bay thả xuống và do bọn địch dưới đất bắn lên. Nghe cát lún dưới chân, tiếng rừng phi lao truốt gió à à, và thứ ánh sáng phao phao màu tro vạc từ bên dưới hắt lên vòm trời, anh biết mình đã tiến gần tới biển. Người lái xe đang giấu xe trong hầm chờ ngoài thị trấn Hồ Xá bên bờ bắc. Sau cái vành vô làng nhẵn bóng ấy, anh như nhìn thấu mấy trăm kilômét đường về hậu phương, với điểm nút là cái quán nước chè tựa lưng vào tường đền Quan Thánh. Những ngày căng thẳng nhất ngoài đó, so với trong này chỉ đáng coi như một khúc dạo đầu, một thứ “trang sức” của chiến tranh. Vậy mà anh bỗng lo thắt ngực khi nghĩ, biết đâu lại chẳng có một quả bom rơi lạc vào cái quán tí xíu ấy. Hình ảnh những đại lộ, những quảng trường, phố xá phập nhòa hiện lên trong tâm trí anh, đâu đâu cũng thấp thoáng đôi gót chân nhỏ hồng hồng như gõ cho nền đất thủ đô âm vang thành khúc nhạc nẫu lòng...
Lạ thay. Sự rung động cháy bỏng này chỉ dội lên trong anh một lần ngắn ngủi như thế, để rồi bẵng đi ngót chục năm trời anh sống như một người chưa từng biết yêu, hơn thế, một người không hề có quá khứ.
 
*

 
Trái VF đã được cơ sở bí mật chuyển đến một động cát ở phía nam quân cảng Cửa Viềng. Phương án tác chiến của trận đánh đã được cấp trên phê chuẩn. Các chiến sĩ đặc công nước đều đã tập dượt khá chu đáo cách sử dụng loại vũ khí lần đầu tiên “ra mắt trình làng” này. Tất cả những gì có thể làm để tăng thêm sức công phá, tăng thêm sức bám và khả năng định hướng, đồng thời giảm tới mức tối thiểu sự nguy hiểm cho những người sử dụng VF, anh và các cộng sự của anh đều đã làm. Bây giờ xông pha mấy trăm cây số đường bom đạn vào đây, anh tự lấy thân mình, niềm hy vọng cùng nỗi lo âu vô bờ bến của mình làm “vật bảo đảm” trước những người sắp đưa VF lên đường xuất trận.
Thoáng cái đã một tuần trôi qua ở khu căn cứ du kích - một lõm rừng trồng toàn cây sắn sơn thuyền, bị bom và đạn đại bác cào qua quét lại không biết bao nhiêu lần - Một tuần anh hầu như không ăn, vì nóng nực, chia nhau từng bát nước lờ lợ vị nước biển, mồ hôi lẫn với hơi muối tanh tanh lúc nào cũng dấm dứt trong người; và tệ hại hơn, dạ dày của anh chưa thể làm quen với những miếng cơm lạt sạt cát do gió biển phá vào. Một tuần đêm nào anh cũng bị dựng dậy vì những quả đạn 406 milimét từ tàu chiến Mỹ bắn lên nổ như sét đánh trên đầu. Sau mỗi đợt bị pháo kích như thế, mấy chiến sĩ bảo vệ lại chạy đến lo chèn lại vách hầm, nắp hầm cho anh. Nhiều lần thấy lửa nháng xanh lè trên mặt đất, các chiến sĩ vội ôm chặt lấy người anh, che mảnh đạn cho anh, và để anh đỡ giật mình.
Dù vậy, nguyên nhân chính làm anh khó chợp mắt lại không phải là những tiếng nổ hãi hùng ấy. Cái đêm anh cùng trung đoàn trưởng và chính ủy trung đoàn tiễn bốn người chiến sĩ lên đường làm nhiệm vụ, dưới trời sáng sao, người mũi trưởng cứ nắm chặt tay anh, dùng dằng mãi trước con đường mòn băng qua bãi cỏ lông chông, ngoằn ngoèo một vệt sáng mờ mờ màu vỏ hà.
- Hình như anh còn chưa yên tâm điều gì? - Anh thì thầm hỏi.
- Tôi... Tôi... Tôi...
- Xin anh đừng ngại!
- Về cái nút tự hủy ấy mà, - cuối cùng, người mũi trưởng đã nói ra cái điều đang làm anh băn khoăn. - Chỉ riêng việc ấn cái nút ấy chúng tôi không thể tập dượt. Hy sinh tính mạng, không đáng ngại, nhưng nếu bị sa vào tay địch thì...
- Tôi hiểu - Anh xúc động ôm ngang người chiến sĩ - Hy vọng là các anh không phải “thử” đến nó!
Anh mũi trưởng bật cười khe khẽ . Tiếng cười khô khan, gắng gượng, chứa đựng cả lòng dũng cảm vô song lẫn nỗi luyến tiếc cuộc đời của anh mũi trưởng bỗng làm người anh như lệch hẳn đi một bên, chỉ vì cái nút bé xíu gắn phía đuôi quả VF. Một khi buộc lòng phải chọn lấy cái chết, người chiến sĩ chỉ cần làm một động tác không gì đơn giản hơn, là ấn nhẹ vào nó... Cà cái khoảnh khắc bi thương và hùng tráng tuyệt đỉnh ấy, anh - người chế tạo vũ khí - cũng đã phái nghĩ tới nó, nghĩ tới nó một cách thật hoàn hảo!
Kể từ hôm mũi đặc công xuất phát, cứ vào quãng chín, mười giờ đêm trung đoàn trưởng lại sang hầm của anh chơi. Trung đoàn trường người cao lớn, da đen kịt, lớn hơn anh dăm tuổi. Từ dáng người đến đôi tay, đôi chân của người chỉ huy này trông đều có vẻ nguệch ngoạc, thô tháp, nhưng mọi cứ chỉ của anh lại rất mềm mại, lanh lợi như một nhà thể thao điền kinh. Cả trong lời lẽ và cách cư xử của trung đoàn trưởng cũng thế, thoải mái, phóng khoáng và tế nhị.
Trung đoàn trưởng thường bắt đầu câu chuyện bằng cách hỏi xem việc phục vụ anh có chu đáo hay không. Anh có đủ nước rửa ráy, cách nấu nướng “con nhà lính” có hợp khẩu vị của anh, anh có cần thay quần áo thì cứ thay, sẽ có người giặt hộ. Anh rất biết ơn sự chu đáo của những người ở đây nhưng lại ngầm bực bội thấy mình được giữ gìn như một thứ đồ dễ vỡ: Cơm, nước đều có người mang đến, hầm hố có người đào và lo tu sửa, đến việc anh muốn ra hố bom tắm giặt cho thoải mái cũng không được.
Họ sợ anh lớ ngớ không biết tránh bom, tránh pháo lỡ anh vấp phải mìn, lỡ anh gặp thám báo địch, lỡ máy bay trực thăng địch đổ chụp xuống bắt mất anh.
Vì thế, dù mấy hôm nay mồ hôi và bụi cát bết vào quần áo anh, vừa chua khét vừa ngứa ngáy, anh đành cắn răng chịu, chờ ít hôm nữa ra Hồ Xá tắm giặt luôn thể.
Sự thực là anh đã có thể trở ra Bắc ngay sau khi mũi đặc công xuất phát, nhưng anh không muốn, và không nỡ lòng làm như thế. Những quá bom từ tàu chiến Mỹ ngày ngày bắn vào đất liền giống như một lời thách đố, trêu ngươi, cầm giữ chân anh lại.
Những gian khổ ở khu căn cứ vùng cát rồi cũng qua đi. Mọi người chịu được, anh cũng chịu được. Duy có nỗi chờ đợi - chờ đợi tiếng gầm của VF ngoài biển khơi - chậm giờ nào anh như bị lửa đốt trong gan ruột giờ ấy. Vậy mà tin tức về bốn chiến sĩ đi làm nhiệm vụ vẫn bặt tăm. Còn những bức điện khẩn từ Vĩnh Linh đánh vào cho anh thì lại ngày một thêm dồn dập, sáng một bức, đêm một bức, vẫn một nội dung giục anh ra nhanh, xe đang chờ.
Một hôm, trước bữa cơm tối, anh chiến sĩ cần vụ đến mời anh sang gặp trung đoàn trưởng. Anh chạy vọt ra khỏi hầm, trống ngực đập loạn xạ, nghĩ là có tin về trận đánh. Nhưng anh đã nhầm. Trên mảnh bàn ghép bằng cành cây trong hầm của trung đoàn trưởng đặt một ngọn đèn úp trong ống bơ, ánh sáng hắt qua cái lỗ nhỏ như con mắt cá, anh ngạc nhiên thấy mấy đĩa thức ăn còn bốc hơi nghi ngút và hai chai bia.
- Mời kỹ sư! - Giọng trung đoàn trưởng trịnh trọng khác thường - ta vừa ăn vừa bàn công việc. Chắc giờ này chưa “có chuyện” gì đâu - Anh hiểu trung đoàn trưởng muốn nói tới hoạt động của pháo binh hải quân địch.
Trong lúc người lính cần vụ rót bia ra hai cái cốc giấy xếp - loại cốc lính Mỹ vẫn dùng trên các đồn bốt - trung đoàn trưởng đưa anh xem một bức điện mới nhận được.
- Lần này chúng ta phải chia tay nhau rồi kỹ sư ạ. Bộ Tổng gọi anh về.
Anh đọc xong, gập bức điện bỏ vào túi, cài cúc cẩn thận, đầu nghiêng nghiêng như mái nhìn vào cái hạt sáng le lói trên thành ống bơ.
- Tôi nghĩ là tới đây xem như kỹ sư đã hoàn thành nhiệm vụ - trung đoàn trưởng lại nói - Tôi thật lòng vừa trọng cái tài vừa mến tính nết của anh. Chính vì thế tôi không muốn anh nấn ná ở đây lâu. Bom đạn vốn không biết nể nang riêng một ai cả...
Nói rồi trung đoàn trưởng rót thêm bia, gắp thêm thức ăn vào bát của anh. Những người ở liền kề với biển nhưng phải đãi nhau toàn bằng giò hộp, trứng hộp, thịt hộp chiến lợi phẩm thu được của lính Mỹ. Nghề chài lưới ở vùng này đã tan tác từ lâu. Dân ở các vạn chài người đi bộ đội Giải phóng, người đi lính ngụy, người vượt sông Bến Hải ra Bắc, người dắt díu nhau chạy vào thành phố hoặc dạt lên dãy Trường Sơn, số còn lại thì bị dồn vào bên trong những lớp rào kẽm gai của ấp chiến lược. Không hiểu giữa cánh đồng bị bỏ hoang và mặt biển bỏ hoang bên nào trông buồn bã, tiêu điều hơn.
Im lặng hồi lâu, rồi anh ngước nhìn gương mặt trung đoàn trưởng mồ hôi láng ánh đèn nhóng nhánh màu than đá.
- Xin hỏi: Các anh định thu xếp cho tôi đi như thế nào?
Trung đoàn trưởng giơ tay nhìn đồng hồ:
- Tôi đoán, đêm nay chúng sẽ bắn pháo vào quãng 11 giờ. Dùng cơm xong, kỹ sư còn có thể tranh thủ ngả lưng được vài tiếng. Sau đợt pháo khuya tôi sẽ cho giao liên đến đón anh. Anh có gì phải chuẩn bị không?
Ở đây, việc phán đoán “thòi gian biểu” hoạt động của không quân và pháo binh địch chẳng có gì là khó. Đêm ấy, đúng như lời trung đoàn trưởng từ 11 giờ đến 11 giờ rưỡi, cả vùng căn cứ kháng chiến bị chìm ngập trong một “dàn đồng ca” của pháo binh hải quân Mỹ. Cái nắp hầm dày 1 mét của anh bị phá vỡ trong nháy mắt. Những đoạn thân cây to bằng bắp chân lát ngang nắp hầm sau khi không còn lớp đất dày bên trên, chúng bị tiếng nổ lúc thì xô cụm lại, lúc thì nhảy tâng tâng như có người đặt nắm đũa lên cái mặt trống mà khua thật lực.
Việc có ý nghĩa nhất mà anh làm được lúc đó là ôm ghì cái cặp tài liệu, mắt nhắm nghiền, trong lòng trào lên nỗi tiếc đời và một ước ao duy nhất là được sống. Nếu sống - anh nghĩ - mình sẽ làm việc gấp nghìn lần hơn thời gian đã qua. Nếu sống, mình sẽ trở thành một tài năng lỗi lạc, sẽ là người số một đóng góp cho đất nước và cho đời. Nhưng trước hết, phải được thở cái đã. Ngạt quá...
Anh ngất đi mất một lúc. Khi tỉnh dậy, câu đầu tiên anh hỏi là “giao liên đã đến chưa?”. Chị bác sĩ của khu căn cứ tiêm thêm cho anh một ống thuốc, rồi bằng giọng đặc Quảng Trị, bảo anh hãy nằm im, đêm nay chưa lên đường ra Bắc được.
- Vì sao? - Anh hỏi.
Im lặng.
- Tôi có thể đi được - Anh nói thêm - Chị đừng ngại.
- Không phái vậy mô, eng!
- Thế thì vì sao?
- Vì... vì con Út hy sinh mất rồi.
- Út là ai?
- Là giao liên dẫn eng đi đó. Eng chưa biết mặt con nhỏ, hỉ?
Anh cố nhớ lại mấy cô gái thường qua lại trước cửa hầm anh ở. Cô nào tên là Út? Một cô thấp đậm, ngăm ngăm, tóc tết đuôi sam, hay quàng chiếc mũ tai bèo màu tím Huế lật ra sau gáy. Một cô cũng thấp nhưng da rất trắng mặt tròn, môi lúc nào cũng đỏ mọng. À hay là... Ý nghĩ của anh dồn đọng ở hình ảnh một cô gái cao dong dỏng, thích mặc áo sơ mi quân phục nam giới với khẩu súng AK báng gập đeo bên hông. Chính cô gái này đã có lần bắt gặp anh đứng tựa lưng vào cây sắn trước cửa hầm, đầu óc nghĩ vẩn vơ, mãi lúc nghe cô nói ở sát phía sau: “Coi bộ này là kỹ sư nhớ Hà Nội hung rồi?...” anh mới giật mình quay lại, miệng lúng búng:
- Chào cô.
- Đúng không. Eng?
- Cô bảo đúng gì?
- Có đúng là eng đang nhớ Hà Nội?
- Hình như cô đoán nhầm.
- Răng lại “hình như”?
- Vì ngay ở tôi, tôi cũng không nhớ tôi vừa nghĩ gì.
Cô gái che miệng cười, và bấy giờ anh mới kịp nhận ra cô có giọng nói trong trẻo như tiếng chuông reo.
- Tội nghiệp con nhỏ - chị bác sĩ nói trong hơi thở dài xót tiếc - Nó là sinh viên ở Huế ra. Hồi đầu nó cũng sợ cơm lắm sạn, sợ nước lợ, sợ nằm võng, sợ đêm tối, ôi thôi sợ đủ thứ. Vậy mà chỉ mấy tháng sau đã thành o giao liên gan cóc tía. Nhưng rồi chỉ một miểng pháo là xong!
Chị bác sĩ nói mà như xát muối vào lòng anh. Nếu như lần này quả VF sẽ “làm sao”, anh thật có lỗi với vong linh của Út và với mọi người hiện có mặt ở đây.
Cuộc lên đường của anh bị hoãn lại một ngày, rồi một ngày nữa. Không những không sốt ruột, anh còn lấy thế làm mừng. Sau cơn ngất vì bị sức ép, anh nằm thiêm thiếp trên tấm võng căng giữa hai cây cột chống hầm. Anh ngủ li bì, ngủ ngay cả những khi vòm trời bị nắng nung hầm hập, mồ hôi thấm ướt đẫm lưng võng. Hễ có lúc nào đầu óc tỉnh táo là anh lại nơm nớp lo: Nếu ngay phút này bọn địch lại nã pháo lên, liệu mình còn đủ sức chống đỡ với những tiếng nổ như gươm chém ngang người hay không?
May mắn cho anh, suốt ngày, rồi cả đêm hôm đó máy bay trực thăng, máy bay trinh sát địch bay lượn như chuồn chuồn đáp nước từ ngoài khơi vào tới chân rừng Trường Sơn, nhưng pháo biển bắn lên thì tịnh không một quả.
Chiều hôm sau nữa - kể từ đêm địch dội pháo vào đúng căn cứ - anh thấy người khỏe trở lại. Sẩm tối, anh sang chào tạm biệt trung đoàn trưởng để khi giao liên tới anh sẽ lên đường theo kế hoạch.
Dưới căn hầm thùng tối sền sệt, anh chỉ nhận ra cái bóng trung đoàn trưởng cởi trần ngồi chìa tấm lưng đồng hun ra phía bậc lên xuống, một tay cầm cái máy thu thanh bé tí áp vào tai. Nghe tiếng anh chào, trung đoàn trưởng không ngoảnh lại, ra hiệu bảo anh ngồi gần lại cùng nghe. Từ trong chiếc máy nhỏ vọng ra giọng khê khê, hơi lè nhè của phát thanh viên đài BBC đang đọc bản tin chiều, “một tàu chiến Hoa Kỳ bị...”. Khi cái giọng lè nhè ấy chuyển qua mẩu tin khác, trung đoàn trưởng liền tắt máy, đứng dậy nói rất nhỏ:
- Mời kỹ sư vào. Bản tin đêm chắc thế nào các đài phương Tây cũng nhắc lại tin này.
- Có phải đó là tin về...? - Anh hồi hộp cổ họng khản đặc. Trung đoàn trưởng gật đầu:
- Phải. Bọn cậu Luận đấy!
- Ôi. - Anh reo lên. - Tiếc quá, tôi chỉ nghe được vài câu cuối cùng. Cụ thể thế nào, anh?
- À thì... - Trung đoàn trưởng bật lửa châm vào cây đèn hạt đỗ - Tụi nó đưa tin là “một tàu chiến Hoa Kỳ bị trúng thủy lôi của Việt Cộng hư hỏng nhẹ”. Tiên sư chúng nó, “hư hỏng nhẹ” nên mới phải câm họng mấy hôm nay!
Anh chợt hiểu nguyên nhân vì sao suốt mấy chục tiếng đồng hồ vừa qua không một quá pháo rơi xuống vùng này.
- Chiều nay, cơ sở dưới đó cho biết - Trung đoàn trưởng nói tiếp - Nó bốc cháy suốt ba tiếng đồng hồ trong đêm. Sáng ra bà con miềng còn nhìn thấy cột khói bốc cao ngoài khơi.
- Còn anh em ta?
Đến đây, trung đoàn trưởng bỗng ngồi lặng.
- Hở anh? Có ai việc gì, hay mất cả rồi?
Anh hỏi hối hả, run run sắp bật khóc. Trung đoàn trưởng đặt tay lên vai anh, nói thì thầm:
- Tôi đề nghị đồng chí phải thật bình tĩnh mới được. Rất may là còn cậu Luận...
- Còn ba người kia?
- Họ đã hy sinh tại chỗ. Cậu Luận thì bị thương, đang phải nương náu trong một gia đình cơ sở.
- Khi nào anh cho đón anh Luận về?
- Chờ cho bọn địch “giã” cơn choáng váng đã. Hiện thời chúng đang lồng lộn như bầy chó điên dưới đó. Trung đoàn trưởng ngắc ngứ, cố tìm một cách diễn đạt khác mà không được, đành lần tay sang bóp chặt bàn tay anh:
- Kỹ sư ạ. Tôi buộc lòng phải nói, để ra ngoài đó các anh xem lại xem sao. Cậu Luận nhắn cơ sở nên đề nghị cấp trên hãy tạm dừng việc sử dụng VF...
Trung đoàn trưởng không nói nữa, còn anh thì như vừa bị một trái bom nổ trong đầu, hai tai anh ù đặc, ánh đèn nhảy nhót tóe ra những ánh chóp màu hoa cà, và anh thấy vô cùng ngột ngạt trong hơi thở của mình. Trung đoàn trưởng vỗ nhè nhẹ lên bàn tay anh:
- Phải chờ Luận về mới biết cụ thể. Anh đừng quá nghĩ như thế. Thắng, bại trong chiến đấu là chuyện thường tình. Có lẽ anh nên ngả lưng một lúc lấy sức đêm nay đi.
Anh bước về hầm mình như người mất hồn. Trong óc ngập lên những câu hỏi về cái nút tự hủy, về tác dụng của lực ly tâm ở cái bánh xe hẹn giờ, về nguyên lý cân bằng và định hướng lực của trái VF.
Ba chiến sỉ giao liên đến chỗ anh vào lúc quá nửa đêm, có trung đoàn trưởng đến cùng với họ. Trung đoàn trưởng trao cho anh một gói nhỏ đựng mấy hộp thức ăn để anh dùng trên đường, rồi ôm chặt lấy anh. Nhưng ngay lúc đó anh đã trả lại gói quà và nói với một tâm trạng hoàn toàn tỉnh táo:
- Tôi không thể ra được! Không thể, anh ạ.
- Sao thế? Trưng đoàn trưởng sững người hỏi lại.
- Vì sao, chắc anh đã hiểu. Nếu anh không ngại một người như tôi đi theo đơn vị anh thì đề nghị anh điện giúp ra Bộ: Tôi xin ở lại để tìm hiểu thêm về những khuyết điểm của VF...
Trung đoàn trưởng còn đang ngần ngừ, anh lại chụp lấy bàn tay to bè của trung đoàn trưởng, khẩn khoản:
- Anh không ngại có tôi ở đây chứ? Anh không ngại chứ?
 
*

 
Khoảng hai tháng sau cái đêm ở khu căn cứ rừng sắn, anh gửi về Hà Nội một tài liệu viết hết sức tỉ mi nhằm loại bỏ ảnh hưởng của mọi cấp sóng biển và nâng VF lên thành một thứ vũ khí bán tự động chuyên dùng cho binh chủng đặc công hải quân. Thêm mấy tháng chờ đợi, đề nghị của anh mới nhận được hồi âm. Đó là sự ra đời của VF2.
Năm sau, khi chính quyền Nguyễn Văn Thiệu hỉ hả tuyên bố rằng họ đã bẻ gãy xương sống Việt Cộng, và bắt đầu chương trình bình định nông thôn miền Nam, thì cả một giang đoàn lính ngụy tan xác trên sông Tiền vì những tiếng nổ của thế hệ kế tiếp VF2, tức VF3. Sau đó, VF3 liên tiếp lên tiếng vang dậy ,ở các vùng biển Hội An, Cam Ranh, Bà Rịa, sông Lòng Tàu...
Rồi giữa những ngày anh loay hoay tìm cách nâng cao VF3 thành VF4 thì “đùng một cái” miền Nam đã hoàn toàn giải phóng.
Anh không có cái may mắn làm người lính tiến vào giải phóng Sài Gòn. Khi những cánh quân từ giã rừng xanh, xe pháo, súng đạn rùng rùng tiến về đồng bằng bát ngát, anh còn đắm chìm trong vài ba hệ phương trình cực kỳ hóc búa. Những người chỉ huy thừa biết là không nên làm gián đoạn công việc của anh, họ bèn xếp anh vào danh sách những người ở lại trồng rau, trồng sắn và trông coi hậu cứ. Không khí của những ngày sôi động nhất trong suốt cuộc chiến tranh kéo dài mấy thập kỷ dường như chỉ giống một làn gió nhẹ lọt xuống căn hầm có chiếc bàn ngập ngụa giấy má của anh.
Mãi đến một buổi sáng chiếc xe của bộ tư lệnh Miền từ Sài Gòn lên đón anh, anh mới giật mình thảng thốt: Cái mục tiêu bấy lâu nay VF4 đau đáu nhằm tới thế là không còn nữa! Anh không hiểu mình đang vui hay đang buồn. Đống tài liệu mà từng phép toán, từng dòng chữ đều là máu của anh được xếp gọn lại cho vào một cái hòm sắt để hai anh lính trẻ khiêng ra xe. Anh chỉ giữ lại một phong thư tình cờ tìm thấy trong lúc xếp sắp giấy má. Phong thư chưa được mở ra, bị những chồng giấy nén chặt, và bị hơi ẩm dưới hầm làm dính đét lại như một miếng bìa dày. Khó khăn lắm anh mới đoán được những nét chữ nhòe nhoẹt ngoài phong bì là tên cô gái từ Hà Nội gửi vào cho anh. Anh đau đớn vì ân hận, không thể nhớ bức thư ấy đến với anh từ năm nào, và vì lẽ gì anh không kịp bóc ra đọc xem cô gái nói với anh những gì trong đó. Trời ơi! Dãy cây ban và túp quán nước chè bên đền Quan Thánh!...
Thấy anh cứ đứng ngơ ngẩn trước cánh cửa chiếc xe du lịch màu cà phê sữa đã mở sẵn, cậu lính trẻ chạy lại, lễ phép chỉ vào tấm đệm nhung phía sau chiếc ghế của người lái:
- Thưa chú. Mời chú vào xe ạ.
Anh lom khom cúi mái đầu đã loáng thoáng những sợi tóc bạc, dáng vụng về, lụ khụ của một ông già bước vào cái xe sang trọng. Tiếng cửa xe sập lại rất êm. Tiếng máy xe nổ rất êm. Anh như trôi nhẹ trên quãng đường võng vãnh bùn nước trước khi ra tới quốc lộ. Không hiểu sao, trong cánh rừng hậu cứ mấy tầng cây bịt bùng, giữa bầu ánh sáng vang vang bên dưới các tán lá, anh bỗng thấy đâu đâu cũng mọc toàn những cây ban vừa tàn hoa và lộc non đang nhú trên cành.
Bất giác từ trong người anh trút ra một hơi thở dài hết cỡ. Anh thả cho toàn thân chùng xuống như một mảnh vải vắt vào lưng ghế. Lần đầu tiên trong đời anh nhận biết sự mất mát, không một thứ vinh quang nào, hoặc châu báu ngọc ngà nào có thể bù đắp được.
 
Sài Gòn, 17/5/1975

Chép lại tại Hà Nội, 17/7/1994
Đăng nhập để trả lời
★ ★ ★ ★ ★ 0
NGƯỜI GẦM

Hết chiến tranh tôi còn làm lính thêm bảy năm nữa rồi chuyển ngành ra một cơ quan dân sự.
Cơ quan mới của tôi cách doanh trại đơn vị cũ khu chợ Đồng Xuân - Bắc Qua. Chiều chiều nhớ đơn vị tôi thường xách cái túi đựng quần áo lót lững thững về đó tắm. Tắm xong, thế nào cũng tạt vào phòng cậu Hội lái xe, hoặc phòng của cha con anh Sông Ba ở tầng một, chơi tới nhập nhoạng tối mới về.
Vợ chồng anh Sông Ba mới bỏ nhau.
Họ lấy nhau từ chiến trường Tây Nguyên đói khổ, giặc giã bom đạn đầy trời, có với nhau đứa con trai tên nghe rất ngộ, thằng Vượt Thác.
Chị Hồng ở cữ đúng vào hôm bọn lính Mỹ mở trận càn. Trận càn này mang cái tên tiếng Mỹ, có nghĩa là “sa mạc lửa”.
Bom khoan, bom phạt, bom chất độc, bom xăng, xe tăng, đại bác, và nghìn nghịt lính Mỹ ào tới hòng thiêu cháy rừng Tây Nguyên, biến Tây Nguyên thành bãi sa mạc không người. Anh Sông Ba lưng cõng vợ mới sinh, tay cầm súng, tay bồng đứa con đỏ hỏn, vượt thác thoát ra khỏi vòng vây, rồi đặt luôn tên khai sinh cho thằng bé là Vượt Thác. Vượt Thác còn có một tên nữa là thằng Ba Lô do chúng tôi đặt, tuy không dám nói nhưng chúng tôi đều chạnh lòng lo, anh Sông Ba đã đặt cho con một cái tên rất gở. Thác theo tiếng Hán còn có nghĩa là chết. Hơn nữa, khi vợ chồng anh Sông Ba được lệnh ra Bắc nhận nhiệm vụ mới, thằng Vượt Thác đã vượt Trường Sơn trong cái ba lô của cha nó. Anh Sông Ba khoét hai bên hông ba lô hai cái lỗ tròn cho thằng bé bốn tháng tuổi, thò chân qua, rồi cứ thế ngày nối ngày tháng tiếp tháng theo giao liên “hành quân” ra hậu phương.
Thế mà không hiểu ông trời tai quái làm sao, nỡ đẩy vợ chồng anh Sông Ba đến chỗ phải chia lìa. Anh Sông Ba nhường căn hộ tập thể cho vợ, cha con đưa nhau vào ở trong doanh trại.
Tiếng là doanh trại quân đội, nhưng toàn lính viết văn làm báo nên chả khác cơ quan dân sự là mấy. Hết giờ làm việc ai nấy đạp xe về nhà, trên tầng hơn hai chục căn phòng dài hun hút còn lại mỗi mình tôi, dưới tầng một cha con anh Sông Ba “chấn” đầu phía Nam, đầu phía Bắc là phòng của cậu Hội. Lúc nào muốn bốn nhân mạng lớn bé chúng tôi quây quần lại ăn uống, vui chơi, nô nghịch như trong một gia đình.
Anh cả của cái gia đình bấp bênh này đương nhiên phải là anh Sông Ba. Anh lớn tuổi nhất trong bọn. Người anh cao to, da đen nhẻm, dáng đi dáng ngồi đều bạo tợn nặng nề, tiếng nói ồm ồm lệnh vỡ, tính nết lúc hiền thì thủ thỉ dịu dàng, mà hễ thất trực là đùng đùng giận dữ quát hét như ông Trương Phi thời Tam Quốc chiến bên Tàu.
Quả là anh Sông Ba hùng hơn hẳn chúng tôi. Nếu ai trên thế gian có những người “coi trời bằng vung”, một trong những người đó phải là anh.
Hồi đó chúng tôi đi chiến trường ai cũng phải làm đủ mấy “công đoạn”, nào đeo gạch tập hành quân, nào lấy quyết định đi chiến trường, nào chuyển sinh hoạt, chuyển lương, làm chính sách hậu phương, thành lập đoàn hành quân... Với Sông Ba việc đó nhẹ như lông hồng. Tới khuya hai anh em còn nằm dài trên sàn nhà uống rượu, dốc ngược bi đông, Sông Ba tợp một ngụm, quăng cái chén đánh xoảng vào góc nhà, thở khì và bảo: “Thôi ngủ, sáng mai đi chiến trường”.
- Ai đi?
- Tao.
- Anh đi chiến trường nào?
- Xì... Đồ trẻ nít. Quảng Trị, Thừa Thiên, Tây Nguyên, Miền Đông, Sài Gòn, U Minh, Năm Căn... Thiếu mẹ gì nơi đáng “oánh” nhau. Còn phải hỏi!
Thế là sáng hôm sau anh Sông Ba ra đi, không hiểu mớ thủ tục kia anh làm tới đâu, chỉ thấy anh cõng cái ba lô cóc xẹp trên lưng, khẩu súng lục đeo sề sệ trước bẹn, với cái mũ tai bèo bạc phếch vẫy xích lô ra ga Hàng Cỏ rồi đón xe quân sự đi nhờ vào phía Nam.
Xe vào quân khu 4, tới Vinh anh nhảy xuống, vẫy xe khác đi tiếp vào Thạch Hà, vào Đồng Hới, Vĩnh Linh, rồi tự vượt sông Bến Hải, gặp đơn vị nào bám theo đơn vị ấy. Chưa quen rồi phải quen. Chưa thân rồi phải thân. Cùng ra trận với nhau chẳng ai bỏ ai chết đói. Cứ thế anh vượt Trường Sơn ròng rã. Mấy tháng sau đơn vị mới nhận được thư anh gửi ra, nói là anh đang trụ ở mặt trận B5 - tức chiến trường Tây Nguyên.
Ấy chính là cái lần anh Sông Ba gặp chị Hồng, rồi cưới chị Hồng, để sáu bảy năm sau trở ra “đi một về ba”, với từng chồng bản ghi chép, từng chồng bản thảo truyện ngắn, truyện dài. Rồi con số ba vỡ ra thành con số một và con số hai. Anh có đau xót hay không mà bề ngoài vẫn nghêu ngao với tấm thân không vợ một con và không cửa, không nhà. Con người như thế ai mà chịu được. Nhưng mặc. Ai thương anh, anh thương lại. Ai ghét anh, anh bỏ qua. Lúc thì như cục đất củ khoai, lúc như thùng thuốc nổ và xin thú thật tôi thèm có được cái tính hồn nhiên đến ngang tàng “hảo hớn” của anh. Nhưng tôi là đứa hèn. Hèn, không với tới được nên lúc sợ lúc ghét. Mà sợ trộn lẫn ghét lại hóa ra một thứ tình. Tình gì nhỉ? Chả biết. Chỉ biết những ngày đầu rời khỏi quân đội tôi thường nhớ đến anh. Nhớ anh, hay nhớ thằng cu Vượt Thác - Ba Lô, tôi cũng không rõ nữa. Ngày nào không được vuốt cái gáy tóc mềm như tơ của thằng Vượt Thác - Ba Lô, không được cù vào bụng vào nách nó, không được hôn vào chim nó để cười quên trời, quên đất ngày ấy tôi cứ có cảm giác trông giống nơi hai bàn tay, như ngỡ mình bỏ quên vật gì ở đâu mà lại không rõ là bỏ quên vật gì?
Thế mà thằng Vượt Thác chết!
Được tin ấy, tôi vứt tung cả sổ sách giấy má giữa cuộc họp để chạy về đơn vị cũ. Tầng trên, tầng dưới vắng tanh. Mọi người đang cùng anh Sông Ba đưa thằng Vượt Thác xuống nghĩa trang. Người còn lại ở doanh trại duy nhất là ông Mạnh gác cổng. Ông Mạnh nói với tôi vắn tắt như một lời thông báo: Thằng Vượt Thác chết vì bệnh máu trắng. Nó ủ bệnh lâu lắm rồi nhưng không ai biết.
Bệnh máu trắng? Tôi xây xẩm mặt mày... Những buổi sáng ở rừng mặt trời chưa kịp mọc, cây lá còn ướt đẫm sương đêm. Tiếng ì ì của loại máy C130 vọng tới. Nhìn ra cửa hầm đã thấy trời đục ngầu màn bụi của chất độc hóa học. Chúng tôi ai nấy vội vàng cầm dao quắm, cầm xẻng, ai không sẵn có dao quắm và xẻng thì rút dao găm hoặc vác gộc cây, vác đá tảng, chạy lên nương sắn đang mẩy củ, tay cầm khăn mặt nhúng nước bịt mũi bịt miệng, tay cầm dao cầm xẻng, cầm cây cầm đá, dùng cả báng súng, hối hả chặt, phạt, đập gẫy ngang thân những cây sắn để chất độc hóa học không kịp theo “mạch máu” của cây ngấm xuống củ.
Cả nương sắn tốt ngờm ngợp chốc lát gẫy đổ tơi bời, quay lắc. Bấy giờ mới ngừng tay đứng thở và lo cho cái thân của mình. Phủi tóc, cởi áo ra giũ, nhảy xuống suối tắm gội. Chẳng qua mình làm phép với mình cho nó yên con mắt, chứ ai biết thuốc độc Mỹ đã chui vào tận gan tận phổi mình ra sao. Đến như cái cây sắn bị chặt ngang thân rồi mà vẫn không kịp ngăn dòng nhựa chất độc thấm xuống thì cái khăn mặt bịt mũi bịt miệng nào có ý nghĩa gì. Thôi mặc thế rồi lại cười, lại tếu, lại họp hành tranh cãi, sá gì cái vị nhần nhận đắng trong từng miếng sắn luộc kia...
Anh Sông Ba, vợ anh Sông Ba, cả đến thằng Vượt Thác, cả tôi và tất cả chúng tôi một thế hệ xông pha đều đã trải qua những lớp “sương mù” giết người. Thấy mình vẫn còn sống là cho rằng mọi thứ đã qua. Để đến buổi sáng thằng cháu Vượt Thác im lìm xuống nghĩa trang Văn Điển làm tôi giật mình, tim nhói buốt, giá như tôi có thể treo cổ cái thằng cha tổng thống của nước Mỹ dạo đó lên!
Bác Mạnh gác cổng phân bua như nhận lỗi.
- Sáng nay tôi có gọi điện sang cơ quan cậu, họ bảo cậu đi họp vắng. Thành thử...
Cơn bực bất thần sốc lên trong lòng. Tôi giận sự vô tâm của những người ở đơn vị cũ, giận lây sang cả bác Mạnh vì trước một nỗi đau như thế mà chả ai cho tôi biết. Tôi cau mặt cắt ngang lời ông.
- Bác gọi cho tôi để làm gì? Con người bây giờ thật bạc bẽo. Họ chỉ biết lo cho họ chứ họ còn nghĩ được đến ai khác!
- Ấy ấy - Bác Mạnh hủi tay của tôi thấy gương mặt bác lúc đó dúm dó lại, trông rất thương - Cậu chớ nói thế. Oan cho mọi người. Trưa hôm qua thằng Vượt Thác còn nhoăn nhoắt leo trèo lên cây hoa đại này. Tôi quát vào nhà kẻo nắng lại ốm ra đấy làm khổ bố mày. Nó vào được một lúc đã thấy cậu Sông Ba chạy ra gọi xe cấp cứu. Hỏi vì sao, Sông Ba bảo không sao, thằng bé chỉ ngã không dậy được thôi. Thế mà lúc 3 giờ chiều nó đã chết ở bệnh viện rồi. Mọi sự cứ rối tinh, rối mù cả lên...
Bác Mạnh còn nói thêm những gì, tôi không nghe hết và chính tôi cũng không hiểu do chân tôi bước hay do phép màu nào đã đun đẩy, đã ném tôi về đứng trước tấm cánh cửa căn gác xép ở cơ quan mới của tôi. Tôi xoay trần (cái áo sơ mi lính vứt vào góc nhà), nằm vật xuống nền xi măng nghe dưới lưng lành lạnh còn trên ngực lại hầm hập hơn lửa trời từ lớp mái tôn thấp tè dội xuống. Đầu óc tôi tan hoang nghĩ về kiếp người. Hóa ra... Hóa ra... Thằng Trùng Khánh, thằng Lê Trạm chết ở căn hầm đào giữa vườn cây thốt nốt, cả hai đứa đều trút hơi thở cuối cùng trên tay mình. Thằng Tử Mặc phóng viên báo “Đường chín Khe Sanh” cũng trút hơi thở cuối cùng trên tay mình, trước khi nhắm mắt nó còn bảo “Anh hãy nhận em là em của anh đi. Em thèm có một người anh trai lắm...”. Rồi cô bé Út Hoa y tá, rồi anh Bảy Dội, anh Tư Cục ở rừng U Minh. Rồi mẹ con cô thư ký đánh máy Mỹ Dung, anh Ba Thoại, anh Hiểu, anh Bính, rồi... rồi... Cuộc đời mình đã nhìn thấy cái chết biết bao lần, tự tay mình đã vuốt mắt cho biết bao người. Nhưng con người vẫn không thể làm quen được với cái chết, nhất là với cái chết của thằng cún con, thằng chuột nhắt, thằng chó nhắt lợn nhắt kia...
Hình như tôi đã ngủ. Giấc ngủ chỉ sập xuống trong vài giây. Nhưng rõ ràng là nắng cuối chiều đã nhạt vàng trên mái ngói. Tôi cảm thấy như mình có lỗi với nỗi đau mất mát của anh Sông Ba nên vội chạy về đơn vị cũ để chia buồn với anh.
Tôi chạy sang tới nơi lúc ngọn đèn bảo vệ trước vọng gác đã sáng. Cả tòa nhà chỉ còn lại một nơi đang ồn ào náo nhiệt là căn phòng của cậu Hội lái xe. Cái quạt trần mở hết cỡ quay ào ào như nổi bão. Dưới nền gạch lom nhom gần chục người tranh nhau nói cười la hét, người cởi trần, người mặc áo, người nửa ngồi nửa nằm, có người nằm thẳng cẳng tay vắt trán như đang ngủ và ba bốn cái bi đông lính vứt ngả nghiêng cùng bát đũa, ly cốc quanh tờ báo trải rộng ở giữa đặt mâm lòng lợn luộc đầy như cái nón úp. Mùi rượu xộc ra tận cửa.
Tôi ngớ người. Cái gì đây? Thế nào đây? Cái chết của thằng Vượt Thác là chuyện có thật hay chỉ là do đầu óc hoảng loạn của mình vừa bị cuốn vào con ác mộng? Tôi vừa thụt chân lại, định quay ra thì nghe tiếng anh Sông Ba nói như quát:
- Nè nè cái thằng kia. Quay lại. Nhào dô!
Một anh bạn nhà thơ chạy ra ôm chặt vai tôi, phả sang tôi một thứ mùi ngột ngạt của mồ hôi khô trên áo, mùi rượu nặng và cái thứ mùi gì nữa đang toát ra từ đôi gò má ướt láng nước mắt của anh.
- Vào đi! - Anh nhà thơ nói nhỏ, thở khụt khịt - Sông Ba nó đang đau lòng. Chạy trốn nỗi đau đấy. Đừng về mà nó giận. Vào đi, vào đi...
Về sau anh nhà thơ này mới thuật lại cho tôi biết, sau khi đắp điếm cho thằng bé Vượt Thác dưới nghĩa trang xong, trên đường về thấy có người bày nguyên một cỗ lòng lợn còn bốc hơi bán ở bên đường. Sông Ba bắt cậu Hội dừng xe xuống mua tất. Nhiều người định gàn, nhưng thấy nét mặt lầm lì dễ sợ của anh Sông Ba không ai dám hé miệng ra nói. Lúc xe tiếp tục đi, anh Sông Ba đã “ra lệnh” cho mọi người “Sống với chết là cái con khỉ gì. Không thằng nào được buồn. Buồn, tao bắn”.
Ấy là chuyện mấy ngày sau tôi mới biết. Còn ngay lúc đó, vừa quay vào đám nhậu tôi đã phải chứng kiến một cảnh rất ngộ nghĩnh nực cười. Cậu Hội tự nhiên la to:
- Làng nước ơi. Con lợn này không có gan!
Một người nhấm nháy chỉ tay vào sau lưng anh Sông Ba. Mấy người đồng thanh đòi “Khám người anh Sông Ba!”. Anh Sông Ba tuồn lẹ buồng gan lợn cho người ngồi bên cạnh rồi xòe cá hai bàn tay dính mỡ nhếnh nháng ra trước mặt:
- Đâu? Đâu?
Lại đồng thanh rồ lên:
- Nó tuồn sang thằng Thạo rồi. Khám người thằng Thạo!
Thạo lại tuồn buồng gan trở lại cho anh Sông Ba, rồi lại xòe hai bàn tay ra “Đâu? Đâu?”. “Vui” nổ trời, lúc lâu buồng gan lợn mới được ném vào mâm. Anh Sông Ba không hiểu lấy con dao găm ở đâu, đếm đầu người, cắt chia cho mỗi người một miếng.
- Hết ghen tị chưa? Tụi tham ăn!
Có người nào đó nói:
- Tiện dao thì thái nốt mớ lòng ấy ra. Chứ ai lại để dây cà dây muống lòng thòng thế.
- Hứ! - Anh Sông Ba phản đối - ăn uống không nhồm nhoàm còn gì ngon. Cha nội? Nếu muốn cảnh giả sang trọng thì cút xéo!
Và để làm mẫu cho mọi người, anh vỡ một khúc lòng dài như con rắn, cầm hai đầu lôi căng, ngoạm một miếng vào giữa cho khúc lòng đánh phụt làm mấy người sợ bị nước mỡ bắn vào quần áo vội dạt ra, cười khanh khách.
Dù biết mọi người chỉ giả vờ vui, dựa vào hơi men để nói nói cười cười cố không cho những khoảng lặng len vào, nhưng tôi vẫn không thể bắt chước họ. Không muốn uống rượu, không muốn góp chuyện, không muốn cười, không muốn nói. Lúc sau tôi lặng lẽ đứng dậy ra về mặc cho anh Sông Ba quát “Thằng đảo ngũ. Đứng lại”.
Trời đột ngột nổi cơn dông. Chớp sáng lòe trên ngọn cây sấu, cây xà cừ.
Dưới quầng sáng đỏ lan tỏa ra từ cái bóng điện trước trạm gác, tôi thấy một bóng người như mớ giẻ đen đang gục rũ xuống dưới gốc cây hoa đại. Cái đống giẻ đen cứ rung lên bần bật. Không cần hỏi tôi cũng biết con người đang ngầm ngột nức nở kia là chị Hồng, vợ anh Sông Ba.
Tôi đứng lại một lát, muốn tìm lời an ủi chị Hồng. Nhưng biết an ủi chị thế nào đây? Bàn tay tôi vừa khẽ chạm vào vai áo của chị, chị đã giật mình ngã xoài ra, hai tay ôm ghì lấy gốc cây đại, như sợ bị sức mạnh nào lôi bật ra khỏi đó. Tôi vừa thì thầm “Chị Hồng ơi. Em đây...” vừa vực cho chị ngồi dậy. Người chị đang trong cơn rung giật không thể ngừng. Tôi chỉ nghe những âm thanh hần hật hừ hự ú ớ từ trong ngực chị phát ra. Hình như chị đang mê sảng gọi thằng Vượt Thác - Chị vẫn gọi nó là thằng Út, tôi biết.
Tới lúc tôi bảo “Em dìu chị vào nhà nhé?” thì chị chợt tỉnh hẳn. Chị lắc đầu, hai tay khuơ khuơ, đôi mắt vừa lấy lại thần sắc nhìn xoáy vào mặt tôi.
- Vào đâu? Chú nói vào đâu?
- Em đưa chị vào nhà. Anh Sông Ba và mọi người đang ở trong đó.
Đôi mắt lạ lùng của chị Hồng còn xoáy vào mắt tôi một lúc thật lâu nữa, rồi không nói không rằng, chị nghiêng vai cúi người như phải len lách qua tôi để bước thẳng ra đường. Tôi không dám giữ chị lại. Chính tôi cũng đang nhoi nhói trong lòng vì những tiếng cười say từ phòng cậu Hội vọng ra tận đây.
Đầu óc tôi trống rỗng, nhưng là trống rỗng một cách gắng gượng, gò ép. Có lẽ đây là lần đầu tiên trong đời tôi phát chán cái tính ủy mị đa cảm của mình. Đa cảm nên coi là một loại nan y. Kẻ mắc bệnh này suốt đời chỉ thom thóm lo mình phạm phải điều “không phải”, chỉ tẩn mẩn nhặt dây, nhặt nhợ mà quấn chân mình. Từ nay tôi phải tập cho được cái tính vô cảm, cái tính tàn bạo, phải “ăn cháo lú” để dám chường mặt ra, dám ganh dua, dám vấy bùn, dám sát phạt với đời. Tôi mất ngủ suốt đêm vì lẩm nhẩm nghiền ngẫm một ý nghĩ ấy.
Nhưng hỡi ôi, con cừu dù có khoác da hổ thì cừu vẫn cứ là cừu mà thôi. Không ai thay được bàn tay bí mật, bàn tay quái quỷ của tạo hóa. Chốc chốc tôi lại bổi hổi trong ngực nhớ thằng Vượt Thác - Ba Lô. Chẳng lẽ từ nay, mãi mãi tôi không còn được gặp lại nó nữa ư? Viết suốt đêm, ngày lăn ra ngủ, cứ thấy nhồn nhột dưới gan bàn chân, giãy đạp, cọ xát hai bàn chân vào nhau, nhưng nằm im được một lát lại thấy nhí nháy nhột nhột. Tới lúc nghe tiếng trẻ con cười khúc khích, mới biết thủ phạm là đứa nào. Bực điên tiết, định vùng dậy cho nó một bạt tai, nhưng sực ngửi thấy mùi kẹo thơm. Hóa ra “nó” dành cho chú cái kẹo... chú lớn rồi, không còn biết thèm kẹo như trẻ con. Cái kẹo này lại để dành cho cháu. Giấc ngủ không trở lại nữa và cơn bực tức cũng tiêu tan...
Đêm cuối mùa hè đổ một trận mưa rào ngắn. Sau mưa, phố xá nhà cửa oi bức hẩm lên. Sau oi bức là gió thoang thoảng dịu mát, rồi mát, rồi se se lạnh. Tôi lại vực dậy, như lần từng bước trở về tòa nhà doanh trại của đơn vị cũ. Mấy nẻo phố xanh le ánh đèn, không một bóng người. Từ mặt đất đến bầu trời tràn ngập vẻ hoang sơ lạ lẫm, không hiểu có phải cảnh tượng trên hành tinh loài người đang sống hay không.
Lúc tôi vừa lách người qua hai cánh cổng sắt khép hờ, chớm đặt chân đến gốc cây hoa đại, bỗng người tôi rụng rời, có cảm giác cả cái tòa nhà này đang sụp đổ. Thoạt đầu là một tiếng hú rùng rợn bật lên. Tiếng hú của rừng hoang núi thẳm, của hang cùng ngõ tận của trận mạc, của bão táp... ép chặt lại. Sau tiếng hú chuyển thành tiếng gầm rung chuyển như xé tung cả đất cả trời.
Rồi tắt lặng.
Rồi lại đột ngột dội lên. Lần này tôi kịp định thần nhận ra tiếng gầm của ai và phát ra từ đâu. Tôi chạy vội đến nơi đầu mút phía Nam của khu hành lang tầng một. Phòng anh Sông Ba tối đèn. Tôi không gọi, không gõ cửa mà đứng trước cánh cửa đóng kín, nghe cho hết tiếng gầm, khắp người tôi nổi gai ốc.
Liền theo tiếng gầm là tiếng nấc, tiếng nuốt nước mắt ừng ực từ căn phòng tối vọng ra. Rồi tất cả lại im lìm...
 
30/10/2000
Đăng nhập để trả lời
★ ★ ★ ★ ★ 0